Theo Viện Tiêu Chuẩn và Công Nghệ Mỹ NIST: “Điện toán đám mây là một mô hình cho phép truy cập mạng theo nhu cầu, thuận tiện, sẵn cótới một luồng dùng chung các tài nguyên máy tính có th
Trang 1IBM
Trang 2QUÁ TRÌNH THAY ĐỔI
01/10/2012 1.0 Xây dựng phần 1 và phần 4 của tài liệu Lâm
15/10/2012 1.1 Thêm phần 2: Lập kế hoạch chuẩn bị
cho môi trường điện toán đám mây
Trọng
22/10/2012 1.2.1 Chỉnh sửa phần 1 và phần 4 Lâm
29/10/2012 1.2.2 Chỉnh sửa phần 2 Trọng
29/10/2012 1.2.3 Bỏ phần 4 vì liên quan nhiều đến nghiệp
vụ, hoàn thiện tài liệu
Lâm
* Thay đổi phiên bản: Thêm mới: 1.1; Chỉnh sửa: 1.0.1
CÔNG VIỆC NHÓM
1 Nguyên lý thiết kế điện toán đám mây Dương Ngọc Lâm
2 Kế hoạch chuẩn bị cho môi trường điện toán đám
mây
Trần Văn Trọng
3 Kiến trúc môi trường điện toán đám mây Nguyễn Khoa Hải
NỘI DUNG
Trang 3CHƯƠNG 1 NGUYÊN LÝ THIẾT KẾ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY 4
1 Điện toán đám mây (Cloud Computing) là gì? 4
2 Mô hình cung cấp và triển khai Điện toán đám mây 7
3 Các mối quan tâm chính trong môi Điện toán đám mây 8
CHƯƠNG 2 LẬP KẾ HOẠCH CHO MÔI TRƯỜNG ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY 10
1 Đánh giá cơ sở hạ tầng 10
2 Tìm hiểu những thay đổi yêu cầu chức năng 12
3 Xác định đặc điểm khối lượng công việc 13
4 Mô tả yêu cầu người dùng 14
5 Xác định các yêu cầu mạng 15
6 Xây dựng chiến lược di cư phần mềm 16
CHƯƠNG 3 KIẾN TRÚC MÔI TRƯỜNG ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY 18
1 Quản lý ảo hóa 18
2 Giám sát và cảnh báo 19
3 Xây dựng cơ sở hạ tầng đám mây tư nhân 20
4 Cung cấp dịch vụ 21
5 Bảo mật 22
6 Lưu trữ, bảo vệ và khôi phục dữ liệu 23
PHỤ LỤC 25
Phụ lục 1 Tài liệu tham khảo 25
Trang 4CHƯƠNG 1 NGUYÊN LÝ THIẾT KẾ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY
1 Điện toán đám mây (Cloud Computing) là gì?
1.1 Định nghĩa
Thuật ngữ “cloud” được sử dụng như một phép ẩn dụ cho mạng Internet, dựa trên cách
vẽ đám mây thể hiện cho một mạng lưới nào đó Còn thuật ngữ “computing” là các hoạt độnghướng mục tiêu từ việc sử dụng công nghệ thông tin, bao gồm các hệ thống phần cứng vàphần mềm được sử dụng cho một phạm vi mục đích rộng như: xử lý, cấu trúc, và quản lýnhiều dạng thông tin khác nhau
Theo Viện Tiêu Chuẩn và Công Nghệ Mỹ (NIST):
“Điện toán đám mây là một mô hình cho phép truy cập mạng theo nhu cầu, thuận tiện, sẵn cótới một luồng dùng chung các tài nguyên máy tính có thể cấu hình được (như mạng lưới, máychủ, kho lưu trữ, ứng dụng, dịch vụ) mà có thể nhanh chóng cung cấp và giải phóng với nỗ lựcquản lý hay tương tác nhà cung cấp dịch vụ tối thiểu.”
Theo Wikipedia:
“Điện toán đám mây là điện toán dựa trên mạng Internet, theo đó các tài nguyên, phần mềm
và thông tin chia sẻ được cung cấp cho các máy tính và các thiết bị khác theo yêu cầu, giốngnhư mạng lưới điện.”
1.2 So sánh với mô hình truyền thống
Trong các trung tâm dữ liệu truyền thống, người quản trị hệ thống tiếp nhận yêu cầu chotài nguyên máy tính từ các kỹ sư phần mềm Người quản trị thường xem xét yêu cầu hàngtuần để xác định xem những tài nguyên nào sẵn có và dự án nào cần ưu tiên cao nhất Những
dự án có độ ưu tiên cao thường được giải quyết sớm Trong nhiều trường hợp, các trung tâm
dữ liệu truyền thống có thể thực thi đầy đủ các yêu cầu trong một vài tuần từ thời điểm quyếtđịnh phân bổ tài nguyên được phê duyệt Nếu tài nguyên máy tính cần được mua thì quy trình
có thể mất cả tháng Đối với các dự án có mức độ ưu tiên thấp thì thời gian chờ đợi giải quyếtcòn lâu hơn, phụ thuộc vào kinh phí và tính sẵn sàng của tài nguyên Thậm chí trong một vàitrường hợp, những dự án loại này có thể bị huỷ
Đối với điện toán đám mây, người phát triển có thể truy cập vào Website nơi họ có thể gửiyêu cầu về tài nguyên máy tính – máy chủ, phần mềm, kho lưu trữ, vân vân Người dùng ngaylập tức biết được là tài nguyên có sẵn hay không Nếu sẵn có thì yêu cầu có thể được chấpnhận ngay bởi người quản trị Vì quy trình là tự động nên yêu cầu có thể được giải quyết trongmột vài giờ Nếu dự án kết thúc thì người dùng sẽ không còn sử dụng tài nguyên máy tính, vàchúng sẽ được phân bổ cho những dự án khác Như vậy khác với mô hình truyền thống, điệntoán đám mây là mô hình cung cấp và tiêu dùng mới lấy cảm hứng từ các dịch vụ internet củangười dùng Nhìn chung hầu hết các công ty tham gia vào điện toán đám mây đã thoả thuận
về một số đặc điểm chung nhất định, hoặc các yếu cần thiết tiêu chuẩn hoá việc tính toán dựatrên mạng internet để được xem như là một đám mây Các yếu tố làm điện toán đám mâykhác với các mô hình khác:
Tự dịch vụ theo nhu cầu (On-demand self-service): Một người dùng có thể đơn
Trang 5phương cung cấp các khả năng tính toán như thời gian sử dụng máy chủ và kho lưu trữmạng, khi cần mà không cần yêu cầu tác động nhiều từ nhà cung cấp dịch vụ.
Truy cập mạng khắp nơi (Ubiquitous network access): Khả năng này là sẵn có qua
mạng và được truy cập qua các cơ chế tiêu chuẩn thúc đẩy việc sử dụng bởi các nền tảnghoặc dày hoặc mỏng không đồng nhất khác nhau (ví dụ, điện thoại di động, laptop, vàPDA)
Tổng hợp tài nguyên độc lập vị trí (Location independent resource pooling): Tài
nguyên máy tính của nhà cung cấp được tổng hợp để phục vụ người dùng sử dụng môhình đa người dùng (multi-tenant), với các tài nguyên ảo và vật lý khác nhau được bàngiao và thu hồi tự động theo nhu cầu của người sử dụng
Khả năng đàn hồi nhanh (Rapid elasticity): Khả năng này có thể được cung ứng
nhanh để mở rộng và giải phóng nhanh để thu hẹp Với người tiêu dùng, các khả năng sẵn
có cho thuê thường xuất hiện vô hạn và có thể được thanh toán tại bất kỳ thời điểm nào
Chi trả theo việc sử dụng (Pay per use): Khả năng này được thanh toán bằng cách
sử dụng mô hình lập hoá đơn theo quảng cáo, phí dịch vụ, hay việc đo đạc để thúc đẩyviệc tối ưu hoá việc sử dụng tài nguyên Ví dụ, đo đạc kho lưu trữ, băng thông, và tàinguyên máy tính đã sử dụng và thanh toán cho những tài khoản người dùng đã kích hoạttheo từng tháng
1.3 Sự ảo hoá và ảnh hưởng của nó đối với Điện toán đám mây
Điện toán đám mây đã nhảy một bước tiến vượt bậc về công nghệ vì sự phổ biến và sự
kế thừa thành quả của sự ảo hoá, cụ thể là sự ảo hoá máy chủ Vậy ảo hoá là gì? Phần mềm
ảo hoá được sử dụng để thực thi nhiều Máy Ảo (Virtual Machines) trên một máy chủ vật lý đơn
lẻ để cung cấp các chức năng giống nhau như nhiều máy chủ vật lý Phần mềm này được gọi
là Hypervisor, phần mềm ảo hoá thực thi sự trừu tượng của phần cứng đối với các máy ảoriêng biệt
Sự ảo hoá thì không mới vì nó đã được phát minh và phổ biến bởi IBM trong những năm
1960 cho việc chạy nhiều phần mềm trên những máy tính lớn (mainframe) của họ Nó trở nênphổ biến trong thập niên vừa qua tại những trung tâm dữ liệu vì những mối quan tâm về cáchthức sử dụng máy chủ sao cho hiệu quả Các trung tâm dữ liệu và hệ thống web gồm nhiềumáy chủ vật lý Theo Wikipedia, việc đo lường nghiên cứu trên các hệ thống máy chủ này chothấy việc sử dụng tài nguyên máy chủ riêng biệt thường rất thấp, khoảng 10%-20% vì cácnguyên nhân khác nhau, gồm tải lưu lượng và tính tự nhiên của ứng dụng Như vậy dẫn đếnlãng phí 80%-90% tài nguyên Chuỗi các máy chủ liên tiếp này với việc sử dụng thấp đã là sựlãng phí tài chính lớn cho cả chi phí đầu tư (Capex) và chi phí vận hành (Opex) – Thêm máy,điện năng tiêu thụ nhiều hơn, các hệ thống làm mát nhiều và mặt bằng rộng hơn Đấy là chưa
kể đến việc khi các tài nguyên máy tính này không còn được dùng nữa, vì một số lý do như sốlượng người dùng hệ thống suy giảm, kinh tế khó khăn, thì sự lãng phí còn lớn hơn
Một Hypervisor được cài đặt trên một máy chủ hoặc chạy trực tiếp trên phần cứng, hoặcchạy trên một hệ điều hành Hypervisor hỗ trợ chạy nhiều máy ảo và lập lịch trình các máy ảocùng với việc cung cấp cho chúng khả năng truy cập thống nhất và nhất quán tới CPU, bộ nhớ(memory), và thiết bị Vào/Ra (I/O) trên máy chủ vật lý Một máy ảo thường chạy một hệ điềuhành và các ứng dụng, ứng dụng thì không cần biết là nó đang chạy trên môi trường ảo haythật
Trang 6Hình 1: Ảo hoá
1.4 Di cư máy ảo.
Nhờ có sự ảo hoá mà việc chuyển đổi máy ảo từ môi trường máy chủ này sang môitrường máy chủ khác (di cư) cũng thuận lợi hơn Đây là một thuận lợi lớn cho cho thời gianhoạt động liên tục của ứng dụng tại trung tâm dữ liệu Vậy chuyển đổi máy ảo là gì? Hãy xemxét trường hợp một máy chủ với một Hypervisor và một vài máy ảo, mỗi máy chạy một hệ điềuhành và vài ứng dụng Nếu bạn cần tắt máy chủ để bảo trì (ví dụ, thêm ổ cứng lưu trữ, thêm
bộ nhớ), bạn cũng phải tắt các thành phần phần mềm và khởi động lại chúng sau khi bảo trì –như vậy sẽ ảnh hưởng đáng kể đến tính sẵn sàng của ứng dụng Di cư máy ảo cho phép bạnchuyển toàn bộ máy ảo từ máy chủ này sang máy chủ khác và tiếp tục hoạt động của máy ảotrên máy chủ thứ hai Thuận lợi này là duy nhất với môi trường ảo vì bạn có thể tắt máy chủvật lý cho việc bảo trì mà không ảnh hưởng nhiều đối với việc thực thi ứng dụng
1.5 Những lợi ích khác của Điện toán đám mây
Trên thực tế, việc sử dụng Điện toán đám mây sẽ mang lại những lợi ích sau:
Khả năng sử dụng các dịch vụ CNTT (hạ tầng, nền tảng, phần mềm, dịch vụ thương mại) tự động, tức thời theo nhu cầu
Khả năng chuyển/trừu tượng sự phức tạp dịch vụ ngoài mặt bằng để cung cấp khả năng sẵn có, khả năng phục hồi, và việc vá lỗ hổng an ninh hiệu quả hơn
Khả năng nhanh chóng điều chỉnh yêu cầu thương mại và tác nhân thị trường theo nhucầu
Cải tiến quản lý rủi ro qua việc cải tiến khả năng phục hồi kinh doanh
Mô hình tính giá hiệu quả hơn, loại bỏ chi phí dư thừa
Dịch vụ linh hoạt cho người dùng, cho phép tự dịch vụ nhanh chóng theo những thoả thuận dịch vụ (SLA)
Trang 7 Cải thiện thời gian cho thị trường và tăng tốc các dự án.
Chi phí thấp hơn, cả vốn và chi phí hoạt động
Giải phóng nhân lực có kỹ năng để tập trung vào công việc mức cao hơn và các dự án đổi mới
Nâng cao hiệu quả năng lượng và giảm thời gian nhàn rỗi
2 Mô hình cung cấp và triển khai Điện toán đám mây
Với các công ty, nhân tố hấp dẫn nhất của điện toán đám mây là các tuỳ chọn nguồn lực
và các lựa chọn triển khai linh hoạt Các mô hình triển khai và cung cấp có thể cùng tồn tại và
có thể tích hợp với hệ thống CNTT truyền thống và với các đám mây khác
2.1 Mô hình cung cấp đám mây
Đám mây tư nhân:
Là hệ thống CNTT được sở hữu và quản lý trong mạng nội bộ của một doanh nghiệp phíasau tường lửa Truy cập vào đám mây tư nhân được giới hạn đối với người dùng Đámmây tư nhân điều khiển sự hiệu quả, sự chuẩn hoá và các thực hành tốt nhất trong khi vẫnduy trì sự tuỳ biến và kiểm soát cùng với tổ chức Trong môi trường đám mây tư nhân, tất
cả tài nguyên, nguồn lực là thuộc nội bộ doanh nghiệp Việc quản lý đám mây cũng thuộcnội bộ doanh nghiệp
Đám mây công cộng:
Là hệ thống CNTT được cung cấp trên mạng Internet, được sở hữu và quản lý bởi nhàcung cấp dịch vụ Người dùng cần đăng ký để được cấp quyền truy cập vào đám mâycông cộng Đám mây công cộng cung cấp một tập hợp các quy trình thương mại, ứngdụng, dịch vụ hạ tầng được chuẩn hoá theo mức giá linh hoạt dựa trên việc sử dụng
Mô hình đa người thuê là đặc điểm chính của dịch vụ đám mây công cộng
Đám mây lai:
Là sự kết hợp những đặc điểm của cả đám mây công cộng và đám mây tư nhân, mà ở đócác phương thức cung cấp dịch vụ trong và ngoài được kết hợp Ví dụ trong trường hợpđám mây tư nhân ngoài mặt bằng doanh nghiệp, tài nguyên thì được dành riêng, nhưng nólại không phải là tài sản của doanh nghiệp đó Doanh nghiệp quản lý danh mục dịch vụ vàcác quy tắc, còn nhà cung cấp dịch vụ đám mây vận hành và quản lý hạ tầng đám mây vàluồng tài nguyên
2.2 Mô hình triển khai điện toán đám mây
Các lớp khác nhau của hệ thống CNTT như một dịch vụ được thông qua mô hình triểnkhai điện toán đám mây Có 4 mô hình CNTT như một dịch vụ chính:
Hạ tầng như một dịch vụ (IaaS):
Là mô hình cung cấp dịch vụ mà khách hàng sử dụng việc xử lý, kho lưu trữ, mạng lưới, vàcác tài nguyên máy tính khác IaaS có khả năng cung cấp nhanh và đàn hồi, cùng với việckiểm soát tài nguyên Trong mô hình này khách hàng có thể triển khai, thực thi phần mềm
Trang 8và các dịch vụ mà không cần quản lý hay điều khiển các tài nguyên cơ sở (máy chủ, mạng,kho lưu trữ) Dịch vụ IBM Research Compute Cloud (RC2), Amazon EC2 là những ví dụđiển hình về loại hình dịch vụ này.
Nền tảng như một dịch vụ (PaaS):
Là mô hình cung cấp dịch vụ mà khách hàng có thể sử dụng ngôn ngữ lập trình, công cụ,nền tảng để phát triển và triển khai ứng dụng trên nền tảng dùng chung với khả năng kiểmsoát môi trường và ứng dụng đã triển khai IBM Workload Deployer, Google App Engine,Windows Azure, Force.com từ Salesforce là những ví dụ về PaaS
Phần mềm như một dịch vụ (SaaS):
Là mô hình phổ biến mà khách hàng sử dụng các ứng dụng chuyên môn từ các thiết bịkhác khác nhau qua một trình duyệt Web trên nền tảng dùng chung mà không cần quản lýhay kiểm soát tài nguyên cơ sở Ví dụ, Gmail, Google Docs, IBM LotusLive
Quy trình nghiệp vụ như một dịch vụ (BPaaS):
Là một mô hình mới nổi mà khách hàng có thể sử dụng các kết quả kinh doanh bằng cáchtruy cập các dịch vụ nghiệp vụ qua giao hiện trung tâm Web trên nền tảng dùng chung Ví
dụ nghiệp vụ quản lý phúc lợi nhân viên, dịch vụ du lịch, dịch vụ đấu thầu, vân vân
Hình 2: Mô hình triển khai Điện toán đám mây
3 Các mối quan tâm chính trong môi Điện toán đám mây
Công nghệ Điện toán đám mây vẫn đang phát triển, do đó các công ty, các viện tiêu chuẩnvẫn đang cố gắng giải quyết những mối quan tâm nổi cộm sau nhằm phát triển ngày một tốthơn môi trường Điện toán đám mây:
An ninh:
Vẫn là một mối quan tâm chính cho các nhà quản lý CNTT khi họ xem xét việc sử dụng cácdịch vụ của nhà cung cấp dịch vụ An ninh vật lý bằng sự cô lập (ví dụ dùng tường lửa) làyêu cầu chủ yếu cho đám mây tư nhân, nhưng không phải tất cả người dùng đám mây cầnmức đầu tư an ninh này Với những người dùng đó, nhà cung cấp đám mây phải đảm bảo
Trang 9sự cô lập dữ liệu và an toàn ứng dụng qua các dịch vụ dùng chung Ngoài ra, xác thực,chứng thực người dùng và mã hoá dữ liệu trên đường truyền từ người dùng tới ứng dụngcủa nhà cung cấp dịch vụ là những yếu tố cần được xem xét.
Mạng lưới:
Phần cứng mạng phải hỗ trợ nhiều loại mạng khác nhau trong môi trường đám mây đểmạng lưới của nhà cung cấp dịch vụ tương thích với mạng lưới của người dùng, haydoanh nghiệp
Liên minh Đám mây với Đám mây:
Với một doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác nhau, do đó việctương thích giữa các nhà cung cấp dịch vụ cũng là mối quan tâm lớn, vì trong trường hợpdoanh nghiệp muốn chuyển đổi hệ thống từ nhà cung cấp dịch vụ này sang nhà cung cấpdịch vụ khác thì việc tương thích về ứng dụng, mạng lưới, an ninh, cũng phải được đảmbảo
Quy định pháp lý về dữ liệu:
Đối với những doanh nghiệp thuê dịch vụ đám mây thì dữ liệu của họ nằm ngoài sự quản
lý của doanh nghiệp đó Mà dữ liệu là yếu tố sống còn của một doanh nghiệp, vì vậy mốiquan tâm về các quy tắc, luật sở hữu trí tuệ, an toàn dữ liệu trên môi trường đám mâycũng rất được quan tâm Trong phạm vi rộng hơn liên quan đến luật pháp của từng nước,thì dữ liệu được lưu trữ trên các đám mây công cộng cũng cần được xem xét
CHƯƠNG 2 LẬP KẾ HOẠCH CHO MÔI TRƯỜNG ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY
Trang 10Ba lý do hàng đầu để chuyển sang điện toán đám mây là: Giảm chi phí, cải thiện tốc độtriển khai hệ thống và cải thiện tính sẵn sàng của hệ thống Để đạt được mục tiêu này, cáccông ty sử dụng các quy trình lập kế hoạch và các công cụ cung cấp hệ thống quản trị với cácthông tin mà họ cần để quản lý môi trường và kế hoạch của họ cho các nhu cầu máy tínhtrong tương lai.
Một lợi thế lớn điện toán đám mây có thể đem lại đó là sự ảo hóa sẽ giảm số lượng cácmáy chủ cần thiết, dẫn đến giảm chi phí cho phần cứng, giấy phép phần mềm, năng lượng, vàbảo trì Tuy nhiên để thực hiện điều này này, và quản lý thành công một môi trường điện toánđám mây, điều quan trọng là chúng ta cần xác định số lượng tối ưu cơ sở hạ tầng điện toánđám mây cần thiết để đáp ứng nhu cầu mong đợi của người dùng cuối Nếu có quá ít tàinguyên máy tính, yêu cầu từ người sử dụng hoặc là sẽ phải chờ đợi cho các nguồn tài nguyên
để giải phóng, hoặc sẽ bị từ chối cho đến khi phần cứng được bổ xung thêm vào môi trường.Khi đó một đám mây mà không thể đáp ứng các yêu cầu một cách hiệu quả sẽ không thể hiệnđược lợi thế về khả năng cải thiện tốc độ cho các hệ thống triển khai Tuy nhiên nếu có quánhiều tài nguyên máy tính, khi đó phần cứng và các chi phí khác tăng theo sẽ phủ nhận nhữngkhả năng về giảm chi phí của điện toán đám mây
1 Đánh giá cơ sở hạ tầng
Từ danh sách các cơ sở hạ tầng chung và các thành phần môi trường, ta cần xác địnhviệc sử dụng chúng trong môi trường điện toán đám mây, từ đó đánh giá cơ sở hạ tầng hiệntại của khách hàng và môi trường để tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn các đám mây
Hình 3: Chuyển đổi sang môi trường Điện toán đám mây
a Máy chủ (Servers):
Tùy thuộc vào mô hình điện toán đám mây được áp dụng (tức là công cộng hoặc tư nhân),các máy chủ thuộc sở hữu của khách hàng có thể không được yêu cầu dùng trong đám mây.Người dùng xem xét việc áp dụng các dịch vụ đám mây công cộng sẽ không sử dụng máy chủcủa họ như là một phần của đám mây Khách hàng xem xét xây dựng một đám mây tư nhân
Trang 11có thể sử dụng các máy chủ hiện có, cùng với công nghệ ảo hóa, góp phần xây dựng cơ sở hạtầng điện toán đám mây.
Ảo hóa lưu trữ có thể được sử dụng trong các cơ sở hạ tầng điện toán đám mây
c Mạng (Network):
Bất kể cho dù người dùng đang theo đuổi một đám mây công cộng hay tư nhân, cơ sở hạtầng mạng của họ có thể là một phần của giải pháp Nhiều đám mây công cộng cho phép việctạo ra các mạng riêng ảo an toàn giao tiếp với mạng của người dùng Đối với người dùng xâydựng các đám mây riêng, cơ sở hạ tầng mạng của họ cung cấp một bộ khung kết nối cho cácgiải pháp
Mô hình kết nối dữ liệu có thể yêu cầu thay đổi Ví dụ, nếu ứng dụng chạy trong một đámmây công cộng, nhưng dữ liệu được lưu trữ tư nhân (điện toán đám mây hay cách khác), cáckênh truy cập an toàn cần phải được thiết lập giữa các ứng dụng và dữ liệu
Nhiều tùy chọn lưu trữ dữ liệu mới đã trở nên phổ biến trong các đám mây Điều này baogồm việc lưu trữ các giá trị quan trọng, việc lưu trữ của các đối tượng không quan hệ, phânphối bộ nhớ dựa trên việc lưu trữ, và nhiều hơn nữa Theo cấu trúc dữ liệu và các mẫu truycập dữ liệu, tùy chọn lưu trữ mới dựa trên đám mây có thể là thích hợp và hiệu quả hơn
Trang 12g Tiêu chuẩn (Standardization):
Việc chuyển đổi sang điện toán đám mây đòi hỏi một mức độ nhất định tiêu chuẩn cho cácdịch vụ khách hàng sử dụng để cung cấp thông qua các đám mây Tiêu chuẩn hiện có nênđược kiểm tra để xác định xem nó có đủ, hoặc bổ sung những tiêu chuẩn cần thiết cho việcchuyển sang điện toán đám mây
h Ảo hóa (Virtualization):
Ảo hóa đóng một vai trò quan trọng trong nhiều môi trường điện toán đám mây Côngnghệ ảo hóa hiện tại được sử dụng bởi khách hàng nên được xác định và đánh giá để xácđịnh nếu họ sẽ tích hợp với môi trường điện toán đám mây mới Nếu di chuyển đám mây cónghĩa là sẽ được sử dụng công nghệ ảo hóa mới, cơ sở hạ tầng hiện có và các ứng dụng cầnphải được thử nghiệm với công nghệ này
2 Tìm hiểu những thay đổi yêu cầu chức năng
Nếu một khách hàng mong muốn di chuyển môi trường của họ tới một mô hình điện toánđám mây, cần xem xét mô hình hoạt động hiện tại của khách hàng và tìm hiểu về những thayđổi yêu cầu chức năng một cách rõ ràng:
Hiểu mô hình hoạt động của khách hàng đang tồn tại và cách tiếp cận của họ để thiết
kế, xây dựng và chạy, và yêu cầu để chuyển đổi sang mô hình hoạt động đám mâynhư thế nào
Xác định nếu khách hàng hiểu và đã thực hiện các dịch vụ chia sẻ mô hình hoạt động
IT hiện tại của họ, và tận dụng khả năng này để chuyển đổi sang một mô hình hoạtđộng điện toán đám mây
Hiểu được mức độ của sự tập trung hoặc tách biệt giữa các mạng, máy chủ và các thành phần lưu trữ của khách hàng để đánh giá sự sẵn sàng cho việc chuyển đổi đámmây
Lớp phần cứng: Hiểu biết về các cấp độ thành phần cơ sở hạ tầng có nghĩa là thời giangiữa thất bại (MTBF) số liệu chúng liên quan đến và được quản lý cho một mô hìnhđiện toán đám mây hoạt động
Lớp Hệ điều hành: Hiểu hệ điều hành để hình dung ra mức độ hợp lý và tiêu chuẩn hóa
Lớp Ứng dụng: Hiểu được ứng dụng để hình dung ra tiêu chuẩn hóa và phương pháp triển khai ứng dụng, sắp xếp lại khối lượng công việc theo yêu cầu cơ sở hạ tầng liênquan như độ trễ, sắp xếp thứ tự, cấu trúc dữ liệu, thời gian giao dịch / an ninh và kiểmsoát phiên bản; stateless và stateful
Lớp kết nối: Hiểu cấu trúc dữ liệu, chia sẻ dữ liệu, và thực hiện đa mạng(độ trễ, an ninh, giao dịch )
3 Xác định đặc điểm khối lượng công việc
Với sự hiểu biết về khả năng điện toán đám mây, xác định các đặc điểm khối lượng côngviệc triển khai điện toán đám mây công cộng và tư nhân
Tại sao phải xác định các đặc điểm khối lượng công việc?