Phép biện chứng là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất về tự nhiên xã hội và tư duy. Phép biện chứng ra đời và phát triển từ khi triết học ra đời, đỉnh cao của nó là phép biện chứng mácxít. Phép biện chứng mácxít dựa trên truyền thống tư tưởng biện chứng của nhiều thế kỷ, nó vạch ra những đặc trưng chung nhất của biện chứng khách quan, nghiên cứu những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội và của tư duy. Nó là chìa khoá giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.
Trang 1Phép biện chứng là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất về tự nhiên - xã hội và tư duy Phép biện chứng ra đời và phát triển từ khi triết học ra đời, đỉnh cao của nó là phép biện chứng mácxít Phép biện chứng mácxít dựa trên truyền thống tư tưởng biện chứng của nhiều thế kỷ, nó vạch ra những đặc trưng chung nhất của biện chứng khách quan, nghiên cứu những quy luật phổ biến của
sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội và của tư duy Nó là chìa khoá giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới Nắm vững những nguyên tắc, phương pháp luận của phép biện chứng duy vật không những là một nhân tố cơ bản để hình thành thế giới quan khoa học, mà còn là điều kiện tiên quyết cho sự sáng tạo của chính đảng cách mạng Lịch sử tư tưởng và thực tiễn cách mạng cho
ta thấy, khi nào chúng ta nắm vững lý luận phép biện chứng, biết vận dụng các nguyên tắc, phương pháp của nó một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, biết “ ứng bất biến, dị vạn biến” - như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói - thì hiệu quả cải tạo tự nhiên, biến đổi xã hội được tăng cường Nếu chủ quan duy ý chí, siêu hình sẽ dẫn đến sai lầm, gây tổn thất cho cách mạng và quá trình phát triển xã hội Vì vậy, nghiên cứu sự hình thành và phát triển phép biện chứng trong lịch sử
là hết sức cần thiết Không những nắm vững phép biện chứng duy vật, từ đó thấu suốt những nguyên tắc phương luận của nó, mà còn giúp chúng ta nắm được bức tranh toàn cảnh, hiểu được nguồn gốc của sự hình thành phát triển của nó Lịch
sử đã tồn tại hai phương pháp đối lập nhau trong việc xem xét và cải tạo thế giới Đó là, phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình Phương pháp siêu hình xem xét các sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới một cách cô lập tách rời, không có mối liên hệ ràng buộc tác động lẫn nhau; và nếu có thì chỉ là sự liên hệ giản đơn, hời hợt, bên ngoài Phương pháp biện chứng xem xét các sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ ràng buộc và tác động ảnh hưởng lẫn nhau, đó chính là biện chứng khách quan của thế giới Biện chứng khách quan này được con người phản ánh gọi là biện chứng chủ quan (tư duy biện chứng)
Trang 2Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phương pháp biện chứng; giữa lý luận nhận thức với lôgíc biện chứng Sự ra đời của phép biện chứng duy vật là cuộc cách mạng trong phương pháp tư duy, là phương pháp tư duy khác về chất so với các phương pháp tư duy trước đó là:
“phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”1 Phép biện
chứng duy vật đem lại cho con người tính tự giác cao trong mọi hoạt động Mỗi luận điểm của phép biện chứng duy vật là kết quả rút ra từ giới tự nhiên, cũng như
từ lịch sử xã hội loài người Các nguyên lý, quy luật, cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật đều được khái quát và luận giải trên cơ sở khoa học Theo Ăngghen: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thông qua các mặt đối lập, thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hoá cuối cùng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia ”2 Quan điểm duy tâm cho rằng: biện
chứng chủ quan là cái có trước, quyết định biện chứng khách quan Còn phép biện chứng duy vật thì khẳng định rằng, biện chứng khách quan có trước, quyết định biện chứng chủ quan Mặc dù bị biện chứng khách quan quyết định, nhưng biện chứng chủ quan có tính độc lập tương đối và có quy luật riêng của mình Dựa trên những thành tựu của khoa học hiện đại và thực tiễn xã hội, phép biện chứng duy vật hình thành một hệ thống những nguyên lý, quy luật và phạm trù để phản ánh thế giới khách quan Ph.Ăngghen khẳng định: phép biện chứng…môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên,
xã hội loài người và tư duy Trong phép biện chứng, khái niệm “chuyển hoá”
được dùng hết sức phổ biến Phép biện chứng đối lập với phép siêu hình ở chỗ nó
khẳng định mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động và biến đổi Khái niệm “chuyển
hoá” ở đây dùng để chỉ sự biến đổi của sự vật này sang sự vật khác, của hiện
1 M¸c - ¡ngghen: toµn tËp, Nxb CTQG, Hµ Néi, 2004, t20, tr.38.
2 S®d, tËp 20, tr 694.
Trang 3tượng này thành hiện tượng khác Điều này định luật chuyển hoá và bảo toàn năng lượng đã chứng minh Trong giới tự nhiên có sự chuyển hoá từ vô cơ thành hữu cơ, từ động vật bậc thấp đến động vật bậc cao v.v Khi chứng minh sự vận động phát triển của xã hội loài người, Ăngghen đã khẳng định về vai trò của lao động trong sự chuyển hoá từ vượn thành người Về vấn đề này Lênin cho rằng:
“Trong sự thay thế, sự phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khái niệm, trong tính đồng nhất của tất cả các mặt đối lập của chúng, trong những chuyển hoá của những khái của một khái niệm này sang một khái niệm khác, trong sự thay thế, sự vận động vĩnh viễn của những khái niệm, Hêghen đã đoán được một cách tài tình chính mối quan hệ như vậy, của sự vật, của giới tự nhiên…sự chuyển hoá của những khái niệm từ cái này sang cái kia Sự chuyển hoá của tất cả mọi khái niệm
cùng, vô tận diễn ra trong mọi điều kiện hoàn cảnh, mọi lĩnh vực của thế giới Ở đây chủ yếu tập trung bàn đến sự “chuyển hoá” của các nguyên lý, quy luật, cặp phạm trù của phép biện chứng Trong thực tiễn, ta đã vận dụng nguyên lý về sự chuyển hóa vào rất nhiều trường hợp khác nhau, ở mỗi thời điểm lịch sử, mỗi tình huống, đều căn cứ vào tình hình thực tế, xem xét, giải quyết sự chuyển hóa một cách hài hòa, linh hoạt và đem lại hiệu quả cao Khi mâu thuẫn cơ bản được giải quyết, một mặt đối lập mất đi thì đồng thời mặt kia cũng không còn nữa Sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời thì xuất hiện những mâu thuẫn mới, với những mặt đối lập mới, đó chính là “sự chuyển hóa lẫn nhau” Ăngghen cho rằng: “…thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa cuối cùng của chúng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia”2 Chúng ta thấy Ăng
ghen đã khái quát thành hai hình thức chuyển hóa: một là, hai mặt đối lập nhằm vào nhau mà chuyển hóa từ mặt này thành mặt kia; hai là, cả hai mặt đều biến đi trở thành những mặt đối lập khác cao hơn (sự vật mới ra đời)
Sự chuyển hóa của các mặt đối lập là một nguyên lý rất quan trọng của phép biện chứng duy vật Nếu hiểu không đúng, vận dụng không đúng nguyên lý
1 S®d, tËp 29, tr 209 - 210.
2 PH ¡ng ghen; biÖn chøng cña tù nhiªn, nhµ xuÊt b¶n sù thËt, Hµ Néi 1971, trang 321.*
Trang 4đó, có thể dẫn đến thuật ngụy biện Thuật ngụy biện, là lối nói xuất phát từ chủ quan, bề ngoài có vẻ biện chứng nhưng thực ra là xuyên tạc hiện thực khách quan
Vì vậy, muốn hiểu và thực hiện đúng phép biện chứng duy vật chúng ta phải phân tích cụ thể hiện thực khách quan, để phản ánh đúng sự chuyển hóa của các mặt đối lập Sự chuyển hóa đó diễn ra ngay từ đầu và trong suốt quá trình đấu tranh của các mặt đối lập Trong quá trình đấu tranh của các mặt đối lập, với sự tác động qua lại lẫn nhau các mặt đó biến đổi dần dần về lượng, nhưng sự biến đổi đó chưa phải là sự chuyển hóa về chầt, mà khi sự đấu tranh đã lên tới đỉnh điểm, tức
là khi mâu thuẫn cơ bản được giải quyết Ăng ghen chỉ rõ: sự chuyển hóa từ mặt này sang mặt khác khi các mặt đó lên tới cực độ…ở một điểm nhất định, cực này chuyển thành cực kia Về vấn đề này, Lênin nói: “phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất - trong những điều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng cách chuyển hóa lẫn nhau”1
* Sự chuyển hoá các mặt đối lập trong các quy luật của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Với tư cách là khoa học triết học, phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật chung nhất tác động đến mọi sự vật, hiện tượng, mọi quá trình,… của thế giới khách quan Những quy luật này phản ánh quá trình vận động, biến đổi và phát triển của cả giới tự nhiên, xã hội và tư duy Trong đó, quy luật mâu thuẫn (thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập) làm sáng tỏ nguồn gốc và động lực của mọi sự vận động, biến đổi và phát triển; quy luật lượng - chất (chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại) phản ánh phương thức và trạng thái của quá trình vận động, biến đổi và phát triển; quy luật phủ định của phủ định chỉ rõ khuynh hướng của quá trình vận động, biến đổi và phát triển của thế giới khách quan
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Mâu thuẫn là một trong những vấn đề trung tâm của triết học Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ thời cổ đại, Denon (490 - 430 trước công nguyên) đã đưa
11 Lª nin toµn tËp, tËp 29 nhµ xuÊt b¶n tiÕn bé M¸t-xc¬-va, 1981, tr 116.
Trang 5ra những Aporia nổi tiếng: “Achille và con rùa”, “Mũi tên bay” Sau này Cantơ lại day dứt trước những Antinômi (nghịch lý) của lý trí Còn nhà tư tưởng bách khoa Hêghen đã xây dựng nên phép biện chứng của mâu thuẫn một cách tài tình trong “thế giới ý niệm” Triết học mácxít, vấn đề mâu thuẫn đã trở thành cội nguồn sinh động của toàn bộ phép biện chứng Lênin viết: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những giải thích và một sự phát triển thêm”1
Thế giới vật chất là vô cùng, đa dạng và phong phú Các mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn biện chứng cũng vô cùng phong phú và đa dạng Vì vậy sự chuyển hoá của các mặt đối lập là muôn hình, muôn vẻ Lênin viết: “không phải chỉ là sự thống nhất của các mặt đối lập mà còn là chuyển hoá của mỗi quy định, chất đặc trưng, mặt, thuộc tính sang mỗi cái khác (sang cái đối lập với nó)”2 Không nên hiểu sự chuyển hoá của các mặt đối lập một cách đơn giản máy móc như là sự đổi chỗ cho nhau của các mặt đối lập, hoặc cái nọ thành cái kia, mà là sự chuyển hoá của các mặt đối lập, giải quyết mâu thuẫn biện chứng làm biến đổi chất của sự vật Mâu thuẫn biện chứng được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời với những mặt đối lập và mâu thuẫn mới Trong khi phân tích quá trình tiến hoá của các sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên, Ăngghen khẳng định:“thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hoá cuối của chúng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia, hoặc lên những hình thức cao hơn, đã quy định sự sống của giới tự nhiên”3 Chuyển hoá là một phạm trù triết học với tính chất trừu tượng cao, nó khái quát sự chuyển hóa muôn hình muôn vẻ của sự vật hiện tượng Sự chuyển hóa diễn
ra đa dạng, sự vật có mâu thuẫn khác nhau mà sự chuyển hoá của các mặt đối lập cũng khác nhau Phương thức, tính chất chuyển hoá là hết sức phong phú và đa dạng Vì, một mặt là do tính chất của mâu thuẫn, mặt khác là do tính chất của điều
kiện lịch sử trong đó diễn ra cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập quy định Nhưng
1 S®d, tËp 29, tr 240.
2 S®d, tËp 29, tr 379.
3 Ph Ăngghen, Biện chứng của tự nhiên, Nxb,sự thật,Hà Nội, 1971, tr 312
3
Trang 6bất cứ cuộc đấu tranh nào cũng hướng tới phá vỡ sự thống nhất cũ để thiết lập sự thống nhất mới cao hơn Tuy nhiên suy đến cùng tất cả đều là sự chuyển hóa của các mặt đối lập trong sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng Trong mỗi cách tiếp cận, khai thác khác nhau, trong những quy luật và phạm trù khác nhau…thì các mặt đối lập có sự chuyển hóa khác nhau Tư tưởng về mâu thuẫn biện chứng với tính cách là quá trình thống nhất, đấu tranh và chuyển hoá của các mặt đối lập trong một chỉnh thể được thể hiện rõ trong bộ “tư bản” của Mác Trong khi phân tích thuộc tính của hàng hoá Mác chỉ ra: Sản phẩm với tư cách là giá trị sử dụng mâu thuẫn với chính bản thân mình với tính cách là giá trị Ở chỗ khác, Mác đã vạch ra mâu thuẫn của chính quá trình xuất hiện tư bản: Tư bản xuất hiện trong lĩnh vực lưu thông và đồng thời lại ở ngoài lĩnh vực lưu thông Đấu tranh của các mặt đối lập biện chứng là quá trình các mặt đối lập liên hệ, tác động, bài trừ, phủ định lẫn nhau, làm cho sự vật luôn vận động, biến đổi và phát triển
Trong lĩnh vực quân sự, tồn tại một hệ thống các mâu thuẫn: mâu thuẫn của chiến tranh; mâu thuẫn của đấu tranh vũ trang và mâu thuẫn của xây dựng quân đội Trong mâu thuẫn của các cuộc chiến tranh có mâu thuẫn cơ bản và
chiến đều muốn đạt mục đích chính trị của mình bằng các phương thức đấu tranh vũ trang Do bản chất của chiến tranh là sự kế tục chính trị, cho nên mâu thuẫn cơ bản của chiến tranh trước hết là do tính chất kinh tế - xã hội của nhà nước quy định, nó xuất hiện dưới dạng khả năng ngay trong thời bình Khi tiến hành xây dựng quân đội phải chú ý đến tính đặc thù của hoạt động quân sự Xây dựng quân đội vững mạnh về mọi mặt, trong đó xây dựng, giáo dục chính trị là trọng tâm, chống quan điểm phi chính trị hoá quân đội của các thế lực thù địch
Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại (quy luật lượng - chất)
Là quy luật phản ánh cơ chế, cách thức của quá trình phát triển đi từ những biến đổi dần dần về lượng đến giới hạn nhất định, vượt quá điểm nút, phá vỡ hạn độ,
sự vật thực hiện bước nhảy về chất làm cho sự vật trở thành chất mới với lượng mới
Trang 7Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hoá về
chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra Xét về bản chất, bước
nhảy chính là sự đứt đoạn tính tiệm tiến về lượng, là sự tích hợp giữa tính liên tục
và tính gián đoạn trong sự phát triển của sự vật hiện tượng Kế thừa những hạt nhân hợp lý của Hêghen trong khi lý giải về sự thay đổi về chất phải thông qua bước nhảy, Lênin nhấn mạnh: “tính tiệm tiến mà không có bước nhảy vọt, thì không giải thích được gì cả” “phân biệt bằng cách nào, một sự chuyển hoá biện chứng với một sự chuyển hoá không biện chứng? bằng bước nhảy vọt bằng sự gián đoạn của tính tiệm tiến”1 Chất mới sau khi ra đời cũng có sự tác động to lớn trở lại đối với lượng Lênin khẳng định: “sự chuyển hoá lượng thành chất và ngược lại”2 Nói đến chất mới, là nói đến những thuộc tính, những quan hệ mới của sự vật hiện tượng Những thuộc tính và quan hệ mới này, sẽ tạo ra những khả năng mới và những khả năng này, trong những điều kiện, hoàn cảnh mới sẽ thúc đẩy, tính chất, quy mô, nhịp điệu vận động, phát triển của sự vật hiện tượng Trong lĩnh vực xã hội, hình thái kinh tế xã hội sau bao giờ cũng cao hơn về chất so với hình thái xã hội trước đó, tạo ra những điều kiện mới, khả năng mới cho lực lượng sản xuất phát triển Khi nói về phương thức thống trị của tư bản chủ nghĩa như một chất mới so với phương thức thống trị của các giai cấp trước đó, trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản Mác so sánh: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị chưa đầy một thế
kỷ đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn tất cả các thời đại trước gộp lại”3
Bàn về vấn đề này, Lênin cho rằng để chủ nghiã xã hội chiến thắng chủ nghĩa tư bản thì trước hết phải bằng năng suất lao động Nắm vững nội dung quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi
về chất và ngược lại, cũng như phương luận của nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xem xét và giải quyết những vấn đề cơ bản của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn hiện nay Đổi mới là quá trình mang tính cách mạng sâu sắc và triệt để trên tất cả các lĩnh vực của
1 S®d, tËp 29, tr 133.
2 S®d, tËp 29, tr 240.
3 C Mac vµ Ph¡ng ghen toµn t©p NXB CTQG H 1999 tËp 4 trang 357
Trang 8đời sống xã hội Quá trình đó đòi hỏi chúng ta phải kiên trì tích luỹ về lượng, chuẩn bị cho những bước nhảy vọt cục bộ trong từng lĩnh vực (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, tinh thần) để từng bước tiến đến bước nhảy vọt toàn bộ -xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta Chú ý chống mọi biểu hiện bảo thủ, trì trệ, “hữu khuynh” và bất kỳ sự nóng vội chủ quan duy ý chí đều gây tổn thất cho cách mạng, cản trở công cuộc đổi mới của đất nước
Quy luật phủ định của phủ định
Quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng phát triển của sự vật hiện tượng Phủ định biện chứng là khách quan, tự thân, là quá trình kế thừa cái tích cực từ cái cũ, là mắt khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời của cái mới cao hơn,
tiến bộ hơn Lênin viết: “Sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua,
nhưng dưới một hình thức khác, ở một trình độ cao hơn phủ định của phủ định; sự phát triển có thể nói là theo đường trôn ốc chứ không theo đường thẳng”1 Mọi sự
vật hiện tượng đều bao hàm trong mình những mặt đối lập Sự tác động biện chứng giữa các mặt đối lập làm cho sự vật vận động, phát triển đến một trình
độ nhất định, khi có điều kiện chúng phủ định lẫn nhau làm cho sự vật cũ mất đi,sự vật mới ra đời
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, chế độ cộng sản nguyên thuỷ không có giai cấp, không có bóc lột Nó đã bị phủ định bởi các chế độ xã hội có giai cấp và bóc lột (nô lệ, phong kiến, chủ nghĩa tư bản) Và đến lượt mình, các chế độ này lại bị chủ nghĩa cộng sản phủ định Chủ nghĩa cộng sản văn minh dường như cộng sản nguyên thuỷ ở chỗ không
có giai cấp, không có bóc lột; nhưng nó ở trình độ cao hơn về chất so với cộng sản nguyên thuỷ Trong lĩnh vực tư duy nhân loại, cũng có sự phát triển theo chu kỳ như vậy Chủ nghĩa duy vật chất phát thời cổ đại bị chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII - XVIII phủ định, đến cuối thế kỷ XIX chủ nghĩa duy vật biện chứng lại phủ định chủ nghĩa duy vật siêu hình Chủ nghĩa duy vật biện chứng là thành tựu rực rỡ của tư tưởng triết học nhân loại; nó là thế giới quan, phương pháp luận nhận thức và cải tạo thế gới
1 Lªni toµn tËp, tËp 26, Nxb, tiÕn bé, M¸cxc¬va, 1980, tr.65.
Trang 9Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của lịch sử và điều kiện hoàn cảnh Việt Nam Đó là bằng mọi giá phải giành cho được độ tộc, xoá bỏ xã hội phong kiến nửa thuộc địa, thay thế xã hội thối nát đó bằng một xã hội mới tốt đẹp hơn và chúng ta đã thực hiện bước quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Song vấn đề bỏ qua ở đây được hiểu là chúng ta không xác lập hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa Nhưng kế thừa và tiếp thu những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là khoa học và công nghệ Đồng thời từng bước xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp định hướng xã hội chủ nghĩa Xây dựng xã hội chủ nghĩa bỏ qua chế độ tư bản, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, là một sự nghiệp khó khăn, lâu dài và phức tạp, có
sự đan xen và đấu tranh quyết liệt giữa cái mới và cái cũ, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, cho nên phải có quan điểm, hình thức, bước đi, sự kế thừa của phủ định biện chứng
Đại hội X của Đảng xác định: đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp Để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế Đó là sự chuyển hóa của các mặt đối lập trong quy luật phủ định của phủ định phù hợp với tình hình thực tiễn của cách mạng nước ta đã được lịch sử lựa chọn
Trong xây dựng quân đội cần tính đến những đặc điểm của phủ định biện chứng Trước hết, đó là sự phủ định của cái mới đối với cái cũ trên cơ sở vì lợi ích của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Thứ hai, tốc độ và quy
mô của quá trình phủ định biện chứng trong xây dựng quân đội phụ thuộc trực
Trang 10tiếp vào trình độ phát triển của sản xuất và khoa học công nghệ Thứ ba, quá trình phủ định biện chứng trong xây dựng quân đội dựa trên cơ sở sự nhận thức và tính toán của các chủ thể về cuộc chiến tranh trong tương lai Thứ tư, chu kỳ thay thế cái cũ bằng cái mới của quá trình phủ định biện chứng trong xây dựng quân đội ngày càng rút ngắn
Như vậy, trong quá trình vận động của một mâu thuẫn sự chuyển hóa của các mặt đối lập chỉ xảy ra với những điều kiện nhất định, chứ không phải lúc nào cũng có sự chuyển hóa Những điều kiện đó chín muồi khi sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập lên tới điểm nút, nghĩa là chỉ lúc mâu thuẫn đạt tới đỉnh điểm mà thôi Khi các mặt đối lập chuyển hóa lẫn nhau, là lúc mâu thuẫn được giải quyết Trong quá trình đấu tranh của các mặt đối lập, lúc đầu là sự thay đổi về lượng, khi lượng đạt tới điểm nút, đạt tới điều kiện chín muồi thì hai mặt đối lập chuyển hóa lẫn nhau Ở đây có hai hiện tượng chuyển hóa xảy ra: một là, hai mặt đối lập của mâu thuẫn trong sự vật cũ chuyển hóa lẫn nhau hai là, sự vật cũ chuyển hóa thành sự vật mới, mâu thuẫn cũ được giải quyết, mâu thuẫn mới lại xuất hiện với những mặt đối lập mới Hiện tượng thứ nhất là nguyên nhân của hiện tượng thứ hai Như mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản diễn ra trong một quá trình lâu dài, hai mặt đối lập đó đấu tranh lẫn nhau từ thấp đến cao, nhưng chỉ đến khi cuộc đấu tranh trở thành quyết liệt, có điều kiện chín muồi thì cách mạng vô sản mới xẩy ra Khi đó hai giai cấp mới chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản mới được giải quyết Hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa được thay thế bằng hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa Trong xã hội mới lại xuất hiện mâu thuẫn mới Điều quan trọng là cần phải phân biệt rõ hai sự chuyển hóa khác nhau
đó
Sự chuyển hoá giữa các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
Các phạm trù của phép biện chứng duy vật là một hệ thống mở, nó thường xuyên được bổ sung và làm phong phú thêm bằng những tri thức khoa học và những phạm trù mới Bởi lẽ, với tư cách là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, các phạm trù phải luôn vận động và phát triển tương ứng với sự vận động,