- Đầu tư xây dựng mới: + Đường trục mới lộ giới 30 - 40 m theo hướng Bắc - Nam, nhằm khai thác khu vực bên trong và sớm hình thành khu trung tâm quận mới; + Các tuyến đường mở mới tại cá
Trang 1Đô thị hoá và phát triển kết cấu hạ tầng tại Thủ Đức – Phần I
Hồng Quế - ĐH KHXH & NV
1 Phát triển kết cấu hạ tầng - kĩ thuật
1.1 Giao thông vận tải
- Mạng lưới giao thông chính của quận Thủ Đức được bố trí theo các hướng Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam, tạo ra mối giao lưu thuận lợi với các quận khác, với nội thành cũ, với thành phố Biên Hòa - các khu công nghiệp Nam Bình Dương Các trục đường chính gồm :
+ Xa lộ Hà Nội (lộ giới 120 - 160m), xa lộ vành đai (lộ giới 120m);
+ Các trục đường quốc lộ khác như : Quốc lộ 13, quốc lộ 1A (cũ);
+ Xa lộ Bắc - Nam (đường Trường Sơn - công nghiệp hóa) dựa trên nền Quốc lộ 13 (địa bàn tỉnh Bình Dương) và theo Tỉnh lộ 43 nối với xa lộ vành đai tại ngã tư Bình Phước
+ Vành đai thành phố (từ quận 7 qua sông Sài Gòn tới khu vực phường Linh Đông) lộ giới 60 - 120m, đoạn chạy qua TĐ dài 9km có lộ giới 60m;
+ Ga Bình Triệu được mở rộng làm ga hành khách chính của thành phố Các tuyến đường sắt nội đô: Bình Triệu - Hòa Hưng vận chuyển hành khách đi trên cầu cạn và các tuyến khác được nối kết khép kín của các ga Bình Triệu, TĐ và Thủ Thiêm
+ Bến bãi xe lớn của thành phố và quận đặt tại 2 đầu đường của trục đi bộ (trung tâm) Võ Văn Ngân với quy mô 2,5 ha/bãi; 2 bến xe liên tỉnh, quy mô 3 - 4 ha/bến tại khu vực chợ đầu mối Tam Bình và ngã 4 xa lộ vành đai - xa lộ Hà Nội; tổng diện tích các bãi đỗ xe được bố trí trên quận TĐ là 12 ha
- Nâng cấp, mở rộng đường Liên tỉnh lộ 43, các đường Bình Phú, Linh Trung, Trường Thọ (Hồ Văn Tư nối dài), Gò Đình, Chương Dương, Linh Tây, Xuân Hiệp, Quốc lộ 1A (đoạn qua thị trấn cũ ) tạo thành mạng giao thông hoàn chỉnh; mở rộng các đường liên phường, liên khu vực
- Đầu tư xây dựng mới:
+ Đường trục mới (lộ giới 30 - 40 m) theo hướng Bắc - Nam, nhằm khai thác khu vực bên trong và sớm hình thành khu trung tâm quận mới;
+ Các tuyến đường mở mới tại các khu vực phát triển công nghiệp, dịch vụ, nhà vườn trong định hướng xây dựng đợt đầu
Với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", quận đã triển khai chương trình "bê tông hóa" nhân dân đóng góp 50%, quận hỗ trợ 50% Từ sự hợp tác này đã thực hiện trên
260 công trình đường liên tổ dân phố, liên khu phố; đã tạo chuyển biến lớn trong quá trình ĐTH, làm thay đổi rất rõ bộ mặt nông thôn trên địa bàn
1.2 Hệ thống cấp, thoát nước
a/ Cấp nước
Quận TĐ hiện có hai hình thức cấp nước sạch nước máy và nước giếng ngầm
Trang 2- Nước máy: nguồn cấp từ nhà máy nước TĐ và Bình An (do L.D.E đầu tư theo B.O.T) qua hệ thống cấp nước của thành phố từ tuyến chính φ 2000 xuống mạng lưới φ 250 và φ
200 Hiện nay đã có 19.128 hộ dân sử dụng nước máy (chiếm tỷ lệ 21,5%) Tuy nhiên, do mạng lưới cấp 2 chưa phát triển hết toàn quận nên một số khu vực vẫn chưa được cung cấp nước máy trong đó có 4 phường hoàn toàn không có tuyến ống cấp nước Tổng nhu cầu dùng nước toàn quận năm 2020 là 215.000m3/ngày đêm (Chi tiết phụ lục bảng biểu
A: Nước phục vụ sinh hoạt)
- Nước ngầm: có 5.551 giếng khoan và 11 hệ thống giếng bom công nghiệp cung cấp cho khoảng 67.654 hộ sử dụng (chiếm tỷ lệ 76,1%)
b/ Thoát nước
Hệ thống cống thoát nước trên địa bàn còn rất hạn chế, phần lớn chỉ có ở các tuyến đường chính và đường kính ống thoát nước nhỏ, từ φ 400 đến φ 1000 (tổng chiều dài khoảng 25km) Tại một số khu DA phát triền nhà ở có đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước khu vực, nhưng việc kết nối hệ thống chung rất khó khăn
Ngoài ra, thành phố vừa mới đầu tư xây dựng tuyến ống thoát nước (ống hộp 2x2 m và cống φ 1.500) cho hai tuyến đường, tổng chiều dài khoảng 5 km thoát về rạch TĐ ra sông Sài Gòn
Trong năm 2005, Sở Giao thông công chánh (GTCC) tiếp tục thực hiện 21 DA thoát nước để xóa
20 điểm ngập và giảm 10 điểm Tuy nhiên, trong số này mới chỉ có 5 DA hoàn thành trước mùa mưa và chỉ xóa được 2 điểm, giảm được 7 điểm ngập Đến tháng 9 có thêm 3 DA hoàn thành và xóa ngập 3 điểm nữa Các công tình hoàn thành vào cuối năm 2005 đến mùa mưa năm 2006 mới phát huy tác dụng vì vậy trong mùa mưa năm 2005, người dân ở các khu vực ngập trọng điểm vẫn chưa tránh được nổi lo ngập lụt
Đến thời điểm này, hai tỉnh Bình Dương và TP HCM vẫn chưa đưa ra được giải pháp chung để giải quyết vấn đề ngập nước Cùng chung với nỗi lo với người dân khu vực Linh Trung, người dân ở khu vực ngã tư bốn Xã cũng đang trong chờ DA thoát nước để giải quyết ngập cho đường Bình Long, Phan Anh, Hương Lộ 2 Theo dự kiến, DA này sẽ được hoàn thành vào đầu năm 2006 Mùa mưa năm nay, khu vực này sẽ vẫn còn ngập Năm 2007 các DA xóa ngập cho khu vực Thanh Đa, Bình Thạnh và phường 15 quận 8 mới được hoàn thành, nên trong mùa mưa năm nay, người dân ở các khu vực này vẫn chưa thoát khỏi cảnh ngập lụt
1.3 Nhà ở
Thực tế hiện nay, trên địa bàn quận TĐ đã hình thành bốn cụm công nghiệp, nhiều DA khu nhà ở, các công trình công cộng, hạ tầng xã hội Đồng thời do nhu cầu chỗ ở của nhân dân trong nội thành bị ảnh hưởng bởi các DA phải giải toả, di dời và của lực lượng công nhân,
người nhập cư từ các nơi, sinh viên… nên số lượng nhà ở tự phát rất lớn (Chi tiết phụ lục
bảng biểu A: Nhà ở và hộ gia đình 2005 – 2006)
a/Diện tích nhà ở
Tính đến năm 2004, Quận TĐ có khoảng 58.412 căn nhà ở, tổng diện tích sàn khoảng 3,8 triệu m2 Diện tích ở bình quân khoảng 11,7 m2 /người Số hộ chưa có nhà ở riêng khoảng 20.000 hộ, gồm có dạng ở chung, ở nhà thiếu chất lượng, chưa đảm bảo và các đối tượng
Trang 3là sinh viên, công nhân Diện tích đất đô thị hiện nay là 1.294,6 ha, chiếm tỉ trọng 27,17% tổng diện tích tự nhiên của toàn quận, bình quân 39,8 m2 /người.
b/Kiến trúc, số lượng và chất lượng nhà ở
Kiến trúc hiện trạng phần lớn là dạng nhà phố (nhà ống) chiều cao từ một đến hai tầng Diện tích bình quân một căn hộ khảng 65m2, hầu hết đều có hệ thống vệ sinh riêng và tiện nghi tối thiểu Tuy nhiên về phòng chống cháy nổ phần lớn các căn nhà ở trên địa bàn Quận TĐ đều chưa đảm bảo do điều kiện về hạ tầng kỹ thuật chung chưa đầy đủ
Trong tổng số 59.429 căn nhà ở có: Nhà biệt thự: 527 căn; Nhà kiên cố: 11.240 căn; Nhà bán kiên cố: 45.957 căn; Nhà vật liệu tạm khác: 1.704 căn
Ngoài ra, do hệ thống hạ tầng kỹ thuật không phát triển kịp với tốc độ phát triển xây dựng, phần lớn nhà ở xây dựng đều có tính tự phát nên phát sinh nhiều khu vực kiến trúc lộn xộn, điều kiện vệ sinh môi trường kém, không đảm bảo tiện nghi Hiện nay, Quận TĐ phát sinh nhiều khu nhà ở mang tính tự phát, không phù hợp với QH chi tiết xây dựng Đồng thời, việc phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng kịp nhu cầu Do đó, đối với công tác QH xây dựng và chỉnh trang đô thị gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt phải có nguồn vốn lớn mới có thể giải quyết được
c/ Thị trường nhà ở
Hiện nay giá nhà ở, đất ở trên địa bàn Quận TĐ chênh lệch rất cao so với giá chuẩn của Nhà nước quy định Cụ thể: Giá nhà cao gấp 1,5 lần, giá đất cao gấp từ 2 đến 10 lần giá Nhà nước quy định Trên địa bàn Quận hiện nay, mức giá đất thực tế giao dịch thấp nhất
là 1,5 triệu đồng/ m2 và với mức cao nhất là 50 triệu đồng /m2
Do đó, trong giao dịch của người dân thường thể hiện trên hai hợp đồng: hợp đồng theo giá trị chuyển dịch thực tế và hợp đồng theo mức giá chuẩn tối thiểu để thực hiện công chứng theo quy định của pháp luật nhằm tránh khỏi phải nộp thuế và lệ phí chuyển nhượng đất cao Ngoài ra, trong thực tế giao dịch nhà đất diễn ra nhiều hơn số lượng mà Nhà nước QL được
d/Phân bố dân cư và nhà ở
Xuất phát từ một Huyện có cơ cấu sản xuất nông nghiệp phát triển thành Quận ĐTH, dân
cư trước đây được phân bố tập trung chủ yếu ở một số phường trung tâm hành chính, sản xuất CN - TTCN, TM - DV bám theo trục giao thông chính Đến nay, dân cư đã có xu hướng phân bố đều khắp trên địa bàn, tập trung chủ yếu ở các phường phát triển tương đối đồng, tập trung chủ yếu ở các phường phát triển về TM - DV và phường có cơ sở sản xuất CN - TTCN Trên cơ sở đó, nhà ở cũng phát triển theo xu hướng rải đều khắp tương ứng với thực tế phân bố dân cư
Theo đó, khu vực có mật độ dân cư và mật độ xây dựng cao nhất là địa bàn phường BC (914.586 người/ km2), thấp nhất là phường Hiệp Bình Phước (3758 người/km2) Mật độ dân cư bình quân toàn Quận là 6824 người/ km2
Trang 4Bảng 1: Đặc điểm dân số và cư trú Quận Thủ Đức tính đến ngày 01/01/2005
Mật độ(người/km2)
Số nhà (căn)
DT đất ở (ha)
DTXD(ha)
Mật độ
XD (%) Tổngcộng 4764,89 325.160 6824 58412 1294,59 350,3 7,33
Nguồn: Chương trình phát triển nhà ở quận TĐ 2010 – 2020 phòng QLĐT
e/ Các vấn đề XH nhà ở, về lối sống, phong tục tập quán
Tương tự tình hình phổ biến của các địa phương khác trên địa bàn TP HCM, các vấn đề XH đối với nhà ở chủ yếu tập trung trong sinh hoạt văn hoá dân tộc và vui chơi giải trí, cụ thể là các hoạt động ma chay, cưới hỏi Do thực tế nhịp sống đô thị, các hoạt động nêu trên hiện nay đã được đáp ứng bởi các dịch vụ công cộng chuyên nghiệp, đặc biệt là tổ chức cưới hỏi
Về ma chay thì vẫn còn tổ chức tại gia đình
Qua đó, đối với nhà ở, nhu cầu về diện tích sử dụng, bố cục mặt bằng và diện tích đất khuôn viên chỉ còn tập trung vào nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của cá nhân Mặt khác, một
số ít người dân thành đạt trong kinh tế và một số người dân ở mức trung lưu, có nhu cầu
cá nhân về điều kiện nhà ở cao hơn Cụ thể, nhà ở phải có sân vườn, nhà biệt thự tuỳ theo khả năng tài chính của mỗi người
Các yếu tố nêu trên cần phải được quan tâm đúng mức trong việc xây dựng kế hoạch phát triển nhà ở nói riêng, trong đó có nhà thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở cho đối tượng thu nhập thấp, người nghèo… và trong kế hoạch phát triển đô thị nói chung
f/ Đánh giá ưu điểm và tồn tại thực trạng nhà ở trên địa bàn quận
Ưu điểm
Trang 5⇒ Đã có định hướng cụ thể trong QH tổng thể phát triển KT - XH quận TĐ đến năm 2010.
⇒ Số lượng nhà tuy chưa đủ, nhưng cơ bản đáp ứng nhu cầu đa số của nhân dân trên địa bàn Số lượng hộ nghèo chiếm tỉ lệ thấp so với toàn Quận Số lượng nhà đủ điều kiện tiện nghi từ tối thiểu trở lên so với tổng số lượng nhà ở hiện có chiếm đa số Chỉ tiêu diện tích xây dựng trên đầu người đạt yêu cầu
⇒ Lượng nhà kết cấu bán kiên cố chiếm đa số, trước mắt đảm bảo điều kiện ở tối thiểu, đồng thời thuận lợi sau này trong việc bồi thường giải toả khi có yêu cầu về chỉnh trang
⇒ Diện tích đất ở trong cơ cấu sử dụng đất và định hướng đến năm 2010, 2020 tương đối cao; chỉ tiêu diện tích đất ở trên đầu người tương đối phù hợp
⇒ Cơ sở hạ tầng XH như Y tế, GD, VH, TDTT cơ bản đảm bảo yêu cầu
⇒ Công tác QH xây dựng chi tiết đang tiến triển tốt, đạt hơn 50% diện tích địa bàn Quận
⇒ Thuận lợi về nguồn vật liệu xây dựng
⇒ Bộ máy QL nhà nước về nhà ở đã hình thành
⇒ Thị trường nhà ở tuy diễn biến phức tạp, nhưng có xu hướng ngày càng tăng các biến động chuyển dịch
Tồn tại
⇒ CSHTKT như giao thông, cống thoát nước… chưa đáp ứng yêu cầu
⇒ Phân bố dân cư và nhà ở đô thị chưa đồng đều
⇒ Công tác phát triển nhà ở còn chậm
⇒ Lực lượng tham gia hoạt động xây dựng còn thiếu về số lượng và chất lượng
⇒ Chưa có biện pháp kiểm soát được thị trường bất động sản
⇒ Năng lực bộ máy QL nhà nước về nhà ở chưa hoàn thiện
Về nhà ở rõ ràng được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây Bằng nhiều hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, cho nên từ mặt phố đến các ngõ ngách, nhà cao tầng gần như đồng loạt được xây dựng Nhà tư nhân đã chuyển mốt từ 3 tầng lên 5 tầng; nhà của các công ty trong nước xây dựng và kinh doanh đã phổ biến và biến đổi từ trung cư cao tầng thành khu đô thị mới và hiện đại Nhà của nhà nước cho thuê và nhân dân nghèo nhìn chung chưa được cải thiện bao nhiêu, phổ biến vẫn là nhà cấp 4 hay loại nhà 2 tầng Với việc hàng loạt ngôi nhà cao mọc lên ở đan xen với nhau đã tạo cho lối kiến trúc của chúng ta rất “lởm chởm” về chiều cao của nhà
Việc mở rộng diện tích và HĐH đã tạo ra sự thay đổi trong kiểu sinh hoạt đó là việc chuyển từ vấn đề ăn uống, ngủ nghỉ trước là thiên về tính tập thể nay đã chuyển sang sinh hoạt theo hướng cá nhân hoá, giảm quan hệ trong cuộc sống gia đình Do nhà ở được cải thiện nên sự cư trú cơ động hơn Việc thay đổi chỗ ở để tách khỏi bố mẹ hay để giành nhà cho thuê… không còn hiếm nữa
Tác động của quá trình ĐTH tới sự thay đổi nhà ở - bộ mặt, diện mạo của cộng đồng địa phương được thể hiện rõ rệt Hệ thống nhà ở gia đình không chỉ thay đổi về quy mô, kiến trúc, cấp nhà, loại nhà, số phòng, vật liệu xây dựng phong phú và đa dạng theo hướng ngày càng
Trang 6tiện nghi hiện đại phù hợp với lối sinh hoạt, nhu cầu mới của cuộc sống Nhà ở phi gia đình cũng xuất hiện ngày càng nhiều và có xu hướng gia tăng trong thời gian sắp tới như các căn hộ chung cư, các khu vực thương mại, các văn phòng công ty tư nhân, …cũng như loại hình nhà trọ cho thuê mà đối tượng chủ yếu là công nhân, sinh viên, lao động tự do nhập cư tạm trú hay các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn,…
Vấn đề nhà ở tại địa phương đã được cải thiện rất nhiều thông qua số lượng nhà kiên cố ngày càng tăng, kiểu dáng nhà giống với nhà ở nội thành Nhưng tương quan so sánh chưa ngang bằng với khu vực quận 2 và quận 9 về quy mô cũng như hình thức, đặc biệt nhà ở còn xây dựng tự phát không theo QH, trái phép tăng, nhà ở cho người nhập cư thiếu và chưa được quan tâm đúng mức, hệ thống thoát nước chưa hoàn chỉnh, thiếu dịch
vụ thu gom rác làm hệ thống kênh rạch bị ô nhiễm
Đô thị hoá và phát triển kết cấu hạ tầng tại Thủ Đức – Phần II
Hồng Quế - ĐH KHXH & NV
2 Phát triển kết cấu hạ tầng xã hội
2.1 Giáo dục – đào tạo
Tháng 9/1997 có 1.045 giáo viên thuộc quận quản lý trong đó giáo viên mầm non là 152 giáo viên, tiểu học là 521 giáo viên, THCS là 372 giáo viên Đến tháng 9 / 2000 số giáo viên tăng lên 1.135 người trong đó mầm non có 127 giáo viên, TH là 555 giáo viên, THCS là 453 giáo viên Đến tháng 9-2006 số giáo viên lên tới 1.367 giáo viên, khối mầm non là 250 giáo viên, TH là 543 giáo viên, THCS là 574 giáo viên Bên cạnh đó, giáo viên khối PTTH cũng có sự phát triển đáng kể, có thêm hai trường PTTH mới là Tam Phú và Bình Hiệp Số lượng giáo viên 4 trường PTTH đến tháng 9-2006 là 268 người
Về đầu tư xây dựng mở rộng quy mô trường lớp cũng được tập trung nhiều hơn Trong
10 năm qua, quận TĐ xây dựng mới 16 trường và 370 phòng học cho các trường còn lại tiêu biểu như trường THPT Tam Phú, THCS Bình Thọ…Cơ sở vật chất các trường được xây dựng, trang bị theo chuẩn quốc gia như TH Bình Chiểu, TH Nguyễn Văn Triết, THCS Linh Trung
Quận TĐ đã thực hiên tốt công tác huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường nhất là huy động vào mẫu giáo và lớp1 So với năm 1997, TĐ có 31.340 học sinh mầm non, TH, THCS Đến tháng 9/2006 con số này lên đến 38.757 em và 6.198 học sinh
Quận TĐ thực hiện đạt các mục tiêu cơ bản về giáo dục theo QH đến năm 2010: huy động 60-70% trẻ trong độ tuổi vào mầm non; 99%-100% vào tiểu học; 97%-98% vào THCS; 80% vào THPT Phấn đấu đến năm 2008 hoàn thành phổ cập bậc trung học
Ngoài ra, hệ thống các trường học từ mầm non cho đến phổ thông của quận nhìn chung tương đối hoàn thiện, đáp ứng được nhu cầu của hơn 43.000 học sinh với 92 lớp và 1.718 giáo viên Công tác huy động học sinh đúng 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%, công tác dạy và học thực hiện theo đúng chương trình thay sách giáo khoa bậc tiểu học, soạn giảng theo phương pháp mới, nề nếp, chất lượng học tập của các em học sinh từng bước được nâng lên
Tuy nhiên trên toàn quận mới chỉ có 5 trường THPT trong tất cả 12 phường, điều này đã gây khó khăn cho việc học hành của học sinh Tại các phường không có trường phải qua
Trang 7các phường lân cận để học, điều này đã làm cho nhiều em học sinh bỏ học giữa chừng ở nhà hoặc đi lang thang lêu lổng với bạn bè xấu làm mất tật tự an ninh công cộng.
Bên cạnh đó, trên địa bàn của quận còn có 08 trường đại học (ĐH), cụ thể như sau: trường ĐH Sư phạm kỹ thuật, trường ĐH Nông lâm, trường ĐH Quốc gia, trường đại học Cảnh sát, trường ĐH Thể dục thể thao, trường ĐH Luật (phân viện) và trường ĐH Ngân hàng
Trong thời gian qua, tuy có sự tập trung phát triển nhanh cơ sở vật chất hệ thống trường học, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu hiện tại Do đó trong thời gian tiếp theo, quận phải tập trung phát triển cơ sở vật chất đảm bảo nhu cầu thực tế hướng phát triển đô thị
2.2 Hoạt động y tế - chăm sóc sức khoẻ
Trong 10 năm qua quận TĐ tập trung tạo điều kiện về mọi mặt để đảm bảo cho hoạt động của trung tâm y tế và trạm y tế của 12 phường nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu đặt ra nhất là khi dân số tăng cơ học nhanh Kết quả đã xây dựng và đưa vào hoạt động trung tâm y tế hoàn chỉnh với quy mô 50 giường bệnh tổng kinh phí đầu tư 24.08 tỷ đồng, xây dựng mới 10 trạm y tế phường đạt chuẩn quốc gia về điều kiện cơ sỡ vật chất đáp ứng cho khám chữa bệnh Đội ngũ y, bác sĩ được tăng cường, đến cuối 2005 đạt tỷ lệ 0.7 bác
sĩ / 1000 dân, 1.18 giường bệnh / 1000 dân
- Đảm bảo đủ các trạm y tế của phường, xây dựng mới các trạm y tế ở các phường: BC, Linh Chiểu, Linh Đông, Trường Thọ, nâng cấp các trạm y tế Bình Thọ, Linh Tây
- Nâng cấp bệnh viện đa khoa quận thêm 100 giường (nâng tổng số lên 400 giường) thành bệnh viện khu vực (phục vụ các khu ĐH QG, các tỉnh, quận lân cận )
- Xây dựng mới Trung tâm y tế, phòng khám đa khoa quận tại khu vực phường Tam Phú, xây dựng mới một bệnh viện chuyên khoa 200 - 300 giường
Cùng góp phần vào bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân còn có công tác dân số gia đình trẻ em, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên được giảm từ 0,89% vào năm 1997 đến tháng 9-2006 xuống còn 0,43%/năm Ngoài ra, năm 1997 tỷ lệ sinh là 1,22%, sinh con thứ 3 là 9,88% đến tháng 9-2006 giảm còn 0,69% và 4,76%
Hàng năm số người điều trị tại quận không ngừng được tăng lên, mỗi năm trung bình hơn 530.000 lượt người điều trị tại bệnh viện, số lượt cấp cứu từ 5.500- 6.000 lượt /năm Số lượt người điều trị nội trú cũng không ngừng tăng lên, minh chứng cho uy tín của ngành
y tế của quận đối với người dân và cũng làm giảm áp lực về số lượt người khám chữa bệnh
ở tuyến trên Tổng số lượt bệnh nhân điều trị nội trú năm 2004 là 560 lượt người đến năm 2005 tăng lên 731 lượt người tức tăng 1.3 lần
2.3 Vui chơi giải trí
Nhà văn hóa thiếu nhi phường Linh Chiểu 4 ha, thư viện và nhà triển lãm phường Bình Thọ 1 ha, khu thể dục thể thao, cây xanh: trong QH khu trung tâm quận mới 4 ha, nâng cấp mở rộng khu thể dục thể thao hiện hữu và nhà văn hóa Trung tâm hiện hữu phường Linh Chiểu
Tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền cổ động, tổ chức các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn và của dân tộc, các hoạt động lễ hội, ngày truyền thống, cùng với phong trào
Trang 8quần chúng đã góp phần đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí, thưởng thức văn hóa nghệ thuật của nhân dân.
Nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống phát thanh, cải tiến về nội dung, hình thức, phục vụ tốt thông tin các sự kiện, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức của người dân đối với việc chấp hành pháp luật
Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” phát
triển sâu rộng, góp phần xây dựng đời sống tinh thần trong cộng đồng dân cư Phong trào xây dựng khu phố văn hóa, Phường văn hóa, công sở văn minh sạch đẹp, trường học sạch – đẹp – an toàn, tuyên dương gia đình văn hóa, gương người tốt việc tốt… được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ đạt kết quả cao
Hoạt động TDTT quần chúng được quan tâm đúng mức Các phong trào rèn luyện thân
thể Qua 10 năm phát động phong trào “Rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”,
huy động các giới, các ngành, các lứa tuổi tham gia luyện tập thường xuyên tăng lên không ngừng
3 Vấn đề an ninh trật tự
An ninh chính trị, trật tự an toàn XH cũng có nhiều tiến bộ, nếp sống văn minh đô thị đã
và đang hình thành trong mỗi con người TĐ Mỗi thành tích ở các lĩnh vực, tạo cho TĐ một bức tranh chung trong năm 2006 toát lên nhiều gam màu sáng sủa, gợi mở nhiều cách nghĩ, cách làm mới giàu chất thực tiễn, mở lối đi lên
Qua 10 phấn đấu xây dựng lực lượng đến nay hầu hết cán bộ chiến sĩ thuộc 10 nghiệp vụ và công an12 phường đều có bản lĩnh chính trị vững vàng nắm vững pháp luật và nhiệm vụ cơ bản Bằng nổ lực của toàn quân và toàn dân quận TĐ trong đó lực lương công an giữ vai trò nồng cốt, trực tiếp chỉ đạo và toàn diện của quận ủy – Uy ban nhân dân quận, an ninh chính trị trat tự tự an toàn xã hội trên địa bàn quận Có được những kết quả lớn trên là nhờ một phần rất
lớn vào sự giúp sức của quần chúng nhân dân trên địa bàn quận vơi phong trào “quần chúng
nhân dân tham gia bảo vệ tổ quốc,
Những thành quả đạt được trong lĩnh vực an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội đã góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu phát triển KT-VH -XH trên địa bàn quận trong 10 năm qua
Ngay sau khi thành lập quận đến nay lực lượng quân dân tự vệ luôn đạt tỷ lệ quy định so với tổng dân số Với 10,96% là đảng viên, 40,26% là đoàn viên luôn đảm bao sẵn sàng chiến đấu tốt
Từ năm 2002 - 2006, kết quả hội thao quốc phòng thành phố lực lượng vũ trang quận luôn ở tóp
10 và luôn đứng đầu khối 2 các quận –huyện ngoại thành
Năm 1997 viện kiểm sát nhân dân quận TĐ được thành lập với 12 cán bộ trong đó có 3 đồng chí có trình độ đại học và 9 đồng chí có trình độ cao đẳng và hai đồng chí có trình
độ lý luận chính trị trung cấp và chi bộ với 7 đảng viên Qua 10 năm phát triển viện kiểm sát quận TĐ hiện có 19 cán bộ công chức, 17/19 đồng chí đạt trình độ đại học về
lý luận chính trị có 1 đồng chí cao cấp, 4 trung cấp, 4 chi bộ và 12 đảng viên, cơ sỡ vật chất được nâng lên đáp ứng được nhiệm vụ pháp chế
Trong 10 năm qua việm kiểm sát nhân dân truy tố 2.008 vụ -2.366 vị can, tham gia xét xử 1.571 vụ – 2.436 vị cáo và nhận được 235 đơn khiếu nại, đơn khiếu nại tố cáo nội dung chủ yếu là khiếu nại hoạt động điều tra, truy tố xét xử và tố cáo hành vi phạm tội
Trang 94 Vấn đề nghèo đói, thất nghiệp
4.1 Nghèo đói
Công tác xóa đói giảm nghèo cũng được lãnh đạo Quận TĐ xác định là nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Có lẽ chưa có năm nào Quận TĐ lại quyết tâm thực hiện giảm nghèo như năm
2006, cũng chưa có năm nào huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị cơ sở cho
công tác xóa đói giảm nghèo như năm 2006 Cuộc đi bộ “Đoàn kết vì người nghèo” thu hút
trên 5.000 người tham gia ủng hộ cho quỹ chăm lo cho người nghèo 123 triệu đồng, và chương trình phối hợp với Đài truyền hình Thành phố, truyền hình trực tiếp đêm văn nghệ với chủ đề “Nghĩa tình TĐ” đã vận động được trên 4 tỷ đồng chăm lo cho người nghèo,…là cách làm hay, sáng tạo trong công tác vận động quần chúng, giúp cho 1.796 hộ nghèo vượt chuẩn, từng bước được chăm lo ổn định cuộc sống Các phong trào vận động quần chúng xây dựng đời sống mới ở khu dân cư, chương trình vì người nghèo, đền ơn đáp nghĩa đã ngày càng đi vào chiều sâu Các hoạt động lễ hội quận, phường tổ chức đa dạng và phong phú hơn Giải quyết việc làm 79.113 lao động và trợ vốn cho trên 14.940 lượt hộ nghèo
(Kết quả thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn Quận Thủ Đức giai đoạn 1997
– 2006 được thể hiện chi tiết trong phụ lục bảng biểu A) giúp ta hình dung một cách khái
quát đến chi tiết phần nào tác động tích cực của quá trình ĐTH đến việc cải thiện cuộc sống người dân vùng ven TP.HCM mà cụ thể là Quận TĐ
đã đào tạo nghề cho 8.787 lao động, trong đó Trường kỹ thuật công nghiệp quận đã tuyển đào tạo 2.237 lao động hệ ngắn hạn và dài hạn; Phát vay 6.745 triệu đồng cho 62 DA của
485 hộ, giải quyết việc làm cho 1.236 lao động, đạt 103% kế hoạch, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2005
(Chi tiết phụ lục bảng biểu A: Giải quyết việc làm, theo Niên giám thống kê Quận Thủ Đức 2005 – 2006).
đất phân theo phường HBC và phường BC 2005 – 2006)
Trang 10Diện tích đất nông nghiệp ở các quận ven giảm sút do nhiều nguyên nhân Trước hết, do tốc độ ĐTH nhanh, đất nông nghiệp đã bị sử dụng vào mục đích khác như: xây cất nhà máy xí nghiệp, xây dựng nhà ở, công trình phúc lợi Thứ hai, do một số cư dân giàu có mua bán sang nhượng chiếm giữ đất lưu thông khá nhiều Cuối cùng, vì sản xuất nông nghiệp thu nhập thấp, bấp bênh làm cho nhiều hộ nông dân chuyển sang kinh doanh bằng nghề khác
Trong ngành nông nghiệp xu hướng chung là diện tích trồng lúa, màu và cây công nghiệp giảm, diện tích chuyên canh tăng Trong những năm gần đây, cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn quận có nhiều biến động theo xu thế phát triển ĐTH Năm 2002 - 2003, đất nông nghiệp giảm 109,87 ha; đất ở, đất chuyên dùng tăng thêm 111,83 ha Đến năm 2005 đất phi nông nghiệp tăng thêm 106,3033 ha
Với đặc điểm thổ nhưỡng và truyền thống của địa phương, quận đã hình thành làng nghề truyền thống – hoa kiểng tại ba phường chủ yếu: Linh Đông, HBC, Hiệp Bình Phước,
“tận dụng” diện tích đất sản xuất còn lại để người nông dân tiếp tục trồng trọt, tạo thu nhập
Sự biến đổi cơ cấu sử dụng đất vào các mục đích như xây KCN tập trung, các khu công trình phúc lợi, giao thông, khu dân cư tập trung, … đã mang lại những hiệu quả trong việc sử dụng đất cũng như lợi ích kinh tế của quận trong quá trình phát triển Đất chuyên dùng tăng từ 1.394,2 ha vào năm 2000 tăng lên 1.690,57 ha năm 2004, trong đó tăng chủ yếu là đất xây dựng và đất giao thông Đất nhà ở cũng tăng liên tục; cụ thể từ 1.065,75 ha năm 2000 lên 1.405,4 ha vào năm 2004, trong đó chủ yếu là tăng đất đô thị
Quá trình ĐTH trên địa bàn quận còn thể hiện qua biểu hiện của quá trình này là việc xác định cơ cấu kinh tế CN – TTCN và TM - DV là những ngành chủ lực đã khiến diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt là đất canh tác giảm đáng kể (qua 10 năm đã giảm 500ha, hiện diện tích đất canh tác trong nông nghiệp còn khoảng 1.400 ha, trong đó vườn tạp liền nhà
là 371 ha và đất trồng cây lâu năm cây ăn trái 450 ha) Đây là thách thức rất lớn bởi ảnh hưởng sâu sắc đến lối sống, thói quen, tập quán của người dân, tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường lên mỗi người dân, mỗi hộ gia đình là điều không thể tránh khỏi, thêm vào đó công tác quy họach, quản lý quy họach, đất đai, xây dựng còn bất cập, việc sang nhượng, sử dụng đất đai trong dân diễn biến phức tạp
Do có sự chuyển dịch mục đích sử dụng đất đai nên về cơ cấu kinh tế và cơ cấu nghề nghiệp cũng có sự chuyển đổi rõ rệt Như chúng ta đều biết cơ cấu lao động nếu tính theo ngành kinh tế quốc dân thể hiện ở ba nhóm: nông, lâm, thủy sản, công nghiệp, xây dựng
và dịch vụ Để đáp ứng nhu cầu thực hiện tiến trình ĐTH, trong điều kiện đất sản xuất nông nghiệp giảm liên tục, quận đã tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi Khai thác thế mạnh của địa phương và nguồn lực về kinh nghiệm của người nông dân, quận đã đầu tư và thực hiện chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi tập trung vào bốn đối tượng: hoa kiểng, rau, nuôi cá, và chăn nuôi bò sữa với mục đích, một mặt cơ cấu
“lại” các ngành kinh tế cho phù hợp với tiến trình phát triển, mặt khác “chuyển dịch” một
bộ phận lao động từ ngành nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ
(Xem sơ đồ Quy hoạch sử dụng đất từ 1997 - 2005).
6 Chính sách xã hội và vấn đề an sinh
Trang 11Quá trình chuyển đổi từ một vùng đất bán nông bán thị trong điều kiện kinh tế thị trường
về mặt VH – XH là một thách thức rất lớn ảnh hưởng sâu sắc đến lối sống, thói quen, tập quán của người dân Thêm vào đó, tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường lên mỗi người dân, mỗi hộ gia đình đều không thể tránh khỏi Vấn đề đặt ra là phải có chính sách xã hội và an sinh phù hợp để định hướng cho người dân dần thích nghi, hình thành nếp sống văn minh đô thị, tránh sự hụt hẫng trong lối sống, lối suy nghĩ, chủ nghĩa thực dụng, tệ nạn xã hội
Nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tốt chính sách xã hội là thực hiện công bằng xã hội, thể hiện tính nhân văn cao cả, đạo lý truyền thống dân tộc Trong 10 năm qua, Quận
TĐ đầu tư rất lớn công tác chính sách xã hội và vấn đề an sinh: vận động các cơ quan, đơn vị phụng dưỡng 62 bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình liệt sĩ, thương bệnh binh nặng ở mức 200.000-300.000 đồng /người/tháng; trợ cấp khó khăn cho 611 lượt đối tượng với tổng kinh phí 239,709 triệu đồng, thăm bệnh 2.422 lượt đối tượng với tổng kinh phí 71,756 triệu đồng; tặng 74 sổ tiết kiệm trị giá 75 triệu đồng; thăm tặng quà cho 46.949 lượt đối tượng diện chính sách và dân nghèo với số tiền lên tới 10,375 tỷ đồng.Tiến hành chỉnh trang nghĩa trang liệt sĩ của Quận với kinh phí 1,2 tỷ đồng; xây dựng 4 nhà bia ghi danh liệt sĩ tại 4 phường anh hùng với tổng kinh phí 2,4 tỷ đồng.phối hợp cùng gia đình và các địa phương quy tập 41 hài cốt liệt sĩ…
Quan niệm của chủ nghĩa nhân văn cho rằng con người mong muốn một cơ cấu đô thị trong đó “vừa có tính người, có dáng vẻ con người, vừa có hương vị đô thị”, đô thị phải thoả mãn các nhu cầu tâm sinh lý của con người, khi thiết kế QH các khu vực trong đô thị, việc đầu tiên phải xem xét vị trí của trường tiểu học, nhằm đảm bảo cho trẻ nhỏ không phải vượt qua đường giao thông để đến trường Đồng thời, phải xây dựng những công trình công cộng, nhằm phục vụ đời sống thường ngày của dân cư trong từng khu phố Các tầng lớp dân cư khác nhau có thể được cư trú cùng một khu vực Sự đề cao tính nhân văn đòi hỏi việc QH đô thị phải bảo vệ cơ cấu khu phố đã có, bảo vệ di tích lịch sử, bảo vệ tài nguyên và cảnh quan thiên nhiên có giá trị
Trang 12Như vậy, Quận TĐ là một khu đô thị mới, là cửa ngõ phía Đông Bắc của TP HCM; có vị trí địa lý, giao thông thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt, đường thuỷ; là một trong những trung tâm công nghiệp của thành phố, đồng thời là một khu vực có các trung tâm Giáo dục Đại học, Cao đẳng phía Nam; khu vực giãn dân trong nội thành TP HCM.Vốn là một huyện ngoại thành, TĐ không có nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật cũng như
hạ tầng xã hội Nhiều năm qua, nhất là từ khi trở thành quận, hệ thống cơ sở hạ tầng trong quận đã được mở rộng, nâng cấp, cải thiện nhiều nhất là nhà ở, trường học, cơ sở y tế, đường sá, cấp thoát nước
Chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng – vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp ở TĐ mang lại hiệu quả KT - XH rõ rệt Đất sản xuất lúa của TĐ ngày càng bị thu hẹp do tốc
độ ĐTH nhanh và dành cho phát triển công nghiệp, thương mại Nhưng số đất chuyển đổi
ấy mang lại hiệu quả kinh tế gấp nhiều lần so với trồng lúa, người dân TĐ đã và đang biến từng tấc đất thành tất vàng
TĐ đã xây dựng QH chi tiết đến năm 2010 và đã được Thành phố phê duyệt ở một số khu vực những con số mơ ước ấy đang đặt ra cho Đảng bộ chính quyền và nhân dân TĐ một trách nhiệm hết sức nặng nề song cũng rất vinh quang
Một số biện pháp, kiến nghị nhằm phát huy tối đa những tích cực và giảm nhẹ những tiêu cực mà quá trình đô thị hoá mang lại (thực tế tại
Quận Thủ Đức) – Phần I
Hồng Quế - ĐH KHXH & NV
1 BIỆN PHÁP
1.1. Biện pháp trước mắt
1.1.1 Cải thiện cơ sở hạ tầng
- Cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng, tổ chức chỉnh trang, cải tạo quy hoạch tập trung dân cư tại các vùng có mật độ xây dựng thấp (Hình thành các khu dân cư đi trước một bước để tạo điều kiện bố trí chỗ ở mới cho nhân dân trong vùng giải toả, tiến hành dãn dân tại các khu dân cư mật độ xây dựng cao, điều kiện sinh hoạt thấp đến các khu đô thị mới)
- Khai thông các cống rãnh, nâng cấp và xây dựng thêm cống mới nhằm hạn chế tình trạng ngập nước
- Tạo thêm các đầu mối giao thông vào - ra để thông thoáng, tránh ách tắc, đặc biệt là các tuyến giao thông chính của thành phố, các tuyến chính nối với các cửa ô, các đầu mối, các tuyến chính ra cảng và các tuyến, các hành lang phát triển nối với các tỉnh xung quanh để thu hút, di dời dân cư từ nội thành ra vùng ven
1.1.2 Kinh tế
- Hỗ trợ về kinh tế để cư dân thoát khỏi cảnh nghèo, có chương trình hướng nghiệp định
kỳ cho thanh niên, mở rộng các cơ sở dạy nghề, nâng cao chuyên môn cho các giáo viên tại các cơ sở này (Giúp người nghèo tiếp cận với vốn, việc làm để nâng cao thu nhập Giảm bớt các thủ tục khi cho người nghèo vay vốn: không bắt buộc phải trả hết vốn rồi