Để cho nền kinh tế phát triển, việc xác định cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế công nghiệp nói riêng là một vấn đề cực kỳ quan trọng, mà mọi quốc gia đều quan tâm, kể cả các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Ở Việt Nam, chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp được Nhà nước đặc biệt quan tâm và coi đó là nhiệm vụ trung tâm suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và là một trong những nội dung quan trọng của công nghiệp hóa, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để cho nền kinh tế phát triển, việc xác định cơ cấu kinh tế nói chung
và cơ cấu kinh tế công nghiệp nói riêng là một vấn đề cực kỳ quan trọng, màmọi quốc gia đều quan tâm, kể cả các quốc gia có nền kinh tế phát triển ỞViệt Nam, chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp được Nhà nước đặc biệtquan tâm và coi đó là nhiệm vụ trung tâm suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa
xã hội và là một trong những nội dung quan trọng của công nghiệp hóa, hiệnđại hoá nền kinh tế quốc dân
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp nhanh, đúng hướng sẽ là mộtquá trình chuyển đổi căn bản, từ sử dụng sức lao động thủ công là chủ yếusang sử dụng lao động bằng máy móc với công nghệ hiện đại, phương phápsản xuất tiên tiến, nhằm tạo ra năng suất lao động cao hơn hẳn với lao độngthủ công Nó cho phép khai thác mọi nguồn lực, tạo ra sự gắn bó giữa côngnghiệp với nông nghiệp và dịch vụ; đồng thời nâng cao khả năng hợp tác pháttriển với bên ngoài, thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướngtiến bộ, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng cao, bền vững, thực hiện dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và bảo vệ môi trường sinh thái.Ngược lại, nếu chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp chậm, không đúnghướng sẽ không phát huy được lợi thế so sánh từng vùng của địa phương, cảntrở quá trình phát triển của công nghiệp, nông nghiệp và các ngành kinh tế khác
Trong những năm đổi mới kinh tế vừa qua, nhìn tổng quát, cơ cấukinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế công nghiệp nói riêng đã có sự chuyểndịch đúng hướng quan trọng; tuy nhiên, vẫn còn có nhiều mặt yếu kém chưađáp ứng kịp với tình hình phát triển chung của khu vực
Trang 2Đồng Nai là một tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp Côngnghiệp Đồng Nai đã được hình thành từ trước khi thống nhất đất nước vàngày nay được xác định là một trọng điểm tứ giác phát triển kinh tế phía Nam
(TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tầu) Trongnhững năm đổi mới, cơ cấu kinh tế công nghiệp Đồng Nai tuy đã có sựchuyển dịch nhanh, theo hướng tích cực tiến bộ, song để khắc phục nhữngyếu kém do lịch sử để lại và phát huy vai trò một trọng điểm trong phát triểnkinh tế phía Nam, còn nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết Đó là: vấn đềvốn; công nghệ; lao động; thị trường; trình độ quản lý và vấn đề quy hoạchxây dựng các khu công nghiệp tập trung v.v Bảo đảm phát huy tối đa nguồnlực và lợi thế so sánh của địa phương, tranh thủ những thành tựu mới về khoahọc - công nghệ Do đó việc nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế côngnghiệp, tìm ra phương hướng giải pháp phát triển nhanh, đúng hướng là mộtvấn đề cấp bách có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Vì vậy tôi chọn đề tài:
"Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai" cho luận án khoa học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình ở trong nước và nước ngoài nghiên cứu vấn đềchuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp
nói riêng trong giai đoạn hiện nay Điển hình là: tác phẩm "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển một số ngành mũi nhọn ở Việt Nam" do PGS.TS Đỗ Hoài Nam chủ biên; "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân" do GS.TS Ngô Đình Giao chủ biên; "Công nghiệp hóa Việt Nam trong thời đại Châu Á - Thái Bình Dương" của GS.TS Trần Văn Thọ; "Quá trình phát triển công nghiệp ở Việt Nam - Triển vọng công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước" do GS.TS Phạm Xuân Nam chủ biên; "Một số vấn đề chiến lược công nghiệp hóa và lý
Trang 3thuyết phát triển" do TS Đỗ Đức Định chủ biên v.v Ngoài ra, còn nhiều bài
báo, tạp chí, luận án đề cập tới vấn đề công nghiệp hóa và xu hướng chuyểndịch cơ cấu kinh tế ở nước ta Những tác phẩm đó đã tiếp cận vấn đề trênphạm vi cả nước dưới nhiều góc độ khác nhau Còn đối với Đồng Nai thìchưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách có hệ thống sự chuyểndịch cơ cấu kinh tế công nghiệp của một tỉnh có nhiều tiềm năng thế mạnh vềphát triển công nghiệp Từ lý luận và thực tiễn, luận án tiếp thu, kế thừa lýluận chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp, những kinh nghiệm xây dựngcông nghiệp của một số nước và chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp củaViệt Nam, trên những mặt thành công và chưa thành công những năm trướcđây Trên cơ sở đó, luận án đi sâu nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế côngnghiệp ở Đồng Nai
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1 Mục đích
Trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận, thực tiễn về cơ cấu kinh tế
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp, từ đặc điểm, thực trạng, mâuthuẫn đặt ra và nguyên nhân của công nghiệp Đồng Nai, tác giả đã luận giải
sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp thời gian qua và chỉ
ra xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp của Đồng Nai trong thờigian tới, nhằm góp thêm căn cứ khoa học cho các cơ quan trong việc hoạchđịnh các chủ trương, chính sách đối với công nghiệp cả nước nó chung và ởĐồng Nai nói riêng, trong điều kiện kinh tế thị trường, trước xu thế mở cửa,đổi mới, hội nhập với kinh tế quốc tế và khu vực
Trang 4- Nghiên cứu những kinh nghiệm công nghiệp hóa của một số nước xãhội chủ nghĩa trước kia, một số nước Đông Á và Đông Nam Á trong việc hìnhthành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp, trên cơ sở đó vận dụng vàoviệc phát triển công nghiệp của Đồng Nai
- Phân tích những đặc điểm, thực trạng, những thành tựu đã đạt được
và những vấn đề mới nảy sinh của công nghiệp Đồng Nai trong những nămvừa qua Trên cơ sở đó rút ra những vấn đề có tính quy luật trong quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp, đồng thời chỉ rõ những hạn chếnguyên nhân làm cản trở quá trình phát triển kinh tế công nghiệp ở Đồng Nai
- Dự báo phương hướng, đề xuất những kiến nghị và giải pháp chủyếu để thúc đẩy nhanh có hiệu quả quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế côngnghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai, trên cơ sở khoahọc theo hướng tiến bộ, trong thập niên đầu của thế kỷ XXI
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1 Đối tượng
Đề tài nghiên cứu chủ yếu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệptrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai Bằng sự phân tíchcủa kinh tế chính trị, làm sáng tỏ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệpbiểu hiện trên các mặt: (cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu phành phần kinh tếtrong công nghiệp, cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp, cơ cấu lao động ).Trong mối quan hệ với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (TP Hồ Chí Minh,Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu), từ đó rút ra những vấn đề cótính quy luật của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp đến năm 2010 ởĐồng Nai
4.2 Phạm vi
Trang 5Luận án tập trung nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế côngnghiệp trên địa bàn Đồng Nai qua các thời kỳ, nhất là trong thời kỳ đổi mới từnăm 1986 - 2000) Trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét chung và những xuhướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp trong thập kỷ tới của Đồng Nai
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu của luận án
5.2 Phương pháp
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống: phươngpháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp trừu tượng hóakhoa học, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích thống kê,
so sánh Ngoài ra luận án còn sử dụng phương pháp điều tra tại thực địa, đểtìm ra số liệu sát hợp với đề tài Để giúp cho nghiên cứu, luận án đã sử dụnghai nguồn tài liệu chính, đó là:
- Tài liệu gốc bao gồm: nguồn Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê Đồng Nai; Nghị quyết của Đại hội tỉnh đảng bộ qua các thời kỳ; những báo
cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh, của các sở ban ngành trong tỉnh Đây là nhữngtài liệu có tính pháp lý và tin cậy, từ những tài liệu này để so sánh giữa cácthời kỳ, trên cơ sở đó tìm ra xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp
có tính quy luật ở Đồng Nai
Trang 6- Tài liệu tham khảo: Đó là những bài báo, tạp chí, những sách tham
khảo trong và ngoài nước, nhằm bổ sung, hoàn thiện cập nhật tư liệu và sốliệu cho luận án
6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Thông qua trình bày một cách có hệ thống lý luận về cơ cấu kinh tếcông nghiệp, luận án làm sáng tỏ thêm những nhân tố tác động đến xu hướngchuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp và đưa ra cơ chế thực hiện xu hướngchuyển dịch cơ cấu đó
- Trên cơ sở hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu, tácgiả luận án làm nổi bật sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế côngnghiệp trong thời gian qua Đồng thời chỉ ra những mâu thuẫn và nguyênnhân làm cản trở sự phát triển công nghiệp ở Đồng Nai
- Dự báo phương hướng và xu hướng chuyển dịch có tính quy luật của
cơ cấu kinh tế công nghiệp ở Đồng Nai trong thập niên tới ở một vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam, đề xuất những giải pháp có khả năng thực thi, nhằmđẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thực hiện chuyển dịch cơ cấukinh tế công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở ĐồngNai
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu thamkhảo, luận án gồm 3 chương, 11 tiết, 155 trang, 24 biểu mẫu và 1 sơ đồ quyhoạch khu công nghiệp của tỉnh Đồng Nai
Trang 71.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
* Khái niệm cơ cấu kinh tế
Phát triển kinh tế ổn định và bền vững luôn là mục tiêu của tất cả mọiquốc gia Muốn vậy phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó cần xác định
rõ mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng lãnh thổ và các thành phần kinh
tế trong nền kinh tế quốc dân Các mối quan hệ này phải được thể hiện cả vềmặt số lượng cũng như mặt chất lượng, sao cho phù hợp với điều kiện tựnhiên, kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi quốc gia và mỗi vùng kinh tế nhất định,trong những giai đoạn nhất định Như vậy, khái niệm cơ cấu kinh tế là mộtphạm trù kinh tế rất rộng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng vàthực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia Để tìmhiểu khái niệm cơ cấu kinh tế, trước hết ta hiểu thuật ngữ "cơ cấu"
Thuật ngữ "cơ cấu" hay "cấu trúc" có nguồn gốc ban đầu từ chữ latinh
"Structure" Ban đầu "cơ cấu" được sử dụng trong kiến trúc, trong sinh vậthọc dùng để chỉ cách tổ chức, điều chỉnh các tế bào động, thực vật Sau đókhái niệm "cơ cấu" được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, trong đó cócác ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân quốc dân [74] Cơ cấu còn đượckhái quát là sự sắp xếp và tổ chức các phần tử tạo thành một chỉnh thể, một hệthống phức hợp, xét về biểu thị những đặc tính lâu dài (cơ cấu của nền kinhtế; cơ cấu Nhà nước) Như vậy, cơ cấu được sử dụng khá phổ biến để chỉ cấu
Trang 8trúc của một đối tượng bao gồm các bộ phận hợp thành trong mối tương quan
tỷ lệ về lượng và những liên kết bên trong giữa các bộ phận đó
Từ khái niệm "cơ cấu" vận dụng vào đối tượng là nền kinh tế quốc dân,
ta có thuật ngữ "cơ cấu kinh tế " Hiện nay có nhiều định nghĩa về cơ cấu kinh tế
Định nghĩa 1: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ
chủ yếu cả về chất và lượng giữa các bộ phận hợp thành Những bộphận này gắn bó hữu cơ với nhau, tác động phụ thuộc lẫn nhau làmđiều kiện cho nhau cùng phát triển trong một thời gian và khônggian nhất định [33]
Định nghĩa 2: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ về chất lượng và số lượng, tương đối ổn định của các bộ phận kinh tế
trong điều kiện thời gian và không gian nhất định nhằm đạt hiệuquả kinh tế cao [53]
Định nghĩa 3: Cơ cấu kinh tế là tổng thể hệ thống kinh tế
bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qualại lẫn nhau trong những không gian và thời gian nhất định, trongnhững điều kiện kinh tế - xã hội nhất định; nó được thể hiện cả vềmặt định tính và định lượng, cả về mặt số lượng và chất lượng, phùhợp với mục tiêu được xác định của nển kinh tế [78]
Định nghĩa trên không có gì khác nhau đáng kể, chúng đều có một điểmchung là: cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành theo những tỷ lệ vềchất lượng và số lượng tương đối ổn định trong điều kiện thời gian và khônggian nhất định nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao Song các định nghĩa đócòn hết sức chung chưa chỉ rõ các bộ phận hợp thành đó là gì và trên các cáccấp độ khác nhau như thế nào Để cụ thể hóa hơn nữa chúng tôi cho rằng:
Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân, là một thế trận kinh tế thể hiện mối quan hệ nội tại giữa các ngành, các lĩnh vực, các vùng lãnh thổ,
Trang 9các thành phần kinh tế sao cho các nguồn lực sản xuất kết hợp chặt chẽ, hợp
lý với nhau vừa đảm bảo yêu cầu trước mắt vừa tạo thế cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định, bền vững
Như vậy, các bộ phận hợp thành cơ cấu kinh tế có thể được xem xétdưới góc độ khác nhau sao cho hợp lý, do đó hình thành nên những thế trậnkinh tế khác nhau tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hội cao Đại hội lần thứ IX củaĐảng xác định: "Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hoá là nhiệm vụtrung tâm" [26] Mặt khác,
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải đảm bảo xâydựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập về đường lối,chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh: có mức tích lũyngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế; có cơ cấu kinh tế hợp lý, cósức cạnh tranh; kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và có một sốngành công nghiệp nặng then chốt; có năng lực nội sinh về khoahọc công nghệ; giữ vững ổn định kinh tế - tài chính vĩ mô; đảm bảo
an ninh lương thực, an toàn năng lượng, tài chính, môi trường [26]
Cơ cấu kinh tế không chỉ là một thế trận kinh tế đảm bảo kết hợp chặtchẽ ba yếu tố cơ bản của sản xuất là sức lao động, đối tượng lao động và tưliệu lao động (nếu không chỉ là những yếu tố tiềm thế của sản xuất như Mácnói), nhằm khai thác tiềm năng của sản xuất mà còn phản ánh sự phân chia tỷ
lệ về lượng mà còn biểu hiện khác nhau về chất của một nền kinh tế Một nềnkinh tế trong đó công nghiệp chiếm tỷ trọng cao hơn nông nghiệp, dịch vụ caohơn công nghiệp và nông nghiệp cộng lại thường là nền kinh tế có năng suất
và thu nhập bình quân đầu người cao hơn một nền kinh tế có tỷ trọng côngnghiệp thấp hơn Mức độ liên kết kinh tế giữa các bộ phận cũng là một tiêuchuẩn đánh giá trình độ phát triển của một nền kinh tế Trong nền kinh tế tựcung tự cấp mối liên hệ kinh tế theo ngành và vùng yếu hơn so với nền kinh tếthị trường [75] Cơ cấu kinh tế được xem xét trên các mặt sau:
Trang 10Cơ cấu kinh tế theo ngành, lĩnh vực cho biết tỷ trọng của từng ngành,lĩnh vực tham gia vào cơ cấu kinh tế và mối quan hệ liên ngành giữa chúng lànhững thông tin kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng Số lượng các ngành chuyênmôn hóa và tỷ trọng của chúng trong cơ cấu kinh tế, hàm lượng công nghệcao cùng những mối quan hệ liên ngành của chúng là những tiêu chuẩn quantrọng đánh giá trình độ phát triển của một nền kinh tế Còn lĩnh vực là: lĩnh vựcnông nghiệp bao gồm các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản Lĩnh vực côngnghiệp bao gồm các ngành khai thác mỏ, ngành chế biến, điện, ga, nước vàngành xây dựng Lĩnh vực dịch vụ bao gồn các ngành như thương mại, giaothông vận tải, bưu điện, khách sạn nhà hàng, tài chính, tín dụng, y tế, giáo dục
và bảo hiểm
Cơ cấu vùng kinh tế: Sự phân công lao động xã hội theo ngành diễn
ra trên những vùng lãnh thổ nhất định Mỗi vùng là một bộ phận hợp thànhcủa nền kinh tế, nhằm bố trí các ngành sản xuất trên các vùng lãnh thổ saocho thích hợp để khai thác tiềm năng, thế mạnh của mỗi vùng, đồng thời làmcho các vùng hỗ trợ bổ sung cho nhau theo nhu cầu của thị trường Mối liênkết kinh tế giữa các vùng cũng thể hiện trình độ phát triển của nền kinh tếtrong một quốc gia
Cơ cấu thành phần kinh tế: Được xác định vị trí, vai trò của từng
thành phần kinh tế để đề ra chính sách phù hợp với chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội trong từng giai đoạn cụ thể, nhằm giải phóng và huy động mọi lựclượng sản xuất vào việc phát triển kinh tế
Cơ cấu kinh tế - tổ chức cũng là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và nâng cao hiệu quả kinh tế, nếu có một cơ cấu kinh tế thích hợp sẽ làm chochế độ sở hữu được thực hiện về kinh tế, làm cho lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất gắn bó, tác động qua lại với nhau, thúc đẩy kinh tế phát triển vàngược lại, tùy theo trình độ của lực lượng sản xuất và theo yêu cầu hiệu quả
Trang 11kinh tế mà các đơn vị có những hình thức tổ chức khác nhau Đây là bài họcquý báu về hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế - tổ chức hợp lý.
Sau đây là những đặc trưng cơ bản của cơ cấu kinh tế
Thứ nhất: Cơ cấu kinh tế được cấu thành bởi các bộ phận có mối quan
hệ hữu cơ với nhau và được xem xét trên hai mặt: mặt kinh tế kỹ thuật và mặtkinh tế - xã hội
Thứ hai: Các bộ phận trong cơ cấu kinh tế phải có quan hệ hữu cơ, tác
động qua lại làm tiền đề và hỗ trợ cho nhau phát triển như một quá trình tiếnhóa tự nhiên Ngược lại, nếu các bộ phận ấy sắp xếp không đồng bộ, thì chẳngkhác nào như ốc vít và bù loong không ăn khớp với nhau thậm chí còn triệttiêu nhau, kìm hãm sự phát triển kinh tế
Thứ ba: Cơ cấu kinh tế mang tính chất khách quan Một cơ cấu kinh tếhợp lý được hình thành, phát triển phù hợp với các quy luật, vận động kháchquan của nền kinh tế Con người thông qua quy luật khách quan tìm raphương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả nhất Ngoài ra, cơ cấu kinh
tế còn được hình thành được dựa trên các lợi thế so sánh để tạo ra sự chuyểnbiến tích cực, chủ động, nhanh chóng, hiệu quả cho nền kinh tế Chính đặctrưng này bác bỏ thái độ chủ quan, duy ý chí khi tiến hành chuyển dịch cơ cấukinh tế Nếu không con người sẽ phải trả giá cho sự thiếu hiểu biết đó
Thứ tư: Cơ cấu kinh tế luôn đảm bảo mối quan hệ cân đối và đồng bộ
giữa các bộ phận kinh tế nằm trong một tổng thể bao gồm hệ thống lớn, hệthống vừa, hệ thống nhỏ gắn bó chặt chẽ với nhau Song cơ cấu kinh tế không
cố định mà luôn trong trạng thái vận động và chuyển dịch theo một xu hướngnhất định, cùng với sự biến đổi của các điều kiện kinh tế - xã hội và sự tiến bộcủa khoa học - công nghệ Mặt khác, cơ cấu kinh tế cũng phải tương đối ổnđịnh, không thể thường xuyên bị phá vỡ Nếu các quan hệ tỷ lệ giữa các bộphận thường xuyên bị phá vỡ sẽ tạo nên tình hình lực lượng sản xuất bị kìmhãm, quan hệ sản xuất không được củng cố
Trang 12Thứ năm: Cơ cấu kinh tế có nhiều bộ phận kinh tế khác nhau và có sự
ưu tiên khác nhau, đầu tư khác nhau, cả về vốn, công nghệ và chính sách Sựtồn tại của bộ phận kinh tế then chốt, mũi nhọn là xuất phát từ nguyên tắc củalợi thế so sánh với bộ phận kinh tế khác để đạt hiệu quả kinh tế cao Việcphân tán vốn đầu tư ra các bộ phận kinh tế là không đạt hiệu quả kinh tế Mặtkhác tập trung quá mức vốn đầu tư cho một bộ phận kinh tế gây nên tìnhtrạng mất cân đối của cơ cấu kinh tế
Thứ sáu: Đó là một cơ cấu kinh tế mở, khi xác định cơ cấu kinh tế của
một nước không thể không xem xét trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài
Sự phân công lao động và hợp tác quốc tế, sự thâm nhập về kinh tế giữa cácnước với nhau nói lên tính đa dạng và tính quốc tế của cơ cấu kinh tế Nếuxây dựng một cơ cấu kinh tế khép kín, đóng cửa sẽ không tránh khỏi, lạc điệu,lạc lõng lạc hậu Phải là một cơ cấu kinh tế mở, tham gia vào sự phân cônglao động hợp tác quốc tế; vừa hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, vừabảo vệ được độc lập tự chủ
Thứ bảy: Cơ cấu kinh tế còn phải thể hiện được những mối quan hệ
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa các vùng lãnh thổ, giữa cácthành phần kinh tế và giữa các ngành kinh tế Các quan hệ đó thể hiện nội lựccủa một nền kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về lượng cũng như vềchất Cơ cấu kinh tế hợp lý phải nhằm đạt được những yêu cầu sau:
- Sử dụng tốt hơn lợi thế quốc gia, ngành, vùng
- Khai thác tối đa các tiềm năng
- Góp phần vào việc phát triển và ổn định nền kinh tế - xã hội
- Kết hợp kinh tế trong nước, trong vùng với bên ngoài
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm cho kinh tế tăng trưởng và tạo ranhiều việc làm mới [43]
Trang 13Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình thay đổi cấu trúc nội bộ
ngành, quy mô, vị trí và mối quan hệ giữa chúng Quá trình đó phát triển từgiản đơn đến phức tạp, theo từng nấc thang phát triển của lực lượng sản xuất
và phân công lao động xã hội Do đó không thể một sớm một chiều xây dựngxong một cơ cấu kinh tế hợp lý, mà đó là một quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp, từ hiệu quả kinh tế thấpsang hiệu quả kinh tế cao theo những yêu cầu khách quan của sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh haychậm còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố con người có ý nghĩaquyết định Bởi vì con người là chủ thể định ra các giải pháp, cơ chế chínhsách và cơ chế quản lý thích ứng, để định hướng cho quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế đúng hướng Do đó cần khắc phục mọi sự nóng vội hoặc bảo thủtrì trệ, mà phải trên cơ sở nhận thức, nắm bắt các quy luật vận động kháchquan, để tác động theo đúng mục tiêu đã được hoạch định [55]
Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình thay đổi và tích
lũy về lượng đến một mức độ nhất định dẫn đến thay đổi về chất, làm cho cơ cấu kinh tế cũ chuyển thành cơ cấu kinh tế mới
1.1.2 Khái niệm cơ cấu kinh tế công nghiệp
Cơ cấu kinh tế công nghiệp là một phạm trù kinh tế bao gồm cácngành công nghiệp Các ngành công nghiệp hợp thành hệ thống công nghiệpđược phân loại theo nhiều phương pháp khác nhau: Có thể phân loại thànhcác ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất (CNA) và các ngành côngnghiệp sản xuất tư liệu tiêu dùng (CNB); hoặc phân loại thành nhóm cácngành công nghiệp như: công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp chếbiến Trong cơ cấu ngành lại được hình thành các phân ngành theo chuyênmôn hóa, chẳng hạn như ngành khai khoáng, ngành luyện kim màu, ngànhluyện kim đen, ngành công nghiệp dệt và ngành công nghiệp chế biến thựcphẩm Mặt khác căn cứ vào tính chất giống nhau hoặc về công dụng cụ thể
Trang 14của sản phẩm sản xuất ra, hoặc về phương pháp công nghệ và thiết bị máymóc, hoặc nguyên liệu chế biến, công nghiệp được phân thành các ngànhchuyên môn (rộng và hẹp) [80]
Ngành chuyên môn rộng là ngành công nghiệp mang tầm bao quátrộng cung cấp sản phẩm cho ngành chuyên môn hóa hẹp như: điện năng, côngnghiệp nguyên liệu, công nghiệp hóa chất
Ngành chuyên môn hóa hẹp là do sự phát triển của phân công laođộng xã hội, từ những ngành chuyên môn hóa rộng hình thành và phát triểnnhiều ngành công nghiệp chuyên môn hóa hẹp hơn, như cơ khí nông nghiệp,
cơ khí giao thông vận tải, cơ khí dệt, cơ khí chính xác Số lượng, trình độ vàtính chất phát triển của các ngành công nghiệp chuyên môn hóa hẹp phản ánhtrình độ, tính chất phát triển của nền kinh tế nói chung, công nghiệp nói riêngcủa mỗi nước
Như vậy: Cơ cấu kinh tế công nghiệp là một tổng thể các mối quan hệ kinh tế, các bộ phận kinh tế trong khu vực công nghiệp, có mối quan hệ hữu
cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và mặt chất là một thế trận kinh tế thể hiện mối quan hệ nội tại giữa các ngành chuyên môn hóa được bố trí hợp lý về không gian và thời gian, phát huy được lợi thế so sánh tạo ra thế và lực cho nền kinh tế quốc dân tăng trưởng và phát triển ổn định, bền vững
Cơ cấu kinh tế công nghiệp thường được xem xét trên các mặt chủ yếusau:
Một là: Cơ cấu ngành kinh tế - kỹ thuật là sự sắp xếp và tổ chức các
bộ phận hợp thành của ngành kinh tế kỹ thuật theo những quan hệ tỷ lệ nhấtđịnh Hiện nay, có nhiều cách phân loại thông thường chia ra: các ngành có
kỹ thuật cao như kỹ thuật điện tử, sinh học, vật liệu xây dựng mới, năng
Trang 15lượng mới, thông tin quang học; các ngành truyền thống như chế tạo máy,luyện kim đen, luyện kim màu, dệt
Hai là: Cơ cấu thành phần kinh tế, phản ánh sự tham gia vào quá trình
sản xuất kinh doanh, của các thành phần kinh tế Việc xác định cơ cấu cácthành phần kinh tế một cách hợp lý, cho phép phối hợp các yếu tố của quátrình sản xuất (lao động, đất đai, cơ sở vật chất - kỹ thuật ) một cách tốt nhấtnhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao
Ba là: Cơ cấu công nghệ là tổng thể các mối quan hệ giữa các bộ phận
hợp thành gắn với vị trí, trình độ kỹ thuật công nghệ, quy mô, tỷ trọng tươngứng với từng bộ phận và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận gắn với điềukiện, không gian và thời gian trong từng giai đoạn phát triển nhất định nhằm đạtđược mục tiêu kinh tế đã được hoạch định Công nghệ là điều kiện cơ bản chochuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp được hiểu rộng hơn nhiều so vớicách hiểu trước kia Công nghệ không chỉ là phương tiện, thiết bị do conngười sáng tạo ra mà còn là các bí quyết, biến các nguồn lực sẵn có thành sảnphẩm [7]
Bốn là: Cơ cấu vùng lãnh thổ là sự xác định cơ cấu kinh tế công
nghiệp trên vùng lãnh thổ của đất nước và xây dựng những căn cứ để xác địnhđịa điểm các doanh nghiệp công nghiệp cho phù hợp, sử dụng có hiệu quả tàinguyên thiên nhiên và nhân lực của từng vùng lãnh thổ Chuyển dịch cơ cấukinh tế vùng lãnh thổ phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội củavùng đó, từ vùng kinh tế mang nặng tính tự cung tự cấp, sang vùng kinh tếsản xuất hàng hóa, hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái Chuyểndịch cơ cấu kinh tế vùng theo hướng ngày càng đi sâu chuyên môn hóa và tậptrung hóa, hình thành những vùng kinh tế trọng điểm, những khu công nghiệptập trung có kỹ thuật tiên tiến để sản xuất hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao,khai thác một cách đầy đủ mọi tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn và sức
Trang 16lao động của vùng Mặt khác cần kết hợp chặt chẽ việc phát triển kinh tế vùngvới củng cố quốc phòng - an ninh.
Năm là: Cơ cấu tái sản xuất công nghiệp là quá trình tái sản xuất ra
một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội, tức là quá trình tạo ra sản phẩm côngnghiệp cho xã hội bao gồm: tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, trong đó tưliệu sản xuất trước hết là công cụ lao động giữ vai trò chủ đạo Cơ cấu tái sảnxuất là điều kiện tồn tại và phát triển của mọi hình thái xã hội Nó được thểhiện trên ba mặt sau:
- Tái sản xuất của cải vật chất là điều kiện tiên quyết nhất
- Tái sản xuất lực lượng lao động được biểu hiện không ngừng tănglên về số lượng, chất lượng lao động
- Tái sản xuất quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được thể hiện trên bamối quan hệ cơ bản: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất; quan hệ về tổ chứcquản lý; quan hệ về phân phối sản phẩm) Mặt khác, cơ cấu tái sản xuất côngnghiệp phải thực hiện tốt trong bốn khâu (sản xuất - phân phối - trao đổi vàtiêu dùng), đảm bảo cân đối giữa sản xuất và tiêu thụ, giữa đầu vào và đầu ra
Từ những vấn đề cơ bản của cơ cấu kinh tế công nghiệp nói trên, cơ cấu kinh
tế công nghiệp có đặc trưng cơ bản sau:
Đặc trưng cơ bản cơ cấu kinh tế công nghiệp.
Ngoài những đặc trưng của cơ cấu kinh tế nói chung (trang 15, 16 củaluận án), cơ cấu kinh tế công nghiệp còn có những điểm riêng như sau:
- Cơ cấu kinh tế công nghiệp có mối liên hệ giữa các ngành côngnghiệp chuyên môn hóa hợp thành, ngày càng tinh vi, phức tạp và chặt chẽ,bởi chuyên môn hoá ngày càng cao, phân công lao động ngày càng sâu Sảnphẩm đầu ra của ngành này là đầu vào của ngành khác Trong điều kiện kinh
tế thị trường, mối quan hệ cân đối đó phải được thông qua quan hệ kinh tế
Trang 17"mở", xuất để nhập, nhằm thực hiện cân đối trong sự phát triển Tính đa dạngphong phú và tính quốc tế của cơ cấu kinh tế thể hiện rõ nét, nổi bật ở cơ cấukinh tế công nghiệp
- Cơ cấu kinh tế công nghiệp ở trong trạng thái vận động và biến đổimạnh và nhanh hơn nhiều so với các ngành khác, nhất là cơ cấu kinh tế nôngnghiệp Trong giai đoạn cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ,giai đoạn bùng nổ thông tin và nhất là công nghệ cao, việc xuất hiện cácngành công nghiệp mới mũi nhọn đã làm dịch chuyển mạnh cơ cấu kinh tế,tạo ra sự phát triển nhảy vọt trong lực lượng sản xuất và thay đổi cách tổ chứcquản lý
- Cơ cấu kinh tế công nghiệp có quan hệ hữu cơ với các ngành khác
và giữ vị trí quan trọng, góp phần định hướng cho việc phát triển nền kinh tếquốc dân Vì vậy cơ cấu kinh tế công nghiệp là một nội dung quan trọng củachiến lược phát triển kinh tế - xã hội Cơ cấu kinh tế công nghiệp hợp lý sẽtận dụng và phát huy được các nguồn lực của đất nước, đáp ứng tốt mọi nhucầu với chi phí ít nhất là phương tiện quan trọng để thực hiện có hiệu quả cácmục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Nếu bố trí cơ cấu kinh tế công nghiệp sai,không tuân thủ yêu cầu quy luật khách quan thì sẽ không có cơ sở để giảiquyết các vấn đề trọng yếu để phát triển kinh tế - xã hội
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế công nghiệpnói riêng, đều tuân thủ những xu hướng chung Song không có nghĩa là giốngnhau đối với mọi vùng kinh tế, mà nó còn chịu sự tác động của các điều kiện
tự nhiên và kinh tế - xã hội Các nhân tố đó gắn bó với nhau tạo thành một hệthống, chúng có thể thúc đẩy quá trình đó theo hướng tích cực hoặc tiêu cực
Vì vậy khi xác định cơ cấu kinh tế công nghiệp cần phân tích các nhóm nhân
tố ảnh hưởng tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đó [80]
Trang 18Một là: Nhóm nhân tố tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, địa hình tài
nguyên thiên nhiên khoáng sản, nước, rừng, hệ sinh thái Nhóm này có ýnghĩa quan trọng trong việc hình thành chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp
Tài nguyên thiên nhiên là những yếu tố của tự nhiên mà con người có
thể sử dụng, khai thác và chế biến để tạo ra sản phẩm vật chất Nó là yếu tốrất quan trọng quyết định đến cơ cấu sản xuất, mức độ chuyên môn hóa và sựphân bố lực lượng sản xuất
Tài nguyên khoáng sản, nguồn nước và tài nguyên động thực vật đãảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển cơ cấu ngành công nghiệp Bởi vì
theo C Mác: "Bất cứ nền sản xuất xã hội nào cũng là việc con người chiếm
hữu lấy những đối tượng của tự nhiên trong phạm vi một hình thái xã hội nhấtđịnh và thông qua hình thái đó" [46] Với trình độ phát triển cao của lựclượng sản xuất, con người tăng quyền lực của mình với tự nhiên, nhưngkhông thể tách rời điều kiện tự nhiên Nguồn tài nguyên thiên nhiên phongphú, dồi dào được đưa vào khai thác, sử dụng có hiệu quả sẽ tác động mạnh
mẽ và trực tiếp đến cơ cấu kinh tế công nghiệp và sự phát triển của nó Mặtkhác tiến bộ khoa học - kỹ thuật vừa cho phép phát huy những thuận lợi củatài nguyên thiên nhiên vừa khắc phục những hạn chế của điều kiện tài nguyênthiên nhiên ảnh hưởng tới cơ cấu công nghiệp
Xu hướng đặc trưng của nó là tiết kiệm đến mức tối đa tất cả cácnguồn của cải (tài nguyên thiên nhiên, môi trường, sức lực con người, trítuệ ), đề cao chất lượng, hiệu quả và tôn trọng nhân cách sáng tạo của conngười [86] Có thể sản xuất vật liệu nhân tạo, tổng hợp thay thế vật liệu tựnhiên, nhờ vậy đã làm phong phú các mặt hàng công nghiệp, tạo điều kiệncho công nghiệp phát triển nhanh, bền vững Song trong quá trình hình thành
cơ cấu sản xuất công nghiệp, con người phải biết tôn trọng quy luật phát triển
tự nhiên, đồng thời phải tái tạo và làm phong phú môi trường tự nhiên Đốivới những tài nguyên không có khả năng tái sinh thì cần có kế hoạch khai
Trang 19thác đảm bảo phát triển kinh tế công nghiệp trước mắt và lâu dài Đối vớinhững tài nguyên có khả năng tái sinh thông qua lao động của con người thìcần có kế hoạch kết hợp giữa khai thác, bảo vệ và phát triển Đối với nhữngtài nguyên tái sinh vô hạn trong thiên nhiên như các nguồn năng lượng mặttrời, sức gió, thủy triều, cần có phương pháp nghiên cứu đưa vào sử dụng
Ngoài ra, chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp chịu sự tác động rấtlớnvào vị trí địa lý, khí hậu, tự nhiên, thời tiết Vì nhóm này có tác động lớntới việc hình thành các ngành công nghiệp, đặc biệt là những ngành côngnghiệp chế biến vì nhóm này phụ thuộc vào nguyên liệu của những vùngchuyên canh Mặt khác vị trí địa lý còn tạo điều kiện thuận lợi về cảng sông,cảng biển, đường giao thông có điều kiện mở rộng giao lưu hàng hóa với cácvùng xung quanh và quốc tế
Hai là: Nhóm nhân tố kinh tế - kỹ thuật
Nhân tố vốn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, đặc biệt là chuyển
dịch cơ cấu công nghiệp, đòi hỏi một nguồn vốn rất lớn Có hai nguồn vốn cơbản, đó là vốn trong nước và vốn nước ngoài Tích tụ và tập trung vốn trongnước là nhân tố quyết định thành công của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế côngnghiệp: Nó như chìa khóa để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nềnkinh tế quốc dân Vốn có tầm quan trọng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tếcông nghiệp như máu trong cơ thể con người, do đó cần phải đẩy mạnh quátrình tích tụ và tập trung vốn, đặc biệt là vốn trong nước [38] Vốn nước ngoài
là rất quan trọng nhất là trong thời kỳ đầu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếcông nghiệp, có hai loại:
Thứ nhất: Vốn đầu tư gián tiếp (ODA) là các khoản viện trợ, cho vay
ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức của liên hiệp quốc, các tổ chức phichính phủ v.v Nguồn vốn này thường được tập trung vào ngân sách chính
Trang 20phủ dùng để đầu tư hoặc cho vay, các khoản viện trợ thường dưới dạng máymóc, thiết bị, công trình, chuyên gia
Thứ hai: Vốn đầu tư trực tiếp (FDI) là những khoản đầu tư do các
hãng nước ngoài trực tiếp đầu tư vào sản xuất kinh doanh Họ trực tiếp quản
lý sản xuất kinh doanh, trực tiếp chịu lỗ, lãi FDI không vay nên không lo trả
nợ Đó là nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng giúp quá trình chuyển giao côngnghệ, đào tạo kỹ thuật, tìm thị trường tiêu thụ hàng hóa, chuyển dịch cơ cấukinh tế nói chung và cơ cấu công nghiệp nói riêng theo hướng sản xuất hànghóa, cơ khí hóa, hiện đại hoá, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế và
có sản phẩm cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Để xây dựng được những cơ sở công nghiệp hiện đại, kỹ thuật côngnghệ cao, tạo ra nhiều mặt hàng chủ lực có sức cạnh tranh mạnh, tạo sức bậtcho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá hoá đất nước, thì nhất thiết phảicần đến nguồn vốn đầu tư lớn Kinh nghiệm nhiều nước công nghiệp đã cho
ta bài học đó, nhưng sẽ không đầy đủ nếu không nhấn mạnh đến hiệu quả sửdụng vốn, hiệu quả đầu tư và cơ chế quản lý vốn tốt [41], thì cũng như "tiềnvào nhà khó như gió vào nhà trống" mà thôi
Nhân tố thị trường: Thị trường vừa là mục tiêu vừa là động lực của
sản xuất nói chung và của chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp nói riêng.Cần xuất phát từ nhu cầu thị trường để xác định cơ cấu mặt hàng, cơ cấungành thích hợp, bảo đảm sự gắn bó giữa sản xuất và thị trường để nâng caohiệu quả của sản xuất kinh doanh Ví dụ: Do nhu cầu đòi hỏi phát triển củalực luợng sản xuất trong nông nghiệp, nên đã tạo ra thị trường trong nước rấtlớn cho công nghiệp Công nghiệp phải phát triển những ngành, những mặthàng theo quy mô thích hợp với trình độ của sản xuất trong xã hội, hợp với thịhiếu và sức mua của người dân Chẳng hạn, phát triển máy cơ khí nhỏ trang bịcho gia đình, phát triển mạng lưới công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy, hảisản kết hợp sơ chế, với tinh chế sản xuất hàng tiêu dùng trao đổi với nông
Trang 21dân, phát triển gia công xuất khẩu, tận dụng lao động thừa ở nông thôn Nếu
áp dụng một cách máy móc, hình thức, chủ quan duy ý chí bất chấp nhu cầucủa thị trường trong bố trí cơ cấu công nghiệp sẽ gây ra tác hại to lớn và lâudài cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp và nền kinh tế Thị trường cótác động rất lớn đến việc hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế công nghiệp.Thông qua quan hệ cung cầu trên thị trường mà trong đó giá cả là tín hiệuthúc đẩy hoặc ngăn cản chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp Vì vậy việctạo ra thị trường, mở rộng thị trường là điều kiện để thúc đẩy chuyển dịch cơcấu kinh tế công nghiệp phát triển mạnh mẽ [77]
Nhóm khoa học - kỹ thuật và công nghệ: Khoa học và công nghệ được xác định là động lực trực tiếp của chuyển dịch cơ cấu kinh tế công
nghiệp Nó có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành và biến đổi của cơ cấukinh tế C Mác đã chỉ rõ: "Do tổ chức quá trình lao động và phát triển kỹthuật một cách mạnh mẽ làm đảo lộn toàn bộ cơ cấu kinh tế xã hội" [45].Ngày nay, "cục diện thế giới đang trải qua những biến đổi nhanh chóng và sâusắc Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệhiện đại, đặc biệt là cách mạng thông tin, đang tạo ra sự biến đổi về chất chưatừng có trong lực lượng sản xuất, đưa nhân loại từng bước quá độ sang mộttrình độ văn minh mới - văn minh trí tuệ [61]
Tiến bộ khoa học - kỹ thuật đã làm thay đổi các ngành kinh tế - kỹthuật, trong ngành công nghiệp đang diễn ra xu hướng sau một số ngành côngnghiệp mới đại diện cho kỹ thuật mới có tốc độ phát triển cao kích thích sựphát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân và thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật.Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, làm cho kiến thức của nhiềungành khoa học như: vật lý, hóa học, sinh học, vật liệu mới như lực lượng
đi tiên phong trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp
Khoa học - kỹ thuật đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế nói chung và cơcấu kinh tế công nghiệp nói riêng Hiện nay đang có xu hướng chú trọng phát
Trang 22triển các ngành nghề có kỹ thuật công nghệ cao, sử dụng ít lao động và đi vào
tự động hóa như: điện tử - bán dẫn, máy tính, viễn thông Các công nghệ caotạo ra các sản phẩm mới, đặc biệt là sản phẩm phục vụ tinh thần và các sảnphẩm hoàn toàn mới được hình thành từ các ngành kinh tế mũi nhọn như:Công nghệ thông tin là nhân lõi của cách mạng khoa học và công nghệ hiệnđại, nó đã làm biến đổi về chất của sản xuất, trong đó hàm lượng trí tuệ làthành phần chủ yếu trong sản phẩm Công nghệ thông tin được bao gồm từphần cứng như chế tạo các mạch vi điện tử, các máy vi tính, máy siêu tính,mạng máy tính, các dây chuyền sản xuất tự động hóa
Công nghệ sinh học là bước đột phá vào thế giới đầy bí hiểm của sựsống, đã tạo ra khả năng vô hạn cho việc sản xuất các sản phẩm phục vụ nhucầu con người từ lương thực, thực phẩm đến thuốc chữa bệnh và các vật liệucho công nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người Cùngvới công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và các công nghệ quan trọngkhác như: công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới, công nghệhàng không - vũ trụ đã định dạng thế giới hiện đại Nhờ có khoa học - côngnghệ phát triển cơ cấu kinh tế, cơ cấu công nghệ và cơ cấu công nghiệp thếgiới đã có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ, làm cho sự tăng trưởng kinh tếthế giới đạt tới mức chưa từng có
Tiến bộ của khoa học - kỹ thuật một mặt tạo ra những nhu cầu mới,mặt khác tạo ra khả năng mới để hình thành phát triển cơ cấu kinh tế côngnghiệp và thúc đẩy cơ cấu nhu cầu, hình thành những ngành sản xuất mới tạo
ra khả năng đáp ứng nhu cầu mới Khoa học kỹ thuật phát triển càng cao thìmối liên hệ giữa các ngành công nghiệp chuyên môn hóa ngày càng sâu sắc,phức tạp có nhiều ngành hình thành và phát triển Cuộc cách mạng khoa họccông nghệ có khả năng tạo ra sự thay đổi "cấu trúc sản xuất" của thế giới tương
lai, trong đó thế giới đang chuyển sang "xã hội liên kết kiểu nối mạng" [29].
Ở nước ta, đây là thời cơ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp, cần tận
Trang 23dụng những thành quả của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đạinhất mà không tốn nhiều chi phí để tự phát triển Do đó, tác động của khoahọc công nghệ sẽ làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp theo hướnghiện đại và hiệu quả cao.
Hiện nay loài người đang bước vào nền kinh tế tri thức và tri thứcngày càng trở thành yếu tố quan trọng hơn cả vốn và lao động Cơ cấu kinh tếtri thức sẽ tác động mạnh mẽ đến thay đổi cơ cấu kinh tế công nghiệp như: tỷ
lệ giá trị gia tăng trong công nghiệp tăng lên cao nhanh chóng; sản xuất côngnghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất và các khu công nghiệp pháttriển mạnh; công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực dịch
vụ, v.v
Ba là: Nhóm chính trị - xã hội
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp là một quá trình diễn ra trongnhững hoàn cảnh cụ thể và chịu sự tác động của môi trường chính trị - xã hộinhất định Được biểu hiện qua các thể chế nhà nước, các chính sách dân số,lao động, tập quán xã hội, văn hóa bất thành văn và con người tác động đến
xu hướng, bước đi và tính chất của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nóichung và cơ cấu kinh tế công nghiệp nói riêng
Nhân tố con người: Các quy luật kinh tế chỉ hoạt động và phát sinh tác
dụng thông qua sự hoạt động của con người và ngược lại sự hoạt động củacon người phải tuân thủ yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan Chính vìvậy, con người có vai trò quyết định trong việc hình thành và chuyển dịch cơ cấukinh tế công nghiệp Con người đó phải được chuẩn bị tốt về kiến thức vănhóa, được đào tạo thành thạo về kỹ năng nghề nghiệp, về năng lực sản xuấtkinh doanh và về đạo đức phẩm chất cách mạng trong điều kiện kinh tế thịtrường Trình độ văn hóa của một dân tộc là một nhân tố cơ bản để tạo ra cácyếu tố về chất lượng của lao động kỹ thuật và công nghệ, trình độ quản lýv.v do đó, có tác động mạnh mẽ đến cơ cấu kinh tế công nghiệp
Trang 24Để có nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóaphải coi việc giáo dục, đào tạo là một trong những hướng chính của đầu tư pháttriển Trong tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Trung ương hai (khóa VIII) khi đềcập tới sự tiến bộ của giáo dục đã đề cập tới văn bản mà UNESCO khẳng định:
Không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi
sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó Vànhững quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khảnăng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì số phận củaquốc gia đó xem như đã an bài và đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản [27].Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII cũng chỉ rõ "Giáo dục là quốcsách hàng đầu"[27] Giáo dục phải đào tạo ra một cơ cấu nhân lực đồng bộbao gồm các lĩnh vực: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học - kỹthuật, cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ kinh tế, công nhân kỹ thuật Việcxây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải được tiếnhành với tốc độ và quy mô thích hợp đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ trongquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đặc biệt trong kỷ nguyên văn minhtin học ngày nay, nguồn nhân lực thực sự mạnh khi khai thác và sử dụng đượctiềm năng trí tuệ của nó Nguồn lực con người cần phải đặc biệt nhấn mạnhđến năng lực trí tuệ và tay nghề [59] Do đó, việc đào tạo bồi dưỡng phải điđôi với bố trí sử dụng tốt nguồn nhân lực đã được đào tạo, phát huy đầy đủkhả năng, sở trường và nhiệt tình lao động sáng tạo của họ để tạo ra năng suấtchất lượng và hiệu quả kinh tế cao, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hoá
Môi trường chính trị - xã hội: Ngày nay, người ta thừa nhận môi trườngchính trị - xã hội là một nhân tố góp phần quyết định vào phát triển kinh tếquốc dân nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp nói riêng
Trang 25Môi trường chính trị được thể hiện qua các mục tiêu chiến lược,nguyên tắc tổ chức quản lý, luật pháp, các chế độ chính sách v.v tạo điềukiện cho việc đổi mới cơ cấu và công nghệ phù hợp với những điều kiện thực
tế nhằm tạo ra tốc độ tăng trưởng và phát triển cao theo hướng tiến bộ
Sự ổn định tình hình chính trị và môi trường trong nước là một yếu tốhết sức quan trọng ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tếcông nghiệp nói riêng Tình hình chính trị ổn định gắn liền với những đổi mớikinh tế của đất nước, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Trong văn kiệnĐại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế vàkhu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tácquốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợiích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môitrường" [26]
Mặt khác coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với cácnước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng Nâng cao hiệu quả và chấtlượng hợp tác với các nước ASEAN, cùng xây dựng Đông Nam Á thành mộtkhu vực hoà bình không có vũ khí hạt nhân, ổn định, hợp tác cùng phát triển.Tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc lậpdân tộc, các nước đang phát triển, thúc đẩy quan hệ đa dạng với các nước pháttriển và các tổ chức quốc tế Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và hợp tác ngàycàng rộng rãi trên thế giới
Trên tinh thần đó, môi trường chính trị - xã hội hết sức quan trọng,đặc biệt là vai trò của nhà nước trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế côngnghiệp và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhà nước không đơnthuần là người trọng tài, người định hướng, người cầm cân nảy mực, mà còn
là người tác động trực tiếp tới quá trình kinh tế Khi nhấn mạnh vai trò tất yếu
và hết sức quan trọng của nhà nước trong quản lý kinh tế, ta không chỉ khẳng
Trang 26định sự can thiệp của nhà nước đối với các quá trình kinh tế, mà còn phải xácđịnh rõ nhà nước thực hiện vai trò quản lý của mình như thế nào, bằng cáchthức nào để nhận rõ ranh giới, quyền lực của mình, không xâm phạm vàoquyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp Vai trò của nhà nước đối với
sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp, có thể khái quátnhư sau:
Nhà nước tạo lập một khung pháp luật, tạo môi trường cho các doanhnghiệp phát triển, như luật đầu tư nước ngoài và luật khuyến khích đầu tưtrong nước để thu hút vốn phát triển những ngành chủ chốt của đất nước hơnnữa bộ luật này có rất nhiều những điều khoản ưu tiên cho các ngành côngnghiệp và những doanh nghiệp có kỹ thuật công nghệ cao Nhà nước tiếnhành đầu tư xây dựng, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và phát triển nhữngngành công nghiệp then chốt của đất nước như năng lượng, hóa chất mà cácnhà đầu tư tư nhân trong nước và nước ngoài chưa có điều kiện tham gia
Nhà nước chủ động tổ chức hệ thống công nghiệp, những ngành ưutiên cần khuyến khích dùng các biện pháp thuế và tài chính để động viên vốnvào những lĩnh vực ưu tiên đó, như ngành công nghiệp mới, công nghiệp điện
tử, ngành có công nghệ cao và cả những ngành công nghiệp chưa từng có ởđất nước thông qua liên doanh hay bằng khuyến khích phát triển bằng nguồnvốn tự có, như công nghiệp chế tạo và lắp ráp xe hơi, dầu khí, lọc dầu vànhững ngành khác Đi cùng với những ngành trên, các khu công nghiệp vàkhu chế xuất, các trung tâm kinh tế đã được hình thành, đó là những trungtâm công nghiệp sẽ được phát triển
Nhà nước định hướng nền kinh tế phát triển đi lên xã hội chủ nghĩa,hướng mạnh về xuất khẩu và đặc biệt khuyến khích các ngành sử dụng nhiềulao động tham gia vào các hoạt động xuất khẩu Chính vì vậy, ngoài nguồnngoại tệ từ dầu khí thì nguồn ngoại tệ từ xuất khẩu nông sản và các mặt hàngcông nghiệp nhẹ như công nghiệp dệt, may mặc chiếm một tỷ trọng đángkể
Trang 27Nhà nước giữ vững cân bằng những quan hệ vĩ mô của nền kinh tế,thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô có tác động mạnh mẽ nhất tập trungvào điều tiết các quan hệ hàng hóa - tiền tệ thông qua việc sử dụng các công
cụ như: giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái v.v Như vậy, Nhà nước được xemnhư là một nhân tố khơi dậy, khuyến khích và định hướng cho sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế công nghiệp Sự thành công của các nước đi trước cho thấyrằng điều quan trọng đầu tiên là sự can thiệp mạnh mẽ của Nhà nước trongviệc định ra các chính sách phù hợp, hướng các nguồn lực cho phát triển côngnghiệp
Bốn là: Nhóm quan hệ kinh tế đối ngoại.
Quan hệ kinh tế đối ngoại càng mở rộng và có hiệu quả bao nhiêu thì
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp càng thuận lợi, càng nhanh chóngbấy nhiêu Cần sử dụng kinh tế đối ngoại làm đòn bẩy cho quá trình côngnghiệp hóa Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại về thực chất là thu hút nhiềuvốn bên ngoài, tiếp thu kỹ thuật và công nghệ hiện đại, mở rộng thị trườngcho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [56]
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ cùng với xu hướngquốc tế hóa đời sống kinh tế đã và đang tạo ra mối quan hệ và sự tùy thuộclẫn nhau giữa các nền kinh tế Do đó, việc mở rộng quan hệ kinh tế giữa nước
ta với các nước khác trở thành một tất yếu kinh tế nhằm tạo ra khả năng, điềukiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp như tranh thủ vốn, kỹ thuậtcông nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa Để biến khả năng trở thành hiện thực cần có đường lối kinh
tế đối ngoại đúng đắn, giữ vững độc lập dân tộc, vừa đạt hiệu quả kinh tế cao
Khi đề cập tới nhóm nhân tố bên ngoài ảnh hưởng tới cơ cấu côngnghiệp còn phải kể đến xu hướng thương mại quốc tế Thương mại quốc tế vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp có quan hệ hết sức mật thiết với nhau.Thương mại quốc tế như là một phương tiện cung cấp các yếu tố đầu vào cho
Trang 28quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp Vì vậy nó quyết định khảnăng và trình độ sản xuất công nghiệp Mặt khác thương mại quốc tế cònđược xem như là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế, theo nghĩa nào đó, nónhư một phương tiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp, mở rộngquy mô của công nghiệp tới mức tối ưu đạt hiệu quả kinh tế cao nhất [24]
Trên đây, là những nhân tố tác động đến sự hình thành và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế công nghiệp Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần chủ động, sáng tạokhai thác mặt tác động tích cực, thuận chiều và hạn chế mặt tác động tiêu cực,nghịch chiều nhằm thúc đẩy cơ cấu kinh tế công nghiệp chuyển dịch theohướng tiến bộ hiệu quả
1.2 MỘT SỐ HỌC THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN LÀM CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC XÂY DỰNG VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CÔNG NGHIỆP
Hiện nay có nhiều học thuyết kinh tế khác nhau Các học thuyết đóđều có những nét riêng Trên mức độ nhất định cần có sự tiếp thu, kế thừamột cách có phê phán Phủ định sạch trơn hoặc nghiên cứu và vận dụng biệtlập một học thuyết nào đó đều là sai lầm
Do vậy trong điều kiện hiện nay, muốn hoạch định chính sách pháttriển kinh tế và chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần có sự nghiêncứu vận dụng tổng hợp nhiều học thuyết kinh tế khác nhau, thích ứng với điềukiện cụ thể của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định
1.2.1 Học thuyết Mác - Lênin về tái sản xuất tư bản xã hội, quy luật ưu tiên phát triển sản xuất tư liệu sản xuất trong điều kiện có sự tiến
bộ kỹ thuật
Học thuyết Mác - Lênin được coi là nền tảng tư tưởng, phương phápluận và kim chỉ nam cho mọi hành động Từ sự sụp đổ của Liên Xô và các
Trang 29nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, có người cho rằng đó là sự sụp đổ của họcthuyết Mác - Lênin Nhận định như vậy, là không biện chứng và thiếu lôgíc.
Trong học thuyết kinh tế học mácxít, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp được trình bày tập trung trong học
thuyết về "phân công lao động xã hội và học thuyết về tái sản xuất tư bản xã hội".
- Trong học thuyết về phân công lao động xã hội, kinh tế học mácxít
đã chỉ rõ những điều kiện tiền đề cần thiết, quyết định sự thay đổi về chất củacuộc cách mạng công nghiệp, cơ sở vật chất của phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa hiện đại Đó là: Sự tách rời giữa thành thị và nông thôn; số lượngdân cư và mật độ dân số tăng lên; Năng suất lao động trong nông nghiệp đượcnâng cao đủ để cung cấp sản phẩm "tất yếu" cho cả những người lao độngtrong nông nghiệp và cả những người làm việc trong những ngành sản xuấtkhác Cuối cùng, điều kiện thể chế có ý nghĩa quyết định cuộc cách mạngcông nghiệp trong chủ nghĩa tư bản là sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường
Qua đó thấy rằng: Việc thúc đẩy chuyển dịnh cơ cấu kinh tế nói chung
và quá trình công nghiệp hóa nói riêng sẽ không có kết quả nếu không có độchín muồi của những điều kiện tiền đề nói trên Tuy nhiên ở mỗi nền kinh tế,các điều kiện tiền đề có sắc thái riêng
- Học thuyết về tái sản xuất tư bản xã hội C Mác là người đầu tiêntrình bày một cách khoa học lý luận về tái sản xuất tư bản xã hội Người đãtrình bày những công thức về tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa, nhữngcông thức đó minh họa những nguyên lý, lý luận tái sản xuất tư bản chủnghĩa
Để phân tích lý thuyết về tái sản xuất tư bản xã hội, Mác đã đã giảđịnh không có ngoại thương, vì đưa ngoại thương vào thì việc nghiên cứuthêm phức tạp hơn Nhưng, trong thực tế chủ nghĩa tư bản không thể pháttriển mà không có ngoại thương Mặt khác, Người đã chia tổng sản phẩm xã
Trang 30hội thành hai loại: tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng Do đó, nền sản xuất xãhội được chia thành hai khu vực: khu vực I (sản xuất tư liệu sản xuất), khuvực II (sản xuất tư liệu tiêu dùng) và giữa hai khu vực ấy, phải có những tỷ lệnhất định Không có những tỷ lệ ấy thì không thể tiến hành tái sản xuất xã hộiđược Mặt khác, Mác khẳng định tổng sản phẩm xã hội được thực hiện bằngcách trao đổi giữa khu vực I với khu vực II và trong nội bộ mỗi khu vực, vềgiá trị cũng như về mặt hiện vật Như vậy, để thực hiện liên tục tái sản xuất
mở rộng, khu vực I phải cung cấp đủ số tư liệu sản xuất để có thể phát triểnsản xuất trên cơ sở kỹ thuật cao trong cả hai khu vực; ngược lại khu vực IIphải đảm bảo đầy đủ tư liệu tiêu dùng để bảo đảm nhu cầu thường xuyên tănglên của những người lao động ở cả hai khu vực Ngoài ra, khu vực II còn phải
có một số sản phẩm tiêu dùng để thỏa mãn các nhu cầu không trực tiếp sảnxuất trong xã hội như giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, v.v
Khi phân tích tái sản xuất tư bản xã hội, điều kiện thực hiện sản phẩmcủa tái sản xuất mở rộng là (v + m) của khu vực I phải tăng nhanh hơn (C)của khu vực II Song, cần nhận rõ rằng, để tái sản xuất mở rộng, không phảichỉ cần có điều kiện (v+ m) của khu vực I phải tăng nhanh hơn (C) của khuvực II, tuy đó là điều kiện căn bản nhất Một điều kiện quan trọng khác rấtquan trọng là khu vực II cũng phải phát triển nhanh chóng để không nhữngbảo đảm số tư liệu tiêu dùng cho khu vực II, mà còn để trao đổi với khu vực Ilấy tư liệu sản xuất, cũng như để cung cấp thêm tư liệu tiêu dùng cho khu vực
Trang 31+ Toàn bộ giá trị sản phẩm khu vực I phải lớn hơn giá trị tư bản bấtbiến đã tiêu dùng của cả hai khu vực: I (c + v + m) > Ic + IIc.
+ Toàn bộ giá trị mới sáng tạo ra trong hai khu vực (thu nhập quốc dân)phải lớn hơn giá trị sản phẩm của khu vực II: I (v+m) + II (V+m) > II (c+v+m)
Dựa trên cơ sở những điều kiện về tái sản xuất tư bản xã hội của Mác
Để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp, đúng hướng và ngàycàng mở rộng, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội cần quán triệtnhững vấn đề sau:
- Chuyển từ tái sản xuất giản đơn sang tái sản xuất mở rộng khôngphải xuất phát từ mặt lượng mà ở mặt chất Sự thay đổi kết cấu tức sự sắp xếplại những yếu tố của sản xuất, phân công lại lao động, chuyển hóa hình tháilao động sản xuất
- Phải biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm (C) và tưbản khả biến phụ thêm (V), tức biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản táiđầu tư Nhưng các bộ phận giá trị phụ thêm đó phải tìm được những tư liệusản xuất và tư liệu sinh hoạt phụ thêm dưới những hình thái vật chất tươngứng với nhu cầu của nó Điều này đòi hỏi cơ cấu sản xuất xã hội phải cónhững thay đổi về lượng và cả về chất so với tái sản xuất giản đơn
- Thực hiện phân công lại lao động xã hội, gắn với bố trí lại lao độngtrong từng công xưởng, hợp lý hóa từng công đoạn sản xuất Sự thay đổi đó làtiền đề việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp trong tái sản xuất mở rộng
Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, Mác đã chứng minh,quá trình cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng tăng, tỷ trọng tư bản bất biếntrong tổng số tư bản ngày càng cao, còn tỷ trọng của tư bản khả biến ngày cànggiảm, mặc dù số lượng tuyệt đối của tư bản khả biến vẫn ngày càng tăng.Điều đó chứng tỏ rằng tốc độ phát triển sản xuất tư liệu sản xuất phải nhanhhơn tốc độ phát triển sản xuất vật phẩm tiêu dùng Đó là nguyên lý hết sức
Trang 32quan trọng của lý luận tái sản xuất Trong tác phẩm nổi tiếng "Bàn về cái gọi
là vấn đề thị trường" V.I Lênin đã phân tích tái sản xuất mở rộng với điều kiện
kỹ thuật ngày càng tiến bộ, cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng tăng V.I.Lênin chia khu vực I thành hai ngành: ngành sản xuất tư liệu sản xuất để chếtạo tư liệu sản xuất và ngành sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo vật phẩmtiêu dùng Người đã phân tích mối quan hệ giữa các ngành sản xuất trong quátrình vận động phát triển và cuối cùng đã rút ra kết luận: "Sản xuất tư liệu sảnxuất để chế tạo tư liệu sản xuất tăng nhanh nhất; sau đến sản xuất tư liệu sảnxuất để chế tạo tư liệu tiêu dùng; và chậm nhất là sự phát triển của sản xuất tưliệu tiêu dùng" [42]
Đó là nội dung của quy luật ưu tiên phát triển sản xuất tư liệu sảnxuất, là quy luật của tái sản xuất mở rộng trong điều kiện kỹ thuật ngày càngtiến bộ Việc vận dụng quy luật này vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế côngnghiệp là hết sức quan trọng, cần xác định những vấn đề sau:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp cần đảm bảo sự cân đốigiữa quá trình sản xuất và quá trình lưu thông
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp phải được gắn chặt với vấn
đề phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa lao động trong một số ngànhcông nghiệp ngày càng được nâng cao, thị trường ngày càng mở rộng
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp trong điều kiện có tiến bộ
kỹ thuật, cần đảm bảo những tỷ lệ nhất định giữa các bộ phận, giữa cácngành, các khu vực cũng như nội bộ ngành, cần áp dụng những công nghệmới để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường
1.2.2 Lý thuyết phát triển cơ cấu kinh tế cân đối và không cân đối
* Lý thuyết phát triển cơ cấu kinh tế cân đối
Trang 33Theo lý thuyết này, để chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp, cần sựthúc đẩy sự phát triển đồng đều ở tất cả mọi ngành kinh tế quốc dân Ủng hộquan điểm này có Nurkse, P.Rosenstein - Rodan đã dựa vào những luận cứ sau:
Trong quá trình phát triển, tất cả các ngành kinh tế liên quan mật thiếtvới nhau trong một chu trình "đầu ra" của ngành này là "đầu vào" của ngành kia
Vì thế, sự phát triển đồng đều và cân đối chính là đòi hỏi sự cân bằng cung cầutrong sản xuất Sự phát triển cân đối các ngành Như vậy, còn giúp tránh đượcảnh hưởng tiêu cực của những biến động trên thị trường và hạn chế mức độ phụthuộc vào các nền kinh tế khác, tiết kiệm được nguồn ngoại tệ vốn rất khanhiếm và thiếu hụt của các nước chậm phát triển Một nền kinh tế dựa trên cơ cấukinh tế cân đối, hoàn chỉnh là nền tảng vững chắc đảm bảo sự độc lập chínhtrị của các nước thế giới thứ ba chống lại chủ nghĩa thực dân Lý do này tỏ rahấp dẫn đối với nhiều quốc gia chậm phát triển vừa mới giành được độc lập vềchính trị Đó là: mô hình theo cơ cấu cân đối khép kín, mô hình công nghiệphóa "hướng nội" hay "thay thế nhập khẩu" đã trở thành trào lưu phổ biến trongnhững năm sau đại chiến thế giới lần thứ hai Tuy nhiên, thực tế đã dần dầncho thấy những nhược điểm rất lớn của mô hình này Có thể xem xét trên haikhía cạnh:
Thứ nhất: Việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối, hoàn chỉnh đã
đưa nền kinh tế đến chỗ khép kín và khu biệt với thế giới bên ngoài Điều nàychẳng những ngược với xu hướng chung của tất cả mọi nền kinh tế trong điềukiện khu vực hóa và toàn cầu hóa, trong lúc ngăn ngừa những tác động tiêucực của thị trường thế giới, đã bỏ qua cả những ảnh hưởng tích cực do bênngoài mang lại
Thứ hai: Những nền kinh tế chậm phát triển không đủ khả năng về
nhân tài, vật lực để có thể thực hiện được những mục tiêu cơ cấu được đặt raban đầu
Trang 34Cả hai yếu tố này góp phần làm cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hóa gặp nhiều khó khăn, bởi lẽ cách tiếp cận vấn đềtrên đã làm phân tán các nguồn lực phát triển có hạn của quốc gia, khiến ngay
cả việc sửa chữa lại di sản cơ cấu kinh tế què quặt của thời kỳ thuộc địa cũcũng bị trở ngại Như Albert Hirschman nhận xét, để có thể tối đa hóa sự tăngtrưởng, "các nước đang phát triển, sau một thời kỳ thu mình và thực hiện chủnghĩa dân tộc, cần có sự thay đổi thích hợp về quan hệ và về sự biệt lập, thựchiện mở cửa đối với thương mại và tư bản của các nước phát triển " [7] Đó
là cơ sở của sự thay đổi chiến lược kinh tế của các nước đang phát triển từhướng nội sang hướng ngoại, từ thay thế nhập khẩu sang hướng vào xuấtkhẩu để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp Vì vậy, mà lýthuyết phát triển cơ cấu không cân đối ra đời
* Lý thuyết phát triển cơ cấu kinh tế không cân đối hay các" cực tăng
trưởng".
Ngược lại với quan điểm phát triển nền kinh tế theo một cơ cấu cânđối khép kín nêu trên, lý thuyết phát triển cơ cấu kinh tế không cân đối của(A Hirschman, F Perrons, G.Destanne de Bernis ) đã cho rằng không thể vàkhông nhất thiết phải bảo đảm tăng trưởng bền vững bằng cách duy trì cơ cấucân đối liên ngành đối với mọi quốc gia, theo những luận cứ chủ yếu sau đây:
- Việc phát triển cơ cấu không cân đối gây nên một áp lực, tạo ra một
sự kích đầu tư Trong mối tương quan giữa các ngành, nếu cung bằng cầu thì
sẽ triệt tiêu động lực khuyến khích đầu tư nâng cao năng lực sản xuất Do đó,nếu có những dự án đầu tư lớn hơn vào một số lĩnh vực thì áp lực đầu tư sẽxuất hiện bởi cầu lớn hơn cung lúc đầu và sau đó thì cung lớn hơn cầu ở một
số lĩnh vực Chính vì thế những dự án đó có tác dụng lôi kéo đầu tư theo kiểu
lý thuyết số nhân, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp
- Trong mỗi giai đoạn của chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp, vaitrò "cực tăng trưởng" của các ngành trong nền kinh tế là không giống nhau
Trang 35Vì vậy cần tập trung những nguồn lực khan hiếm cho một số lĩnh vực trongmột thời điểm nhất định.
- Trong thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hóa, các nước đang pháttriển rất thiếu vốn, lao động kỹ thuật, công nghệ và thị trường, nên không đủđiều kiện để cùng một lúc phát triển đồng bộ tất cả các ngành hiện đại Vì thế,việc phát triển cơ cấu kinh tế không cân đối là một sự lựa chọn bắt buộc
- Lý thuyết phát triển cơ cấu kinh tế không cân đối có mặt hợp lý vì nó
đã phê phán những quan điểm hẹp hòi về độc lập dân tộc, "tự lực cánh sinh",những quan điểm thu mình trước sự phân công lao động quốc tế, nên đã hạnchế khả năng phát triển Nhưng mặt khác phê phán những quan điểm cựcđoan của lý thuyết đó lại đi quá xa đến mức thổi phồng những nhân tố bênngoài coi nhẹ khả năng bên trong của các nước đang phát triển, từ đó đi đếnchỗ chấp nhận sự phụ thuộc vào một số trung tâm công nghiệp phát triển, bấtchấp mọi quyền lợi của đại đa số nhân dân các nước đang phát triển [29] Lúcđầu lý thuyết này tỏ ra không hấp dẫn lắm vì dường như nó bỏ qua những nỗlực xây dựng một nền kinh tế độc lập có cơ cấu kinh tế cân đối để chống lạichủ nghĩa thực dân Hơn nữa, đằng sau việc xây dựng một cơ cấu kinh tếkhông cân đối và mở cửa ra bên ngòai là chấp nhận sự phụ thuộc lẫn nhaugiữa các nền kinh tế, mà thường thì các nền kinh tế chậm phát triển gặp phảinhiều bất lợi hơn Nhưng trước những hạn chế ngày càng trở nên rõ ràng của
ý tưởng thực hiện mô hình công nghiệp hóa hướng nội có cơ cấu kinh tế cânđối hoàn chỉnh và những thành công "thần kỳ" của một số nước tiên phong,điển hình là một nhóm nước NICs Đông Á, lý thuyết phát triển cơ cấu ngànhkhông cân đối hay các cực tăng trưởng ngày càng được thừa nhận rộng rãi.Trên thực tế, mô hình công nghiệp mở cửa, hướng ngoại đã trở thành một xuhướng chính ở các nước chậm phát triển, để có điều kiện chuyển dịch cơ cấukinh tế công nghiệp, phát triển kinh tế đất nước [56]
Trang 361.2.3 Lý thuyết Marat Tchechkov (Tính không tuần tự, tính nhị nguyên, tính phụ thuộc)
Để cho cơ cấu kinh tế công nghiệp chuyển dịch theo hướng tiến bộ, dohoàn cảnh lịch sử, sự phát triển của mỗi nước, tuy nhiên cũng có những đặcđiểm chung như sau:
Tính không tuần tự: Về mặt kinh tế - xã hội tính không tuần tự cónghĩa là không nhất thiết phải trải qua tuần tự các thời kỳ lịch sử từ xã hộinguyên thủy đến xã hội phong kiến và tư bản chủ nghĩa, mà trên thực tế cóthể nhảy vọt, bỏ qua các thời kỳ nào đó
Về mặt cơ cấu kinh tế, không tuần tự có nghĩa là không phải tiến từngbước từ nông nghiệp đến khai khoáng rồi từ công nghiệp nhẹ, tới công nghiệpdựa trên công nghệ cao v.v
Về mặt công nghệ, không tuần tự có nghĩa là không phải cứ tiến từ côngnghệ truyền thống tới công nghệ trung gian rồi tới công nghệ hiện đại mà có thểphát triển song song các loại công nghệ, tùy từng lĩnh vực hoặc cũng có thể đitắt qua các dạng công nghệ không cần thiết, nếu hoàn cảnh lịch sử cho phép
Như vậy, trong thời đại ngày nay, do tác động to lớn của cuộc cáchmạng khoa học - công nghệ, mối quan hệ quốc tế phụ thuộc lẫn nhau ngàycàng chặt chẽ, các nước đang phát triển có thể phát triển một cách không tuần
tự theo những con đường tắt, tùy theo khả năng lựa chọn và thích nghi củatừng nước Nếu chớp được thời cơ, chọn đúng đường tắt thì chuyển dịch cơcấu kinh tế công nghiệp sẽ phát triển nhanh; song nếu đi nhầm đường hoặc bỏ
lỡ mất thời cơ thì sẽ phát triển chậm chạp, thậm chí thoái triển
Tính nhị nguyên:Nói một cách ngắn gọn và dễ hiểu có nghĩa là vừa có
truyền thống vừa có hiện đại Trên thực tế nếu biết khéo kết hợp giữa truyềnthống và hiện đại thì sẽ tạo ra được những thuận lợi cho sự phát triển Tínhnhị nguyên trong các nước đang phát triển được thể hiện trên các mặt kinh tế,công nghệ, văn hóa
Trang 37Về mặt kinh tế, các nước đang phát triển thường là những nước thuộcđịa cũ Nền kinh tế thường tồn tại hai khu vực quan trọng: khu vực kinh tế cổtruyền của nhân dân bản địa (như nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp) và khuvực kinh tế hiện đại do chủ nghĩa thực dân xây dựng (như công nghiệp khaikhoáng, năng lượng, chế biến, thương mại quốc tế v.v ).
Hai khu vực cổ truyền và hiện đại có thể gắn kết với nhau và bổ sungcho nhau, tạo thuận lợi cho sự phát triển theo hướng hiện đại hóa, mang màusắc đặc thù của địa phương và mỗi dân tộc Tuy nhiên chúng cũng có thểkhông gắn kết với nhau mà kiềm chế lẫn nhau
Về công nghệ, trong khu vực kinh tế cổ truyền thường sử dụng côngnghệ truyền thống thuận tiện cho việc sản xuất quy mô nhỏ, phân tán, ít vốnđầu tư, kỹ thuật đã nhuần nhuyễn lâu đời, còn trong kinh tế hiện đại thì sử dụngcông nghệ hiện đại quy mô lớn, tập trung, dễ thích ứng với kinh tế thế giới
Về mặt văn hóa, trên thế giới ngày nay nhìn chung, quan hệ qua lạigiữa các nước ngày càng thuận tiện và ngày càng chặt chẽ ở tất cả các mặtkinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật, văn hóa Các nước đang phát triển cónền văn hóa cổ truyền của mình, đồng thời tiếp thu một cách tự giác hoặckhông tự giác nền văn hóa "mẫu quốc" Vì vậy, sau khi giành được độc lập,các nước này vẫn thường có tính nhị nguyên về văn hóa
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp cần tiếp thu nền văn hóa cổtruyền và chọn lọc tiếp thu nền văn hóa phương tây Nếu thiếu sự lựa chọn sẽkhông tránh khỏi dẫn đến một nền văn hóa lai căng, phương hại tới nền vănhóa cổ truyền, dẫn đến sự hỗn loạn trong xã hội, sự mâu thuẫn giữa các bộphận dân tộc, giữa các thế hệ, do đó làm mất ổn định xã hội, nghĩa là mất điềukiện cơ bản để phát triển công nghiệp
Tính phụ thuộc: Là một tính cố hữu của các nước đang phát triển đã
trải qua quá trình bị thực dân thống trị và cần được khắc phục trong quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp Khắc phục tính phụ thuộc, đề cao
Trang 38tính tự chủ trong phát triển không phải là tự lực cánh sinh theo kiểu tự cung,
tự cấp, mà biến tính phụ thuộc một chiều thành phụ thuộc lẫn nhau, biến sựphụ thuộc vào một nước, một phe, thành tính phụ thuộc nhiều chiều trên cơ sởphát huy cao nhất các lợi thế so sánh của đất nước, những lợi thế tự nhiêncũng như những lợi thế do mình tạo ra theo yêu cầu của thời đại, để chuyểndịch cơ cấu kinh tế công nghiệp theo đúng hướng mà mục tiêu đã định
Từ những phân tích trên đây cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế công nghiệp ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu, chẳnghạn: chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp ở Việt Nam có những lợi thế gì
và có thể tạo ra lợi thế nào, cơ cấu kinh tế công nghiệp của các nước trongkhu vực như thế nào, tận dụng vai trò chuyển giao công nghệ và vốn của cáccông ty siêu quốc gia như thế nào để tránh tình trạng lệ thuộc một chiều giảiquyết vấn đề này chính là điểm nối giữa chiến lược công nghiệp hóa, hiện đạihóa và chiến lược đối ngoại, nó được xây dựng trên cơ sở kết hợp một cáchkhôn ngoan và linh hoạt quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ về chính trị vàngoại giao, mục tiêu quan trọng là nhanh chóng thực hiện chuyển dịch cơ cấukinh tế công nghiệp, đi vào hiện đại những ngành mũi nhọn [86]
Trong các giai đoạn trên, giai đoạn (hai) và giai đoạn (sáu) là giaiđoạn then chốt Vấn đề tiêu điểm cần quan tâm là: trong nền kinh tế - xã hội
Trang 39truyền thống ở những nước lạc hậu cần phải làm thế nào để chuẩn bị điềukiện"cất cánh" và sớm thực hiện "cất cánh" kinh tế Rostow chỉ rõ, "cất cánh"chính là làm cho nền kinh tế của một nước phá vỡ trạng thái trì trệ truyềnthống giống như chiếc máy bay rời khỏi đường băng vút lên không trung.
"Cất cánh" phải có đủ ba điều kiện liên quan với nhau, đó là:
Một là: Phải có tích lũy tư bản tương đối cao, phải làm cho đầu tư
mang tính sản xuất chiếm trên 10% thu nhập quốc dân;
Hai là: Phải có một hoặc nhiều ngành chế tạo thực chất làm ngành
chủ đạo cho "cất cánh", khi đã phát triển thì tỷ lệ tăng trưởng rất cao;
Ba là: Phải xây dựng được thể chế đảm bảo cho "cất cánh", tức là phải
có sẵn hoặc nhanh chóng tạo một kết cấu xã hội và thể chế về chính trị, kếtcấu này khai thác được ảnh hưởng kinh tế tiềm tàng ở bên ngoài thúc đẩy cáclực lượng phát triển ngành hiện đại và thúc đẩy giai đoạn cất cánh, có đặctrưng là tiến lên không ngừng [44]
Theo Rostow, nhân tố mang tính quyết định của sự "cất cánh" là kỹthuật mới, được áp dụng vào môi trường có hiệu quả khuếch tán Kỹ thuậtmới được áp dụng vào các ngành công nghiệp cụ thể sẽ giúp cho ngành đógiảm chi phí, mở rộng thị trường, tăng lợi nhuận và tích lũy, tăng nhu cầu đốivới sản phẩm của ngành khác và mở rộng ảnh hưởng kinh tế của nó ra nơi sởtại, từ đó thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Rostow cho rằng, mặc dù các nước khác nhau có những đặc điểmkhác nhau về văn hóa, kết cấu xã hội, tình hình chính trị, về quy mô lãnh thổ,
về tài nguyên thiên nhiên và về dân số , song những đặc điểm ấy không hềloại trừ đặc trưng chung nêu trên Theo lý thuyết này, việc ứng dụng tiến bộ
kỹ thuật vào ngành công nghiệp cụ thể và thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh
tế công nghiệp để hình thành ngành chủ đạo sẽ tác động mạnh đến tăngtrưởng kinh tế; rằng mặc dù Rostow nhấn mạnh đến vai trò của tích lũy tư bản
Trang 40và chế độ xã hội đối với tự "cất cánh" và phát triển kinh tế, nhưng tiến bộ kỹthuật vẫn là nhân tố quyết định cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế côngnghiệp.
Như vậy, mỗi loại lý thuyết trên đây đều có những mặt mạnh khôngthể phủ nhận Song cũng luôn tỏ ra không phải có thể áp dụng thành công ởmọi lúc mọi nơi Tuy nhiên có thể tổng hợp lại thành một số điểm có liênquan đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp như sau:
Các lý thuyết phát triển đều quan tâm đến việc xác định các tiền đềcần thiết của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp
Những lý thuyết không chỉ coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế côngnghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng của sự phát triển, mà còn chỉ ranội dung cụ thể của nó là tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm tỷ trọng nôngnghiệp trong GNP dẫn đến số dân thành thị lớn hơn số dân nông thôn Cáchxác định nội dung chuyển dịch cơ cấu Như vậy, cho phép đánh giá mức độthành công của công nghiệp hóa ở một quốc gia
Lý thuyết phát triển cũng khẳng định rằng cơ cấu kinh tế là một trongnhững nguyên nhân quyết định sự thành bại của các nước công nghiệp hóa.Người ta nhận thấy rằng, trong những nước không thành công, cơ cấu kinh tế
có tình trạng không liên kết bên trong, chuyển dịch cơ cấu kinh tế côngnghiệp không đồng bộ
Từ đó một giải pháp mang tính nguyên tắc là phải xây dựng một cơcấu kinh tế công nghiệp, có sự liên kết, cân đối, thúc đẩy, lôi kéo lẫn nhautrong quá trình phát triển Trong điều kiện quốc tế hóa kinh tế thì phải gắn vớiphân công lao động quốc tế, sự biến đổi cơ cấu kinh tế công nghiệp, vừa tuần
tự vừa nhảy vọt và vừa bảo tồn bản sắc truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa của thế giới, giữ vững độc lập, tự chủ dân tộc, vừa lệ