Mục tiêu của đề tài: Trên cơ sở hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận, thực tiễn về phát triển TTTDNT vùng ĐBSH, đề tài đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển TTTDNT góp phần đẩy nhanh CNH, HĐH nông thôn vùng ĐBSH.
Trang 1Mục tiêu của đề tài: Trên cơ sở hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn
những vấn đề lý luận, thực tiễn về phát triển TTTDNT vùng ĐBSH, đề tài đềxuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển TTTDNTgóp phần đẩy nhanh CNH, HĐH nông thôn vùng ĐBSH
Để đạt được mục tiêu trên, Chủ nhiệm đề tài và nhóm nghiên cứu đãxác định cho mình các nhiệm vụ sau đây:
Một là, làm rõ bản chất, đặc điểm, vai trò và nhân tố chủ yếu ảnh
hưởng đến phát triển TTDNT trong quá trình CNH, HĐH; tìm hiểu một số bàihọc kinh nghiệm phát triển TTTDNT ở một số nước đang phát triển có điềukiện phát triển tương đồng Việt Nam
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển TTTDNT vùng ĐBSH
trong những năm đổi mới, chủ yếu là những năm gần đây
Ba là, luận chứng phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy
phát triển TTTDNT hiện đại đáp ứng yêu cầu đẩy nhanh CNH, HĐH nôngthôn vùng ĐBSH
Tập trung vào các mục tiêu và nhiệm vụ khoa học nêu trên, Chủ nhiệm
đề tài đã tập hợp, tuyển chọn nhiều cộng tác viên thuộc Học viện Chính trịQuốc gia Hồ Chí Minh và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nghiên cứu, hìnhthành 16 chuyên đề, với nội dung đa dạng, số liệu phong phú
Xin trân trọng giới thiệu tập kỷ yếu với độc giả và mong nhận đượccác ý kiến đóng góp của các nhà khoa học thẩm định công trình này
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.
Trang 2Chuyên đề 1 THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG NÔNG THÔN VÀ VAI TRÒ
CỦA THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
TS Phạm Thị Khanh ThS Phí Thị Hằng
I KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1 Các khái niệm
- Khái niệm tín dụng
Thuật ngữ tín dụng - Credit có nguồn gốc từ tiếng La-tinh: Credittum,
có nghĩa là sự tin tưởng hay tín nhiệm Cùng với quá trình phát triển kinh tế
-xã hội, nội hàm từ "tín dụng" dần được rộng mở
Theo các nhà kinh tế, tín dụng là một phạm trù kinh tế Tín dụng hìnhthành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của nền sảnxuất hàng hóa Tuy nhiên, dưới góc độ khác nhau, các nhà kinh tế đưa ranhững định nghĩa khác nhau về tín dụng Trong đó, nổi bật là:
+ Cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam địnhnghĩa: "Tín dụng là sự vay mượn tiền mặt và vật tư" [70, tr 994] Định nghĩanày thể hiện mối quan hệ cấu thành bản chất bên trong của quan hệ kinh tế:vay - mượn, cả về tiền mặt lẫn hàng hóa, với tư cách là hiện vật giữa các chủthể kinh tế
+ Tác giả Lê Văn Tề, trong cuốn Tiền tệ và Ngân hàng cho rằng: Tíndụng diễn giải theo ngôn ngữ Việt Nam không chỉ là sự vay mượn đơn thuần
mà còn là sự vay mượn với sự tín nhiệm nhất định [60, tr 97-108] Địnhnghĩa này hàm nghĩa tín dụng là quan hệ kinh tế vay mượn trên cơ sở lòng tincủa cả người cho vay và đi vay
Trang 3+ Tác giả Vũ Văn Hóa, trong cuốn Lý thuyết tiền tệ quan niệm rằng:tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (Trái chủ hoặc ngườicho vay) chu cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ, chứng khoán dựa vào lời hứa thanhtoán trong tương lai của bên kia (Thụ trái hoặc người đi vay) [19, tr 72].Cách luận giải này phản ánh tính chất ràng buộc của quan hệ kinh tế giữangười cho vay và người đi vay Đối tượng tín dụng phong phú, cụ thể (tiền,hàng hóa, dịch vụ, chứng khoán) và dựa vào lòng tin, sự tín nhiệm.
+ Học giả người Pháp - Louis Baudin khẳng định: Tín dụng là sự traođổi tài hóa hiện tại lấy một tài hóa tương lai, tức là hai bên cam kết: một bên thìtrao đổi ngay một số tiền bạc, bên kia cam kết sẽ hoàn trả lại những điều khoản
đó trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định [66, tr 96]nào đó Ở đây, Louis Baudin cũng chỉ ra mối quan hệ trao đổi tài hóa tronghiện tại để lấy tài hóa trong tương lai giữa người cho vay và người đi vay, vớinhững điều kiện và khoảng thời gian xác định
+ Khi nghiên cứu về Tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trong nền sản xuất
tư bản chủ nghĩa, Các Mác chỉ rõ: Tín dụng là sự tín nhiệm ít nhiều có căn cứ
đã khiến cho một người này giao cho một người khác một số tư bản nào đó,dưới hình thức tiền hoặc dưới hình thái hàng hóa đáng giá một số tiền nhấtđịnh nào đó Số tiền này được trả lại trong một thời gian nhất định [M-AG,t25, tr 613] Và, điều tất yếu của sự luân chuyển (trở về) điểm xuất phát củađồng tiền không chỉ giữ được nguyên vẹn giá trị của nó mà đồng thời nó lạilớn lên thêm trong quá trình vận động [M-AG, T25, tr 526]
Nghiên cứu tín dụng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa,Các Mác đã chỉ rõ bản chất của tín dụng:
Một là, xuất hiện sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị
từ chủ thể cung tín dụng sang chủ thể cầu tín dụng
Hai là, sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị trong
khoảng thời gian xác định và mang tính tạm thời
Ba là, chủ thể cầu tín dụng phải hoàn trả gốc và lãi (lợi tức) cho chủ
thể cung tín dụng
Trang 4Như vậy, các nhà kinh tế đều khẳng định một quan hệ tín dụng tồn tại
và phát triển phải đảm bảo 3 điều kiện trên Biểu hiện ra trên bề mặt xã hộicủa quan hệ tín dụng là sự vận động của lượng giá trị vốn tín dụng, qua cácgiai đoạn: phân phối vốn tín dụng, sử dụng vốn tín dụng và hoàn trả vốn tíndụng Sự vận động của lượng giá trị tín dụng khi quay về điểm xuất phát luônphải đảm bảo giá trị và giá trị tăng thêm, dưới hình thức lợi tức, thông qua cơchế điều tiết lãi suất Tính hoàn trả của tín dụng là cơ sở khoa học để phânbiệt phạm trù tín dụng với phạm trù kinh tế khác
Từ những phân tích trên đây, có thể định nghĩa về tín dụng như sau: Tín dụng là quan hệ kinh tế gắn với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng theo nguyên tắc hoàn trả nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn phát triển kinh tế - xã hội.
Trong nền KTTT hiện đại, tín dụng không chỉ dựa vào lòng tin, sự tínnhiệm của người cho vay vốn và người đi vay vốn mà được pháp luật bảo vệ
Đó là cơ sở quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển ngày càng lớnmạnh các quan hệ tín dụng cũng như thị trường tín dụng, đảm bảo cung vốncho phát triển nền kinh tế hiện đại, xây dựng một xã hội văn minh
Nền KTTT càng phát triển, hình thức tín dụng càng phong phú Song,trên thị trường đang tồn tại và phát triển các hình thức tín dụng cơ bản: Tíndụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng,
tín dụng Nhà nước, tín dụng quốc tế Trong giới hạn, phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tín dụng ngân hàng.
"Tín dụng ngân hàng phản ánh quan hệ vay mượn vốn tiền tệ giữa cácngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế" [68, tr 244]
Như vậy, đối tượng của tín dụng ngân hàng là vốn tiền tệ tạm thờinhàn rỗi trong xã hội Ngân hàng hoạt động với tư cách là một trung gian tàichính, thực hiện nhiệm vụ đi vay vốn của người có vốn để cho vay nhữngngười cần vốn; được hưởng lãi suất, theo sự điều tiết của cơ chế thị trường vàđược pháp luật bảo vệ
- Khái niệm TTTDNT
Theo kinh tế học hiện đại, "Thị trường là một cơ chế trong đó ngườimua và người bán tương tác với nhau để xác định giá cả và sản lượng" [52, tr 69]
Trang 5Xét về bản chất, thị trường chính là nơi gặp gỡ, trao đổi hàng hóa (hiện vật vàphi hiện vật) giữa người mua và người bán; giá cả hàng hóa được xác địnhtrên cơ sở thị trường.
Trong nền KTTT, nhất là nền KTTT hiện đại, nhu cầu vốn đầu tư pháttriển SX - KD là rất lớn Tuy nhiên, năng lực tiết kiệm của từng chủ thể SX -
KD là có hạn, không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển,trong khi xã hội luôn tồn tại những chủ thể có khoản thu nhập (tiết kiệm) chưatiêu dùng, mong muốn được đầu tư để hưởng lợi Do đó, trên thị trường tấtyếu nảy sinh quan hệ cung - cầu vốn nói chung, vốn tín dụng nói riêng, đápứng nhu cầu tiết kiệm và đầu tư Hay một cách cụ thể hơn, thị trường tíndụng, trong đó có TTTDNT tất yếu phải hình thành, phát triển để giải quyếtbài toán tiết kiệm và đầu tư của mọi chủ thể kinh tế trong xã hội
TTTDNT là nơi diễn ra hoạt động cung - cầu vốn tín dụng giữa các chủ thể cho vay vốn và chủ thể đi vay vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn tín dụng phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn.
Sơ đồ 1: Hoạt động của thị trường tín dụng nông thôn
Hoạt động của TTTDNT, xét về bản chất là sự vận động của một loạiquỹ tiền tệ, bao gồm hai quá trình: tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng (huy độngvốn và cho vay vốn tín dụng) trên thị trường
Trung gian tài chính trên địa bàn nông thôn
Trung gian tài chính trên địa bàn nông thôn
Thị trường tín dụng nông thôn đi vay vốnChủ thể
Chủ thể
cho vay vốn
Cho vay vốn Hoàn trả vốn
Cho vay vốn Hoàn trả vốn
Cho vay vốn Hoàn trả vốn Cho vay vốn Hoàn trả vốn
Trang 6Hiện nay có nhiều cách tiếp cận để phân loại TTTDNT Dưới góc độ pháp
lý, nguồn gốc, nội hàm của khái niệm tín dụng, địa bàn hoạt động của các quỹtín dụng… có thể phân chia TTTDNT thành 3 loại: thị trường tín dụng chínhthức, thị trường tín dụng bán chính thức và thị trường tín dụng phi chính thức
+ Thị trường tín dụng chính thức là nơi diễn ra công khai các hoạt động
huy động, cung ứng và giao dịch vốn tín dụng giữa các tổ chức trung gian tài chínhvới chủ thể cầu vốn, tuân thủ pháp luật của Nhà nước Lực lượng tham gia cungvốn trên thị trường này là các trung gian tài chính, bao gồm: hệ thống ngân hàng,Kho bạc Nhà nước, hệ thống QTDND, hợp tác xã tín dụng, các công ty tài chính Lực lượng tham gia cầu vốn là hộ gia đình, các chủ thể SX-KD ở khu vực nông thôn
+ Thị trường tín dụng bán chính thức là nơi diễn ra công khai các hoạt
động trợ giúp cung ứng, giao dịch vốn tín dụng của các tổ chức xã hội (Hội Liênhiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam,Hội Thanh niên Việt Nam…) Các tổ chức xã hội không phải là chủ thể trực tiếp
cung vốn tín dụng mà chỉ là lực lượng trợ giúp Chính phủ, các tổ chức phi chính
phủ (NGO) giải ngân cho các chương trình, dự án theo chỉ định, nhằm đẩy mạnhphát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn, nhất là đối với vùng nghèo, xãnghèo Mọi giao dịch vốn tín dụng của các tổ chức xã hội đều đặt dưới sự chỉđạo trực tiếp và giám sát chặt chẽ của chính quyền các cấp Lực lượng tham giacầu vốn cũng là hộ gia đình, các chủ thể kinh tế ở khu vực nông thôn
+ Thị trường tín dụng phi chính thức là nơi diễn ra hoạt động huy động,
cung ứng, giao dịch vốn tín dụng công khai hoặc ngấm ngầm, nằm ngoài khuônkhổ pháp luật của Nhà nước hoặc không phụ thuộc, không chịu sự quản lý củachính quyền, Nhà nước Chủ thể tham gia cung vốn tín dụng trên thị trường này
là tư nhân cho vay nặng lãi, tư thương bán chịu hàng hóa, chủ cửa hàng cầm đồhoặc nhóm hợp tác tín dụng tự nguyện như: hụi, họ, phường, bạn bè, anh em chovay tương trợ nhau Chủ thể cầu vốn trên TTTDNT là hộ gia đình, chủ thể SX -
KD ở khu vực nông thôn Đa số họ là những người rất khó tiếp cận được với thịtrường tín dụng chính thức và thị trường tín dụng bán chính thức hoặc đã tiếpcận được với các thị trường tín dụng đó nhưng chưa thỏa mãn được nhu cầu vềvốn cho hoạt động SX - KD hoặc cho tiêu dùng của mình
Trang 8Như vậy, hệ thống TTTDNT được hình thành bởi các thị trường tíndụng bộ phận: Thị trường tín dụng chính thức, thị trường tín dụng bán chínhthức và thị trường tín dụng phi chính thức Trong nền KTTT, sự tồn tại vàphát triển của các loại thị trường tín dụng trên là tất yếu Cả ba loại thị trườngtín dụng tác động qua lại lẫn nhau, cạnh tranh nhau trong cung - cầu vốn tíndụng ở khu vực nông thôn Trong đó, thị trường tín dụng chính thức và thịtrường tín dụng bán chính thức hoạt động có sự bảo đảm của luật pháp Do
đó, khả năng phát triển của 2 loại thị trường tín dụng này là rất mạnh, gópphần cung - cầu vốn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn nóichung, đẩy mạnh CNH, HĐH nông thôn nói riêng Trái lại, thị trường tíndụng phi chính thức hoạt động chủ yếu dựa trên cơ sở lòng tin; tính bền vữngtrong quan hệ cung và cầu vốn yếu Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất hànghóa chưa thật sự phát triển, thị trường tín dụng phi chính thức vẫn có vai trònhất định trong huy động, cho vay vốn phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xãhội ở khu vực nông thôn nói chung, CNH, HĐH nông thôn nói riêng
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài đi sâu nghiên cứu TTTDNT chínhthức Các thị trường: tín dụng bán chính thức và phi chính thức chỉ là những nhân
tố có liên quan tới việc nghiên cứu thị trường tín dụng chính thức ở nông thôn
1.2 Những đặc điểm cơ bản của TTTDNT trong quá trình CNH, HĐH
- TTTDNT trải ra trên địa bàn rộng lớn, số lượng khách hàng đông đảo vừa thúc đẩy quá trình huy động, cho vay vốn vừa cản trở quá trình này.
Nông thôn là khu vực kinh tế kinh tế - xã hội rộng lớn, còn nhiều tiềmnăng chưa được khai thác, phát triển; số lượng khách hàng cung - cầu vốn tíndụng đông đảo và chuyên về sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,ngành nghề phi nông nghiệp khác Một khi TTTDNT phát triển, các trunggian tài chính có mặt ở khắp các địa phương sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cácchủ thể có vốn, cần cho vay vốn tiếp cận với các trung gian này; kích thích vàthu hút những đồng vốn nhỏ, lẻ, nhàn rỗi trong từng hộ gia đình, cá nhân, các
tổ chức xã hội, doanh nghiệp trên địa bàn nông thôn vào các trung gian tàichính Đồng thời tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư vay vốn tín dụng để đầu tư
Trang 9phát triển SX - KD Như vậy, TTTDNT phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi,thúc đẩy quá trình tiết kiệm và đầu tư
Tuy nhiên, địa bàn hoạt động của TTTDNT rộng lớn, có số lượng kháchhàng lớn nhưng số lượng tiền trên từng món vay nhỏ bé, manh mún vừa khókhăn cho công tác quản lý đồng vốn đã cho vay vừa phát sinh thêm chi phí giaodịch, làm cho lợi nhuận kinh doanh trên TTTDNT thấp hơn các khu vực kinh tếkhác Đây là một trong những nguyên nhân hạn chế khả năng mở rộng TTTDNT
- Chủ thể tham gia hoạt động cung - cầu vốn trên TTTDNT có sự khác biệt so với chủ thể cung - cầu vốn ở các thị trường tài chính khác.
+ Chủ thể cung vốn tín dụng là các trung gian tài chính, bao gồm phầnlớn các tổ tín dụng có mặt ở rộng khắp khu vực nông thôn, song chủ lực cungvốn tín dụng ở địa bàn nông thôn vẫn là NHNo&PTNT, NHCSXH, QTDND
Đó chính là những chủ thể gắn bó chặt chẽ với nông dân, nông nghiệp, nôngthôn; có bề dày kinh nghiệm trong huy động và cho vay tín dụng phát triểnkinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn Tuy nhiên, tổng nguồn vốn kinh doanhcủa các tổ chức tín dụng trên đây vẫn nhỏ bé so với yêu cầu phát triển hiệnđại, bền vững khu vực kinh tế - xã hội rộng lớn - khu vực nông thôn Năng lựctài chính của các tổ chức tín dụng hạn chế, năng lực cán bộ làm công tác tíndụng chưa cao, nội lực của khu vực nông nghiệp, nông thôn hạn hẹp… chưathể đáp ứng nhanh chóng, đầy đủ, kịp thời vốn tín dụng, nhất là loại tín dụngtrung và dài hạn để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
+ Chủ thể cầu vốn tín dụng chủ yếu là nông dân, một phần là các nhà
SX - KD ngành nghề phi nông nghiệp Chủ thể cầu vốn tín dụng ở nông thôncần cù, chịu khó nhưng đa số họ là những người nghèo, không có tài sản thếchấp để vay vốn tín dụng Trình độ lập dự án SX - KD cũng như cách hạchtoán kinh doanh theo cơ chế thị trường còn hạn chế; thiếu sự hiểu biết đầy đủ
về hệ thống tổ chức, nguyên tắc hoạt động của các tổ chức tín dụng… tácđộng tiêu cực tới phát triển TTTDNT Thêm vào đó là tâm lý bảo thủ, trì trệcủa người sản xuất nhỏ… đã cản trở khả năng tiếp cận TTTDNT và sử dụnghiệu quả vốn tín dụng của các chủ thể cầu vốn
Trang 10- Lãi suất trên TTTDNT thường đa dạng, phong phú; vừa tuân thủ lãi suất kinh doanh vừa tuân thủ lãi suất ưu đãi dẫn đến cơ chế điều hành lãi suất tín dụng trên thị trường nông thôn không đồng nhất.
Lãi suất trên TTTDNT được áp dụng song hành 2 loại: lãi suất tíndụng thương mại và lãi suất ưu đãi Do những điều kiện khách quan và chủquan về địa lý, lịch sử, xã hội… khu vực nông nghiệp, nông thôn có xu hướngphát triển chậm hơn so với các khu vực kinh tế khác Trên thế giới, nhiềunước đã áp dụng hai loại lãi suất trên TTTDNT nhằm đẩy mạnh phát triểnnông nghiệp, nông thôn, ổn định xã hội Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước đã banhành chủ trương, chính sách, trong đó có chính sách tài chính - tiền tệ, thựchiện nhiệm vụ điều tiết vĩ mô, thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn,phát triển sản xuất nông nghiệp và ngành nghề phi nông nghiệp; thu hẹp dầnkhoảng cách giàu - nghèo giữa các khu vực trong cả nước; thực hiện côngbằng xã hội Vì vậy, lãi suất cho vay được áp dụng trên TTTDNT vừa hàmchứa sự nâng đỡ, hỗ trợ, vừa định hướng kích thích tăng trưởng nguồn vốn tự
có của từng hộ gia đình Hay nói một cách khác, cụ thể hơn: lãi suất cho vaytrên TTTDNT vừa mang tính ưu đãi vừa mang tính thương mại là cần thiết,thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển xã hội bền vững
- Đối tượng vay vốn tín dụng trên TTTDNT đa số là hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, được phân định theo vùng, miền và từng loại cây con có chu kỳ sinh trưởng dài, ngắn khác nhau; từng loại đất… dẫn đến số lượng
vốn cho vay không lớn, thủ tục cho vay phức tạp, khoản vốn cho vay phức tạp,thủ tục rườm rà và nhiều tầng nấc trung gian; lãi suất áp dụng cho từng đốitượng trên địa bàn rộng lớn… tạo nên sự trì trệ trong toàn hệ thống TTTDNT
- Hoạt động của TTTDNT không tách rời hoạt động của thị trường tài chính, chịu sự chi phối không chỉ của chính sách tài chính - tiền tệ mà còn bị
chi phối của hàng loạt chính sách (chính sách phát triển nông nghiệp, nôngthôn; chính sách đầu tư, chính sách đất đai, chính sách thuế…) TTTDNThoạt động trong khung khổ pháp luật của Nhà nước
Trang 11II VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG THÔN
2.1 Về CNH, HĐH nông thôn, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn
CNH, HĐH nông thôn là quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn theohướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động trong các ngành côngnghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xâydựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệmôi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phùhợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nângcao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn [13, tr 94]
Như vậy, CNH, HĐH nông thôn là một quá trình thực hiện đa nhiệm vụ:
Một là, thực hiện chuyển dịch CCKT nông thôn theo hướng hiện đại,
trong đó tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động ở hai ngành côngnghiệp, dịch vụ Đó là hai ngành có đóng góp tích cực, chủ đạo vào tăngtrưởng kinh tế, giải quyết việc làm, tăng nhanh thu nhập cho người lao độngtrong nền kinh tế hiện đại Đồng thời, phải giảm tương đối tỷ trọng sản phẩm
và lao động nông nghiệp nhưng tăng tuyệt đối giá trị sản phẩm trong nôngnghiệp Xu thế này là một tất yếu trong lịch sử phát triển kinh tế, nhất là trongquá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Hai là, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn,
trước hết là phát triển mạng lưới giao thông, điện, thông tin liên lạc… phục
vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn
Ba là, tiến hành quy hoạch phát triển nông thôn; tổ chức lại sản xuất,
xây dựng quan hệ sản xuất mới, phù hợp với nền KTTT hiện đại; khai tháctiềm năng, thế mạnh đang còn tiềm ẩn ở khu vực nông thôn
Bốn là, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế; phát triển xã hội văn minh, hiện
đại, xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp; gắn kết chặt chẽ, hữu cơ với bảo
vệ môi trường sinh thái Hay nói cách khác, phát triển nông thôn bền vững vềkinh tế, bền vững về xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 12Xét về bản chất, mục tiêu lâu dài và tổng quát của CNH, HĐH nôngthôn là "Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả vàbền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụngcác thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước vàxuất khẩu; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, vănminh, có cơ cấu hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội phát triển ngày càng hiện đại" [13, tr 96].
Để thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ trên đây của Đảng, Nhà nướctrong thời gian tới, cụ thể là giai đoạn 2007 - 2010 và 2020 cần phải tập trunghuy động mọi nguồn lực, trong đó có nguồn lực tín dụng đầu tư cho phát triển
Tuy nhiên, để khai thác một cách hiệu quả nguồn vốn tín dụng của cảnước nói chung, nguồn vốn tín dụng trên địa bàn nông thôn nói riêng, đầu tư pháttriển kinh tế - xã hội ở địa bàn này tất yếu phải đẩy mạnh xây dựng và phát triểnTTTDNT một cách đồng bộ và hiệu quả; phát huy tốt nhất vai trò của TTTDNT,đảm bảo cung ứng vốn nhằm mục tiêu đẩy mạnh CNH, HĐH nông thôn
2.2 Vai trò của TTTDNT trong quá trình CNH, HĐH nông thôn
Vai trò của TTTDNT trong quá trình CNH, HĐH nông thôn, thể hiện
ở những khía cạnh sau đây:
+ Một là: TTTDNT đóng vai trò quan trọng trong thu hút, phân bổ vốn
tín dụng, đầu tư phục vụ CNH, HĐH nông thôn, đẩy mạnh tăng trưởng kinh
tế, phát triển xã hội ở khu vực nông thôn; khuyến khích tiết kiệm và đầu tư
Nếu như không có TTTDNT hoặc TTTDNT hoạt động kém hiệu quảthì những khoản tiết kiệm nhỏ, lẻ, phân tán và tạm thời nhàn rỗi sẽ tiếp tụcnằm im dưới dạng "của cải dự trữ"; không thể sinh lợi cho các chủ thể nắmgiữ của cải đó, cũng không có tác động tới tăng trưởng và phát triển kinh tế,đảm bảo tiến bộ xã hội
Đồng vốn nhàn rỗi trong dân cư không luân chuyển trong lưu thông,khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ rơi vào tình trạng thiếu vốn, sản xuất khôngphát triển và nền kinh tế sẽ rơi vào "vòng luẩn quẩn": tiết kiệm thấp, đầu tư
Trang 13thấp, sản xuất không phát triển, thu nhập thấp Trái lại, TTTDNT hình thành vàphát triển sẽ thực hiện được chức năng là kênh dẫn vốn gián tiếp quan trọng ởkhu vực nông thôn Thông qua TTTDNT những khoản tiết kiệm chưa tiêudùng, những đồng tiền phân tán, nhỏ lẻ và tạm thời nhàn rỗi ở trong tay các chủthể cung vốn (cá nhân, hộ gia đình, tổ chức xã hội, doanh nghiệp ) thuộc mọithành phần kinh tế được chuyển đến các trung gian tài chính Qua kênh dẫnvốn này vốn tín dụng đến những chủ thể chưa có vốn hoặc thiếu vốn, đang cónhu cầu vay vốn tín dụng đầu tư phát triển kinh tế, phát triển xã hội ở khu vựcnông thôn Chính quá trình luân chuyển vốn từ chủ thể cung vốn sang chủ thểcầu vốn trên TTTDNT thông qua các trung gian tài chính đã đặt thị trường huyđộng vốn này vào vị trí là một trong những kênh huy động vốn quan trọng bậcnhất trong phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn TTTDNT thu hút, huy độngvốn tiết kiệm của dân cư, hình thành nguồn vốn lớn, tập trung, góp phần tạovốn để thực hiện CNH, HĐH nông thôn, trước hết là: phát triển kết cấu hạ tầngnông thôn hiện đại, nhất là phát triển đường giao thông liên tỉnh, liên huyện,liên xã, liên thôn; phát triển mạng lưới điện, thông tin liên lạc; xây dựng cáccông trình thủy lợi… phục vụ đắc lực cho chuyển dịch CCKT nông thôn hiệnđại, bền vững, phù hợp và hội nhập kinh tế quốc tế, đó là: giảm nhanh tỷ trọngsản phẩm nông nghiệp và lao động trong nông nghiệp, tăng tỷ trọng sản phẩm
và lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ ở khu vực nông thôn; mở rộngphát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề dịch vụ ở khu vựcnông thôn đặc biệt là khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống để vừagiữ được bản sắc truyền thống của dân tộc, vừa tiến theo quá trình hội nhập,đảm bảo tính hiện đại trong sản phẩm, tăng hàm lượng giá trị vô hình vào SX -KD; đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn với thị trường trong nước,quốc tế; nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản trên thị trường Đồng thời,TTTDNT phát triển gián tiếp góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập chongười lao động ở khu vực nông thôn Suy đến cùng, phát triển TTTDNT thúcđẩy mạnh mẽ cung - cầu tín dụng; khuyến khích tiết kiệm và đầu tư
+ Hai là, phát triển TTTDNT góp phần nâng cao năng lực hạch toán
kinh doanh của các chủ thể kinh tế ở khu vực nông thôn, đặc biệt chủ thể kinh
Trang 14tế là các hộ gia đình nông dân, đẩy mạnh SX - KD gắn với thị trường và hộinhập kinh tế quốc tế.
Khó khăn lớn nhất của nhiều nước, trong đó có Việt Nam khi chuyểnđổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế KTTT đó là tư duychậm đổi mới để tiến kịp nền KTTT Sự thiếu nhanh nhạy, thiếu thông tin vàthiếu hiểu biết về KTTT của chủ thể kinh tế ở nông thôn cản trở thiết lập, xâydựng dự án SX - KD; khả năng hạch toán kinh doanh yếu TTTDNT hìnhthành và phát triển như là một "cú huých" làm chuyển động tư duy của chủthể sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa Chủ thể kinh tế nói chung,nông dân nói riêng buộc phải tự suy nghĩ trên luống cày của mình, SX - KDsản phẩm gì? Ai là người tiêu thụ sản phẩm? Làm như thế nào để đem lại hiệuquả kinh tế cao nhất? Nghĩa là, tư duy của họ gắn với nền KTTT Dân cưnông thôn đa số là người nghèo, năng lực tài chính thấp, nội lực hạn chế,không thể tự tài trợ đầy đủ vốn cho dự án SX - KD buộc phải huy động vốn từbên ngoài, trong đó có huy động vốn tín dụng trên TTTDNT Khi họ vay vốn,tất yếu phải tuân thủ theo quy luật: có vay, có trả (cả gốc và lãi) cho chủ thểcung vốn tín dụng Sức ép đó buộc chủ thể kinh tế phải xây dựng, phát triểncác dự án kinh doanh sao cho có hiệu quả để vừa có khả năng trả nợ đượckhoản đi vay vừa có lợi nhuận để tái SX - KD, tái sản xuất sức lao động đểlàm giàu cho mình, cho xã hội và xây dựng nông thôn mới
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các chủ thểkinh tế ở nông thôn nói chung, hộ gia đình nông dân sản xuất hàng hóa nóiriêng phải đối mặt với cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Xu thế
đó đặt ra yêu cầu đối với các chủ thể kinh tế phải đổi mới nhận thức và hànhđộng trong hoạt động SX - KD Tất nhiên, bước chuyển đó không phải ngaylập tức mà phải dần dần Phát triển TTTDNT đã gián tiếp nâng cao năng lựchạch toán kinh doanh của chủ thể kinh tế trong cơ chế KTTT hiện đại
+ Ba là, phát triển TTTDNT không chỉ tạo nên sự đa dạng, phong phú
các kênh, huy động và cho vay vốn phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nôngthôn mà còn tạo động lực cạnh tranh trên thị trường vốn cả nước nói chung,thị trường vốn ở khu vực nông thôn nói riêng
Trang 15Nền KTTT càng phát triển, hệ thống các kênh dẫn vốn càng trở nên đadạng: Kênh dẫn vốn trực tiếp (thông qua thị trường chứng khoán) và kênh dẫnvốn gián tiếp (thông qua các trung gian tài chính, bao gồm ngân hàng và các
tổ chức phi ngân hàng) Hai kênh dẫn vốn này tác động lẫn nhau, cạnh tranhnhau cùng phát triển; làm tăng nhanh vòng luân chuyển, các nguồn tài chính,đồng thời hạ thấp chi phí, tăng tính hiệu quả kinh tế cho chủ thể cung vốn vàchủ thể cầu vốn; phục vụ đắc lực cho sự nghiệp CNH, HĐH nông thôn
Tuy nhiên, nông thôn là khu vực rộng lớn về đất đai, đông đúc về dân
cư và cũng thường là khu vực kém phát triển hơn so với các khu vực kinh tếkhác Hơn nữa, kinh tế ở khu vực này chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, côngnghiệp chế biến nông - lâm sản, tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề truyềnthống… Năng lực tài chính của các chủ thể kinh doanh yếu; dự án kinh doanhnhỏ; món vay thường nhỏ, lẻ nhưng số lượng món vay lớn; khả năng kinhdoanh hạn chế… Những yếu thế đó dẫn đến việc huy động vốn trực tiếp trênthị trường chứng khoán là rất khó khăn, kể cả trong tương lai gần Do đó, pháttriển TTTDNT không chỉ đáp ứng được nhu cầu đa dạng, phong phú vốn SX -
KD của mọi tầng lớp dân cư nông thôn mà còn tiếp tục phát huy vai trò củakênh dẫn vốn gián tiếp, quan trọng nhất cung ứng vốn thực hiện mục tiêuCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện mới và hoàn cảnh mới -hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới
+ Bốn là, thông qua phát triển TTTDNT Nhà nước có thể thực thi các
chính sách tài chính - tiền tệ, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn; nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong phát triển kinh tếnông thôn
CNH, HĐH nông thôn là một quá trình lâu dài, đầy khó khăn, phứctạp Bởi vì, nông thôn là khu vực kinh tế - xã hội rộng lớn, song xuất phátđiểm của sự nghiệp CNH, HĐH rất thấp: Dân số đông, tỷ lệ lao động làmnông nghiệp cao; trình độ lao động thấp; khoa học - công nghệ và kết cấu hạtầng khu vực nông thôn lạc hậu… dẫn đến năng suất, chất lượng hàng nông
Trang 16sản cũng như sản phẩm hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp… chưa cao.Trong khi đó, sức ép của cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế là rất lớn.
Để khắc phục những khó khăn trên, không chỉ huy động tổng lực cácnguồn lực đầu vào phục vụ quá trình CNH, HĐH nông thôn, phát triển kinh tế -
xã hội nông thôn mà còn cần phải phát triển đồng bộ và có chất lượng các loạithị trường, trong đó, ở khu vực nông thôn phát triển TTTDNT đóng một vaitrò quan trọng đặc biệt Thông qua phát triển TTTDNT, Chính phủ có thểthực hiện việc điều tiết (bơm - hút) các dòng vốn, đẩy mạnh luân chuyển tiền
tệ theo cơ chế thị trường mở Đồng thời, Nhà nước cũng có thể sử dụng cáccông cụ: công cụ lãi suất, công cụ tái chiết khấu, công cụ dự trữ bắt buộc…thực hiện điều tiết vĩ mô trong huy động vốn tín dụng đầu tư thực hiện CNH,HĐH và phát triển kinh tế nông thôn; đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh
tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân cư nông thôn
+ Năm là, Phát triển TTTDNT góp phần giảm bớt, tiến tới xóa bỏ tệ
nạn cho vay nặng lãi; làm lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng, tạo điều kiệnthuận lợi để dân cư nông thôn huy động vốn thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn; xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, văn minh
Trong quá trình CNH, HĐH cũng như phát triển kinh tế - xã hội nôngthôn, thị trường tín dụng phi chính thức vẫn có điều kiện phát triển Ngoàinhững tác động tích cực (tạo thêm kênh huy động vốn cho phát triển nôngnghiệp, nông thôn; dân cư dễ tiếp cận tới nguồn vốn tín dụng phi chính thức
do thủ tục đơn giản, thời gian vay - trả vốn không cố định…), thị trường tíndụng phi chính thức còn có mặt trái (lãi suất rất cao, rủi ro đến với người dânnghèo vay vốn trên thị trường này thường trực…), tệ nạn cho vay nặng lãi cóđiều kiện phát triển Ở một số nơi, tệ nạn cho vay nặng lãi phát triển mạnhgây bất lợi cho tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thậm chí làmbất ổn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này
Vì vậy, phát triển TTTDNT chính thức có hiệu quả sẽ thu hẹp dần thịtrường tín dụng phi chính thức ở khu vực nông thôn, xóa bỏ triệt để tệ nạncho vay nặng lãi, lành mạnh hóa quan hệ tín dụng trên TTTDNT
Trang 17Chuyên đề 2 CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
TS Phạm Thị Khanh
CN Trần Thị Tuyết Lan
1 Khả năng cung ứng vốn tín dụng và khả năng cầu vốn của các chủ thể kinh tế ở khu vực nông thôn có tác động trực tiếp tới phát triển tín dụng trên TTTDNT
Theo lý thuyết của kinh tế học hiện đại, thị trường tín dụng nói chung,TTTDNT nói riêng chịu sự tác động trực tiếp của nhân tố cung vốn tín dụng
và nhân tố cầu vốn tín dụng; giá cả (lãi suất) trên thị trường vốn tín dụng; sựđiều chỉnh cung - cầu vốn tín dụng thông qua lãi suất trên TTTDNT dẫn đếncân bằng cung - cầu vốn tín dụng
Cung (Supply) vốn tín dụng chính là những khoản tiết kiệm hay thu
nhập chưa tiêu dùng của các chủ thể kinh tế, các thành phần kinh tế, của dâncư… được chuyển đến các trung gian tài chính (chủ yếu là ngân hàng) hìnhthành nên khối lượng tiền tệ, sẵn sàng cung ứng trên TTTDNT Đó là:
- Những khoản tiết kiệm của dân cư
- Những khoản tiết kiệm của các loại hình doanh nghiệp
- Các Quỹ tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức xã hội
- Những khoản tiết kiệm của NSNN Trung ương và NSNN địa phương
- Khối lượng tiền tệ lưu thông ngoài ngân hàng và mức giảm dự trữtiền tệ của hệ thống ngân hàng cũng như các trung gian tài chính khác…
Cầu (Demand) vốn tín dụng là nhu cầu vay vốn tín dụng để đầu tư của
các chủ thể kinh tế ở khu vực nông thôn, bao gồm:
Trang 18- Nhu cầu vốn tín dụng của dân cư (cá nhân và hộ SX - KD).
- Nhu cầu vốn tín dụng của các loại hình doanh nghiệp
- Nhu cầu vốn tín dụng của Nhà nước Trung ương và chính quyền địaphương (hay sự thâm hụt NSNN Trung ương và chính quyền địa phương cầnphải bù đắp)
- Mức giảm khối lượng tiền tệ cung ứng và mức tăng dự trữ tiền tệ.Tập hợp nhu cầu vốn tín dụng của các chủ thể kinh tế hình thành lựclượng cầu vốn tín dụng ở khu vực nông thôn Cung - cầu vốn tín dụng trênTTTDNT phụ thuộc vào giá cả (lãi suất) của vốn tín dụng Hay nói một cáchkhác mức tăng, giảm của cung - cầu vốn tín dụng do lãi suất tín dụng trênTTTDNT quyết định Cung - cầu tín dụng đạt cân bằng ở mức lãi suất (giávốn) nhất định, phản ánh qua đồ thị sau:
Sơ đồ: Cung - cầu vốn tín dụng trên TTTDNT
Như vậy, yếu tố lãi suất và cung - cầu tín dụng trên TTTDNT luôntác động qua lại lẫn nhau, ngược chiều nhau, thúc đẩy nhau cùng tồn tại và
phát triển Đối với cầu tín dụng: khi lãi suất tăng, cầu tín dụng giảm và ngược
lại Khi lãi suất giảm, cầu tăng lên Đối với cung tín dụng: Khi lãi suất tăng,cung tín dụng tăng lên và khi lãi suất giảm, cung tín dụng giảm theo Cung -cầu tín dụng đạt mức cân bằng ở Eo, với mức lãi suất io và khối lượng tiền tíndụng ở Q
Trang 19Sơ đồ phản ánh sự tác động qua lại lẫn nhau giữa cung tín dụng và cầutín dụng trên TTTDNT, phụ thuộc vào lãi suất tín dụng Xét về bản chất, đó chính
là sự tham gia của các chủ thể cung - cầu vốn tín dụng ở khu vực nông thôn Nếuthiếu sự xuất hiện của các chủ thể đó sẽ không thể hình thành và phát triểnTTTDNT Do đó, nhân tố cung - cầu vốn tín dụng là một trong những nhân tốquan trọng nhất, quyết định nhất tới sự mở rộng hay thu hẹp TTTDNT cũng nhưđánh giá chất lượng phát triển TTTDNT trong quá trình CNH, HĐH nông thôn
2 Trình độ phát triển của hệ thống tài chính nói chung, hệ thống các trung gian tài chính nói riêng ảnh hưởng tới sự phát triển của TTTDNT trong quá trình CNH, HĐH nông thôn
- Sự trưởng thành của hệ thống tài chính và các trung gian tài chínhkhông chỉ coi là tiêu thức quan trọng đánh giá sự phát triển của nền KTTThiện đại, hội nhập kinh tế quốc tế mà còn là nhân tố cơ bản thúc đẩy sựtrưởng thành và lớn mạnh của TTTDNT Một hệ thống tài chính phát triển ởtrình độ cao vừa có thể tập trung được nguồn tài chính, hình thành sức mạnhtài chính mà còn mở rộng, giao lưu và luân chuyển nhanh chóng các luồngvốn đầu tư trên phạm vi ngành, vùng, quốc gia, khu vực và trên phạm vi toàncầu; thực hiện "bơm - hút" hiệu quả các nguồn lực tài chính nói chung, nguồnvốn tín dụng nói riêng phục vụ mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.Ngược lại, hệ thống tài chính cũng như các trung gian tài chính yếu kém sẽ làmột trở lực, ngăn cản sự giao lưu các nguồn vốn; vốn tín dụng sẽ rất khó tớiđược khu vực nông nghiệp, nông thôn - nơi khó hấp dẫn các nguồn vốn đầu
tư, nhất là vốn tín dụng; TTTDNT sẽ kém phát triển
- Trong nền KTTT hiện đại, sự trưởng thành của hệ thống các trunggian tài chính ở khu vực nông thôn không chỉ tạo điều kiện thuận lợi để cácchủ thể cung vốn và các chủ thể cầu vốn dễ dàng tiếp cận với nhau trênTTTDNT mà còn cung cấp nhanh, chính xác và kịp thời các thông tin về chủthể cung và chủ thể cầu vốn tín dụng Từ đó, giảm thiểu các rủi ro, bất trắcliên quan tới thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch về năng lực của các chủthể tham gia trên TTTDNT Nhờ đó, giảm được rủi ro, giảm chi phí đầu tư,
Trang 20nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển SX - KD; thúc đẩy CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn tăng trưởng và phát triển.
3 Năng lực sử dụng vốn tín dụng của các chủ thể cầu vốn tín dụng tác động tới việc thu hẹp hay mở rộng TTTDNT trong quá trình CNH, HĐH
Huy động vốn của các trung gian tài chính ở khu vực nông thôn chỉ làđiều kiện cần để phát triển TTTDNT trong quá trình CNH, HĐH Điều kiện
đủ để TTTDNT phát triển còn tùy thuộc vào khả năng hay năng lực sử dụngvốn tín dụng của các chủ thể cầu vốn trên TTTDNT
Mục đích đầu tư vốn tín dụng của các chủ thể vay vốn trên TTTDNT
là rất phong phú, đa dạng Các chủ thể cầu vốn tín dụng có thể dùng khoảnvốn tín dụng đầu tư đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng một cách đồng bộ,hiện đại, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông nghiệp, nông thôn hay trựctiếp phát triển kinh tế nông thôn, như: Phát triển nông nghiệp hàng hóa, lựachọn cây trồng, vật nuôi có lợi thế để phát triển các vùng chuyên canh, gắnvới công nghiệp chế biến nông, lâm sản, hướng về thị trường trong điều kiệnhội nhập kinh tế quốc tế; phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp… Mộtkhi chủ thể vay vốn tín dụng đủ lớn, kịp thời, sử dụng đồng vốn vay hiệu quảkhông những đảm bảo trả được nợ gốc mà còn có điều kiện thanh toán lãi chocác trung gian tài chính; thúc đẩy SX - KD cũng chính là tạo ra tăng trưởng vàphát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của nhân dân, trướchết là dân cư ở khu vực nông thôn Đây chính là đảm bảo sự tồn tại, phát triểnvững chắc của TTTDNT và ngược lại Nói cách khác, sử dụng hiệu quả vốn tíndụng sẽ tạo đà cho tích lũy và đầu tư, thúc đẩy TTTDNT phát triển bền vững
4 Vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước ảnh hưởng tới phát triển TTTDNT trong quá trình CNH, HĐH
Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng CNH, HĐH, mọiNhà nước, không phân biệt chính trị - xã hội đều thể hiện quyền lực hay sức mạnhcủa mình thông qua điều tiết các chính sách vĩ mô, trong đó có chính sách pháttriển thị trường tài chính nói chung, chính sách phát triển TTTDNT nói riêng
Trang 21Nếu mục đích của Nhà nước lấy xây dựng xã hội ngày càng hiện đại,công bằng, dân chủ, văn minh thì động lực chính là phải đẩy mạnh tăngtrưởng và phát triển kinh tế bền vững, đặc biệt phải hướng tới phát triển mạnhkinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn Xuất phát từ điều kiện về kinh tế, lịch
sử và tự nhiên, khu vực nông thôn thường có sự lạc hậu tương đối so với cáckhu vực khác Do đó, định hướng chiến lược của Nhà nước tạo điều kiện chokhu vực nông thôn phát triển thông qua điều tiết chính sách kinh tế vĩ mô,nhất là chính sách đẩy mạnh phát triển TTTDNT
- Nhà nước định hướng chiến lược phát triển hiệu quả TTTDNT thôngqua việc thúc đẩy, mở rộng mạng lưới các trung gian tài chính ở khu vựcnông thôn, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế - xã hộigiữa nông thôn và thành thị Thông qua chính sách phát triển TTTDNT, Nhànước tác động vào các chủ thể cung - cầu vốn tín dụng ở khu vực nông thôn,nhất là hộ nghèo, vùng nghèo (miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa), có thể
dễ dàng tiếp cận tới TTTDNT bằng nhiều cách: đơn giản hóa thủ tục vay vàcho vay; đổi mới phương thức cho vay, hình thành các ngân hàng lưu động,cho phép hình thành tổ, nhóm vay vốn tín dụng… Nhờ vốn tín dụng, các chủthể SX - KD ở khu vực nông thôn có thể phát huy được lợi thế của mình, đẩymạnh phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trườngtrong nước và ngoài nước… Khi sản xuất kinh tế nông thôn có đầu ra, khảnăng sử dụng vốn tín dụng của dân cư nông thôn có hiệu quả sẽ tạo ra sựtrường tồn và phát triển không ngừng của thị trường tài chính nói chung,TTTDNT nói riêng
- Nhà nước có thể thực hiện chính sách cho vay tín dụng với lãi suất
ưu đãi đối với phát triển kinh tế nông thôn Việc cho vay lãi suất ưu đãi đốivới phát triển kinh tế nông thôn thông qua nhiều kênh, hoặc Nhà nước trựctiếp trích NSNN bổ sung vào vốn điều lệ cho các ngân hàng thực hiện cácchính sách xã hội (phương án này khá hiếm), hoặc giao trách nhiệm cho cácngân hàng chuyên trách, chẳng hạn Ngân hàng chuyên thực hiện các chínhsách xã hội…
Trang 22- Thông qua điều tiết vĩ mô, Nhà nước có thể định hướng, thậm chíquy định (có tính pháp lệnh) cho các trung gian tài chính trên địa bàn nôngthôn thực hiện cho vay theo mục tiêu, chương trình, dự án nếu xét thấy cóhiệu quả Những khoản cho vay nhằm vào mục đích phát triển kết cấu hạ tầngphục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế nông thôn; hình thành các vùng câychuyên canh, vật nuôi hàng hóa; các sản phẩm hàng hóa phi nông nghiệp khác
có thị trường tiêu thụ rộng lớn ở cả trong nước, nước ngoài; hoặc các dự ánthực hiện mục tiêu kép - phát triển kinh tế và phát triển xã hội Nhất là, Nhànước định hướng cho vay tín dụng phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ởnhững vùng nghèo, hộ nghèo có ý chí thoát khỏi đói nghèo, vươn lên khá vàgiàu… Thông qua điều tiết vĩ mô bằng chính sách của Nhà nước đã thúc đẩyTTTDNT phát triển phục vụ mục tiêu CNH, HĐH khu vực nông thôn
- Thông qua điều tiết vĩ mô, Nhà nước gián tiếp tác động vào pháttriển TTTDNT; khuyến khích các chủ thể kinh tế ở khu vực nông thôn ápdụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nhất là nông nghiệp, tiểu thủcông nghiệp và làng nghề truyền thống khác; đẩy mạnh khuyến nông, khuyếnlâm, khuyến ngư… Đối với những chủ thể kinh tế đi đầu trong ứng dụng tiến
bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất có thể khuyến khích bằng nhiều biệnpháp hoặc thưởng hoặc hỗ trợ bằng tiền, hiện vật, cho vay vốn đủ lớn… Khi
sử dụng thành công tiến bộ khoa học - công nghệ; xây dựng được những điểnhình kinh tế nhằm tạo ra sức lan tỏa, cuốn hút, thúc đẩy kinh tế nông thônphát triển Những biện pháp mang tính hỗ trợ của Nhà nước tạo điều kiện choTTTDNT phát triển hiệu quả
5 Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật ảnh hưởng tới quá trình phát triển TTTDNT trong quá trình CNH, HĐH nông thôn
- Cũng giống như bất cứ một loại thị trường nào, TTTDNT có nhiềuchủ thể kinh tế cùng tham gia hoạt động: chủ thể cung vốn - chủ thể cầu vốn
và các trung gian tài chính… lợi ích của các chủ thể trên TTTDNT là khácnhau, thậm chí là ngược chiều nhau:
Trang 23+ Các chủ thể cung vốn tín dụng nhượng "quyền sử dụng vốn tíndụng" cho chủ thể cầu vốn tín dụng với mục đích thụ hưởng lãi suất cao nhất
có thể Đồng thời dễ dàng, thuận lợi rút vốn khi cần thiết
+ Các chủ thể cầu vốn tín dụng mua "quyền sử dụng vốn tín dụng" vớimong muốn mức lãi suất là thống nhất; thủ tục đơn giản, thuận lợi; lượng vốn
đủ lớn, phù hợp với chu kỳ phát triển SX - KD
+ Các trung gian tài chính mong muốn nhận được lợi ích lớn nhất khithực hiện dịch vụ tài chính; phát triển được mạng lưới và khách hàng cung -cầu vốn trên TTTDNT; đảm bảo an toàn đồng vốn đã huy động và cho vay…
Như vậy, về cơ bản, lợi ích của các chủ thể kinh tế tham gia trênTTTDNT là khác nhau, nhưng cùng chung mục đích là góp phần tạo nênTTTDNT Tuy nhiên, bên cạnh sự hòa hợp, thống nhất đó còn tạo dựng nênnhững mâu thuẫn, cần có sự bảo đảm của pháp luật để các chủ thể tham giavào TTTDNT thực hiện đúng và tốt quyền lợi và trách nhiệm của mình
- Các chủ thể cung vốn và chủ thể cầu vốn trên TTTDNT có điểmkhác biệt so với các chủ thể cung vốn và chủ thể cầu vốn trên các thị trườngvốn khác là ở chỗ:
+ Tiềm lực tài chính của các chủ thể cung vốn ở khu vực nông thônkhông mạnh Nguyên nhân cơ bản xuất phát từ chỗ kinh tế nông thôn pháttriển chậm hơn so với các khu vực kinh tế khác, dẫn đến thu nhập thấp, tíchlũy thấp, tiết kiệm thấp, lượng vốn huy động TTTDNT hạn hẹp
+ Các chủ thể cầu vốn tín dụng sử dụng vốn chủ yếu vào phát triển
SX - KD trong ngành nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyềnthống nhất là trong quá trình CNH, HĐH, lượng vốn yêu cầu cho đầu tưphát triển ngày càng lớn để đầu tư phát triển kinh tế nông thôn hiện đại, đồngbộ; sản phẩm hàng hóa có chất lượng, mở rộng được thị trường tiêu thụ ở cảtrong nước và ngoài nước; gắn kết với hội nhập kinh tế Tuy nhiên, đại đa sốchủ thể cầu vốn tín dụng là nông dân, tư duy về KTTT đang hình thành, tâm
lý của người sản xuất nhỏ vẫn tiếp tục bám đuổi họ trong SX - KD Tư duy
Trang 24của nông dân thời kỳ bao cấp vẫn tồn tại đã cản trở quá trình mở rộng, pháttriển TTTDNT cũng như đảm bảo an toàn đồng vốn đã cho vay Do đó, đổimới và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm điều chỉnh các mối quan hệ, đảmbảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia TTTDNT; ngăn chặn, đẩy lùinhững tiêu cực có thể nảy sinh trong hoạt động huy động và cho vay vốn tíndụng trên TTTDNT.
Hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế trên TTTDNT baogồm: Các văn bản luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể cung, cầu vốn tíndụng và các văn bản luật điều chỉnh chủ thể tham gia làm dịch vụ tín dụngtrên TTTDNT, như: Luật đầu tư, Luật tín thác, Luật hợp đồng, Luật dân sự,Luật hình sự, Luật công ty, Luật doanh nghiệp, Luật phá sản, Luật và pháplệnh ngân hàng, Luật bảo hiểm Hệ thống luật hình thành cơ sở pháp lý điềuchỉnh các quan hệ kinh tế trên TTTDNT đầy đủ, đồng bộ và có chất lượng cao
sẽ thúc đẩy TTTDNT hoạt động lành mạnh, an toàn, hiệu quả, đáp ứng đượcyêu cầu vốn tín dụng đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Tuynhiên, xây dựng được hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, có chất lượng caochỉ là điều kiện cần để TTTDNT phát triển hiệu quả Vấn đề quan trọng hơn
đó là triển khai và thực hiện luật hiệu quả, có sự kiểm tra, giám sát của Nhànước, của nhân dân, phát hiện, ngăn chặn và đẩy lùi các hành vi vi phạmpháp luật liên quan tới TTTDNT, xử lý nghiêm minh các hành vi sai tráinhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các chủ thể tham giatrên TTTDNT
6 Hệ thống thông tin kinh tế ảnh hưởng tới phát triển TTTDNT trong quá trình CNH, HĐH nông thôn
Phát triển nền KTTT trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tếquốc tế, hệ thống thông tin kinh tế đóng vai trò quyết định tới việc mở rộnghay thu hẹp TTTDNT Hệ thống thông tin kinh tế chính là căn cứ để các chủthể cung vốn và chủ thể cầu vốn, các trung gian tài chính tiến hành điều chỉnhcác hoạt động kinh tế của mình một cách hiệu quả
Trang 25Việc xác lập hệ thống thông tin kinh tế không chỉ cho biết tiềm lực tàichính của chủ thể cung vốn mà còn xác định rõ tình hình huy động, cho vaycủa các chủ thể cung vốn; năng lực sử dụng vốn tín dụng của các chủ thể cầuvốn tín dụng trên TTTDNT; hiệu quả SX - KD của các chủ thể vay vốn Từ
đó dự báo nhu cầu vốn tín dụng, chuẩn bị năng lực tài chính đáp ứng yêu cầuvốn tín dụng trong quá trình CNH, HĐH nông thôn; đảm bảo an toàn đồngvốn đã huy động và cho vay, thúc đẩy phát triển hay thu hẹp TTTDNT
Trang 26Chuyên đề 3 VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG
NÔNG THÔN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
CN Nguyễn Thị Miền
Vai trò quản lý nhà nước về kinh tế luôn luôn vận động và biến đổi tùythuộc vào chế độ chính trị, yêu cầu và xu hướng phát triển kinh tế của mỗi quốcgia trong từng giai đoạn Tuy nhiên, từ thực tiễn phát triển kinh tế của các nước
đã chỉ ra rằng, để nền kinh tế vận hành có hiệu quả phải kết hợp cả cơ chế thịtrường và cơ chế điều tiết của Nhà nước, song có thể tùy từng giai đoạn pháttriển khác nhau mà điều chỉnh mối quan hệ này cho phù hợp Việt Nam là mộtnền kinh tế đang chuyển đổi, vì vậy vai trò của Nhà nước trong kinh tế được thểhiện ở chỗ, một mặt, là "bà đỡ" đảm bảo cho cơ chế thị trường ra đời đồng bộ vàthông suốt, mặt khác, hạn chế những khuyết tật của cơ chế thị trường, thúc đẩykinh tế phát triển
Nằm trong quy luật chung đó, TTTDNT vừa vận hành theo cơ chế thịtrường, vừa chịu sự điều tiết của Nhà nước Song do TTTDNT có những khácbiệt so với các loại thị trường khác, như: hàng hóa trên thị trường tín dụng là vốnngắn hạn, giá cả của hàng hóa chính là lãi suất, quan hệ giữa bên cung và bêncầu dựa trên sự tín nhiệm nên nhiều khi độ rủi ro lớn… do đó, vai trò quản lýcủa Nhà nước đối với TTTDNT càng đặc biệt quan trọng Vai trò của Nhà nước
ở đây chính là thông qua quản lý kinh tế vĩ mô tạo lập môi trường kinh doanh;định hướng, hướng dẫn và điều tiết tức là Nhà nước thực hiện vai trò là "bà đỡ";kiểm tra, kiểm soát, tức là Nhà nước dùng các biện pháp để hạn chế nhữngkhuyết tật của thị trường để TTTDNT vùng ĐBSH ngày càng hoàn thiện và vậnhành hiệu quả đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong vùng
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển của TTTDNT vùng ĐBSHđược thông qua các chức năng Việc xác định đúng đắn chức năng quản lý củaNhà nước đối với thị trường tín dụng có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm xác
Trang 27định những việc mà Nhà nước cần và phải làm, những việc Nhà nước không cần
và không được làm từ đó thúc đẩy, hỗ trợ để thị trường tín dụng ngày càng pháttriển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực này Vaitrò quản lý của Nhà nước được thể hiện qua các chức năng dưới đây:
1 Tạo lập môi trường thuận lợi để thị trường tín dụng ngày càng hoàn thiện và vận hành hiệu quả
Nhà nước tạo lập môi trường thuận lợi, tức là tạo ra môi trường pháp lý,môi trường chính trị, kinh tế, xã hội ổn định để TTTDNT ĐBSH ngày cànghoàn thiện, vận hành linh hoạt và hiệu quả, một mặt, phù hợp với cơ chế thịtrường, mặt khác, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của vùng mà Nhànước đã định ra
- Về môi trường pháp lý: Nhà nước xây dựng và hoàn thiện hành lang
pháp lý cho phù hợp với thực tế hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho TTDNTĐBSH hoàn thiện và phát triển Đó là hệ thống luật pháp về TTTDNT, bao gồmcác luật và những văn bản dưới luật của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác Hệ thống luật pháp này phải bảo đảmtính hệ thống, nhất quán, khả thi và tương đối ổn định nhằm tạo hành lang pháp
lý thuận lợi để TTTDNT phát triển
Hệ thống luật pháp về TTTDNT gồm có Bộ luật dân sự năm 1995 vàđược điều chỉnh, bổ sung năm 2005 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam là văn bản gốc, bao trùm Luật hoạt động của hệ thống ngânhàng; các Tổ chức tín dụng năm 1997 và được sửa đổi, bổ sung năm 2004 là quyđịnh cụ thể Căn cứ Bộ luật Dân sự, Luật các Tổ chức Tín dụng, Chính phủ, Thủtướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các Bộ liên quan ban hànhcác văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết về: quy chế cho vay; quy chếbảo lãnh; chiết khấu giấy tờ có giá; nghĩa vụ trả nợ của khách hàng; quy định antoàn tín dụng; quy định về bảo đảm tiền vay; quy định về đăng ký giao dịch bảođảm, về công chứng, chứng thực; quy định về thế chấp giá trị quyền sử dụngđất… Đối với nước ta nói chung và vùng ĐBSH nói riêng, do thị trường tín dụng
Trang 28còn sơ khai đòi hỏi môi trường pháp lý càng phải chi tiết, đầy đủ, công khai,minh bạch Trên cơ sở quy định của hệ thống luật pháp, các chủ thể của TTTDNTcăn cứ vào đó để hoạt động cho hiệu quả, trên cơ sở đó thúc đẩy TTTDNT vùngĐBSH ngày càng hoàn thiện và phát triển, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xãhội trong vùng
- Môi trường kinh tế - xã hội Bên cạnh môi trường pháp lý, thông qua
quản lý kinh tế vĩ mô, Nhà nước còn bảo đảm sự ổn định chính trị, kinh tế
-xã hội như bảo đảm trật tự và an toàn -xã hội, thi hành nhất quán các chínhsách và thể chế theo cơ chế thị trường, ổn định môi trường kinh tế vĩ mô đểthị trường tín dụng hoạt động hiệu quả, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội trong khu vực
Bằng quyền lực và sức mạnh kinh tế của mình, Nhà nước xây dựng cơ
sở hạ tầng, tạo điều kiện để thị trường tín dụng khu vực ĐBSH ngày càng hoànthiện và phát triển Với việc tạo ra một hệ thống hạ tầng kinh tế khu vực ĐBSHphát triển đồng bộ và phù hợp như hệ thống giao thông, thông tin hiện đại thôngsuốt, hệ thống trang thiết bị thanh toán hiện đại sẽ giúp cho việc thanh toánthuận tiện, giảm phiền hà và có độ chính xác cao cũng sẽ giúp cho sự giao dịchtrên thị trường tín dụng thuận tiện
Bên cạnh đó, thông qua chính sách phát triển hạ tầng văn hóa - xã hộinhư giáo dục - đào tạo… một mặt, Nhà nước đào tạo đội ngũ cán bộ tinh thôngnghiệp vụ, am hiểu luật pháp, thông lệ quốc tế trong thời kỳ hội nhập và cóphẩm chất đạo đức hoạt động trong thị trường tín dụng, mặt khác, đào tạo độingũ cán bộ quản lý nhà nước về thị trường tín dụng, tạo điều kiện để thị trườngtín dụng ngày càng hoàn thiện và hoạt động hiệu quả
2 Định hướng và hướng dẫn TTTDNT vùng ĐBSH phát triển
Bằng các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch và quy hoạchphát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSH, Nhà nước định hướng phát triển cho thịtrường tín dụng khu vực này Dựa trên định hướng, hướng dẫn của Nhà nước, bộ
Kế hoạch và Đầu tư cùng với Ngân hàng Nhà nước và các ban ngành có liên quan
Trang 29xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển TTTDNT củavùng trong từng thời kỳ, giai đoạn cho phù hợp để thị trường tín dụng vận hành linhhoạt hiệu quả và an toàn, phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH, HĐH nông thôn ĐBSH.
Nhà nước định hướng và hướng dẫn TTTDNT thông qua chiến lược,quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển Bởi vì, hoạt động của TTTDNTĐBSH tuân theo sự vận động của cơ chế thị trường, song luôn có những biếnđộng mà bất kỳ chủ thể kinh doanh nào cũng khó có thể lường trước được, nên
dễ gặp rủi ro, thất bại và đổ vỡ Mặt khác, Nhà nước còn phải định hướng vàhướng dẫn để thị trường tín dụng phát triển theo quỹ đạo và mục tiêu kinh tế -
xã hội mà Đảng và Nhà nước đã định ra Hơn nữa, thường các chủ thể trên thịtrường tín dụng mới chỉ nhìn thấy tín hiệu của thị trường trước mắt và ngắn hạn,chưa có tầm nhìn xa trông rộng nên khó thích ứng với những biến động của thịtrường Chỉ có Nhà nước mới có khả năng dự đoán tầm xa, đưa ra được các chiếnlược, kế hoạch dài hạn, xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của vùng
để định hướng cho hoạt động của các thị trường, trong đó có thị trường tín dụng
Trong quản lý nền KTTT định hướng XHCN, kế hoạch hóa vẫn đóngvai trò hết sức quan trọng, là chức năng quản lý chủ yếu nhưng đối với hệ thốngthị trường nói chung và thị trường tín dụng nói riêng thì kế hoạch chỉ mang tínhđịnh hướng, lấy thị trường, trong đó có hoạt động của thị trường tín dụng làmcăn cứ và đối tượng của kế hoạch hóa
Xây dựng chiến lược phát triển TTTDNT nhằm đề ra những mục tiêu,
phương hướng và hệ thống giải pháp lớn trong một thời gian dài để huy động tối
ưu các nguồn lực cho phát triển TTTDNT trong vùng, góp phần thực hiện chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội của vùng Bởi vì, chiến lược phát triển TTTD củavùng là một bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của khu vựcĐBSH, nó thể hiện những quan điểm chỉ đạo chung của Nhà nước đối vớiTTTDNT, mục tiêu tổng quát cũng như các giải pháp vĩ mô
Quy hoạch phát triển TTTDNT vùng ĐBSH là một cấp độ để thực hiện
chiến lược, gồm các nội dung chủ yếu như: xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật
Trang 30chung cho hoạt động của TTTDNT, bố trí nguồn nhân lực và các loại hình chủthể tham gia trên TTTD.
Kế hoạch phát triển TTTDNT mang tính định hướng trong phát triển
kinh tế của vùng, Nhà nước xác định phương hướng, mục tiêu phát triển TTTDtrong từng giai đoạn (có thể là 5 năm, 2-3 năm hoặc 1 năm) cũng như xác địnhcác biện pháp để đạt mục tiêu Kế hoạch phát triển TTTDNT vùng ĐBSH vừa làphương pháp, vừa là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện vai trò địnhhướng, hướng dẫn thị trường này phát triển
Chính sách phát triển TTTDNT thuộc hệ thống chính sách kinh tế của Nhà
nước Đó là một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, công cụ và biện pháp thíchhợp được áp dụng để điều chỉnh các hoạt động trên TTTDNT trong vùng qua từngthời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu xác định trong chiến lược phát triểnTTTD cũng như chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của vùng trong từng thờikỳ
3 Điều tiết để thị trường tín dụng hoạt động theo định hướng phát triển kinh tế và công bằng xã hội theo quy định của pháp luật
Thị trường tín dụng hoạt động tuân thủ theo quy luật khách quan của cơchế thị trường nên linh hoạt, năng động song cũng có mặt trái là cạnh tranhkhông lành mạnh, độc quyền dẫn đến những rối loạn, bất ổn về kinh tế - xã hội.Vai trò của Nhà nước ở đây là phát huy những yếu tố tích cực của thị trường tíndụng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng, đồng thời, điều tiết, chi phối đểthị trường tín dụng phục vụ mục tiêu xã hội theo định hướng của Nhà nước, bảođảm cho kinh tế - xã hội trong vùng phát triển ổn định, công bằng và hiệu quả
Để điều tiết, Nhà nước thực hiện cân đối tổng cung và tổng cầu nguồnvốn trên thị trường tín dụng bằng cơ chế, chính sách có tác động trực tiếp hoặcgián tiếp như cơ chế lãi suất; cơ chế tín dụng; quy định kết hối ngoại tệ; quyđịnh về trạng thái ngoại hối; quy định về sử dụng ngoại tệ huy động; cơ chế điềuhành tỷ giá; chính sách cho vay; xử lý rủi ro tín dụng; giải quyết tranh chấp tíndụng… hoặc thông qua các công cụ như dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, chiết khấu
Trang 31và nghiệp vụ thị trường mở… Bên cạnh các biện pháp trên, Nhà nước còn điềutiết bằng các chính sách khác như khuyến khích phát triển ngành nghề tiểu thủcông nghiệp, phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hộ… nhằm thúc đẩy thị trườngtín dụng vận hành hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trongvùng.
4 Tổ chức, kiểm tra các hoạt động trên thị trường tín dụng
Trên cơ sở xác định chức đúng chức năng quản lý kinh tế vĩ mô, thựchiện phương châm "Nhà nước cần buông những cái cần buông, cần nắm nhữngcái cần nắm" mà quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước và của các chủ thể kháctrên thị trường tín dụng Nhà nước sắp xếp bộ máy quản lý trên thị trường tíndụng theo hướng tinh giản, gọn nhẹ, có chất lượng đi đôi với cải cách hànhchính cả về thể chế, thủ tục và cán bộ quản lý, đào tạo và xây dựng đội ngũ cán
bộ quản lý thị trường tín dụng Bộ máy cơ quan quản lý nhà nước về thị tườngtín dụng được tổ chức phù hợp với yêu cầu quản lý trong từng thời kỳ
Nhà nước kiểm tra các hoạt động trên thị trường tín dụng, bởi vì trongnền KTTT có nhiều chủ thể thuộc các thành phần kinh tế tham gia, mà mỗi chủthể này đều có những lợi ích riêng của mình và tìm mọi biện pháp để tối đa hóalợi ích đó Khi tìm cách tối đa lợi ích của mình tất yếu sẽ ảnh hưởng đến lợi íchcủa chủ thể khác Đặc biệt, quan hệ cung - cầu trên thị trường tín dụng lại dựa trên
sự "tín nhiệm" nên càng dễ gặp rủi ro Vì vậy, để thị trường tín dụng vận hànhminh bạch, hiệu quả Nhà nước phải thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soátnhằm phát hiện và ngăn chặn những hành vi sai trái, vi phạm cơ chế tín dụng,ngân hàng, vi phạm pháp luật bảo đảm trật tự kỷ cương, phép nước, bảo vệ lợiích của các chủ thể tham gia thị trường để ổn định hoạt động thị trường tín dụng
Nhà nước kiểm tra, giám sát không chỉ đối với những hoạt động của cácchủ thể cung - cầu trên thị trường mà cả đối với cán bộ, công chức quản lý nhànước về thị trường tín dụng nhằm phát hiện những hiện tượng quan liêu, thamnhũng, cửa quyền gây phiền hà khó khăn, làm sai lệnh động lực phát triển của
Trang 32thị trường tín dụng cũng như làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nước Trongđiều kiện TTTDNT vùng ĐBSH còn sơ khai, chức năng này rất quan trọng.
Trên đây là bốn chức năng chủ yếu thể hiện rõ vai trò quản lý kinh tế vĩ
mô của Nhà nước đối với TTTDNT vùng ĐBSH Để TTTDNT trong vùng ngàycàng hoàn thiện và phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trongthời kỳ mới của ĐBSH, đòi hỏi Nhà nước phải thực hiện tốt các chức năng này
Trang 33Chuyên đề 4 VẤN ĐỀ RỦI RO TRONG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG NÔNG THÔN
PGS.TS Nguyễn Hữu Tư
Trong nền kinh tế thị trường rủi ro trong hoạt động kinh doanh là tấtyếu Vấn đề là làm thế nào để có thể hạn chế đến mức thấp nhất các rủi rotrong quá trình hoạt động kinh doanh Sự quan tâm đó trước hết là việc củacác nhà kinh doanh Nhà nước cũng có vai trò rất quan trọng trong việc phòngngừa và hạn chế rủi ro, đảm bảo độ an toàn cho hoạt động của các doanhnghiệp và sự an toàn của cả nền kinh tế trong quá trình tăng trưởng kinh tếcủa đất nước Tín dụng là một lĩnh vực hoạt động kinh doanh hàm chứa khánhiều rủi ro và có ảnh hưởng không chỉ đến hoạt động kinh doanh của cácngân hàng thuươg mại, các tổ chức tín dụng, các tổ chức tài chính, các doanhnghiệp, mà còn ảnh huởng sâu rộng đến tình hình phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước Trình độ phát triển thị trường tài chính của Việt Nam nóichung, đặc biệt là ở nông thôn vùng ĐBSH hiện nay còn nhiều hạn chế Hoạtđộng của thị trường tín dụng hầu như chỉ tập trung vào các ngân hàng thươngmại, các tổ chức tín dụng Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề rủi ro trong pháttriển thị trường tín dụng nông thôn ĐBSH thực chất là nghiên cứu rủi ro tíndụng của các ngân hàng thuơng mại, ngân hàng chính sách, các quỹ tín dụngnhân dân và các tổ chức tín dụng khác là nội dung chủ yếu của bài viết sauđây
Khái niệm rủi ro tín dụng
Có thể nói, bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào cũng có rủi ro Rủi ro là nhữngbiến cố không mong đợi xẩy ra, làm cho chủ thể bị thiệt hại về tài sản, thu nhập
và ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh Với chức năng trung gian tài chính giữangười đi vay và người cho vay, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng và các
tổ chức tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro Có nhiều cách phân loại rủi ro khác
Trang 34nhau Chẳng hạn, có thể phân loại thành rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi rothị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối, rủi ro chiếnlược, rủi ro pháp lý, rủi ro uy tín, rủi ro công nghệ thông tin [76, tr 19-20].Dựa vào cách phân loại của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, rủi ro ngânhàng được chia thành ba loại chính: rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường và rủi
ro tín dụng
Rủi ro hoạt động bao gồm toàn bộ các rủi ro có thể phát sinh xuất phát
từ cách thức mà một ngân hàng điều hành hoạt động của mình Ví dụ, cấu trúchạn mức không phù hợp trong lĩnh vực kinh doanh nguồn vốn, quản lý tồi cácqui trình quản lý tín dụng, tình trạng cán bộ tham ô
Rủi ro thị trường xẩy ra khi có sự thay đổi của điều kiện thị trường
hay những biến động thị trường gây nên tổn thất về giá trị các tài sản mà mộtngân hàng đang nắm giữ Rủi ro này xuất hiện trong tất cả các chủng loại tài sản,
từ bất động sản và thiết bị cho đến các tài sản như hàng hóa, cổ phiếu, trái phiếu
Rủi ro tín dụng thường được định nghĩa là rủi ro bị tổn thất tài sản khi
bên vay là những khách hàng hay các ngân hàng không có khả năng thanhtoán khoản vay theo đúng các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký vớingân hàng [77]
Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau:
- Về phía ngân hàng có thể xuất phát từ:
+ Hạn chế về năng lực, trình độ của cán bộ thẩm định dự án đầu tư,phương án kinh doanh khiến cho ngân hàng chấp thuận cho vay cả những dự
án đầu tư, phương án kinh doanh không hiệu quả
+ Thiếu sự kiểm tra giám sát của ngân hàng trong quá trình phát tiềnvay và sử dụng vốn vay cũng như tình hình hoạt động của khách hàng
+ Khả năng quản trị rủi ro của ngân hàng
Trang 35+ Rủi ro đạo đức của một bộ phận cán bộ ngân hàng liên quan đến chovay vốn, cố ý làm trái qui định về tín dụng, thiếu tinh thần trách nhiệm.
- Về phía khách hàng lại có thể xuất phát từ các nguyên nhân chủ
quan và khách quan sau đây:
+ Nguyên nhân chủ quan:
Chủ doanh nghiệp quản lý yếu kém dẫn đến hoạt động sản xuất kinhdoanh không hiệu quả làm cho doanh nghiệp không đủ năng lực tài chính đểtrả lãi và nợ gốc đúng hạn
Chủ doanh nghiệp cố tình lừa để chiếm đoạt vốn vay
+ Nguyên nhân khách quan:
Biến động lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá chứng khoán, giá cả thịtrường các loại hàng hóa dịch vụ (chẳng hạn làm tăng giá nguyên liệu đầu vàogây tăng chi phí, trong khi giá đầu ra không tăng, thậm chí bị giảm vì cạnhtranh gay gắt) Cũng có thể thị trường bị thu hẹp do sức mua bị giảm sút hay
do bị nước ngoài áp đặt những hạn chế thương mại nên hàng hóa sản xuất rachậm hay không tiêu thụ được
Cơ chế, chính sách của nhà nước có những thay đổi gây bất lợi
Rủi ro do thiên tai như bão lũ, dịch bệnh, hỏa hoạn
Rủi ro đối với các khách hàng là cá nhân bị ốm đau, tai nạn
- Về phía Nhà nước: Sự thay đổi trong cơ chế, chính sách, qui hoạch
của nhà nước làm cho điều kiện thực hiện các dự án đầu tư và các phương ánkinh doanh bị thay đổi theo chiều hướng không thuận lợi Chẳng hạn, sự thayđổi trong chính sách thuế và lãi suất làm cho hiệu quả đầu tư trên thực tế bịxấu đi so với tính toán ban đầu Khó khăn trong giải phóng mặt bằng làm kéodài thời gian hoàn thành dự án và gây tốn kém thêm về chi phí đầu tư Sựchậm trễ trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng làm cho các dự án không đủ cácđiều kiện để có thể hoạt động
Tình hình cấp tín dụng cho khu vực nông thôn
Trang 36Hệ thống huy động và cung cấp tín dụng chính thức tại Việt Nam hiệnnay gồm các ngân hàng thương mại quốc doanh, các ngân hàng thương mại
cổ phần, các công ty cho thuê tài chính, các chi nhành ngân hàng nước ngoài,
hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển Hoạt động nàyđang là hoạt động chủ yếu và mang lại nguồn thu nhập lớn nhất cho các ngânhàng hiện nay, trong đó các ngân hàng thương mại quốc doanh giữ vai trò chủlực (năm 2004 là 72%)
Bảng 1 Qui mô và thị phần cho vay của NHTMNN
2003 của các NHTMNN, phần dư nợ cho vay nông, lâm, ngư nghiệp với tỷtrọng là 33%, chủ lực là NHN0&PTNT với tỷ trọng dư nợ là 64,4%(NHĐT&PT 14%; NHCT 10,5%; NHCT là 9%) Ngân hàng chính sách xãhội cũng đã tham gia cấp vốn với khoảng 1,5 triệu lượt hộ vay/năm chonhững người nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn sản xuất Hầu hết cáckhoản tín dụng nhỏ mà ngân hàng chính sách thông qua hệ thống trungchuyển tín dụng là các tổ chức đoàn thể xã hội ở nông thôn: Hội Phụ nữ, HộiCựu chiến binh, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Chỉ trong mạng
Trang 37lưới của Hội LHPHVN đã thành lập được gần 80.000 nhóm với khoảng 1triệu hội viên tham gia Bình quân hàng năm (1998-2003) có khoảng 80.000phụ nữ được vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh thông qua mạng lướitình thương do Hội LHPN thành lập Quỹ tín dụng nhân dân cũng trở thànhđịa chỉ tin cậy với bà con nông dân khi cần vay vốn sản xuất kinh doanh Sốlượng quỹ cơ sở tăng nhanh trong những năm 1999-2003 từ 179 đến 971 quỹ.Phần lớn vốn cho vay của các quỹ cơ sở nhằm phát triển nông nghiệp, chiếm54%, phát triển ngành nghề chiếm 12% và dịch vụ chiếm 28% [78].
ODA cũng là nguồn tín dụng to lớn cấp cho phát triển nông nghiệp,nông thôn mà hoạt động chủ yếu tập trung vào các vùng nghèo, chậm pháttriển dưới dạng các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ xây dựng kết cấu
hạ tầng nông thôn, xóa đói giảm nghèo
Rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng trong những năm qua
Mặc dù qui mô tín dụng có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng chấtlượng tín dụng còn thấp và thiếu bền vững, thể hiện trước hết ở xu hướng giatăng các khoản nợ quá hạn và nợ quá hạn chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư
nợ, tốc độ xử lý nợ quá hạn chậm Theo NHNN Việt Nam, tỷ lệ nợ quá hạn(tỷ lệ nợ quá hạn được xác định bằng tỷ lệ giữa số dư nợ hạch toán trên tàikhoản nợ quá hạn, nợ chờ xử lý, nợ khoanh, bảo lãnh trả thay và nợ tồn đọng
so với tổng dư nợ cho vay nền kinh tế) của 4 NHTMNN năm 1999 là 10,8%
và năm 2004 là 2,9% Như vậy, xu hướng tỷ lệ nợ quá hạn trong những nămqua giảm dần do các ngân hàng đã tập trung nhiều biện pháp nâng cao chấtlượng tín dụng, đẩy mạnh xử lý nợ quá hạn và nợ tồn đọng Đến cuối năm
2004 nợ tồn đọng của 4 NHTMNN đã được xử lý đạt gần 90% số nợ tồn đọngkhóa sổ thời điểm 31-12-2000 Đây là một kết quả tốt trong xử lý nợ tồnđọng Tuy nhiên, không phải vì thế mà cho rằng chất lượng tín dụng đã đượccải thiện một cách chắc chắn, bởi vì nợ quá hạn mới phát sinh tiếp tục có xuhướng gia tăng và chưa có dấu hiệu được kiềm chế Hơn nữa, tỷ lệ nợ quá hạngiảm còn có nguyên nhân vì tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh chứ chưa hoàn
Trang 38toàn do nõng cao chất lượng tớn dụng Chỉ tớnh cho vay của NHCT Việt Nam
ở khu vực ĐBSH, tỷ lệ nợ xấu năm 2004 là 1,6%, năm 2005 là 3,17%
Bảng 2: Huy động và cho vay của NHCT ở khu vực
D nợ cho vay Nợ xấu
Huy
động vốn
D nợ cho vay Nợ xấu
- Số liệu đã bao gồm ngoại tệ quy ra VND
Nguồn: Tổng hợp báo cáo của các chi nhánh NHCT Việt Nam
Kể từ thỏng 7 năm 2002, việc phõn loại và hạch toỏn nợ quỏ hạn ởViệt Nam đó bắt đầu chuyển sang thực hiện theo thụng lệ quốc tế, nhưng chođến nay nợ quỏ hạn của cỏc NHTMNN cũng chưa phản ỏnh hoàn toàn theoqui định này Đỏng lưu ý là hiện nay cú những khoản nợ đang được cỏc ngõnhàng hạch toỏn là nợ trong hạn, nhưng khỏch hàng vay vốn kinh doanh thua
lỗ, kinh doanh đang gặp khú khăn và khú cú khả năng phục hồi, quản lý kộm
Trang 39dẫn đến thất thoát vốn, bị khởi kiện, bị thiên tai, đã hoặc có nguy cơ ngừnghoạt động, giải thể, phá sản, sắp xếp lại, tài sản bảo đảm bị hư hỏng hoặc cótranh chấp do đó không còn hoặc rất khó có khả năng trả nợ cho ngân hàng.Như vậy, thực chất những khoản vay này cũng là nợ quá hạn, thậm chí là nợkhó đòi Ngay cả trường hợp khách hàng có thể cùng lúc có nhiều loại nợ vaytại ngân hàng, nhưng có khoản trong hạn, có khoản quá hạn, có khoản tronghạn nhưng có lãi treo, có khoản nợ được gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ,miễn giảm lãi, khoanh Nghĩa là nợ của khách hàng đó đã có vấn đề trongkhi đó lại chưa được phản ánh đầy đủ vào nợ quá hạn hoặc nợ xấu của ngânhàng Như vậy, nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là cácngân hàng thương mại nhà nước trên thực tế là khá cao Theo đánh giá củacác chuyên gia IMF và WB, tỷ lệ nợ quá hạn ở Việt nam nếu tính theo tiêuchuẩn quốc tế, có thể lên tới 35-40% tổng dư nợ.
Nguyên nhân của tình trạng nợ quá hạn
Nhóm nguyên nhân khách quan là môi trường kinh tế, luật pháp và cơchế chính sách còn chưa đồng bộ và hoàn thiện Mặc dù đã có nhiều tiến bộ
so với thời kỳ đầu Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi, môi trườngkinh doanh chưa minh bạch, thiếu công khai; hiện tượng kinh doanh chụpgiật, cạnh tranh không lành mạnh còn khá phổ biến; nạn buôn lậu, gian lậnthương mại còn nhiều và chưa có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu; thủ tục hànhchính còn rườm rà chậm được đổi mới, tham nhũng sách nhiễu còn nhiều làm tăng rủi ro trong hoạt động kinh tế, gây ra rủi ro tín dụng Môi trườngpháp lý chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ và hay thay đổi Bên cạnh đó là việc chấphành luật pháp chưa triệt để, hiệu lực của luật pháp trên thực tế chưa cao
Trong quản lý nhà nước vẫn còn tình trạng một số cơ quan quản lýnhà nước, cơ quan cấp ủy, chính quyền đại phương can thiệp hành chính vàocác hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước Tính tự chủ
tự chịu trách nhiệm trong hoạt động tín dụng chưa hoàn toàn được chủ động,kinh doanh theo nguyên tắc thương mại và thị trường chưa có điều kiện thựchiện triệt để Hiệu quả của công tác thanh tra ngân hàng đối với hoạt động
Trang 40tín dụng chưa cao Thanh tra tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu trong khi
hệ thống thông tin tín dụng để đảm bảo giám sát có hiệu quả lại chưa đượcthiết lập một cách đồng bộ làm hạn chế khả năng kiểm soát và giám sát rủi
ro tín dụng Thanh tra còn thụ động theo kiểu xử lý vụ việc phát sinh màchưa đáp ứng được yêu cầu cảnh báo sớm các biểu hiện mất an toàn tronghoạt động tín dụng
Chính sách xử lý nợ tồn đọng chưa thực sự tạo điều kiện để các ngânhàng thương mại xử lý dứt điểm các khoản nợ này các qui định về quản lýđất đai có liên quan như thế chấp, phát mại quyền sử dụng đất còn quá nhiềuthủ tục phức tạp, trong khi việc quản lý đất đai trên thực tế lại lỏng lẻo, tìnhtrạng thiếu giấy tờ pháp lý hoặc thiếu căn cứ chứng minh tính chất pháp lýcủa quyền sử dụng ruộng đất vẫn còn là hiện tượng phổ biến
Những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính -tiền tệ thế giới vàkhu vực làm cho hệ thống ngân hàng trong nước cũng như nền kinh tế Việtnam bị chao đảo và gặp nhiều khó khăn; hậu quả của thiên tai, dịch bệnh, mấtmùa làm cho nhiều khoản vay ngân hàng trở nên mất khả năng trả nợ cũng
là những nguyên nhân bất khả kháng
Nhóm nguyên nhân thuộc về các ngân hàng thương mại, đặc biệt là cácngân hàng thương mại nhà nước là trình độ, năng lực thẩm định và quản lý tíndụng của đội ngũ cán bộ ngân hàng, đặc biệt là cán bộ tín dụng còn yếu kém,quyết định nhiều khoản cho vay thiếu cơ sở kinh tế và pháp lý; bộ máy tổ chứcnói chung, bộ máy tín dụng nói riêng còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian,trách nhiệm không được qui định rõ ràng Một số ngân hàng chưa chấp hànhđúng cơ chế cho vay, đặc biệt là chưa làm tốt khâu thẩm định khách hàng và dự
án cho vay vốn (chẳng hạn: Các dự án bò sữa (Hưng yên), dự án chuyển đổiđất lúa năng suất thấp sang nuôi tôm (Hải phòng, Thái bình, Nam định )), cònhiện tượng che giấu nợ quá hạn và chạy theo thành tích; hoặc hạ thấp các điềukiện, tiêu chuẩn tín dụng và lãi suất cho vay để cạnh tranh lôi kéo khách hàngtrong khi khả năng đánh giá, quản lý và kiểm soát rủi ro yếu kém, thiếu thông