PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG NHÓM 12 Thứ nhất, về phía NSDLĐ: + Về vấn đề trả lương công nhân. Theo quy định tại Điều 96 BLLĐ 2012: Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn. Trong trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương. Như vậy, trong trường hợp này công ty có trách nhiệm nhanh chóng trả lương đầy đủ cho NLĐ; Do trả chậm đã 2 tháng nên công ty chưa phải trả thêm phần 2 tháng tiền lãi căn cứ theo lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương. Đồng thời có thể bị cơ quan pháp luật xử phạt theo quy định (Theo quy định Số 952013NĐCP, mức phạt từ 5.000.00050.000.000đ) + Về việc sa thải Tùng : Việc công ty ra quyết định sa thải với nhân viên Tùng trong trường hợp này là vi phạm pháp luật lao động căn cứ theo khoản 4 Điều 219 BLLĐ 2012, quy đinh các hành vi bị cấm trước, trong và sau khi đình công: “Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động, người lãnh đạo đình công hoặc điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công”. Thứ hai, về phía tập thể NLĐ tại nhà máy : Việc đình công ở đây ta xác định là đình công bất hợp pháp bởi lẽ nó đã không tuân theo các trình tự về đình công như quy định tại Điều 211, 212, 213 BLLĐ. Hơn nữa do từ đầu việc chậm lương 2 tháng Ở đây, Khi công đoàn tỏ thái độ thờ ơ, không đứng ra đại diện cho quyền lợi của NLĐ, thì theo quy định của pháp luật, Khi không đồng ý với việc giải quyết của chủ doanh nghiệp và công đoàn cơ sở về những vấn đề có liên quan đến nghĩa vụ và lợi ích của mình, người lao động hoặc tập thể lao động có quyền kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết. Ở đây, tập thể công nhân lại chọn cách đình công để phản đối công ty và công đoàn là sai phạm. Nhưng do NSDLĐ không có ý kiến về việc bồi thường nên tập NLĐ chỉ có nghĩa vụ phải trở lại làm việc. Thứ 3, về phía Tùng : Do việc Tùng bị chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nên anh có quyền yêu cầu giải quyết theo Điều 42 Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật 1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. 2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này. 3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động. 4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động. Như vậy, nếu 2 bên đồng ý giải quyết theo phương án 1, Tùng được nhận tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người anh không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động tức 12 triệu đồng. Nếu chọn phương án 2, công ty phải trả thêm cho Tùng ngoài số tiền 12 triệu đồng nửa tháng tiền lương nữa do anh ta đã làm việc được trên 1 năm, tức 3 triệu đồng, số tiền Tùng được nhận là 15 triệu đồng (chưa bao gồm tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người anh không được làm việc) Nếu chọn phương án 3, Ngoài số tiền 15 triệu như phương án 2, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động tức ít nhất 12 triệu đồng nữa, Tùng được nhận tối thiểu 27 triệu đồng (chưa bao gồm tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người anh không được làm việc) Với trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động của Tùng với công ty nữa mà anh vẫn muốn làm việc thì được nhận tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người anh không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động tức 12 triệu đồng, đồng thời hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động. Trong clip, nhóm 12 đưa 2 bên giải quyết theo phương án 1, tức Tùng được nhận trở lại làm việc ở vị trí cũ và được bồi thường như trên.
Trang 1PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG NHÓM 12
Thứ nhất, về phía NSDLĐ:
+ Về vấn đề trả lương công nhân
Theo quy định tại Điều 96 BLLĐ 2012:
Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn Trong trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá
01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương
Như vậy, trong trường hợp này công ty có trách nhiệm nhanh chóng trả lương đầy đủ cho NLĐ; Do trả chậm đã 2 tháng nên công ty chưa phải trả thêm phần 2 tháng tiền lãi căn cứ theo lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương Đồng thời có thể bị cơ quan pháp luật xử phạt theo quy định (Theo quy định Số 95/2013/NĐ-CP, mức phạt từ 5.000.000-50.000.000đ)
+ Về việc sa thải Tùng :
Việc công ty ra quyết định sa thải với nhân viên Tùng trong trường hợp này là
vi phạm pháp luật lao động căn cứ theo khoản 4 Điều 219 BLLĐ 2012, quy đinh
các hành vi bị cấm trước, trong và sau khi đình công: “Chấm dứt hợp đồng lao
động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động, người lãnh đạo đình công hoặc điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công”.
Thứ hai, về phía tập thể NLĐ tại nhà máy :
Việc đình công ở đây ta xác định là đình công bất hợp pháp bởi lẽ nó đã không
Trang 2tuân theo các trình tự về đình công như quy định tại Điều 211, 212, 213 BLLĐ Hơn nữa do từ đầu việc chậm lương 2 tháng
Ở đây, Khi công đoàn tỏ thái độ thờ ơ, không đứng ra đại diện cho quyền
lợi của NLĐ, thì theo quy định của pháp luật, Khi không đồng ý với việc giải quyết
của chủ doanh nghiệp và công đoàn cơ sở về những vấn đề có liên quan đến nghĩa
vụ và lợi ích của mình, người lao động hoặc tập thể lao động có quyền kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết Ở đây, tập thể công nhân lại chọn
cách đình công để phản đối công ty và công đoàn là sai phạm Nhưng do NSDLĐ không có ý kiến về việc bồi thường nên tập NLĐ chỉ có nghĩa vụ phải trở lại làm việc
Thứ 3, về phía Tùng :
Do việc Tùng bị chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nên anh có quyền
yêu cầu giải quyết theo Điều 42 Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
1 Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động
2 Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này
3 Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động
và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động
4 Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao
Trang 3động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động
Như vậy, nếu 2 bên đồng ý giải quyết theo phương án 1, Tùng được nhận tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người anh không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động tức 12 triệu đồng
Nếu chọn phương án 2, công ty phải trả thêm cho Tùng ngoài số tiền 12 triệu đồng nửa tháng tiền lương nữa do anh ta đã làm việc được trên 1 năm, tức 3 triệu đồng, số tiền Tùng được nhận là 15 triệu đồng (chưa bao gồm tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người anh không được làm việc) Nếu chọn phương án 3, Ngoài số tiền 15 triệu như phương án 2, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động tức ít nhất 12 triệu đồng nữa, Tùng được nhận tối thiểu 27 triệu đồng (chưa bao gồm tiền lương, bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người anh không được làm việc)
Với trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động của Tùng với công ty nữa mà anh vẫn muốn làm việc thì được nhận tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người anh không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động tức 12 triệu đồng, đồng thời hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động
Trong clip, nhóm 12 đưa 2 bên giải quyết theo phương án 1, tức Tùng được nhận trở lại làm việc ở vị trí cũ và được bồi thường như trên.