1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ đẩy NHANH QUÁ TRÌNH CHUYỂN đổi nền NÔNG NGHIỆP nước TA lên nền NÔNG NGHIỆP HÀNG hóa

253 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 253
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là nước nông nghiệp, hiện có 80% dân cư và trên 70% lực lượng lao động xã hội sống ở nông thôn, trong đó có hơn 80% lực lượng lao động làm việc trong nông nghiệp 66, 13. Bởi thế, sản xuất nông nghiệp được coi là mặt trận hàng đầu, quan trọng nhất trong nền kinh tế quốc dân. Việc chuyển nền nông nghiệp từ tình trạng sản xuất nhỏ, mang nặng tính chất tự cung tự cấp, độc canh và thuần nông, thành một nền nông nghiệp hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN, là một vấn đề có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là nước nông nghiệp, hiện có 80% dân cư và trên 70% lực lượng lao động xã hội sống ở nông thôn, trong đó có hơn 80% lực lượng lao động làm việc trong nông nghiệp [66, 13] Bởi thế, sản xuất nông nghiệp được coi là mặt trận hàng đầu, quan trọng nhất trong nền kinh

tế quốc dân Việc chuyển nền nông nghiệp từ tình trạng sản xuất nhỏ, mang nặng tính chất tự cung tự cấp, độc canh và thuần nông, thành một nền nông nghiệp hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN, là một vấn đề có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay Quá trình chuyển đổi đó nhanh hay chậm, tùy thuộc rất nhiều vào diễn biến của quá trình thị trường hóa kinh tế nông nghiệp, quá trình đưa các hộ nông dân vào con đường phát triển sản xuất hàng hóa Từ năm 1979 cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách (Chỉ thị 100-CT/TW, của Ban

Bí thư Trung ương (năm 1981), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (4-1988), Nghị quyết Trung ương V (khóa VII), Luật đất đai (1993), Nghị quyết Đại hội VIII, Nghị định 64CP (1993), Luật HTX (1997), Chỉ thị 68 CT/TW (1996) nhằm thúc đẩy quá trình chuyển biến đó và đã đạt được nhiều thành tựu rõ rệt, khởi sắc, nhất là về mặt sản xuất lương thực Tuy nhiên,

cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vẫn còn chậm chuyển đổi sang sản xuất hàng hóa có hiệu quả Cho đến nay, trong số 9,5 triệu hộ sản xuất nông nghiệp mới có khoảng 30% số hộ trong sản xuất nông sản hàng hóa với các mức độ khác nhau [15,132], tỷ suất hàng hóa trong nông nghiệp còn thấp, thị trường còn nhỏ lẻ, phân tán, nặng tính chất mùa vụ, sức mua của nông dân thấp, số hộ nghèo còn nhiều; các lợi thế so sánh trong trồng trọt, chăn nuôi, cây lương thực, thực phẩm hàng năm và cây công nghiệp

Trang 2

lâu năm , trên mỗi vùng đất nước còn chưa được khai thác tổng hợp và tối ưu nhất.

Đẩy nhanh quá trình chuyển nền nông nghiệp nước ta lên nông nghiệp hàng hóa là một vấn đề còn mới mẻ, những kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu, nhưng đặt trong nguy cơ tụt hậu, trong xu thế và yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong xu hướng hội nhập quốc tế, thì vấn đề này được đặt ra hết sức cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, cần phải tiếp tục nghiên cứu và giải quyết

2 Tình hình nghiên cứu

Ở nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu, giới thiệu về quá trình phát triển kinh tế nông thôn tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hóa, quá trình công nghiệp hóa đất nước bắt đầu từ việc phát triển kinh tế nông nghiệp, trong đó đề cập đến quá trình hình thành và phát triển nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn nông thôn*

Ở trong nước, trong những năm gần đây, có một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của quá trình chuyển nông nghiệp nước ta lên sản xuất hàng hóa **

* Viện Kinh tế kỹ thuật thương nghiệp: Thông tin chuyên đề về "Cải cách lưu thông h ng hóa à nông thôn Trung Quốc".

+ PAO: Ảnh hưởng của chính sách nông nghiệp Kinh nghiệm các nước UBKHXH H N à ội, 1991.

+ PAO: Kỹ thuật giống cây trồng Nxb Nông Nghiệp H 1991.

* * Nguyễn Sinh Cúc: Thực trạng nông nghiệp 1976 - 1990 Nxb Thống Kê 1991.

+ Cù Xuân Dư: Chất lượng hạt giống cây trồng với công tác kiểm nghiệm, kiểm định HĐKH 7/1991.

+ Trần Đức: HTX v th à ời v ng son c à ủa kinh tế gia đình Chương IV Nxb Tư tưởng H 1991 + Trần Đức: Sở hữu v cây à đời.

+ Phạm Thắng: Sản xuất nông nghiệp đòi hỏi ho n thi à ện dịch vụ cung ứng vật tư phân bón Trung tâm thông tin UBXHNN Thông tin chuyên đề kinh tế dịch vụ.

+ Đỗ Thế Tùng: Việc thực hiện khoán 10 - Những vấn đề đặt ra v gi à ải pháp Nghiên cứu lý luận,

Trang 3

Và một số luận án, tài liệu khác, đề cập đến các vấn đề: Phát triển kinh tế hộ, phát triển kinh tế hợp tác, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động trong nông nghiệp, về sự hình thành và kết hợp các lợi ích kinh tế trong nông nghiệp,

về vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn

Nhưng các tác giả thường chỉ đề cập một số vấn đề cụ thể nào đó của nền nông nghiệp hàng hóa (chẳng hạn về tổ chức quản lý, về phát triển cơ sở hạ tầng, về sở hữu, về phát triển kinh tế hộ ) hoặc chỉ tập trung nhấn mạnh mặt tổ chức quản lý, hoặc kinh tế - kỹ thuật

Một số tác giả có bàn đến sự phát triển kinh tế hàng hóa nông thôn Việt Nam nhưng mới chỉ là những khái quát chung, những nét phác thảo, chứ chưa đi sâu bàn một cách cơ bản, hệ thống những giải pháp nhằm đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam Do vậy những kết quả nghiên cứu đó còn thiếu tính hệ thống, toàn diện Mặt khác, do giới hạn lịch sử, ít nhiều chịu sự chi phối của lối tư duy cũ, trong khi nền kinh

tế cả nước đã và đang chuyển hướng mạnh mẽ sang kinh tế thị trường có

sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là sau Nghị quyết Trung ương 5 - Khóa VII, Luật đất đai, Luật HTX, Nghị

+ PTS Nguyễn Xuân Nguyên Khuynh hướng phân hóa hộ nông dân trong phát triển sản xuất h ng à hóa Nxb CTQG H N à ội 1995.

+ Tổ chuyên đề nông thôn thuộc Ban nông nghiệp TW Đảng "Kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam

+ PTS Đăng Lễ Nghi, Nguyễn Thị Phương Loan: Nông nghiệp, nông thôn v nông dân n à ước ta qua

10 năm đổi mới, Thông tin những vấn đề lý luận (phục vụ lãnh đạo), số 20+21/1998.

+ PTS Phan Thanh Khiết Những quá trình kinh tế - xã hội chuyển kinh tế tự nhiên của Tây Nguyên lên kinh tế h trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ Học viện Nguyễn Ái Quốc H 1993 +PTS Nguyễn Văn Tuấn Dịch vụ sản xuất nông nghiệp cho hộ tự chủ sản xuất kinh doanh để phát triển sản xuất h ng hóa à ở đồng bằng Bắc Bộ Luận án PTS Năm bảo vệ: 1993 Người hướng dẫn khoa học: PGS.PTS Đỗ Thế Tùng.

+ PTS Nguyễn Quang Hồng Phát triển nông nghiệp h ng hóa à định hướng XHCN ở Việt Nam Luận

án PTS Năm bảo vệ: 1993 Người hướng dẫn khoa học: GS.PTS Trần Ngọc Hiên.

+ PTS Vũ Văn Yên Kinh tế hộ nông dân trong sự phát triển kinh tế h ng hóa à ở nước ta hiện nay Luận án PTS Năm bảo vệ: 1994 Người hướng dẫn khoa học: PGS.PTS Đo n Tr à ọng Nhã.

Trang 4

định 64CP, Chỉ thị 68TW) nên một số quan niệm, phương hướng, giải pháp đã đưa ra không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay, đòi hỏi phải được xem xét, bổ sung trong điều kiện mới.

Tiếp thu các thành tựu nghiên cứu về vấn đề này, tác giả luận án đã

cố gắng vận dụng tư duy kinh tế mới vào việc khảo sát, nghiên cứu thực tiễn, chỉ ra có hệ thống những thành công và hạn chế, những khó khăn và thuận lợi, những xu hướng phát triển mới, từ đó nêu ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, đáp ứng có hiệu quả yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm tới

3 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của luận án

- Để đạt được mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ sau:

+ Làm rõ vai trò của việc phát triển nền nông nghiệp hàng hóa và tính quy luật của sự hình thành và phát triển nền nông nghiệp hàng hóa trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta

+ Nghiên cứu thực trạng của sản xuất nông sản hàng hóa ở nước ta hiện nay, nêu được kinh nghiệm đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp hàng hóa của một số nước và sự cần thiết cấp bách ở Việt Nam

+ Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam hiện nay

Trang 5

- Giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án:

Để nghiên cứu việc đẩy nhanh sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa nước ta, cần có sự tiếp cận từ nhiều phía Dưới góc độ khoa học kinh

tế chính trị, luận án chỉ tập trung nghiên cứu những quá trình, những đặc trưng, phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển nông nghiệp hàng hóa ở nước ta, chứ không đi vào những vấn đề cụ thể của kinh tế ngành nông nghiệp, không khảo sát toàn bộ kinh

tế hàng hóa nông thôn

Về thời gian, luận án chủ yếu khảo sát sự vận động của nền nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam chủ yếu từ sau Chỉ thị 100 của Ban bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận

Tác giả luận án nghiên cứu trên cơ sở vận dụng tư duy kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển nền nông nghiệp hàng hóa định hướng XHCN

Tác giả luận án sử dụng phương pháp phân tích thống kê để xử lý các số liệu, nghiên cứu những vấn đề có tính quy luật của sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa theo nội dung đề ra

- Ngoài những phương pháp chung, phổ biến trong nghiên cứu lý luận (như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp lịch sử - lôgic ) tác giả đặc biệt chú ý tới các phương pháp điều tra xã hội học, khảo sát thực tế, trao đổi ý kiến, phỏng vấn để rút ra những kết luận cập nhật và có căn cứ khoa học xác đáng, phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trong trao đổi ý kiến, tác giả chọn đối tượng chủ yếu là các hộ nông dân, chủ nhiệm các HTX, các cán bộ trực tiếp chỉ đạo phòng nông nghiệp các địa phương, các chuyên gia về nông nghiệp, nông thôn

Trang 6

5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

- Hệ thống hóa các đặc điểm, vai trò, xu hướng tất yếu và ý nghĩa thực tiễn của việc đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp hàng hóa trong điều kiện nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng lên CNXH ở Việt Nam

- Dựa vào những số liệu, tư liệu và kết quả nghiên cứu, khảo sát thực tế, luận án đã tập trung đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp hàng hóa ở nước ta từ năm 1976 đến nay, từ đó rút ra những bài học cần thiết cho việc đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất được những giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm tận dụng mọi nguồn lực, đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp hàng hóa, làm đòn bẩy cho sự phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

6 Ý nghĩa của luận án

- Làm phong phú thêm cách tiếp cận và quan điểm về phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, định hướng xã hội chủ nghĩa từ những nước đang phát triển, thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp nông thôn, phát triển hệ thống thị trường và vai trò kinh tế của Nhà nước (đối với nông nghiệp, nông thôn), góp phần có thêm nhận thức mới trong việc thực hiện các giải pháp nhằm phát triển có hiệu quả nền nông nghiệp hàng hóa, theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa

- Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tư liệu khoa học để tham khảo cho việc xây dựng các chủ trương, biện pháp ở các địa phương nhằm đẩy mạnh sự phát triển sản xuất nông sản hàng hóa, xóa đói giảm nghèo, phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn Đồng thời,

Trang 7

có thể làm tư liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy các môn khoa học kinh tế ở các trường đại học, cao đẳng và các trường của Đảng hiện nay.

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo,

4 biểu, 20 phụ lục, luận án gồm 3 chương, 8 tiết, với 222 trang

Trang 8

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SỰ HÌNH THÀNH

VÀ PHÁT TRIỂN NỀN NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA

1.1 NHỮNG QUÁ TRÌNH, ĐẶC TRƯNG, ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH

VÀ PHÁT TRIỂN NỀN NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA

1.1.1 Những quá trình có tính quy luật trong việc hình thành

và phát triển nền nông nghiệp hàng hóa

1.1.1.1 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

Nền văn minh nông nghiệp đã tồn tại hàng vạn năm trên trái đất, cho đến nay, nông nghiệp vẫn là ngành duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm cho con người, người ta có thể không có (hoặc chưa có) nhiều thứ khác, nhưng không thể thiếu lương thực, thực phẩm để sống và hoạt động Dù cho các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của các quốc gia có khác nhau đến đâu, nông nghiệp vẫn mang tính chất truyền thống lâu đời, bao gồm những quá trình chọn lọc và phát triển tự nhiên Vì vậy, cho dù ở thời đại nào, trình độ kỹ thuật và công nghệ nào thì nông nghiệp vẫn giữ những đặc điểm riêng khác với công nghiêp Theo nghĩa rộng, nông nghiệp bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp Sản phẩm của nông nghiệp là kết quả khai thác được từ quá trình sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi, được sử dụng dưới hai dạng chủ yếu là lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp, và theo ngôn ngữ của kinh tế thị trường hiện đại thì kinh tế nông nghiệp (cũng như quá trình sản xuất nông nghiệp) phải bao gồm cả ba cộng đoạn sản xuất - chế biến - tiêu thụ

Chúng ta có thể nêu lên đặc thù của nông nghiệp như sau:

- Về đối tượng sản xuất: nếu đối tượng của công nghiệp là những

Trang 9

nghiệp lại là những sinh vật sống (cây trồng, vật nuôi) có những chu kỳ vận động đa dạng, phức tạp.

- Về tư liệu sản xuất: công nghiệp bao gồm máy móc, nhà xưởng

có thể di chuyển, thay đổi, còn nông nghiệp gắn với đất đai, mặt nước là những thứ cố định về không gian, có giới hạn về diện tích, không thể di chuyển thay đổi được

- Về điều kiện tự nhiên: công nghiệp hầu như không bị ảnh hưởng bởi những nhân tố thời tiết (mưa, nắng, bão lụt, hạn hán, sâu bệnh ) còn nông nghiệp lại phụ thuộc rất nhiều bởi các yếu tố này

Từ đó, có thể nêu lên những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp:(1) Đối tượng của sản xuất nông nghiệp bao gồm nhiều loại cây trồng và gia súc có yêu cầu khác nhau về môi trường, điều kiện ngoại cảnh

để sinh ra và lớn lên Vì vậy, muốn đạt kết quả cao trong sản xuất nông nghiệp, cần có những hiểu biết tường tận để hoạt động sản xuất phù hợp với các quy luật sinh học của mỗi đối tượng sản xuất Trong thực tế, người sản xuất nông nghiệp không hoàn toàn làm chủ được quá trình sản xuất,

mà phải thường xuyên đối phó với những diễn biến bất thường của điều kiện ngoại cảnh

(2) Trong nông nghiệp, đất đai là những tư liệu sản xuất chủ yếu (hoàn toàn khác với công nghiệp, đất đai chỉ là mặt bằng xây dựng nhà xưởng), đất đai là môi trường sống không thể thiếu được của cây trồng và gia súc Trong nông nghiệp, đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Nó có những biểu hiện khác nhau về chất lượng, nhưng nếu được sử dụng hợp lý thì độ phì nhiêu của nó được bảo vệ và tăng lên Độ phì nhiêu của đất đai là một yếu tố quyết định năng suất cây trồng và năng suất lao động trong nông nghiệp Vì vậy, bảo vệ và không ngừng làm tăng

độ phì nhiêu màu mỡ của đất đai là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của người lao động trong nông nghiệp

Trang 10

(3) Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ nhất định: trong nông nghiệp, hai quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất kinh tế liên hệ mật thiết với nhau Thời gian lao động không trùng khớp với thời gian sản xuất mà chỉ là một phần của thời gian sản xuất, nằm xen kẽ trong thời gian sản xuất Do đó, trong quá trình sản xuất, có những giai đoạn sản xuất nông nghiệp được tái sản xuất tự nhiên không cần sự tác động của quá trình kinh tế Hơn nữa sản xuất có tính thời vụ nên trong nông nghiệp, lao động, máy móc và các tư liệu sản xuất khác không thể sử dụng liên tục quanh năm (nhất là ngành trồng trọt) Cho nên việc tìm những biện pháp

để giảm bớt tính thời vụ trong nông nghiệp là một nhiệm vụ của lịch sử, của các nhà kinh tế và kỹ thuật nông nghiệp Trong thực tế, người ta đã áp dụng nhiều biện pháp như: chuyên môn hóa sản xuất kết hợp với kinh doanh tổng hợp, tăng vụ, xen canh gối vụ, luân canh, chế tạo những máy móc có tính đa năng hoặc cố gắng làm giảm tối đa những haomòn hữu hình và vô hình của những tài sản cố định

(4) Sản xuất nông nghiệp được phân bố trên một phạm vi không gian rộng lớn và có tính khu vực Vì đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu nên sản xuất nông nghiệp được phân bố rộng khắp hầu như trên các vùng lãnh thổ của cả nước Mặt khác, do các năng lực tự nhiên của sản xuất lại phân

bổ không đồng đều giữa các vùng, các miền nên điều đó làm cho sản xuất mang tính khu vực Điều này đòi hỏi phải xác định phương hướng để đạt hiệu quả cao nhất và tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp toàn diện

Như vậy, đặc điểm chủ yếu của sản xuất nông nghiệp là một quá trình không phải dùng công cụ và máy móc để chế biến nguyên liệu thành sản phẩm như trong công nghiệp mà nhằm mục đích tạo điện kiện thuận lợi cho các vật sống tạo ra sản phẩm trong một ngoại cảnh biến động Kết quả lao động ở đây không chỉ phụ thuộc vào cường độ, tính chất lao động,

mà còn phụ thuộc có khi quyết định vào điều kiện thiên nhiên, thời tiết

Trang 11

đơn vị giờ lao động trừu tượng cũng không thể trả công (thậm chí hạch toán) theo khối lượng công việc đã tiến hành, không thể chuyên môn hóa hẹp theo công đoạn sản xuất, cũng không thể tách lao động quản lý và lao động thực hiện.

Từ đó, ta thấy rằng: nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế -

kỹ thuật như những lĩnh vực khác của hoạt động kinh tế, mà còn là một hệ thống kinh tế - kỹ thuật - sinh học rất phức tạp Nông nghiệp bị phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên (dĩ nhiên, để sản xuất một số rau quả đắt tiền dùng cho xuất khẩu, người ta có thể dùng nhà kính hoặc nhà trồng cây có điều khiển tự động đảm bảo được độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng cần thiết song khó áp dụng rộng rãi vì quá tốn kém, nhất là đối với các nước nghèo)

Những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp trên đây không chỉ cho thấy sự khác biệt giữa nông nghiệp và công nghiệp, mà còn chỉ ra rằng đơn vị sản xuất cơ bản trong nông nghiệp là từng hộ gia đình nông dân, là

hộ tiểu nông hoặc nông trại, mà không phải là xí nghiệp quy mô lớn với đông đảo công nhân như trong công nghiệp Thích hợp nhất đối với nông nghiệp và lao động cụ thể cùa từng hộ gia đình, gắn bó mật thiết với đất đai, cây trồng, vật nuôi, để kịp thời ứng phó với những thay đổi bất ngờ của ngoại cảnh và đòi hỏi của đối tượng lao động khác hẳn với tính chất lao động của công nhân trong công nghiệp Do đó, sản xuất nông nghiệp đòi hỏi người lao động phải làm chủ đất đai, cây trồng, vật nuôi, phải luôn luôn quan tâm chăm sóc đến đối tượng sản xuất Có như vậy, họ mới kịp thời bổ sung, kịp thời điều chỉnh những thao tác kỹ thuật phù hợp với những diễn biến của ngoại cảnh cây trồng, vật nuôi

Ngoài những đặc điểm trên đây, nông nghiệp Việt Nam còn có những đặc điểm riêng, đó là:

(1) Nông nghiệp Việt Nam đang còn là một nền nông nghiệp lạc hậu.Cho đến nay, nhiều nước đã có nền nông nghiệp phát triển ở trình

độ cao, mọi hoạt động trong sản xuất nông nghiệp đã được cơ giới hóa,

Trang 12

điện khí hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa Một số công việc, nhất là trong ngành chăn nuôi, đã được tự động hóa Nhờ đó, năng suất ruộng đất, năng suất lao động của họ đạt rất cao, tạo ra sự phân công lao động sâu sắc trong nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tỷ lệ lao động trong nông nghiệp giảm cả tương đối và tuyệt đối, thu nhập của người làm nông nghiệp ngày càng được nâng cao, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng được thu hẹp.

Trong khi đó nông nghiệp nước ta đang ở trình độ rất thấp:

+ Cơ sở vật chất, kỹ thuật của nông nghiệp lạc hậu

+ Lao động xã hội đại bộ phận tập trung trong nông nghiệp

+ Sản xuất nông nghiệp còn mang nặng tính tự cấp, tự túc, tỷ suất nông sản hàng hóa còn thấp

+ Thu nhập của nông dân thấp, đời sống mọi mặt của họ còn hết sức khó khăn, sức mua thấp

+ Thị trường nhỏ lẻ, phân tán, manh mún, mang tính chất mùa vụ.(2) Nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới, có pha trộn tính chất ôn đới, nhất là ở miền Bắc

Đặc điểm này mang lại cho nông nghiệp nước ta một số thuận lợi khá cơ bản:

+ Chúng ta có nguồn nước phong phú, nguồn ánh sáng dư thừa, nhờ đó có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp quanh năm

+ Tập đoàn cây trồng và vật nuôi của ta phong phú, đa dạng (có cả nhiệt đới và ôn đới), nhờ đó rất có điều kiện sản xuất những nông sản có giá trị kinh tế cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Tuy nhiên đặc điểm này cũng đem lại cho nông nghiệp nước ta những khó khăn không nhỏ, đó là thường xuyên bị sâu bệnh phá hoại Ngoài ra, bình quân đất nông nghiệp trên một đầu người của nước ta thấp

Trang 13

nghiệp nước ta theo hướng sản xuất hàng hóa hiện đại, chúng ta cần tìm cách phát huy cao độ những mặt thuận lợi và hạn chế đến mức tối đa những mặt khó khăn của nó, bảo đảm cho nông nghiệp nước ta có sự phát triển nhanh và vững chắc.

1.1.1.2 Những quá trình có tính quy luật trong việc hình thành

và phát triển nền nông nghiệp hàng hóa

Như chúng ta đã biết, kinh tế nông nghiệp là ngành cơ bản, ngành gốc, là lĩnh vực bao trùm lãnh thổ kinh tế nông thôn Nghĩa là sự phát triển của kinh tế nông nghiệp giữ vai trò quyết định trong kinh tế nông thôn Đây là một quá trình phát triển phức tạp, đa dạng Con người và xã hội nông thôn đã làm ra lịch sử của mình trên cơ sở những lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất nhất định, trên cơ sở những thiết chế kinh tế - xã hội

và gắn với những phong tục, tập quán, văn hóa nhất định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những hiểu biết về những đặc điểm đặc thù của sản xuất nông nghiệp Theo đó, các tính quy luật của quá trình hình thành và phát triển nông nghiệp hàng hóa được diễn ra Việc nắm bắt, nhận thức, tìm hiểu, luận giải các quá trình ấy giúp chúng ta có một cách tiếp cận biện chứng trong quá trình thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở nước ta

1.1.1.2.1 Quá trình thực hiện các chế độ canh tác trong sản xuất nông nghiệp

Nói đến sản xuất nông nghiệp trước hết là nói đến cách thức, phương thức con người khai thác và sử dụng tài nguyên sinh vật, sinh thái làm ra sản phẩm phục vụ đời sống của mình Gắn liền với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, tiến bộ khoa học - kỹ thuật và sự hiểu biết về sinh vật, sinh thái của loài người, lịch sử phát triển sản xuất nông nghiệp, xét về phương diện chinh phục và sử dụng tài nguyên thiên nhiên sinh vật, sinh thái, đất đai, thời tiết khí hậu đã trải qua nhiều chế độ nông nghiệp từ thấp đến cao

- Chế độ du canh du mục:

Trang 14

Từ khi con người biết gieo trồng và thuần dưỡng được súc vật, lịch

sử loài người bước sang trang chấm dứt thời kỳ mông muội, săn bắn, hái lượm kéo dài hàng vạn vạn năm và bắt đầu thời kỳ biết sản xuất nông nghiệp với chế độ du canh du mục Bằng những chiếc gậy và mồi lửa, con người sống lang thang, đốt rừng hết mảnh này đến mảnh khác, rồi chọc tỉa, chờ trời hoặc lùa gia súc đi hết đồng cỏ này đến đồng cỏ khác để từ đất hay nhờ từ đồng cỏ tự nhiên, kiếm được một ít hạt ngũ cốc, một ít thịt, sữa nhằm duy trì sự sống Trong giai đoạn này, sản xuất của con người vẫn

là khai thác tự nhiên và hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên

- Chế độ định canh, luân canh bỏ hóa và chăn nuôi thả rông

Trải qua hàng ngàn năm, đến thời kỳ đồ đồng, đồ sắt, con người đã biết làm ra cày, cuốc, dao và các công cụ cầm tay khác, đã thấy cần và có

đủ khả năng để định cư, định canh và định chăn thả Trong sản xuất, các cộng đồng người đã biết thực hiện luân canh bỏ hóa và chăn nuôi thả rông, thể hiện sự hiểu biết làm ăn và công sức đóng góp của con người trong sản xuất nông nghiệp có bước tiến quan trọng Tuy nhiên về cơ bản vẫn còn phụ thuộc vào thiên nhiên và vẫn còn là nền nông nghiệp tự nhiên quảng canh

- Chế độ nông nghiệp thâm canh cổ truyền trồng trọt kết hợp với chăn nuôi

Từ khi định canh, định chăn nuôi thả, một mặt nguồn đất đai có độ phì tự nhiên tốt, dễ khai thác để đưa vào sản xuất ngày càng cạn kiệt, khả năng mở rộng diện tích ngày càng bị hạn chế và trở nên khó khăn, trong khi đó dân số lại tăng lên nhanh, nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp ngày càng nhiều Mặt khác, nhờ cố định làm ăn trên những mảnh đất, những đồng cỏ nhất định, với những cây trồng và gia súc cụ thể, con người ngày càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm, biết tuyển chọn giống tốt, biết đắp

bờ ruộng, cày sâu bừa kỹ, bón phân hữu cơ, chăm sóc làm cỏ, bắt sâu bắt

Trang 15

các biện pháp thâm canh khác trong trồng trọt Về chăn nuôi, con người cũng đã tuyển lựa được các con giống to khỏe, mắn đẻ, đẻ nhiều Chăm bón đồng cỏ tự nhiên, thực hiện luân phiên chăn thả, sử dụng sản phẩm phụ của ngành trồng trọt làm thức ăn cho gia súc, gia cầm Trong vườn quanh nhà, nhiều gia đình đã phát triển sản xuất theo mô hình VAC ở đồng bằng và mô hình VACR ở trung du miền núi Những kinh nghiệm đó được truyền từ đời này qua đời khác và ngày càng được bổ sung thêm, nâng cao hơn về chất lượng, dần dần trở thành tập quán, thói quen sản xuất, được đúc kết thành kiến thức thâm cảnh cổ truyền (hay truyền thống) Qua hàng thế kỷ thâm canh cổ truyền, nhiều vùng thâm canh truyền thống lúa nước, lúa mỳ trên thế giới hình thành và phát triển, lấy việc nâng cao năng suất cây trồng gắn liền với việc bảo vệ và nâng cao độ phì nhiêu của đất và cải thiện môi trường sinh thái làm con đường chủ yếu

để tăng sản phẩm nông nghiệp Tuy vậy, do thâm canh cổ truyền vẫn còn giới hạn trong kinh nghiệm của nông dân, trong những biện pháp nông nghiệp truyền thống, nên các vùng thâm canh chưa cao, năng suất cây trồng, năng suất vật nuôi và nhất là năng suất lao động tăng lên chậm không tương xứng với tốc độ tăng dân số

- Chế độ chuyên canh, thâm canh tiên tiến

Đến nửa đầu thế kỷ 20, công nghiệp cơ khí và hóa học phát triển tập trung, có khả năng trang bị cho nông nghiệp những vật tư kỹ thuật hiện đại như năng lượng, động cơ, máy móc có công suất cao, phân bón, thuốc trừ sâu Từ đó các trung tâm nghiên cứu cải tạo giống xuất hiện và hoạt động mạnh mẽ với chức năng nghiên cứu việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi khi sử dụng các vật tư kỹ thuật mới sao cho thích ứng với điều kiện tự nhiên sinh hoạt và xã hội ở từng vùng Nhờ

đó chế độ trồng trọt chăn nuôi đa canh tủn mủn và thâm canh cổ truyền được thay thế bằng chế độ sản xuất chuyên môn hóa và thâm canh hiện đại Đặc trưng chủ yếu của chế độ sản xuất nông nghiệp này là:

Trang 16

+ Trồng trọt tách rời khỏi chăn nuôi, thực hiện chuyên môn hóa cao, hình thành các cánh đồng chuyên canh, các chuồng trại nuôi chuyên

để tiện sử dụng các vật tư kỹ thuật mới; nhất là các phương tiện cơ giới máy móc nông nghiệp

+ Sử dụng các giống mới có năng suất cao, có khả năng hấp thụ phân hóa học, thuận tiện cho việc cơ giới hóa và các biện pháp kỹ thuật khác

+ Tăng nhanh sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích (năng suất ruộng đất) và sản lượng trên mỗi đơn vị lao động (năng suất lao động) để đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa và đô thị hóa cả về lương thực, thực phẩm và nguồn lao động

+ Tất cả các biện pháp kỹ thuật hiện đại là tập trung khai thác đến mức tối đa, nếu không muốn nói là kiệt quệ độ phì của đất đai, điều kiện thuận tiện của môi trường hiện có để đạt mục tiêu kinh tế duy nhất là tăng năng suất ruộng đất và năng suất lao động, làm cho chất đất ngày càng giảm xuống, môi trường sinh thái ngày càng xấu đi

Chế độ nông nghiệp này đã diễn ra chủ yếu từ những năm 50 trở lại đây với cơ giới hóa là chủ yếu trong những năm 50 - 60, với cuộc cách mạng xanh và hóa học hóa vào những năm 60 - 80, với hiện đại hóa và tổng hợp những năm 80 - 90, đã làm cho nông nghiệp thế giới có bước phát triển nhảy vọt Nhiều vùng không những đáp ứng đủ nhu cầu nông sản cho công nghiệp hóa và sau công nghiệp hóa mà còn xuất khẩu ngày càng nhiều sang các khu vực khác Song trả giá cho quá trình phát triển này là đất đai ngày càng nghèo, thiếu chất hữu cơ nghiêm trọng, độ che phủ quá thấp, thời tiết khí hậu ngày càng khắc nghiệt với nông nghiệp, tài nguyên đất đai, sinh vật, sinh thái - cơ sở vật chất tự nhiên không thể thiếu được của sản xuất nông nghiệp - ngày càng bị phá hoại Trước nguy cơ đó, với sự tiến bộ của khoa học sinh vật và sinh thái, của công nghệ sinh học, với sự cung ứng ngày càng nhiều phương tiện kỹ thuật tinh vi, hiện đại của công nghiệp, đã và đang bắt buộc vào tạo điều kiện cho nông nghiệp

Trang 17

chuyển sang chế độ sản xuất tiến bộ hơn, hợp lý hơn, hiện đại hơn - đó là chế độ nông nghiệp sinh thái bền vững và hiện đại.

- Chế độ nông nghiệp sinh thái bền vững và hiện đại

Chế độ nông nghiệp sinh thái bền vững và hiện đại được xây dựng trên một quan điểm hoàn toàn mới đối với nông nghiệp Nông nghiệp bây giờ không chỉ là một ngành kinh tế sinh vật mà cao hơn nữa là một ngành kinh tế sinh vật - sinh thái Đối tượng tác động của con người không chỉ dừng lại ở đất đai, cây trồng, vật nuôi riêng biệt mà là một tổng hòa sinh vật - sinh thái, một hệ thống sinh vật - sinh thái Sản phẩm của nó sản xuất

ra không chỉ là những sản phẩm của cây trồng và vật nuôi, đành rằng những sản phẩm này ngày càng dồi dào hơn, với chủng loại phong phú hơn, chất lượng cao hơn và hình vẽ tươi đẹp hơn mà còn là cả môi trường sinh thái phát triển hài hòa tạo cơ sở tự nhiên vững chắc cho nông nghiệp phát triển ổn định, lâu bền, đem lại sự trong sạch, tươi mát, dễ chịu cho cuộc sống con người, mặt khác, nó còn góp phần tích cực tái tạo lại một phần tự nhiên, đảm bảo sự yên lành của môi trường, đảm bảo nguồn lực tự nhiên quan trọng cho các thế hệ tương lai

Nội dung xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa, mang tính chất sinh thái, bền vững và hiện đại chắc chắn là rất cao và rất phong phú, gắn liền với việc phát triển một nền nông nghiệp văn minh hiện đại trong thế

kỷ XXI trên cơ sở những phát kiến mới về khoa học sinh vật, vi sinh vật, sinh thái và các khoa học khác gắn liền với sinh vật và sinh thái, những công nghệ mới về sinh học, những năng lượng mới, những máy móc tinh

vi được đưa vào sản xuất điều khiển quá trình hoạt động của sinh vật và sinh thái

Sinh vật - sinh thái là kết quả tổng hòa của các điều kiện và yếu tố

tự nhiên trên một vùng lãnh thổ, lãnh hải nhất định Do điều kiện tự nhiên khác nhau mà có các vùng sinh thái - sinh vật không giống nhau Hệ sinh thái - sinh vật biển hoàn toàn khác với hệ sinh thái - sinh vật lục địa Dưới

Trang 18

biển lại được phân ra hệ sinh thái - sinh vật đại dương, hệ sinh thái - sinh vật thềm lục địa Trên đất liền bao gồm hệ sinh thái - sinh vật ven biển, hệ sinh thái - sinh vật đồng bằng, hệ sinh thái - sinh vật trung du vùng đồi thấp và hệ sinh thái - sinh vật vùng núi Trong mỗi vùng lớn đó lại bao gồm nhiều tiểu vùng sinh thái - sinh vật khác nhau do có sự khác nhau nổi trội về một số yếu tố tự nhiên nào đó Trên mỗi vùng sinh thái, tiểu vùng sinh thái đều có tập đoàn cây con tương ứng thích hợp, trong đó có những loại cây con vừa đóng vai trò chủ yếu trong tập đoàn cây, tập đoàn con vừa

có thể đưa lại hiệu quả kinh tế cao

Trên mỗi vùng sinh thái và tiểu vùng sinh thái lại có sự khác biệt nhất định về thời tiết giữa mùa mưa và mùa khô, giữa mùa nóng và mùa lạnh, vì vậy đã hình thành nên những mùa cây con khác nhau Ở những vùng sinh thái có độ chiếu sáng mạnh của mặt trời, có độ ẩm và độ nhiệt cao thường xuất hiện hệ sinh vật (kể cả trên cạn và dưới nước) nhiều tầng

Hệ sinh thái và sinh vật tác động qua lại lẫn nhau, luôn tạo điều kiện thuận lợi cho nhau trong quá trình vận động phát triển Nếu một bên

vì lý do nào đó bị sút giảm hoặc bị phá hoại thì lập tức bên kia cũng bị ảnh hưởng tương ứng

Với nhận thức tổng quát ban đầu về sinh thái và sinh vật, hệ sinh thái và hệ sinh vật, mối quan hệ hữu cơ giữa chúng với nhau như trên, trong điều kiện hiện nay muốn có một nền nông nghiệp sinh thái bền vững thì nhất thiết phải làm tốt những việc có tính nguyên tắc sau đây:

- Trên cơ sở nghiên cứu nắm vững hệ sinh thái, hệ sinh vật cả về lịch sử và hiện tại của mỗi vùng mà lựa chọn những cây trồng và vật nuôi

có lợi thế so sánh cao trên thị trường, phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng để tập trung phát triển thành các ngành hàng hóa lớn của vùng

- Xác định và thực hiện công thức kết hợp hợp lý giữa trồng trọt - chăn nuôi - thả cá - trồng rừng với mô hình VAC hoặc VACR trong các

Trang 19

hộ cũng như trên cả vùng lớn, trong đó các cây con sản xuất hàng hóa chính đóng vai trò trung tâm.

- Xác định và thực hiện các công thức khoa học về luân canh, xen canh, gối vụ trên đồng rộng, về kết hợp các cây trồng trong vườn, trên đồi, về tập đoàn con nuôi trong từng nông trại, về tập đoàn tôm cá trên từng mặt nước

- Xây dựng và thực hiện các dây chuyền công nghệ nông nghiệp tiên tiến không chỉ riêng cho từng cây con mà còn tổng hợp cho từng công thức luân canh kết hợp nói trên

- Khi du nhập giống mới, chủng loại cây con mới từ ngoài vào, từ vùng này sang vùng kia, trước khi đưa vào sản xuất đại trà phải thông qua giai đoạn khảo nghiệm, xem lại sự thích nghi của nó với hoàn cảnh sinh thái mới Việc khảo nghiệm chúng phải đặt trong khuôn khổ một công thức luân canh hay kết hợp nhất định

Nông nghiệp nước ta hiện đang ở trình độ kết hợp thâm canh truyền thống với thâm canh hiện đại, đang chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc với nhiều loại cây con tủn mủn sang sản xuất hàng hóa chuyên môn hóa Với kiến thức mới về nông nghiệp, với sự mở cửa hòa nhập nền kinh tế, nền nông nghiệp nước ta với thế giới cho phép ngay từ bây giờ trong chiến lược phát triển nông nghiệp, một trong những mục tiêu hàng đầu và cơ bản

là hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái bền vững với các chế

độ nông nghiệp khoa học phù hợp với hệ sinh vật - sinh thái của từng vùng Việc phát triển nông nghiệp của cả nước cũng như của mỗi vùng cần được quy hoạch và thiết kế nhằm hướng tới một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, phong phú, đa dạng đồng thời cũng là một nền nông nghiệp phát triển hài hòa và ngày càng tốt hơn cả về hệ sinh vật và hệ sinh thái Muốn vậy, những vấn đề nguyên tắc nêu trên cần được thể hiện trong nội dung quy hoạch, thiết kế nông nghiệp và được nghiêm túc quán triệt trong quá trình thực hiện các quy hoạch thiết kế đó

Trang 20

1.1.1.2.2 Quá trình vận động của cơ cấu các ngành nông nghiệp thông qua hệ thống phân công lao động xã hội

Nông nghiệp là một tổ hợp các ngành kinh tế sinh học cụ thể trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp Chúng được hình thành trên cơ sở phân công lao động xã hội Trình độ và quy mô sản xuất phát triển đến mức cho phép tách việc sản xuất các nhóm sản phẩm hay các sản phẩm thành ngành kinh tế sinh vật cụ thể tương đối độc lập với nhau song lại gắn bó hữu cơ với nhau trong quá trình phát triển Các ngành và tiểu thứ ngành sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, với quy mô phát triển của mình, kết hợp hữu

cơ với nhau, hình thành nên cơ cấu các ngành nông nghiệp Đó là cấu trúc (kết cấu) ngành thể hiện dáng vẻ và trình độ phát triển của nền nông nghiệp, qua đó có thể thấy được trình độ phân công lao động xã hội trong nông nghiệp; sự đóng góp của ngành đối với nền kinh tế quốc dân, đối với

sự phát triển của xã hội; mức độ sử dụng tài nguyên sinh vật, sinh thái, đất đai và lao động - những nguồn vốn quý giá và đầy tiềm năng trong nông nghiệp; sự phối hợp cân đối giữa các thứ ngành và tiểu thứ ngành trong sự phát triển ổn định và bền vững của toàn ngành nông nghiệp

Theo đó, tính chất sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp cũng được thể hiện ra

Do vậy, cần nắm bắt sự hình thành và tính quy luật chuyển dịch của cơ cấu các ngành nông nghiệp Trong thực tiễn, về mặt khoa học, không phải cứ có loài tài nguyên sinh vật gì thì có ngành sinh vật đó, không phải có sản xuất thứ gì thì có ngành sản xuất thứ đó, và cũng không phải ở đâu và lúc nào cũng có thể phát triển được một nền nông nghiệp toàn diện Phát triển nông nghiệp toàn diện với việc dịch chuyển cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có mâu thuẫn với nhau không? Việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp có phải chỉ chủ yếu gắn liền với việc

tổ chức phân công lao động trong nội bộ nông nghiệp không?

Trang 21

Khi xem xét các phương thức sản xuất nông nghiệp từ thấp tới cao, chúng ta thấy rằng nó tuân theo các quá trình, các nguyên tắc nghiêm ngặt, ứng với các trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cùng với các thiết chế, hoàn cảnh kinh tế - xã hội nhất định.

Nông nghiệp là lĩnh vực hoạt động sản xuất đầu tiên của con người Khi còn thông qua trồng tỉa lương thực và chăn thả gia súc để lấy sản phẩm sinh sống, thì phạm trù ngành sản xuất chưa được lịch sử đặt ra Mãi đến cuộc phân công lao động xã hội lần thứ nhất - chăn nuôi bước đầu tách khỏi trồng trọt, sự trao đổi giữa các bộ lạc trồng trọt và các bộ lạc chăn nuôi còn quá ít ỏi và thất thường Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, với việc nâng cao năng suất lao động của sản xuất lương thực và chăn thả gia súc, với những kinh nghiệm tích lũy được của loài người trong sản xuất, trong chế tạo công cụ, tìm kiếm và chinh phục các cây trồng, vật nuôi mới từ từ ra đời các nghề thủ công và tách thành các hộ độc lập Cũng từ đó, hộ gia đình kinh tế cá thể và sở hữu tư nhân được hình thành và phát triển Ban đầu, một số cây rau, cây ăn quả và cây công nghiệp, một số gia súc, gia cầm mới được đưa vào sản xuất thêm trong các gia đình để bổ sung cho ăn uống của họ, chuẩn bị cho một cuộc phân công lao động mới và hình thành các ngành sản xuất khác nhau trong nông nghiệp Chỉ mãi cho tới sau khi có phân công lao động xã hội lần thứ hai - thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp và sản xuất, trao đổi hàng hóa trở thành rõ nét hơn tuy vẫn còn ở trình độ sản xuất hàng hóa rất đơn giản, thì phân công lao động xã hội với việc xuất hiện các ngành mới trong nội bộ nông nghiệp mới thực sự diễn ra Nhưng quy mô sản xuất và ý nghĩa kinh

tế của các ngành đó còn nhỏ bé và giới hạn trong từng địa phương, từng vùng kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp

Với quá trình công nghiệp hóa đất nước vừa đòi hỏi nông nghiệp cung cấp ngày càng nhiều lương thực, thực phẩm, nguyên liệu chế biến và lao động cho công nghiệp, vừa tạo cơ sở hạ tầng, trang bị thêm nhiều

Trang 22

phương tiện vật tư kỹ thuật cho nông nghiệp sản xuất hàng hóa và chuyên môn hóa, với sự kích thích của sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, với

sự tiến bộ về khoa học - kỹ thuật nông nghiệp, các hộ nông dân, các cơ sở sản xuất nông nghiệp đã chuyển dần phương hướng sản xuất của mình từ

tự túc tự cấp sang sản xuất hàng hóa, gắn với thị trường, gắn với xã hội Nhiều vùng kinh tế tự nhiên chuyển sang sản xuất những cây, con thích nghi với điều kiện sinh thái của mình và có lợi thế so sánh hơn các vùng khác, trên thị trường hình thành những vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn và chuyên môn hóa cao Nhiều vùng sinh vật - sinh thái có tài nguyên tiềm ẩn to lớn, nay trong điều kiện mới về thị trường, về khoa học

- kỹ thuật - công nghệ, đã bật dậy thành những vùng nông nghiệp chuyên môn hóa và hàng hóa mới Đồng thời với quá trình hàng hóa hóa và chuyên môn hóa, các cơ sở sản xuất nông nghiệp, các vùng nông nghiệp, các ngành sản xuất hàng hóa lớn trong nông nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều với nhiều loại nông phẩm hàng hóa cao cấp và quy mô vượt qua khỏi phạm vi vùng, mang tính chất quốc gia và có loại mang tính chất quốc tế Gắn với quá trình hình thành và phát triển ngày càng phong phú,

đa dạng các ngành kinh tế hàng hóa sinh vật, cây con trong nông nghiệp,

cơ cấu giữa các ngành đó cũng ngày càng phức tạp và luôn biến đổi theo nhu cầu của xã hội, của thị trường và khả năng tăng lên của con người trong việc chinh phục và sử dụng các tài nguyên sinh vật và sinh thái từ dễ đến khó Từ chỗ chỉ biết khai thác sử dụng một cách thực dụng vì mục đích kinh tế trước mắt đến chỗ sử dụng hợp lý khoa học, gắn hiệu quả trước mắt với hiệu quả lâu dài, gắn lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường sống và cải tạo môi trường sinh thái

Kinh nghiệm của thế giới và trong nước cho thấy, sự chuyển dịch

cơ cấu các ngành nông nghiệp trong quá trình sản xuất hàng hóa mang tính quy luật như sau:

Trang 23

- Từ nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi mở ra lâm nghiệp và ngư nghiệp - những ngành có giá trị kinh tế cao nhưng việc sản xuất khó khăn hơn, đòi hỏi một trình độ cơ sở vật chất - kỹ thuật nhất định và vốn đầu tư cao hơn Trong quá trình phát triển, tỷ trọng của lâm và ngư nghiệp lớn lên, còn tỷ trọng của nông nghiệp thì giảm đi, mặc dù ngành này vẫn tăng trưởng.

- Trong nông nghiệp theo nghĩa hẹp (gồm trồng trọt và chăn nuôi) trên cơ sở phát triển trồng trọt, trước hết là sản xuất ngũ cốc, rau quả, cây công nghiệp, chăn nuôi sẽ phát triển nhanh hơn, tỷ trọng của nó lớn dần lên và đến mức lớn hơn tỷ trọng trồng trọt để đáp ứng nhu cầu ăn ngày càng ngon, đủ dinh dưỡng cho con người và cũng tương ứng với yêu cầu ngày càng cao của ngành chăn nuôi về kỹ thuật và vốn đầu tư

- Trên cơ sở phát triển sản xuất lương thực, nhất là từ khi vượt qua ngưỡng cửa về nhu cầu lương thực, sản xuất các loại rau đậu cao cấp, cây

ăn quả và cây công nghiệp phát triển nhanh, trở thành những ngành nông nghiệp hàng hóa lớn, trong đó có nhiều loại sản xuất trở thành ngành xuất khẩu quan trọng Do vậy tỷ trọng của các ngành đó lớn lên không ngừng

và tỷ trọng của lương thực thì giảm đi tương ứng

- Gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập và đời sống của nhân dân được nâng cao, nhu cầu ăn ở, vui chơi giải trí, du lịch, nghỉ mát của con người cũng tăng lên Do đó, các ngành sản xuất các cây con làm nguyên liệu, món ăn đặc sản, sản xuất hoa, cây cảnh, chim, thú, cá cảnh cũng được phát triển nhanh chóng, đóng góp ngày càng to lớn và chiếm tỷ trọng ngày càng cao hơn trong giá trị sản lượng và thu nhập nói chung của nông nghiệp

Những xu hướng chuyển dịch khách quan trên đây của cơ cấu các ngành nông nghiệp, một mặt phản ánh yếu tố cốt lõi quyết định xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói chung trong sản xuất hàng hóa, mặt khác cũng thể hiện sự phát triển ngày càng hợp lý, tiến bộ, văn minh của nông nghiệp, nông thôn trong thời đại ngày nay

Trang 24

Song cơ cấu các ngành nông nghiệp và bản thân các ngành đó là có tính cụ thể đối với từng cơ sở sản xuất nông nghiệp, từng vùng kinh tế nông nghiệp và mỗi quốc gia Phát triển những ngành cây con cụ thể gì? Quy mô đến đâu? Sự kết hợp giữa các ngành đó ra sao? Trong quan hệ tỷ

lệ nào? Rồi vấn đề giá cả, thị trường, chủ thể sản xuất , thông thường do các yếu tố chủ yếu sau đây quyết định:

- Các dạng tài nguyên sinh vật cụ thể (cây, con cụ thể), quy mô diện tích từng cây, số đầu con từng vật nuôi trong tài nguyên nói trên có thể phát triển được

- Thị trường và nhu cầu thị trường về các sản phẩm gắn liền với tài nguyên sinh vật cụ thể của mình Khả năng vận chuyển và lưu thông hàng hóa

- Trình độ khoa học kỹ thuật (bao gồm cả vật tư kỹ thuật và quy trình công nghệ), nguồn vốn và kỹ năng lao động

- Sự kết hợp của tập đoàn cây, con, giữa nông-lâm-ngư, giữa cây và con do điều kiện sinh thái cụ thể đòi hỏi

Như vậy, hình thù cụ thể giữa các ngành và cơ cấu giữa các ngành

đó trong quá trình sản xuất nông sản hàng hóa rất khác nhau giữa các đơn

vị sản xuất nông nghiệp, giữa các vùng kinh tế nông nghiệp và giữa các quốc gia Trong mỗi cơ sở sản xuất, mỗi vùng nông nghiệp, mỗi quốc gia

có những ngành nổi trội, những ngành chuyên môn hóa chủ yếu và những ngành bổ sung kết hợp trong một cơ cấu nông nghiệp hợp lý Vị trí giữa các ngành nổi trội (ngành hàng hóa chủ yếu) và ngành kết hợp được chuyển đổi theo lợi thế so sánh của từng ngành, từng mặt hàng nông sản trên thị trường Mặt khác, với sự biến đổi của cung và cầu, của sự vận hành của hộp đen kinh tế vĩ mô, của giá cả trên thị trường, một số sản phẩm bị lỗ buộc phải ngừng sản xuất, và ngượclại một số ngành, mặt hàng mới lại được phát triển nhanh Do đó, cơ cấu các ngành, các sản phẩm nông

Trang 25

nghiệp không những là cụ thể mà còn luôn biến đổi theo sự phát triển của sản xuất hàng hóa và thị trường.

Với quan niệm trên, khi nói phát triển nông nghiệp đa dạng, toàn diện là phải nhấn mạnh đến việc tập trung phát triển những ngành sản xuất hàng hóa có lợi thế so sánh, đồng thời kết hợp phát triển các cây, con, các sản phẩm bổ sung để sử dụng hết tiềm năng đa dạng của cơ sở trong một

cơ cấu sản xuất kinh doanh hợp lý Đứng trên góc độ cả nước, với nhiều vùng sinh thái đa sạng phức tạp như nước ta, nói phát triển nông nghiệp toàn diện có nghĩa là trên nền cây trồng, vật nuôi đa dạng và phong phú

đó, phải hình thành và phát triển các vùng sản xuất hàng hóa lớn với cơ cấu chuyên môn hóa một số cây con hàng hóa có thế mạnh kết hợp với phát triển tổng hợp, đồng thời phải tập trung đẩy mạnh phát triển và tổ chức tốt các ngành kinh doanh cây, con xuất khẩu Chỉ trên cơ sở sản xuất hàng hóa ấy mới có thể hình thành và phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, gồm nhiều vùng nông nghiệp chuyên môn hóa, nhiều ngành cây, con xuất khẩu mạnh trong cơ cấu ngành, vùng và việc bố trí hợp lý lực lượng lao động ở nước ta hiện nay

1.1.1.2.3 Quá trình tạo lập, hình thành và phát triển các vùng sản xuất nông sản hàng hóa

Chúng ta biết rằng, nông nghiệp nằm trải dài trên một không gian rộng lớn, phức tạp, mang nhiều sắc thái khác nhau về tự nhiên kinh tế giữa các vùng Sự khác biệt về các yếu tố tự nhiên giữa các vùng lãnh thổ đã hình thành nên các vùng tự nhiên khác nhau: vùng địa hình, vùng thổ nhưỡng, vùng khí hậu, vùng sinh vật và vùng sinh thái Mỗi loại vùng tự nhiên trên đây được hình thành bởi các đặc trưng riêng và được phân theo những tiêu thức nhất định của từng yếu tố Các vùng đó đan xen vào nhau, lồng vào nhau, song không trùng khít với nhau Trước hết là vùng sinh vật, vùng sinh thái, là cơ sở tự nhiên của việc hình thành các vùng cây trồng và vật nuôi Song các vùng cây trồng và vật nuôi đó phát triển với quy mô nào,

Trang 26

có trở thành vùng kinh tế sản xuất hàng hóa chuyên môn hóa hay không lại phụ thuộc vào các yếu tố khoa học kỹ thuật và kinh tế, vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, vào sự phân công lao động xã hội

và cả sự phát triển sản xuất hàng hóa trong nhữngđiều kiện kinh tế - xã hội nhất định Nếu nông nghiệp buổi đầu của lịch sử vốn là nền kinh tế tự nhiên,

tự cung tự cấp, sản xuất và tiêu dùng gắn trực tiếp với nhau và được khép kín trong từng gia đình, từng cộng đồng thôn bản Qua quá trình phát triển lâu dài của sản xuất, sự phân công lao động xã hội diễn ra ngày càng sâu sắc, sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển ngày càng cao Điều đó đã từng bước dẫn tới chuyên môn hóa và tập trung hóa sản xuất không chỉ trong các đơn vị sản xuất nông nghiệp cơ sở mà cả trên từng vùng lãnh thổ, hình thành không chỉ các doanh nghiệp nông nghiệp hàng hóa mà cả các vùng kinh tế nông nghiệp hàng hóa chuyên môn hóa Như vậy, xét về đặc trưng kinh tế, quy mô và trình độ sản xuất hàng hóa, lãnh thổ nông nghiệp ở nước ta hiện nay gồm các loại vùng: kinh tế tự nhiên, kinh tế nông nghiệp hàng hóa nhỏ chuyên môn hóa thấp và kinh tế nông nghiệp hàng hóa lớn, chuyên môn hóa cao

- Vùng kinh tế tự nhiên: Đó là lãnh thổ mà trên đó sản xuất còn lạc hậu, mang tính cổ truyền, lệ thuộc vào thiên nhiên, năng suất lao động rất thấp, sản phẩm làm ra chỉ đủ dùng tại chỗ để duy trì cuộc sống tối thiểu trong gia đình, cộng đồng bộ tộc và thôn bản Các quan hệ kinh tế và trao đổi diễn ra chưa nhiều, chưa rõ nét, vẫn còn mang màu sắc quan hệ tự nhiên về gia đình, họ mạc Cái gọi là "vùng kinh tế" ở đây chẳng qua là một vùng lãnh thổ tổng cộng của các đơn vị kinh tế tự nhiên, cơ sở tự cung

tự cấp nhỏ bé, rời rạc, chưa có quan hệ trao đổi và hợp tác kinh tế với nhau, được khoanh lại bởi các địa giới tự nhiên, địa giới hành chính Các

cơ sở kinh tế trong vùng tiến hành sản xuất phân tán, manh mún, hầu như độc canh lương thực, ngay cả ở những nơi sản xuất lương thực là thứ yếu thì năng suất lao động vẫn thấp, thu hoạch bấp bênh, đời sống kinh tế - xã hội thấp kém, trì trệ, bảo thủ, lạc hậu Ở nước ta hiện nay, đa số các vùng

Trang 27

- Vùng kinh tế nông nghiệp hàng hóa nhỏ, chuyên môn hóa thấp: cùng với quá trình phát triển sản xuất, nâng cao trình độ thâm canh cổ truyền, năng suất, sản lượng nông nghiệp (chủ yếu là lương thực), được tăng lên một bước đáng kể cho phép các cơ sở sản xuất nông nghiệp, sau khi bảo đảm nhu cầu tiêu dùng cho mình, còn có sản phẩm dư dôi đem ra trao đổi trên thị trường Sản xuất và trao đổi hàng hóa đã từng bước thúc đẩy và lôi cuốn các hộ nông dân, các đơn vị sản xuất cơ sở phát triển các cây con có điều kiện sinh trưởng thuận lợi, đem lại giá trị kinh tế cao hơn, thu nhập nhiều hơn khi bán trên các chợ nông thôn Dần dần, các nông hộ, các cơ sở sản xuất cạnh nhau, có điều kiện tự nhiên giống nhau, cùng hướng vào sản xuất và thâm canh một số cây, con có ý nghĩa hàng hóa đó

Và rất tự nhiên, sẽ dẫn đến sự ra đời các vùng nông nghiệp hàng hóa nhỏ, chuyên môn hóa thấp trong các vùng kinh tế tự nhiên Đặc trưng chủ yếu của vùng kinh tế hàng hóa này là sản xuất và trao đổi hàng hóa đã mang tính vùng rõ nét, tuy sản xuất tự cung tự cấp vẫn là chủ yếu, vẫn là mục đích chính của người sản xuất, việc sản xuất và trao đổi nông sản phẩm chưa trở nên thường xuyên và phổ biến Tức là ở đây, việc sản xuất hàng hóa, sản xuất để bán và việc trao đổi hàng hóa trên thị trường, trên chợ đã trở thành một hoạt động vừa mang tính khách quan, vừa có ý thức chủ định, mặc dù số lượng hàng hóa chưa nhiều, tỷ suất hàng hóa chưa cao và việc trao đổi hàng hóa chủ yếu mới diễn ra trên thị trường địa phương, trên các chợ nông thôn, các thị tứ, thị trấn nhỏ Các cây con sản xuất hàng hóa vẫn chưa giành được nhiều diện tích, lao động, vốn và kỹ thuật để phát triển, vẫn còn ở trình độ chuyên môn hóa thấp

- Vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, chuyên môn hóa cao:

Từ khi công nghiệp hóa đất nước, hiện đại hóa giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp được trang

bị hiện đại, mở rộng và thống nhất thị trường, hệ thống thương nghiệp phát triển mạnh, thì nông nghiệp sẽ được biến đổi một cách toàn diện và

Trang 28

cơ bản cả về kỹ thuật, hình thức, phương thức tổ chức sản xuất, trình độ và quy mô phân công lao động xã hội Về kỹ thuật đã vượt hẳn kinh nghiệm thâm canh cổ truyền, từng bước thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và hiện đại hóa nông thôn Cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, quy trình công nghệ tiên tiến và cơ cấu nông - công nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn cho phép hình thành và phát triển các vùng cây con chuyên môn hóa và thâm canh cao với quy mô lớn, có năng suất ruộng đất, năng suất thâm canh cao

Với mạng lưới giao thông phát triển, phương tiện vận tải ngày càng hiện đại, cho phép vận chuyển đi xa, đi nhanh, khối lượng lớn hàng hóa nông sản với chi phí vận chuyển ngày càng rẻ đã khắc phục trở ngại của địa giới tự nhiên, cho phép vận chuyển hàng từ vùng này đến vùng kia được dễ dàng, thuận tiện, đã làm thay đổi hẳn nguyên tắc bố trí sản xuất nông nghiệp từ vùng tiêu thụ sang vùng nguyên liệu Từ đó đã thúc đẩy việc khai thác lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh vật, sinh thái của các vùng với quy mô lớn hình thành các vùng nông nghiệp chuyên môn hóa cao để cung cấp khối lượng nông sản hàng hóa ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng cao cho các đô thị, khu công nghiệp, để trao đổi với các vùng khác trong nước và để xuất khẩu Cũng trong quá trình đó, sự phân công lao động theo lãnh thổ được diễn ra trên quy mô lớn với trình độ chuyên môn hóa lao động cao Gắn liền với sự phát triển của giao thông vận tải, thông tin liên lạc ngày càng phát triển và hiện đại, thị trường cũng dần dần được mở rộng và thống nhất, hệ thống thương nghiệp ngày càng phát đạt và hoàn thiện Thị trường lớn và thương nghiệp lớn sẽ ngày càng cuốn hút các vùng nông nghiệp phát triển mạnh

mẽ sản xuất hàng hóa Trước hết là kích thích, lôi cuốn việc tập trung phát triển những ngành, những mặt hàng nông sản sản xuất chuyên môn hóa đem lại doanh thu và lợi nhuận cao nhất Sản xuất hàng hóa đã trở thành

Trang 29

hình thái tổ chức kinh tế chủ yếu, phương thức sản xuất hàng hóa chiếm địa vị thống trị trong các vùng đó.

Như vậy, các vùng nông nghiệp hàng hóa lớn, chuyên môn hóa cao

ra đời và phát triển gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, thị trường hóa nền kinh tế đất nước và kinh tế nông thôn

Đặc trưng chủ yếu của vùng này là:

+ Vùng kinh tế nông - công nghiệp có năng suất lao động và tỷ suất hàng hóa cao, có thị trường rộng lớn, đa dạng với sức mua mạnh

+ Trên cơ sở tập trung hóa và chuyên môn hóa, các ngành sản xuất hàng hóa chuyên môn hóa ở đây đã phát triển thành những ngành kinh tế hàng hóa mang tính toàn vùng, tính quốc gia và có thể cả tính quốc tế Sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ chủ yếu trên thị trường đô thị, thị trường nông thôn ở các vùng chuyên môn hóa khác và thị trường thế giới

+ Sự hợp tác kinh tế, sự trao đổi hàng hóa không còn bị giới hạn bởi ranh giới địa lý, ranh giới hành chính và khoảng cách địa lý Đó là sự trao đổi và hợp tác kinh tế giữa các vùng nông nghiệp chuyên môn hóa với nhau, giữa các vùng đó với các đô thị trong cả nước, thể hiện cơ cấu về lãnh thổ của bản thân nông nghiệp và giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữa nông thôn với thành thị

Về cơ bản, nông nghiệp Việt Nam đang ở giai đoạn sản xuất hàng hóa nhỏ Ngoài một số vùng dân tộc ít người, ở rẻo cao hẻo lánh, giao thông cực kỳ khó khăn, sản xuất và đời sống như còn ở trạng thái tự nhiên, còn nói chung trên mọi miền đất nước, đang tồn tại và phát triển các vùng nông nghiệp hàng hóa nhỏ, chuyên môn hóa thấp Trong nhiều năm qua, một số vùng lúa ở đồng bằng, vùng cây công nghiệp và cây ăn quả ở trung

du, miền núi đã được tập trung đầu tư vốn, đầu tư khoa học và kỹ thuật cho sản xuất để mong sớm xây dựng thành các vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, chuyên môn hóa cao Hiện nay các vùng đó có trình độ sản xuất, trình độ chuyên môn hóa cao hơn so với nhiều vùng khác trong

Trang 30

nước, nhưng vẫn chưa thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp, sản xuất hàng hóa vẫn còn ở quy mô nhỏ, các ngành hàng hóa và chuyên môn hóa chưa phát triển vững chắc Vấn đề nghiêm túc được đặt ra trong những năm trước mắt là trên các vùng kinh tế lớn tổng hợp, phải hình thành được những vùng nông nghiệp chuyên môn hóa hàng hóa lớn phù hợp với lợi thế so sánh về tài nguyên sinh vật - sinh thái, về lực lượng lao động, về sử dụng khoa học kỹ thuật công nghệ của mỗi vùng Theo cách sắp xếp phổ biến hiện nay, ở nước ta, có các vùng kinh tế nông nghiệp chủ yếu sau:

+ Vùng trung du miền núi Bắc Bộ (gồm vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc); Vùng đồng bằng sông Hồng; Vùng Bắc Trung Bộ; Vùng Duyên hải miền trung; Vùng Tây Nguyên; Vùng Đông Nam Bộ; Vùng Đồng bằng sông Cửu Long

1.1.1.2.4 Quá trình hình thành, phát triển và liên kết các chủ thể sản xuất nông nghiệp hàng hóa

Suy cho cùng, mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp đều được tiến hành cụ thể trong các cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp Đó là các nông hộ, hộ trang trại, trang trại lớn, nông trường quốc doanh, HTX nông nghiệp, doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp, các công ty cổ phần và các liên hiệp sản xuất nông nghiệp

Sau cách mạng dân tộc dân chủ, nông dân được chia ruộng đất, kinh tế hộ nông dân phát triển và từng bước gắn với thị trường Với động lực vừa mới được giải phóng, các hộ nông dân đã nhanh chóng vài ba năm giải quyết được nhu cầu lương thực cho mình, một số hộ còn có một số sản phẩm dư dôi đem ra trao đổi Nhưng do quy mô quá nhỏ bé và tính chất sản xuất phân tán, tự cấp tự túc của kinh tế hộ đã hạn chế việc đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật và phương thức sản xuất thâm canh vào nông nghiệp, cản trở việc đẩy nhanh sản xuất nông sản hàng hóa theo đòi hỏi của thị trường và yêu cầu của công nghiệp hóa đất nước

Trang 31

Quá trình đẩy nhanh sự phát triển nông sản hàng hóa trên thế giới

đã từng diễn ra theo hai con đường chủ yếu ứng với hai loại nước tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa:

- Trong các nước tư bản chủ nghĩa và các nước dân tộc chủ nghĩa, người ta đẩy nhanh quá trình trang trại hóa kinh tế nông hộ, hình thành các hộ trang trại hàng hóa, đồng thời xây dựng một số trang trại lớn của tư bản tư nhân hay tư bản nhà nước và hướng chúng đi vào kinh doanh theo

cơ chế thị trường

Các hộ nông trại hàng hóa là các hộ chuyên sản xuất một số hàng nông sản để bán trên thị trường Toàn bộ hoặc gần hết sản phẩm của họ làm ra được đem bán trên thị trường và cũng từ thị trường họ mua về công

cụ, giống má, phân bón v.v cho sản xuất và cả những sản phẩm tiêu dùng cho gia đình Quy mô nông trại không lớn lắm, phù hợp với khả năng điều hành kinh doanh trực tiếp của chủ trang trại thông qua lao động trực tiếp của gia đình và một số lao động thuê mướn Loại hình đơn vị sản xuất này

kể từ khi xuất hiện đến nay đã trải qua hơn 200 năm và luôn tỏ ra là loaị hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả nhất bởi lẽ nó gắn liền người sản xuất với cây, con cụ thể - đối tượng sản xuất sinh vật đòi hỏi sự quan tâm, chăm sóc theo dõi sát sao và xử lý kịp thời hàng ngày hàng giờ, vừa luôn gắn với thị trường, tiến hành kinh doanh năng động theo cơ chế thị trường

Do đó loại hình này cũng dần dần trở thành lực lượng kinh tế chủ yếu trong quá trình phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại trong sự liên kết gắn bó với các HTX, với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân cả ở đầu ra và đầu vào

Các trang trại lớn tư bản chủ nghĩa cũng được xây dựng từ những ngày đầu phát triển chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp với quan niệm rằng doanh nghiệp càng lớn thì kinh doanh càng phát triển và càng có khả năng sinh lợi nhiều Song mặc dù được trang bị máy móc hiện đại, được quản lý theo kiểu công nghiệp, các trang trại lớn của các nhà tư bản tư

Trang 32

nhân và của nhà nước tư sản lại làm ăn kém hiệu quả vì quy mô quá to, quản lý cồng kềnh không sát với đất đai và sinh vật của nông nghiệp, không kịp thời ứng phó với sự biến đổi từng ngày từng giờ của thời tiết khí hâu, của cây trồng vật nuôi, vì người lao động trực tiếp là những người làm thuê, không còn là chủ của đồng ruộng, chuồng trại, họ không quan tâm đến kết quả sản xuất cuối cùng của cả chu kỳ sản xuất mang tính sinh học và sinh thái Cuối cùng các trang trại lớn và đồn điền đó buộc phải chia nhỏ, tổ chức thành các trang trại quy mô gia đình Các lô đất, vườn cây, chuồng trại được các hộ trang trại mua lại hoặc thuê, hoặc đấu thầu.

- Ở Liên Xô và các nước XHCN trước đây, trong đó có nước ta, kinh tế hộ được tập thể hóa nhanh chóng, tổ chức thành nông trang, các HTX lớn bậc cao, đồng thời trên các vùng đất đai rộng lớn, dân cư thưa thớt Nhà nước xây dựng nhiều nông trường quốc doanh Những xí nghiệp nông nghiệp lớn đó của tập thể và của Nhà nước tiến hành sản xuất theo

kế hoạch của Nhà nước và là chủ thể của kinh tế nông thôn, còn phần sản xuất ngoài giờ trên đất 5% để lại cho nông dân và công nhân nông nghiệp chỉ mang tính chất kinh tế phụ, bổ sung thu nhập thêm cho gia đình Thực tiễn phát triển nông nghiệp của các nước XHCN cho thấy: NTQD làm ăn kém hiệu quả hơn HTX, HTX lại đạt hiệu quả thấp hơn so với kinh tế phụ gia đình Kinh tế phụ gia đình thường xuyên bị o ép, có lúc bị đe dọa xóa

bỏ, nhưng lại là nguồn thu nhập chính, có khi trở thành cứu cánh cho gia đình xã viên HTX và công nhân nông trường Thực tế đó cuối cùng đòi hỏi phải điều chỉnh lại quan hệ sản xuất trong nông thôn Lúc đầu thực hiện trả công khoán theo sản phẩm cuối cùng hoặc khoán sản phẩm cho nhóm và người lao động, sau đó giao đất cho nông dân và công nhân viên quản lý

và sản xuất, coi kinh tế hộ là đơn vị kinh tế tự chủ nông trại và trang trại, chuyển các HTX và nông trường sang làm dịch vụ

Như vậy con đường phát triển nông lâm nghiệp lên sản xuất hàng hóa lớn và hiện đại không giống như trong công nghiệp (dựa chủ yếu vào

Trang 33

tự túc lên các hộ trang trại sản xuất hàng hóa Kinh tế hộ trang trại vẫn

giữ nguyên được tính ưu việt của quan hệ gia đình và quy mô điều hành, kiểm soát, sự quan tâm sát thực của người sản xuất trực tiếp đến cây trồng, vật nuôi cụ thể trong suốt cả chu kỳ tái sản xuất tự nhiên của nó trên đồng ruộng, đồi rừng và trong từng chuồng trại cụ thể Mặt khác nó lại vượt ra khỏi phạm vi biệt lập, cô độc của kinh tế hộ tự cấp tự túc, trở thành các doanh nghiệp nông dân, hoạt động năng động theo cơ chế thị trường, ngày càng gắn bó với sản xuất xã hội thông qua việc mở rộng liên kết, liên doanh trong nhiều hình thức hợp tác và không ngừng tăng thêm khối

lượng hàng hóa nông sản cung ứng cho thị trường Do đó nó là hình thức

kinh tế thích hợp nhất, phổ biến nhất và lực lượng kinh tế chủ yếu trong nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại.

Ở nước ta, vai trò của kinh tế hộ trong nông, lâm nghiệp đã dần dần được khẳng định lại Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm năm 1981 đã mở

đầu cho việc thực hiện quyền làm chủ của nông dân song mới giới hạn

trong những khâu nhận khoán và vẫn còn chịu sự kiểm soát của HTX Từ năm 1988 khi NQ 10 của Bộ chính trị và Nghị quyết VI của BCHTW khóa

VI, thực hiện giao đất, giao rừng cho nông dân quản lý, coi hộ là đơn vị kinh tế tự chủ thì kinh tế hộ đã có một sự chuyển biến lớn, từ chỗ mang tính chất kinh tế phụ gia đình đã chuyển thành đơn vị kinh tế tự chủ và trở thành chủ thể trong kinh tế HTX Song đến đầu năm 1994 khi Luật đất đai mới được công bố, thừa nhận quyền sử dụng đất ổn định và lâu dài của người nông dân với các quyền năng: sử dụng, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế thì về cơ bản trên văn bản pháp lý, kinh tế hộ đã được thừa nhận là đơn vị kinh tế cơ sở của xã hội, là chủ thể trong kinh tế nông nghiệp và nông thôn

Trong quá trình phát triển kinh doanh hàng hóa, mở rộng quan hệ

thị trường, kinh tế hộ ngày càng có nhu cầu liên kết với nhau bằng các

hình thức hợp tác thích hợp để đưa nhanh tiến bộ khoa học - kỹ thuật và

công nghệ mới vào sản xuất, thực hiện chuyên môn hóa và thâm canh cao

Trang 34

hơn, sản xuất hàng tiêu thụ nông, lâm sản kịp thời hơn, với quy mô lớn

hơn Muốn như vậy trong liên kết cần nhận thức đúng mấy vấn đề sau đây:

Một là, việc tham gia hợp tác liên kết ở khâu nào? Thuộc đầu vào

hay đầu ra? Liên kết với ai? Trong phạm vi lớn nhỏ bao nhiêu và bằng hình thức nào đều do các nông dân quyết định trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện, xuất phát từ lợi ích thiết thân cần mở rộng quy mô kinh doanh của mình bao gồm cả phần kinh tế riêng ở hộ và cổ phần đóng góp trong HTX

và vẫn giữ nguyên quyền làm chủ kinh doanh kinh tế riêng ở hộ và quyền

sở hữu đối với cổ phần đóng góp trong HTX

Hai là, kinh tế hộ là đơn vị kinh tế cơ sở trong xã hội, tồn tại và

phát triển độc lập ngay cả khi tham gia các hình thức hợp tác liên kết HTX là hình thức tổ chức kinh tế cao hơn song lại là hình thức phát sinh

Nó ra đời, tồn tại và phát triển dựa vào sự tồn tại và phát triển của kinh tế

hộ, dựa vào đóng góp cổ phần của các hộ và làm kinh doanh dịch vụ cho các hộ Quy mô kinh doanh của các hộ được mở rộng càng đòi hỏi tham gia liên doanh, liên kết nhiều hơn, đồng thời có khả năng đóng góp cổ phần nhiều hơn, lớn hơn, nó thúc đẩy sự phát triển của các HTX Mặt khác kinh doanh của các HTX là hoạt động dịch vụ và tạo điều kiện cho kinh tế

hộ phát triển hơn nữa Như vậy kinh tế hộ không hòa tan trong kinh tế HTX và kinh tế HTX cũng không bao trùm và không loại trừ kinh tế hộ Hai loại hình đó xâm nhập vào nhau nhưng vẫn độc lập với nhau với tư cách hai loại hình doanh nghiệp riêng biệt, hỗ trợ cho nhau, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phát triển nền nông nghiệp hàng hóa

Ba là, quan hệ giữa HTX với hộ xã viên mang tính song trùng, vừa

là mối quan hệ giữa tổ chức HTX với cổ đông, vừa là mối quan hệ giữa khách hàng với nhau Trong quan hệ giữa tổ chức hợp tác xã với cổ đông của mình cần thể hiện đầy đủ nguyên tắc: Liên kết tự nguyện, dân chủ cùng có lợi, bảo đảm doanh lợi chung của HTX, ưu tiên dịch vụ cho các cổ đông với giá cả phải chăng Khi tiến hành hợp đồng dịch vụ, cung cấp

Trang 35

hàng cho nhau giữa HTX và xã viên với tư cách khách hàng của mình thì thực hiện đúng nguyên tắc độc lập và bình đẳng trong kinh doanh giữa hai chủ thể pháp nhân với nhau Có điều là hợp đồng mang nội dung đúng đắn hơn, được tính toán hợp lý hơn và có độ tin cậy cao hơn giữa những người cùng tổ chức.

Bốn là, hình thức hợp tác liên kết rất phong phú, đa dạng, gồm

những dạng chủ yếu sau đây:

- Xét về hướng kinh doanh dịch vụ: có HTX chuyên một sản phẩm hay một khâu dịch vụ, có HTX kinh doanh tổng hợp một nhóm sản phẩm hay một số khâu dịch vụ (chẳng hạn HTX rau quả, HTX thủy nông kết hợp bón phân)

- Xét về mức độ liên kết, gồm các hình thức:

+ Hiệp hội, như Hội làm vườn, Hội ngành nghề làm chức năng thông tin và giúp đỡ nhau về kỹ thuật và kinh nghiệm làm ăn, phối hợp với nhau về các hoạt động thị trường để bảo vệ ngành, bảo vệ nhau trong kinh doanh, Hiệp hội không phải là doanh nghiệp mà chỉ là hình thức liên kết ngoài kinh doanh

+ HTX liên kết theo cổ phần đóng góp Đây là loại hình HTX kinh doanh mang tính liên kết rất mềm với sự tôn trọng tính độc lập rất cao về kinh tế của các hộ thành viên Các hộ hợp tác, các HTX, các công ty cổ phần đều thuộc dạng HTX liên kết này

- Đứng về quy mô liên kết, có 3 loại HTX chủ yếu:

+ HTX cấp cơ sở: là các HTX trực tiếp liên kết kinh tế hộ Đó là loại hình HTX phổ biến trong các thôn xóm

+ HTX cấp địa phương huyện, tỉnh: là những HTX được hình thành do kinh doanh sản xuất hay dịch vụ của một ngành nào đó phát triển đến mức đòi hỏi tập trung ở quy mô địa phương mới sử dụng được công

Trang 36

nghệ mới, chuyên môn hóa cao, sản xuất ra những hàng hóa có chất lượng cao, khối lượng lớn đáp ứng được nhu cầu của thị trường lớn Thuộc loại này thường là các HTX chế biến nông, lâm sản, HTX vận tải cơ giới, HTX kinh doanh vật tư v.v Các HTX địa phương liên kết các HTX cơ sở và các doanh nghiệp tư nhân trong cùng ngành kinh doanh và có quan hệ với nhau.

+ HTX cấp toàn quốc: là những doanh nghiệp HTX kinh doanh những mặt hàng lớn, cần thiết cho tiêu dùng ở đô thị và cho xuất khẩu Chúng liên kết các HTX cấp tỉnh, huyện và các doanh nghiệp tư nhân lớn

có liên quan

Trên cơ sở phát triển HTX rộng khắp với các quy mô ở cả 3 cấp,

các tập đoàn HTX toàn quốc ra đời Đó là một tổ chức hiệp hội toàn quốc

của các HTX hữu quan nhằm thống nhất các chủ trương kinh doanh, điều lệ HTX và đề bạt kiến nghị với Nhà nước về những vấn đề chính sách và luật pháp có liên quan đến hoạt động kinh doanh của HTX nông, lâm nghiệp và nông dân

Trước sự phong phú đa dạng về hình thức, sự đan xen, liên kết phức tạp về quan hệ của các loại hình HTX, mỗi hộ tùy theo yêu cầu thực

tế phát triển kinh doanh của mình mà gia nhập không chỉ một, hai mà có thể là nhiều HTX có liên quan Nói chung các HTX mà các hộ nông dân gia nhập là các HTX cấp cơ sở Song điều quan trọng là chọn đúng những hình thức HTX thiết thân với mình và thực hiện đúng các nguyên tắc quan

hệ với HTX như đã trình bày

Công ty cổ phần, các liên hiệp sản xuất kinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ là các hình thức liên kết kinh doanh ở giai đoạn cao giữa các doanh nghiệp lớn

Công ty cổ phần có loại chỉ hoạt động trong một lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp Có loại hoạt động trong hai, ba

Trang 37

tắc cổ đông Ai có nhiều cổ phần, nắm được nhiều cổ đông thì giữ vai trò quyết định trong công ty.

Liên hiệp sản xuất kinh doanh trong kinh tế nông thôn thường là các liên hiệp nông - công nghiệp về một ngành sản xuất hàng hóa lớn, hay ngành xuất khẩu lớn như Liên hiệp cà phê, Liên hiệp cao su, Liên hiệp chè, Liên hiệp lúa gạo xuất khẩu.v.v Sự ra đời của các liên hiệp là do yêu cầu nhất thể hóa nông - công nghiệp, nhất thể hóa nông - công - thương nghiệp

để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được nhanh nhất và hiệu quả nhất Liên hiệp hoạt động theo một kế hoạch chung, một chính sách thống nhất (chính sách thị trường, chính sách ăn chia phân phối trong liên hiệp) và theo cơ chế thị trường để quan hệ với các xí nghiệp thành viên bằng hợp đồng kinh tế đầy đủ, hợp lý

Các doanh nghiệp nhà nước dịch vụ kỹ thuật sản xuất trong nông nghiệp ra đời do yêu cầu trợ giúp để nhanh chóng hiện đại hóa nông nghiệp, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa và liên kết kinh doanh trong kinh tế nông hộ và nông trại Đó là các công ty thủy nông, các trung tâm nghiên cứu và cung ứng giống cây trồng và vật nuôi, các xí nghiệp cung ứng điện năng, các nhà máy chế biến v.v Các doanh nghiệp này ra đời và hoạt động trong điều kiện nguồn vốn cần có vượt quá khả năng kinh tế của các nông hộ và nông trại, việc dịch vụ và thu tiền dịch vụ chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết mang tính thời vụ cao; chi phí thực tế cho một đơn vị sản phẩm khá cao, thường không tương ứng với giá sản phẩm làm ra, cao hơn khả năng thanh toán của nông dân Vì vậy để cho loại doanh nghiệp này hoạt động bình thường Nhà nước cần quy định:

- Giá dịch vụ nông dân phải trả thấp hơn giá dịch vụ doanh nghiệp được thanh toán Phần chênh lệch giữa 2 giá đó do ngân sách chịu

- Những dịch vụ chống thiên tai do Nhà nước chịu

- Thời gian thanh toán dịch vụ là sau mỗi mùa thu hoạch Vượt quá thời gian quy định phải chịu lãi suất chiếm dụng vốn do ngân hàng quy

Trang 38

định Khoản nợ đó sau thời gian nhất định không quá một năm được chuyển thành khoản nợ của ngân hàng để giảm bớt khó khăn và phức tạp trong kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước này.

Quá trình phát triển của các chủ thể kinh tế và sự hiệp tác liên kết giữa chúng nổi lên những vấn đề lý luận quan trọng sau đây:

- Chủ thể kinh tế nông thôn rất phong phú và đa dạng Sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi loại gắn liền với những điều kiện khách quan nhất định về sản xuất và lịch sử Mỗi loại có nội dung kinh tế và cơ chế hoạt động của nó

- Các doanh nghiệp - chủ thể kinh tế đều có tư cách pháp nhân độc lập, bình đẳng với nhau trong kinh doanh, bình đẳng trước chính sách kinh

tế - xã hội và pháp luật của Nhà nước

- Các doanh nghiệp liên kết kinh doanh là loại hình doanh nghiệp phải sinh không bao trùm lên các doanh nghiệp thành viên, chỉ liên kết kinh doanh bộ phận sản xuất có liên quan Kinh tế của các doanh nghiệp liên kết chỉ là bộ phận kinh tế liên doanh mà thôi Kinh tế của các thành viên là kinh tế độc lập tự chủ của người kinh doanh có tư cách pháp nhân độc lập Mối quan hệ giữa doanh nghiệp liên kết với các doanh nghiệp thành viên cũng phải thông qua hợp đồng kinh tế đầy đủ giữa hai thành viên có tư cách pháp nhân độc lập

- Gắn liền với các chủ thể kinh tế đó, trong nông nghiệp, hiện có hai hình thức sở hữu chính: Sở hữu tư nhân và sở hữu Nhà nước và một số hình thức sở hữu phái sinh song không kém phần quan trọng như hai hình thức sở hữu chính, đó là sở hữu liên kết Tương ứng với các hình thức sở hữu nói trên trong kinh tế nông thôn cũng bao gồm 3 bộ phận chủ yếu: kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước và kinh tế liên kết Phát triển kinh tế đa thành phần, mở rộng quy mô kinh doanh của các loại doanh nghiệp, của từng doanh nghiệp là một tất yếu khách quan cực kỳ quan trọng trong phát

Trang 39

- Hiện nay chủ thể kinh tế chủ yếu trong nông nghiệp nước ta là

nông hộ và trong một thời gian không xa nữa là nông hộ - nông trại và

nông trại, thì mọi giải pháp kinh tế xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô phải

nhằm trước hết vào các đối tượng đó, bảo hộ và khuyến khích kinh tế

nông hộ và nông trại phát triển Sự phát triển của kinh tế nông hộ và nông

trại sẽ lôi cuốn và đòi hỏi kinh tế liên kết và kinh tế nhà nước phát triển, sẽ lôi cuốn và thúc đẩy công nghiệp nông thôn và dịch vụ nông thôn mà trước hết phục vụ cho nông nghiệp hàng hóa tiến mạnh hơn nữa.

Trên thực tế kinh tế nông nghiệp nước ta đang hình thành cơ cấu 2 tầng đơn vị kinh doanh: tầng thứ nhất là tầng đơn vị kinh tế trực tiếp sản

xuất nông nghiệp trên đồng ruộng, đó là các hộ và hộ trang trại nông, lâm,

ngư nghiệp Tầng thứ hai là tầng dịch vụ cho kinh tế hộ ở đầu ra và đầu vào, đó là các loại hình HTX, các nông trường quốc doanh, các xí nghiệp dịch vụ của Nhà nước, các công ty cổ phần và các liên hiệp sản xuất trong nông nghiệp Các đơn vị trực tiếp sản xuất và các đơn vị dịch vụ đan xen vào nhau theo dây chuyền hợp tác sản xuất và gắn bó với nhau theo cơ chế

thị trường Rõ ràng kinh tế nông hộ và hộ trang trại là chủ thể cơ bản, chủ

thể gốc và là lực lượng chủ yếu trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hóa

1.1.2 Những đặc trưng chủ yếu của nền nông nghiệp hàng hóa

Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản phẩm được sản xuất ra không phải

để thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người sản xuất mà là để trao đổi trên thị trường thì được gọi là sản phẩm hàng hóa

Nền nông nghiệp hàng hóa là một bộ phận của nền kinh tế hàng hóa nói chung, sản xuất ra sản phẩm nhằm để trao đổi, là một hình thức tổ chức kinh tế - xã hội, trong đó các mối quan hệ kinh tế giữa người với người, giữa các chủ thể kinh tế với nhau được thực hiện thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm trên thị trường Quan hệ hàng hóa-tiền tệ và quan

hệ hạch toán kinh tế là những quan hệ kinh tế chủ yếu của loại hình này,

Trang 40

chịu sự chi phối bởi trình độ của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, thiết chế kinh tế - xã hội, phong tục tập quán, văn hóa v.v trong đó trực tiếp

và khách quan chịu sự tác động của các quy luật kinh tế vốn có của nó như quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ Nền nông nghiệp hàng hóa ra đời đối lập với nông nghiệp tự cung

tự cấp vốn là một loại hình sản xuất dựa trên cơ sở thủ công lạc hậu, kinh nghiệm cổ truyền, phân công lao động xã hội kém phát triển, năng suất lao động thấp, sản phẩm ít, chỉ tiêu dùng nội bộ cá nhân và gia đình, cộng đồng mà trước hết chủ yếu là nhu cầu của cá nhân người sản xuất

Nền nông nghiệp hàng hóa ra đời, nhờ môi trường cạnh tranh và hạch toán kinh tế, trên cơ sở của sự lựa chọn, đã kích thích khoa học kỹ thuật phát triển, hợp lý hóa sản xuất, thúc đẩy phân công lao động và quá trình xã hội hóa sản xuất ngày càng sâu rộng Nền nông nghiệp hàng hóa phát triển đã phá vỡ tính tự cung tự cấp của nông nghiệp tự nhiên, làm cho

sự hoạt động kinh tế trong nông thôn trở nên năng động hơn, phát triển mạnh mẽ hơn, tạo khả năng tích lũy và chuyển quá trình tái sản xuất giản đơn sang tái sản xuất mở rộng Vì vậy, trong lịch sử phát triển nói chung

và phát triển kinh tế nói riêng, sự ra đời và phát triển nền nông nghiệp hàng hóa được coi là một bước tiến bộ của lịch sử, một nấc thang phát triển của nền văn minh nhân loại, mà bất kỳ một dân tộc nào sớm muộn cũng phải trải qua

Xét theo tiêu thức phạm vi hoạt động thì nền kinh tế quốc dân mỗi nước bao gồm các bộ phận hợp thành là kinh tế thành thị và kinh tế nông thôn Trong điều kiện kinh tế hàng hóa, kinh tế nông thôn xét về thực chất

là kinh tế hàng hóa nông thôn Kinh tế hàng hóa nông thôn bao gồm toàn

bộ hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ diễn ra trên địa bàn nông thôn, trong đó hoạt động sản xuất nông sản hàng hóa được coi là hoạt động quan trọng nhất, đặc biệt là trong những nước đang phát triển như nước ta Vì vậy, sản xuất nông sản hàng hóa không chỉ là một tất yếu khách quan, mà

Ngày đăng: 15/10/2016, 20:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. GS.TS. Vũ Đình Bách. Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Nxb CTQG, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
[2]. Ban tư tưởng văn hóa TW Đảng cộng sản Việt Nam. Thông tin công tác tư tưởng, Hà Nội, 11-1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin công tác tư tưởng
[3]. Ban vật giá chính phủ. Chính sách giá cả một số mặt hàng nông sản chủ yếu, Hà Nội, 11-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách giá cả một số mặt hàng nông sản chủ yếu
[11]. PTS. Nguyễn Văn Bích - Ks. Chu Tiến Quang. Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Nxb CTQG, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
[12]. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Báo cáo tóm tắt về kinh tế trang trại, Hà Nội, 4-4-2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt về kinh tế trang trại
[13]. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Kế hoạch triển khai Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị, Hà Nội, 3-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch triển khai Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị
[14]. Bộ tư pháp. Chuyên đề về Bộ luật dân sự các nước CHXHCNVN, Hà Nội, 11-1995, mục 5, điều 20, tr. 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề về Bộ luật dân sự các nước CHXHCNVN
[15]. PTS. Nguyễn Sinh Cúc. Nửa thế kỷ nông nghiệp Việt Nam (1945- 1995). Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ nông nghiệp Việt Nam (1945-1995)
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
[16]. PTS. Nguyễn Sinh Cúc. Thời báo kinh tế Việt Nam, 1998-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời báo kinh tế Việt Nam
[17]. PTS. Nguyễn Sinh Cúc - PTS. Nguyễn Văn Tiêm. Đầu tư trong nông nghiệp, thực trạng và triển vọng. Nxb CTQG, Sựt hật, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trong nông nghiệp, thực trạng và triển vọng
Nhà XB: Nxb CTQG
[19]. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khóa VII). Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khóa VII)
Nhà XB: Nxb CTQG
[20]. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khóa VII). Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khóa VII)
Nhà XB: Nxb CTQG
[21]. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị lần thứ VIII. Nxb CTQT, Sự thật, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb CTQT
[22]. Đảng cộng sản. Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 (khóa VIII). Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 (khóa VIII)
Nhà XB: Nxb CTQG
[23]. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện hội nghị lần thứ 6 (lần 1) Ban chấp hành Trung ương khóa VIII. Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 6 (lần 1) Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Nhà XB: Nxb CTQG
[24]. Đảng cộng sản Việt Nam. Nghị quyết 06-NQ/TW. Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 06-NQ/TW
Nhà XB: Nxb CTQG
[25]. GS. Bùi Huy Đáp - GS. Nguyễn Điền. Nông nghiệp Việt Nam bước vào thế kỷ XXI. Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Việt Nam bước vào thế kỷ XXI
Nhà XB: Nxb CTQG
[26]. GS. Bùi Huy Đáp - GS. Nguyễn Điền. Nông nghiệp Việt Nam từ cội nguồn đến đổi mới. Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Việt Nam từ cội nguồn đến đổi mới
Nhà XB: Nxb CTQG
[27]. Frank Ellics. Kinh tế hộ gia đình nông dân và phát triển nông nghiệp. Nxb Nông nghiệp Trường Quản lỵnn và CNTP tại thành phố Hồ Chí Minh, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ gia đình nông dân và phát triển nông nghiệp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Trường Quản lỵnn và CNTP tại thành phố Hồ Chí Minh
[28]. GS.TS. Ngô Đình Giao (chủ biên). Công nghiệp chế biến thực phẩm ở Việt Nam, tập 1. Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp chế biến thực phẩm ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w