Trong Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội lần thức VII của Đảng đã khẳng định: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Với sự khẳng định đó lần đầu tiên Đảng ta đã chính thức đặt tư tưởng Hồ Chí Minh vào hệ tư tưởng của Đảng. Sự khẳng định đó cũng là một bước phát triển hết sức quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta và đồng thời cũng là sự khẳng định vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam.
Trang 1BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC
ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
Mở đầu Trong Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội lần thức VII của Đảng đã
khẳng định: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làmnền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạngViệt Nam Với sự khẳng định đó lần đầu tiên Đảng ta đã chính thức đặt tưtưởng Hồ Chí Minh vào hệ tư tưởng của Đảng Sự khẳng định đó cũng là mộtbước phát triển hết sức quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng
ta và đồng thời cũng là sự khẳng định vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minhđối với cách mạng Việt Nam
Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn bảy thập kỷ qua ngày càng khẳngđịnh tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho cuộc đấu tranh củanhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta;trong đó, tư tưởng biện chứng của Người có vị trí đặc biệt quan trọng trongquá trình vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể củathực tiễn cách mạng Việt Nam, không những đem lại cho nhân dân ta niềm tinvững chắc vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, mà còn là cơ sở lý luận –thực tiễn sinh động và sâu sắc cho Đảng ta hoạch định và tổ chức thực hiệnthắng lợi công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển bền vững
Tuy nhiên, ở Hồ Chí Minh không có tác phẩm riêng bàn về triết học hay
tư tưởng biện chứng Nhưng trong thực tế lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng ViệtNam, Người đã vận dụng sáng tạo, linh hoạt và nhuần nhuyễn các quan điểm,các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật mác xít, kết hợp với cácyếu tố biện chứng của triết học phương Đông từ đó tạo nên một hệ thống cácquan điểm biện chứng của riêng mình Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh bắt
Trang 2nguồn từ tiền đề tư tưởng triết lý của dân tộc, từ triết lý phương Đông được
“thăng hoa” lên dưới ánh sáng của triết học Mác – Lênin, rất mác xít mà vẫnmang được bản sắc riêng của Hồ Chí Minh
Bàn về tư tưởng Hồ Chí Minh đã có nhiều nhà khoa học trong và ngoàinước nghiên cứu, nhiều công trình khoa học đã được công bố Tuy vậy, sovới tầm vóc tư tưởng của Người thì những công trình đó mới chỉ là bướcđầu Riêng về tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, nhất là tư tưởng biện chứng
Hồ Chí Minh còn rất ít người nghiên cứu Đây là những hướng nghiên cứumới mẻ và rất lý thú nhưng cũng không hề đơn giản Do điều kiện nghiêncứu, khả năng và thời gian có hạn, trong phạm vi bài tiểu luận này, tác giảcũng chỉ mới bước đầu tìm hiểu góp phần làm sáng tỏ một số nội dung cơbản trong tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh và sự vận dụng nội dung nhữngquan điểm đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, cụ thể tiểu luận đượctrình bày trên một số vấn đề cơ bản sau:
1 Một số đặc điểm cơ bản của tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh
2 Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh
3 Ý nghĩa phương pháp luận của tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới đất nước hiện nay
NỘI DUNG CỤ THỂ
Phần một MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG
HỒ CHÍ MINH Vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng, trước khi đi vào nghiên
cứu tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh là, cần tiếp cận một số đặc điểm của tưtưởng biện chứng Hồ Chí Minh Theo đó, tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minhđược khái quát trên một số đặc điểm sau:
Trang 3Một là, Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh thuộc hệ thống tư tưởng duy
vật biện chứng, được xây dựng trên cơ sở hiện thực xã hội phương Đông đầymâu thuẫn và những biến cố phức tạp, mang tính đặc thù, không giống cấutrúc hình thái kinh tế – xã hội “bài bản” kiểu phương Tây
Theo tác giả Nguyễn Khoa Điềm, tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh là
tư tưởng biện chứng duy vật đã đạt đến một trình độ mới trong cách xem xét
và giải quyết thực tiễn, là phép biện chứng mác xít lêninnít gần gũi nhữngtruyền thống biện chứng phương Đông vốn giàu tính thực tiễn, phong phútrong ứng xử, gắn bó với đời sống cảm quan hàng ngày của người lao động
Hai là, Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh là hạt nhân phương pháp
luận Hồ Chí Minh, là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của cáchmạng Việt Nam Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh nằm trong hệ thốngbiện chứng duy vật ( cái chung) nhưng mang sắc thái Á Đông và luôn xuấtphát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam ( cái riêng) Nó không xây dựng thành
hệ thống lý luận mà ẩn giấu trong toàn bộ hoạt động thực tiễn của Người vàcủa cách mạng Việt Nam Tuy là sản phẩm của thực tiễn cách mạng ViệtNam nhưng đã được hướng dẫn bởi những nguyên lý của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và những quy luật, phạm trù của phép biện chứng duy vật vàbiện chứng của dân tộc và các nước Á Đông
Ba là, Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh là sản phẩm của cách mạng Việt
Nam, được quy định bởi mọi mặt hoạt động của thực tiễn cách mạng – xã hộiViệt Nam Thực tiễn cách mạng Việt Nam không chỉ là nguồn gốc, cơ sở tưtưởng, là phương pháp luận Hồ Chí Minh mà còn là nơi sản sinh ra những biệnpháp, phương pháp cụ thể để thực hành quan điểm biện chứng Hồ Chí Minh.Nếu như phép biện chứng mác xít là sản phẩm của thời đại tư bản phát triển ởChâu Âu gắn liền với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thế giới, đượcC.Mác, Ph Ăngghen và sau đó là được Lênin bổ xung, phát triển, thì tư tưởngbiện chứng Hồ Chí Minh là sản phẩm của cách mạng Việt Nam trong quá trình
Trang 4đấu tranh chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, giành độc lậpdân tộc và xây dựng đất nước theo con đường XHCN bỏ qua chế độ TBCN.
Bốn là, Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng Là
khoa học bởi lẽ toàn bộ quan điểm biện chứng Hồ Chí Minh được xây dựngtrên nền tảng vững chắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng, biện chứng cổtruyền của dân tộc Việt Nam và các nước Á Đông, cùng với sự hiểu biết uyênthâm nền văn hoá và khoa học phương Tây hiện đại Là cách mạng bởi vì tưtưởng biện chứng Hồ Chí Minh được chuẩn bị bằng toàn bộ quá trình pháttriển của cách mạng Việt Nam trong và cả trước thế kỷ XX, được xây dựngtrên nền tảng chủ nghĩa yêu nước chân chính, trên mục tiêu cao cả là giảiphóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người
Bởi vậy, Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh không chỉ “hợp lý” mà còn
“hợp đạo lý”, là sự khắc phục quan điểm duy tâm, siêu hình vốn là “nếp nghĩ”trong các tầng lớp trí thức trước cách mạng, là sự phủ định nhưng có kế thừanhững yếu tố tốt đẹp của tư tưởng biện chứng phương Tây duy lý, chặt chẽnhưng có phần cứng nhắc và tư tưởng biện chứng phương Đông uyển chuyển,mềm dẻo nhưng lỏng lẻo… vào cùng một đối tượng đó là thực tiễn cách mạngViệt Nam
Năm là, Trong tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh hầu như không có các
khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật trừu tượng, nhưng các yếu tố đó lạiđược thể hiện rất rõ trong cách giải quyết công việc, phong cách làm việc,trong sách lược, chiến lược của cách mạng Việt Nam ở từng giai đoạn cụ thể,trong cách đối nhân xử thế, v.v…nghĩa là tư tưởng biệnc chứng Hồ Chí Minhthâm nhập trong mọi mặt của hoạt động thực tiễn Nói cách khác, các kháiniệm, phạm trù biện chứng Hồ Chí Minh đã hoà quyện vào hoạt động của HồChí Minh và thực tiễn cách mạng nước nhà
Trang 5Phần hai MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG
HỒ CHÍ MINH
2.1 Quan điểm thực tiễn trong tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh
C Mác là người đầu tiên đưa phạm trù “thực tiễn” vào nhận thức luận,
nhờ đó ông đã làm nên cuộc cách mạng thực sự trong tư duy cũng như tronghoạt động Tiếp đó Lênin đã phát triển quan điểm của Mác lên một bướctrong việc làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, vềvấn đề chân lý…trên cơ sở khoa học hiện đại Còn đối với Hồ Chí Minh,Người không có “phát minh” gì mới về phạm trù thực tiễn cũng như mối quan
hệ giữa lý luận và thực tiễn Nhưng ngay từ khi còn trẻ Hồ Chí Minh đã bộc
lộ là một con người thực tiễn, con người hành động Chính thực tiễn cáchmạng Việt Nam đầu thế kỷ XX đã đặt ra những nhu cầu bức thiết khiến cho
Hồ Chí Minh phải luôn trăn trở, suy tư, đi tìm câu trả lời; thực tiễn đó chính là
cơ sở trực tiếp thúc đẩy Người ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân
Rõ ràng, từ thực tiễn yêu cầu cứu nước, cứu dân mà Hồ Chí Minh đãđến với chủ nghĩa Mác-Lênin Nhưng Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin không phải chỉ để giải quyết vấn đề nhận thức, thoả mãn nhu cầu hiểubiết cá nhân, mà chính là để giải quyết vấn đề thực tiễn, để tìm con đường cứunước, cứu dân, giành độc lập tự do và thống nhất cho dân tộc mình Do đó,toàn bộ tư duy của Hồ Chí Minh đều hướng theo nhu cầu thực tiễn đó; vì thế,Người đã sớm đi đến khẳng định có tính chân lý ngay sau khi tiếp thu chủnghĩa Mác-Lênin: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có conđường nào khác con đường cách mạng vô sản” [9, tr 314]
Và thực tế đã chứng minh, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng vẻvang của mình, Hồ Chí Minh luôn lấy thực tiễn của đất nước, lấy những vấn đề
Trang 6hiện thức của đời sống dân tộc và của thời đại làm định hướng cho tư duy vàhành động; lấy mục tiêu độc lập và phát triển của dân tộc làm căn cứ chủ yếu đểxem xét lý luận, định ra đường lối, lựa chọn con đường và bước đi phù hợp chocách mạng Việt Nam; như GS Song Thành đã nhận xét: nhờ đó “cách mạngnước ta tránh được biểu hiện giáo điều, rập khuôn; đồng thời cũng tránh đểkhông rơi vào cơ hội, xét lại” Vì vậy có thể nói, quan điểm thực tiễn được xácđịnh là quan điểm khởi đầu và cũng là quan điểm cơ bản nhất, là sợi chỉ đỏxuyên suốt trong cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và trước tác của Hồ Chí Minh.Cũng chính vì thế, có người đã thật đúng khi nhận xét rằng: Hồ Chí Minh là nhàtriết học thực tiễn tiêu biểu, chủ nghĩa duy vật Hồ Chí Minh là chủ nghĩa duy vậtthực tiễn, chủ nghĩa duy vật hành động; biện chứng Hồ Chí Minh là biện chứngthực hành.
Ở Hồ Chí Minh, Người thường dùng các khái niệm “thực tế” hay “thựchành”…cùng với khái niệm “thực tiễn” Khái niệm thực tiễn hay thực tế tuy
có nội dung khác nhau, vì thực tế rộng hơn thực tiễn, nhưng trong một sốtrường hợp Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm thực tế thay cho thực tiễn, bởi vìkhái niệm thực tế nhân dân ta đã quen dùng Ví như, Người nói: Lý luận phảiliên hệ với thực tế, nhưng có lúc Người cũng nói: thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin,…
Bằng việc làm cụ thể và những lời giáo huấn, Hồ Chí Minh luôn đề caovai trò của thực tiễn, cho dù nhiều lúc nêu cao vai trò của lý luận nhưng baogiờ Người cũng nhấn mạnh: lý luận phải gắn với thực tiễn, phục vụ cho thựctiễn Với Hồ Chí Minh, thực tiễn không chỉ được coi là những công việc cụthể, thực tế, hiện thực của cách mạng, mà còn được hiểu như là “thực hành”,
là kinh nghiệm được rút ra từ trong công việc Người cho rằng, kinh nghiệmrút ra trong công tác cách mạng, trong hoạt động thực tiễn là rất quý báu;nhưng Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, không phải hễ là kinh nghiệm thì đem áp
dụng, mà phải biết khéo léo lợi dụng kinh nghiệm Người đã lấy ví dụ: không
Trang 7nên thấy người ta đấu tranh giai cấp mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét đến hoàn cảnh nước mình Những kinh nghiệm gần gũi
quần chúng của người cán bộ cách mạng là rất đúng và cần học theo, ta phảikiên quyết thực hành kinh nghiệm đó… Khi đã có kinh nghiệm thì khôngdừng lại ở kinh nghiệm mà phải nâng lên thành lý luận Nhưng lý luận khôngphải là lý luận suông mà phải đem áp dụng vào thực tế, đem lý luận ra màthực hành Đồng thời, trong khi thực hành phải rút ra kinh nghiệm, tổng kếtkinh nghiệm để thực hành tốt hơn, và cũng để xây dựng lý luận qua kinhnghiệm đó
Như vậy, Hồ Chí Minh đã vạch ra mối quan hệ biện chứng giữa lý luận– thực tiễn – kinh nghiệm, và đây chính là một sáng tạo của Người về nhậnthức luận mác xít
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mặc dù thực tiễn có vai trò to lớn nhưngkhông bao giờ và khi nào Người tuyệt đối hoá thực tiễn; ngược lại, Ngườiluôn đặt thực tiễn trong mối quan hệ biện chứng với lý luận Bởi theo Hồ ChíMinh “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong cáccuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận.Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế…”[6, tr 233] Điều đó có nghĩa là, lýluận luôn xuất phát từ thực tiễn, gắn liền với thực tiễn; thực tiễn và lý luậnluôn thống nhất biện chứng với nhau Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Thực tiễnkhông có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà khôngliên hệ với thực tiễn là lý luận suông”[6, tr 235] Đây cũng chính là cơ sở đểbác bỏ những quan điểm xuyên tạc của các học giả phương tây khi cho rằng:
Hồ Chí Minh chẳng qua chỉ là nhà thực tiễn cứng nhắc, khô khan; không quantâm đến vấn đề lý luận, không phải nhà lý luận
Mặt khác, khi xác định vai trò quan trọng của thực tiễn đối với lý luận vànhận thức của con người, Hồ Chí Minh đồng thời chỉ ra rằng, thực tiễn không
Trang 8đứng im một chỗ mà luôn luôn vận động; sự vận động của thực tiễn quyếtđịnh sự vận động của lý luận và nhận thức của con người.
2.2 Quan điểm toàn diện trong tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh
Mỗi sự vật, hiện tượng bao giờ cũng có kết cấu nhiều yếu tố liên hệchặt chẽ với nhau chứ không phải có kết cấu giản đơn Để nhận thức đúng sựvật đòi hỏi phải “để mắt” đến tất cả các mối liên hệ đó Lênin đã từng lưu ýchúng ta: Muốn thực sự hiểu biết được sự vật, cần phải nhìn bao quát vànghiên cứu tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó Vì vậy,theo Lênin “toàn diện” là một nguyên tắc cơ bản của phép biện chứng, của lo-gíc biện chứng Hồ Chí Minh đã tiếp thu và tiếp tục phát triển quan điểm này,xuất phát từ thực tiễn mà nâng lên thành quan điểm phương pháp luận toàndiện, thể hiện nội dung rất phong phú trong một hệ thống hoàn chỉnh và đượckết hợp chặt chẽ với nguyên tắc trọng điểm, thiết thực Đây là nguyên tắc cơbản phản ánh phong cách, phương pháp Hồ Chí Minh trong xem xét, đánhgiá, giải quyết công việc Thông qua hoạt động thực tiễn của Người, nguyêntắc này đã được thể hiện ở mọi nơi, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Là nhà chiến lược thiên tài của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luônxem xét, đánh giá xã hội trên cơ sở phân tích toàn diện các lĩnh vực cả chínhtrị, kinh tế, văn hoá, xã hội; cả quá khứ, hiện tại và tương lai; cả truyền thống
và hiện đại, dân tộc và quốc tế… Trong xem xét, đánh giá con người, Hồ ChíMinh không chỉ luôn chú ý đến các yếu tố cơ bản như: khả năng nhận thức vàtrình độ ý thức; tư tưởng và tình cảm; đức và tài; lời nói và hành động, mặtmạnh và mặt yếu…, mà còn xem xét toàn diện các mối quan hệ cá nhân, tậpthể và cộng đồng Người thường nhắc nhở cán bộ rằng, trong công tác phải cócái nhìn toàn cục, tránh thiên lệch, chủ quan, phiến diện, cục bộ… Khi đánhgiá sức mạnh trong so sánh lực lượng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng tất cả cácyếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp như: chính trị, kinh tế, văn hoá, quân sự…
cả sức mạnh vật chất và tinh thần; cả sức mạnh truyền thống và hiện tại; cả
Trang 9sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; cả thế và lực; cả thiên thời, địa lợi vànhân hoà…, đồng thời Người còn chú trọng đến sự chuyển hoá của nó trongquá trình thực hiện vận động đấu tranh Đặc biệt Người đã đánh giá đúng vaitrò, vị trí của từng yếu tố và sự tác động biện chứng của các yếu tố đó trongmột hệ thống, một chỉnh thể thống nhất.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, cả thế giới, cả xã hội loài người làmột hệ thống, trong đó các quốc gia, các tầng lớp xã hội, các bộ phận khácnhau của xã hội…đều liên quan với nhau Do vậy, Hồ Chí Minh luôn xemViệt Nam là một bộ phận của thế giới, của Châu Á và cách mạng Việt Namluôn là một bộ phận của cách mạng thế giới Khi lựa chọn con đường cáchmạng vô sản, Người đã xem Việt Nam là một thành viên trong đại gia đìnhquốc tế vô sản Đặc biệt, Hồ Chí Minh còn thấy rất rõ mối liên hệ chặt chẽgiữa những người lao động Việt Nam và những người lao động Pháp, giữanhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp trong khi thực dân Pháp thi hành cácchính sách thực dân ở nước ta Đó chính là cách nhìn xa, trông rộng, khôngđịnh kiến, không hẹp hòi Và chính từ cách nhìn bao quát đó mà Hồ Chí Minhluôn luôn có quan điểm toàn diện khi đánh giá kẻ thù, khi nhìn nhận các lựclượng của cách mạng, cũng như khi nhìn nhận các vấn đề xã hội, khi giảiquyết công việc của cả nước… Ví như, trên nền tảng của quan điểm toàndiện, khi xem xét các lực lượng của cách mạng nước nhà, Hồ Chí Minh đã chỉrõ: mọi người Việt Nam đều là “con lạc cháu hồng” Ai cũng chịu cái khổ, cáinhục của hoạ mất nước Vì vậy, việc cứu nước là việc của mọi người, khôngphụ thuộc vào địa vị xã hội, vào hoàn cảnh kinh tế hay năng lực cá nhân
“Việc cứu nước là việc chung Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vácmột phần trách nhiệm”[6, tr 198] Cũng với quan điểm và tinh thần đó, trong
“Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Người đã kêu gọi: “Bất kỳ đàn ông, đàn
bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc Hễ làngười Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc Ai có
Trang 10súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc,thuổng, gậy gộc”[5, tr 480] Chính từ cái nhìn toàn diện như vậy đã làm cho
Hồ Chí Minh khai thác được mọi sức mạnh, mọi tiềm năng của khối cộngđồng dân tộc, quy tụ non sông về một mối Với quan điểm toàn diện ấy, HồChí Minh đã cùng Đảng ta lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, tựlực cánh sinh và đã thu được những thắng lợi rực rỡ
Mặc dù luôn nắm vững tính toàn diện, hệ thống, song Hồ Chí Minh lạirất chú trọng đến tính cụ thể, thiết thực, trọng điểm Làm việc gì Người cũngnhấn mạnh là phải cụ thể, có trọng điểm, thiết thực, nói được, làm được và dếđến được với mọi người Điều đó có nghĩa là, toàn diện ở Hồ Chí Minh khôngđồng nghĩa với lan tràn, dàn đều, ôm đồm, tham lam…
Với tinh thần đó, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu trong xem xét, giải quyếtcông việc phải nắm vững phương châm toàn diện, hệ thống; không chỉ phảibiết nhìn xa, trông rộng, mà còn phải luôn chú ý xem xét các yếu tố có tínhtrọng điểm, cụ thể, thiết thực Kế hoạch đề ra một thì biện pháp tổ chức thựchiện phải mười, chiến lược thì phải vươn ra xa nhưng sách lược phải rất cụthể và chu đáo Người căn dặn: “Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ Kiên quyếtkhông ngừng thế tấn công”[4, tr 287] Mặt khác, Hồ Chí Minh cũng luôn phêphán cách xem xét, đánh giá, giải quyết công việc một cách phiến diện, chungchung, thiếu cụ thể, không thiết thực Sinh thời, Người thường đi kiểm tra vànhận thấy Nghị quyết lãnh đạo của nhiều địa phương giống như Nghị quyếtcủa Trung ương, không sát thực với yêu cầu thực tiễn của địa phương mình
Từ đó, Người yêu cầu Nghị quyết của các địa phương cần phải tập trung giảiquyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra trong hiện tại Một sự thật sinh độngchứng minh cho vấn đề này là: vào những ngày đầu của chính quyền cáchmạng sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, trước tình thế cách mạng
“ngàn cân treo sợi tóc” nhưng trong buổi họp đầu tiên của chính phủ, Hồ ChíMinh đã đề ra sáu nhiệm vụ cụ thể, thiết thực Về sau, sáu nhiệm vụ đó được
Trang 11khái quát thành ba nhiệm vụ lớn: “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoạixâm”, đã được mọi người, mọi cấp quán triệt và thực hiện thắng lợi.
Tóm lại, toàn diện - quan điểm có tính phương pháp luận của Hồ ChíMinh về vấn đề này đã trở thành phương pháp, phong cách của Người trongxem xét, giải quyết mọi công việc; được thể hiện rất rõ, rất riêng, rất toàndiện, không thiên về cái nào – phương pháp đó vừa bao quát toàn cục lại vừanắm cái chính yếu, nắm bắt cái cơ bản để đi từ bộ phận đến cái toàn thể, từđiểm đến diện làm cho việc giải quyết vấn đề vừa triệt để vừa được tiến hànhtừng bước thật vững chắc
2.3 Quan điểm lịch sử – cụ thể trong tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh
Để nắm bắt chính xác bản chất, quy luật vận động, phát triển của sự vật,hiện tượng không chỉ cần có quan điểm toàn diện, hệ thống và trọng điểm màkhông thể thiếu cách nhìn khách quan, lịch sử – cụ thể Ở Hồ Chí Minh, cùngvới các quan điểm khác thì quan điểm lịch sử – cụ thể luôn được quán triệt vàthể hiện sâu sắc trên mọi lĩnh vực hoạt động
Như đã phân tích và khẳng định ở trên, Hồ Chí Minh là người Việt Namđầu tiên nắm vững chủ nghĩa Mác – Lênin (và cũng là người đầu tiên truyền bá
nó vào Việt Nam), nhưng Hồ Chí Minh không giáo điều mà nghiên cứu chủnghĩa Mác – Lênin trên tinh thần khoa học, bằng quan điểm lịch sử – cụ thể HồChí Minh nhận thấy rằng sự phát triển lịch sử - kinh tế – xã hội Việt Nam khônggiống ở phương Tây Người nói: “Mác cho ta biết rằng sự tiến triển của các xãhội trải qua ba giai đoạn: Chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản và trongmỗi giai đoạn ấy đấu tranh giai cấp có khác nhau Chúng ta phải coi chừng Cácdân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không? Hoặc: cuộc đấu tranhgiai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”[3, tr 465]
Lý do của sự khác nhau đó – cả về chế độ xã hội, cả về đấu tranh giai cấp –
là do “lịch sử Châu Âu” khác “lịch sử Châu Á”, lịch sử phương Tây khác lịch sử