Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế có mức tăng trưởng lớn trên thế giới, là nền kinh tế rất hấp dẫn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Cùng với đó là quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá và đô thị hoá ngày càng nhanh chóng kéo theo sự thu hẹp diện tích đất nông nghiệp ở khu vực nông thôn. Nhưng lực lượng lao động nông thôn chiếm phần lớn lực lượng lao động trong cả nước, khoảng 68% lực lượng lao động cả nước (số liệu thống kê năm 2009).
Trang 1Chương 1 THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG NÔNG THÔN – MỘT
SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CƠ BẢN 4
1.1 Khái quát thị trường lao động nông thôn 41.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập
của lao động nông thôn hiện nay 51.3 Thực trạng thị trường lao động nông thôn ở nước ta
1.4 Việc làm ở nông thôn nước ta hiện nay - những vấn đề
Chương 2 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GIẢI QUYẾT VÀ
TẠO VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
2.1 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá 132.2 Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiên và ban hành bổ sung
Trang 2MỞ ĐẦU
Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế có mức tăng trưởng lớntrên thế giới, là nền kinh tế rất hấp dẫn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.Cùng với đó là quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá và đô thị hoá ngàycàng nhanh chóng kéo theo sự thu hẹp diện tích đất nông nghiệp ở khu vựcnông thôn Nhưng lực lượng lao động nông thôn chiếm phần lớn lực lượnglao động trong cả nước, khoảng 68% lực lượng lao động cả nước (số liệuthống kê năm 2009) vấn đề chuyền dịch cơ cấu lao động còn chậm chưa theokịp với tốc độ đô thị hoá nên trong khoảng 10 năm từ 2000 đến 2010 mớigiảm được khoảng 3-4% lao động xã hội hoạt động trong lĩnh vực nôngnghiệp Tới năm 2015, phấn đấu giảm tỷ lệ lao động xã hội trong lĩnh vựcnông nghiệp xuống khoảng 16-17% Đây là một chỉ tiêu khá cao so với mứcđạt được của khoảng thời gian 10 năm trước Trong khi đó bước vào giaiđoạn 2001-2010 tỷ lệ tăng dân số cả nước còn ở mức 1,7%/năm và ở nôngthôn là 2%/năm Hàng năm có khoảng 1,5 triệu người bước vào độ tuổi laođộng, số người tìm được việc làm là 1,2 triệu người Như vậy hàng năm trên
cả nước số người không có việc làm tăng thêm khoảng 0,3 triệu người (hơn2/3 số này là ở khu vực nông thôn) Chiến lược phát triền kinh tế - xã hộinước ta còn khoảng 50% và quỹ thời gian lao động được sử dụng ở nông thônđạt khoảng 80-85% Việc thực hiện chỉ tiêu chiến lược về lao động nông thôn
có ý nghĩa to lớn đối với phát triển kinh tế-xã hội nông thôn nước ta trong quátrình công nghiệp hoá hiện đại, hoá đất nước
Trên thực tế, việc hoàn thành những chỉ tiêu chiến lược về lao động và
sử dụng quỹ thời gian lao động ở nông thôn nước ta vào năm 2015 có ý nghĩa
to lớn xong cũng là nhiệm vụ hết sức khó khăn Để hoàn thành nhiệm vụ nàyđòi hỏi Đảng, Nhà nước phải có những giải pháp vĩ mô đồng bộ và hữu hiệu
để thực hiện một cách có kết quả việc phân công lại lao động và tạo thêmnhiều việc làm cho lao động ở khu vực nông thôn nước ta
Trang 3Chương 1 THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG NÔNG THÔN – MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CƠ BẢN 1.1 Khái quát thị trường lao động nông thôn
Trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, quan niệm củangười Việt Nam về vấn đề việc làm và thất nghiệp từng bước được đổi mới,tiến sát dần cách quan niệm hợp lý, theo những tiêu chí chung của thế giới.Đặc biệt, xét dưới góc độ luật pháp, quan niệm chính thống (của Nhà nước)
về vấn đề việc làm cũng đã được thay đổi Bên cạnh đó, cách thức phân loạiviệc làm ở Việt Nam hiện nay, về cơ bản, cũng đã được thực hiện theo cácquy định của Tổ chức Lao động Quốc tế Quan niệm về thất nghiệp và thiếuviệc làm ở Việt Nam hiện nay cũng có sự thay đổi rõ rệt
Trước hết, hiểu như thế nào về việc làm? Việc làm được hiểu là mọihoạt động tạo ra thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm Các hoạt động laođộng được xác định là việc làm bao gồm : Làm các công việc được trả côngdưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật Những công việc tự làm đê thu lợi nhuậncho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình mình, nhưng không được trảcông ( bằng tiền hoặc hiện vật ) cho công việc đó
Từ cách tiếp cận như vậy, ta có thể thấy, người có việc làm được hiểu:
là những người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế màtrong tuần lễ trước điều tra Ngược lại, người thất nghiệp được hiểu: là người
đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ trướcquá trình điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc
Thứ hai, xét thị trường lao động: thị trường lao động là nơi thực hiệncác quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động và người mua sức lao động,thông qua các hình thức thoả thuận về tiền công hay tiền lương và các điều
kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng
miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thoả thuận khác
Trang 4Thị trường lao động là một sân chơi bình đẳng mà ở đó có nhiều chủthể tham gia với các vai trò khác nhau: Nhà nước, người sử dụng lao động,người lao động, nhà cung cấp các dịch vụ việc làm, các đối tác xã hội khác.Các chủ thể tham gia thị trường lao động có vai trò khác nhau nhưng giữachúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhất là hình thành cơ chế ba bêntrong xử lý các quan hệ lao động, đảm bảo hài hoà quyền hạn, trách nhiệm vàlợi ích các bên vì mục tiêu phát triển chung.
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của lao
động nông thôn hiện nay
* Các nhân tố về tự nhiên: Thu nhập của lao động nông thôn một phần
rất lớn là thu từ nông nghiệp, do đó các yếu tố về điều kiện tự nhiên ảnhhưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp, từ đó ảnh hưởng lớn đến thu nhậpcủa lao động nông thôn Các yếu tố về điều kiện tự nhiên gồm:
Vị trí địa lý: Những vùng thuận lợi là những vùng gần các trung tâm đôthị, các trung tâm kinh tế và văn hoá sẽ thuận lợi hơn trong việc tiếp cận vớicác thông tin khoa học kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và dịch vụ cũngnhư mua sắm các tư liệu sản xuất phục vụ cho sản xuất kinh doanh Ngượclại, những vùng nông thôn sâu, cách xa các trung tâm kinh tế và văn hoá sẽrất khó khăn trong việc phát triển sản xuất hàng hoá, sản xuất thuần nông làchính, trình độ sản xuất hạn chế dẫn tới thu nhập thấp
Điều kiện về đất đai, địa hình: Những vùng trung du và miền núi (đặcbiệt là miền núi) có địa hình hiểm trở bị chia cắt do đó rất khó khăn trong việcphát triển giao thông và thuỷ lợi Việc áp dụng máy móc kỹ thuật cũng rấthạn chế do đất đai bị chia cắt manh mún Vì vậy, năng suất lao động thấp, hạnchế trong khả năng giao lưu kinh tế và tiếp cận với thị trường, với các thôngtin về văn hoá, khoa học kỹ thuật do vậy cũng hạn chế quá trình sản xuất kinhdoanh và ảnh hưởng đến thu nhập
Điều kiện khí hậu, thuỷ văn Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là
Trang 5những cơ thể sống mà cơ thể và môi trường là một thể thống nhất Do vậy cácđiều kiện về khí hậu và thuỷ văn có vai trò vô cùng quan trọng trong pháttriển nông nghiệp Các vùng có khí hậu thuận lợi, điều kiện tưới tiêu thuận lợi
sẽ có năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp cao mang lại thu nhậpcao cho nông dân Ngược lại những vùng có nhiều yếu tố bất lợi về thời tiếtkhí hậu, khan hiếm nguồn nước sẽ khó khăn trong phát triển sản xuất và từ đóảnh hưởng tới thu nhập và đời sống của dân cư ở nước ta, những vùng cóđiều kiện khó khăn điển hình là vùng miền Trung, miền núi và trung du Bắc
Bộ Các sự biến đổi thất thường của thời tiết như hạn hán, bão, lũ lụt, sươngmuối luôn gây những thiệt hại to lớn cho sản xuất và đời sống Để hạn chếthiệt hại của những hiện tượng này cần phải có hệ thống thông tin dự báo hiệnđại để có phương án phòng chống có hiệu quả
* Các nhân tố kinh tế – xã hội: Nhóm các nhân tố kinh tế - xã hội ảnh
hưởng đến việc làm và thu nhập của lao động nông thôn bao gồm:
Mức độ hoàn thiện của hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội: Đây làyếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng Trước hết là hệ thống giao thông, thuỷlợi, hệ thống thông tin và năng lượng Hệ thống giao thông thuận lợi sẽ giảmchi phí vận tải, thuận lợi cho giao lưu kinh tế và văn hoá với các vùng khác từ
đó hình thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá và phát triển các ngànhnghề phi nông nghiệp Hệ thống điện, thông tin giúp cho người dân có khảnăng trang bị máy móc kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động,thuận lợi trong việc tiếp thu những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật, trình
độ dân trí được nâng cao Hệ thống trường học, bệnh viện có vai trò quantrọng trong việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân và đào tạo nhân lực Vì vậy,
hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội tác động một cách tổng hợp tới quá trìnhphát triển kinh tế xã hội và mức sống của dân cư
Trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật của người lao động: Con ngườivới tư cách là chủ thể của mọi sáng tạo, mọi hoạt động lao động, vì vậy, chất
Trang 6lượng của nguồn lao động quyết định hiệu quả của hoạt động lao động Trongquá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá hiện nay, con người được coi lànguồn lực của mọi nguồn lực cho phát triển Do đó, trình độ văn hoá, trình độkhoa học kỹ thuật của người lao động có ảnh hưởng quyết định đến phát triểnkinh tế Điều đó đòi hỏi không ngừng đào tạo, tập huấn cho nông dân, pháttriển mạnh giáo dục ở các vùng nông thôn để hình thành một lực lượng laođộng có chất lượng ngày càng cao.
Nguồn vốn đầu tư cho sản xuất là yếu tố quan trọng: Để phát triển kinh
tế phải có nguồn vốn đầu tư mua sắm tư liệu sản xuất và làm cho quá trìnhsản xuất kinh doanh được tiến hành thuận lợi Với trình độ phát triển kinh tế ởnông thôn hiện nay, hầu hết các hộ nông dân đều thiếu vốn sản xuất Với các
hộ gia đình trẻ mới tách hộ thì tình trạng thiếu vốn càng trầm trọng Do vậy,
để tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn thì cần phải giúp đỡngười nông dân có khả năng huy động mọi nguồn vốn vào sản xuất, đồng thời
mở lớp tập huấn cho người nông dân nâng cao khả năng quản lý và sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó nhà nướccũng cần cung cấp vốn cho nông dân qua nhiều hình thức để mở rộng sảnxuất kinh doanh và tăng thu nhập
Truyền thống văn hoá, phong tục tập quán của từng địa phương, từngdân tộc: Mỗi địa phương có những phong tục tập quán riêng, có truyền thốngvăn hoá riêng Mỗi dân tộc cũng có những truyền thống, những phong tục tậpquán riêng Có những phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp có ảnh hưởngtích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội và ngược lại cũng có những phongtục tập quán, lạc hậu trở thành vật cản cho sự tiến bộ xã hội Truyền thốnggiúp đỡ nhau trong đời sống hàng ngày, trong làm ăn kinh tế, trong khuyếnhọc là những truyền thống tốt đẹp Có những làng xã người dân xây dựngthành các nhóm, hội kinh doanh rất hiệu quả, có làng khuyến khích người dânlàm kinh tế và báo cáo kết quả trong ngày hội làng đã có tác động thúc đẩy
Trang 7kinh tế phát triển và thu nhập của người dân ngày càng được nâng cao Tuynhiên, cũng có những hủ tục như ma chay cưới xin linh đình, công việc xongtrả nợ hàng năm mới hết Các tệ nạn mê tín dị đoan thói quen sống và làmviệc mang tính tự nhiên không tính toán là lực cản vô cùng to lớn cho sự tiến
bộ xã hội Vì vậy, các giải pháp giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cholao động nông thôn cần xem xét kỹ đến các yếu tố về phong tục tập quán củamỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi dân tộc, từ đó mỗi giải pháp mới có tính khảthi và hiệu quả
* Các nhân tố thuộc về cơ chế chính sách Chính sách của nhà nước
ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của lao động nông thôn Người nông dânkhông thể có khả năng làm mọi việc mình muốn Họ có quyền tự chủ khá lớntrên mảnh đất của họ, tuy nhiên vẫn phải phù hợp với quy định của pháp luật
Ví dụ: Không được tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất Còn những điềukiện khác cho phát triển sản xuất thì chủ yếu phải do chính sách của nhà nướcnhư: Chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp và nông thôn, chính sáchkhuyến nông, chính sách hỗ trợ nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ nôngsản Đều phải dựa vào vai trò của nhà nước và nó có tác động to lớn và lâudài tới phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn
1.3 Thực trạng thị trường lao động nông thôn ở nước ta hiện nay
* Cung lao động nông thôn: Dân số ở nông thôn nước ta hàng năm
tăng với tốc độ vẫn khá cao, khoảng 2% (năm 2001- 2010) Có khoảng 1 triệungười bước vào độ tuổi lao động mỗi năm Quá trình công nghiệp hoá, đô thịhoá nhanh trong khi cơ cấu lao động chuyển dịch chậm làm cho lao độngnông thôn thiếu việc làm và thất nghiệp tăng nhanh Trình độ chuyên môn củalao động nông thôn ở mức rất thấp, phần lớn chưa qua đào tạo
* Cầu lao động ở khu vực nông thôn: Khu vực nông thôn kinh tế xã
hội còn chưa phát triển, tạo ra ít việc làm, chủ yếu là làm nông nghiệp, đất đai
bị thu hẹp do đô thị hoá, sản xuất nông nghiệp cũng giảm dần nên lao động
Trang 8nông thôn thường tồn tại dưới hình thức thất nghiệp trá hình hoặc sử dụngkhông hết quỹ thời gian lao động trong nông nghiệp Dịch vụ ở mức thấp docuộc sống còn khó khăn, người dân ít quan tâm nên khó phát triển.
* Tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nông thôn: Tình trạng thiếu
việc làm hay còn gọi là thất nghiệp bộ phận là đặc trưng phổ biến của laođộng nông thôn Theo số liệu báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Namnăm 2010 của Tổng cục Thống kê, tổng số lao động nông thôn là 36.606,2triệu người chiếm 72% lực lượng lao động cả nước, trong đó thường xuyêntồn tại một lực lượng lao động thiếu việc làm, phổ biến là thiếu việc làmmang tính thời vụ Năm 2010, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động củakhu vực nông thôn ở mức 4,26% Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động nông thôncao gấp hơn 2,3 lần khu vực thành thị, trong khi có sự chênh lệch không đáng
kể về mức độ thiếu việc làm giữa nam và nữ ở khu vực nông thôn của cácvùng kinh tế - xã hội Trên địa bàn nông thôn cả nước hiện có 6 đến 7 triệulao động dư thừa không có việc làm thường xuyên, trong đó có trên 50% chỉ
có việc làm từ 3 tháng đến 4 tháng trong năm Tỷ lệ thời gian làm việc được
sử dụng của lao động ở nông thôn khá thấp chỉ khoảng trên dưới 75% Vàothời kỳ nông nhàn, một bộ phận lao động nông thôn thường di chuyển đến cácđịa phương khác nhất là các thành phố lớn để tìm kiếm thêm việc làm nhằmmục đích tăng thu nhập
Những năm gần đây, tình trạng lao động nông nhàn trở thành vấn đề xãhội nổi cộm vì đó là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng dichuyển lao động nông thôn mang tính thời vụ để tìm kiếm việc làm và tăngthêm thu nhập Đặc biệt trong điều kiện gia tăng tình trạng thiếu việc làmtrong toàn bộ nền kinh tế thì vấn đề lao động nông nhàn ở nông thôn càng trởnên bức bách Đó là nguồn bổ sung đáng lo ngại vào lực lượng lao động thiếuviệc làm nói chung và làm tăng thêm dòng người di dân, di chuyển lao động
từ vùng này đến vùng khác, từ nông thôn ra thành thị
Trang 9Nguyên nhân làm gia tăng tình trạng thất nghiệp:
Thứ nhất, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn chậm chạp dẫntới chưa giải quyết được một cách cơ bản và đồng bộ tình trạng thất nghiệp vàthiếu việc làm ở nông thôn Lực lượng lao động nông thôn vốn đã dư thừa,nay do tác động của cơ chế thị trường càng trở nên trầm trọng Từ năm 1990-
1997, tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm 3,5%, bình quân mỗi năm giảmđược 5% Số hộ hoạt động trong ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn
Thứ hai, quá trình đô thị hoá nhanh chong, những vùng ven đô pháttriển rầm rộ các khu công nghiệp, khu chế xuất đã chiếm mất một phần đấtnông nghiệp làm cho diện tích đất canh tác bị thu hẹp, nông dân mất đất trởnên thất nghiệp hoặc thiếu việc làm Mặt khác, do cơ cấu lại nông nghiệp vàkinh tế nông thôn chưa nhận được sự hỗ trợ đúng mức về vốn, tín dụng, thuế,thị trường Vì vậy, làm cho sự phục hồi các làng nghề truyền thống, hìnhthành và phát triển nghề mới để công nghiệp hoá nông thôn, mà đặc biệt làcông nghiệp chế biến chậm và hạn chế phát triển Do vậy, không thế có tácđộng mạnh và thu hút một bộ phận đáng kể lao động dư thừa ở nông thôn.Hơn nữa, họ hầu như không nhận được bất cứ sự đào tạo kỹ thuật hoặc ngànhnghề nào Họ rất ít có cơ hội đế tìm việc làm mới, nâng cao thu nhập và cảithiện điều kiện sống Ngoài ra lao động nông thôn vẫn chưa thích nghi vớiquan hệ cung cầu của cơ chế thị trường Thị trường nông thôn còn mang tính
tự phát, kém năng động và không theo kịp với tốc độ tăng trưởng kinh tế vàphân công lại lao động
* Mức tiền công và thu nhập của lao động nông thôn: Mức tiền công
và thu nhập của lao động nông thôn tăng đều qua các năm từ 1999 đến 2010.Tuy vậy, mức tăng còn thấp và có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nôngthôn Tiền công và thu nhập của lao động nông thôn thấp hơn của lao động ởthành thị rất nhiều, luôn luôn hấp hơn khoảng 50% so với khu vực thành thị.Điều này dẫn đến hậu quả là mức sống của lao động nông thôn thấp hơn
Trang 10nhiều so với thành thị Đến năm 2010, thu nhập bình quân đầu người mộttháng của lao động khu vực thành thị là 2130 nghìn đồng/người/tháng, thì thunhập bình quân đầu người một tháng ở nông thôn mới là 1071 nghìnđồng./người/tháng Vùng có mức thu nhập bình quân đầu người một thángthấp nhất tính đến 2010 là vùng Trung du và miền núi phía Bắc (905 nghìnđồng/người/tháng); cao nhất là vùng Đông Nam Bộ: 2304 nghìnđồng/người/tháng
1.4 Việc làm ở nông thôn nước ta hiện nay - những vấn đề đặt ra.
Qua phân tích thực trạng của thị trường lao động ở nông thôn chúng tanhận thấy có những vấn đề cần quan tâm giải quyết để tạo điều kiện phát triểnthị trường lao động ở nông thôn là: Tốc độ tăng nguồn lao động còn ở mứccao, trong giai đoạn 2001-2020 dự báo bình quân mỗi năm tăng khoảng2,75% Trong khi các điều kiện về kinh tế còn yếu kém thì tốc độ tăng nguồnlao động như vậy sẽ tạo ra sức ép lớn về việc làm Trình độ văn hoá của ngườilao động nông thôn còn thấp so với yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Tỷ lệ thời gian nhàn rỗi của lao độngnông thôn còn quá cao nhưng nhiều nơi vẫn không tuyển đủ lao động cóchuyên môn kỹ thuật Lao động ở nông thôn vẫn còn chiếm tuyệt đại đa số vềmặt số lượng trong nguồn lực lao động, tốc độ gia tăng dân số tự nhiên ởnông thôn lại nhanh hơn so với khu vực công nghiệp và thành thị Chất lượngnguồn lao động nông thôn thấp hơn nhiều so với các vùng đô thị, tỷ lệ laođộng chưa qua đào tạo cao Phần lớn người lao động ở khu vực nông thôn cònmang nặng tác hong của người sản xuất nhỏ nên tính tổ chức, tinh thần kỷ luậtyếu kém, chưa có tác phong công nghiệp, do đó năng suất lao động chưa cao
và khả năng cạnh tranh trên thị trường sức lao động kém Khả năng thu hútlao động của các hoạt động phi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nôngthôn còn thấp Công tác thông tin về lao động, việc làm chưa kịp thời, chi tiết,chưa huy động hết khả năng cho xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm