Ngoài ra, còn có các đơn vị sự nghiệp của ngành ở các địa phương trên toàn quốc, hoạt động trong các lĩnh vực QLNN của Bộ, các phòng nghiệp vụ về lao động, tiền lương, dạy nghề, giới thi
Trang 1TRUNG TÂM THÔNG TIN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ CHIA SẺ THÔNG TIN NGÀNH LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
MÃ SỐ ĐỀ TÀI: CB2012-02-12
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Quang Luyến
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU Hoàn thiện cơ chế chia sẻ thông tin ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
————————————
1 Cơ quan quản lý: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
2 Cơ quan chủ trì thực hiện: Trung tâm Thông tin
3 Thời gian thực hiện: 2012
Trang 3TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Thông tin luôn có vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội, là căn
cứ quan trọng để đưa ra các quyết định chỉ đạo, điều hành, quản lý cả
ở tầm vĩ mô cũng như vi mô Các quyết định đưa ra sẽ bị sai lệch, thiếu cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn và trở thành kém hiệu quả nếu thiếu các thông tin tin cậy
Ngày nay, công nghệ thông tin và truyền thông phát triển nhanh chóng làm tăng vai trò của thông tin trong mọi mặt của đời sống cũng như quản lý, với sự phát triển đó đã làm thay đổi cách thức thu thập, lưu trữ, chia sẻ thông tin, các hoạt động này không chỉ đóng kín trong một đơn vị, một tổ chức mà đã mở rộng trên phạm vi toàn cầu, với mạng không gian ảo
Trong những năm qua Hệ thống thông tin Lao động - Thương binh và Xã hội đã đóng vai trò quan trọng nhất định phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành Song còn nhiều bất cập như: thông tin phân tán, thu thập, cập nhật chưa đầy đủ, thường xuyên, kịp thời Đáng chú ý hơn là thông tin thiếu tính hệ thống, độ tin cậy chưa cao, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin Lao động - Thương binh và Xã hội chưa được coi trọng dẫn đến việc chia
sẻ thông tin giữa các đơn vị, tổ chức còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa hiệu quả Điều này đặt ra yêu cầu cần thiết phải thay đổi tổ chức hệ thông thông tin: cả trong việc thu thập, xử lý, cập nhật, lưu trữ và đặc biệt là vấn đề chia sẻ thông tin sao cho hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng sử dụng thông tin
Xuất phát từ yêu cầu như đã phân tích trên đây việc nghiên cứu
đề tài “Hoàn thiện cơ chế chia sẻ thông tin ngành Lao động - Thương binh và Xã hội” trong bối cảnh hiện nay là một đồi hỏi cần thiết, khách quan nhằm phục vụ nhu cầu tăng cường quản lý, chỉ đạo, điều hành về lĩnh vực Lao động - Thương binh và Xã hội một cách hiệu quả Đồng thời là nguồn cung cấp, minh bạch hóa thông tin, dữ liệu
về lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, ngành cho người dân, doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
Trang 4CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN VÀ CHIA SẺ THÔNG TIN
1 Thông tin và Cơ chế chia sẻ thông tin
1.1 Một số khái niệm và phân loại thông tin
1.1.1 Thông tin
1.1.1.1 Khái niệm thông tin
Thông tin là sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội; thông tin luôn luôn tồn tại và tác động thông qua các giác quan của con người làm cho con người nhận biết được các sự vật, hiện tượng Thông tin là biểu hiện của quá trình tác động lẫn nhau giữa các đối tượng vật chất, nó gắn liền với quá trình phản ánh và mang tính khách quan, Thông tin làm tăng hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức và là cơ sở của mọi quyết định
1.1.1.2 Phân loại thông tin
Tùy theo mục tiêu quản lý thông tin có thể có nhiều cách phân loại khác nhau Tuy nhiên, nguyên tắc để phân loại thông tin là luôn phải đảm bảo: (i) thông tin không được trùng lặp, bao nhau; (ii) thông tin phải rõ ràng, tường minh
1.1.1.3 Dữ liệu và cơ sở dữ liệu
Dữ liệu là tập hợp các số liệu hoặc tài liệu được thu thập để phục
vụ cho một mục đính nào đó đã định Đó có thể là một hoặc một số thông điệp, văn bản, hình ảnh, lời nói hay tín hiệu nào đó được thể hiện, truyền đạt bằng nhiều hình thức và phương tiện khác nhau, được sắp xếp, tập hợp, quản lý để phục vụ việc phân tích, tổng hợp thông tin
Cơ sở dữ liệu (CSDL): là một tập hợp dữ liệu được sắp xếp và có thể truy cập theo một cấu trúc lô gíc, có hệ thống nhằm mục đích đưa
ra các thông tin về một vấn về, việc, sự kiện, hành động nào đó Cũng có thể hiểu CSDL là một sưu tập các thông tin biểu diễn một số khía cạnh của thế giới thực Là tập hợp dữ liệu có mối liên kết
lô gíc với một số ý nghĩa vốn có CSDL được thiết kế, xây dựng, lưu trữ dữ liệu cho mục đích riêng, nó là ý muốn của nhóm người sử dụng
Trang 51.1.2 Thông tin quản lý
1.1.2.1 Khái niệm
Thông tin trong quản lý là những tín hiệu được thu nhận, được hiểu và được đánh giá là có ích cho việc ra quyết định Thông tin trong quản lý gắn liền với quyết định quản lý
Thông tin trong quản lý như là hệ thần kinh của hệ thống quản lý
nó có mặt và tác động đến mọi khâu của quá trình quản lý
TTQL là sản phẩm của lao động quản lý, đồng thời là những thông điệp tin tức có lợi cho hệ thống quản lý Giống như tri thức và nhiều sản phẩm trí tuệ, giá trị thông tin của TTQL không bị mất đi
mà thậm chí còn được tăng lên trong quá trình tiêu dùng, TTQL rất
dễ sao chép và nhân bản, những giá trị kinh tế của TTQL lại có xu hướng giảm dần theo thời gian
TTQL gắn liền với quyền uy, quyền lực lãnh đạo Trên bình diện
xã hội, việc lắm giữ thông tin đại chúng được xem như quyền lực thứ
tư nhiều khi quyền lực của nó mạnh hơn những quyền lực cơ bản trong tam quyền phân lập Trong thời đại kinh tế tri thức, những nghành sử dụng thông tin nhiều để tạo được những sản phẩm có hàm lượng thông tin cao đều chờ thành những nghành có vai trò ngày càng quan trọng
1.1.2.2 Phân loại thông tin quản lý
Cũng như thông tin nói chung, TTQL hay thông tin phục vụ quản lý cũng có nhiều cách phân loại đáp ứng yêu cầu và mục tiêu quản lý, lưu trữ, xử lý thông tin phục vụ quyết định quản lý
Căn cứ theo tính chất dữ liệu: thông tin phi số; thông tin số Thông tin số: là thông tin thể hiện dưới dạng các con số biểu diễn số lượng, cơ cấu…các thông tin được mã hóa bằng số Thông tin số là các số liệu, số thống kê, dữ liệu số
Thông tin phi số: là thông tin văn bản, âm thanh, hình ảnh chưa được mã hóa bằng số
Trong nội dung nghiên cứu đề tài, sử dụng phân loại thông tin theo tính chất số liệu của thông tin Chia thông tin thành thông tin phi số liệu và thông tin số liệu
1.1.3 Thông tin ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
Trang 61.1.3.1 Thông tin xã hội
Thông tin xã hội (TTXH) có nội dung rất đa dạng và phức tạp Đối với quản lý xã hội, vai trò quan trọng của nó được thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, TTXH là cơ sở, điều kiện cần thiết để tiến hành quản
lý xã hội; Thứ hai, tùy theo chất lượng, nó có thể đẩy nhanh hoặc làm chậm tốc độ phát triển của hệ thống xã hội và cuối cùng, quyết định sự thành công hay thất bại của cả quá trình quản lý xã hội Trong hệ thống thông tin của thế giới vật chất thì TTXH là loại thông tin cao nhất, phức tạp và phong phú nhất Nếu xét con người trong quan hệ với thế giới thì thông tin là nội dung của thế giới bên ngoài, được thể hiện trong sự nhận thức của con người còn TTXH sẽ hẹp hơn Đó chính là thông tin mà con người trao đổi với nhau trong
sự giao tiếp
TTXH và quản lý xã hội luôn có sự gắn kết chặt chẽ với nhau và quá trình quản lý xã hội bao giờ cũng cần đến những TTXH Bởi vậy, đối với nước ta, để tăng cường hiệu quả quản lý xã hội trong tình hình và điều kiện mới, cần coi trọng việc thu thập thông tin, xử
lý chúng một cách đúng đắn, khoa học và trên cơ sở đó, có những quyết định phù hợp, kịp thời
1.1.3.2 Thông tin ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
Thông tin ngành Lao động -Thương binh và Xã hội (LĐTBXH)
là thông tin phục vụ cho quản lý của ngành LĐTBXH
Theo Nghị định Số: 106/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng QLNN về các lĩnh vực: việc làm, dạy nghề, lao động, tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội (BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp), an toàn lao động, người có công, bảo trợ xã hội, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới, phòng chống tệ nạn xã hội (sau đây gọi chung là lĩnh vực LĐTBXH) trong phạm vi cả nước; QLNN các dịch vụ công thuộc lĩnh vực do Bộ quản lý Vậy, với chức năng QLNN của Bộ thì thông tin quản lý của ngành LĐTBXH là thông tin về các lĩnh vực: việc làm, dạy nghề, lao động, tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội (BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp), an toàn
Trang 7lao động, người có công, bảo trợ xã hội, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới, phòng chống tệ nạn xã hội
Thông tin ngành LĐTBXH hay thông tin lĩnh LĐTBXH là một
bộ phận của TTXH Tuy nhiên, thông tin ngành LĐTBXH với thông tin khách thể quản lý là các đối tượng quản lý của ngành, thông tin chủ thể quản lý là thông tin của các cơ quan đơn vị thuộc tổ chức ngành Thông tin về khách thể quản lý (đối tượng quản lý) giúp cho chủ thể quản lý hiểu rõ về đối tượng mà mình quản lý để từ đó đưa ra những quyết định quản lý phù hợp
1.2 Hệ thống thông tin và chia sẻ thông tin
1.2.1 Hệ thống thông tin
Một hệ thống thông tin (information system) là một tiến trình ghi nhận dữ liệu, xử lý nó và cung cấp tạo nên dữ liệu mới có ý nghĩa thông tin, liên quan một phần đến một tổ chức, để trợ giúp các hoạt động liên quan đến tổ chức
1.2.2 Hệ thống thông tin ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
Hiện nay, HTTT của ngành LĐTBXH theo đúng nghĩa là chưa được thiết lập Tức là chưa có một hệ thống trong đó có bộ máy hoàn thiện, có cơ chế vận hành và có sản phẩm thông tin đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ QLNN của ngành
Tuy nhiên, trong hoạt động chỉ đạo điều hành của các cấp, các đơn vị thuộc Bộ cũng có những bộ phận làm thông tin, có những cơ chế hành chính quy định việc cung cấp và chia sẻ thông tin
HTTT hiểu theo khía cạnh này dựa trên trách nhiệm và nhiệm vụ của các đơn vị thuộc Bộ và các đơn vị của ngành (các Sở và các Phòng LĐTBXH)
HTTT của ngành hiện nay phụ thuộc vào bộ phận thực hiện hoạt động thu thập và cung cấp thông tin của các đơn vị, các cấp của Bộ, ngành
- Cấp Trung ương: có Bộ LĐTBXH là cơ quan thuộc Chính phủ
có chức năng QLNN về việc làm, dạy nghề, lao động, tiền lương, BHXH (BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp),
an toàn lao động, người có công, bảo trợ xã hội, bảo vệ và chăm sóc
Trang 8trẻ em, bình đẳng giới, phòng, chống tệ nạn xã hội trong phạm vi cả nước; QLNN các dịch vụ công thuộc lĩnh vực do Bộ quản lý Đây là
Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, phạm vi và quy mô rộng lớn, có ảnh hưởng và tác động lớn đến sự phát triển Kinh tế - Văn hoá - Xã hội của đất nước
- Cấp địa phương: có 63 Sở LĐTBXH cấp tỉnh; các Phòng LĐTBXH cấp huyện; cấp xã có công chức Văn hóa - Xã hội chuyên trách theo dõi về LĐTBXH
Ngoài ra, còn có các đơn vị sự nghiệp của ngành ở các địa phương trên toàn quốc, hoạt động trong các lĩnh vực QLNN của Bộ, các phòng nghiệp vụ về lao động, tiền lương, dạy nghề, giới thiệu việc làm tại các cơ quan đoàn thể, doanh nghiệp,…
Cơ chế vận hành HTTT ngành là thực hiện các quy định của nhà nước cho các cơ quan đơn vị gắn với chức năng nhiệm vụ mà cơ quan đơn vị đó được giao Cơ chế vận hành này chính là cơ chế hành chính của cơ quan QLNN theo lĩnh vực LĐTBXH
Nhà nước (các cơ quan nhà nước) đã ban hành các quy định về thông tin và thống kê phục vụ cho công tác QLNN của Chính phủ nói chung và cho từng Bộ nói riêng Như: Luật công nghệ thông tin, Luật Thống kê, các văn bản QPPL khác quy định về thông tin và thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng cục Thống kê -
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bộ chủ quản - Bộ LĐTBXH đã ban hành Quy chế về hoạt động thông tin quản lý, xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện cũng như tăng cường đôn đốc, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ về thông tin, thống kê của Bộ
1.2.3 Chia sẻ thông tin
Chia sẻ thông tin là quá trình trao đổi thông tin cho các đối tượng dùng tin Ở khía cạnh kết quả thì việc chia sẻ thông tin là chức năng cuối cùng của HTTT
Trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý của Bộ ngành, các đơn vị cấp dưới có nhiệm vụ cung cấp các thông tin cho đơn vị cấp trên Các đơn vị cấp trên và cùng cấp có thể chia sẻ thông tin cho đơn vị
Trang 9cấp dưới và cùng cấp theo mức độ và phạm vị của thông tin cần chia
sẻ
Chia sẻ thông tin ngành: là việc cho phép các đơn vị cùng cấp tiếp nhận thông tin và cấp dưới tiếp nhận thông tin từ cấp trên, cho phép các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân tiếp cận thông tin của mình
Việc chia sẻ thông tin trong Bộ, ngành LĐTBXH hiện nay chủ
yếu thông qua các đơn vị có chức năng thông tin như: Báo Lao động
và xã hội, Tạp chí Lao động và Xã hội, Văn phòng Bộ, Trung tâm Thông tin, Viện Khoa học và Xã hội
Các đơn vị Quản lý có chức năng nhà nước cũng có trách nhiệm chia sẻ thông tin cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân người có nhu cầu theo quy định của pháp luật nói chung và các quy định của Bộ, ngành nói riêng
1.3 Cơ chế chia sẻ thông tin
1.3.1 Khái niệm cơ chế
Cơ chế toàn diện bao gồm cả con người và mối liên hệ giữa các
tổ chức, đơn vị thực hiện nhiệm vụ Tuy nhiên, trong việc đánh giá
và hoàn thiện cơ chế chia sẻ thông tin của ngành chỉ tiếp cận cơ chế trong phạm vi hẹp liên quan đến những quy định quan hệ hữu cơ giữa các đơn vị, các tổ chức cơ quan nhà nước thuộc Bộ, ngành LĐTBXH nhằm hỗ trợ ra các quyết định QLNN lĩnh vực Bộ, ngành
1.3.2 Đặc trưng của cơ chế chia sẻ thông tin ngành Lao Thương binh và Xã hội
động-Hiện nay, việc chia sẻ thông tin của các đơn vị trực thuộc Bộ, ngành thực hiện theo các văn bản quy định của nhà nước về thông tin
và thống kê
Cơ chế hành chính:
Chia sẻ thông tin được vận hành theo quy định của các cơ quan nhà nước quản lý về thông tin, thống kê, của Bộ, ngành ban hành Theo đó, cơ chế chia sẻ chính là các quy định về thu thập thông tin
và chia sẻ thông tin từ Luật, Nghị định của chính phủ, Thông tư của các Bộ, cơ quan ngang bộ có chức năng quản lý về thông tin
Cơ chế xã hội hóa:
Trang 10Cơ chế xã hội hóa mang tính lợi ích kinh tế, người có nhu cầu dùng tin lựa chọn thông tin sử dụng và phải trả phí và người cung cấp thông tin theo yêu cầu người sử dụng và có thu phí Cơ chễ xã hội hóa tạo sự tham gia trong hệ thông thông tin cả cung cấp và chia
sẻ thông tin không phải chỉ là các cơ quan đơn vị nhà nước mà còn
có các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia
1.3.3 Vai trò, chức năng và yêu cầu cơ bản của cơ chế chia sẻ thông tin ngành
1.3.3.1 Vai trò và chức năng của cơ chế chia sẻ thông tin ngành
Cơ chế thu thập và chia sẻ thông tin tạo ra sự thống nhất của mục tiêu, định hướng QLNN; hình thành quan hệ và tinh thần hỗ trợ giữa các cơ quan nhà nước nhằm đạt được mục đích chung Vì vậy, cơ chế thu thập và chia sẻ thông tin là cần thiết để duy trì nguyên tắc tổ chức các cơ quan nhà nước và nguyên tắc QLNN
Cơ chế thu thập và chia sẻ thông tin có ý nghĩa dưới các góc độ:
tổ chức nhà nước (tăng cường nguyên tắc phối hợp); chính trị – xã hội (thực hành tiết kiệm, chống lãng phí); dưới góc độ bảo đảm thực hiện chương trình xây dựng pháp luật – góp phần đẩy nhanh tiến độ
và nâng cao chất lượng văn bản Cuối cùng, thiết thực và trực tiếp hơn cả là dưới góc độ công vụ, làm tăng cường năng lực của chủ thể tham gia vào quy trình lập pháp, lập quy, của cán bộ, công chức làm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
1.3.3.2 Yêu cầu cơ bản của cơ chế chia sẻ thông tin ngành 1.3.3.2.1 Yêu cầu về thu thập và cơ chế chia sẻ thông tin nói chung
Thông tin quản lý rất quan trọng phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành QLNN Do vậy thông tin quản lý phải đáp ứng những tiêu chuẩn như sau:
- Thông tin phải đúng
- Thông tin phải đủ
- Thông tin phải kịp thời
- Thông tin phải dùng được
1.3.3.2.2 Yêu cầu chia sẻ thông tin ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
Trang 11Yêu cầu chia sẻ thông tin quản lý nhằm đáp ứng việc nghiên cứu, xây dựng chính sách, phục vụ việc ra quyết định điều hành của các cấp lãnh đạo Bộ trưởng Bộ LĐTBXH đã ban hành Quy chế hoạt động thông tin quản lý của Bộ LĐTBXH Quy chế này quy định cụ thể quy trình, phân công và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan trong hoạt động về công tác thông tin phục vụ QLNN của Bộ LĐTBXH
2 Phân loại thông tin, mức độ, đối tượng tham gia cung cấp và chia sẻ thông tin ngành Lao động - Thương binh và Xã hội 2.1 Phân loại thông tin cung cấp và chia sẻ
2.1.1 Về thông tin phi số
Theo quy định tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ, thông tin chủ yếu được cung cấp trên Cổng/Trang thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước
Tuy nhiên, qua khảo sát chuyên sâu tại một số đơn vị có chức năng QLNN của Bộ, một số đơn vị có chức năng thông tin thì việc chia sẻ thông tin ngành có khác nhau đối với các đối tượng dùng tin khác nhau:
- Cung cấp, chia sẻ cho các đơn vị, tổ chức QLNN thuộc Bộ, ngành
- Các thông tin cung cấp cho cơ quan QLNN ngoài Bộ, ngành
- Cung cấp, chia sẻ cho các doanh nghiệp, người dân
2.1.2 Về thông tin số
2.1.2.1 Số liệu thống kê theo hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia
Bộ, ngành phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và không hạn chế đối tượng về số liệu của Hệ thống chỉ tiêu Thống kê Quốc gia,
Bộ LĐTBXH chịu trách nhiệm thu thập Bộ, ngành thực hiện tổng hợp 13 chỉ tiêu/ nhóm chỉ tiêu trong đó 8 chỉ tiêu do Bộ LĐTBXH trực tiếp thu thập và 5 chỉ tiêu còn lại do Bộ phối hợp với Tổng cục Thống kê, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Công An, thu thập, tổng hợp
2.1.2.2 Số liệu thống kê theo Hệ thống chỉ tiêu thống kê quản lý thuộc ngành
Trang 12Các chỉ tiêu thống kê Bộ ban hành (những chỉ tiêu thống kê lĩnh vực lao động việc làm, những lĩnh vực khác được đính kèm tại phụ lục) được chia sẻ cho các đơn vị, QLNN thuộc Bộ phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và xây dựng chính sách
2.1.2.3 Số liệu tổng hợp từ cơ sở dữ liệu ngành LĐTBXH
CSDL phục vụ công tác QLNN các lĩnh vực cụ thể của Bộ, ngành tương ứng với dữ liệu cá nhân theo từng nhu cầu quản lý của từng lĩnh vực
Hiện nay, thông tin số liệu từ các CSDL này chỉ phục vụ cho đơn
vị chủ quản
2.2 Mức độ và phạm vi thông tin chia sẻ
2.2.1 Mức độ và phạm vi chia sẻ thông tin phi số
Chia sẻ cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức cá nhân ngoài Bộ:
- Các văn bản QPPL và văn bản điều hành do Bộ, liên bộ và Nhà nước ban hành liên quan đến lĩnh vực quản lý của ngành LĐTBXH;
- Các báo cáo tình hình hoạt động của các đơn vị thuộc Bộ, ngành hàng năm, hàng quý và đột xuất;
- Các thông tin về lao động - xã hội của nước ngoài và tổ chức quốc tế qua bài báo, bản tin;
- Các tư liệu và kết quả nghiên cứu về LĐTBXH;
- Các thông tin liên quan đến việc xây dựng chương trình, quy hoạch, kế hoạch LĐTBXH;
Với thông tin không bị cấm thì được chia sẻ cho các đơn vị, tổ chức thuộc Bộ, ngành theo nhiệm vụ QLNN
Chia sẻ thông tin phi số theo chiều ngang - giữa các đơn vị thuộc
- Chia sẻ thông tin giữa các đơn vị QLNN với các tổ chức, đơn
vị nghiên cứu trong và ngoài bộ các số liệu, tài liệu
Chia sẻ thông tin theo chiều dọc - từ cấp trên xuống cấp dưới, như:
Trang 13- Chia sẻ thông tin chỉ đạo điều hành, nhằm thực hiện nhiệm vụ của Bộ, ngành
- Chia sẻ thông tin về chính sách liên quan đến lĩnh vực như: văn bản pháp luật có liên quan, dự án, đề án, chiến lược, kế hoạch
- Chia sẻ thông tin cá biệt gồm các quyết định đối với cá nhân, tổ chức trong bộ máy QLNN cấp trên
- Chia sẻ những thông tin phản hồi chính sách chung
2.2.2 Mức độ phạm vi chia sẻ thông tin số
Khi chia sẻ số liệu quản lý, tùy theo đối tượng nhận thông tin là các đơn vị thuộc hoặc không thuộc Bộ, ngành, các tổ chức, cá nhân
có nhu cầu thực hiện với mức độ và phạm vi thông tin nhất định Xác định mức độ và phạm vi cung cấp các số liệu, dữ liệu của
Bộ, ngành cần phải được quy định cụ thể trong một văn bản thống thất việc thực hiện trong toàn ngành
2.3 Đối tượng tham gia hoạt động cung cấp và chia sẻ thông tin ngành
Với chức năng là Bộ quản lý ngành LĐTBXH từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở, đối tượng quản lý của ngành rất đa dạng từ con người, doanh nghiệp, các tổ chức (cơ sở dạy nghề; cơ sở BTXH; cơ
sở cai nghiện ma túy, mại dâm; Trung tâm giới thiệu việc làm ) được chia thành nhiều lĩnh vực quản lý (Lao động-việc làm, dạy nghề, BTXH, NCC ) nên có nhiều đối tượng tham gia hoạt động cung cấp và chia sẻ thông tin ngành
3 Khung phân tích và mô hình hóa cơ chế chia sẻ thông tin ngành
3.1 Khung phân tích cơ chế chia sẻ thông tin
Thu thập và chia sẻ thông tin là hai mặt của một vấn đề gắn chặt
và tương quan hữu cơ với nhau Thông thường quy định thu thập và chia sẻ thông tin được đặt trong quy định của hệ thống thông tin Vậy, khung phân tích cơ chế chia sẻ là khung hoạt động hệ thống thông
Quy trình phát triển hệ thống thông tin: Được thiết kế thông qua
4 bước: (1) điều tra, phân tích, (2) thiết kế, (3) triển khai, (4) vận hành và duy trì
Trang 143.2 Mô hình hóa hoạt động chia sẻ thông tin ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
3.2.1 Mô hình hóa hoạt động thu thập và chia sẻ thông tin theo các cấp (Bộ, Sở và phòng LĐTBXH huyện)
Mô hình cung cấp và chia sẻ thông tin Bộ ngành sẽ là mô hình thông tin vừa theo chiều dọc (Các đơn vị thuộc Bộ, các Sở LĐTBXH, các phòng LĐTBXH huyện) vừa theo chiều ngang (các đơn vị, các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài Bộ) lấy Trung tâm Thông tin của Bộ làm đầu mối
Ở mô hình trên Trung tâm Thông tin nằm ở trung tâm, kết nối với Internet Các Sở LĐTBXH và các đơn vị không thuộc thuộc Bộ nằm trên 1 vòng ring kết nối với nhau để chia sẻ thông tin Các đơn
vị trong Bộ kết nối với Bộ qua đường VPN, Lãnh đạo và các cơ quan nghiên cứu kết nối để nhận hay chia sẻ thông tin qua thiết bị chuyển mạch switch
Tất cả các thông tin số liệu chia sẻ đều nằm trong hệ thống Server thuộc Trung tâm Thông tin Bất cứ đơn vị nào trong mô hình trên đều có thể chia sẻ thông tin một cách dễ dàng nhất
Khi chia sẻ thông tin từ cấp Bộ xuống cấp dưới bên cạnh chia sẻ thông qua Hệ thống thông tin của Bộ với Trung tâm Thông tin làm đầu mối thì còn kết hợp các kênh chia sẻ khác như:
- Cổng TTĐT của Bộ (online)
- Báo Lao động và Xã hội (hàng tuần)
- Tạp chí Lao động và Xã hội (hàng tháng)
- Các ấn phẩm và website của các đơn vị
- Các Hệ thống thông tin chuyên ngành (Hệ thống tác nghiệp)
3.2.2 Mô hình hóa hoạt động chia sẻ thông tin giữa các đơn vị thuộc Bộ
Thực hiện chia sẻ thông tin giữa các đơn vị trong Bộ rất quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin tổng hợp, liên ngành và đảm bảo tính thống nhất của thông tin
Mô hình chia sẻ thông tin giữa các đơn vị dựa trên nền tảng kết hợp thông tin của Hệ thống thông tin Bộ với các Hệ thống thông tin chuyên ngành (do các đơn vị quản lý và điều hành)
Trang 15Các đơn vị vừa thực hiện chức năng cung cấp thông tin và chia
sẻ thông tin, lấy Trung tâm thông tin làm đơn vị đầu mối
Việc thu thập và chia sẻ thông tin thực hiện theo cơ chế hành chính (yêu cầu và đáp ứng yêu cầu) giữa đơn vị tích hợp dữ liệu với đơn vị cung cấp và sử dụng dữ liệu
Mô hình này cũng lấy Trung tâm Thông tin là đầu mối thông tin của Bộ Các đơn vị QLNN cần tích hợp số liệu, dữ liệu trong phạm
vi đơn vị mình quản lý cho Trung tâm tích hợp dữ liệu của Bộ Trung tâm Thông tin thông qua cổng Thông tin điện tử (TTĐT) của Bộ cho phép các đơn vị thuộc Bộ tiếp cận thông tin số và phi số
của Bộ theo quy định của lãnh đạo Bộ
3.3 Nguyên tắc, quy định chia sẻ thông tin ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
Tùy theo phạm vi những thông tin cần cung cấp và chia sẻ, đối tượng và trường hợp cung cấp, chia sẻ, quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể, phương thức cung cấp và chia sẻ thông tin; các điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện cơ chế đó
4 Kinh nghiệm trong nước và quốc tế về chia sẻ thông tin quản
có giải pháp toàn diện về đăng ký đất đai, hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp phép xây dựng, ghi nhận biến động quyền sử dụng đất – quyền sở hữu tài sản trên đất và biến động
Trang 16xây dựng phát triển đô thị theo một phương thức hiện đại, nhằm cải cách đơn giản các thủ tục hành chính trong quản lý, tạo điều kiện dễ dàng tiếp cận đầy đủ thông tin đất đai xây dựng giữa các phòng ban chuyên môn và công khai hóa thông tin về đất đai, thông tin về quy hoạch xây dựng Cung cấp thông tin đất đai xây dựng trên địa bàn qua cổng thông tin tích hợp của thành phố và qua dịch vụ tin nhắn SMS hoặc hộp thư thoại, hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành công việc giữa Sở ngành, UBND thành phố, UBND Quận và phường xã
4.1.2 Về cơ chế chia sẻ thông tin của một số Bộ, ngành
(i) Nguyên tắc thu thập và chia sẻ thông tin của Quy chế thông tin cá nhân do Bộ Thông tin-Truyền thông ban hành: (Nguyên tắc thu thập, sử dụng, chia sẻ, đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân) (ii) Nguyên tắc thu thập, lập hệ thống dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước do Bộ KH & CN ban hành:
(iii) Nguyên tắc phổ biến thông tin thống kê Nhà nước do Bộ Kế hoạch và đầu tư ban hành
(iv) Cơ chế phổ biến thông tin thống kê Nhà nước: TT – TK Nhà nước phổ biến theo cơ chế không thu phí và cơ chế thu phí Không thu phí là cơ chế chủ yếu của hoạt động phổ biến TT – TK Nhà nước, được áp dụng đối với các TT – TK Nhà nước
4.2 Kinh nghiệm quốc tế
Thu thập và chia sẻ thông tin luôn là hoạt động chính trong các
tổ chức nhất là các tổ chức truyền thông lớn Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của CNTT, việc thu thập và chia sẻ thông tin của các tổ chức trên thế giới ngày càng hiện đại và nhanh chóng Thông tin thực sự trở thành một nguồn lực cạnh tranh cho sự phát triển của các tổ chức và doanh nghiệp
Kinh nghiệm quốc tế về mô hình thu thập thông tin, chia sẻ thông tin thì có nhiều, ở đây nghiên cứu đưa ra kinh nghiệm của Hệ thống thông tin Địa lý Đây là hệ thống ứng dụng CNTT hiện đại, có cách thức chia sẻ thông tin mạng hợp lý và hiệu quả được các tổ chức, cá nhân của nhiều quốc gia sử dụng
Một ứng dụng CNTT vào lĩnh vực thông tin quan trọng là thông tin bản đồ địa lý Ứng dụng GIS là một ứng dụng điển hình GIS là
Trang 17công cụ trên cơ sở máy tính để lập bản đồ và phân tích những cái đang tồn tại và các sự kiện đang xảy ra trên trái đất Công nghệ GIS tích hợp các thao tác CSDL như truy vấn và phân tích thống kê với lợi thế quan sát và phân tích thống kê bản đồ
4.3 Bài học kinh nghiệm đối với Bộ, ngành
4.3.1 Kinh nghiệm về mô hình nghiệp vụ thu thập và chia sẻ thông tin
Mô hình về thu thập và chia sẻ thông tin của ngành (thông tin số
và phi số) nên kết hợp chia sẻ thông tin giữa các đơn vị và chia sẻ theo ngành dọc (chia sẻ cho các cấp) Tuy nhiên, theo cấu trúc ngành dọc trực tuyến thì Bộ chia sẻ thông tin cho các Sở LĐTBXH, sau đó
Sở LĐTBXH lại thực hiện chia sẻ thông tin cho cấp Phòng LĐTBXH huyện
Mô hình này phải có một đơn vị làm chức năng đầu mối và chỉ đạo thống nhất vận hành hệ thống
Việc thu thập và chia sẻ thông tin ngành và các thông tin chung phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Bộ, phục vụ nhu cầu thông tin của các đơn vị trong và ngoài Bộ, các tổ chức và cá nhân với thông tin đa dạng ở tất cả các lĩnh vực của Bộ, ngành Với chức năng và nhiệm vụ này thì việc thu thập và chia sẻ thông tin phải được thực hiện ở HTTT chung với đầu mối là Trung tâm Thông tin của Bộ
Khi đó, tất cả các thông tin phi số, số liệu từ các đơn vị trong Bộ cung cấp cho Trung tâm tích hợp dữ liệu (TTTHDL) chung
HTTT chung của Bộ, ngành sẽ tích hợp với các HTTT quản lý tác nghiệp của các đơn vị QLNN như: HTTT của Cục Việc làm, Tổng cục Dạy nghề, Cục bảo trợ, Cục ATLĐ, Cục QLLĐNN, Cục PCTNXH bên cạnh tích hợp thông tin chung các CSDL chuyên ngành được tích hợp với HTTT của Bộ, ngành và chịu sự điều phối
về nguồn lực của đơn vị trung tâm
Cốt lõi của Mô hình chia sẻ thông tin mới dựa trên nền tảng ứng dụng CNTT, bên cạnh đó, sử dụng các kênh chia sẻ thông tin truyền thống như thông qua các đơn vị có chức năng thông tin: Báo Lao
Trang 18động và Xã hội, Tạp chí Lao động và Xã hội, các ấn phẩm của các đơn vị chuyên ngành
4.3.2 Kinh nghiệm về ứng dụng CNTT thực hiện việc thu thập chia sẻ thông tin Bộ, ngành
Trong xu hướng phát triển của CNTT, ứng dụng internet là công
cụ chính trong hoạt động thu thập và chia sẻ thông tin của tất cả các đơn vị, tổ chức, các doanh nghiệp
Cổng TTĐT là công cụ trên mạng đáp ứng được các yêu cầu của việc thu thập thông tin của một đơn vị, tổ chức
Cổng TTĐT của Bộ sẽ thực hiện tích hợp tất cả các cổng thông tin các đơn vị thuộc Bộ, tức là thực hiện tích hợp các HTTT chuyên ngành trong HTTT chung của Bộ
Cổng TTĐT Bộ LĐTBXH sau khi xây dựng xong sẽ có nhiều chức năng đáp ứng được yêu cầu của người dùng như: cập nhật thông tin phi số, số liệu; thống kê, báo cáo; chức năng tích hợp bản đồ; tích hợp các cổng TTĐT của các đơn vị, các website
Khi đó, Cổng TTĐT của Bộ sẽ là công cụ thực hiện thu thập và chia sẻ thông tin giữa các đơn vị trong Bộ và 63 Sở LĐTBXH các tỉnh
4.3.3 Kinh nghiệm về xây dựng các quy định vận hành Hệ thống thông tin
Căn cứ vào lý luận cũng như tổng kết kinh nghiệm vận hành HTTT của các Bộ, ngành và hoạt động thu thập, chia sẻ thông tin quốc tế bên cạnh việc ứng dụng CNTT hiện đại cần thiết phải có quy định cho hoạt động của HTTT
Cơ chế thu thập và chia sẻ thông tin về thực chất trong đó đã bao hàm 2 yếu tố chính hữu hình và vô hình:
Hữu hình: là các đối tượng tham gia vào việc cung cấp và chia sẻ thông tin, đối với HTTT của một ngành thì đối tượng tham gia là (i) chủ thể quản lý (đơn vị QLNN cấp Bộ, Sở LĐTBXH, Phòng LĐTBXH huyện, chuyên trách LĐTBXH xã/phường) và các đối tượng chịu sự quản lý (người dân, doanh nghiệp, các cơ sở thuộc ngành )
Trang 19Vô hình: là các quy định xác định nguyên tắc, yêu cầu, trách nhiệm tham gia cung cấp và được hưởng chia sẻ thông tin
Đối với HTTT ngành của các Bộ, ngành thường có văn bản có tính pháp quy ban hành quy định trách nhiệm của các cơ quan thực hiện việc cung cấp và chia sẻ thông tin quản lý
Đối với các HTTT của tổ chức thường được thủ trưởng đơn vị ban hành theo dạng quy chế hoạt động thông tin quy định trách nhiệm của các bộ phận, cá nhân thực hiện cung cấp và chia sẻ thông tin trong hệ thống
Trang 20CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ CHIA SẺ THÔNG TIN
NGÀNH LAO ĐỘNG -THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
1 Đánh giá tình hình thu thập thông tin ngành
1.1 Đánh giá về thu thập thông tin phi số liệu ngành
1.1.1 Tình hình thu thập thông tin phi số chung của các đơn vị
Đánh giá về thu thập thông tin phi số chủ yếu ở hình thức thông tin văn bản Hình thức thông tin văn bản là chủ yếu trong QLNN
Các loại hình thông tin văn bản này được các đơn vị thu thập thông qua các kênh chính như:
- Qua kênh hành chính tức là báo cáo, cung cấp thông tin theo chức năng nhiệm vụ được giao
- Qua Công báo, cổng TTĐT của chính phủ của các cơ quan nhà nước ban hành
- Qua các đơn vị có chức năng thông tin của Bộ như: Báo Lao động và Xã hội, Tạp chí Lao động và Xã hội, Văn phòng Bộ, Viện Khoa học lao động và Xã hội, Trung tâm Thông tin
- Qua phương tiện truyền thông đại chúng
1.1.2 Tình hình thu thập thông tin phi số của các đơn vị có chức năng thông tin
* Báo Lao động và Xã hội, Tạp chí Lao động và Xã hội:
Các đơn vị này thu thập các thông tin chính là tin tức, sự kiện của Bộ, ngành và các thông tin đến lĩnh vực quản lý của ngành Bên cạnh đó các cơ quan này còn thu thập được những thông tin về chính sách, các văn bản chỉ đạo điều hành từ lãnh đạo Bộ, các đơn vị QLNN của Bộ
Nguồn thông tin đến từ phóng viên, các cộng tác viên, các đơn vị QLNN của Bộ, thông tin qua công báo và các cổng TTĐT của các đơn vị
* Trung tâm Thông tin:
Cũng như các đơn vị thuộc Bộ, ngành Trung tâm Thông tin thu thập các loại hình thông tin văn bản thông qua các kênh chính như:
- Qua Công báo, cổng TTĐT của chính phủ của các cơ quan nhà nước ban hành
Trang 21- Qua phương tiện truyền thông đại chúng
(iii) Số liệu tổng hợp từ CSDL chuyên ngành
Tuy nhiên, để có được các số liệu đó các đơn vị QLNN từ cấp cơ
sở đến cấp Trung ương phải thực hiện một số hoạt động thu thập thông tin như:
- Thực hiện báo cáo hành chính (báo cáo thống kê cơ sở): Kênh thu thập thông tin từ báo cáo hành chính là các thức thu thập thông tin cơ bản và quan trọng nhất Báo cáo các chỉ tiêu thông tin được thực hiện từ cấp cơ sở lến cấp Trung ương (cấp xã đến cấp Bộ)
- Thực hiện điều tra thống kê: Kênh thu thập thông tin từ các cuộc điều tra cũng là cách thức thu thập thông tin cơ bản đối với các chỉ tiêu thống kê và khó có thể thu thập được từ kênh báo cáo hành chính
- Thực hiện thu thập, cập nhật thông tin và CSDL: Kênh thu thập
từ các cơ sở dữ liệu cung cấp các thông tin cụ thể, chuyên sâu Nếu
có các CSDL cho tất cả các lĩnh vực, các đối tượng quản lý thì kênh này sẽ là kênh quan trọng và có thể thay thế cho các kênh thu thập thông tin trên
Như vậy, đánh giá việc thu thập thông tin số liệu chính là việc đánh giá tình hỉnh, hiệu quả của các hoạt động thu thập thông tin số liệu của Bộ, ngành
Trang 221.2.1 Đánh giá thu thập thông tin qua báo cáo thống kê hành chính
Các đơn vị QLNN, các đơn vị này có nhiệm vụ chỉ đạo, điều hành thực hiện chức năng và nhiệm vụ ở lĩnh vực được giao Để thực hiện nhiệm vụ, thu thập thông tin luôn là hoạt động cần thiết vào phục vụ công tác quản lý và thực hiện báo cáo tình hình họat động của lĩnh vực mình quản lý cho lãnh đạo Bộ, các cơ quan nhà nước có liên quan
Theo số liệu cuộc khảo sát của Vụ KHTC, có nhiều đơn vị (khoảng 40%) đánh giá chất lượng số liệu từ báo cáo thống kê hành chính là không tốt; hầu hết không có đơn vị nào đánh giá chất lượng
số liệu từ báo cáo thống kê hành chính là rất tốt (Xem bảng 2.1) Trong tất cả các tiêu chí khảo sát, các tiêu chí có 29/34 Sở (85%) trả lời hoạt động thu thập số liệu thống kê của cơ quan được dựa trên các nguồn điều tra, 30/34 Sở (88%) trả lời số liệu thống kê được thu thập dựa trên các nguồn thống kê hành chính (Biểu 13 Phụ lục 2) Song trong quá trình thu thập số liệu thống kê chưa có hướng dẫn, thống nhất các biểu mẫu thống kê từ Bộ đến tỉnh, huyện và xã; chưa
có văn bản pháp quy phân công trách nhiệm cụ thể, trách nhiệm của từng cấp xã, cấp huyện; chưa có bố trí cán bộ làm công tác thống kê
Báo cáo tình hình chủ yếu là báo cáo năm và báo cáo 5 năm thực hiện, (báo cáo 6 tháng không đầy đủ và chậm tiến độ) với tất cả các lĩnh vực của ngành
1.2.2 Đánh giá thu thập thông tin qua các cuộc điều tra thống kê
Có 6/10 đơn vị (60%) thực hiện đánh giá chất lượng số liệu thống kê mà cơ quan có được từ các nguồn điều tra theo các tiêu chí trên và cho điểm từ 1 đến 3 theo thang điểm sau: 1 = không tốt; 2 =
Trang 23tốt; 3 = rất tốt Kết quả cho thấy hầu như không có đơn vị nào đánh giá chất lượng các cuộc điều tra là rất tốt mà đa phần chỉ đánh giá ở mức độ tốt
Về chất lượng số liệu thống kê có được từ các nguồn điều tra, kết quả khảo sát cho thấy các Sở đánh giá chất lượng số liệu điều tra là tốt (tất cả đều cao hơn 2,0 điểm), tuy nhiên tổng điểm bình quân của tiêu chí kịp thời (2,0 điểm) thấp hơn cả, điều đó có nghĩa số liệu điều tra đáp ứng nhu cầu sử dụng của Sở, song tính kịp thời của số liệu điều tra đối với các Sở còn hạn chế
Đánh giá chung cho thấy chất lượng của số liệu thống kê ở cấp tỉnh là thấp Phạm vi của số liệu thường là không đủ và trong bất kỳ trường hợp nào thì việc hiểu được các khái niệm còn rất hạn chế Để cải tiến chất lượng số liệu thì Sở cần phải có thêm các cán bộ được đào tạo tốt hơn, những người biết được họ đang làm gì Các cải tiến
kỹ thuật khác cũng có thể đạt được bằng việc hài hoà hoá các khái niệm, định nghĩa và các bảng phân loại được sử dụng trong hoạt động thống kê và bằng việc cải tiến thiết kế bảng hỏi cho các cuộc điều tra thống kê
1.2.3 Đánh giá việc tổng hợp số liệu từ các CSDL
Hạn chế:
- Hệ thống CSDL bước đầu đã được xây dựng và triển khai ở một số lĩnh vực nhưng còn ở diện hẹp (CSDL tài chính chi trả người
có công; CSDL quản lý hộ nghèo; CSDL theo Nghị định 67; )
- Hầu như chưa có hệ thống CSDL gốc ban đầu (về lao động; dạy nghề; người có công; trẻ em; đối tượng xã hội khác) từ cấp cơ sở (xã/phường; trường nghề; doanh nghiệp) Nếu có, thì các CSDL này còn tản nạn, chưa có tính hệ thống, do vậy việc tích hợp vào CSDL chung của Bộ, ngành sẽ không thực hiện được Đặc biệt là CSDL BHXH phục vụ cho công tác nghiên cứu hoạch định chính sách của
Bộ (cần có sự phối hợp chặt chẽ với BHXH Việt Nam để thu thập thông tin này) Các chỉ tiêu đánh giá về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em cần phối hợp với các Bộ Y tế, Bộ Giáo dục, Bộ Văn hóa thông tin và các Bộ hữu quan khác để thu thập
Nguyên nhân hạn chế:
Trang 24- Chưa có một đơn vị đầu mối quản lý, thu thập, xử lý, lưu trữ thông tin chung cho Bộ, ngành dẫn đến thông tin phân tán, trùng chéo, thông tin vừa thừa (do nhiều đơn vị của Bộ yêu cầu cấp dưới báo cáo) vừa thiếu vì chưa có đơn vị đầu mối xử lý, tổng hợp lưu trữ chung, tính chia sẻ thông tin còn nhiều bất cập giữa các đơn vị trong
Bộ
- Hệ thống các phần mềm chuyên ngành của các lĩnh vực chuyên môn một vài đơn vị đã được xây dựng, nhưng chưa đáp ứng với công việc tích hợp vào CSDL chung của Bộ Thậm chí, ngay trong một đơn vị cũng có rất nhiều phần mềm để thực hiện các công việc khác nhau gây lãng phí tiền của và rất khó thực hiện khi triển khai rộng
- Chưa có một đơn vị chuyên môn sâu chịu trách nhiệm chính nội dung điều tra phối hợp với các đơn vị QLNN để thực hiện nhiệm
vụ này, dẫn đến chất lượng các cuộc điều tra chưa cao, chưa hiệu quả (tính chia sẻ thông tin nhiều bất cập) và có sự trùng chéo về chuyên môn, nghiệp vụ giữa cơ quan chuyên trách với cơ quan quản lý
2 Đánh giá chia sẻ thông tin ngành Lao động - Thương binh và
Các đơn vị tiếp nhận văn bản quy phạm pháp luật như các Bộ luật, Luật, Nghị Quyết, Nghị định, Thông tư, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo kênh phổ biến văn bản như Công báo, cơ quản chủ quản, phương tiện thông tin đại chúng (Xem bảng)
Các đánh giá về mức độ đáp ứng hoặc đầy đủ của các nguồn thông tin đến với các đơn vị chưa cao, với khoảng 70% các đơn vị liên quan tiếp nhận được kết quả nghiên cứu, 65% các đơn vị tiếp
Trang 25nhận được các bài báo và thông tin dư luận, còn lại chỉ khoảng 50% các đơn vị tiếp nhận
Các báo cáo, phản hồi và đánh giá chính sách từ cấp cơ sở lên cấp trung ương chủ yếu theo kênh quản lý hành chính Theo điều hành của cơ quan quản lý có các báo cáo cho cơ quan cấp trên về tình hình hoạt động theo tần suất: tháng, 3 tháng, 6 tháng đầu năm,
cả năm Tuy nhiên, tùy theo lĩnh vực QLNN mà yêu cầu tần suất báo cáo phù hợp, thông thường là báo cáo 6 tháng đầu năm và cả năm
2.1.2 Đánh giá hoạt động chia sẻ thông tin phi số của các đơn vị
có chức năng thông tin (phi số)
Việc chia sẻ thông tin phi số luôn được thực hiện đầy đủ, nhanh chóng cả bằng hình thức truyền thông và mạng nội bộ cũng như qua các website, cách thức chia sẻ thông tin về lĩnh vực LĐTBXH ngày một đa dạng và phong phú
Bộ thực hiện phát hành thông tin qua Báo Lao động – Xã hội; Tạp chí Lao động – Xã hội; Tạp chí Gia đình và Trẻ em là 3 kênh thông tin chính thức, ngoài ra còn có khoảng 8-9 loại ấn phẩm chuyên sâu của từng Vụ, Cục, Viện, …như: Cục Phòng, chống tệ nạn
xã hội có bản tin Phòng, chống tệ nạn xã hội, phát hành hàng tháng; Cục ATLĐ có bản tin An toàn – Vệ sinh lao động, phát hành 2 tháng/số; Cục BTXH phối hợp với Tạp chí ra bản tin Xoá đói giảm nghèo hàng tháng; Viện khoa học Lao động và Xã hội ra bản tin 2 tháng/số; Cục Quản lý lao động ngoài nước ra bản tin 2 tháng/số; Hội bảo trợ trẻ em và người tàn tật ra bản tin Người bảo trợ xã hội; Phòng Tuyên truyền thi đua có điểm báo ngày các nội dung có liên quan đến công tác của Bộ, ngành; …
2.2 Đánh giá chia sẻ thông tin số lĩnh vực Lao động - Thương binh và Xã hội
2.2.1 Chia sẻ thông tin số liệu của các đơn vị có chức năng thông tin số
2.2.1.1 Chia sẻ thông tin số từ vụ Kế hoạch-Tài chính
Trong Quyết định số 474 /QĐ-LĐTBXH của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH ngành ngày 15 tháng 03 năm 2013 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn và cơ cấu tổ chức của vụ Kế
Trang 26hoạch và Tài chính, theo đó mục quy định về công tác thống kê, Vụ KHTC thực hiện các nhiệm vụ tổ chức thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở và chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, công bố thông tin thống kê theo quy định của nhà nước
Như vậy, hàng năm các đơn vị có trách nhiệm báo cáo thống kê theo quy định, Vụ KHTC thực hiện thống kê tổng hợp và công bố thông tin thống kê
Chia sẻ thông tin thống kê ngành Lao động-Thương binh và Xã hội:
Việc thực hiện các chỉ tiêu thống kê Quốc gia và thống kê ngành đều được các đơn vị chú trọng Hàng năm, theo yêu cầu từ Vụ KHTC của Bộ, các đơn vị có trách nhiệm thực hiện các số liệu thống
kê hành chính đều thực hiện tổng hợp từ cấp tỉnh (các Sở LĐTBXH báo cáo) Tuy nhiên các chỉ tiêu thống kê này gửi về Vụ KHTC để tổng hợp và báo cáo lãnh đạo Bộ, đưa ra thông tin thống kê bằng ấn phẩm Niên giám thống kê
Việc chia sẻ thông tin thống kê qua Niêm giám thống kê được thực hiện hàng năm bởi Vụ KHTC Thông tin thống kê từ Niêm giám thể hiện khá đầy đủ các chỉ tiêu thống kê ngành
Niên giám thống kê LĐTBXH hàng năm có mục đích như: cung cấp cho bạn đọc các thông tin về lĩnh vực LĐTBXH, được thu thập
từ các báo cáo thống kê và các cuộc điều tra thống kê do Bộ LĐTBXH tiến hành Ngoài ra, nhằm cung cấp thêm tư liệu phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ, Niên giám còn sử dụng số liệu thống kê từ nguồn của Tổng cục Thống kê
Nội dung Niên giám Thống kê LĐTBXH hàng năm bao gồm các phần thể hiện số liệu thống kê những lĩnh vực như:
Trang 27- Phòng chống tệ nạn xã hội
- Thanh tra lao động – thương binh và xã hội
Tuy nhiên, số liệu từ Niêm giám thống kê LĐTBXH có sự khác biệt với số liệu quản lý báo cáo từ các đơn vị thuộc Bộ Việc chia sẻ
số liệu thống kê mới chỉ dừng lại là các ấn phẩm Niên giám (bản cứng), chưa được chia sẻ bằng thông tin số hóa (bản mềm)
Chia sẻ số liệu tổng hợp từ báo cáo của các đơn vị QLNN:
- Số liệu tổng hợp từ báo cáo của các Sở Bộ LĐTBXH:
Vụ KHTC của Bộ thực hiện việc tổng hợp Tuy nhiên, đây mới
là nguồn thông tin phục vụ riêng công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Bộ về tổ chức và tài chính, chưa phục vụ các đơn vị thuộc
Bộ
Báo cáo của các địa phương chưa được tổng hợp cho toàn quốc theo các lĩnh vực vì số liệu còn có sự khác biệt với các báo cáo của các đơn vị của Bộ về QLNN về lĩnh vực này
Do vậy, số liệu báo cáo của các tỉnh chỉ mang tính chất tham khảo cho các đơn vị khác (Xem báo cáo tình hình thực hiện các chỉ tiêu lĩnh vực LĐTBXH năm 2009, kế hoạch năm 2010 của tỉnh Bình Định ở phụ lục)
- Số liệu tổng hợp từ báo cáo tình hình thực hiện công tác của các đơn vị thuộc Bộ:
Báo cáo này tổng hợp hoạt động lĩnh vực đó từ các địa phương bởi các đơn vị QLNN như Tổng cục Dạy nghề, Cục Việc làm, Cục BTXH
Báo cáo của các đơn vị gửi về Vụ KHTC được tổng hợp phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Bộ, và cho tổ chức và tài chính, các đơn vị khác chưa được tiếp cận nguồn số liệu này
Các báo của các lĩnh vực cũng chưa được tổng hợp và cũng chỉ
là thông tin tham khảo cho các đơn vị khác
2.2.1.2 Chia sẻ thông tin số từ Trung tâm Thông tin
Trong Quyết định số 513/QĐ-LĐTBXH của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH ngành ngày 10 tháng 04 năm 2008 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm
Trang 28Thông tin, theo Trung tâm Thông tin thực hiện chức năng đầu mối thu thập, xử lý, lưu trữ và cung cấp thông tin phục vụ công tác quản
lý nhà nước của Bộ; cung cấp thông tin lên mạng diện rộng của Chính phủ theo quy định và phân công của Bộ
Trung tâm Thông tin có chức năng và nhiệm vụ liên quan đến công tác thông tin như: ( Thực hiện chức năng đầu mối thu thập, xử
lý, lưu trữ và cung cấp thông tin phục vụ công tác QLNN của Bộ; Cung cấp thông tin lên mạng diện rộng của Chính phủ theo quy định
và phân công của Bộ; Phát hành các sản phẩm thông tin theo quy định của Bộ; Thực hiện chức năng đầu mối triển khai ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước của Bộ, ngành; Xây dựng, quản lý, duy trì hoạt động trang tin điện tử và hệ điều hành tác nghiệp của Bộ )
Đặc biệt theo Quy chế hoạt động thông tin quản lý của Bộ ban hành kèm theo Quyết định số 937/QĐ-LĐ-TBXH ngày 22 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH Trung tâm Thông tin có trách nhiệm:
- Phối hợp với các đơn vị chuyên môn xây dựng các cơ sở dữ liệu, có trách nhiệm lưu trữ thông tin của Bộ, ngành tại Trung tâm tích hợp dữ liệu của Bộ
- Trung tâm Thông tin có trách nhiệm cập nhật vào CSDL đối với các đơn vị chưa xây dựng CSDL chuyên ngành; lưu trữ thông tin tập trung tại Trung tâm tích hợp dữ liệu của Bộ
- Trung tâm thực hiện việc cung cấp và chia sẻ thông tin; cập nhật thông tin trên MOLISA và eMOLISA; xây dựng CSDL
- Trung tâm Thông tin thực hiện chức năng đầu mối thông tin của Bộ
Thực hiện chia sẻ thông tin quản lý được tổng hợp từ các đơn vị: Với chức năng, nhiệm vụ này Trung tâm Thông tin thực hiện thu thập số liệu thông tin quản lý các lĩnh vực của ngành được cập nhật vào Dữ liệu Thông tin cơ bản 63 tỉnh/TP Dữ liệu này được cập nhật, quản lý và chia sẻ trên mạng với các chỉ tiêu theo Hệ thống chỉ tiêu quản lý và Hệ thống chỉ tiêu thống kê của ngành
Trang 29Tuy nhiên, do việc cung cấp thông tin từ các đơn vị trong Bộ còn thiếu, không kịp thời nên Dữ liệu thông tin 63 tỉnh/TP mới chỉ chia
sẻ hạn chế trên trang eMOLISA, chưa thực hiện chia sẻ rộng rãi cho các đối tượng trong và ngoài Bộ
Thực hiện chia sẻ dữ liệu các cuộc điều tra :
Trung tâm Thông tin thực hiện thu thập các phần dữ liệu điều tra liên quan đến các lĩnh vực của ngành (Lao động-Thương binh và Xã hội) từ các cuộc điều tra nhà nước như:
- Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 1999, 2009;
- Điều tra Hộ gia đình (VHSS) năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010;
- Điều tra doanh nghiệp từ năm 2000 đến nay;
- Điều tra Nông nghiệp và Nông thôn;
- Điều tra cơ sở hành chính;
Các phần dữ liệu này được lưu trữ tại CSDL của Trung tâm, thực hiện chia sẻ cho các đơn vị thuộc Bộ có nhu cầu
Thực hiện chia sẻ số liệu tổng hợp từ các cuộc điều tra: Hàng năm, khi Tổng cục Thống kê thực hiện các cuộc điều tra ngoài việc liên hệ có được phần dữ liệu liên quan đến lĩnh vực của ngành (như phần trên), Trung tâm Thông tin thực hiện xử lý tổng hợp số liệu những lĩnh vực của ngành đến cấp tỉnh/TP
Các số liệu này được lưu trữ và quản lý ở CSDL kinh tế-xã hội tổng hợp các vùng kinh tế cùng với số liệu thu thập, cập nhật từ các nguồn khác (thông tin có liên quan đến lĩnh vực của ngành) Số liệu này được trung tâm Thông tin chia sẻ trên eMOLISA cho các đơn vị thuộc Bộ có nhu cầu
Tuy nhiên, các cuộc điều tra của Bộ: điều tra nhu cầu lao động
và tiền lương trong các doanh nghiệp, các điều tra có nguồn từ ngân sách hoặc ngoài ngân sách các đơn vị thuộc Bộ thực hiện thì Trung tâm Thông tin chưa được cung cấp nên chưa thực hiện chia sẻ cho các đơn vị có nhu cầu
2.2.2 Tình hình chia sẻ số liệu từ các đơn vị thuộc bộ có chức năng quản lý nhà nước
Trang 30Chia sẻ thông tin số thuộc thông tin quản lý:
Thực hiện trách nhiệm của các đơn vị theo “Quy chế hoạt động thông tin quản lý của Bộ” trong những năm qua chưa được chú trọng Các đơn vị chưa cung cấp số liệu theo bộ chỉ tiêu thông tin của mình cho đơn vị đầu mối là Trung tâm Thông tin
Tổng hợp hình hình thực hiện cung cấp số liệu thuộc trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ trong 3 năm (từ năm 2010-2012) cho thấy: Các đơn vị không quản lý trực tiếp (Vụ Pháp chế, Thanh tra Bộ và Văn phòng Bộ) cung cấp đầy đủ các thông tin yêu cầu cho đơn vị đầu mối về thông tin
Vụ KHTC và Viện KHLĐXH vẫn chưa thực hiện việc chia sẻ những thông tin mà đơn vị có chức năng thu thập như:
- Tình hình phân bổ tài chính hàng năm
- Danh mục các chương trình, dự án, đề án trong nước và tình hình triển khai
- Tình hình chấp hành dự toán hàng năm của các đơn vị trực thuộc
- Kết quả nghiên cứu các đề tài khoa học: nội dung, hoàn thành, đang nghiên cứu, đơn vị chủ trì
Các đơn vị QLNN có trách nhiệm chia sẻ thông tin số liệu cho đơn
vị đầu mối nhưng việc thực hiện này còn thấp Tỷ lệ các chỉ tiêu cung cấp chỉ đạt cao nhất là 66,7% (Vụ Lao động - Tiền lương), 62,5% (Cục Phòng, chống Tệ nạn xã hội), 60% (Tổng cục Dạy nghề), thấp nhất là các đơn vị như: Cục Việc làm, Cục BTXH, Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em
Xu hướng chia sẻ số liệu quản lý này ngày một ít đi, có một số đơn
vị không có số liệu chia sẻ năm 2012 như: Cục ATLĐ, Vụ Bình đẳng giới
Theo quy định của cơ chế có 2 thời điển trong năm các đơn vị phải thực hiện chia sẻ số liệu (15/7 và 25/12 hàng năm) Tuy nhiên, các đơn vị chỉ cung cấp số liệu trong năm và thường vào quý II năm sau
Các đơn vị không chủ động chia sẻ thông tin số liệu mà chủ yếu các
số liệu được chia sẻ theo yêu cầu cá nhân của người thu thập số liệu của Trung tâm Thông tin
Chia sẻ số liệu từ các cuộc điều tra: