Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quy luật tồn tại và phát triển của nước ta hiện nay. Đó cũng là sự tiếp nối truyền thống ngàn năm dựng nước phải đi đôi với giữ nước của ông cha. Ngày nay, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta đang diễn ra trong bối cảnh kinh tế xã hội trong và ngoài nước đang có những biến chuyển, vừa có thời cơ vừa chứa đựng những nguy cơ không thể xem thường.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa làquy luật tồn tại và phát triển của nước ta hiện nay Đó cũng là sự tiếp nốitruyền thống ngàn năm dựng nước phải đi đôi với giữ nước của ông cha.Ngày nay, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên đấtnước ta đang diễn ra trong bối cảnh kinh tế - xã hội trong và ngoài nướcđang có những biến chuyển, vừa có thời cơ vừa chứa đựng những nguy cơkhông thể xem thường Do vậy, trong khi không một phút lơ là nhiệm vụbảo vệ Tổ quốc, duy trì cục diện hòa bình ổn định cho phát triển kinh tế -
xã hội, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức huy động mọi nguồnlực, mọi khả năng để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước nhằm thực hiện mục tiêu "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ và văn minh"
Có thể thấy rằng, tư duy chiến lược mới về bảo vệ Tổ quốc, về côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, về phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa đang đặt ra những vấn đề rất mới đối với quân độitrong hoạt động thực tiễn của mình Nó đòi hỏi quân đội phải bổ sung, đổimới tư duy về các nhiệm vụ chiến lược, trong đó có nhiệm vụ lao động sảnxuất, xây dựng kinh tế
Trong suốt hơn 70 năm qua kể từ ngày thành lập, dưới sự lãnh đạocủa Đảng, quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế luôn có vị trí, ýnghĩa rất quan trọng, là truyền thống, bản chất và nhiệm vụ chiến lược lâudài Trong các bước ngoặt lịch sử của dân tộc ta từ khi có Đảng mỗi khi đấtnước có chuyển biến Đảng lại có sự chỉ đạo cụ thể về vấn đề này Bởi vậy,quân đội đã góp phần đắc lực vào phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đờisống vật chất, tinh thần cho bộ đội, nâng cao trình độ khoa học - công nghệsản xuất và cải tiến vũ khí trang bị, nâng cao năng lực của khu vực sản xuất
Trang 2quân sự đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của quân đội, của đất nướctrong từng giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam.
Trước sự phát triển về lý luận và những yêu cầu mới của thực tiễn:quân đội sản xuất, xây dựng kinh tế trong cơ chế thị trường, nền kinh tếnhiều thành phần, đất nước chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong bốicảnh toàn cầu hóa, việc Đảng và Nhà nước đang thực hiện chủ trương đổimới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước (trong đó có doanh nghiệpquân đội) để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước -làm cho kinh tế nhà nước ngày càng đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tếthị trường định hướng XHCN Do vậy, để phát huy bản chất truyền thống
"Bộ đội cụ Hồ" trong điều kiện lịch sử mới, để nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh tế của quân đội việc nghiên cứu "Mô hình và phương thức hoạt động của các lực lượng quân đội sản xuất, xây dựng kinh tế" là một vấn
đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trong giai đoạn hiện nay
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu: Xây dựng các luận cứ khoa học về mô hình tổ chức
và phương thức hoạt động của các lực lượng quân đội sản xuất, xây dựngkinh tế trong giai đoạn sắp tới Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp để tổchức thực hiện
2.2 Nhiệm vụ: Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu trên đề tài có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu đặc điểm và vai trò của quân đội tham gia phát triểnkinh tế - xã hội và kinh nghiệm sản xuất, xây dựng kinh tế của quân độimột số nước trên thế giới
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn mô hình tổ chức và phươngthức hoạt động của các lực lượng quân đội sản xuất, xây dựng kinh tế
- Đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của các mô hình trên
Trang 33 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tổ chức mô hình và phương thứchoạt động của các lực lượng quân đội sản xuất, xây dựng kinh tế:
- Các doanh nghiệp quân đội sản xuất, xây dựng kinh tế
- Các khu kinh tế quốc phòng
- Lực lượng quân đội thường trực sản xuất, xây dựng kinh tế
4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu của đề tài
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về kinh tế và quân sự; các quan điểm, đường lối kinh tế,đường lối quân sự của Đảng cộng sản Việt Nam
Đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử, phương pháp kết hợp lôgíc và lịch sử, phương pháp thống kê - sosánh, phân tích - tổng hợp, cấu trúc hệ thống và phương pháp chuyên gia
5 Kết cấu của đề tài
Gồm phần mở đầu, ba chương, kết luận và các phụ lục kèm theo
Trang 4Mối quan hệ giữa kinh tế và chiến tranh chỉ được luận giải một cáchkhoa học nhờ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sửMác - Lênin, trong đó khẳng định: mọi cuộc chiến tranh đều có nguồn gốckinh tế và đến lượt mình, chiến tranh luôn tác động tới sự phát triển kinh tế.
Nghiên cứu về các cuộc chiến tranh trong lịch sử, chủ nghĩa Mác Lênin đã chỉ rõ, mọi cuộc chiến tranh đều xuất phát từ lợi ích kinh tế, nóiđúng hơn, chế độ kinh tế luôn qui định mục tiêu của chiến tranh Tính chấtxâm lược, khát vọng chiến tranh luôn đồng hành với CNĐQ bởi thuộc tínhvốn có của CNĐQ là bành trướng Chế độ kinh tế TBCN luôn thúc đẩy vàlàm phát triển các mâu thuẫn giữa các nước và lực lượng khác nhau trongchiếm đoạt thị trường nguyên liệu, nhân công và thị trường tiêu thụ sảnphẩm Nói khác đi, còn CNĐQ thì có nghĩa là còn có nguy cơ chiến tranh
-Kinh tế không chỉ là nguyên nhân của chiến tranh mà còn là cơ sởvật chất để tiến hành chiến tranh, có ảnh hưởng quyết định đối với qui mô,
Trang 5thời gian, cường độ và phương thức tiến hành chiến tranh Tuy nhiên, ưuthế kinh tế tự nó không thể đảm bảo ưu thế quân sự và đảm bảo giànhthắng lợi trong chiến tranh:
Thứ nhất, vì hoạt động quân sự không chỉ chịu ảnh hưởng của nhân
tố kinh tế mà còn bị chi phối bởi các mục tiêu chính trị, các đặc điểm dân tộc,đặc điểm địa lý của đất nước và cả các nhân tố chủ quan như tương quanlực lượng của mình và đối phương, trình độ của tướng lĩnh và của chiến sĩ
Thứ hai, sức mạnh kinh tế không thể tự nó biến thành sức mạnh
quân sự Để có được sức mạnh quân sự, cần phải tổ chức nền kinh tế mộtcách hợp lý để có thể huy động nhanh và hiệu quả các nguồn lực nhằm thỏamãn các nhu cầu của quốc phòng, nhu cầu của chiến tranh
Và tất nhiên, chiến tranh cũng tác động trở lại đối với kinh tế Hậuquả không thể tránh khỏi của chiến tranh là người chết, cơ sở vật chất bịphá hủy, tài sản quốc gia mất mát và khả năng sản xuất của xã hội bị thuhẹp lại do phải rút bớt một số lớn nhân lực đang tham gia sản xuất để bổsung cho quân đội; phải tổ chức sản xuất các loại quân dụng Việc cung cấpcho các ngành sản xuất quân sự những phương tiện cần thiết trong nền kinh
tế quốc dân sẽ đưa đến những biến đổi quan trọng về cơ cấu, các chỉ tiêukinh tế, cấu trúc ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ v.v
Từ sự phân tích về mối quan hệ giữa chiến tranh và kinh tế, giữasức mạnh quân sự và sức mạnh kinh tế cho thấy mối quan hệ hữu cơ giữakinh tế và quốc phòng Ở đây cần nhấn mạnh rằng, mối quan hệ giữa sứcmạnh kinh tế với sức mạnh quân sự được nhận thức và vận dụng khácnhau, tùy theo mục đích mà từng chế độ xã hội theo đuổi Có những nước,
sự kết hợp này là nhằm tiến hành chiến tranh xâm lược Với những nướckhác, đó là để củng cố nền an ninh quốc phòng, bảo vệ độc lập, chủ quyền,toàn vẹn lãnh thổ, tài sản và tính mạng nhân dân
Một quốc gia độc lập, có chủ quyền, muốn tồn tại và phát triển đềuphải biết kết hợp hài hòa xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng Đó cũng
là yêu cầu đối với nhà nước XHCN
Trang 6Bản chất của chủ nghĩa xã hội là hòa bình và hữu nghị Nhưng thực
tế khi cách mạng vô sản chưa thể thành công cùng một lúc trên cả thế giới,các nước XHCN luôn đứng trước sự đe dọa thường xuyên, nghiêm trọngcủa những âm mưu xâm lược và can thiệp quân sự đủ mọi qui mô từ phíachủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế Trong những điều kiện
đó, bất cứ một nhà nước XHCN nào trong khi triển khai công cuộc laođộng sáng tạo hòa bình của mình cũng phải chăm lo xây dựng, củng cố sựnghiệp quốc phòng - an ninh vững mạnh để bảo vệ vững chắc thành quảxây dựng đó Điều này đã trở thành một yêu cầu có tính tất yếu khách quan,một qui luật của mọi cuộc cách mạng XHCN trong thời đại hiện nay Nóicách khác, nền kinh tế quốc dân, trong khi phát triển để đáp ứng những nhucầu vốn có của chủ nghĩa xã hội, phải tính đến việc đáp ứng đầy đủ nhữngyêu cầu chuẩn bị và tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc theo những đòihỏi của cuộc chiến tranh hiện đại Điều đó có nghĩa là phải thường xuyênchi phí rất lớn cho việc chuẩn bị chiến tranh, phải luôn duy trì một lựclượng vũ trang tương đối đông đảo và ngày càng hoàn thiện về khả năngchiến đấu, phải tổ chức việc sản xuất ra các sản phẩm quân sự, những hệthống vũ khí trang bị và không ngừng cải tiến chúng, không ngừng hiện đạihóa lực lượng quốc phòng của đất nước
Ở nước ta, qui luật nói trên đồng thời là sự tiếp nối của qui luật vốn
có trong lịch sử dân tộc dựng nước đi đôi với giữ nước
Do vị trí chiến lược của mình, đất nước Việt Nam trải qua 4000năm lịch sử, kể từ khi các vua Hùng dựng nước đến nay, luôn luôn bị cácthế lực xâm lược bên ngoài nhòm ngó Nếu chỉ tính từ năm 214 trước côngnguyên, khi đạo quân xâm lược đầu tiên của đế chế nhà Tần tiến vào đấtnước Âu Lạc đến năm 1945, trước khi Cách mạng Tháng 8 thành công, dântộc ta đã trải qua 2160 năm chống ngoại xâm Một trong những bài học quýbáu mà tổ tiên ta để lại là đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế gắn liền vớicủng cố quốc phòng, làm cho "dân giàu, nước mạnh"
Trang 7Từ thế kỷ thứ X tới thế kỷ thứ XV, các triều đại phong kiến đanglên: Đinh, Lê, Lý, Trần nhìn chung đều quan tâm đến việc đẩy mạnh sảnxuất, đưa nền kinh tế đất nước tiến triển bằng nhiều biện pháp khác nhaunhư: Khuyến khích việc di dân từ miền xuôi lên các vùng biên thùy xa xôi
để khai phá đất hoang; cho phép các gia đình vương hầu, quý tộc đượcchiêu mộ dân nghèo không có ruộng đất làm nô tì đi khai khẩn miền đất bồiven biển ở hạ lưu sông Hồng, lập nên các điền trang màu mỡ có dân cưđông đúc v.v Có thể nói, đấy là sự phân bố lại nhân lực, vật lực để giữacác vùng trong nước bớt phần chênh lệch, để khi nếu có chiến tranh xảy rathì việc cung ứng sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống ngoạixâm đỡ phần khó khăn, lúng túng
Đồng thời, các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần còn chú ý tu bổ, mởmang những tuyến đường giao lưu thủy, bộ không những nhằm mục đíchgiao lưu kinh tế mà còn phục vụ đắc lực cho nhu cầu quốc phòng quân sựnhư cơ động lực lượng vận tải tiếp tế, thông tin liên lạc khi chiến tranh xảy
ra Những cuộc hành quân cơ động lực lượng hàng vạn, chục vạn ngườitrong 3 cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên vào nửa cuối thế kỷ XIII
và trong những lần đánh dẹp các lực lượng phong kiến phương Nam, phíaTây xâm nhập bờ cõi đất nước ta vào nửa cuối thế kỷ XV đã được tiếnhành mau lẹ, một phần là nhờ ở hệ thống giao thông thủy bộ được tu bổ,
mở mang sẵn từ thời bình
Cùng với sự khuyến khích nông nghiệp, chú ý tu bổ, mở mang giaothông, các triều đại phong kiến đang lên Đại Việt còn quan tâm đến việcphát triển các ngành thủ công nghiệp trong nước, nhất là các ngành nghề cóliên quan đến quốc phòng của đất nước Từ thế kỷ XI trở đi, Đại Việt đãbắt đầu xuất hiện các xưởng thủ công của Nhà nước đặt ở kinh đô Cùngvới các xưởng thủ công của Nhà nước, các lò thủ công gia đình cũng đượcphát triển Các lò thủ công thời bình thì hướng vào nhu cầu phát triển sảnxuất và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân địa phương; thời chiến thì có thể mauchóng chuyển sang phục vụ các nhu cầu quân sự như các nghề khai mỏ,
Trang 8đúc đồng, rèn sắt, đóng thuyền v.v Đây là cơ sở sản xuất cung cấp chủyếu các loại vũ khí cho các lực lượng thủy binh, thổ binh và còn cung ứng,sửa chữa vũ khí cho quân triều đình nữa.
Để kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ Tổ quốc, tổ tiên ta đã banhành và thực hiện một chính sách lớn (có thể nói là quốc sách), đó là chínhsách "Ngụ binh ư nông" Đây là một cơ chế hoàn thiện về mặt động viên và
sử dụng nhân lực trong việc xây dựng lực lượng vũ trang phòng vệ đấtnước, xây dựng lực lượng quân sự Cơ chế này đã tạo ra cho dân tộc ĐạiViệt có binh mạnh, lương nhiều trong thời bình và thực hiện "toàn dân làlính", "cả nước đánh giặc" trong thời chiến, bảo đảm thế quân bình giữakinh tế và quốc phòng, giữa lực lượng sản xuất và lực lượng chiến đấu, bảođảm mối quan hệ tương hỗ giữa tiền phương và hậu phương trong chiến tranhgiữ nước, bảo đảm sự hiện diện của một quân đội thường trực, tinh thông võnghệ, sẵn sàng chiến đấu kết hợp với một lực lượng hùng hậu quân dự bịđông đảo, dễ dàng huy động "Ngụ binh ư nông' là một quan điểm lớn, mộtbài học lớn về kết hợp quốc phòng và kinh tế được phát huy tích cực tronghàng trăm năm chống giặc ngoại xâm để bảo tồn nền độc lập và phát triển củadân tộc ta
Như vậy, để có thể kết hợp tốt nhất hai nhiệm vụ nói trên phải sửdụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực, tài lực, vật lực và tùy từng giaiđoạn cụ thể của đất nước mà tập trung cho kinh tế hay quốc phòng Nhữngkhi không có chiến tranh, quân đội vừa được huấn luyện, tổ chức để sẵnsàng chiến đấu vừa phải huy động các nguồn lực của mình đóng góp chophát triển kinh tế, đồng thời đó cũng chính là chuẩn bị các tiền đề vật chất
để hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu khi có yêu cầu Nói cách khác, quânđội sản xuất, xây dựng kinh tế là một vấn đề thiết yếu, một yêu cầu kháchquan Với nước ta, quân đội sản xuất, xây dựng kinh tế còn là một truyềnthống Từ thời nhà Lý, Trần với chính sách "tĩnh vi nông, động vi binh",quân đội đã linh hoạt thực hiện chức năng vừa chiến đấu vừa sản xuất củamình Đặc biệt, thời nhà Nguyễn, quân đội luôn là lực lượng nòng cốt khai
Trang 9hoang mở đất Vùng Kim Sơn ngày nay là thành quả của đội quân NguyễnCông Trứ; vùng tứ giác Long Xuyên, đặc biệt là kênh Vĩnh Tế là địa danhgắn liền với tên tuổi tướng Thoại Ngọc Hầu cùng binh sĩ của ông.
Trong bối cảnh mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam là quyluật tồn tại và phát triển của cách mạng XHCN ở nước ta Đây chính là sựnối tiếp truyền thống hàng ngàn năm dựng nước đi đôi với giữ nước củaông cha ta Cùng với quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, toànĐảng, toàn dân, toàn quân ta đang huy động tất cả các nguồn lực để đẩymạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trước những thuận lợi cơ bản vànhững nguy cơ, thách thức lớn lao Nguy cơ, thách thức đáng chú ý là: sựtụt hậu xa hơn về kinh tế và âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lựcthù địch Trước tình hình đó, nhiệm vụ duy trì hòa bình, tạo môi trường ổnđịnh cho sự nghiệp xây dựng đất nước; tích cực tham gia sản xuất, xâydựng kinh tế đang là sứ mệnh lịch sử nặng nề nhưng vô cùng vinh quangcủa quân đội nhân dân Việt Nam đối với Tổ quốc
Trong nền kinh tế, quân đội và sự nghiệp phát triển nền kinh tế cómối quan hệ chặt chẽ với nhau Trước hết, quân đội phụ thuộc vào kinh tế,nhưng đồng thời quân đội lại có vai trò tác động tích cực đối với sự nghiệpxây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân
Về sự phụ thuộc của quân đội vào kinh tế, các nhà kinh điển Mác Lênin cho rằng, sức mạnh quân sự của một nước nói chung, sức mạnh quânđội nói riêng , xét đến cùng được quyết định bởi trình độ phát triển củanước đó Bàn về vấn đề này, C Mác và Ph Ăngghen đã chứng minh, tácđộng quyết định đến việc thay đổi các phương thức tiến hành chiến tranhkhông phải chỉ có các cuộc cách mạng xã hội mà còn do trình độ phát triểnkinh tế, của khoa học và kỹ thuật Theo C Mác và Ph Ăngghen, chiếnthuật quân sự là tùy thuộc ở trình độ kỹ thuật quân sự, cùng với chế tạo và
-sử dụng các loại vũ khí mới thì những hình thức chiến thuật và tác chiếncũng thay đổi Đây là một trong những quy luật phản ánh tác động của sựphát triển kinh tế đối với những hoạt động quân sự Như vậy, quân đội, sức
Trang 10mạnh quân đội phụ thuộc chặt chẽ vào kinh tế Từ bản chất, trạng tháichính trị tinh thần đến vũ khí trang bị, biên chế tổ chức, chiến lược chiếnthuật trong tác chiến của quân đội, xét đến cùng đều phụ thuộc vào kinh
tế và trình độ phát triển lực lượng sản xuất của mỗi một quốc gia
Cũng cần thấy rằng, quân đội không chỉ phụ thuộc thụ động vàokinh tế, mà còn tác động trở lại đối với kinh tế Sự tác động của quân độiđối với kinh tế được thể hiện thông qua sự tác động hai chiều: chiều tácđộng tiêu cực và chiều tác động tích cực Xem xét ở góc độ kinh tế thuầntúy, quân đội chỉ là người tiêu dùng, thậm chí là chủ thể tiêu dùng số lượnglớn của cải do nền kinh tế tạo ra Ph Ăngghen viết: "Bạo lực hiện nay làquân đội và hạm đội và cả hai - như tất cả chúng ta, đau xót thay, đều biết
rõ "tốn kém nhiều tiền một cách kinh khủng" Nhưng bạo lực không thểlàm ra tiền được "(1) Như vậy, tiêu dùng một khối lượng lớn của cải vậtchất và lực lượng lao động của xã hội trong quân đội tác động tiêu cựckhông nhỏ đối với quá trình phát triển kinh tế
Đối với sự tác động tích cực của quân đội đối với sự nghiệp pháttriển nền kinh tế quốc dân Về vấn đề này, C Mác cho rằng: "Nói chungquân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển"(2) Vai trò quân đội đốivới phát triển kinh tế ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, ở mỗi nước đượcthể hiện khác nhau, xuất phát từ bản chất và nhiệm vụ chính trị ở mỗi giaiđoạn Đối với quân đội nhân dân Việt Nam, vai trò của quân đội trong sựnghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân được thể hiện trênnhững nội dung cơ bản sau:
- Quân đội là lực lượng nòng cốt, chủ yếu trong bảo vệ đất nước,bảo vệ chế độ, tạo môi trường hòa bình, ổn định cho sự nghiệp xây dựng vàphát triển kinh tế
(1) C Mác v Ph à Ph Ăngghen, To n t àn t ập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, H Nà Ph ội, 1994.
Trang 11- Quân đội thực hành triệt để tiết kiệm trong mọi hoạt động củamình là sự đóng góp thiết thực của quân đội đối với sự nghiệp xây dựng vàphát triển nền kinh tế quốc dân.
Ngoài hai vai trò cơ bản trên, vai trò tích cực của quân đội trong sựnghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân còn được thể hiện ở việc khai thác
có hiệu quả mọi nguồn lực của quân đội (cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực,khoa học - công nghệ ) trong sản xuất, xây dựng và phát triển kinh tế - xãhội của đất nước (đây chính là nội dung cơ bản gắn liền với chủ đề nghiêncứu của đề tài) Thực tiễn, quân đội đang nắm trong tay một lực lượng cơ
sở vật chất kỹ thuật, khoa học - công nghệ hùng hậu và tiên tiến và vớinguồn nhân lực về cơ bản là trẻ trung, có sức khỏe, có ý thức tổ chức kỷluật và được đào tạo cơ bản trong các nhà trường, học viện trong và ngoàiquân đội, trong những ngành nghề đào tạo và sử dụng của quân đội cónhững ngành nghề mang tính lưỡng dụng Trong điều kiện hòa bình, cảnước khôi phục và phát triển kinh tế, quân đội ngoài nhiệm vụ chính làhuấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, nhưng trong một số trườnghợp cụ thể có thể sử dụng cho mục đích sản xuất và xây dựng kinh tế ởnhững mức độ khác nhau theo phương châm kết hợp quốc phòng với kinh
tế ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể, vừa vì lợi ích quốc phòng an ninh, vừa vìlợi ích kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái
Ở nước ta, vấn đề khai thác những nguồn lực của quân đội cho sảnxuất, xây dựng và phát triển kinh tế thường xuyên được Đảng, Nhà nước,
Bộ Quốc phòng chú trọng quan tâm Ngay từ buổi đầu mới thành lập quânđội, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Một là, chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hòa bình, bảo
vệ đất nước Hai là, tích cực tham gia sản xuất để góp phần xây dựng kinh
tế Hai nhiệm vụ ấy đều rất quan trọng, nhất trí và kết hợp chặt chẽ vớinhau Đảng và Chính phủ giao cho quân đội hai nhiệm vụ đó, và quân đội
ta phải cố gắng hoàn thành cho thắng lợi"(1) Quán triệt tư tưởng của Bác,
Trang 12lao động sản xuất tham gia xây dựng và phát triển kinh tế không chỉ là đòihỏi khách quan, mà còn là phương thức hay những mô hình cụ thể của việckhai thác những tiềm năng của quân đội cho mục đích phát triển kinh tế đãtrở thành truyền thống quý báu của quân đội, góp phần tích cực vào sựnghiệp xây dựng quân đội và phát triển kinh tế quốc dân.
1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về quân đội sản xuất, xây dựng kinh tế như một yêu cầu khách quan của cách mạng nước ta
Thấm nhuần sâu sắc quan điểm Mác - Lênin về mối quan hệ giữachiến tranh và kinh tế, xuất phát từ tình hình thực tế của cách mạng Việt Namcũng như truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông, ngay từ nhữngngày đầu thành lập, Đảng ta đã chủ trương gắn biện pháp kinh tế với biệnpháp quân sự để thực hiện các mục tiêu cách mạng Việc kết hợp này càngthể hiện rõ khi quân đội nhân dân Việt Nam ra đời Từ một lực lượng nhỏ béban đầu là đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, lực lượng vũ trangcủa Việt Nam không ngừng lớn mạnh, ngày càng thực hiện tốt hơn nhiệm
vụ đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất như Bác Hồ
đã gọi
Đảng ta luôn đánh giá sự đóng góp của quân đội đối với sự nghiệpphát triển kinh tế đất nước qua nhiều khía cạnh khác nhau:
Thứ nhất, đó là việc sử dụng với hiệu quả tối đa các chi phí dành
cho quốc phòng để vừa xây dựng được một quân đội mạnh, vừa tiết kiệmđược chi phí
Thứ hai, việc tổ chức bố trí quân đội phải thật hợp lý để vừa đáp
ứng được yêu cầu huy động cho chiến tranh khi cần thiết lại vừa có thểdành được nhiều nhất nhân lực, tài lực và vật lực cho phát triển kinh tế -kiến thiết đất nước
Trang 13Thứ ba, quân đội trực tiếp sản xuất, xây dựng kinh tế để vừa tự
trang trải một phần nhu cầu thiết yếu về trang thiết bị, nhu yếu phẩm, vừađóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước
Với những chủ trương trên, ngay từ những năm kháng chiến chốngPháp, Đảng ta đã luôn quan tâm chỉ đạo và hướng lực lượng quân đội vàoviệc đóng góp cho phát triển kinh tế
Nghị quyết Hội nghị quân sự cách mạng Bắc kỳ của Đảng (họp từ
15 đến 20-4-1945) đặt vấn đề: "Cần kíp gây dựng những căn cứ khángNhật tại những khu vực đủ điều kiện về địa hình, gây dựng những cơ sởquần chúng, lương thực, vũ khí quân nhu, lập xưởng sửa chữa súng và chếtạo súng ống, bom đạn, tìm thêm nhân viên kỹ thuật, ra sức thu nhặt, muasắm vũ khí, tích trữ lương thực, đặt kế hoạch mở con đường mua và vận tảimuối, phát triển mạnh chiến tranh du kích để chuẩn bị phát động tổng khởinghĩa Còn ở những nơi nếu có địch xông tới đóng căn cứ thì thực hiện sảnxuất, xây dựng vườn không, nhà trống Nghị quyết về "lập khu giải phóng"(ngày 4-8-1945) nêu lên một cách toàn diện các vấn đề chính trị, quân sự(trong đó có vấn đề vũ khí, tổ chức xưởng sửa chữa và lò chế tạo), giaothông, kinh tế - tài chính, văn hóa, cán bộ và tiền tệ (như ra "phiếu cứuquốc", "Khuyến khích tiết kiệm, ngăn ngừa xa xỉ") v.v
Cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra đời chưa đầy một tháng, thực dân Pháp đã quay lại tấn công miền Namnước ta Đất nước ở vào một thời điểm gian nan Các nguồn lực bị vắt kiệtbởi thực dân phong kiến và chiến tranh, cơ sở hạ tầng bị phá hủy, nạn đóixảy ra khắp nơi Trong bối cảnh cấp bách ấy, ngay sau khi thực dân Phápgây chiến ở Sài Gòn, ngày 25-11-1945 Ban chấp hành Trung ương đã ra
Chỉ thị kháng chiến kiến quốc mà thực chất nội dung là sự kết hợp quốc
phòng với kinh tế Chỉ thị vạch rõ nhiệm vụ trước mắt của nhân dân ta lúcnày phải vừa củng cố chính quyền cách mạng, vừa cải thiện đời sống nhândân, sẵn sàng với cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ chính quyền
Trang 14nhân dân và chủ quyền dân tộc Tiếp đến là chỉ thị của Ban Thường vụ
Trung ương ngày 9-3-1946 "Hòa để tiến", vạch rõ "sự chuyển hướng chiến
thuật từ sự đấu tranh về quân sự sang cuộc đấu tranh cả về quân sự lẫn chính
trị, kinh tế, văn hóa" Trong Chỉ thị toàn dân kháng chiến (ngày 22-12-1946),
những tư tưởng quân sự - kinh tế được Đảng cụ thể hóa và gắn chặt vàonhau ở một mức cao hơn nhằm thực hiện chủ trương "kháng chiến lâu dài,toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính" Trong chỉ thị này, Đảngđưa ra những hướng chỉ đạo cụ thể Về quân sự: "Triệt để dùng du kích vậnđộng chiến", vừa đánh vừa vũ trang thêm; vừa đánh vừa đào tạo thêm cánbộ; mỗi phố là một mặt trận, mỗi làng là một pháo đài, mỗi viên đạn diệt mộtquân thù; cướp súng giặc để bắn giặc Về kinh tế: Phải tự cấp tự túc về mọimặt; tăng gia sản xuất để kháng chiến; giữ gạo nuôi quân; vừa kháng chiếnvừa kiến quốc
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (họp ngày 5, 6 tháng 4năm 1947) đã vạch ra rằng, để duy trì chiến lược kháng chiến lâu dài phải
tổ chức "căn cứ địa một cách vững chắc", "chú trọng chế tạo vũ khí chống
xe tăng, chống ca-nô và vũ khí thô sơ", thực hiện "bộ đội tham gia sản xuất,tích trữ lúa, gạo, muối, ký ninh " Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hànhTrung ương Đảng khóa II đầu năm 1951 nhận định: "Muốn trường kỳkháng chiến phải luôn luôn bồi dưỡng kinh tế - tài chính, phải coi nhiệm vụkinh tế - tài chính là nhiệm vụ quan trọng Trung ương và các cấp phải tăngcường việc lãnh đạo kinh tế - tài chính là tăng thu giảm chi"
Việc thực hiện các Nghị quyết trên đã tạo nên một bước chuyển rất
cơ bản trong kinh tế, thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển mạnh mẽ, bảođảm về cơ bản yêu cầu ăn mặc cho bộ đội và nhân dân vùng tự do
Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, nền kinh tế hậu phương đãđược động viên mỗi năm một tăng cho yêu cầu tiền tuyến Cuối cuộc khángchiến, yêu cầu kinh tế cho chiến tranh đã tăng 20 lần so với thời kỳ đầu
Trang 15Trong điều kiện viện trợ từ bên ngoài chỉ chiếm khoảng 16% trongngân sách quốc phòng, việc thực hiện những Nghị quyết và những Chỉ thịcủa Đảng, của Hồ Chủ tịch về kháng chiến, kiến quốc đã phát huy tác dụngphục vụ cho yêu cầu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và can thiệp Mỹ, mà đỉnh cao là chiến thắng vĩ đại của chiến dịch ĐiệnBiên Phủ, mở đầu một giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạngnước ta đứng trước một tình thế mới: Miền Bắc được giải phóng tiến lênxây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam bị đế quốc Mỹ thế chân thực dânPháp thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, làm bàn đạp tiến công
ra cả nước Cách mạng nước ta cùng một lúc phải thực hiện hai nhiệm vụchiến lược: tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc, xây dựng miền Bắcthành hậu phương vững chắc của cách mạng cả nước; tiếp tục thực hiệncách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.Tình huống mới đặt ra nhiệm vụ mới Đảng nhận thức rất rõ cần phải chỉđạo cụ thể và quyết liệt hơn hoạt động kinh tế của quân đội Chính với tinhthần ấy, năm 1956, ta quyết định chuyển 8 vạn quân thường trực chiến đấusang tham gia khôi phục kinh tế, xây dựng đất nước Đây được coi như sựkiện mở đầu cho việc quân đội tham gia lao động sản xuất và xây dựngkinh tế với qui mô lớn, có tổ chức một cách hệ thống và chặt chẽ Từ đóđến nay, ở những thời điểm cách mạng khác nhau, nhất là những khi cáchmạng Việt Nam có những bước chuyển quan trọng, Đảng ta luôn có sự lãnhđạo kịp thời đối với nhiệm vụ lao động sản xuất xây dựng kinh tế của quânđội
Trong số 8 vạn quân chuyển sang làm kinh tế năm 1956, một sốđược cử về công tác ở các cơ quan chính quyền và đơn vị kinh tế, số còn lạiđược tổ chức thành các tiểu đoàn, trung đoàn trực thuộc Bộ Quốc phòngtham gia xây dựng các tuyến đường giao thông chiến lược quan trọng ởTây Bắc, các khu công nghiệp Thái Nguyên, Việt trì, thủy lợi Bắc - Hưng -Hải Một bộ phận chuyển sang xây dựng nông trường quân đội trên các
Trang 16vùng chiến lược quan trọng ở Tây Bắc, miền Tây Thanh - Nghệ - Tĩnh,vùng ven biển Ninh Bình, Nam Định
Sự quan tâm của Đảng đối với các hoạt động kinh tế của quân độicòn được thể hiện ở Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng(3/58), trong đó nhấn mạnh việc xây dựng quân đội phải khéo sắp xếp saocho ăn khớp với xây dựng kinh tế Ngay sau khi Hội nghị Trung ương, Ban
Bí thư đã có thêm Chỉ thị 83/CT-TW nêu rõ: Trung ương quyết địnhchuyển một số đơn vị quân đội sang sản xuất, chủ yếu là sản xuất nôngnghiệp, xây dựng nông trường ở những khu vực quan trọng về kinh tế,chính trị, quân sự Đây cũng chính là giai đoạn ra đời của Cục Nông binh(1956) (sau đổi thành Cục Nông trường) có nhiệm vụ tổ chức, quản lý cácnông trường trong quân đội, đánh dấu sự khởi đầu của ngành kinh tế quânđội
Từ khi thành lập (1956) cho tới cuối những năm 50, Cục Nôngtrường đã thành lập được 29 nông trường quân đội, tiếp nhận hơn 3 vạnquân Sự hình thành các nông trường quân đội đã tạo điều kiện để thực hiệnđiều chỉnh lực lượng quân đội sau chiến tranh, tạo thế bố trí chiến lược mớitrên các địa bàn quan trọng Trên cơ sở tổng kết bước đầu kinh nghiệm hoạtđộng kinh tế của quân đội, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9-1960) tiếptục nhấn mạnh việc kết hợp kinh tế với quốc phòng như một nội dung quantrọng để xây dựng hậu phương lớn trên tất cả các mặt Báo cáo chính trị tạiĐại hội nhấn mạnh: "Để bảo vệ vững chắc miền Bắc xây dựng chủ nghĩa
xã hội, kịp thời ngăn ngừa và đối phó với âm mưu của đế quốc Mỹ và bè lũtay sai, phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa xây dựng kinh tế vớicủng cố quốc phòng; trong xây dựng kinh tế phải thấu suốt nhiệm vụ quốcphòng, cũng như trong củng cố quốc phòng, phải khéo sắp xếp cho ăn khớpvới công cuộc xây dựng kinh tế" Đây chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cáchoạt động kinh tế cụ thể của quân đội trong các giai đoạn sau này
- Thời kỳ 1961-1975:
Trang 17Đây là thời kỳ phong trào tăng gia sản xuất phục vụ nhiệm vụ ởchiến trường, làm phá sản các chiến lược chiến tranh của Mỹ như: Chiếntranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh, đấu tranh giảiphóng miền Nam thống nhất đất nước được quán triệt sâu sắc trong quânđội Sự tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác này được thểhiện khá rõ qua nhiều Nghị quyết của Quân ủy Trung ương Ngày 17-2-
1972 Quân ủy Trung ương họp ra Nghị quyết về nhiệm vụ quân sự năm
1972, trong đó dành một phần nêu rõ phương hướng cụ thể trong sản xuấtquốc phòng, củng cố và xây dựng các cơ sở hậu phương quân đội Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (27-1-1973), ngày 25-6-1973 Quân ủyTrung ương ra Nghị quyết về tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn mới vànhấn mạnh đến vấn đề giảm quân số, quân đội tham gia xây dựng kinh tếnhằm tự túc một phần lương thực, thực phẩm và thực hành tiết kiệm trongtiêu dùng
Chủ trương và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Quân ủyTrung ương về việc kết hợp kinh tế với quốc phòng và về việc quân độilàm kinh tế, tính chất cấp bách và thường xuyên của việc quân đội tham gialao động sản xuất, xây dựng kinh tế đã được Bộ Quốc phòng cụ thể hóathành hàng loạt quyết định quan trọng như:
+ Thành lập phòng sản xuất nông nghiệp trực thuộc Tổng cục Hậucần (27-7-1962) để chỉ đạo phong trào tăng gia sản xuất nông nghiệp trongtoàn quân
+ Tổ chức nhiều cơ sở sản xuất lương thực và chăn nuôi ở Mà Đá,Suối Ràng, Bù Túc, Bàu Có, Tà Lài
+ Tổ chức các đoàn hậu cần 81, 82, 83
+ Thành lập Hội đồng cung cấp lương thực Trung ương cục miềnNam tháng 3-1962
Trang 18+ Phát động phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm vớitinh thần có đất có ăn, sản xuất là một mũi tiến công, tạo ra nguồn cung cấphậu cần tại chỗ để đứng vững tại chiến trường bất kỳ tình huống nào.
- Thành lập cục sản xuất trực thuộc Tổng cục Hậu cần (5/1954) làmnhiệm vụ giúp Tổng cục nghiên cứu, chỉ đạo quân đội tham gia xây dựngkinh tế
- Quyết định tổ chức binh đoàn xây dựng kinh tế 773 tháng 7-1973
- Thành lập 20 trung đoàn sản xuất ở các tỉnh Nam Hà, Thái Bình,Hải Hưng, Hưng Yên, Hà Tây với 4000 người vào tháng 7/1974
- Thành lập Cục kế hoạch kinh tế quân sự trực thuộc Bộ tổng Thammưu với nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề về kết hợp với quốc phòng vàongày 20-3-1975
- Thời kỳ 1976-1985:
Ngay sau ngày cả nước độc lập thống nhất cùng đi lên CNXH, quathực tiễn 30 năm chiến tranh giải phóng, Đại hội lần thứ IV của Đảng mộtlần nữa khẳng định: "Kết hợp kinh tế với quốc phòng là một trong nhữngnội dung cơ bản và quan trọng của đường lối xây dựng nền kinh tế XHCNtrên cả nước ta" Đường lối đó đã chỉ rõ: "Công cuộc xây dựng nền kinh tếXHCN trên cả nước trong thời bình phải đồng thời đáp ứng cùng một lúccác nhu cầu: cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện quyền làm chủ củanhân dân; đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN; mở rộng quan hệ kinh tế vớicác nước, đảm bảo quốc phòng an ninh thường xuyên vững vàng Do đó,trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội phải khéo léo kết hợp chặt chẽ xâydựng kinh tế với củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh chính trị quốc gia"
Với quan điểm đã được xác định, ngay từ tháng 3-1976, Bộ Chínhtrị đã ra Nghị quyết về việc quân đội làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế với
5 nội dung:
- Xây dựng vùng kinh tế mới, kết hợp kinh tế - quốc phòng;
Trang 19- Xây dựng cơ bản;
- Đánh cá, khai thác hải sản kết hợp kinh tế với quốc phòng trênvùng biển và hải đảo;
- Sản xuất và xây dựng kinh tế cho quân đội và nhân dân;
- Giúp các nước bạn xây dựng các công trình kinh tế và quốc phòngNgay sau khi Bộ Chính trị ra Nghị quyết về quân đội làm kinh tế,Hội nghị quân ủy Trung ương và Bộ quốc phòng (4-1976) thống nhất mụctiêu làm kinh tế của quân đội là bảo đảm một phần nhu cầu cho quân đội,tham gia xây dựng một số vùng kinh tế chiến lược, xây dựng giao thôngthủy lợi, một số công trình trọng điểm của Nhà nước, góp phần phân bố lạidân cư Để cụ thể hóa các Nghị quyết của Bộ Chính trị và Quân ủy Trungương, Bộ Quốc phòng đã thành lập Tổng cục xây dựng kinh tế thuộc BộQuốc phòng (4-1976) nhằm giúp Bộ Quốc phòng lập kế hoạch, chỉ đạo lựclượng tham gia xây dựng kinh tế, tổ chức các đơn vị quân đội chuyên làmkinh tế Để tạo môi trường thuận lợi về việc tổ chức các hoạt động kinh tếcủa quân đội, Nghị quyết số 250/NQTW ngày 17-3-1976 và Nghị quyếtcủa Hội đồng Chính phủ số 315/TTg ngày 3-8-1976 đã xác định lực lượngsản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội bao gồm: lực lượng quân độichuyên xây dựng kinh tế, các xí nghiệp công nghiệp quốc phòng và các lựclượng sẵn sàng chiến đấu kết hợp sản xuất
Sau một giai đoạn bị gián đoạn bởi chiến tranh biên giới, năm 1979lực lượng quân đội làm kinh tế chuyển thành lực lượng chiến đấu và phục
vụ chiến đấu lại quay trở lại với hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế Do
đó, ngày 5-11-1980, Bộ Chính trị có Nghị quyết 27/NQTW và Nghị quyết
số 30/NQTW và ngày 26-12-1980 Hội đồng Chính phủ có Nghị quyết
số 381/CP về việc giao nhiệm vụ cho quân đội trong giai đoạn mới Hiệnthực hóa cac chủ trương này, ngày 16-6-1980 Bộ Quốc phòng có Quyếtđịnh số 383/QĐ- QP thành lập Cục Kế hoạch kinh tế thuộc Bộ Quốc phòng
để thực hiện các nhiệm vụ như:
Trang 20- Nghiên cứu đề xuất nhiệm vụ, kế hoạch quân đội làm nhiệm vụxây dựng kinh tế.
- Chuẩn bị kế hoạch để Bộ giao nhiệm vụ cho các đơn vị và hướngdẫn các đơn vị ký kết các hợp đồng kinh tế với các cơ quan chủ quản củaNhà nước; hướng dẫn việc thi hành các luật lệ, chế độ, chính sách, thủ tụcnguyên tắc làm kinh tế
- Theo dõi tổng hợp tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch, kịpthời phát hiện để Bộ chỉ đạo hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch được giao
Với tinh thần đóng góp cao nhất cho sự nghiệp xây dựng kinh tế,mặc dù từ thập kỷ 80 trở đi, kinh tế - xã hội nước ta rơi vào khủng hoảngnhưng hoạt động kinh tế của quân đội vẫn được duy trì và có bước pháttriển mới Mười vạn quân trong tổng số 1,3 triệu được bố trí làm kinh tế vớinhững phương hướng chính là:
+ Trồng rừng, cây công nghiệp kết hợp với xây dựng căn cứ
+ Làm thủy lợi, lấn biển kết hợp với xây dựng các hậu cứ quân khu+ Làm đường sá, cầu cống kết hợp với yêu cầu quốc phòng
+ Đánh cá kết hợp với tuần tra bảo vệ biển
+ Kết hợp sản xuất hàng dân dụng (kể cả hàng xuất khẩu) với sửachữa vũ khí đạn dược
Việc quân đội để một phần lực lượng làm kinh tế trong giai đoạn này
có ý nghĩa chiến lược quan trọng vì vừa duy trì lực lượng chiến đấu cần thiết,vừa tranh thủ làm kinh tế hỗ trợ giảm bớt khó khăn của nền kinh tế, bổ sungnhững thiếu hụt mà các ngành kinh tế không đảm bảo được cho quân đội Qui
mô sản xuất xây dựng kinh tế của quân đội không ngừng được mở rộng vàphát triển Để đáp ứng yêu cầu quản lý, ngày 7-11-1985 Hội đồng Bộ trưởng
có Nghị định số 260/HĐBT thành lập Tổng cục Kinh tế thuộc Bộ Quốc phòng
để chỉ đạo, quản lý các lực lượng quân đội làm kinh tế thực hiện các chínhsách, chế độ chung của Đảng và Nhà nước Tổng cục Kinh tế có nhiệm vụ:
Trang 21+ Lập qui hoạch và kế hoạch quân đội làm kinh tế hàng năm, 5 năm
và dài hạn nằm trong qui hoạch chung và kế hoạch Nhà nước
+ Chỉ đạo các đơn vị quân đội làm kinh tế thực hiện đúng đắn cácchính sách, chế độ quản lý của Nhà nước, theo nguyên tắc hạch toán kinh tế
và kinh doanh XHCN; nghiên cứu đề nghị với Bộ Quốc phòng và Hội đồng
Bộ trưởng quyết định những chính sách, chế độ áp dụng cho những đơn vịquân đội làm kinh tế
+ Ký kết các hợp đồng làm kinh tế, kể cả các hợp đồng liên quantới xuất nhập khẩu với các ngành kinh tế Nhà nước và với các địa phương
+ Tổ chức chỉ đạo việc quân đội hợp tác kinh tế với Lào và Campuchia
- Thời kỳ 1986 đến nay:
Thời kỳ đổi mới với hai đặc trưng nổi bật nhất là việc chuyển sang
cơ chế thị trường, giải phóng lực lượng sản xuất trong nước và mở cửa hộinhập với nền kinh tế thế giới đã đặt ra trước quân đội những nhiệm vụ yêucầu hết sức mới mẻ Các Đại hội của Đảng diễn ra trong thời kỳ này tiếptục xác định phương hướng mới của việc gắn nhiệm vụ an ninh quốcphòng, bảo vệ Tổ quốc với xây dựng đất nước
Văn kiện Đại hội IX của Đảng ghi rõ: "Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc làsức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sựlãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sứcmạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lựclượng và thế trận an ninh nhân dân Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốcphòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược,qui hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội"
Với quan điểm nhất quán đó, vấn đề quân đội làm kinh tế, góp phầnxây dựng kinh tế, đẩy mạnh CNH, HĐH được đặt ra tích cực với nhữngchủ trương mới, phù hợp với những nét mới trong đời sống chính trị, kinh
tế - xã hội, tư tưởng của đất nước
Trang 22Trong vấn đề này, sự đổi mới tư duy quốc phòng được thể hiện ởNghị quyết 02 của Bộ Chính trị về điều chỉnh chiến lược công tác quốcphòng, chuyển từ quốc phòng phục vụ chiến tranh sang quốc phòng thờibình nhằm chuẩn bị mọi khả năng sẵn sàng huy động tiềm lực đất nướcphục vụ yêu cầu bảo vệ Tổ quốc có ý nghĩa chiến lược quan trọng Nghịquyết đã xác định các quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đó lànền quốc phòng luôn kết hợp sức mạnh chính trị, kinh tế, văn hóa, khoahọc kỹ thuật, đối ngoại với sức mạnh quân sự, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụquốc phòng với nhiệm vụ an ninh, lấy sức mạnh kinh tế - xã hội làm cơ sở
để tăng cường tiềm lực quốc phòng
Để tạo điều kiện cho quân đội thực hiện nhiệm vụ làm kinh tế tronggiai đoạn mới, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và Bộ Quốc phòng
đã ra nhiều quyết định và chỉ thị cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 02:
+ Ngày 14-3-1987, HĐBT có Chỉ thị 260/CT về huy động tiềm lựccủa quân đội cho sự nghiệp xây dựng đất nước, thực hiện hai nhiệm vụchiến lược bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trongtình hình mới, trong đó yêu cầu Thủ trưởng các ngành, các cấp cần khẳngđịnh nhiệm vụ quân đội sản xuất, xây dựng kinh tế là một nhiệm vụ to lớn,lâu dài, cực kỳ quan trọng trong giai đoạn cách mạng hiện nay Các ngành,các địa phương cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với quân đội để thúc đẩykinh tế phát triển, đồng thời phải sản xuất xây dựng kinh tế theo vùng, phảiđặc biệt chú trọng xây dựng kinh tế trung du và miền núi phía Bắc, vùngkinh tế Tây Nguyên
+ Ngày 3-3-1989 Chủ tịch HĐBT (nay là Thủ tướng Chính phủ) cóChỉ thị 46/CT cho phép quân đội được sử dụng các trang thiết bị, nhà cửa,đất đai do quân đội đang quản lý, không sử dụng cho quốc phòng đưa ralàm kinh tế nhằm góp phần gìn giữ tiềm lực công nghiệp quốc phòng, thamgia xây dựng kinh tế và cải thiện đời sống cho bộ đội
Trang 23+ Ngày 23-5-1998 Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Chỉ thị103/CT-ĐUQSTƯ về việc sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp trong quânđội.
+ Ngày 1-8-1998 Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Nghị quyết số150/NQ-ĐUQSTW về nhiệm vụ tham gia lao động sản xuất, làm kinh tế,phát huy vai trò nòng cốt, tham gia xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội,củng cố quốc phòng an ninh trên các địa bàn chiến lược
+ Để đáp ứng yêu cầu phát triển mới, ngày 25-4-2002 Đảng ủyQuân sự Trung ương ra Nghị quyết số 71/ ĐUQSTW về nhiệm vụ sản xuất,xây dựng kinh tế của quân đội trong thời kỳ mới - tiếp tục sắp xếp, đổi mới,phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước
Như vậy, từ những tư tưởng của Bác về quân đội tham gia sản xuất,
từ những quan điểm chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt của Đảng và thực tiễnlịch sử cách mạng Việt Nam; đồng thời căn cứ vào tình hình trong nước vàbối cảnh quốc tế trong giai đoạn mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định: "Thamgia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế là một nhiệm vụ chính trị có ýnghĩa chiến lược của quân đội ta"
1.1.3 Những kết quả và tác động của việc quân đội tham gia sản xuất và xây dựng kinh tế
Với sự quan tâm của Đảng, sự chỉ đạo sát sao của Đảng ủy Quân sựTrung ương, sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của Bộ Quốc phòng, lực lượngquân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế đã không ngừng trưởngthành Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của kinh tế thị trường, cácdoanh nghiệp quân đội vẫn vững vàng bám trụ trên các địa bàn chiến lược,sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm cung cấp cho xã hội
Một là, quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế đã góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh, giải quyết những khó khăn của
Trang 24đất nước vào những giai đoạn gay cấn khi đất nước ở vào thời điểm giữa thời hòa bình và thời chiến:
Đặc điểm của đất nước ta trong suốt mấy thập kỷ sau Cách mạngtháng Tám năm 1945 là chiến tranh và hòa bình xen kẽ nhau, rhời gianhưởng hòa bình không được bao lâu, cả nước lại vào cuộc chiến đấu mới.Vào thời điểm ấy, bộ đội làm kinh tế là lực lượng dự bị đầu tiên và có hiệuquả nhất tham gia vào cuộc chiến Khi đất nước chuyển từ thời chiến sangthời bình, lực lượng làm kinh tế của quân đội là lực lượng đảm nhiệmnhững nhiệm vụ khó khăn, gian khổ nhất trong việc khôi phục nền kinh tế
bị tàn phá, khai phá những vùng đất mới Năm 1956, chúng ta chuyển quân
ra xây dựng các nông trường, công trường lớn của đất nước Năm 1960,ngay sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, rất nhiều cán bộchiến sỹ miền Nam tập kết từ các nông trường, công trường đã lên đườngtrở lại miền Nam chiến đấu Năm 1976, sau thắng lợi của cuộc kháng chiếnchống Mỹ, hàng chục vạn quân lại chuyển ra lao động sản xuất trên mọilĩnh vực, khôi phục đất nước bị tàn phá do cuộc chiến tranh hủy diệt của đếquốc Mỹ Chỉ 3 năm sau, chiến tranh biên giới lại nổ ra Nhiều nông, lâmtrường quân đội là những đơn vị đầu tiên chiến đấu chặn địch ở biên giới
và sau đó, nhiều đơn vị đã đi thẳng từ nông, lâm trường ra mặt trận
Đối với quân đội thì bộ đội làm kinh tế là biện pháp hiệu quả nhấtkhi tình hình chưa cho phép giảm ngay quân số, nhưng ngân sách Nhànước lại quá hạn hẹp Lực lượng quân đội sản xuất xây dựng kinh tế vừa tựnuôi được mình, vừa tạo nên nguồn thu khác cho quân đội, giảm bớt sức ép
do mất cân đối về tài chính trong công tác chính sách và bảo đảm đời sốngcho bộ đội Điều này thể hiện rõ nhất vào thời kỳ 1980 - 1985, khi đất nướcrơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng
Ngay cả hiện nay, các doanh nghiệp quân đội vẫn là nơi giải quyếtviệc làm cho khá đông lao động Việc giải quyết đủ việc làm và thu nhậpcho người lao động (cả cho con em họ, nhất là ở các nhà máy quốc phòng)
Trang 25là một chỉ tiêu quan trọng trong kế hoạch hàng năm của doanh nghiệp quânđội trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp này thường xuyênđảm bảo việc làm cho khoảng 86 nghìn lao động với thu nhập bình quân
800 nghìn đồng/ người/ tháng (năm 2000) là một cố gắng rất lớn của quânđội, nó cho phép duy trì được đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề đểphục vụ nhiệm vụ quốc phòng khi cần thiết
Hai là, việc quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế đã góp phần gìn giữ năng lực sản xuất quốc phòng, nâng cao năng lực chiến đấu cho quân đội.
Các xí nghiệp quốc phòng, đơn vị xây dựng công trình, bay trựcthăng, bay chụp đo vẽ bản đồ, dịch vụ hậu cần trên biển, một số cơ sởnghiên cứu, đào tạo, chữa bệnh do yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng đối phó vớichiến tranh, phải duy trì một năng lực khá lớn về trang bị, lao động, cán bộ
kỹ thuật nếu chỉ phục vụ cho quốc phòng đơn thuần thời bình thì năng lựcsản xuất dư thừa Các đơn vị này đã được tổ chức thành các doanh nghiệphoặc được cho phép kết hợp làm kinh tế Nhờ kết hợp làm kinh tế, các xínghiệp công nghiệp quốc phòng đã giữ được đội ngũ cán bộ, công nhân kỹthuật, tạo tích lũy đầu tư, lại tăng năng lực phục vụ quốc phòng Trong đó
có một số đơn vị nhỏ làm kinh tế đã tạo nên năng lực mới với trình độ côngnghệ tiên tiến như công ty bay dịch vụ, bằng vốn tự tích lũy đã mua đượchàng chục máy bay trực thăng hiện đại; công ty Tân cảng Sài Gòn hàngnăm tạo lợi nhuận 150 - 200 tỷ đồng, đã tự nâng cấp cầu cảng, mua sắm cáctrang bị bốc xếp ở trình độ hiện đại của thế giới; các công ty xây dựng muasắm được nhiều thiết bị mới Những trang thiết bị này không chỉ phục vụcho hoạt động kinh doanh của họ mà khi chiến tranh xảy ra thì đây là lựclượng quan trọng tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu của quân đội
Ba là, lực lượng quân đội bám trụ trên biên giới, trên địa bàn chiến lược, xây dựng nên các vùng kinh tế - dân cư - xã hội, đã trở thành cầu nối giữa Đảng với đồng bào các dân tộc, giữa quân đội và nhân dân, củng cố lòng tin của đồng bào vùng sâu, vùng xa vào đường lối, chính sách của
Trang 26Đảng, tạo thế trận quốc phòng - an ninh biên giới và trên địa bàn chiến lược
Những nông trường quân đội từ năm 1956 - 1960 đã biến các vùngheo hút như Mộc Châu, Điện Biên, Đông Hiếu, Tây Hiếu , các vùng bãibồi ven biển như Kim Sơn thành các khu dân cư sầm uất Các Tổng Công
ty cà phê Đông Nam Bộ, Tây Nguyên ngày nay đều đi lên từ bàn tay khaiphá của những người lính thời kỳ 1976 - 1985
- Việc xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng do quân đội thực hiện
là tiếp tục nhiệm vụ khai sơn phá thạch của bộ đội ta trước đây tiến vàokhai phá vùng Tây Bắc, biến những vùng núi heo hút thành những vùngkinh tế mới, giúp đỡ dân sản xuất, làm công tác dân vận, tạo thế trận lòng dân,thế trận quốc phòng - an ninh bảo vệ biên giới và các địa bàn chiến lược Tìnhhình quốc phòng - an ninh tại các khu kinh tế - quốc phòng hiện nay đều đượcgiữ vững Vừa qua trên địa bàn Tây Nguyên đã xảy ra cuộc bạo loạn chính trị
và nhiều làng bản đều có người tham gia biểu tình, nhưng riêng khu kinh tế quốc phòng của Binh đoàn 15 có 4.030 hộ đồng bào dân tộc thì không có hộnào tham gia Không những thế, tất cả 104 buôn làng có người của binh đoàn
-15 làm việc, không có hộ đồng bào dân tộc đi biểu tình Như vậy, hiệu quả
về chính trị của khu kinh tế - quốc phòng đã tác động tới hàng vạn hộ củađồng bào dân tộc Tây Nguyên Điều đó khẳng định ý nghĩa to lớn và sự cầnthiết của việc xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng do quân đội thựchiện
- Trên biển: sự có mặt tàu đánh cá, tàu dịch vụ hậu cần của quân độitrên những vùng biển xa bờ tạo sự yên tâm tin tưởng cho ngư dân đếnnhững vùng biển xa bờ giàu tiềm năng để đánh bắt hải sản như vùng đảoTrường Sa Đồng thời sự có mặt của quân và dân trên biển đã góp phầnkhẳng định chủ quyền vùng biển nước ta và là lực lượng cần thiết cùng bộđội hải quân bảo vệ biên giới trên biển
Trang 27Bốn là, hoạt động kinh tế của quân đội tạo nguồn thu cho ngân sách, cải thiện đời sống bộ đội.
Cho đến nay, mỗi năm các doanh nghiệp của quân đội đóng thuế theopháp luật khoảng 500 tỷ đồng và góp phần bổ sung cho ngân sách quốc phòngkhoảng 200 tỷ đồng Đây là sự đóng góp đáng ghi nhận của quân đội cho đấtnước Bên cạnh đó, việc bộ đội tăng gia sản xuất cải thiện đời sống đã trở thànhtruyền thống và đã đạt được những kết quả đáng kể, có giá trị lớn Kết quả thuhoạch hàng năm: lương thực quy thóc 7.500 tấn; rau củ quả 50.000 tấn; thịtquy xô 3.500 tấn; cá tươi 1.800 tấn; trồng 4 triệu cây Ngoài những sản phẩmtrên, nhiều đơn vị còn trồng được đậu lạc, vừng, mía, cây công nghiệp dàingày để tăng nguồn thu cho đơn vị Chỉ tính riêng giá trị các sản phẩm chủyếu thu được từ tăng gia sản xuất như: rau xanh, thịt cá, lương thực năm 2000lực lượng bộ đội thường trực đã thu được khoảng 150 tỷ đồng Những kết quảthu được từ hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế có ý nghĩa: Trước hết, gópphần cải thiện đời sống cho cán bộ, chiến sĩ Đây là cơ sở để tăng cường sứckhỏe, củng cố lòng tin, lập trường và sự yên tâm công tác để thực hiện tốtnhiệm vụ được giao; sự đóng góp vào ngân sách nhà nước có một ý nghĩa rấtquan trọng đối với quá trình tích lũy vốn để thực hiện CNH, HĐH đất nước
Năm là, các doanh nghiệp quân đội đang đi đầu trong chủ trương sắp xếp lại doanh nghiệp của nhà nước, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo thành một trong những động lực cho nền kinh tế
Sau khi sắp xếp lại, quân đội hiện có 169 doanh nghiệp, trong đókhông còn doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng (trong khi đó, các doanhnghiệp nhà nước hiện nay còn 18% loại này); năm 2000 so với năm 1999,doanh thu các doanh nghiệp quân đội tăng bình quân 23,2%, lợi nhuận tăngbình quân 14,3%, số doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả 68% (mức này củanhà nước là 40%) Trong đó có một số doanh nghiệp đạt lợi nhuận rất cao:Công ty Tân cảng Sài Gòn (162,7 tỷ đồng), bay dịch vụ (81,5 tỷ đồng),
Trang 28Lũng Lô (20,7 tỷ đồng ) Số doanh nghiệp thua lỗ chỉ có 8 doanh nghiệp,chiếm khoảng 4,7% (mức này của nhà nước là 29%).
Với tốc độ tăng trưởng khá cao và liên tục, các chỉ tiêu chủ yếu từnăm 1990 đến năm 2000 tăng hàng chục lần; doanh thu từ 490 tỷ lên10.800 tỷ, nộp ngân sách từ 80 tỷ lên 800 tỷ Lợi nhuận năm 2000 đạt gần
500 tỷ đồng Đồng vốn cấp được bảo toàn và phát triển Điều này chứng tỏrằng, xét về mặt kinh tế, các hoạt động kinh tế của quân đội là có hiệu quả
Tổ chức sản xuất và đầu tư theo chỉ đạo hướng tới hình thànhnhững doanh nghiệp mạnh trên các lĩnh vực ở những địa bàn chiến lược kếthợp chặt chẽ kinh tế quốc phòng đã chứng tỏ hiệu quả và thế mạnh củaquân đội Với khối lượng đầu tư trong 10 năm qua khá lớn (khoảng 3.500
tỷ đồng) từ nguồn ngân sách cấp và quỹ đầu tư từ hiệu quả sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp mang lại, các doanh nghiệp quân đội đã tăngcường đáng kể khả năng cạnh tranh, đồng thời nâng cao đáng kể tiềm lựccông nghiệp quốc phòng
Sáu là, quân đội đã tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng ở hầu hết các lĩnh vực, các ngành, các vùng kinh tế quan trọng của đất nước
Hiện nay, hầu như không có lĩnh vực then chốt nào của nền kinh tếquốc dân không có mặt các doanh nghiệp quân đội: giao thông, thủy lợi,thủy điện, xây dựng, khai thác mỏ, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, đóngtàu, công nghệ thông tin, bay dịch vụ, bay chụp đo vẽ bản đồ, nông lâmngư nghiệp, trồng rừng, lấn biển, nhất là xây dựng cơ sở hạ tầng ở vùngsâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Có thể nói, ngành nào, lĩnh vực nào, vùngnào cũng có những dấu ấn, những công trình trọng điểm do quân đội thựchiện, góp phần làm thay đổi diện mạo của đất nước như: Nhiệt điện PhảLại, thủy điện Hòa Bình, thủy điện Yaly, đường quốc lộ 1, 18, Bắc ThăngLong - Nội Bài, đường 5, đường Hồ Chí Minh
Trang 29Ra đời và trưởng thành trong sự phát triển của cách mạng ViệtNam, bộ đội sản xuất, xây dựng kinh tế đã không ngừng phấn đấu vươn lênhoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dântộc, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,làm tròn nghĩa vụ quốc tế Trong quá trình xây dựng và phát triển, bộ độisản xuất xây dựng kinh tế luôn luôn được sự quan tâm sâu sắc, sự lãnh đạo,chỉ đạo chặt chẽ của Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc phòng và được sự giúp đỡtận tình của các bộ, ngành, địa phương cả nước và cũng tỏ ra xứng đáng,đúng với tên gọi đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sảnxuất mà Bác Hồ trao tặng.
1.2 NHỮNG THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT, XÂY DỰNG KINH TẾ TRONG THỜI GIAN TỚI
1.2.1.Những nét mới về điều kiện trong nước và quốc tế
Bối cảnh quốc tế, trong nước có tác động rất lớn đến việc kết hợpkinh tế với quốc phòng, từ đó tác động đến quy mô và phương thức hoạtđộng kinh tế của quân đội Hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn
đi liền với nhau nhưng tùy theo điều kiện cụ thể của từng giai đoạn cáchmạng mà nhiệm vụ này hay nhiệm vụ khác được đặt lên hàng đầu Nếu tìnhhình thế giới và khu vực ổn định, có thể tập trung cho phát triển kinh tế,quân đội có thể tham gia lao động sản xuất, làm kinh tế nhiều hơn Nếunguy cơ chiến tranh đến gần, thậm chí sắp xảy ra thì việc chuyển hướngsản xuất phục vụ nhu cầu quân đội lại đặt ra cấp thiết hơn, chức năng xâydựng, kiến thiết đất nước của quân đội sẽ bị đặt sau chức năng chiến đấu,bảo vệ Tổ quốc Đặc trưng của bối cảnh quốc tế và trong nước hiện nay làviệc bao gồm cả thuận lợi và khó khăn, cả nhân tố tích cực và tiêu cực
1 Bối cảnh quốc tế
Trang 30Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nhận định: Thế kỷ 20 ghi đậmtrong lịch sử loài người những dấu ấn cực kỳ sâu sắc Đó là thế kỷ khoahọc và công nghệ tiến nhanh chưa từng thấy, giá trị sản xuất vật chất tănghàng chục lần so với thế kỷ trước; kinh tế phát triển mạnh mẽ xen lẫnnhững cuộc khủng hoảng lớn của chủ nghĩa tư bản thế giới và sự phân hóagay gắt về giàu nghèo giữa các nước, các khu vực Đó là thế kỷ diễn ra haicuộc chiến tranh thế giới đẫm máu cùng hàng trăm cuộc xung đột vũ trang.
Đó cũng là thế kỷ chứng kiến một phong trào cách mạng sâu rộng trênphạm vi toàn thế giới, với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga -cuộc cách mạng vĩ đại mở ra thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH; thắng lợicủa cách mạng XHCN ở một loạt nước châu Âu, châu Ávà Mỹ Latinh; sựgiải phóng hầu hết các nước thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, sự phát triểncủa phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào hòa bình, dânchủ, mặc dù vào thập niên cuối, CNXH hiện thực tạm thời lâm vào thoáitrào"
Đại hội cũng nhận định: "Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biếnđổi" Những hướng biến đổi này sẽ tác động không nhỏ tới việc bố trí lựclượng, tổ chức hoạt động của quân đội trên các mặt, trong đó có hoạt độnglao động sản xuất và xây dựng kinh tế
Thứ nhất, hòa bình ổn định trở thành nhu cầu và đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới
Một mặt, việc các nước dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, thamgia tích cực vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực tạo ra môi trườngtương đối ổn định, giúp ta huy động mọi nguồn lực (trong và ngoài nước)cho việc xây dựng đất nước, cho làm kinh tế Hòa vào xu thế chung đó,Việt nam đã chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đaphương hóa, đa dạng hóa quan hệ, đã khôi phục và mở rộng quan hệ nhiềumặt với Trung Quốc, tăng cường quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt vớiLào, quan hệ tốt với Campuchia, củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống
Trang 31với các nước SNG và Đông Âu, đồng thời mở rộng quan hệ với các nướccông nghiệp phát triển, bình thường hóa quan hệ với Mỹ, mở rộng quan hệvới các khu vực và địa bàn mới trên thế giới như Nam Á, Nam Thái BìnhDương, châu Phi và Mỹ Latinh Đặc biệt, việc Việt nam trở thành thànhviên chính thức của ASEAN tháng 7-1995 đã khiến cho vị trí của Việt nam
ở khu vực được tăng lên rất nhiều Hiện ta có quan hệ ngoại giao với 174nước, quan hệ buôn bán với trên 160 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 nước
và vùng lãnh thổ Các quan hệ song phương và đa phương đa dạng và đanxen này không chỉ là môi trường tốt để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà còntạo ra thế và lực mới để ta ngăn chặn ý đồ xâm lược của bọn đế quốc phảnđộng quốc tế, từ đó tác động đến xây dựng kinh tế
Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp đòihỏi phải nhận thức rõ và quán triệt sâu sắc, không ngây thơ về chính trị,không lơ là cảnh giác
Một là, cùng với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên
xô, cục diện thế giới đã có nhiều biến đổi hết sức sâu sắc Tuy xu thế chungcủa quan hệ quốc tế là hòa bình, ổn định và hợp tác song môi trường hòabình mà chúng ta có được không phải là tuyệt đối Chủ nghĩa đế quốc vẫnkhông hề dừng bước trước mưu toan thanh toán đến cùng chủ nghĩa xã hội.Bên cạnh việc phải đối phó với âm mưu xâm lược bằng quân sự, chúng ta cònphải đẩy lùi chiến lược diễn biến hòa bình với những bước đi, biện pháp đượctính toán một cách cụ thể, công phu, với mưu đồ xâm lược về tư tưởng, vănhóa, kinh tế Trong điều kiện đó, khái niệm bảo vệ Tổ quốc đã mang nội hàmrộng hơn trước Nó yêu cầu vừa tăng cường tiềm lực và sức mạnh quốc phòng
để sẵn sàng tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc một cách trực diện, vừaphải luôn luôn ý thức đến cuộc chiến đấu bằng các thủ đoạn phi bạo lực, diễn
ra hàng ngày, hàng giờ, trên mọi lĩnh vực của công cuộc xây dựng đấtnước
Trang 32Hai là, chạy đua vũ trang vẫn chưa chấm dứt, tiềm ẩn nhiều nguy
cơ bùng nổ xung đột, nguy cơ chiến tranh
Đại hội Đảng lần thứ IX đã nhận định: "Trong một vài thập kỷ tới,
ít có khả năng xảy ra chiến tranh thế giới Nhưng chiến tranh cục bộ, xungđột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, thế lực phản động kích động lykhai, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố còn xảy ra ởnhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng Khu vực Đông Nam Á,Châu Á - Thái Bình Dương sau khủng hoảng tài chính - kinh tế có khảnăng phát triển năng động nhưng vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổnđịnh" Nhìn vào hệ thống các nước đang phát triển ở khu vực Châu Á -Thái Bình Dương, không thể không thấy là mọi nước đều coi việc xâydựng, phát triển kinh tế - văn hóa là quan trọng hàng đầu, nhưng bên cạnh
đó, họ vẫn tích cực chuẩn bị, tính toán để đối phó với tham vọng và âmmưu của các nước lớn trên thế giới Chính phủ ở các nước này luôn thểhiện sự quan tâm đặc biệt đến chiến lược an ninh, phòng thủ, tăng cườngcải tiến vũ khí, hiện đại hóa lực lượng vũ trang
Điều đó có nghĩa là, với ta, việc huy động mọi lực lượng (trong đó
có quân đội) tham gia làm kinh tế là cần thiết nhưng không cho phép coinhẹ việc thường xuyên củng cố quân đội, sẵn sàng đối phó với những tìnhhuống phức tạp có thể xảy ra
Thứ hai, khoa học kỹ thuật có bước đi nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất
Xu thế này sẽ tác động đến việc quân đội xây dựng kinh tế trênnhiều khía cạnh:
Một là, cách mạng khoa học - công nghệ và nền kinh tế tri thức đặt
ra những yêu cầu mới về điều kiện sản xuất cũng như chất lượng nguồnnhân lực Bất kể là ai tham gia làm kinh tế cũng phải tính đến việc nângcao tỷ lệ chất xám trong sản phẩm, đa dạng hóa chức năng sản phẩm vàgiảm giá thành sản phẩm bằng cách áp dụng mạnh mẽ và nhạy bén các
Trang 33thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Đó cũng là yêu cầu đặt ra cholực lượng làm kinh tế của quân đội Nó đòi hỏi phải xóa bỏ tận gốc cáchlàm kinh tế theo kiểu nước sông công lính trong quân đội trước đây.
Hai là, cách mạng khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức đòi hỏi
đội ngũ quản lý phải nhạy bén và phải có đội ngũ chuyên môn cao Trongkhi đội ngũ quản lý doanh nghiệp quân đội còn có nhiều bất cập đòi hỏiphải có sự bố trí phân công lại hoặc đào tạo lại một cách hợp lý
Ba là, cách mạng khoa học công nghệ cũng như kinh tế tri thức ảnh
hưởng rất lớn tới xây dựng tiềm lực quân sự, nó làm biến đổi cơ cấu tổchức, chế độ bổ sung quân số, cách huấn luyện bộ đội, làm biến đổi cảkhoa học và nghệ thuật quân sự Do vậy, việc tổ chức quân đội một cáchhợp lý để các lực lượng khác nhau trong quân đội (kể cả lực lượng làmkinh tế, lực lượng dự bị, lực lượng thường trực) phải luôn được cập nhật trithức quân sự, sẵn sàng với vũ khí mới, chiến thuật chiến lược mới Điềunày phải được tính đến trong điều hành hoạt động của quân đội nói chung
và hoạt động kinh tế của quân đội nói riêng
Bốn là, CMKHCN làm cho vũ khí trang thiết bị của quân đội nhanh
chóng bị lạc hậu, đòi hỏi phải thường xuyên trang bị lại theo hướng hiệnđại và rất tốn kém Nói cách khác chi phí cho quốc phòng ngày càng lớn,nếu không nhìn xa trông rộng và tính toán hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng cácnguồn lực bị huy động thái quá cho mục tiêu quân sự khiến cho nguồn lựcdành cho phát triển kinh tế bị hạn chế
Thứ ba, toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia.
Một mặt toàn cầu hóa tạo ra sự chuyển dịch dòng vốn và đầu tư trênqui mô toàn cầu với sự hoạt động rộng khắp của các Công ty xuyên quốcgia khiến cho việc huy động vốn, tiếp cận các công nghệ mới, các phươngpháp quản lý mới, việc tìm đối tác liên doanh, liên kết trở nên dễ dàng Đây
Trang 34là một thuận lợi lớn đối với việc làm kinh tế của các nước, các đơn vị cánhân trong đó có lực lượng làm kinh tế của quân đội.
Mặt khác, xu thế toàn cầu hóa đang bị một số nước tư bản phát triển
và các tập đoàn xuyên quốc gia chi phối nên chứa đựng nhiều mâu thuẫn, tiêucực
Một là, nó đặt ra nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc mà mỗi một quốc
gia(chưa nói đến các đơn vị cá nhân) khó có thể tự giải quyết nếu không có
sự hợp tác đa phương
Hai là, toàn cầu hóa khiến cho việc chuyển giao công nghệ lạc hậu,
trút bỏ các ngành gây ô nhiễm, chiếm lĩnh thị trường trở nên dễ dàng đốivới các nước phát triển, các hãng và công ty lớn trong khi nó thực sự lànguy cơ đối với các nước nghèo, những đơn vị có quy mô nhỏ, vốn ít, sứccạnh tranh kém
Ba là, toàn cầu hóa làm cho sự thâm nhập của lối sống, văn hóa độc
hại kể cả những cách làm kinh tế chạy theo thuần túy lợi nhuận không tínhđến yếu tố xã hội, môi trường vào các nước nghèo trở nên mạnh mẽ hơnbao giờ hết Nếu không tỉnh táo trong quản lý và ngăn chặn thì đây sẽ làcăn bệnh nguy hiểm, lây lan nhanh chóng vào các lực lượng làm kinh tế(trong đó có quân đội) để lại hậu quả nghiêm trọng và lâu dài
2 Bối cảnh trong nước
Đất nước chúng ta đang ở vào những năm đầu của thế kỷ XXI, vớiviệc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX Với những kinhnghiệm đúc kết từ việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII, 10 nămthực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội (1991-2000) và
15 năm đổi mới(1986 –2000), Đại hội IX đã đưa ra quyết sách cho thời kỳmới với phương châm huy động sức mạnh toàn dân, tiếp tục đẩy mạnh sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốcViệt Nam XHCN, đưa toàn dân tộc vững bước đi vào thế kỷ mới
Trang 35Nghị quyết Đại hội IX cùng Nghị quyết của các Hội nghị Trungương về đổi mới DNNN, tiếp tục đổi mới kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân…đang tạo ra bầu không khí lạc quan phấn khởi trong tất cả các lực lượngtham gia làm kinh tế của đất nước Những yếu tố thuận lợi cơ bản cho côngviệc xây dựng kinh tế trong những năm tới được Đại hội chỉ ra là:
Sau 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xãhội (1991-2000), chúng ta đã đạt những thành tựu to lớn và rất quan trọng.Tổng sản phẩm trong nước năm 2000 tăng gấp đôi so với 1990 Kết cấu hạtầng kinh tế và năng lực sản xuất tăng nhiều Nền kinh tế từ tình trạng hànghóa khan hiếm nghiêm trọng nay sản xuất đã đáp ứng được các nhu cầuthiết yếu của nhân dân và nền kinh tế; từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu,bao cấp đã chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN; từ chỗ nềnkinh tế chủ yếu có hai thành phần là kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể đãchuyển sang có nhiều thành phần trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủđạo Đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện Đất nước đã thoát khỏikhủng hoảng kinh tế- xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sựhẫng hụt về thị trường do những biến động ở Đông Âu và Liên Xô gây ra,phá được thế bị bao vây cấm vận, mở rộng được quan hệ đối ngoại và chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế; không để bị cuốn sâu vào cuộc khủng hoảngtài chính- kinh tế ở một số nước châu Á năm 1997- 1998, mặc dù hậu quảcủa nó đối với nước ta cũng khá nặng nề; tình hình chính trị- xã hội cơ bản
ổn định; quốc phòng và an ninh được tăng cường Sức mạnh về mọi mặtcủa nước ta đã lớn hơn so với 10 năm trước 10 năm thực hiện chiến lược
ổn định và phát triển kinh tế – xã hội và 15 năm đổi mới đã cho chúng tanhiều kinh nghiệm quí báu để Đảng và nhân dân ta tiếp tục sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc với những thời cơ và thách thức lớn
Về cơ hội, có thể nói, cùng với những thắng lợi đã giành được trongcông cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc trước đây, những thành tựu to lớnrất quan trọng của 15 năm đổi mới làm cho thế và lực của nước ta lớn mạnhlên rất nhiều Cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường
Trang 36Đất nước còn nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên và lao động Nhân dân ta
có phẩm chất tốt đẹp, tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định Môitrường hòa bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế và những xu thế tích cực trênthế giới tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế sosánh, tranh thủ ngoại lực- nguồn vốn, công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý-
mở rộng thị trường phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH
Đồng thời đất nước ta phải đối mặt với nhiều thách thức 4 nguy cơ
mà Đảng ta từng chỉ rõ: tụt hậu xa hơn nữa về kinh tế, chệch hướngXHCN, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, "diễn biến hòa bình" do các thếlực thù địch gây ra- đến nay vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen tácđộng lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào
Trên cái nền chung đó, việc điều hành tổ chức các hoạt động xâydựng kinh tế của quân đội sẽ chịu tác động từ nhiều phía của tình hìnhtrong nước Đó là:
- Diễn biến mới về chính trị, quốc phòng, an ninh, nhất là ở nhữngđịa bàn trọng yếu trên dọc tuyến biên giới
Những năm gần đây cùng với chiến lược "diễn biến hòa bình", cácthế lực phản cách mạng thường tổ chức các lực lượng vũ trang có trang bị
vũ khí gây bạo loạn chống phá và nhằm lật đổ cách mạng XHCN ở nước ta.Địa bàn mà các lực lượng phản động chú trọng xâm lấn để xây dựng căn cứhoạt động là các vùng lãnh thổ ở vùng sâu, vùng xa, có địa thế chiến lược
về quốc phòng - an ninh Điển hình là vụ bạo loạn chính trị tháng 2/2002 ởTây Nguyên, lực lượng phản cách mạng đã móc nối, cấu kết với lực lượng
"Fulrô" lôi kéo con em đồng bào các dân tộc thiểu số ly khai với Đảng,chống phá cách mạng Và với những biến động về quốc phòng - an ninhtrên bình diện thế giới, các cuộc chiến tranh sắc tộc tôn giáo, chiến tranhvùng Vịnh, vụ khủng bố 11/9 , đặc biệt là âm mưu trở thành siêu cường sốmột của Mỹ, không chỉ đòi hỏi chúng ta cần đổi mới tư duy quốc phòng -
Trang 37an ninh, mà còn đặt ra những vấn đề mới, phức tạp tác động tới hoạt độngcủa quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế.
- Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, sức cạnh tranh thấp, cònnhiều khó khăn Nhịp độ tăng trưởng kinh tế trong mấy năm gần đây tăngchậm Một số chỉ tiêu về nhịp độ tăng trưởng GDP và GNP bình quân đầungười, nhịp độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuấtkhẩu chưa đạt được theo kế hoạch dự kiến Năng suất lao động thấp, sảnphẩm sản xuất ra còn ứ đọng, thậm chí thiếu cả thị trường tiêu thụ Chuyểndịch cơ cấu kinh tế và điều chỉnh cơ cấu đầu tư chậm Đầu tư cho phát triểncòn phân tán, lãng phí và thất thoát Thu nhập bình quân đầu người vẫnthuộc vào hàng thấp của thế giới, đặc biệt là đời sống các dân tộc thiểu số ởvùng núi, vùng sâu, vùng xa vẫn vô cùng khó khăn Trước thực trạng đó, sựnghiệp xóa đói giảm nghèo, nhất là xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dântộc được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ trọng điểm, có ý nghĩachiến lược cả về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng - an ninh Điều này,tác động mạnh tới tư duy, tổ chức hoạt động tham gia sản xuất, xây dựngkinh tế của quân đội
- Về hội nhập kinh tế quốc tế Với phương châm đối ngoại, ViệtNam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước trên thế giới, có thể nói là đã nắmbắt và hành động đúng theo xu thế thời đại Để hội nhập với khu vực vàquốc tế, chúng ta đã gia nhập ASEAN, gia nhập APEC và sẽ gia nhậpWTO… tìm cách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện tiếp nhậnchuyển giao công nghệ, vốn và kinh nghiệm quản lý nước ngoài, kêu gọi sựtài trợ từ phía chính phủ và các tổ chức phi chính phủ trên thế giới Đểtránh nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, thu hút mọi nguồn lực để tiến hànhCNH, HĐH đất nước, chúng ta cho phép phát triển nhiều thành phần kinh
tế dựa trên cơ sở pháp lý bình đẳng, kể cả các xí nghiệp 100% vốn nướcngoài do người nước ngoài trực tiếp tuyển chọn công nhân viên, trực tiếpquản lý điều hành; các khu chế xuất với những ưu đãi đặc biệt để xuất nhập
Trang 38khẩu, thuế quan, ngoại tệ… Với chính sách mở cửa, con em người ViệtNam được tạo điều kiện ra nước ngoài học tập, khách du lịch, những ngườinước ngoài có quan hệ làm ăn đến Việt Nam ngày càng nhiều Tất cảnhững điều đó đặt ra những phức tạp mới trong quản lý văn hóa, duy trì anninh quốc phòng Các thế lực thù địch có thể lợi dụng chính đường lối kinh
tế đổi mới, đường lối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần củaĐảng, làm cho thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa ngày càng mạnh lên,tiến tới đối lập và thách đố nhà nước, cạnh tranh thắng lợi tới khu vực kinh
tế XHCN Do vậy bảo vệ định hướng XHCN của nền kinh tế là nhiệm vụhàng đầu mà lực lượng làm kinh tế của quân đội phải góp phần tích cực
1.2.2 Những đặc điểm đặc thù của quân đội tác động đến tổ chức hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế trong giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ của lao động sản xuất, xây dựng kinh tế luôn gắn bó hữu
cơ trong tổng thể nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của quân đội Nó phụ thuộc vàotình hình đất nước cũng như điều kiện cụ thể của quân đội trong từng giaiđoạn nhất định Hiện nay và những năm sắp tới, nhiệm vụ của quân đội cónhiều nét mới, tác động đến hoạt động kinh tế Điều này có thể thấy trênnhững khía cạnh sau:
Thứ nhất, trong bối cảnh hòa bình, cả nước đang nỗ lực khôi phục
và phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước giao cho quân đội thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng - an ninh trên các địa bàn trọng yếu, chiến lược ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa và vùng ven biển.
Công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta đã thu được những thành tựuđáng khích lệ, song thực tế còn nảy sinh và tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp
dễ bị chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện chiến lược
"diễn biến hòa bình" Mục tiêu cơ bản trong chiến lược này của chủ nghĩa
đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam là thông
Trang 39qua chiêu bài tự do kinh tế, tự do chính trị để xóa bỏ CNXH, chuyển hóaViệt Nam dần theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản Chiến lược "diễn biếnhòa bình" của chủ nghĩa đế quốc được diễn ra trên tất cả các lĩnh vực: kinh
tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, quân sự
Những năm gần đây, lợi dụng những bất cập, yếu kém vè năng lựcquản lý kinh tế, quản lý xã hội của Nhà nước, và đặc biệt là tình trạng lạchậu, khó khăn trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở các vùngsâu, vùng xa các thế lực thù địch đã dùng các chiêu bài tự do, dân chủ,nhân quyền, kích động mâu thuẫn tôn giáo, dân tộc, sắc tộc , lôi kéo bàcon các dân tộc chống phá công cuộc xây dựng XHCN ở nước ta Thựctrạng đó đòi hỏi cần triển khai lực lượng đến các địa bàn chiến lược trongyếu thực hiện đồng thời những nhiệm vụ: sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu;tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vậnđộng bà con các dân tộc thực hiện định canh, định cư, ổn định cuộc sống,phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; trực tiếp tiến hành sản xuất, xâydựng kinh tế; đồng thời hỗ trợ nhân dân thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi và ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vàoquá trình sản xuất Mục tiêu tổng quát của việc thực hiện các nhiệm vụ trên
là củng cố an ninh - quốc phòng, xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xãhội trên các địa bàn chiến lược Quân đội là lực lượng duy nhất được Đảng
và Nhà nước tin cậy giao cho thực hiện nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiếnlược này Đây là một trong những đặc điểm chi phối phương thức tổ chứcquân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế
Thứ hai, cán bộ quân đội hoạt động trong khuôn khổ kỷ luật và môi trường khép kín của quân đội, với cơ chế chỉ huy mệnh lệnh, phục tùng và chấp hành triệt để những nhiệm vụ của cấp trên giao phó.
Cán bộ quân đội là lực lượng được lựa chọn trong thực tiễn, được bồidưỡng đào tạo cơ bản, chính quy tại các học viện, nhà trường trong và ngoài
Trang 40quân đội Như vậy, cán bộ quân đội là đội ngũ có tri thức, có kỷ luật, có nănglực trình độ chuyên môn nghiệp vụ thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ quân sự.Nhưng do quá trình đào tạo chủ yếu thiên về trang bị những nội dung kiếnthức phục vụ quân sự, quốc phòng, qua nhiều năm chưa được chú trọng đàotạo lại Đồng thời, hoạt động của cán bộ quân đội chủ yếu là thụ động theo chỉhuy mệnh lệnh của cấp trên, trong môi trường khép kín ít có điều kiện giaolưu Do vậy, năng lực của đội ngũ cán bộ quân đội về quan điểm, kiến thứcmới có phần bất cập so với bên ngoài, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh mới.
Thứ ba, mức độ lưỡng dụng của cơ sở vật chất kỹ thuật, của các ngành nghề và nhiệm vụ, chức năng của từng đơn vị xác định theo tính đa dạng mô hình tổ chức quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế
Với những đặc thù của mình trên cả phương diện con người, trang
bị cơ sở vật chất kỹ thuật và tổ chức, quân đội trở thành một lực lượngtrong quá trình CNH, HĐH Tuy nhiên để kết hợp tốt nhất chức năng bảo
vệ Tổ quốc và chức năng xây dựng, phạm vi tham gia làm kinh tế của quânđội cũng cần có giới hạn, tập trung vào các thế mạnh vốn có, cần lựa chọnsản xuất những mặt hàng, xây dựng những công trình liên quan đến quốcphòng để khi cần đến có thể chuyển ngay sang phục vụ quốc phòng Ví dụ:các đơn vị làm nhiệm vụ xây dựng cơ bản của quân đội có thể đảm nhậnxây dựng các hệ thống giao thông vận tải phục vụ cho cả kinh tế và quốcphòng; các công trình quốc phòng và kinh tế; các cơ sở sản xuất của quốcphòng hoặc xây dựng kết cấu hạ tầng ở những vùng chiến lược về kinh tế vàquốc phòng Bộ đội không quân có thể tham gia dịch vụ vận tải đườngkhông, dịch vụ bay thám hiểm, điều tra nghiên cứu địa hình; bộ đội côngbinh tham gia khai thác các mỏ kim loại quý hiếm; các đơn vị hải quân tronghoàn cảnh hiện nay vẫn phải kết hợp thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấuvới nhiệm vụ khai thác tài nguyên biển, đánh bắt cá, nuôi trồng hải sản, mở