MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vấn đề con người và phát triển con người được cộng đồng thế giới quan tâm nhiều hơn vào thập niên 80 của thế kỷ XX, khi tăng trưởng kinh tế nhiều nơi không thực sự tạo ra tiến bộ xã hội, những mặt trái của tăng trưởng kinh tế biểu hiện ngày càng nghiêm trọng, xung đột sắc tộc và tôn giáo bùng phát, nhiều vấn đề xã hội nảy sinh không chỉ đe dọa sự phát triển bình thường của thế hệ hiện tại mà cả tương lai. Từ đầu những năm 90, khi Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) khuyến khích chính phủ các nước coi con người là trung tâm của sự phát triển và thực hành đo đạc chỉ số PTCN (HDI) ở hàng trăm quốc gia, thì việc chú trọng đến PTCN đã thu hút sự quan tâm và đồng tình của tất cả các nước thuộc Liên Hợp Quốc. Ngày nay, các nước và các tổ chức xã hội đều xem PTCN là tiêu chí quan trọng để đo lường trình độ phát triển của các quốc gia. Hơn 20 năm qua, những thành tựu về PTCN trên thế giới được đánh giá là hết sức to lớn. Trẻ em được đến trường nhiều hơn, người dân ở nhiều quốc gia được chăm sóc sức khỏe tốt hơn và tuổi thọ tăng lên. Thu nhập bình quân đầu người khu vực châu Á liên tục được cải thiện, tỷ lệ nghèo giảm xuống, mức sống dân cư được nâng cao và các cơ hội cho con người trong tiếp cận các dịch vụ xã hội có chất lượng được mở rộng. Tuy vậy, cộng đồng thế giới cũng cảnh báo, những tiến bộ về PTCN còn chưa đồng đều, tình trạng thiếu hụt của con người vẫn phổ biến và nhiều tiềm năng của con người chưa được giải phóng và tận dụng. Tổng quan HDR 2015 đã nhấn mạnh “một trong những thiếu hụt nghiêm trọng của con người là không được sử dụng, sử dụng sai cách hoặc sử dụng không triệt để tiềm năng của họ để phục vụ cho phát triển con người (…). Việc khai mở tiềm năng con người càng trở nên quan trọng nếu xem xét đến những thách thức phát triển con người đang nổi lên” [149, tr.5]. Sự thật là, thế giới ngày càng giàu có hơn nhưng bất bình đẳng về thu nhập, tài sản và cơ hội cũng ngày càng lớn bên cạnh bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại dai dẳng; những cú sốc về kinh tế, tài chính, thiên tai và dịch bệnh vẫn đang đe dọa an ninh con người… Trong khi những thành tựu văn hóa và văn minh đạt tới trình độ cao hơn, thì không phải vì thế mà những vấn đề về PTCN sẽ dần mất đi hay bớt căng thẳng hơn. Mặc dù được giải quyết ngày càng căn bản, nhưng những vấn đề mới và cũ về PTCN cũng xuất hiện ngày càng đa dạng và phức tạp. Trong bối cảnh chung đó, những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về PTCN vẫn đang tiếp tục được chú ý ở trình độ sâu sắc hơn, nhằm từng bước tháo gỡ, giải quyết những vấn đề về PTCN đang đặt ra trong thực tiễn ở phạm vi quốc gia cũng như trên toàn thế giới. Với triết học Mác, con người và PTCN là một trong những nội dung rất căn bản. Trong suốt thế kỷ XX và hiện nay, quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người và PTCN vẫn thu hút sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà hoạt động xã hội, bởi ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc của nó trong giải quyết những vấn đề mới của PTCN hiện đại. “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”, tư tưởng nổi tiếng của C.Mác và Ph.Ănghen nêu trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ngày nay vẫn là tư tưởng có ý nghĩa lý tưởng đối với mọi lý thuyết về PTCN. Ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong PTCN gắn liền với những thành tựu của công cuộc đổi mới. Đảng cộng sản Việt Nam trên cơ sở Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với những chỉ dẫn tư tưởng về con người và PTCN, đã cụ thể hóa quan điểm PTCN bằng các chủ trương, đường lối và thực hiện quan điểm đó thông qua các chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Sự du nhập các tư tưởng thời đại vào Việt Nam từ cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, đã ảnh hưởng tích cực đến tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước. Trên thực tế, sự phát triển toàn diện con người Việt Nam cả về thể lực, trí lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, văn hóa gắn liền với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, sau hơn 30 năm đổi mới, đã đạt được những thành tựu rất đáng kể, bước đầu đáp ứng được yêu cầu của quá trình CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Là thành viên của Liên hợp quốc, Việt Nam đã tiếp thu những tư tưởng tiến bộ về PTCN của UNDP và trên cơ sở các Báo cáo PTCN toàn cầu, Việt Nam đã xây dựng Báo cáo PTCN riêng và đã từng được UNDP trao giải thưởng năm 2001. Đặc biệt, các tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc đánh giá rất cao những thành tích của Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu về PTCN như xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phổ cập giáo dục tiểu học… Tuy nhiên, bên cạnh nhưng thành tựu to lớn đã đạt được, sự nghiệp PTCN ở Việt Nam vẫn còn đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, đang phải giải quyết không ít vấn đề nan giải cả trong phạm vi trước mắt cũng như lâu dài. Là một tỉnh nằm trong khu vực nghèo nhất cả nước, Thái Nguyên đã đạt được nhiều tiến bộ về PTCN. So với trước đây, mức sống dân cư, công tác giáo dục – đào tạo và chăm sóc sức khỏe người dân được ưu tiên chú trọng; đời sống văn hóa tinh thần và các hoạt động an sinh xã hội được đẩy mạnh. Thái Nguyên nằm trong số các tỉnh có chỉ số HDI trung bình cao của cả nước. NHDR 2015 của Việt Nam đã đánh giá cao mức độ tăng trưởng HDI của tỉnh trong những năm qua. Nhiều chỉ số thành phần của PTCN ở Thái Nguyên cũng ở mức rất tích cực. Tuy thế, trong bối cảnh chung như NHDR 2015 đã đánh giá, Việt Nam sau khi đạt được những thành tựu lớn về PTCN từ đổi mới đến nay thì đang yếu dần trong thập kỷ vừa qua, và Thái Nguyên cũng không nằm ngoài bối cảnh đó. Kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, tăng trưởng thu nhập của Thái Nguyên giảm sút đã trực tiếp dẫn tới sự tiến bộ chậm lại trong các lĩnh vực phi thu nhập. Tăng trưởng kinh tế của Thái Nguyên chưa đạt tới trình độ “tăng trưởng bao trùm”. Mức độ chênh lệch vẫn còn sâu sắc giữa các địa phương, giữa các ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh, làm hạn chế sự PTCN. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao, giảm nghèo chưa bền vững, ảnh hưởng trực tiếp đến việc cải thiện chỉ số HDI. Chất lượng y tế không đồng đều và có sự chênh lệch đáng kể giữa thành phố với các địa phương khác; bất bình đẳng trong giáo dục vẫn còn cao, chất lượng giáo dục chưa đáp ứng được ứng yêu cầu của sự PTCN. Sự xuống cấp của văn hóa, đạo đức cùng các tệ nạn xã hội đang tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân. Sự đảm bảo về y tế, giáo dục, an sinh xã hội ở các huyện miền núi, vùng cao còn nhiều bất cập và hạn chế…. Thực tiễn PTCN ở Thái Nguyên cũng như ở cấp độ quốc gia trên thực tế đang đặt ra những vấn đề mới, bức xúc, đòi hỏi phải được nghiên cứu sâu hơn cả về lý luận và thực tiễn, nhằm làm sáng tỏ vấn đề và đưa ra những giải pháp cụ thể, hữu hiệu cho sự nghiệp PTCN nói chung. Với những lý do trên, chúng tôi chọn “Phát triển con người và một số vấn đề trong phát triển con người ở Thái Nguyên hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Hồ Sĩ Quý
2 TS.Vũ Thị Tùng Hoa
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS Hồ Sĩ Quý và TS Vũ Tùng Hoa Luận án được hoàn thành tại Học viện Khoa học xã hội năm 2016 Những kết quả nghiên cứu riêng và những kết luận của luận án, ngoài những bài báo khoa học của tôi đã đăng trên các tạp chí chuyên ngành, chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những số liệu được sử dụng trong luận án có nguồn chính xác, một số số liệu là do tôi tự tính trên cơ sở số liệu của Cục Thống kê Thái Nguyên, của Tổng cục Thống kê và của UNDP Tất cả những trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn rõ ràng
Hà Nội, Ngày 29/09/2016
Nghiên cứu sinh
Trịnh Thị Nghĩa
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỂ TÀI LUẬN ÁN 7
1.1 Những công trình nghiên cứu về phát triển con người 7
1.2 Những công trình nghiên cứu về thực trạng phát triển con người ở Việt Nam và Thái Nguyên hiện nay 15
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI 27
2.1 Quan điểm của triết học Mác về phát triển con người 27
2.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển con người 36
2.3 Quan điểm của Chương trình phát triển Liên hợp quốc về phát triển con người 51
Tiểu kết chương 2 69
Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY 71
3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến con người và phát triển con người Thái Nguyên 71
3.2 Thực trạng về phát triển con người ở Thái Nguyên hiện nay 76
3.3 Một số vấn đề đặt ra đối với sự phát triển con người ở Thái Nguyên giai đoạn hiện nay 104
Tiểu kết chương 3 120
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY 122
4.1 Nâng cao nhận thức của chính quyền, đoàn thể về phát triển con người 122
Trang 54.2 Chú trọng tạo việc làm, thực hiện xóa đói giảm nghèo dựa vào những thế mạnh của tỉnh; mở rộng cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội, nhằm cải thiện chỉ số
phát triển con người 125
4.3 Phân bổ lại nguồn lực cho y tế, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, hạn chế bất bình đẳng trong cung ứng dịch vụ và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân 135
4.4 Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chú trọng đào tạo nghề và giáo dục sau phổ thông 141
4.5 Phát huy các giá trị truyền thống, tạo môi trường văn hóa lành mạnh 149
Tiểu kết chương 4 150
KẾT LUẬN 152
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 155
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
4 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
6 GDP/người Thu nhập bình quân đầu người
7 HDRO Văn phòng báo cáo phát triển con người
8 HDR Báo cáo phát triển con người toàn cầu
9 HDI Chỉ số phát triển con người
10 HPI Chỉ số nghèo khổ tổng hợp
14 MDG Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
15 NHDR Báo cáo phát triển con người quốc gia
19 TDMNPB Trung du miền núi phía bắc
21 UNDP Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu về chăm sóc sức khỏe đạt được ở Thái Nguyên 80 Bảng 2.2: Chỉ số HDI và mức độ đóng góp của các chỉ số thành phần vào chỉ số HDI năm 2008 của Thái Nguyên 102 Bảng 2.3: Chỉ số HDI và mức độ đóng góp của các chỉ số thành phần vào chỉ số HDI năm 2012 của Thái Nguyên 103 Bảng 2.4: Tỷ lệ số hộ là DTTS và tỷ lệ hộ nghèo là DTTS (%) 106
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề con người và phát triển con người được cộng đồng thế giới quan tâm nhiều hơn vào thập niên 80 của thế kỷ XX, khi tăng trưởng kinh tế nhiều nơi không thực sự tạo ra tiến bộ xã hội, những mặt trái của tăng trưởng kinh tế biểu hiện ngày càng nghiêm trọng, xung đột sắc tộc và tôn giáo bùng phát, nhiều vấn đề xã hội nảy sinh không chỉ đe dọa sự phát triển bình thường của thế hệ hiện tại mà cả tương lai
Từ đầu những năm 90, khi Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) khuyến
khích chính phủ các nước coi con người là trung tâm của sự phát triển và thực hành
đo đạc chỉ số PTCN (HDI) ở hàng trăm quốc gia, thì việc chú trọng đến PTCN đã thu hút sự quan tâm và đồng tình của tất cả các nước thuộc Liên Hợp Quốc Ngày nay, các nước và các tổ chức xã hội đều xem PTCN là tiêu chí quan trọng để đo lường trình độ phát triển của các quốc gia
Hơn 20 năm qua, những thành tựu về PTCN trên thế giới được đánh giá là hết sức to lớn Trẻ em được đến trường nhiều hơn, người dân ở nhiều quốc gia được chăm sóc sức khỏe tốt hơn và tuổi thọ tăng lên Thu nhập bình quân đầu người khu vực châu Á liên tục được cải thiện, tỷ lệ nghèo giảm xuống, mức sống dân cư được nâng cao và các cơ hội cho con người trong tiếp cận các dịch vụ xã hội có chất lượng được mở rộng Tuy vậy, cộng đồng thế giới cũng cảnh báo, những tiến bộ về PTCN còn chưa đồng đều, tình trạng thiếu hụt của con người vẫn phổ biến và nhiều tiềm năng của con người chưa được giải phóng và tận dụng Tổng quan HDR 2015
đã nhấn mạnh “một trong những thiếu hụt nghiêm trọng của con người là không được sử dụng, sử dụng sai cách hoặc sử dụng không triệt để tiềm năng của họ để phục vụ cho phát triển con người (…) Việc khai mở tiềm năng con người càng trở nên quan trọng nếu xem xét đến những thách thức phát triển con người đang nổi lên” [149, tr.5] Sự thật là, thế giới ngày càng giàu có hơn nhưng bất bình đẳng về thu nhập, tài sản và cơ hội cũng ngày càng lớn bên cạnh bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại dai dẳng; những cú sốc về kinh tế, tài chính, thiên tai và dịch bệnh vẫn đang
đe dọa an ninh con người… Trong khi những thành tựu văn hóa và văn minh đạt tới
Trang 9trình độ cao hơn, thì không phải vì thế mà những vấn đề về PTCN sẽ dần mất đi hay bớt căng thẳng hơn Mặc dù được giải quyết ngày càng căn bản, nhưng những vấn
đề mới và cũ về PTCN cũng xuất hiện ngày càng đa dạng và phức tạp
Trong bối cảnh chung đó, những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về PTCN vẫn đang tiếp tục được chú ý ở trình độ sâu sắc hơn, nhằm từng bước tháo gỡ, giải quyết những vấn đề về PTCN đang đặt ra trong thực tiễn ở phạm vi quốc gia cũng như trên toàn thế giới
Với triết học Mác, con người và PTCN là một trong những nội dung rất căn bản Trong suốt thế kỷ XX và hiện nay, quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người
và PTCN vẫn thu hút sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà hoạt động xã hội, bởi ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc của nó trong giải quyết những vấn đề mới của PTCN hiện đại “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự
do của tất cả mọi người”, tư tưởng nổi tiếng của C.Mác và Ph.Ănghen nêu trong
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ngày nay vẫn là tư tưởng có ý nghĩa lý tưởng đối với mọi lý thuyết về PTCN
Ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong PTCN gắn liền với những thành tựu của công cuộc đổi mới Đảng cộng sản Việt Nam trên cơ sở Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với những chỉ dẫn tư tưởng về con người và PTCN, đã cụ thể hóa quan điểm PTCN bằng các chủ trương, đường lối và thực hiện quan điểm đó thông qua các chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Sự du nhập các tư tưởng thời đại vào Việt Nam từ cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, đã ảnh hưởng tích cực đến tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước Trên thực tế, sự phát triển toàn diện con người Việt Nam cả về thể lực, trí lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, văn hóa gắn liền với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, sau hơn 30 năm đổi mới, đã đạt được những thành tựu rất đáng kể, bước đầu đáp ứng được yêu cầu của quá trình CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Là thành viên của Liên hợp quốc, Việt Nam đã tiếp thu những tư tưởng tiến bộ về PTCN của UNDP và trên cơ sở các Báo cáo PTCN toàn cầu, Việt Nam đã xây dựng Báo cáo PTCN riêng và đã từng được UNDP trao giải thưởng năm 2001 Đặc biệt,
Trang 10các tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc đánh giá rất cao những thành tích của Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu về PTCN như xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phổ cập giáo dục tiểu học… Tuy nhiên, bên cạnh nhưng thành tựu to lớn đã đạt được, sự nghiệp PTCN ở Việt Nam vẫn còn đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, đang phải giải quyết không ít vấn đề nan giải cả trong phạm vi trước mắt cũng như lâu dài
Là một tỉnh nằm trong khu vực nghèo nhất cả nước, Thái Nguyên đã đạt được nhiều tiến bộ về PTCN So với trước đây, mức sống dân cư, công tác giáo dục – đào tạo và chăm sóc sức khỏe người dân được ưu tiên chú trọng; đời sống văn hóa tinh thần và các hoạt động an sinh xã hội được đẩy mạnh Thái Nguyên nằm trong số các tỉnh có chỉ số HDI trung bình cao của cả nước NHDR 2015 của Việt Nam đã đánh giá cao mức độ tăng trưởng HDI của tỉnh trong những năm qua Nhiều chỉ số thành phần của PTCN ở Thái Nguyên cũng ở mức rất tích cực
Tuy thế, trong bối cảnh chung như NHDR 2015 đã đánh giá, Việt Nam sau khi đạt được những thành tựu lớn về PTCN từ đổi mới đến nay thì đang yếu dần trong thập kỷ vừa qua, và Thái Nguyên cũng không nằm ngoài bối cảnh đó Kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, tăng trưởng thu nhập của Thái Nguyên giảm sút đã trực tiếp dẫn tới sự tiến bộ chậm lại trong các lĩnh vực phi thu nhập Tăng trưởng kinh tế của Thái Nguyên chưa đạt tới trình độ “tăng trưởng bao trùm” Mức
độ chênh lệch vẫn còn sâu sắc giữa các địa phương, giữa các ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh, làm hạn chế sự PTCN Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao, giảm nghèo chưa bền vững, ảnh hưởng trực tiếp đến việc cải thiện chỉ số HDI Chất lượng y tế không đồng đều và có sự chênh lệch đáng kể giữa thành phố với các địa phương khác; bất bình đẳng trong giáo dục vẫn còn cao, chất lượng giáo dục chưa đáp ứng được ứng yêu cầu của sự PTCN Sự xuống cấp của văn hóa, đạo đức cùng các tệ nạn xã hội đang tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân Sự đảm bảo về
y tế, giáo dục, an sinh xã hội ở các huyện miền núi, vùng cao còn nhiều bất cập và hạn chế…
Trang 11Thực tiễn PTCN ở Thái Nguyên cũng như ở cấp độ quốc gia trên thực tế đang đặt ra những vấn đề mới, bức xúc, đòi hỏi phải được nghiên cứu sâu hơn cả về lý luận
và thực tiễn, nhằm làm sáng tỏ vấn đề và đưa ra những giải pháp cụ thể, hữu hiệu cho
sự nghiệp PTCN nói chung
Với những lý do trên, chúng tôi chọn “Phát triển con người và một số vấn
đề trong phát triển con người ở Thái Nguyên hiện nay” làm đề tài nghiên cứu
cho luận án của mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là lý luận về phát triển con người và thực trạng phát triển con người ở Thái Nguyên hiện nay
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Những tư tưởng cơ bản của triết học Mác về PTCN Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về PTCN trong thời kỳ đổi mới đất nước Quan niệm về PTCN của UNDP thông qua qua các Báo cáo PTCN toàn cầu từ 1990 đến nay
Thực trạng PTCN ở Thái Nguyên từ năm 1999 đến nay Những vấn đề đặt ra cho PTCN ở Thái Nguyên giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích quan niệm về PTCN của Mác và Ăngghen, của Đảng cộng sản Việt Nam và của UNDP, luận án vận dụng nghiên cứu thực trạng PTCN ở Thái Nguyên nhằm xác định những vấn đề đặt ra đối với PTCN trong giai đoạn hiện nay Từ đó, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự PTCN ở Thái Nguyên
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, xác định những quan niệm cơ bản của triết học Mác, của UNDP
và của Đảng cộng sản Việt Nam về PTCN
- Nghiên cứu thực trạng PTCN ở Thái Nguyên từ năm 1999 đến nay Xác định và làm rõ những vấn đề đặt ra cho PTCN ở Thái Nguyên giai đoạn hiện nay
Trang 12- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh PTCN ở Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận của luận án là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Cơ sở phương pháp luận của luận án là Phép biện chứng duy vật
- Luận án được thực hiện trên cơ sở các chỉ dẫn lý luận và phương pháp luận
về con người và PTCN của C.Mác - Ph.Ăngghen; tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; các văn kiện, Nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam có liên quan trực tiếp đến PTCN
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phù hợp với phương pháp luận biện chứng duy vật, luận án sử dụng các phương pháp như logic - lịch sử; phân tích hệ thống; quy nạp - diễn dịch; tổng hợp - phân tích; so sánh - đối chiếu, thống kê,…
Luận án sử dụng các Báo cáo phát triển con người toàn cầu của UNDP từ
1990 đến nay; các Báo cáo phát triển con người của Việt Nam (Báo cáo quốc gia về phát triển con người từ 2001 đến nay); các báo cáo kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên có liên quan đến PTCN… như là các chỉ dẫn lý thuyết, cũng đồng thời là nguồn số liệu thực tiễn tin cậy để phân tích lý luận
- Luận án chú trọng kế thừa những kết quả của các nghiên cứu lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài của các tác giả đi trước
5 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã phân tích, hệ thống hóa và làm rõ logic của những quan niệm lý luận cơ bản về PTCN đi từ quan điểm của triết học Mác, của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh đến quan điểm của UNDP
- Trên cơ sở thừa nhận định nghĩa của UNDP, luận án đã đề xuất định nghĩa
về Phát triển con người để làm nổi rõ khía cạnh triết học của sự PTCN
Trang 13- Luận án đã ứng dụng được lý luận và tính toán được số liệu để làm rõ thực trạng PTCN ở Thái Nguyên trong các mặt thể lực, trí lực, văn hóa và trong thực hiện công tác xóa đói giản nghèo
- Luận án đã xác định được 5 vấn đề đang đặt ra cấp thiết cho sự PTCN ở Thái Nguyên hiện nay
- Luận án đã đề xuất được 5 giải pháp nhằm thúc đẩy PTCN Thái Nguyên
giai đoạn hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm sáng tỏ các quan điểm lý luận về PTCN và vận dụng các quan điểm lý luận đó vào nghiên cứu thực trạng PTCN ở một tỉnh trung du miền núi là Thái Nguyên
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề triết học về con người, những vấn đề lý luận và thực tiễn về PTCN
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chính sách và giải quyết các vấn đề về PTCN của tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện tại và tương lai
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm có 4 chương, 13 tiết
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án
Chương 2 Một số quan điểm cơ bản về phát triển con người
Chương 3 Thực trạng và một số vấn đề đặt ra trong phát triển con người ở Thái Nguyên hiện nay
Chương 4 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển con người ở Thái Nguyên hiện nay
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỂ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Những công trình nghiên cứu về phát triển con người
1.1.1 Những công trình nghiên cứu quan điểm của triết học Mác về phát triển con người
Nghiên cứu những tư tưởng về con người trong triết học Mác đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Trong giới hạn hiểu biết của mình, chúng tôi đã tiếp cận được một số công trình nghiên cứu sau:
Tác giả Lê Công Sự trong bài Đánh giá của C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề
con người trong triết học L.Phoiơbắc qua "Hệ tư tưởng Đức" [114] đã phân tích sự
phê phán của C.Mác - Ph.Ăngghen về triết học của Phoiơbắc về con người, từ đó đưa ra những quan điểm duy vật lịch sử về con người, bản chất con người và những điều kiện cho sự tồn tại của con người, PTCN trong triết học Mác Trong bài viết
Vấn đề con người trong học thuyết Mác và phương hướng, giải pháp phát triển con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay [20] tác
giả Hoàng Đình Cúc đã luận giải nhằm làm rõ quan niệm của C.Mác - Ph.Ăngghen
về cơ sở hiện thực cho sự tồn tại của con người với tư cách là thực thể sinh học xã hội; về lao động với tư cách là điều kiện quyết định cho sự hình thành con người; về
sự thống nhất biện chứng giữa cá nhân và xã hội; về sự giải phóng con người, giải phóng xã hội Trên cơ sở này, khi luận giải vấn đề xây dựng con người Việt Nam theo học thuyết Mác, tác giả đã phân tích và làm rõ phương hướng chung về PTCN
mà Đảng ta đã xác định trong công cuộc đổi mới đất nước và đề xuất một số giải pháp để thực hiện phương hướng đó
Trong bài viết Học thuyết Mác về con người và giải phóng con người [122,
tr.457 - 479], tác giả Đặng Hữu Toàn đã phân tích quan niệm duy vật lịch sử của triết học Mác về con người, bản chất con người, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội, vị trí và vai trò của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử
Trang 15nhân loại và sự nghiệp giải phóng con người Từ đó tác giả đi đến khẳng định các quan niệm này “có giá trị to lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn, trở thành cơ sở lý luận cho nhiều ngành khoa học nghiên cứu về con người, đồng thời nó cũng là cơ sở vững chắc cho lý luận giải phóng con người khỏi lao động bị tha hóa, khỏi ách áp bức bóc lột, bất công, trả lại giá trị đích thực của con người, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện” [122, tr.478]
Tiến trình con người hoạt động sản suất, sinh tồn và làm ra lịch sử của mình cũng gắn liền với quá trình con người tác động, khai thác giới tự nhiên Con người từng bước nhận biết, khám phá, nắm bắt những quy luật của tự nhiên cũng đồng thời cải biến, phát triển chính bản thân mình Tác giả Hoàng Chí Bảo khẳng định:
“C.Mác - Ph.Ăngghen đã hình dung sự phát triển, hoàn thiện của con người đi qua mọi dích dắc lịch sử, từ văn minh trong dã man và dã man trong văn minh, với tha hóa và giải tha hóa rồi sẽ tiến đến con người tự do, phát triển và hoàn thiện nhân cách, trong thể liên hiệp cộng đồng những con người tự do của chủ nghĩa cộng sản văn minh” [9, tr.218] Tác giả Đặng Hữu Toàn [122, tr.457-479] cho rằng, khi xem xét vị thế của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã đi đến quan niệm: khuynh hướng chung của tiến trình lịch sử được quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất, tự nó đã nói lên trình độ phát triển của xã hội Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất, còn là chủ thể của lịch sử Con người vừa là diễn viên, vừa là tác giả của vở kịch do mình dàn dựng và hoàn cảnh chỉ có thể tạo ra con người trong chừng mực con người tạo ra chính hoàn cảnh ấy Do vậy, theo các ông con người phải nhân đạo hóa hoàn cảnh, tạo ra hoàn cảnh hợp tính người để phát triển bản chất và hoàn thiện nhân cách của chính mình Cùng quan điểm này, tác giả Cao Thu Hằng trong bài
viết Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về con người, giải phóng con người
trong Hệ tư tưởng Đức và sự vận dụng của Đảng ta [45, tr.17-21] đã trình bày
những quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen về con người trên cơ sở phê phán triết
học Hêghen và Phoiơbắc trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức Từ đó, tác giả luận giải
tư tưởng của các ông về giải phóng con người, về con đường, phương tiện và những
Trang 16tiền đề vật chất cần thiết cho sự giải phóng con người, qua đó cho thấy sự vận dụng quan điểm này của Đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước Theo tác giả, “quá trình giải phóng con người là quá trình tương tác biện chứng giữa con người và hoàn cảnh Nếu hoàn cảnh càng tiến bộ, nhân văn bao nhiêu thì con người càng được giải phóng bấy nhiêu và ngược lại, con người muốn được giải phóng, được tự
do phát triển năng lực của mình thì càng phải tạo ra một hoàn cảnh mang tính người
sâu sắc và triệt để” [45, tr.19] Tác giả Lưu Minh Văn trong bài viết Chủ nghĩa Mác
không bỏ quên con người [108, tr.328-341] đã nhấn mạnh chú ý hai nghĩa sau của
sự tác động của những yếu tố kinh tế đối với sự phát triển con người là: một là, con
người với tư cách là lực lượng sản xuất cho nên mối quan hệ con người với quá trình sản xuất là quan hệ biện chứng Con người vừa là thành tố của quá trình sản
xuất, vừa là kết quả của quá trình ấy; hai là, nhân tố con người nhìn từ phương diện
quan hệ sản xuất - theo tác giả - nội hàm của khái niệm quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất cần được hiểu rộng hơn “như một yếu tố thể chế của một nền sản xuất nhất định Có như thế mới thấy hết tính năng động của nó và mối quan hệ hữu cơ của nó với lực lượng sản xuất” [108, tr.340]
Tác giả Hồ Sĩ Quý và Nguyễn Anh Tuấn trong bài viết Sự phát triển tự do của
mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người [108, tr.480-499]
cho rằng, những tiện nghi của đời sống vật chất và những hiệu quả về kinh tế đang mang lại những biến đổi to lớn của cuộc sống con người, song nó vẫn chỉ được coi là những phương tiện và cơ sở để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, chứ chưa phải
là mục đích của sự phát triển “Việc tạo lập những điều kiện sống công bằng, cơ hội làm việc tốt nhất, khả năng phát triển hài hòa về mặt tinh thần… đối với tất cả mọi người, là chiều hướng căn bản của sự phát triển xã hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu
và khát vọng chân chính của con người” [108, tr.495]
Tóm lại, Các nhà nghiên cứu trên đã phân tích được giá trị khoa học, nhân
văn trong quan niệm của triết học Mác về con người, giải phóng là điều kiện để PTCN toàn diện Sự phát triển của lịch sử xã hội gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, song mức độ tiến bộ xã hội phải được đo bằng trình độ PTCN
Trang 17Chúng tôi sẽ kế thừa và phát triển những quan điểm này trong luận án của mình Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa không còn gì nghiên cứu về vấn đề con người trong triết học Mác Sự vận động biến đổi và nảy sinh những vấn đề mới của đời sống
xã hội đòi hỏi phải giải quyết, thì việc tiếp tục nghiên cứu những tư tưởng của triết học Mác về con người và PTCN thiết nghĩ luôn là vấn đề thiết thực cả về mặt lý luận
và thực tiễn Những công trình trên sẽ là cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi tiếp thu và bổ sung, phát triển trong nghiên cứu của mình
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về quan điểm của Chương trình phát triển liên hợp quốc về phát triển con người
Tác giả Hồ Sĩ Quý trong bài viết Phát triển con người: Những điều cần làm
rõ [106] và trong cuốn Con người và phát triển con người [110] đã phân tích nội
hàm khái niệm phát triển con người trên cơ sở quan điểm của UNDP PTCN không phải là phương tiện mà là mục tiêu của sự phát triển Con người trong quan niệm này được coi là chiếm vị trí trung tâm của sự phát triển, nghĩa là nó đóng vai trò quyết đinh cả đầu vào và đầu ra của sự PTCN “Khi con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, được coi là chủ thể và là mục tiêu của sự phát triển, thì
sự tăng trưởng kinh tế, sự phát triển nguồn lao động, cũng như sự phát triển các lĩnh vực khác của xã hội…dẫu có ý nghĩa đến mấy cũng mới chỉ là phương tiện của sự phát triển” [110, tr.37] Từ năm 1990, UNDP đưa ra chỉ số PTCN (HDI) bao gồm các yếu tố cơ bản: tuổi thọ bình quân, thành tựu giáo dục, mức thu nhập Đó là những tiêu chí phản ánh những khía cạnh cơ bản của năng lực con người Trong bài
viết Phát triển con người Việt Nam qua các báo cáo thường niên về phát triển con
người của UNDP [109] tác giả đã nhấn mạnh, “bộ công cụ HDI khá lý tưởng vì nó
nhìn nhận vấn đề rất nhân văn và thúc đẩy mọi quốc gia phải có giải pháp cải thiện đời sống con người” [109, tr.24] Tuy nhiên chỉ số HDI “có thể che giấu những những hạn chế trong phát triển kinh tế, những yếu kém trong chất lượng giáo dục, những tiêu cực trong thực trạng an toàn xã hội, những hiện tượng tham nhũng trong
bộ máy công quyền” [109, tr.26]
Trang 18Tác giả Hyungkee Kim trong bài viết Một chính sách tri thức đoàn kết cho
sự phát triển con người bền vững [65], [66] đã phân tích quan niệm phát PTCN bền
vững của C.Mác và Amartya Sen và khẳng định, cả hai ông đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tri thức đối với sự PTCN và chính sách tri thức đoàn kết mà tác giả đưa ra dựa trên cơ sở này Bài viết đã phân tích và khẳng định tầm quan trọng của chính sách tri thức đoàn kết trong chiến lược PTCN bền vững trong thế kỷ XXI Nó không chỉ hướng đến mục tiêu giảm bớt khoảng cách về kiến thức giữa các cá nhân
mà còn nâng cao trình độ nhận thức của các cá nhân, chuyển những người lao động phổ thông thành những người lao động có trình độ “Tri thức của người lao động mang lại cho họ cơ hội có được các công việc xứng đáng và giúp họ làm việc một cách nhân văn và dân chủ” Sự kết nối tư tưởng của C.Mác và Amartya Sen trong bài viết này có ý nghĩa quan trọng Nó cho thấy những tư tưởng kinh điển của C.Mác về PTCN không hề lỗi thời, cùng với tư tưởng hiện đại của Amartya Sen -
“cha đẻ” của quan điểm PTCN sẽ là cơ sở để giải quyết những mâu thuẫn đang đặt
ra trong quá trình thực hiện chiến lược PTCN ở mỗi quốc gia Chúng tôi sẽ tiếp thu trong quá trình viết chương thứ 2 và thứ 4 của luận án
Tác giả Nguyễn Đình Tuấn [127] và Nguyễn Thị Lê [68] đã khái quát lại quan điểm PTCN của UNDP và việc xây dựng báo cáo PTCN toàn cầu từ 1990 đến nay, những thay đổi trong việc xem xét, bổ sung các tiêu chí, chỉ số về PTCN; đồng thời các quốc gia, khu vực cũng đã tiến hành xây dựng báo cáo PTCN cho riêng mình Đặc biệt, tác giả Nguyễn Thị Lê chỉ ra sự thay đổi khái niệm này qua hai giai đoạn: Từ 1990 -2009: Khái niệm PTCN mà UNDP đưa ra là việc mở rộng sự lựa chọn cho con người để con người có cuộc sống thịnh vượng hơn Từ 2010 đến nay: UNDP đưa ra quan niệm PTCN là sự mở rộng tự do của con người để cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh và sáng tạo… gồm các yếu tố: sự thịnh vượng, trao quyền, tính chủ thể và công bằng “Quan điểm này nhấn mạnh tới việc lấy con người làm trung tâm và sự tự do của con người” [68, tr.30] Tác giả cũng bàn về chỉ số PTCN
và những thay đổi trong cách tính, những ưu điểm và hạn chế của nó
Trang 19Tác giả Đào Thị Minh Hương [54] từ góc độ nhân học, đã phân tích hai nhân
tố của quá trình thực hiện các dự án PTCN là Người đi phát triển và Người được
phát triển Đối với tham dự của người phát triển, tác giả chỉ ra những hạn chế
thường mắc phải như thiên về hình thức tổ chức hơn là “quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của những người này” [54, tr.52] - người được phát triển Các chuyên gia phát triển thường chưa vượt qua được những định kiến về văn hóa, do đó dễ mang tính áp đặt cho cộng đồng - nơi mà họ đến, không tính đến nét đặc thù của môi trường và đối tượng hưởng thụ,… Từ đó tác giả đưa ra cách tiếp cận tham dự từ phía những người đi phát triển để khắc phục những hạn chế này, “người phát triển chủ động, tích cực tham gia vào đời sống thường ngày của các đối tượng phát triển, xem xét quá trình phát triển “từ bên trong” nhằm nắm bắt tình hình, kịp thời đề xuất các điều chỉnh thích hợp, khắc phục những yếu tố bất cập” [54, tr.54] Đối với tham
dự của người được phát triển, theo tác giả phải “huy động được sự tham gia tích cực của chính những người được phát triển” [54, tr.56] Chỉ trên hai cơ sở này mới có thể giải quyết “mắt xích yếu nhất trong thực hiện xúc tiến các dự án phát triển con người” [54, tr.57] Những phân tích này phản ánh thực trạng đang diễn ra trong nhiều dự án PTCN và có giá trị thực tiễn Chúng tôi sẽ kế thừa khi xây dựng hệ thống giải pháp nhằm PTCN ở Thái Nguyên hiện nay
Quan điểm về phát triển của Amartya Sen và Mahbul Ul Hag đã được đề cập qua các bài viết như: Trịnh Thị Kim Ngọc, Phát triển con người qua phân tích
quan điểm “phát triển là quyền tự do” của Amartya Sen [94], Nguyễn Thị Lê
[68], Hyungkee Kim [64], [65], Vũ Thị Thanh (2010) [116] Tác giả Trịnh Thị Kim Ngọc đã phân tích quan điểm phát triển là quyền tự do của Amartya Sen
trong cuốn sách Phát triển là quyền tự do của ông xuất bản năm 1998 Trong bài
viết của mình, tác giả đã đi từ khái niệm phát triển đến phát triển con người, phát triển bền vững Theo đó thì “mức độ tự do của con người là thước đo để đánh giá mức độ phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội: Con người tự do sẽ là cơ sở để con người phát triển, con người phát triển là khi họ cảm thấy hạnh phúc, khi mọi nhu cầu được đáp ứng” [94, tr.57] Tự do được coi là “phương tiện của phát triển” [94,
Trang 20tr.58] “Nhiệm vụ quan trong mà ông đặt ra là làm sao để khẳng định các quyền tự
do nêu trên của con người và nên mở rộng cơ hội ra sao để các quyền tự do đều được phát huy tích cực vì mục tiêu phát triển con người” [94, tr.58] Tác giả Nguyễn Thị Lê đã khái quát lại khái niệm PTCN theo cách tiếp cận năng lực của Amartya Sen và bốn chiều cạnh PTCN là công bằng, bền vững, hiệu quả và trao quyền trong quan niệm của Mahbul Ul Hag
Liên quan đến PTCN bền vững và an ninh con người, các tác giả
Biktimirovaz.z [164], Phạm Thành Nghị [90], Đào Thị Minh Hương [55] đã tiếp
cận ở những góc độ khác nhau Tác giả Biktimirovaz.z đưa ra bảy khía cạnh cơ bản của an ninh con người và khẳng định, “an ninh con người - đó là khía cạnh quan trọng nhất của chất lượng sống Đồng thời những xu hướng phát triển hiện nay làm tăng đáng kể những nguy cơ và hiểm họa đe dọa an ninh con người và mở rộng quy
mô những hậu quả có thể của chúng (…) Một cách tương ứng, nhiệm vụ bảo đảm
an ninh cho con người trở nên phức tạp hơn, vấn đề phát hiện và ngăn chặn các nguy cơ và hiểm họa càng trở nên cấp thiết hơn” [164, tr.13] Tác giả Phạm Thành Nghị đã phân tích khái niệm PTCN bền vững theo quan niệm của UNDP và bốn yếu tố của PTCN bền vững mà UNDP đưa ra Tác giả nhấn mạnh, “Tư tưởng mới nhất của UNDP về sự phát triển con người bền vững là để tất cả các nội dung về sự phát triển của con người, cho con người và bởi con người có thể đến các thế hệ tương lai Bình đẳng tiếp cận và bình đẳng về cơ hội là các yếu tố cơ bản nhất của tầm nhìn về các điều kiện cho phát triển con người bền vững” [90, tr.96] Trên cơ sở đó, tác giả nêu ra những thách thức đối với PTCN bền vững và hướng giải quyết Tác giả khẳng định “Sự phát triển con người bền vững phụ thuộc vào mức độ chính phủ triển khai ý tưởng phát triển bền vững trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội và các giải pháp khả thi cho sự giám sát của người dân” [90, tr.99] Cũng liên
quan đến vấn đề này, tác giả Edouard A.wattez trong bài viết Một số vấn đề về phát
triển con người ở Việt Nam [138] cũng đề cập đến PTCN bền vững - điểm đáng chú
ý ở đây là, cái tác giả muốn nhấn mạnh - đó là sự phát triển của thế hệ tương lai là
Trang 21rất quan trọng nhưng xóa bỏ tình trạng đói nghèo cho một bộ phận còn lại trong hiện tại cũng quan trọng không kém: “trong khi cố gắng ngăn ngừa sự khốn khó trong tương lai, không thể bỏ qua những người hiện nay đang bị khốn khó” [138, tr.18] Việc kết hợp hai mục tiêu này là yếu tố cơ bản trong cách tiếp cận PTCN đối với phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả Nguyễn Vũ Quỳnh Anh trong bài Nghiên cứu phát triển con người
từ hướng tiếp cận vốn xã hội [6] cho rằng để PTCN thì nguồn vốn kinh tế không
còn đóng vai trò duy nhất trong phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho người lao động, mà còn có các yếu tố khác, trong đó có vốn xã hội Đối với sự PTCN, vốn xã hội giúp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, vốn xã hội giúp nâng cao vốn con người, phát triển nguồn nhân lực Từ đó, tác giả khẳng định: “Vốn xã hội cho phép nhà nghiên cứu đánh giá mối tương tác giữa con người với phát triển từ giác độ tính
cố kết và các phẩm chất của cộng đồng người (…) Phát triển nguồn nhân lực phải dựa vào phát triển vốn con người, chính là các hoạt động để tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân” [6, tr.41-42]
Tóm lại, những công trình nghiên cứu trên đã phân tích quan điểm của UNDP về PTCN, tập trung ở mấy điểm sau:
Một là, quan niệm của UNDP về PTCN, triết lý con người là trung tâm của
sự phát triển đã nhận được sự tán đồng của hầu hết các nước thuộc Liên hợp quốc
Hai là, Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng chỉ số HDI là bộ công cụ khá lý
tưởng để lượng hóa mức độ phát triển của người dân ở các quốc gia Các chỉ số đo lường được bổ sung qua HDR hàng năm giúp cho việc nghiên cứu định lượng về PTCN ngày càng đầy đủ và chính xác hơn
Ba là, những thành tựu về PTCN trên toàn cầu nói chung và của các quốc gia
nói riêng trong hơn hai thập kỷ vừa qua là hết sức to lớn; song thực tế vẫn còn rất nhiều khó khăn, phức tạp ảnh hưởng trực tiếp đến sự PTCN như, an ninh con người, nghèo đói, bình đẳng trên thực tế, tự do trong tiếp cận cơ hội,…
Trang 221.2 Những công trình nghiên cứu về thực trạng phát triển con người ở Việt Nam và Thái Nguyên hiện nay
1.2.1 Những công trình nghiên cứu về phát triển con người ở Việt Nam
Vấn đề con người và PTCN ở Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm và đặt lên hàng đầu Từ đổi mới cho đến nay, nhất là những năm 90 khi UNDP đưa ra HDR đầu tiên với quan điểm con người là trung tâm và hạt nhân là PTCN, thì tư tưởng này nhanh chóng được đưa vào trong các chính sách xã hội và các đề
án thực hiện chiến lược PTCN ở nước ta Nghiên cứu về vấn đề này đã có nhiều nhà khoa học, nhiều học giả quan tâm và tiếp cận dưới những góc độ khác nhau Trong
quan niệm về PTCN, Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001 - Đổi mới và sự
nghiệp phát triển con người [139] đã khẳng định: “Phát triển là sự mở rộng phạm vi
lựa chọn của con người để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con người Quan điểm này bao hàm hai khía cạnh là mở rộng các cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực lựa chọn của con người nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, bền vững” [139, tr.13] Quan niệm này “là tương thích với quan niệm mới về phát triển con người mà UNDP đang theo đuổi” [139, tr.23] Báo cáo đã nêu bật những thành tựu về PTCN mà Việt Nam đã đạt được - nhất là từ đổi mới cho đến nay Đồng thời báo cáo cũng chỉ ra những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong quá trình đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa dưới tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển con người, tác giả Nguyễn Duy Quý [104] cho rằng, ở nước ta hiện nay thì tăng trưởng kinh tế - xã hội vẫn được coi
là nhiệm vụ hàng đầu, tuy nhiên phải luôn lấy con người, trình độ PTCN làm nền tảng Phát triển văn hóa thông qua nhiều quan hệ, nhưng lôgic cơ bản nằm trong quan hệ lao động Để phát triển văn hóa lên một trình độ mới, phải gia tăng trình độ trí tuệ trong quan hệ lao động Sự hình thành một kiểu nhân cách mới là mục tiêu quan trọng nhất của giải phóng văn hóa của sự phát triển Tác giả Đặng Hữu Toàn
trong bài viết Phát triển con người - thước đo nhân văn của tiến bộ xã hội trong
thời đại ngày nay và trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam [123] đã phân tích những
Trang 23thay đổi của tình hình thế giới trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI và những quan niệm khác nhau về tiêu chí của sự phát triển và tiến bộ xã hội Tác giả đã luận chứng và đi đến khẳng định :“Chỉ có con người với tư cách là giá trị tối cao và tự mục đích của phát triển xã hội mới được coi là tiêu chí chung của phát triển và tiến
bộ xã hội” [123, tr.11] Tác giả khẳng định “Sự phát triển và tiến bộ xã hội theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh phải lấy sự phát triển toàn diện con người làm thước đo và coi đó là thước đo nhân văn của nó” [123, tr.13] Cũng liên quan đến vấn đề này, tác giả Nguyễn Thế Kiệt [63] đã đi sâu phân tích và chỉ ra rằng xây dựng và PTCN, nâng cao chất lượng nguồn lực con người đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh của công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay Tác giả
Nguyễn Đình Tuấn với bài viết Phát triển con người Việt Nam thời kỳ đổi mới từ
quan điểm đến hành động [126] đã phân tích một số vấn đề PTCN ở Việt Nam từ
sau thời kỳ đổi mới đến nay (2009) Tác giả đi vào ba nội dung chính: tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, phát triển y tế vì mục tiêu phát triển con người Tác giả khẳng định “từ những thay đổi trong nhận thức, Đảng và Nhà nước đã đưa ra các chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội luôn thể hiện tính công bằng trong cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển, qua đó giúp cho mọi người có điều kiện nâng cao đời sống kinh tế, tri thức và sức khỏe” [126, tr.22]
Tác giả Edouard A.wattez trong bài viết Một số vấn đề về phát triển con người ở
Việt Nam [138] đã đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến PTCN nói chung và
PTCN Việt Nam nói riêng Theo tác giả, ở Việt Nam từ 1986 đến nay dưới tác động của các chính sách đổi mới, Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc thực hiện các mục tiêu PTCN “thành công đầy ấn tượng của công cuộc đổi mới chủ yếu dựa trên quá trình mở rộng “cơ hội lựa chọn” cho người dân Việt Nam” [138, tr.11] Tuy nhiên theo tác giả thì tình trạng nghèo đói đang là “thách thức cấp bách nhất về phát triển con người ở Việt Nam” [138, tr.11] Cũng về nội dung này, tác
giả Lê Thi trong bài Nâng cao chỉ số phát triển con người Việt Nam và công cuộc
xóa đói giảm nghèo [117] đã đã phân tích thực trạng đói nghèo ở Việt Nam hiện
Trang 24nay (2006), để từ đó đi đến luận điểm “để nâng cao chỉ số phát triển con người Việt Nam, phải nâng cao chất lượng sống và tích cực xóa đói giảm nghèo” [117, tr.35]
Tác giả Trần Đức Hiệp trong bài viết Phân phối thu nhập ở Việt Nam: một số thách
thức nhìn từ mục tiêu phát triển con người [61] đã chỉ ra một số thành tựu về kinh tế
mà Việt Nam đã đạt được trong những năm 2001-2007 và những kết quả này đã góp phần giảm thiểu tình trạng nghèo đói ở Việt Nam “Nhìn tổng thể, trình độ phát triển con người của Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt dưới ảnh hưởng của quá trình tăng trưởng việc làm” [61, tr.50] Theo bà Valerie Kozel, chuyên gia Kinh tế cao cấp của Ngân hàng Thế giới khẳng định: “(Việt Nam) tăng trưởng đang suy giảm trong những năm gần đây do các bất ổn vĩ mô và các cú sốc từ bên ngoài, bất bình đẳng gia tăng, nghèo trong nhóm dân tộc thiểu số vẫn cao và khó xóa bỏ Những người nghèo còn lại càng khó để tiếp cận, họ phải đối mặt với những thách thức như
sự cô lập, hạn chế về tài sản, trình độ học vấn thấp, sức khỏe kém” [163] Bên cạnh đó, những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường cũng đang đặt ra hàng loạt các vấn đề liên quan đến quyền lợi của người lao động
Dựa trên những kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả Phạm Minh Hạc
(chủ biên) trong cuốn Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa [40] đã phân tích cơ sở khoa học của chiến lược phát triển toàn diện
con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đồng thời nêu lên một số định hướng chiến lược và một số giải pháp lớn nhằm xây dựng phát triển toàn diện con người Việt Nam Về khái niệm PTCN, theo tác giả cần hiểu “đó là sự phát triển loài người, cá thể người, cá nhân, nhân cách, nhân lực đó là sự phát triển một chỉnh thể toàn vẹn nhưng nhiều hình thái, nhiều giá trị và nhiều chức năng” [40, tr.110] Bản chất của sự PTCN “tựu trung là làm gia tăng giá trị của con người” [40, tr.110] Theo tác giả, trên bình diện triết học, nội dung PTCN thường được tiếp cận trên ba lĩnh vực cơ bản: phát triển thể chất, phát triển tâm trí, phát triển tâm hồn, tình cảm Trên cơ sở lý luận của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, tác giả đưa ra nội hàm của sự PTCN toàn diện gồm bảy nội dung, khái lược lại có thể hiểu “phát triển toàn diện con người là khắc phục
Trang 25tình trạng tha hóa, phát triển toàn diện, hài hòa, cân đối trí lực và thể lực, đức và tài, phát triển cá tính và sự phong phú của con người, phát triển một cách tự do, đầy đủ
và làm chủ, thích ứng với sự di động chức năng xã hội của con người” [40, tr.33]
Trong Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2014 của Ngân hàng thế giới với chủ đề Phát triển kỹ năng: Xây dựng lực lượng lao động cho một nền kinh tế thị
trường hiện đại ở Việt Nam cho rằng, Việt Nam đã rất nỗ lực để mở rộng khả năng
tiếp cận giáo dục cho tất cả mọi người Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra đối với người sử dụng lao động họ rất cần người lao động có kỹ năng tư duy phản biện và
kỹ năng giao tiếp - nhưng điều đó còn rất thiếu và yếu “Thách thức đối với Việt Nam chính là: làm thế nào có thể biến sinh viên tốt nghiệp từ những người học giỏi theo sách vở trở thành những người có tư duy phản biện và biết giải quyết vấn đề” [tr.26] Từ đó Báo cáo khẳng định, việc xây dựng một lực lượng lao động có kỹ năng cao là trách nhiệm chung của chính phủ, các cơ sở giáo dục - đào tạo, người sử
dụng lao động, sinh viên và phụ huynh Tác giả Hồ Sĩ Quý trong bài viết Phát triển
con người Việt Nam qua các báo cáo thường niên về phát triển con người của UNDP [109] đã phân tích và làm rõ triết lý con người chiếm vị trí trung tâm của sự
phát triển trong quan niệm của UNDP Trên cơ sở các chỉ số, chỉ báo, các tiêu chí
về sự phát triển con người do UNDP đưa ra trong các HDR hàng năm, tác giả đã phân tích, so sánh và nhận xét về những thành tựu trong PTCN của Việt Nam từ
1990 đến 2005, khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với sự PTCN Tác
giả Nguyễn Văn Sơn trong Luận án của mình Quan điểm của C.Mác về phát triển
con người và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay [112] đã trình bày quan điểm của
C.Mác về PTCN, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng quan điểm này đối với sự tiến bộ mọi mặt đời sống xã hội ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập vấn đề con người trong triết học Mác dưới hai góc độ là con người cá nhân và cộng đồng, do đó khi đánh giá thực trạng PTCN Việt Nam chưa làm rõ được con người với cả hai tư cách là con người cá thể và con người xã hội
Trong bài viết Tăng trưởng kinh tế và phát triển con người: một số vấn đề
thực tiễn ở Việt Nam hiện nay [56], [57] tác giả đã xem xét mối tương quan giữa
Trang 26tăng trưởng kinh tế với PTCN Việt Nam Tác giả đã chỉ ra trong những thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã có mức tăng trưởng cao, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình (2010), tạo điều kiện gia tăng đầu tư vào mục tiêu xã hội, tiếp tục nâng cao chỉ
số PTCN; nhưng đi liền với điều đó là sự gia tăng khoảng cách về bất bình đẳng thu nhập trong nội vùng cũng như của các nhóm kinh tế - xã hội ở nông thôn “Sự bất bình đẳng ra tăng cảnh báo công nghiệp hóa – hiện đại hóa và tăng trưởng kinh tế thành công không tự động cho phép giải quyết vấn đề phân phối thu nhập không công bằng và bất bình đẳng cơ hội phát triển với hậu quả là sự chuyển dịch của cải giữa các giai tầng có thể đe dọa ổn định xã hội” [56, tr11] Tác giả Đào Thị Minh Hương [57] cũng cho thấy những hạn chế của tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay Đó là tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa bền vững, đầu tư chưa hiệu quả, vẫn
là tập trung đầu tư vốn tài chính chứ không phải là con người, chất lượng tăng trưởng còn thấp thể hiện qua năng suất lao động thấp và kéo theo là thu nhập thấp; thu nhập gia tăng nhưng sinh kế của người dân vẫn thiếu bền vững, vẫn còn khoảng cách xa trong việc giảm nghèo đói giữa các dân tộc; tốc độ giảm nghèo chậm, khả
năng tái nghèo cao do cú sốc về kinh tế và sức khỏe Trong một bài viết khác Phát
triển con người từ góc độ chăm sóc sức khỏe: Một số vấn đề thực tiễn ở Việt Nam hiện nay [58], tác giả chỉ ra chỉ số y tế của Việt Nam hiện nay tốt hơn nhiều nước có
cùng trình độ phát triển do trong thập kỷ qua nhà nước đã tăng chi tiêu công cho y
tế và tăng tỉ trọng của bảo hiểm y tế, là kết quả của nhiều chính sách và chương trình liên quan đến chăm sóc sức khỏe toàn dân đã được ban hành và thực hiện Mặc dù độ bao phủ bảo hiểm y tế tăng dần theo các năm nhưng không đồng đều giữa các nhóm đối tượng, giữa các vùng miền Có tiến bộ trong việc làm giảm bớt khoảng cách về y tế giữa các vùng miền, nhóm kinh tế - xã hội, giữa các dân tộc, nhưng bất bình đẳng cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế vẫn tiếp tục PTCN Việt Nam dưới
góc độ giáo dục cũng được trình bày khá sâu sắc trong bài Phát triển con người Việt
Nam nhìn từ góc độ giáo dục giai đoạn năm 2001 – 2010 [59] Tác giả đã chỉ ra
những bước tiến lớn của giáo dục Việt Nam từ đổi mới đến nay chủ yếu là nhờ vào tăng chi tiêu công cho giáo dục và cam kết của chính phủ về giáo dục toàn dân Mặc
Trang 27dù có nhiều tiến bộ nhưng chỉ số giáo dục tăng chậm và đóng góp ít nhất vào sự tăng trưởng chỉ số HDI Bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục cũng như bất bình đẳng đối với cơ hội PTCN ở Việt Nam vẫn diễn ra dù đã có nhiều chính sách cải thiện và điều đó có thể liên quan trực tiếp đến bất bình đẳng về thu nhập
“Những người học cao hơn (đặc biệt là đại học) là những người có nhiều năng lực hơn, có nhiều cơ hội tìm được việc làm có năng suất lao động cao hơn và thu nhập
từ việc làm của họ cũng cao hơn những người chỉ học ở cấp thấp hơn” [59, tr.15]
Trong bài viết Phát triển con người Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ lao
động, việc làm và năng suất lao động [60] chỉ ra thực tế phát triển nguồn nhân lực
Việt Nam khó có thể đảm bảo tính bền vững khi năng lực tích lũy vốn con người chưa cao trong nền kinh tế năng suất thấp Thiếu hụt kỹ năng lao động và thiếu tay nghề trong một số ngành là đặc trưng của người lao động Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Từ đó tác giả đưa ra một số gợi ý về định hướng chính sách nhằm khắc phục tình trạng đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai [60, tr.17-19]
Tóm lại, các công trình khoa học trên đã phân tích những khía cạnh khác
nhau về vấn đề PTCN ở Việt Nam hiện nay Có thể thấy tựu trung ở mấy điểm sau:
Thứ nhất, những thành tựu về PTCN Việt Nam gắn liền với công cuộc đổi
mới của Đảng trong ba thập kỷ qua Quan điểm về PTCN của Đảng biểu hiện thông qua các chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội cụ thể Trong đó, PTCN Việt Nam gắn liền với việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH đất nước
Thứ hai, các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội đã có những đóng góp quan
trọng đối với quá trình mở rộng cơ hội và tăng cường năng lực của cá nhân và cộng đồng Sự phát triển toàn diện con người Việt Nam gắn liền với tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, sự phát triển của y tế, giáo dục, việc làm, bình đẳng về quyền
và điều kiện tiếp cận dịch vụ xã hội
Trang 28Thứ ba, những khó khăn và một số giải pháp đối với sự PTCN Việt Nam
hiện nay được đề cập trên nhiều phương diện, mà việc giải quyết chúng đòi hỏi sự tham gia của tất cả các chủ thể, mà trước hết là chủ thể nhà nước
Mặc dù luận án chỉ tập trung vào vấn đề PTCN ở Thái Nguyên, nhưng trong Tổng quan NCS vẫn khảo luận những công trình nghiên cứu về PTCN ở Việt Nam
Sở dĩ vậy vì theo chúng tôi, nghiên cứu PTCN của một địa phương cần phải nắm được tình hình phát triển con người của cả nước, tức của cái tổng thể Hơn nữa, thực trạng PTCN Việt Nam nói chung sẽ không thể không có ít, nhiều ở phạm vi các địa phương, bởi cái chung ấy là sự khái quát từ những cái riêng Những giải pháp nhằm PTCN Việt Nam khi gắn với những đặc thù của Thái Nguyên sẽ là những giải pháp bước đầu nhằm thực hiện PTCN ở Thái Nguyên hiện nay Vì vậy, các công trình nghiên cứu trên đối với chúng tôi có giá trị quan trọng trong việc thực hiện luận án của mình
1.2.2 Những công trình nghiên cứu về thực trạng phát triển con người Thái Nguyên và một số giải pháp nhằm phát triển con người ở Thái Nguyên hiện nay
* Những công trình nghiên cứu về thực trạng phát triển con người Thái Nguyên
TS.Vũ Vân Anh, Chỉ số phát triển con người (HDI) tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 1999 -2009, dưới góc độ Địa lý kinh tế và trên cơ sở quan niệm của UNDP về
PTCN, tác giả đã phân tích thực trạng chỉ số HDI tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
1999-2009 và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chỉ số đó Trên cơ sở số liệu tính toán, tác giả cho thấy chỉ số HDI và các chỉ số thành phần tỉnh Thái Nguyên đều được cải thiện đáng kể Các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế đã trở nên dễ tiếp cận hơn, qua đó góp phần nâng cao tuổi thọ và chất lượng sống của con người Trong ba lĩnh vực (GDP/người, tuổi thọ, giáo dục) thì chỉ số giáo dục là tốt nhất Năm 2009, chỉ số giáo dục của Thái Nguyên là 0.859, của cả nước là 0.830 Đây là một thành tựu quan trọng góp phần vào chiến lược PTCN của tỉnh, thể hiện sự quan tâm của chính quyền cũng như vị trí trung tâm giáo dục của Thái Nguyên “Nhìn một cách tổng thể thì con người Thái Nguyên đã có sự tiến bộ vượt bậc cả về thành tựu kinh
tế và cả về đời sống tinh thần” [7, tr.144] “Thái Nguyên là một trong 33 tỉnh có chỉ
số HDI cao (có giá trị giao động 0.672 - 0.756) Trong giai đoạn 1999 - 2009, HDI
Trang 29của Thái Nguyên tăng 0.089 điểm cao hơn so với cả nước (cả nước tăng 0.032 điểm)” [7, tr.143] Tuy nhiên, các chỉ số này tăng không đều và trong thực tế chưa phản ánh hết thực trạng đang đặt ra trong PTCN Xếp hạng HDI của Thái Nguyên còn thấp so với nhiều tỉnh, thành trong cả nước Bất bình đẳng về thu nhập giữa các địa phương còn khá sâu sắc Trong ba chỉ số thì GDP là thấp nhất, thành tựu giảm nghèo đạt được một số kết quả nhất định nhưng nguy cơ tái nghèo cao và “nghèo vẫn là một thách thức lớn cho tỉnh trong thời gian tới” [7, tr.145] Chênh lệch về trình độ phát triển giữa nông thôn và thành thị còn lớn là rào cản đối với người dân trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe và phát triển giáo dục Có thể thấy, công trình đã cung cấp một bức tranh tổng thể về chỉ số PTCN ở Thái Nguyên giai đoạn 1999-2009 Những luận cứ và đánh giá của tác giả khá đầy đủ và sâu sắc Tuy nhiên, chỉ có chỉ số HDI thì chưa phản ánh hết những nội dung về PTCN của tỉnh, cũng như những luận giải dưới góc độ địa lý học chưa thực sự giải đáp được những vấn đề đặt ra đằng sau những con số Đây là khoảng trống để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu và bổ sung trong luận án của mình
Hà Thị Thu Hằng trong luận văn thạc sĩ của mình “Phát huy vai trò nguồn
lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thái Nguyên”
[46] đã đánh giá tổng quát thực trạng phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thái Nguyên và nêu ra phương hướng
và giải pháp cơ bản có tính định hướng cho việc phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Tác giả đã đưa ra ba mâu thuẫn đặt ra đối với phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thái Nguyên, đó là, mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn lực con người với việc giải quyết việc làm cho người lao động của tỉnh hiện có [46, tr.68]; mâu thuẫn giữa yêu cầu của sự nghiệp công nghiêp hóa, hiện đại hóa với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội và nguồn lực con người của tỉnh [46, tr.69]; mâu thuẫn giữa tiềm năng và lợi thế phát triển kinh tế, xã hội với thực trạng đầu tư phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh chưa tương xứng [46, tr.70]
Trang 30Hoàng Thị Mỹ Hạnh (2013), Quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội tỉnh Thái
Nguyên từ năm 1997 đến năm 2010 (luận án Lịch sử Việt Nam cận và hiện đại)
[43] Dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, tác giả không chỉ tái hiện bức tranh sinh động về sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1997 - 2010, mà đồng thời trong công trình này, tác giả còn đánh giá về thành tựu, hạn chế của quá trình chuyển biến kinh tế xã hội, chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế đó và rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu về sự vận dụng, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng để góp phần vào việc hoạch định chính sách xây dựng, phát triển nền kinh tế, xã hội ở tỉnh Thái Nguyên trong những giai đoạn tiếp theo
Đề tài cấp Bộ Giải pháp kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi
trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên (2008) [26]
do Đồng Văn Đạt làm chủ nhiệm Đề tài đã luận giải mối quan hệ biện chứng giữa nghèo đói và suy giảm môi trường và những trở ngại về địa hình, giao thông, tập quán canh tác của người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên
Vũ Vân Anh, Mối quan hệ giữa dân số và phát triển giáo dục, y tế tỉnh Thái
Nguyên [3], thông qua việc nghiên cứu mối quan hệ giữa dân số và phát triển y tế
giáo dục tỉnh Thái Nguyên, bài báo cho ta thấy được sự tác động qua lại của ba nhân tố: dân số - giáo dục - y tế Vì vậy, để nâng cao chất lượng dân số, giáo dục, y
tế thì tỉnh Thái Nguyên không chỉ tiến hành riêng lẻ trên một lĩnh vực mà phải có sự kết hợp đồng bộ trên cả ba lĩnh vực thì mới đem lại hiệu quả tốt nhất
Các công trình trên, do mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề về kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên dưới những hướng tiếp cận không đồng nhất Đây vừa là cơ sở lý luận quý báu vừa là khoảng trống để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu và kiến nghị những giải pháp nhằm phát triển con người Thái Nguyên hiện nay
* Những công trình nghiên cứu về phương hướng và một số giải pháp nhằm phát triển con người ở Thái Nguyên hiện nay
Nhìn chung cho đến nay những công trình nghiên cứu về con người Thái Nguyên nói chung, nhất là dưới góc độ triết học còn rất ít.Vì vậy mà những giải pháp đưa ra nhằm PTCN Thái Nguyên còn hết sức khiêm tốn
Trang 31Tác giả Hà Thị Thu Hằng [46] đã khẳng định, phát huy vai trò nguồn lực con người tỉnh Thái Nguyên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn đề vô cùng quan trọng và cấp bách Để tạo điều kiện thuận lợi cho nguồn lực con người phát huy vai trò của mình thì yêu cầu đặt ra là phải xây dựng và thực thi
hệ thống giải pháp cơ bản, đồng bộ, khả thi Hệ thống giải pháp đó cần tập trung nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; bố trí, sử dụng hợp lý và đãi ngộ xứng đáng đối với người lao động; xây dựng môi trường xã hội thuận lợi phát huy năng lực sáng tạo của con người; nâng cao ý thức tự học, tự rèn của mỗi cá nhân; nâng cao nhận thức, tăng cường trách nhiệm của các cấp, các ngành đối với việc phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay Tác giả đã đưa ra bốn nhóm giải pháp: Một là, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực con người [46, tr.82] Hai là, đẩy mạnh công tác y tế,
chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môi trường sống cho con
người [46, 87] Ba là, xây dựng môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi cho việc phát huy vai trò nguồn lực con người [46, 91] Bốn là, tạo động lực thúc đẩy việc phát
huy vai trò nguồn lực con người [46, 92]
Trong nhóm giải pháp thứ nhất, tác giả tập trung vào bốn nội dung: Tiếp tục đổi mới công tác giáo dục - đào tạo cả về nội dung và phương pháp; ban hành những chính sách tích cực, thỏa đáng đối với việc đào tạo và sử dụng đội ngũ giáo viên Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu, đảm bảo yêu cầu về chất lượng, có tinh thần yêu ngành, yêu nghề; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; mở rộng đầu
tư cho công tác đào tạo nghề nhằm tăng nhanh nguồn nhân lực có trình độ phục vụ nhu cầu của các doanh nghiệp trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh hiện nay Trong nhóm giải pháp thứ tư, tác giả tập trung vào năm nội dung: Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích; gắn phát triển với khai thác, sử dụng nguồn lực con người; bố trí, phân công lao động hợp lý để người lao động phát huy được những năng lực sở trường của mình; đổi mới cơ chế chính sách nhằm thu hút và trọng dụng nhân tài; tạo ra được dư luận xã hội luôn đánh giá cao những người có trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ cao; có cơ chế, chính sách tạo điều kiện
Trang 32thuận lợi cho các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị, cơ quan, tổ chức tăng cường phát triển nguồn lực con người
Nhìn chung công trình trên đưa ra một số giải pháp tương đối toàn diện nhằm phát huy nguồn nhân lực con người Thái Nguyên Tuy nhiên, những luận giải chưa thực sự sâu sắc nhưng đây là cơ sở lý luận để chúng tôi kế thừa những giải pháp hợp lý và tiếp tục bỏ sung những giải pháp mới cũng như làm sâu sắc hơn nữa những phân tích của mình trong việc hướng sang nhóm giải pháp nhằm phát triển con người con người Thái Nguyên hiện nay
Hoàng Thị Mỹ Hạnh [43], từ việc đánh giá những tiềm năng, lợi thế so sánh của tỉnh Thái Nguyên và những thành tựu, hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế,
xã hội từ năm 1997 đến năm 2010, tác giả đã rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu mà chưa đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội của tỉnh trong những thập niên sắp tới
Tác giả Vũ Vân Anh [7] chia các giải pháp về phát triển con người theo hai nhóm: Thứ nhất, các giải pháp chung Thứ hai, các giải pháp mang tính đột phá Trong nhóm thứ nhất, tác giả nêu năm giải pháp là: Phát triển kinh tế nhanh, bền vững; hoàn thiện kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị theo hướng hiện đại; phát triển văn hóa xã hội; tăng cường tính chủ thể của người dân; xây dựng các dự án, chương trình phát triển
Theo tác giả, các giải pháp đột phá là những giải pháp có tính địa phương, dựa vào thế mạnh riêng cần ưu tiên thực hiện từ đó nhằm nâng cao chỉ số PTCN toàn tỉnh Từ đó tác giả đề xuất ba giải pháp mang tính đột phá là: Tăng trưởng kinh
tế nhanh và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển nguồn nhân lực; phát triển các tiểu vùng với thế mạnh riêng Có thể thấy tác giả đã đưa ra những giải pháp tương đối toàn diện nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người tỉnh Thái Nguyên Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu của tác giả chỉ tập trung vào chỉ số HDI nên những giải pháp đưa ra chưa phản ánh hết những nội dung nhằm PTCN Đây là cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi kế thừa
và bổ sung trong quá trình xây dựng hệ thống giải pháp của mình
Trang 33Tiểu kết chương 1
Nghiên cứu về PTCN đã thu hút sự quan tâm đáng kể của các nhà khoa học
xã hội, các học giả trong nước và thế giới, đủ thấy tính cấp thiết cũng như sự hấp dẫn của đề tài này Các công trình nghiên cứu nói trên, dưới nhiều góc độ khác nhau
đã đưa lại một bức tranh về PTCN tương đối phong phú và đa dạng, phản ánh thực trạng PTCN trong thực tiễn
Mặc dù có hướng tiếp cận và cách đặt vấn đề khác nhau, song các tác giả đều
có những điểm tương đồng khi phân tích quan điểm và nội hàm quan niệm của triết học Mác về con người, về bản chất con người và PTCN Quan niệm của UNDP về PTCN đã được hầu hết các quốc gia thuộc LHQ thừa nhận và coi đó là cơ sở cho xây dựng Báo cáo PTCN của các quốc gia Từ những năm 90 trở lại đây những nghiên cứu lý luận về PTCN theo quan điểm của UNDP đã gắn chặt với thực tế PTCN ở Việt Nam và từ đó đã có nhiều công trình khoa học, đề cập đến sự PTCN ở Việt Nam dưới nhiều chiều cạnh phong phú Nói như vậy để thấy PTCN không phải
là một chủ đề mới, song trên cơ sở tiếp cận các công trình này chúng tôi sẽ cố gắng
hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm về PTCN theo một cách diễn đạt riêng, phù hợp hơn với thực tế và không trùng lắp với người đi trước
Các công trình nghiên cứu về vấn đề PTCN Thái Nguyên điểm chung cơ bản
có thể thấy, các công trình đều thấy được tầm quan trọng của chiến lược PTCN trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đều khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với việc PTCN toàn diện Những thành tựu bước đầu về PTCN tỉnh Thái Nguyên từ những năm 90 trở lại đây được thể hiện thông qua chỉ số HDI
và một số tiêu chí khác cho thấy chất lượng sống của người dân ngày càng được cải thiện, các mặt cơ bản của PTCN có tiến bộ rõ nét, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề đặt
ra cần giải quyết Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về PTCN Thái Nguyên còn rất ít, nhất là dưới góc độ triết học là chưa có Do đó, với luận án của mình chúng tôi sẽ kế thừa những kết quả đã có và tiếp tục bổ sung, phát triển những nội dung liên quan theo mục đích và nhiệm vụ của luận án
Trang 34Chương 2
2.1 Quan điểm của triết học Mác về phát triển con người
2.1.1 Sự phát triển của những cá nhân hiện thực được quy định bởi hoạt động
và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ
Khi xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã tạo ra bước ngoặt cách mạng trong quan niệm về con người, bản chất con người và PTCN Trong “Hệ tư tưởng Đức”, Mác - Ăngghen đã viết: “Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống [74, tr.29]; “những cá nhân đúng như trong hiện thực, nghĩa là đúng như
họ đang hành động, sản xuất một cách vật chất, tức là đúng như họ hành động trong những giới hạn, tiền đề và điều kiện vật chất nhất định, không hề phụ thuộc vào ý chí của họ” [74, tr.36] Những cá nhân hiện thực – “những con người đang hành động, hiện thực và chính là cũng xuất phát từ quá trình đời sống hiện thực của họ
mà chúng ta mô tả sự phát triển của những phản ánh tư tưởng và tiếng vang tư tưởng của quá trình đời sống ấy” [83, tr.22] Theo C.Mác - Ph.Ăngghen, với tư cách
là một cá nhân, mỗi người có cá tính riêng, có nhân cách riêng trong tính phong phú, đa dạng của nó Chính sự phân công lao động xã hội trong lịch sử đã dẫn tới sự hình thành nhân cách của con người nói chung và cá tính của mỗi người nói riêng
Nó gắn liền với PTSX - yếu tố cơ bản quy định ý thức xã hội, quy định đời sống tinh thần của con người “Sự chuyển hóa những lực lượng cá nhân (quan hệ) thông qua sự phân công lao động, thành những lực lượng vật chất” [74, tr.108] Như thế, con người là sản phẩm của lịch sử, của hoạt động sản xuất của chính bản thân con
1 Trong chương này, luận án sẽ trình bày quan điểm của triết học Mác, của Đảng Cộng sản Việt
Nam và của UNDP về PTCN Thuật ngữ “quan điểm” trong trường hợp này bao gồm Hệ thống các
quan niệm về PTCN Trong các tài liệu tiếng Việt, hệ thống các quan niệm về PTCN của triết học
Mác, của UNDP đôi khi cũng được gọi là lý thuyết hoặc lý luận (“Lý thuyết UNDP về PTCN”, “lý luận Mác-Lênin về PTCN”) Nhưng hệ thống các quan niệm về PTCN của Đảng ta lại thường được gọi là quan điểm, chứ ít được gọi là lý thuyết hoặc lý luận (“Quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Trang 35người trong mối quan hệ với các cá nhân khác Sự PTCN theo Mác, không phải là
sự phát triển của những con người trừu tượng, chung chung, phi hoàn cảnh nào đó,
mà là sự phát triển của những con người hiện thực, con người xã hội, những cá nhân hiện thực, “tức là những con người được quy định bởi hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra” [74, tr.29] Trong triết học Mác, nói đến con người là chỉ những cộng đồng người ở những thời đại khác nhau, thuộc
về các giai cấp, các dân tộc, các nhóm xã hội khác nhau và “bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [74, tr.11] Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại và sự xuất hiện của những nhu cầu mới là cơ sở cho LLSX vận động và phát triển Khi hoạt động và những điều kiện sinh hoạt vật chất của con người thay đổi thì tất yếu sự PTCN cũng có những biến đổi tương ứng
Con người đã tự phân biệt mình với các thực thể tự nhiên khác ở phương thức hoạt động, ở nhu cầu và việc thỏa mãn nhu cầu của nó Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động nguyên thủy đồng thời cũng là hoạt động bản chất của con người Quan hệ sản xuất là quan hệ xã hội nền tảng để nảy sinh và quy định tính chất toàn
bộ những quan hệ xã hội còn lại Thông qua quá trình lao động, sản xuất vật chất đã làm cho bản tính tự nhiên của con người, làm cho “năng khiếu”, “năng lực”, “thiên bẩm” của con người được cải biến, được phát triển, hòa quyện vào bản chất xã hội Nói như C.Mác, lao động đã sáng tạo ra con người và xã hội loài người Con người vừa là chủ thể của lịch sử vừa là sản phẩm của chính quá trình lịch sử đó Vì vậy, xem xét sự PTCN theo Mác, không có cách nào khác phải xem xét trong hoạt động của con người, trong sự phát triển của điều kiện sinh hoạt vật chất của con người ở mỗi thời đại lịch sử, cụ thể: “Hoạt động sống của họ như thế nào thì họ như thế ấy
Do đó, họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sản xuất ra cũng như với cách mà họ sản xuất Do đó, những cá nhân là thế nào, điều đó
phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sản xuất của họ” [73, tr.30] Sự thay thế
Trang 36của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử, xét đến cùng được quy định bởi sự phát triển của LLSX xã hội - tức sự phát triển của trình độ người lao động và trình
độ của công cụ lao động mà nó đã tạo ra Bản thân LLSX xã hội có sự phát triển đã nói lên mức độ con người chiếm lĩnh và sử dụng các “đối tượng” tự nhiên với tư cách là tiền đề vật chất cho hoạt động sống của con người và quyết định quan hệ giữa người với người trong lao động Sự phát triển của con người trong lĩnh vực hoạt động cơ bản của nó - hoạt động sản xuất vật chất - theo C.Mác - Ph.Ăngghen là
cơ sở để PTCN trong các lĩnh vực hoạt động khác Con người sống trong xã hội, thực hiện những giao tiếp xã hội và “hành động hiện thực” Sự biến đổi, phát triển của đời sống xã hội là kết quả của hoạt động thực tiễn của con người; “con người đã
in dấu ấn sáng tạo của bàn tay và trí tuệ của mình vào giới tự nhiên, cải tạo đời sống
xã hội và qua đó, phát triển và hoàn thiện chính bản thân mình” [122, tr.470] Vì thế, con người phải nhân đạo hóa hoàn cảnh vì “nếu hoàn cảnh càng tiến bộ, nhân văn bao nhiêu thì con người càng được giải phóng bấy nhiêu và ngược lại, con người muốn được giải phóng, được tự do phát triển năng lực của mình thì càng phải tạo ra một hoàn cảnh mang tính người sâu sắc và triệt để” [45, tr.19]
Trong sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội, sản xuất vật chất - cụ thể là PTSX giữ vai trò quan trọng nhất Những thành tựu mà con người đạt được trên tất
cả các phương diện của đời sống xã hội suy đến cùng bắt nguồn từ cơ sở hạ tầng kinh tế Sự chiếm lĩnh các lực lượng vật chất của con người biểu hiện sức mạnh và trình độ của con người ngày càng cao “Con người với khả năng lao động và năng lực sáng tạo tiềm tàng, đã làm nên các cuộc cách mạng trong các thời đại văn minh của nó, từ nền văn minh cổ đại đến văn minh hiện đại” [122, tr.471] Song “gốc rễ của con người là chính bản thân con người” [72, tr.580] Sự phát triển không có mục đích tự thân, mà phát triển cho con người, vì con người PTCN là giá trị cao nhất, là thước đo quan trọng nhất của tiến bộ xã hội
Như thế, xem xét sự PTCN theo Mác, không có cách nào khác phải xem xét trong hoạt động của con người, trong sự phát triển của điều kiện sinh hoạt vật chất của con người ở mỗi thời đại lịch sử, cụ thể Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ
Trang 37của nền sản xuất hiện đại, khoa học công nghệ đang trở thành LLSX trực tiếp, tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ cho nền kinh tế Con người với tư cách vừa là mục đích, vừa là chủ thể, vừa là người tổ chức và thực hiện các quá trình phát triển, đòi hỏi nó phải có những thích ứng để đáp ứng được yêu cầu đó; trong đó trình độ, tay nghề, kỹ năng là những phẩm chất năng lực quan trọng nhất Muốn làm được điều này đòi hỏi nỗ lực của các chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách
về nguồn nhân lực và chiến lược PTCN quốc gia Những cái mà con người sản xuất
ra bao hàm trong nó hàm lượng tri thức ngày càng lớn, thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu của bản thân và xã hội Nền sản xuất hiện đại đang tạo ra những tiền đề vật chất quan trọng cho sự PTCN toàn diện Con người không chỉ giữ vai trò chủ thể của quá trình đó mà còn là đối tượng thụ hưởng những thành quả mà nhân loại tạo ra
Ngày nay, cách mà con người sản xuất vật chất gắn liền với sự phát triển của nền
kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế Sự phát triển của nền kinh tế không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia và được mở rộng và có mối liên hệ với nhiều nước
và các tổ chức khu vực, quốc tế Thị trường vốn, thị trường tiêu thụ và thị trường nhân lực có sự thay đổi sâu sắc so với các thập kỷ trước đây Điều đó vừa mở ra cho con người nhiều cơ hội lựa chọn công việc có năng suất cao nhưng đồng thời cũng đòi hỏi tính năng động và năng lực thực tế của người lao động cần nâng lên tương ứng Quá trình toàn cầu hóa hiện nay, những lợi ích mà nó mang lại là hết sức to lớn song tính cạnh tranh khốc liệt giữa các nền kinh tế là có thật Đối với các nước thì việc tăng cường sức mạnh thể chế và các tiềm lực quốc gia, thì sự PTCN hướng tới phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là chìa khóa để giải quyết những thách thức đặt ra trong thực tiễn
2.1.2 Phát triển con người gắn liền với sự giải phóng con người mà trước hết là giải phóng con người khỏi mọi sự nô dịch và tha hóa
Nghiên cứu lịch sử xã hội và con người, C.Mác - Ph.Ăngghen đã chỉ ra đời sống xã hội của con người từ khi hình thành cho đến nay luôn tồn tại dựa trên một nền sản xuất xã hội nhất định, với một kiểu QHSX mang tính đặc thù cho từng giai đoạn lịch sử “được chúng ta gọi là những quan hệ kinh tế” [85, tr.776] Và bản thân
Trang 38QHSX ấy có sự vận động biến đổi và chịu sự quy định của LLSX, và là cơ sở cho
sự hình thành những quan hệ xã hội khác Xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử này của Mác, khi xem xét vấn đề PTCN phải đặt con người trong những PTSX nhất định với những quan hệ xã hội đặc thù, mới có thể lý giải được những vấn đề liên
quan đến tồn tại người và những phẩm chất xã hội của nó
Con người chỉ có thể được tự do và phát triển mọi năng lực khi con người
được giải phóng khỏi mọi sự nô dịch và tha hóa, để cuối cùng con người có thể
“làm chủ tồn tại xã hội của chính mình thì cũng do đó mà làm chủ tự nhiên, làm chủ
cả bản thân mình, trở thành người tự do” [77, tr.333] Và “Tự do là ở sự chi phối được chính bản thân mình và tự nhiên bên ngoài, một sự chi phối dựa trên sự nhận thức được những tất yếu của tự nhiên…do đó, tự do là sản phẩm tất yếu của sự phát
triển lịch sử” [81, tr.164] Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác - Ph.Ăngghen đã viết, tự
nhiên lúc đầu khi con người chưa nhận thức được là cái “đối lập với con người như một sức mạnh hoàn toàn xa lạ, vạn năng và không thể đụng tới được; tức là cái mà với nó, con người quan hệ một cách hoàn toàn động vật, cái mà trước nó con người phải khuất phục giống như con vật; do đó là ý thức hoàn toàn động vật về tự nhiên” [71, tr.38] “Những con người vừa mới tách khỏi loài vật thì trong tất cả mọi mặt cơ bản cũng đều không có tự do, chẳng khác gì bản thân loài vật; nhưng mỗi bước tiến lên trên con đường văn hóa lại là một bước tiến tới tự do” [78, tr.164] Thông qua lao động, con người đã thoát ra khỏi trạng thái đó, không chỉ bắt tự nhiên phục vụ cho mình mà còn “thống trị” giới tự nhiên – theo nghĩa “hiểu biết được quy luật của tự nhiên và có thể sử dụng được các quy luật đó một cách chính xác” [78, tr.655] Trên
cơ sở nắm bắt được những quy luật vận động nội tại của giới tự nhiên, con người với sức mạnh thể chất, tinh thần, tri thức và kinh nghiệm sẽ từng bước chinh phục tự
nhiên thông qua hoạt động thực tiễn của mình Phát triển con người trong quan niệm
của C.Mác - Ph.Ăngghen phải được hiểu bắt đầu từ sự tự do và làm chủ của con người trước tự nhiên
Tha hóa là một phạm trù nền tảng của triết học Hêghen và được Mác kế thừa, phát triển, luận giải gắn liền với lao động của người công nhân dưới xã hội tư bản
Trang 39Từ đó, ông chỉ ra nguồn gốc của mọi chế độ áp bức bóc lột trong lịch sử, của sự tha hóa bản chất người cũng như PTCN một cách toàn diện Lao động là hoạt động có tính loài của con người, nhưng “trong điều kiện tha hóa lao động, tất cả những gì tốt nhất, thực sự con người bị hạ thấp xuống trình độ của phương tiện duy trì những điều kiện sống động vật của con người” [125, tr.353] Lao động trở thành một cái gì đó xa lạ, không thuộc về bản chất của anh ta nữa; “lao động của anh ta không phải
là tự nguyện mà là sự bắt buộc, đó là lao động cưỡng bức” [84, tr.133] Ở đây có một sự đối lập giữa người lao động với chính sản phẩm mà họ làm ra; sản phẩm lao động của người công nhân không thuộc về anh ta mà lại trở thành một lực lượng đối lập với chính anh ta “Anh ta tạo ra càng nhiều giá trị thì bản thân anh ta càng bị mất giá trị, càng bị mất phẩm cách; sản phẩm của anh ta tạo dáng càng đẹp thì anh ta càng què quặt; vật do anh ta tạo dáng càng văn minh thì bản thân anh ta càng giống với người dã man; lao động càng hùng mạnh thì người công nhân càng ốm yếu; công việc anh ta làm càng phức tạp thì bản thân anh ta càng trống rỗng về trí tuệ và càng bị nô
lệ vào giới tự nhiên” [85, tr.138-139] Sự đối lập này càng gay gắt khi một bên là sự tăng lên giá trị của vật phẩm hàng hóa với một bên là sự giảm mạnh giá trị phẩm giá, nhân cách của con người Đây là một nghịch lý của sự phát triển Khi lao động bị
tha hóa, nó đã tước đi đời sống có tính loài thực sự của con người và biến cái ưu thế hơn của con người so với con vật thành cái tiêu cực đối với con người, biến đời
sống có tính loài của con người thành phương tiện duy trì sự tồn tại thể xác của con người, biến bản chất nhân loại của con người trở thành xa lạ với con người Song,
có lẽ nỗi bất hạnh lớn nhất của con người ở đây chính là con người bị tha hóa bản
chất người của chính mình Theo C.Mác: “Nói chung, luận điểm cho rằng bản chất
có tính loài của con người bị tha hóa với con người có nghĩa là, một người này bị tha hóa với người khác và từng người trong số họ bị tha hóa với bản chất người” [85, tr.138-139]
Đối lập với tha hóa là tự do, là “sự trở lại với con người - trả thế giới con người về với bản thân con người” Con người muốn được phát triển trước hết phải được giải phóng khỏi sự tha hóa về bản chất người - mà trước hết là tha hóa về lao
Trang 40động Sự tha hóa về tinh thần, về tôn giáo thực chất bắt nguồn từ sự tha hóa trong lao động và xét về bản chất thì nó cũng đã làm biến dạng con người dưới tác động của tha hóa lao động “Động lực của những suy tư của Mác về tha hóa… tựu trung
là ở chỗ, sự bóc lột lao động nô lệ, nông nô và đặc biệt là vô sản bởi những kẻ có sở hữu dẫn đến sự phá hủy con người, đến việc phi người hóa” [125, tr.350] Sở hữu tư nhân vừa là sản phẩm, là hậu quả của lao động bị tha hóa vừa là phương tiện làm cho lao động bị tha hóa, là sự thực hiện sự tha hóa ấy Vì toàn bộ chế độ nô dịch loài người nói chung chỉ là những biến thể và kết quả của quan hệ sở hữu đó Ngay
cả “tôn giáo, gia đình, nhà nước, pháp quyền, đạo đức, khoa học, nghệ thuật v.v chỉ
là những hình thức đặc biệt của sản xuất và phục tùng quy luật chung của sản xuất Cho nên sự xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu với tính cách là sự khẳng định sinh hoạt của con người là sự xóa bỏ một cách tích cực mọi sự tha hóa” [84, tr.168 – 169] Và “Bất kỳ sự giải phóng nào cũng bao hàm ở chỗ là nó trả thế giới con
người, những quan hệ của con người về với bản thân con người” [72, tr.557] Phát triển con người được đặt trong điều kiện phải giải tha hóa con người trong lao động cũng như trong các hình thức sinh hoạt tinh thần của xã hội
2.1.3 Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người
Trong quá trình nghiên cứu lịch sử xã hội, C.Mác - Ph.Ăngghen đã chỉ ra sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên, do sự tác động của các quy luật xã hội thông qua hoạt động thực tiễn của con người Khi một chế độ xã hội mới ra đời trên cơ sở sự vận động khách quan của lịch sử thì bao giờ nó cũng tiến bộ hơn so với xã hội cũ Song sự phát triển của PTSX hay xã hội không có mục đích tự thân, không tách rời với con người; mà chính hoạt động thực tiễn của con người đã tạo ra sự biến đổi và phát triển đó, cũng chính vì thỏa mãn những nhu cầu, mục đích của chính mình mà con người tiến hành những hoạt động đó Tức là chỉ con người mới có mục đích tự thân Theo Mác, sự phát triển LLSX của loài người dẫn tới sự phát triển của xã hội nói chung có mục đích là “sự phát triển phong phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân” [82,