1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010

193 527 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Lao động, việc làm là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của mỗi con người, thể hiện quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và là căn cứ đánh giá mức độ bình đẳng và dân chủ của một xã hội. Việc làm là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu tạo thu nhập, đảm bảo đời sống cho người lao động. Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của bất kỳ quốc gia, bất cứ chế độ chính trị và bất cứ thời đại nào. Vào giữa thập kỷ 2010, Việt Nam đang ở trong thời kỳ “dân số vàng” với 62 triệu người trong độ tuổi lao động. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là Việt Nam phải tận dụng được lợi thế dân số vàng cho sự phát triển kinh tế - xã hội khi mà chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế về sức bền, kỹ năng quản lý. Bên cạnh đó Việt Nam còn phải đối mặt với những bài toán khó về giải quyết việc làm như cần tạo thêm nhiều việc làm mới, giảm tình trạng thất nghiệp thành thị, tăng chất lượng, hiệu quả việc làm ở nông thôn, giải quyết việc làm cho thanh niên mới tốt nghiệp… Giải quyết việc làm không chỉ là giải quyết một vấn đề cấp thiết trong xã hội mà còn là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động đáp ứng nhu cầu của quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người trong thời kỳ đổi mới. Yên Bái là một trong 13 tỉnh miền núi phía Bắc, từ sau khi tái lập tỉnh năm 1991 được Nhà nước hỗ trợ, đầu tư thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, về an sinh xã hội, về tạo việc làm, giải quyết việc làm và cũng đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Song, Yên Bái vẫn gặp phải không ít những khó khăn, đặc biệt là trong việc nâng cao điều kiện sống cho đồng bào các dân tộc. Trên toàn địa bàn tỉnh Yên Bái ngoài dân tộc kinh còn có 34 đồng bào dân tộc thiểu số. Những khó khăn trong vấn đề giải quyết việc làm của Yên Bái bị phần nào tác động bởi địa hình miền núi phức tạp, hiểm trở, chia cắt khiến cho hệ thống giao thông đi lại khó khăn, khó phát triển cơ sở hạ tầng, không hấp dẫn được các nhà đầu tư. Bên cạnh đó tỉ lệ lao động đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn rất thấp. Yên Bái còn tồn tại nhiều vấn đề xã hội nổi cộm như tỷ lệ hộ nghèo cao, số người đến tuổi lao động chưa có việc làm còn nhiều, nhất là thanh niên khu vực thành thị. Tỷ lệ người thiếu việc làm ở khu vực nông thôn còn phổ biến đi kèm là chất lượng làm việc cũng thấp kém. Các vi phạm, tội phạm về ma tuý như trồng, buôn bán và sử dụng thuốc phiện nhất là khu vực đồng bào thiểu số còn phổ biến. Đời sống đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa đặc biệt ở hai huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải - nơi có hơn 80% đồng bào người H’Mông với tập quán du canh, du cư vẫn tồn tại, tình trạng đốt rừng làm rẫy gây thiệt hại nghiêm trọng về đất đai, môi trường sinh thái và dẫn đến những ảnh hưởng lâu dài. Kinh tế Yên Bái còn chậm phát triển, một số chỉ tiêu về giải quyết việc làm nhất là đối với các huyện vùng cao chưa đạt kế hoạch, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, thu nhập bình quân đầu người thấp. Một số các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Yên Bái chưa quan tâm gắn dạy nghề với giải quyết việc làm nên rất nhiều lao động sau đào tạo chưa tìm được việc làm phù hợp. Do đó việc đi sâu nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái để làm rõ quá trình triển khai thực hện và kết quả giải quyết việc làm, đúc rút những kinh nghiệm cho hiện tại và tương lai là hết sức quan trọng và cần thiết. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ những cơ sở lý luận khoa học như những đòi hỏi khách quan, vai trò…của vấn đề giải quyết việc làm ở tỉnh Yên Bái nói riêng và các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010” làm đề tài luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận án này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận án đã được chỉ rõ nguồn gốc

Nghiên cứu sinh

Triệu Thị Trinh

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin được chân thành cảm ơn và tri ân sâu sắc tới các thầy cô giáo - các nhà khoa học Khoa Lịch sử - Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu để hoàn thành luận án này Tôi cũng xin chân thành cám ơn thầy - PGS.TS Nguyễn Đình Lê đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thiện luận án

Trong quá trình học tập, nghiên cứu tôi không tránh khỏi sai sót, những hạn chế của bản thân rất mong được sự lượng thứ của các thầy cô Với tinh thần và nỗ lực học hỏi, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy cô giáo - các nhà khoa học để có tôi thể hoàn thiện hơn nữa

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6

1.2 Nhận xét về những vấn đề đã được giải quyết 19

1.3 Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục nghiên cứu 20

Chương 2: GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở TỈNH YÊN BÁI GIAI ĐOẠN 1991 - 2000 22

2.1 Một số khái niệm cơ bản về lao động, việc làm và những yếu tố tác động đến giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái 22

2.2 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và sự vận dụng của tỉnh Yên Bái trong việc giải quyết việc làm cho người lao động từ năm 1991 đến năm 2000 34 2.3 Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động của tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2000 39

Chương 3: ĐẨY MẠNH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở TỈNH YÊN BÁI GIAI ĐOẠN 2001 - 2010 67

3.1 Bối cảnh lịch sử và những yêu cầu giải quyết việc của tỉnh Yên Bái

(2001-2010) 67

3.2 Chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và tỉnh Yên Bái về giải quyết việc làm cho người lao động 71

3.3 Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động của tỉnh Yên Bái từ năm 2001 đến năm 2010 78

Chương 4: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 115

4.1 Nhận xét về quá trình giải quyết việc làm ở tỉnh yên Bái (1991-2010) 115

4.2 Những đặc điểm của quá trình giải quyết việc làm ở tỉnh Yên Bái giai đoạn 1991-2010 134

4.3 Một số kinh nghiệm 136

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 150

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC 166

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Lao động ở Yên Bái thuộc các đơn vị hành chính sự nghiệp

trước và sau khi được xắp xếp lại tháng 3/1992

Bảng 3.1 Tổng số lao động được giải quyết việc làm mới ở Yên Bái

của cả giai đoạn 2001-2010

84

Bảng 3.2 Số lao động được giải quyết việc làm mới mỗi năm thuộc

nhóm ngành nông lâm ngư nghiệp ở tỉnh Yên Bái đến hết

2010

86

Bảng 3.3 Số lao động được tạo việc làm mới thuộc nhóm ngành công

nghiệp - dịch vụ ở tỉnh Yên Bái giai đoạn 2001-2010

88

Bảng 3.4 Số lao động được tạo việc làm mới trong các đơn vị hành

chính sự nghiệp, Đảng, Đoàn thể và ngành khác ở Yên Bái giai đoạn 2001-2009

89

Bảng 3.5 Số lao động trong các doanh nghiệp đang hoạt động ở Yên

Bái tính đế thời điểm ngày 31/12/2010 phân theo thành phần kinh tế

93

Bảng 3.6 Số trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và số học sinh,

sinh viên ở Yên Bái từ năm 2005 đến năm 2010

97

Bảng 3.7 Lao động được giải quyết việc làm từ Quỹ Quốc gia hỗ trợ

việc làm cho các chương trình, dự án ở Yên Bái giai đoạn 2001-2010

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lao động, việc làm là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của mỗi con người, thể hiện quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và là căn cứ đánh giá mức độ bình đẳng và dân chủ của một xã hội Việc làm là một trong những yếu

tố quan trọng hàng đầu tạo thu nhập, đảm bảo đời sống cho người lao động Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của bất kỳ quốc gia, bất cứ chế độ chính trị và bất cứ thời đại nào

Vào giữa thập kỷ 2010, Việt Nam đang ở trong thời kỳ “dân số vàng” với

62 triệu người trong độ tuổi lao động Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là Việt Nam phải tận dụng được lợi thế dân số vàng cho sự phát triển kinh tế - xã hội khi mà chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế về sức bền, kỹ năng quản lý Bên cạnh đó Việt Nam còn phải đối mặt với những bài toán khó về giải quyết việc làm như cần tạo thêm nhiều việc làm mới, giảm tình trạng thất nghiệp thành thị, tăng chất lượng, hiệu quả việc làm ở nông thôn, giải quyết việc làm cho thanh niên mới tốt nghiệp…

Giải quyết việc làm không chỉ là giải quyết một vấn đề cấp thiết trong xã hội mà còn là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động đáp ứng nhu cầu của quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người trong thời

kỳ đổi mới

Yên Bái là một trong 13 tỉnh miền núi phía Bắc, từ sau khi tái lập tỉnh năm 1991 được Nhà nước hỗ trợ, đầu tư thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, về an sinh xã hội, về tạo việc làm, giải quyết việc làm và cũng đạt được một số kết quả đáng ghi nhận Song, Yên Bái vẫn gặp phải không ít những khó khăn, đặc biệt là trong việc nâng cao điều kiện sống cho đồng bào các dân tộc

Trên toàn địa bàn tỉnh Yên Bái ngoài dân tộc kinh còn có 34 đồng bào dân tộc thiểu số Những khó khăn trong vấn đề giải quyết việc làm của Yên Bái bị phần nào tác động bởi địa hình miền núi phức tạp, hiểm trở, chia cắt khiến cho

Trang 8

hệ thống giao thông đi lại khó khăn, khó phát triển cơ sở hạ tầng, không hấp dẫn được các nhà đầu tư Bên cạnh đó tỉ lệ lao động đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn rất thấp Yên Bái còn tồn tại nhiều vấn đề xã hội nổi cộm như tỷ lệ hộ nghèo cao, số người đến tuổi lao động chưa có việc làm còn nhiều, nhất là thanh niên khu vực thành thị Tỷ lệ người thiếu việc làm ở khu vực nông thôn còn phổ biến đi kèm là chất lượng làm việc cũng thấp kém Các vi phạm, tội phạm về ma tuý như trồng, buôn bán và sử dụng thuốc phiện nhất là khu vực đồng bào thiểu số còn phổ biến Đời sống đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa đặc biệt ở hai huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải - nơi có hơn 80% đồng bào người H’Mông với tập quán du canh, du cư vẫn tồn tại, tình trạng đốt rừng làm rẫy gây thiệt hại nghiêm trọng về đất đai, môi trường sinh thái và dẫn đến những ảnh hưởng lâu dài

Kinh tế Yên Bái còn chậm phát triển, một số chỉ tiêu về giải quyết việc làm nhất là đối với các huyện vùng cao chưa đạt kế hoạch, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, thu nhập bình quân đầu người thấp Một số các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Yên Bái chưa quan tâm gắn dạy nghề với giải quyết việc làm nên rất nhiều lao động sau đào tạo chưa tìm được việc làm phù hợp

Do đó việc đi sâu nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái để làm rõ quá trình triển khai thực hện và kết quả giải quyết việc làm, đúc rút những kinh nghiệm cho hiện tại và tương lai là hết sức quan trọng và cần thiết Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ những cơ

sở lý luận khoa học như những đòi hỏi khách quan, vai trò…của vấn đề giải quyết việc làm ở tỉnh Yên Bái nói riêng và các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Quá trình

giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010” làm đề tài luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam

Trang 9

2 Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Luận án trình bày rõ được các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Yên Bái về giải quyết việc làm cho người lao động giai đoạn 1991-2010

Luận án phản ánh được quá trình giải quyết việc làm cho người lao động trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm

2010

Trên cơ sở nghiên cứu những kết quả đã đạt được làm rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, từ đó rút ra một số đặc điểm, kinh nghiệm về giải quyết việc làm, đảm bảo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động ở tỉnh Yên Bái trong thời gian tiếp theo

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010

2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tập hợp, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và những tài liệu liên quan

đến việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, ở tỉnh Yên Bái nói riêng

- Nghiên cứu về tình trạng lao động dôi dư do xắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước theo cơ chế kinh tế mới, thất nghiệp, thiếu việc làm, …

- Luận án nghiên cứu, làm rõ quá trình triển khai thực hiện và kết quả của giải quyết việc làm cho người lao động trong từng lĩnh vực cụ thể để phát triển sản xuất và ổn định xã hội, từng bước nâng cao đời sống người lao động ở tỉnh Yên Bái

- So sánh quá trình thực hiện và kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về giải quyết việc là cho người lao động và rút ra bài học kinh nghiệm đối với tỉnh Yên Bái

Trang 10

- Luận án phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, chỉ

ra những đặc điểm cơ bản và rút ra một số kinh nghiệm của quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010

3 Phạm vi nghiên cứu

3.1 Phạm vi thời gian: Luận án chọn mốc năm 1991 là năm tái lập tỉnh

Yên Bái trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn Năm 2010 là năm cả nước

đã trải qua quá trình đổi mới gần 25 năm và cũng là năm tỉnh Yên Bái đánh giá tổng kết sau 20 năm xây dựng và phát triển đã đạt được những kết quả nhất định

3.2 Phạm vi không gian: Nghiên cứu tổng quát trên địa bàn 7 huyện, 01

thành phố và 01 thị xã của tỉnh Yên Bái Trong đó tác giả tập trung vào khảo sát địa bàn 3 huyện Yên Bình, Văn Yên, Văn Chấn và thành phố Yên Bái Đây là những địa bàn tiêu biểu thể hiện tính đặc trưng, phong phú về địa hình, dân cư, kinh tế xã hội Yên Bái

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, kết hợp chặt chẽ với một số phương pháp khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu Ngoài ra tác giả luận án chú trọng sử dụng phương pháp điều tra khảo sát thực địa, điền dã, phỏng vấn nhân chứng lịch sử để thẩm định và làm phong phú thêm nguồn tài liệu

5 Nguồn tài liệu

Để hoàn thành luận án này tác giả đã sử dụng nguồn tài liệu của các bộ, ban ngành Trung ương như Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Việc làm, Tổng cục thống kê; các Chỉ thị, Nghị quyết của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về vấn đề lao động việc làm, xóa đói giảm nghèo; nhất là các đánh giá, báo cáo tổng kết hàng năm của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, của Cục Thống kê trong giai đoạn 1991-2000; các số liệu từ kết quả điều tra, khảo sát thực tế của tác giả tại tỉnh Yên Bái

Trang 11

Ngoài ra những văn bản, số liệu về phát triển kinh tế - xã hội, về vấn đề lao động, việc làm từ các trang website chính thống của Đảng, Nhà nước, cổng thông tin điện tử của các tỉnh Yên Bái cũng được tác giả sử dụng

- Luận án đánh giá những thành tựu, hạn chế và tìm ra nguyên nhân, nêu

ra các đặc điểm của quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010 Trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm của quá trình giải quyết việc làm cho người lao động của tỉnh Yên Bái trong giai đoạn tiếp theo

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc hoạch định chính sách giải quyết vấn đề lao động, việc làm và có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập về lịch sử địa phương và một số ngành khoa học có liên quan

7 Kết cấu của luận án:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được bố cục thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN

QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới toàn diện năm 1986 và đã đạt được những thành tựu to lớn trong tăng trưởng và phát triển kinh tế, góp phần đặc biệt quan trọng vào công cuộc XĐGN, thực hiện thành công các chính sách xã hội Một trong số các chính sách đó có chính sách giải quyết việc làm cho người lao động đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, tạo nền tảng cơ sở để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN Do đó, vấn

đề lao động, giải quyết việc làm cho người lao động luôn được Đảng, Nhà nước chú trọng và đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà chuyên môn, các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu khoa học cả trong và ngoài nước Có thể kể đến một số nhóm công trình và bài viết sau đây :

1.1.1 Các công trình nghiên cứu, bài viết về vấn đề lao động việc làm nói chung

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu và các bài viết đề cập

về chính sách xã hội, về lao động và việc làm dưới nhiều góc độ khác nhau Đặc biệt là nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về lao động và việc làm đã ra đời

trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam

Sách: Năm 2000, Nxb Kinh tế Quốc dân giới thiệu cuốn “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ CNH, HĐH ở Việt Nam” của tác giả

Nguyễn Đình Hương Tác giả khẳng định kinh tế trang trại ở nông thôn là hình ảnh của kinh tế hộ nông dân trong tương lai, đồng thời một trong những thế mạnh của kinh tế trang trại chính là tận dụng được không chỉ tiềm năng đất đai, nguồn vốn nhân dân mà còn huy động được nguồn nhân lực tại chỗ, góp phần giải quyết, tạo công ăn việc làm cho người lao động (nhất là lao động còn ở trình độ thấp), giải quyết phần nào tình trạng thiếu việc làm ở một số vùng nông thôn của nước ta

Tác giả đã thống kê số trang trại thuê lao động thường xuyên chiếm 33%, lao động thời vụ chiếm 67% vì vậy những trang trại từ 10ha trở lên thường phải

Trang 13

thuê 1-3 lao động thường xuyên và 10-20 lao động thời vụ, thậm chí những trang trại lâm nghiệp có diện tích khoảng 300ha thì số lao động thường xuyên còn lên tới hàng trăm người Tác giả cũng đưa ra ví dụ về mô hình kinh tế trang trại lâm nghiệp

ở Yên Bái với diện tích đất chiếm trên 70%, khiến 9,8% số hộ gia đình có điều kiện tốt để tích tụ mô hình kinh tế này Bên cạnh đó cuốn sách cũng tập trung vào làm rõ các vấn đề trình độ chuyên môn, của chủ trang trại, của lao động trong trang trại

và đề xuất các giải pháp nâng cao trình độ, áp dụng khoa học kỹ thuật (nhất là chủ trang trại, người lao động trẻ) nhằm phát huy hết những tiềm năng mà mô hình kinh tế này mang lại

Có thể nói cuốn sách đã phân tích sâu sắc những yếu tố tác động của kinh tế trang trại với nông thôn Việt Nam qua các thời kỳ trong đó tập trung chủ yếu vào thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, qua đó tác giả cũng đánh giá chất lượng nguồn nhân lực để đề ra các giải pháp thiết thực là cơ sở giúp Chính phủ ra Nghị định số 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại ngày 02 tháng 2 năm 2000

Năm 2002 Nxb Lao động (Hà Nội) đã xuất bản cuốn “Quá trình chuyển dịch

cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng Bắc Bộ nước ta”

của GS.TS Phạm Đức Thành và TS Lê Doãn Khải Cuốn sách đã hệ thống hóa cơ

sở khoa học của quá trình cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Tập thể tác giả đã tập trung phân tích những nhân tố

cơ bản tác động đến quy mô và tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH và đánh giá thực trạng này qua điển hình 3 tiểu vùng ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn (1996-1999)

Công trình khoa học này cũng phân tích rõ những tồn tại của các vấn đề như: tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động chậm nên khiến cho tỉ lệ lao động nông nghiệp trong giai đoạn này vẫn chiếm đến 77,3% trong khi công nghiệp là 9,37% và dịch vụ chiếm 13,32%; chất lượng nguồn lao động qua một số chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp (không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 90,25%, sơ cấp 1,5%, công nhân kỹ thuật 3,5%, trung học chuyên nghiệp 3,5%, cao đẳng - đại học cũng chỉ chiếm 1,25%) vì vậy mà quá trình

Trang 14

chuyển dịch cơ cấu lao động chưa giải quyết được vấn đề bức xúc trong nông nghiệp, nông thôn là vấn đề thiếu việc làm

Qua những tồn tại các tác giả cũng chỉ rõ những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng chuyển dịch cơ cấu lao động chậm và trình độ thấp, thiếu việc làm do vấn đề về cơ chế chính sách, vấn đề vốn đầu tư, vấn đề đào tạo chuyên môn kỹ thuật, đào tạo nghề, vấn đề cơ sở hạ tầng Trên cơ sở đó các tác giả đã đưa ra các quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ đến năm 2010

Năm 2011, Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề đã xuất bản cuốn “Mô hình dạy nghề và giải quyết việc làm cho lao động ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất” Đây là cuốn sách được biên soạn dựa trên các tài liệu nghiên cứu, các

tài liệu thực tế thông qua các đề tài, đề án của Viện, của các tác giả trong và ngoài nước Nội dung của cuốn sách đề cập đến những vấn đề chủ yếu của đô thị hóa và những hệ lụy đối với nông thôn Việt Nam trong đó nhu cầu học nghề của người lao động và những mô hình dạy nghề giải quyết việc làm cho các nhóm lao động nông thôn khác nhau, cuốn sách có những tư liệu quý có thể sử dụng để có cách nhìn nhận, đánh giá chung trong vấn đề giải quyết việc làm ở các tỉnh thành trên

cả nước

Các đề tài nghiên cứu khoa học: Ngoài các công trình sách đã xuất bản

còn có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đi sâu nghiên cứu về lao động và việc làm Trong đó có thể kể đến công trình như: Năm 2001 Viện Khoa học Lao động

và các vấn đề xã hội (Bộ LĐTBXH) đã có đề tài cấp Bộ mã số CB 2001.01.01

“Đánh giá vấn đề giải quyết việc làm theo các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội (phạm vi áp dụng cho các dự án vay vốn từ quỹ quốc gia hỗ trợ giải quyết việc làm)” Đề tài là công trình của tập thể các tác giả là những nhà

nghiên cứu hàng đầu Việt Nam về lao động, việc làm thuộc Bộ LĐTBXH Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề giải quyết việc làm theo Nghị Quyết 120/HĐBT ngày 11/04/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ), theo Chương trình Quốc gia về xóa đói giảm nghèo v.v đồng thời với việc triển khai các dự án

Trang 15

nhằm khai thác mọi nguồn lực tạo việc làm cho người lao động đặc biệt là thông qua Quỹ Quốc gia hỗ trợ giải quyết việc làm Đề tài có cách nhìn sâu sắc, toàn diện những vấn đề lý luận của giải quyết việc làm từ đó rút ra đặc điểm, xây dựng hệ thống đánh giá, phương pháp đánh giá theo các chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội ở nước ta Nội dung đề tài còn tập trung đánh giá vấn đề giải quyết việc làm ở 60 dự án điển hình ở các tỉnh thành được vay vốn thuộc Quỹ Quốc gia hỗ trợ giải quyết việc làm giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2000 Đề tài thống kê khá cụ thể kết quả thu nhập bình quân của người lao động theo dự án

là tạo thêm việc làm, mỗi năm thu hút hơn 1,5 triệu lao động thông qua 66.000

dự án, tăng thu nhập cho người lao động 20-40% so với trước, thu hút thêm số lao động gián tiếp Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn chuyển dịch tích cực, khôi phục các ngành nghề truyền thống, khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp có giá trị kinh tế cao Góp phần làm thay đổi căn bản nhận thức của nhân dân và toàn xã hội về giải quyết việc làm, lồng ghép tích cực với các chương trình kinh tế xã hội ở địa phương Sau khi làm rõ các nội dung đề tài đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế và những vướng mắc như chất lượng, tính ổn định, khả năng phát triển của việc làm tạo ra theo dự án còn hạn chế, quy trình, thủ tục vay vốn phức tạp Qua những kết quả và đánh giá mà đề tài chỉ ra là cơ sở

để tập thể tác giả đề xuất những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm theo các chương trình, dự án Đề tài đã cung cấp nguồn tư liệu rất đầy

đủ về giải quyết việc làm theo chương trình, dự án trên phạm vi cả nước, là cơ sở

để tác giả tìm hiểu cụ thể quá trình tổ chức thực hiện, đánh giá những kết quả giải quyết việc làm theo chương trình, dự án trên phạm vi tỉnh Yên Bái

Năm 2007 Viện Khoa học Lao động và các vấn đề xã hội có đề tài “Dự báo tác động của tăng trưởng kinh tế và hội nhập giai đoạn 2011-2020 tới lao động việc làm và các vấn đề xã hội” mã số CB2008.01.07 Đề tài dựa trên

những nghiên cứu về xu hướng tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ 2000 -

2007 (trong đó vấn đề lao động, việc làm là đối tượng nghiên cứu chính) để đưa

ra những dự báo cho giai đoạn 2011 - 2020

Trang 16

Các tác giả đã chỉ ra những tác động của tăng trưởng kinh tế và hội nhập tới lao động, việc làm, từ những kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy đối với các quốc gia mà nền kinh tế yếu, chậm điều chỉnh thì tác động tiêu cực nhiều hơn là tích cực như tình trạng các doanh nghiệp sản xuất nhỏ, phụ nữ sẽ bị mất việc làm, chênh lệch thu nhập giữa các nhóm ngành cũng tăng v.v

Vì vậy thông qua việc nghiên cứu những tồn tại, phát sinh của quá trình hội nhập đến lao động, việc làm đề tài đưa ra các mô hình dự báo nhằm giúp cho việc hoạch định các chính sách và giải pháp nhằm giảm bớt những tác động tiêu cực với người lao động Các tác giả đưa ra các căn cứ nhằm giúp Chính phủ tiếp tục hoàn thiện vấn đề tiền lương, lao động, việc làm, phát triển nguồn nhân lực để tạo cơ hội cho Việt Nam tiếp tục tận dụng các cơ hội về kinh tế, thị trường của hội nhập để đạt tăng trưởng kinh tế cao gắn với giải quyết các mục tiêu xã hội trong những năm tiếp theo

Báo cáo nghiên cứu về việc làm nông thôn tại Việt Nam năm 2009, do

Văn Phòng Hỗ trợ Tư vấn Phản biện và Giám định xã hội (OSEC) trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) thực hiện dưới sự

hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam (ILO) thông qua Cục việc làm thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (MOLISA)

Báo cáo gồm 2 phần chính: Phần I được xây dựng dựa trên việc phân tích kết quả điều tra lao động việc làm Việt Nam năm 2009 của Tổng cục Thống kê (GSO) Ngoài ra, báo cáo cũng dành một phần nội dung đáng kể để đánh giá tổng quan về hệ thống chính sách có liên quan Phần II của báo cáo là kết quả khảo sát tại 9 tỉnh gồm: Yên Bái, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Dương, Vĩnh Long và Đồng Tháp nhằm tiếp tục nghiên cứu, đánh giá về các vấn đề có liên quan tới tình hình lao động, việc làm tại nông thôn Việt Nam để bổ sung cho các kết quả phân tích từ số liệu điều tra LFS 2009

Các bài báo khoa học: Bên cạnh các công trình nghiên cứu, sách, đề tài

khoa học còn có nhiều bài viết đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành

Trang 17

và kỷ yếu hội thảo khoa học Các bài viết tập trung nghiên cứu về vấn đề việc

làm của người lao động, trong đó đáng chú ý là bài“Việc làm trong hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta” của PGS.TS Nguyễn Tiệp đăng trên Tạp chí Lao động

Xã hội số 394 tháng 11/2010

Tác giả đã đánh giá những tác động của toàn cầu hóa đến việc làm của người lao động mà biểu hiện rõ nhất ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực FDI đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động Tác giả cũng chỉ ra những tiêu cực của hội nhập kinh tế đến việc làm và các vấn đề xã hội như tăng khoảng cách thu nhập giữa các ngành nghề, tác động do quá trình đô thị hóa, mở rộng sản xuất đem tới Tác giả cũng đưa ra những dự báo tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến việc làm ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo (2011 - 2020)

Qua đó tác giả đề xuất những khuyến nghị như tăng cường công tác đánh giá, dự báo, nâng cao hiệu quả các chính sách thị trường lao động, nâng cao trình

độ của nguồn nhân lực nhằm tăng khả năng cạnh tranh, xúc tiến bảo hiểm xã hội Bài viết của PGS.TS Nguyễn Tiệp tuy chỉ đánh giá sơ qua vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm

2010 nhưng lại có những đánh giá và dự báo rất quan trọng đối với vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động trong giai đoạn 10 năm tiếp theo (2011 - 2020) của thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Bên cạnh đó còn có nhiều hội thảo khoa học có chủ đề về chính sách xã hội,

về công tác XĐGN, về vấn đề lao động và việc làm Các tham luận được công bố trong các kỷ yếu hội thảo khoa học đề cập đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động được trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau, tiêu biểu như bài viết

của PGS, TS Lê Danh Tốn, “Giải quyết việc làm trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam trong quá trong bối cảnh hội nhập quốc tế (1996 - 2007)” Bài

viết khẳng định giải quyết việc làm trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là vấn

đề kinh tế, xã hội rất tổng hợp và phức tạp Hội nhập kinh tế quốc tế chỉ thực sự có

ý nghĩa đối với Việt Nam nếu như cùng với quá trình hội nhập ngày càng sâu hơn,

Trang 18

toàn diện hơn, chúng ta giải quyết tốt hơn vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn, chủ yếu là nông dân

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về giải quyết việc làm ở các địa phương

Có khá nhiều luận văn, luận án thuộc một số ngành như lịch sử Đảng, Kinh tế học, Kinh tế chính trị, Quản trị nhân lực, Quản trị kinh doanh…có nội dung liên quan đến vấn đề giải quyết việc làm ở các tỉnh, thành trên cả nước

Tiêu biểu như: Luận văn Thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Thanh Huyền Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo giải quyết việc làm từ năm 1997 - 2006, trường Đại học Khoa

học Xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội

Tác giả Phạm Thị Thanh Huyền đã tập trung nghiên cứu yêu cầu khách quan để Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo thực hiện vấn đề giải quyết việc làm Làm rõ qúa trình Đảng bộ tỉnh Nam Định vận dụng chủ trương của Đảng, Nhà nước về vấn đề giải quyết việc làm, định ra chủ trương chính sách và chỉ đạo thực hiện trên địa bàn của tỉnh Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, rút ra kinh nghiệm từ trong quá trình lãnh đạo thực hiện giải quyết việc làm của Đảng bộ tỉnh Nam Định từ năm 1997 đến năm 2006

Năm 2008 trong luận văn thạc sĩ Ngành Kinh tế chính trị - Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Phạm Văn Duyên

cũng đã nghiên cứu về Việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ một

cách khá đầy đủ về những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của giải quyết việc làm thanh niên nông thôn Từ thực tiễn giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn của tỉnh Thái Bình, Bình Dương và một số mô hình dạy nghề có hiệu quả của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Tác giả rút ra một số bài học có thể vận dụng vào giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động ở nông thôn nói chung, thanh niên miền Tây Nam Bộ nói riêng Tác giả đã có những tổng kết, đánh giá vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ từ 2002-2007 với những tác động ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Qua đó tác giả nêu ra một số giải pháp, định hướng giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng trong thời gian tiếp theo

Trang 19

Năm 2012 tác giả Nguyễn Thị Hoàng Anh đã đưa ra những nghiên cứu về giải quyết việc làm cho người lao động khá cụ thể của tỉnh Phú Thọ qua luận văn thạc sĩ của mình tại Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội Bằng những số liệu, đánh giá, tổng kết, tác giả đã khôi

phục “bức tranh” mà “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo giải quyết việc làm cho người lao động từ năm 1997 đến năm 2006” Tác giả đã chia quá trình giải quyết

việc làm của Phú Thọ thành hai giai đoạn từ năm 1997 (sau khi tái lập tỉnh) đến năm 2001 và từ năm 2002 đến năm 2006 Dù luận văn của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Anh cũng còn những vấn đề chưa được phân tích cặn kẽ nhưng với những kết quả nghiên cứu đó có thể giúp cho luận án có điều kiện đánh giá, so sánh toàn diện hơn với giải quyết việc làm của tỉnh Yên Bái

Luận văn thạc sĩ Đảng bộ Vĩnh Phúc chỉ đạo giải quyết việc làm cho nông

dân trong quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010 của tác giả Nguyễn Như Quỳnh (2013), Ngành Lịch sử

Đảng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội

Tác giả đã trình bày một cách có hệ thống và tương đối toàn diện các chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về công tác giải quyết việc làm cho nông dân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010 Qua thực tiễn lịch sử, luận văn khôi phục và phân tích quá trình chỉ đạo thực hiện giải quyết việc làm cho người nông dân của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc Đồng thời bước đầu khái quát một

số ưu điểm, hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm từ sự chỉ đạo giải quyết vấn đề lao động và việc làm của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2010

Năm 2014 tác giả Phạm Thị Thủy đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên Ngành Kinh tế chính trị tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

với đề tài “Việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở Hà Nội” Tác giả đã chỉ ra

xu hướng chung của quá trình công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ Trong đó xu hướng đô thị hoá, phát triển các khu công nghiệp, các trung tâm kinh tế, văn hoá mới dẫn đến

Trang 20

tình trạng một số đông lao động mất đất sản xuất, mất nghề phải chuyển sang các công việc khác Quá trình chuyển dịch này cũng diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng Với những chủ trương mới của thành phố Hà Nội về giải quyết việc làm cho nông khi bị thu hồi đất đã thúc đẩy thị trường lao động phát triển, cơ cấu lại lực lượng lao động, góp phần nâng cao chất lượng lao động, tạo môi trường và nhiều cơ hội cho người nông dân tìm được việc làm, ổn định đời sống Tuy nhiên, kết quả chưa nhiều trong điều kiện sức

ép về việc làm của Thành phố, đặc biệt là đối với nông dân khi thu hồi đất ở các huyện ngoại thành ngày càng gia tăng dưới tác động của quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá

Trên cơ sở phân tích, đánh giá quá trình giải quyết việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở Hà Nội qua các số liệu báo cáo của các cơ quan có thẩm quyền và thực tiễn điều tra bằng bảng hỏi của tác giả, tác giả đưa ra những nhận định khách quan về những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong quá trình giải quyết việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở Hà Nội Tác giả đã đi sâu điều tra thực trạng việc làm và giải quyết việc làm ở một số huyện mang tính đại diện ở Hà Nội để từ đó có để tác giả đưa ra quan điểm, đề xuất các nhóm giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm cho nông dân khi thu hồi đất, đạt được các chỉ tiêu mà Thành phố đã đề ra

1.1.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề lao động và việc làm ở tỉnh Yên Bái

Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể, toàn diện, có

hệ thống về giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái mà chỉ có một

số công trình, bài viết về tỉnh Yên Bái hoặc một số công trình đã ít nhiều đề cập

gián tiếp đến vấn đề lao động và việc làm của tỉnh Yên Bái

Trong số tháng 3 năm 2000, Tạp chí Lao động Xã hội số 160 đã dành hẳn

một chuyên đề gồm các bài viết về “Công tác lao động xã hội ở tỉnh Yên Bái”

Trong đó, tác giả Lương Văn Phương (nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Yên

Bái) với bài “Yên Bái thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo” đã đánh giá hiện

Trang 21

trạng các huyện đặc biệt khó khăn trước khi thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, tập trung phân tích thực trạng lực lượng lao động trên các mặt và biến động của nó trong giai đoạn 1996-2000 qua đó tác giả đánh giá kết quả xóa đói giảm nghèo từ 1996 - 1999, nêu ra những mục tiêu, giải pháp cho công tác xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 2001 - 2005 trong đó vấn đề tuyên truyền vận động người lao động tránh tâm lý trông chờ, ỷ lại, phát huy khả năng tự cứu nghèo được nhấn mạnh như là một trong những giải pháp trọng yếu trong hệ thống giải pháp về giải quyết việc làm cho người lao động góp phần vào xóa đói giảm nghèo của địa phương;

Không đi trực tiếp vào công tác XĐGN tác giả Vũ Tuyên (nguyên Giám

đốc Sở LĐTBXH tỉnh Yên Bái) đi sâu vào nghiên cứu “Kinh tế trang trại góp phần giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo ở Yên Bái” Trong bài viết này

tác giả đưa ra những con số thống kê cụ thể về tỉ lệ các hộ làm kinh tế trang trại, các hộ đói nghèo của địa bàn các xã, huyện, đồng thời khẳng định kinh tế trang trại đã góp phần làm giảm tỉ lệ đói nghèo từ 28% năm 1995 xuống còn 17% năm

1999 Tác giả cũng đưa ra những đánh giá về lợi thế của mô hình kinh tế mới này như khả năng thu hút lao động dôi dư trong quá trình xắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn (1991-1995), lao động chưa có việc làm nhất là các trang trại chè, lâm sản; đánh giá mức thu nhập thường xuyên của cá nhân từ kinh tế trang trại để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm định hướng phát triển cho mô hình kinh này ở Yên Bái

Số Chuyên đề tháng 3 năm 2000 còn giới thiệu tác giả Đỗ Đình Ương

(nguyên Phó Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Yên Bái) với bài “Chương trình việc làm ở Yên Bái - kết quả và thách thức” trong đó đưa ra con số thống kê đầy đủ,

cụ thể về giải quyết việc làm ở tỉnh YB theo tinh thần của Nghị quyết120 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) giai đoạn từ 1993-1999 Thông qua kết quả đạt được về giải quyết việc làm (cho khoảng 80.000người/6năm), tác giả đã đưa ra những nhận xét, những khó khăn vướng mắc trong vấn đề triển khai vốn vay từ Quỹ Quốc gia về giải quyết việc làm cho người lao động

Trang 22

Tác giả cũng đánh giá khái lược về chất lượng lao động của Yên Bái mới đạt 16% qua đào tạo, trong đó đào tạo nghề mới chiếm 10% trên tổng số 345.000 lao động cả tỉnh Về cơ cấu lao động tác giả cũng đã chỉ ra trong số hơn 300 ngàn lao động có đến 78,3% sống và làm việc ở nông thôn, tuyệt đại đa số làm nông nghiệp Vì vậy tác giả đã đưa ra những thách thức và những phương hướng cho vấn đề giải quyết việc làm ở Yên Bái trong giai đoạn tiếp theo

Tháng 4/2006 tác giả Hoàng Thị Hạnh với bài “Xóa đói giảm nghèo - nhiệm vụ chiến lược ở Yên Bái” đã đánh giá khá sâu sắc tình hình thực hiện

công tác XĐGN ở Yên Bái Chương trình XĐGN được thực hiện thông qua cán

bộ cấp xã và Trưởng thôn bản, nhưng phần lớn họ chưa được đào tạo kỹ năng một cách hệ thống ảnh hưởng đến tiến độ hiệu quả triển khai

Ngoài ra, trên tạp chí Lao động Xã hội số 394 ra tháng 11/2010 có giới

thiệu bài viết của tác giả Huy Ngọc về “5 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo tại Yên Bái” Bài viết đã tổng kết đánh giá về giảm

nghèo theo Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo trong giai đoạn (2006-2010) tại Yên Bái với thống kê đưa ra về số hộ, tỉ lệ thoát nghèo trên địa bàn toàn tỉnh

Tác giả chủ yếu đánh giá kết quả của các dự án như Dự án dạy nghề cho người nghèo sử dụng nguồn vốn từ Quỹ giải quyết việc làm của địa phương mỗi năm khoảng 4 tỉ đồng cho khoảng 4.200 - 4.500 lao động ở nông thôn Dự

án khuyến nông - lâm - ngư, phát triển sản xuất, phát triển các ngành nghề với mục đích hỗ trợ người nghèo về kiến thức, kĩ năng xây dựng kế hoạch, bố trí sản xuất, tiêu thụ sản phẩm một cách tích cực Dự án về hỗ trợ phát triển cơ sở

hạ tầng ở nông thôn tạo điều kiện tốt hơn cho người lao động tiếp cận với thị trường từ đó có cơ hội tự tạo việc làm Nhóm các dự án hỗ trợ trực tiếp các hộ nghèo để phát triển sản xuất, kinh doanh thông qua chính sách ưu đãi tín dụng của địa phương

Tuy nhiên nội dung bài báo mới chỉ dừng lại ở những kết quả của các dự

án giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2010 và nêu ra một vài định hướng khuyến

Trang 23

nghị nhằm giảm nghèo tại Yên Bái trong thời gian tiếp theo chứ hầu như chưa có những con số hoặc đánh giá cụ thể về vấn đề lao động, giải quyết việc làm

Trong các công trình nghiên cứu về lao động, việc làm của Yên Bái đáng

chú ý nhất là cuốn 65 năm xây dựng và phát triển ngành lao động - thương binh

và xã hội tỉnh Yên Bái do UBND tỉnh Yên Bái chỉ đạo và Sở LĐTBXH tỉnh Yên

Bái thực hiện năm 2010 nhân dịp kỷ niệm 65 ngày truyền thống ngành LĐTBXH (1945-2010) Đây là một công trình nghiên cứu của tập thể đội ngũ cán bộ đã, đang công tác trong ngành lao động - thương binh - xã hội, đặc biệt là các cán bộ lão thành của tỉnh Cuốn sách cho thấy một chặng đường dài những biến động,

từ một bộ phận nhỏ nằm trong Ủy ban hành chính của tỉnh, ngành LĐTBXH đã trở thành ngành công tác mũi nhọn, tham mưu cho UBND tỉnh giải quyết các vấn đề về lao động, thương binh và xã hội

Cuốn sách được chia thành các nội dung khác nhau theo các mảng công tác chuyên biệt của ngành như : công tác lao động, công tác thương binh liệt sĩ

và người có công, công tác xã hội, công tác đào tạo nguồn nhân lực, công tác bảo

vệ chăm sóc trẻ em Cuốn sách không chỉ khái quát chung về cơ cấu tổ chức hành chính của ngành trong suốt 65 năm qua các giai đoạn mà còn tổng kết những kết quả thực hiện các chủ trương Đảng, chính sách của Nhà nước về lao động, việc làm trong thời kỳ đổi mới như Quyết định số 315/HĐBT ngày 01/10/1990, Nghị định 388/ HĐBT ngày 20/11/1991, Nghị quyết 120/HĐBT Công tác đào tạo nghề của địa phương , khái quát về mạng lưới, hệ thống các trường dạy nghề của tỉnh Yên Bái cũng được dành một phần lớn trong nội dung cuốn sách

Cuốn sách cũng đề cập đến những khó khăn, thuận lợi, đặc điểm nguồn nhân lực tác động đến đào tạo nghề của tỉnh, đi sâu đánh giá các kết quả đat được của vấn đề này nhất là trong thời kỳ đổi mới Các vấn đề về phối hợp tổ chức thực hiện của các nguồn vốn vay cho các tổ chức, cá nhân trên phạm vi tỉnh nhằm đầu tư mở rộng sản xuất, phát triển kinh doanh, thu hút lao động vào làm việc và tự tạo việc làm cũng được tổng kết khá cụ thể Việc thực hiện các dự án xung quanh vấn đề lao động , việc làm như khuyến nông - lâm - ngư , mô hình

Trang 24

phát triển sản xuất, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ xóa đói giảm nghèo…cũng được đánh giá một cách khái quát cho thấy những nỗ lực và kết quả của ngành

LĐTBXH tỉnh nói chung và trong vấn đề lao động việc làm nói riêng

Năm 2011, tác giả Lương Thị Thuần lựa chọn đề tài “Quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng ở tỉnh Yên Bái từ năm 1996 đến năm 2010” làm luận văn thạc sĩ chuyên nghành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) Tác giả đã đi từ những vấn đề lý luận nghiên cứu về XĐGN trên thế giới và Việt Nam như vấn đề về dinh dưỡng, về thu nhập tối thiểu, về so sánh chuẩn nghèo giữa nông thôn với thành thị để xem xét, đối chiếu với đói nghèo ở tỉnh Yên Bái Luận văn tập trung phân tích, đánh giá sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh Yên Bái với công tác XĐGN trong hai giai đoạn (1996-2000) và (2000-2010)

Giai đoạn (1996-2000) tác giả nêu ra những khó khăn trong vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một tỉnh nghèo như Yên Bái với thu nhập bình quân đầu người chưa đầy 300USD, trình độ kỹ thuật, canh tác kém do tập quán, phong tục lạc hậu v.v Đảng bộ Tỉnh dù mới tái lập (1991) nhưng đã chỉ đạo đúng đắn giải quyết từng bước vấn đề XĐGN ở địa phương Trong phần này tác giả đề cập khá chi tiết đến những chỉ đạo của Đảng bộ Tỉnh về vấn đề giải quyết việc làm, tạo việc làm của ban, ngành, đoàn thể, người dân và những kết quả thu được như mỗi năm tạo được 12.000 chỗ làm việc mới, số hộ khá và giàu tăng từ 7,3% lên 14%, số hộ nghèo giảm từ 33% năm 1991 xuống 18% năm 1995 Tác giả cũng dựa trên những Báo cáo của địa phương chỉ ra mô hình kinh tế phù hợp, khả thi

và hiệu quả của kinh tế trang trại, kinh tế đồi rừng Cùng với đó luận văn cũng đưa ra những đánh giá về kết quả các dự án lồng ghép với chương trình 135, 327 của Chính phủ và các chương trình quốc gia khác về giải quyết việc làm, XĐGN

ở một số xã, huyện của tỉnh

Giai đoạn (2000-2010) luận văn đã cơ bản làm nổi bật sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong điều kiện, tình hình mới của đất nước cũng như nhiệm vụ mới của tỉnh đó là thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Tác giả chỉ ra những kết quả lãnh đạo của công tác XĐGN trên rất nhiều các lĩnh vực (y tế, giáo dục, hỗ trợ

Trang 25

đối với đồng bào dân tộc thiểu số, an sinh xã hội, nhà ở, vốn vay v.v.) và sự tham gia của toàn thể xã hội (Uỷ Ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Hội Nông dân, Hội Phụ

nữ, Đoàn Thanh niên v.v.) Qua đó tác giả đã cho thấy một bức tranh khá toàn diện về sự thay đổi kinh tế, xã hội trên cơ sở công tác XĐGN của tỉnh Yên Bái

và rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm

Đây có thể nói là công trình nghiên cứu mặc dù đi sâu về công tác XĐGN

và thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,nhưng lại có nội dung gần với đề tài luận án Do đó đã giúp cho tác giả tham khảo, kế thừa về tài liệu, góp phần làm sáng rõ hơn một số vấn đề thuộc nội dung của luận án

1.2 Nhận xét chung về những vấn đề đã được giải quyết

Các lý thuyết về lao động, việc làm đã tập trung nghiên cứu, xác định vai trò của việc làm, giải quyết việc làm trong đời sống kinh tế xã hội Tuy nhiên những lý luận đó chưa hoàn toàn làm rõ vai trò của Chính phủ Việt Nam thông qua hệ thống các chính sách kinh tế kết hợp với chính sách xã hội để tạo và giải quyết việc làm ổn định cho nền kinh tế nhất là những tỉnh thành miền núi còn nhiều khó khăn Nhưng những công trình nghiên cứu đó có tác dụng gợi mở cho chúng ta khi phân tích thực trạng việc làm và chỉ ra những kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động trong quá trình CNH, HĐH đất nước

Các công trình nghiên cứu kể trên đều đã bao quát được những vấn đề về tạo việc làm, giải quyết việc làm trong bối cảnh đổi mới, hội nhập kinh tế quốc

tế của cả nước và hoàn cảnh cụ thể của từng vùng, từng địa phương Trên mỗi khía cạnh, lĩnh vực nghiên cứu của các tác giả đã đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần nâng cao đời sống về vật chất và tinh thần cho người dân, giảm thiểu các vấn đề xã hội nảy sinh, đặc biệt là tình trạng thất nghiệp hiện nay

Giải quyết việc làm vẫn mang tính thời sự, nóng bỏng, kết quả của giải quyết việc làm góp phần trực tiếp vào sự tăng trưởng, khẳng định vị thế kinh tế, chính trị của mỗi địa phương nói riêng và của cả nước với quốc tế và khu vực

nói chung Tuy nhiên tính xã hội hóa nhằm giúp người lao động tự tạo, giải

quyết việc làm mới chỉ được các tác giả đề cập khá chung chung Những giải pháp, kiến nghị được đề xuất hầu hết ở khía cạnh Nhà nước vĩ mô, chưa đề cập

Trang 26

nhiều đến tính chủ động, phối hợp của chính người lao động ở các địa phương và trong các ngành, nghề cụ thể

Các tác giả đã sử dụng phong phú phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu như phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, quán triệt quan điểm của Đảng, phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu, văn bản pháp quy của Nhà nước, của ngành; các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, phương pháp quan sát, điều tra, tọa đàm v.v

Các công trình nghiên cứu và bài viết kể trên có nội dung rất phong phú,

đa dạng được đề cập dưới nhiều góc độ, nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau về việc làm, giải quyết việc làm, nhưng do đặc thù của ngành nên đối với ngành Kinh tế học do đặc thù của ngành nên các số liệu thống kê mang tính vĩ mô, không đi sâu đánh giá những kết quả tổng kết cụ thể để rút ra những bài học Chủ yếu các nghiên cứu thuộc lĩnh vực Kinh tế học tập trung vào các giải pháp, khuyến nghị mang tính dự báo (cho từng địa phương, cho từng vùng hoặc vĩ mô cho cả nước)

Một số công trình thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng với các nghiên cứu khá cụ thể, chi tiết về số liệu thống kê, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, qua đó chủ yếu để chỉ ra vai trò lãnh đạo của Đảng bộ các tỉnh, qua đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối Các đề tài của chuyên ngành này ít đề cập đến các vai trò tham gia của các chủ thể quản lý khác như chính quyền, ban, ngành…

Tuy nhiên các công trình nghiên cứu, bài viết, các luận văn, luận án đi trước

đã cung cấp thêm những nguồn tư liệu, những phương pháp tiếp cận, những cách nhìn khoa học phong phú giúp luận án có cái nhìn sâu hơn về vấn đề lao động, việc làm nó chung, của tỉnh Yên Bái nói riêng

1.3 Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Một số bài viết đã được công bố nêu trên đã giúp cho luận án có điều kiện nhìn nhận, so sánh tổng kết kinh nghiệm, rút ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái với bối cảnh chung của cả nước Có thể nói các phương pháp và kết quả

Trang 27

nghiên cứu của những tác giả đi trước rất quý giá, đáng tin cậy là cơ sở để luận

án có thể chọn lọc, kế thừa để góp phần vào việc hoàn thành luận án của mình

Qua những vấn đề đã được nghiên cứu của các tác giả đi trước, tác giả luận án nhận thấy còn một số vấn đề quan trọng - là “khoảng trống” mà luận án

cần phải tiếp tục nghiên cứu trên cơ sở có sự kế thừa để làm sáng tỏ Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm

2010, đó là:

- Phân tích, làm rõ những yêu cầu khách quan và những yếu tố tác động đến quá trình giải quyết việc làm ở tỉnh Yên Bái

- Làm rõ vị trí vai trò của vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động

ở tỉnh Yên Bái là một tỉnh còn nhiều khó khăn trong số các tỉnh miền núi phía Bắc Từ đó đưa ra được sự so sánh với các tỉnh có nhiều lợi thế trong việc giải quyết việc làm cho người lao động

- Nghiên cứu làm rõ quá trình thực hiện và kết quả cụ thể của giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ sau khi tái lập tỉnh năm 1991 đến năm 2010

- Đánh giá những thành công và hạn chế, làm rõ nguyên nhân của thành công và hạn chế trong quá trình giải quyết việc làm cho người lao động

- Nghiên cứu chỉ ra những đặc điểm về giải quyết việc làm của tỉnh Yên Bái, làm cơ sở cho các nhà quản lý hoạch định chính sách

- Việc nghiên cứu về giải quyết việc làm cần được tìm hiểu và nhận diện một cách rõ ràng và toàn diện hơn trong bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể của tỉnh Yên Bái Đặc biệt là việc xem xét các tác nhân mới của quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế của Việt Nam đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nhằm giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng Vì vậy, vấn đề này vẫn đòi hỏi phải được nhận thức rõ hơn và rút ra những đặc điểm và nêu lên những bài học kinh nghiệm từ qúa trình triển khai thực hiện giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010

Trang 28

Chương 2 GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở TỈNH YÊN BÁI

(1991 - 2000) 2.1 Một số khái niệm cơ bản về lao động, việc làm và những yếu tố tác động đến giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Lời mở đầu Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được Quốc Hội thông qua tại kỳ họp thứ 5 khóa IX ngày 23 tháng 6 năm 1994 đã khẳng định: “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng

và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước”[36,tr.7]

Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động, sức lao động là năng lực của con người nó bao gồm cả thể lực và trí lực , nó là yếu tố tích cực đóng vai trò trung tâm trong suốt quá trình lao động , là yếu tố khởi đầu, quyết định trong qúa trình sản xuất, sản phẩm hàng hoá có thể được ra đời hay không thì nó phải phụ thuộc vào quá trình sử dụng sức lao động

Như vậy: Lao động trước hết là một hành động diễn ra giữa con người với giới tự nhiên, trong lao động con người đã vận dụng trí lực và thể lực cùng với công cụ tác động vào giới tự nhiên tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, đời sống con người, lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó là hoạt động rất cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người

Trong Luật việc làm được Quốc Hội ban hành và thông qua ngày 16 tháng

11 năm 2013 đã giải thích “Người lao động là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc”[22,tr.3]

Với khái niệm và những giải thích trên có thể hiểu người lao động là một

bộ phận của nguồn lao động bao gồm hai phần: Một là những người đủ 15tuổi trở lên đang có việc làm trong các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội, biểu hiện của việc làm đó là tạo ra được thu nhập mà hoạt động tạo thu nhập này không bị pháp luật cấm, ngoài ra còn cả những hoạt động của bộ phận dân số không trực

Trang 29

tiếp tạo ra thu nhập nhưng lại trực tiếp giúp cho người thân, gia đình tạo thu nhập; Hai là những người đang trong độ tuổi lao động không có việc làm nhưng

có nhu cầu tìm việc làm và luôn sẵn sàng làm việc

Việc làm cần được thỏa mãn hai điều kiện: hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và các thành viên trong gia đình và người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị pháp luật cấm, điều này chỉ

rõ tính pháp lý của việc làm

Như vậy việc làm là những hoạt động lao động sản xuất trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm, việc làm là một phạm trù kinh tế - xã hội, việc làm chịu sự chi phối của nhiều mối quan hệ đặc biệt là các quan hệ kinh tế - xã hội Quan

niệm đúng về việc làm là cơ sở khoa học cho giải quyết việc làm

Giải quyết việc làm là việc Đảng, Nhà nước đưa ra các chủ trương, chính sách, các cơ quan chính quyền, đoàn thể và chính bản thân người lao động cùng tham gia tổ chức thực hiện nhằm tạo ra các cơ hội để có việc làm, tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội Giải quyết việc làm nhằm khai thác triệt để tiềm năng của từng con người và cộng đồng, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả Giải quyết việc làm cũng có thể được hiểu là người lao động tự tạo việc làm cho chính mình và gia đình nhằm tăng thu nhập, phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống Vì vậy giải quyết việc làm cần được xem xét cả phía người lao động, người sử dụng lao động, vai trò của Nhà nước và các đoàn thể chính trị xã hội

Xét dưới góc độ quản lý Nhà nước thì giải quyết việc làm là tổng thể các tác động của biện pháp, chính sách kinh tế, xã hội từ vi mô đến vĩ mô để người lao động có thể có việc làm Để giải quyết việc làm, vấn đề quan trọng hàng đầu

là Nhà nước phải tạo ra các điều kiện thuận lợi để người lao động có thể tự tạo việc làm thông qua những chính sách kinh tế - xã hội cụ thể Xét dưới góc độ của người lao động có thể coi giải quyết việc làm là sự nỗ lực của bản thân cùng với việc tận dụng các cơ hội mà xã hội (chính sách hỗ trợ của chính quyền, cơ quan ban ngành, đoàn thể…) mang lại để tạo và tìm kiếm được việc làm

Trang 30

2.1.2 Các yếu tố tác động đến lao động, việc làm ở tỉnh Yên Bái

2.1.2.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Tỉnh Yên Bái được thành lập ngày 01 tháng 4 năm 1900 theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương (Thống sứ Bắc Kỳ J.Moren và thừa lệnh Toàn quyền Đốc

lý các vấn đề dân sự Đông Dương - Broni) Năm 1976 tỉnh Yên Bái hợp nhất với tỉnh Lào Cai và Nghĩa Lộ trở thành tỉnh Hoàng Liên Sơn Tháng 10/1991 tỉnh Hoàng Liên Sơn lại được chia tách thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai

Vị trí địa lý của Yên Bái từ 210 56’ đến 220 17’ vĩ Bắc, 1030 56’ đến 105006’ kinh Đông, nằm sâu trong nội địa, là một trong 13 tỉnh vùng núi phía Bắc, Yên Bái có 9 đơn vị hành chính gồm thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ và 7 huyện là Lục Yên, Văn Yên, Trấn Yên, Yên Bình, Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải Yên Bái có tổng số 180 xã, phường, thị trấn nhưng trong đó có 70

xã vùng cao (tập trung chủ yếu ở hai huyện là Trạm Tấu và Mù Cang Chải có tới 80% dân số là đồng bào H’Mông) và 63 xã thuộc diện nghèo, đặc biệt khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước[146,tr.13]

Yên Bái có diện tích tự nhiên 6.899,49km2 chiếm 2,1% diện tích cả nước

và bằng 10% diện tích vùng Đông Bắc với địa hình phức tạp, độ cao trung bình của Yên Bái so với mặt nước biển là 600m Vùng cao Yên Bái có nhiều đỉnh núi cao thuộc dãy Hoàng Liên Sơn Vùng thấp của Yên Bái có vùng ven sông Hồng, sông Chảy và cánh đồng Mường Lò với khí hậu trong lành, phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, đất đai phì nhiêu rộng lớn đứng thứ hai các tỉnh miền núi phía Bắc chỉ sau cánh đồng Mường Thanh (Điện Biên) là điều kiện thuận lợi

để phát triển nông - lâm nghiệp, đặc biệt là phát triển du lịch

Diện tích đất nông nghiệp đến năm 2009 của tỉnh là 549.104 ha chiếm 79,59% diện tích đất tự nhiên, diện tích đất phi nông nghiệp là 47.906,46 ha chiếm 6,94%, diện tích đất chưa sử dụng là 92.938,28 ha chiếm 13,47% Yên Bái nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều, lượng mưa trung bình hàng năm từ 1800 - 2000mm [146,tr.13] Tuy Yên Bái ít chịu

Trang 31

ảnh hưởng của gió bão vì nằm sâu trong nội địa nhưng thường xuyên bị mưa đá,

lũ quét, lở đất vào mùa mưa

Với những đặc điểm trên người lao động Yên Bái có thể sử dụng đất đai như một lợi thế để phát triển nông - lâm nghiệp tạo ra việc làm tại chỗ cho bản thân và gia đình Tuy nhiên vì sản xuất của người lao động chủ yếu gắn với điều kiện tự nhiên dựa trên kinh nghiệm là chính nên động lực thúc đẩy nâng cao trình độ, ứng dụng khoa học kỹ thuật, khả năng đột phá trong sản xuất không mạnh dẫn đến lợi nhuận ổn định nhưng không cao

Nguồn nước và hệ thống sông hồ của Yên Bái rất lớn, riêng hồ Thác Bà có diện tích đến 23.400ha, trong đó mặt nước chiếm 19.000ha cùng với trên 1.300 hòn đảo lớn nhỏ trải trên chiều dài 80km Diện tích mặt nước hồ được sử dụng khai thác nước sinh hoạt, tưới tiêu, nuôi trồng thủy hải sản hết sức phong phú có giá trị kinh tế cao Hồ Thác Bà là một trong ba hồ nhân tạo lớn nhất Việt Nam,

hồ được ví như viên ngọc - “Hạ Long trên núi”, được công nhận là di tích lịch sử danh thắng cấp quốc gia theo quyết định số 2410/QĐ-VH ngày 27/9/1996 của

Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Nhà máy thuỷ điện Thác Bà là đứa con đầu lòng của ngành thuỷ điện Việt Nam, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, an ninh năng lượng trong công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước ngày nay

Yên Bái có điều kiện khí hậu phù hợp với sự phát triển và sinh trưởng của các loại cây nhiệt đới như lúa, ngô, chè, quế, cam…đồng thời tạo ra những đặc sản nổi tiếng như Chè tuyết cổ thụ Suối Giàng; gạo nếp Tú Lệ; Cam đường Văn Chấn, Lục Yên; quế, thảo quả Văn Yên…cùng nhiều loại gỗ, lâm sản quý Ngoài

ra Yên Bái cũng là vùng đất chứa nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú trong

đó nổi tiếng nhất phải kể đến những mỏ đá quý ở Lục Yên, Yên Bình; cao lanh ở thành phố Yên Bái; đá vôi và đá xây dựng nằm rải rác trên toàn tỉnh

Theo thống kê năm 2009 tổng diện tích rừng Yên Bái là 402.721ha, tỉ lệ che phủ đạt 58,37%, rừng có nhiều loài động, thực vật quý hiếm Hiện nay Yên Bái tích cực trong công cuộc bảo vệ, khoanh nuôi rừng nguyên sinh và trồng mới

Trang 32

rừng, đưa ngành lâm nghiệp trở thành thế mạnh mũi nhọn phát triển kinh tế, phát huy lợi thế của một tỉnh miền núi

Với những điều kiện địa lý, tài nguyên thiên nhiên, đất đai của Yên Bái có thể thấy dù còn nhiều khó khăn, chia cắt về địa hình, giao thông, đi lại nhưng Yên Bái lại có những tiềm năng rất lớn Các ngành hàng nông - lâm, khai thác khoáng sản, phát triển các ngành dịch vụ phục vụ du lịch địa phương là lĩnh vực thế mạnh của tỉnh có thể giải quyết, tạo được rất nhiều việc làm cho nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động dồi dào nhưng trình độ còn hạn chế ở Yên Bái

2.1.2.2 Đặc điểm về cư dân, truyền thống văn hóa và kinh tế - xã hội

Khi tái lập tỉnh năm 1991 Yên Bái có dân số là 608.278 người, đến năm

2010 tăng lên 751.286 Với địa hình miền núi chia cắt nên dân số phân bố không đều giữa vùng thấp và vùng cao, mật độ dân số trung bình của Yên Bái là 101,6 người/km2 Yên Bái có đa sắc tộc với 35 dân tộc cùng chung sống, trong đó dân tộc Kinh: 354.590 người (chiếm 46,31%) Chính sự đa dạng về sắc tộc này tạo cho Yên Bái những nét văn hóa truyền thống, sinh hoạt, sản xuất rất riêng biệt Dân số trong độ tuổi lao động của Yên Bái năm 1991 là 287.498 người (chiếm 47,2% dân số), đến năm 2010 là 396.375 người (chiếm 52,7% dân số) Dân

số trong độ tuổi lao động (năm 2010) là người dân tộc thiểu số là 203.340 người chiếm 51,3% dân số trong độ tuổi lao động toàn tỉnh [49,tr.38] Những con số này cho thấy nguồn lao động của Yên Bái khá dồi dào tuy nhiên trên 50% lực lượng đó

là đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế về trình độ dân trí, chuyên môn kỹ thuật nên cũng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng việc làm của tỉnh

Yên Bái là cửa ngõ miền Tây Bắc, là nơi trung chuyển của rất nhiều đầu mối giao thông quan trọng cả đường sắt, đường bộ và đường thủy Từ Hà Nội theo tuyến đường sắt nối với Lào Cai dài 296 km chạy qua 4 tỉnh, riêng qua địa bàn tỉnh Yên Bái dài 87,7km Tuyến đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai đã được đưa vào khai thác sử dụng từ tháng 9-2014 với chiều dài 255km chạy qua 5 tỉnh trong đó có Yên Bái, là một trong những thuận lợi rất lớn để góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh cũng như của toàn vùng

Trang 33

Khi tái lập tỉnh năm 1991, Yên Bái gặp rất nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên với sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái đã đạt được những kết quả khả quan Giai đoạn 1991-

1995 nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh đạt 7,5%/năm, thu nhập bình quân đầu người năm 1995 đạt 190$ (1,9 triệu đồng theo thời giá) gấp 1,5 lần so với năm 1991[2,tr.12] Giai đoạn 1996-2000, GDP bình quân của tỉnh đạt 7,6%/năm [3,tr.16]

Trong những năm đầu thế kỷ XXI, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo Tăng trưởng kinh tế của Yên Bái liên tục với tốc độ khá cao và tương đối

ổn định Giai đoạn 2001-2005 GDP bình quân của tỉnh đạt 9,55%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, năm 2005 tỷ trọng nông lâm nghiệp chiếm 39,5%, công nghiệp xây dựng 27,79%, dịch vụ 33,71%, thu nhập bình quân đầu người năm 2005 đạt 4,267 triệu đồng, tăng gần gấp 2 lần so với năm 2000 [4,tr.19]

Giai đoạn năm 2006 đến năm 2010, tốc độ tăng trưởng Yên Bái kinh tế đạt 12,3%, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp còn 30,97% sang tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng là 30,02%

và dịch vụ là 39,01%, thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 10,08 triệu đồng [5,tr.18]

Các khu du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái tập trung khá đa dạng ở Yên Bái như: Du lịch sinh thái lòng hồ Thác Bà, những đèo núi vùng cao, thu hút rất đông du khách đặc biệt là du khách nước ngoài Hệ thống ruộng bậc thang trên núi

vô cùng hùng vĩ thuộc huyện Mù Cang Chải, mỗi dịp vụ mùa rất đông du khách

tổ chức nhảy dù lượn Du lịch tìm hiểu các phong tục văn hóa tiềm ẩn của đồng bào các dân tộc ở phía Tây của tỉnh, đặc sắc nhất là lễ hội xòe Nghĩa Lộ.v.v Có thể nói với những tiềm năng du lịch, những nét văn hóa đậm tính truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số, Yên Bái có khả năng thu hút và giải quyết một số lượng lao động lớn cho nhóm ngành giao thông, dịch vụ đi kèm

Trang 34

2.1.2.3 Thực trạng tình hình lao động và việc làm trên địa bàn tỉnh Yên Bái trước năm 1991

Trước năm 1991 Yên Bái là một phần của tỉnh Hoàng Liên Sơn, được hợp nhất từ 3 tỉnh Lào Cai, Yên Bái và Nghĩa Lộ Hoàng Liên Sơn là một tỉnh miền núi có diện tích rộng, đường biên giới kéo dài, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số Năm 1979 chiến tranh biên giới xảy ra, tỉnh phải trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc Khi chiến tranh kết thúc Hoàng Liên Sơn phải bắt tay vào khắc phục hậu quả nên gặp rất nhiều khó khăn, thử thách, biến động cả về kinh tế và dân cư Ngày 13 tháng 1 năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị

100CT/TW về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX sản xuất nông nghiệp" (gọi tắt là khoán 100) đã mở

đầu cho sự thay đổi hình thức khoán, từ khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán đội sang khoán hộ gia đình, Chỉ thị ra đời bước đầu thúc đẩy sản xuất, phát huy động lực sáng tạo và năng lực của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước

Thực hiện Chỉ thị 100 CT-TW về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX sản xuất nông nghiệp"

của Ban Bí thư Trung ương Đảng năm 1981, tỉnh Hoàng Liên Sơn đã động viên các hộ xã viên đã chủ động sản xuất, đầu tư phân bón, cải tiến kỹ thuật để đạt năng suất, sản lượng Qua thực hiện khoán nông nghiệp lợi ích chính đáng của người lao động ngày càng được coi trọng nên sản lượng lương thực tăng, đời sống của nông dân có bước cải thiện

Tuy nhiên trong việc điều phối, sử dụng lao động của Yên Bái còn chưa mạnh, trình độ phân công lao động chưa cao, trong HTX nông nghiệp phổ biến tình trạng trì trệ Khu vực quốc doanh vừa thiếu về số lượng, yếu về chất lượng khiến năng suất, chất lượng lao động mang tính cầm chừng, đời sống người lao động ngày càng khó khăn Việc kêu gọi, phát huy vai trò chủ động của người lao động vào xây dựng kinh tế, văn hoá rất yếu, còn ỷ lại, trông chờ nặng nề vào Nhà nước Người lao động chỉ làm việc cầm chừng, lấy lệ, phụ thuộc nặng nề vào cơ chế bao cấp, không tạo được sự chuyển biến trong tổ chức, đời sống kinh

tế xã hội

Trang 35

Năm 1984 các HTX trên địa bàn tỉnh đã bước đầu đi vào sửa chữa những thiếu sót, nhược điểm, huy động lao động để khai hoang, trồng cây công nghiệp, cây xuất khẩu, khai thác lâm sản… Tuy nhiên trong công tác phân công lao động hầu như không có sự chuyển biến Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đào tạo cán bộ quản lý chỉ mang tính hình thức Năng lực sản xuất nông - lâm nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu, thủ công nghiệp không được phát huy rơi vào tình trạng trì trệ Vấn đề sản xuất hàng xuất khẩu manh mún,nhỏ lẻ và hầu như không có tác động kích thích nào với công tác tạo, giải quyết việc làm cho người lao động Yên Bái Trong công tác quản lý chưa tạo ra được động lực phát triển kinh tế cho các HTX, các nông trường và gia đình xã viên Vì vậy vấn đề giải quyết việc làm trong nông nghiệp cũng chỉ trong khuôn khổ phân công của nhà nước

Tình hình đất đồi rừng giao cho tập thể và gia đình tuy đã được thực hiện nhưng chưa phát huy đúng hướng Trong nghề rừng chủ yếu người lao động tạo việc làm bằng các hoạt động khai thác, trồng trọt giản đơn nên hiệu quả giải quyết việc làm rất thấp kém

Trong những năm đầu thập niên 80 thế kỷ XX cùng với cả nước, Yên Bái bước vào mô hình tập thể hoá cao độ Yên Bái là tỉnh nông nghiệp nhưng lao động trong các HTX nông nghiệp hoàn toàn không phát huy được tinh thần trách nhiệm trong công việc, hiện tượng dong công phóng điểm diễn ra phổ biến, không tính được hiệu quả cuối cùng của công việc Lối làm việc này đã dẫn đến hiệu quả của các HTX trên toàn tỉnh trong sản xuất cũng như kinh doanh đều thấp, thua lỗ trở thành phổ biến Những tình trạng trên còn dẫn đến một hậu quả

là tạo ra sự công bằng giả tạo, không có tác dụng kích thích sản xuất, không tạo được sự gắn kết giữa xã viên (người lao động) với tập thể (HTX)

Đến năm 1986 công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới

ở Yên Bái (thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn) khi đó còn ít, thiếu quy hoạch, thiếu biện pháp cụ thể Trong khi đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ dân số áp đảo nhưng do phong tục, tập quán du canh du cư phổ biến nên vấn đề định canh, định cư vốn đã khó khăn lại càng mang tính tùy tiện Một phần lớn lực lượng lao động đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tản mạn, sản xuất tự phát, đời sống hết

Trang 36

sức bấp bênh Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động đồng bào dân tộc thiểu số, định canh, định cư, xây dựng vùng kinh tế mới của Yên Bái trong thời

kỳ này không đạt được bước tiến nào, khiến cho bức tranh về đời sống, việc làm với những đối tượng lao động này hết sức ảm đạm

Xét việc làm của cán bộ công nhân viên nhà nước, lực lượng vũ trang tuy

có tính ổn định theo thời gian nhưng với biên chế đông, khả năng chi trả tiền lương, phụ cấp của Nhà nước hạn chế nên đời sống của cán bộ, công chức rất bấp bênh, căng thẳng không đảm bảo được mức sống tối thiểu

Trong suốt những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ XX người lao động gặp phải rất nhiều khó khăn, thậm chí là đói kém Vì vậy cũng giống như bối cảnh chung của cả nước, tỉnh lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng Nguyên nhân dẫn đến tình hình trên thứ nhất là do trên 80% người lao động tại Yên Bái dựa vào nông nghiệp, phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết

Cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp thủ tiêu động lực sản xuất nên giải quyết việc làm hoàn toàn dựa vào chỉ tiêu, pháp lệnh, áp đặt của Nhà nước Người lao động thì trông chờ vào chính quyền địa phương còn chính quyền địa phương thì trông trờ vào Nhà nước Động lực sản xuất bị kìm hãm nên người lao động và chính chính quyền địa phương cũng bị bó buộc bởi cơ chế nên hầu như ít có việc làm mới được tạo ra

Nguyên nhân thứ hai là do tiềm lực kinh tế của Hoàng Liên Sơn là tỉnh miền núi nghèo, tích luỹ từ nội bộ thấp hầu như trông chờ vào ngân sách Nhà nước Điều kiện địa hình của tỉnh phức tạp, chia cắt, trải rộng và dài ảnh hưởng lớn đến giao thông, vận chuyển hàng hóa Trong khi đó hậu quả của cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 chưa khắc phục được nhiều, khó khăn chồng chất khó khăn

Thứ ba là do sự yếu kém trong công tác lãnh đạo và quản lý kinh tế - xã hội của các cấp chính quyền địa phương Công tác giải quyết việc làm chưa mang tính xã hội hóa, việc nâng cao ý thức tự giải quyết việc làm của người lao động chưa được đặt ra Song nguyên nhân chủ yếu là do chính sách kinh tế tập trung, bao cấp của cả nước thời kỳ trước đổi mới đã thủ tiêu năng lực cạnh tranh,

Trang 37

động lực sáng tạo của người lao động, kìm hãm sức sản xuất, là sức cản chính trong công tác tạo và giải quyết việc làm

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng chủ trương đổi mới toàn diện đất nước Vấn đề giải quyết việc làm được xác định: “Nhà nước cố gắng tạo thêm việc làm và có chính sách để người lao động tự tạo ra việc làm”[59,tr87,88] Quá trình chuyển biến kinh tế trong thời kỳ đổi mới cơ chế đã tác động trực tiếp và là thử thách gay gắt đối với toàn bộ kinh tế xã hội của Hoàng Liên Sơn Năm 1987 Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hoàng Liên Sơn đã đưa ra

ý kiến đóng góp cho 12 biện pháp của "Chính sách tinh giảm biên chế quản lý Nhà nước, quản lý sản xuất, kinh doanh, quản lý xí nghiệp" do Trung ương ban

hành nhằm tạo sự chuyển đổi cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lao động mới dôi dư của địa phương Cùng với việc thực hiện Nghị quyết 10 (Khoán 10) năm 1988 của Bộ Chính trị, Tỉnh uỷ Hoàng Liên Sơn đã ban hành Nghị quyết 02 tập trung chỉ đạo cuộc vận động định canh, định cư nhằm ổn định đời sống cho

bộ phận không nhỏ đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao

Đến cuối năm 1989 sau Nghị quyết 16-NQ/TW, Quyết định số 176/HĐBT Nghị quyết số 109 và Quyết định số 111/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về sắp xếp lại tổ chức, tinh giảm biên chế, xắp xếp lại lao động dôi dư kể cả trong và ngoài khu vực hành chính sự nghiệp, Hoàng Liên Sơn đã tiến hành rà soát, xắp xếp lại trên phạm vi toàn tỉnh

Vơi những chủ trương mới, tỉnh đã có một số biện pháp để tổ chức giải quyết việc làm cho người lao động dù chưa hoàn toàn hiệu quả nhưng cũng bắt đầu tạo ra những chuyển biến tích cực Với nguồn đất rừng và đất nông nghiệp chưa được khai thác sử dụng còn rất dồi dào tỉnh bắt đầu thực hiện giao đất giao rừng với cơ chế khoán sản phẩm cho hộ các hộ dân Bằng biện pháp này tỉnh đã vừa có thể tận dụng, phát huy được lợi thế sản xuất nông - lâm nghiệp vừa có thể tạo ra những việc làm mới cho một bộ phận không nhỏ lao động bị tinh giản biên chế trong khu vực kinh tế Nhà nước dịch chuyển sang Thông qua nguồn vốn dự

án trồng rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà, sông Chảy của Trung ương, tỉnh còn đầu tư hàng tỷ đồng vào việc trồng rừng, tạo phương hướng sản xuất mới

Trang 38

cho đồng bào các dân tộc vùng cao gắn với công tác định canh, định cư Người lao động bắt đầu hoàn toàn có quyền chủ động trong sản xuất, kinh doanh tạo ra động lực sản xuất Số lao động được giải quyết và tự giải quyết việc làm mới trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp của tỉnh tăng nhanh chóng, giảm được phần nào áp lực trong đời sống xã hội

Bên cạnh đó một bộ phận lớn người lao động nhanh nhạy đã tự xin ra khỏi

cơ sở sản xuất thuộc kinh tế nhà nước, chủ động tạo lập quan hệ sản xuất, kinh doanh, tự giải quyết phần nào lao động dôi dư Sản xuất công nghiệp bị biến động dữ dội vào cuối những năm 80 khi bước vào chuyển đổi cơ chế, trải qua nhiều đợt sắp xếp, tổ chức lại, số cơ sở quốc doanh đã giảm đi 23,8%, cơ sở ngoài quốc doanh tăng 7% Số lao động trong các cơ sở quốc doanh sụt giảm nhanh chóng và một phần không nhỏ cán bộ, nhân viên, lao động chuyển sang hoạt động ở các khu vực kinh tế khác

Tuy nhiên công tác giải quyết, xắp xếp việc làm lại cho người lao động còn nhiều lúng túng do bộ máy hành chính cồng kềnh, nặng nề, cán bộ chuyên trách quản lý về lao động và việc làm quá ít, trình độ còn hạn chế trong khi địa bàn lại quá rộng, giao thông, đi lại khó khăn

Việc thực hiện đổi mới sản xuất công nghiệp gắn liền với tổ chức sắp xếp lại, đã tập trung rà soát và giải thể một số xí nghiệp gắn với giải quyết số lao động dôi dư Tỉnh đã thực hiện cơ chế quản lý mới, tạo điều kiện thúc đẩy một số xí nghiệp, xưởng sản xuất tiểu thủ công nghiệp vươn lên với một số sản phẩm mới là thế mạnh của địa phương như sản xuất gạch ngói, cao lanh, đồ gỗ gia dụng v.v Nhiều việc làm mới theo đó bắt đầu được tạo ra, giải quyết khá nhiều công ăn việc làm cho người lao động dôi dư do xắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước

Việc đổi mới cơ chế từ tập trung, bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường đối với tỉnh đã có tác dụng giải phóng năng lực sản xuất của người lao động, phát huy tính tự chủ của doanh nghiệp vươn lên với hiệu quả kinh tế thiết thực Các doanh nghiệp cũng thận trọng nắm bắt thị trường, bắt đầu thực hiện cơ chế giá thị trường phù hợp với tình hình địa phương vì vậy đã khắc phục được những khó khăn làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống Người lao động trong các

Trang 39

doanh nghiệp này cũng ổn định tâm lý, yên tâm lao động và cống hiến, đó cũng

là yếu tố rất quan trọng thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng việc làm

Từ năm 1989 trở đi với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, tỉnh

đã tổ chức một số trung tâm dạy nghề, hướng nghiệp, bước đầu tạo thêm việc làm cho một số lao động dôi dư và những người mới bước vào độ tuổi lao động

Tuy nhiên nhìn chung đời sống người lao động trước năm 1991 ở tỉnh Hoàng Liên Sơn còn rất nhiều khó khăn Những biến động mạnh mẽ của lao động trong khối nhà nước do tinh giản biên chế đòi hỏi cần có biện pháp xắp xếp, tổ chức và tạo việc làm mới cho lao động dôi dư

Người lao động ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, nghèo nàn, lạc hậu, hầu như không có việc làm ổn định do tập quán du canh, du cư Đối với những người lao động sống bằng tiền lương thì thu nhập quá thấp, những đối tượng hưởng chính sách xã hội cũng bị giảm sút trong khi

tỷ lệ phát triển dân số của tỉnh quá cao gây ra những áp lực lớn về chính sách xã hội với Yên Bái

Người lao động ở Yên Bái khoảng hơn 80% hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nhưng trước năm 1986 dưới mô hình kinh tế tập thể HTX, làm theo

kiểu cha chung không ai khóc, bình quân chủ nghĩa nên dù người lao động có

việc làm nhưng thực tế lại là thiếu việc làm trầm trọng Thời gian làm việc trong nông nghiệp, nông thôn được sử dụng có thể trên 183 ngày/năm nhưng hiệu quả không có, phân bố lao động nhiều nơi còn thiếu hợp lý

Vấn đề lao động, việc làm của Yên Bái đứng trước nhiều khó khăn và thách thức khi chuyển đổi cơ chế Vấn đề giải quyết việc làm chưa được các cấp chính quyền đặt ra, bản thân người lao động vẫn quen trông chờ vào cơ chế vì vậy không khuyến khích sử dụng lao động hiệu quả

Quá trình giao thời chuyển đổi cơ chế kinh tế từ tập trung quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường đã tác động trực tiếp, thử thách gay gắt đối với toàn

bộ kinh tế xã hội của Hoàng Liên Sơn trong thời kỳ mới

Từ những tiềm năng, thế mạnh cũng như những khó khăn, hạn chế về tự nhiên, khí hậu, dân cư, kinh tế xã hội của Yên Bái là cơ sở, điều kiện để Đảng

Trang 40

bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Yên Bái tìm ra những chính sách, hoạch định hướng đi, tổ chức thực hiện đúng đắn, phù hợp các mục tiêu trong công tác giải quyết việc làm, trong phát triển kinh tế xã hội lâu dài, bền vững của tỉnh

2.2 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và sự vận dụng vào thực tiễn của tỉnh Yên Bái trong giải quyết việc làm cho người lao động

2.2.1.Những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về giải quyết việc làm

Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, bên cạnh những thành tựu nổi bật

về tăng trưởng và phát triển kinh tế, nước ta cũng nảy sinh những vấn đề phức tạp, nhất là vấn đề thất nghiệp ở thành thị, thiếu việc làm ở nông thôn Trước thực trạng của nền kinh tế cũng như của cơ cấu lao động đang chuyển đổi mạnh

mẽ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã nghiên cứu trình Chính phủ Đề án

về giải quyết việc làm và ngày 11/4/1992 Trên cơ sở đó Nghị quyết số

120/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về “Chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong các năm tới” được ban hành Nghị quyết đã đánh

dấu bước đột phá ngoạn mục, đổi mới toàn diện trong lĩnh vực lao động, việc làm phù hợp với cơ chế thị trường

Theo đó Quỹ Quốc gia về việc làm đã được thành lập với nhiều nguồn khác nhau, giúp người thất nghiệp ở thành thị, thiếu việc làm ở nông thôn và nhóm xã hội yếu thế có cơ hội tiếp cận về vốn, tự tạo và tìm kiếm việc làm trong

cơ chế thị trường Đây cũng là cơ sở pháp lý và là động lực mạnh mẽ để triển khai hơn 66.000 dự án nhằm khai thác mọi nguồn lực tạo việc làm cho người lao động đặc biệt là thông qua Quỹ Quốc gia hỗ trợ giải quyết việc làm trên phạm vi

cả nước Nghị quyết 120/HĐBT trở thành “bà đỡ” trong cơ chế thị trường giúp người thất nghiệp ở thành thị, thiếu việc làm ở nông thôn và nhóm xã hội yếu thế

có cơ hội tự tạo và tìm kiếm việc làm trong cơ chế thị trường

Đại hội Đảng toàn quốc lần VII (1991) đã đưa ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới Lần đầu tiên Đảng đã đưa ra phương hướng cơ bản

và toàn diện về giải quyết việc làm, đó cũng được coi là một trong những chiến lược góp phần vào thực hiện mục tiêu của Cương lĩnh là dân giàu nước mạnh,

Ngày đăng: 14/10/2016, 15:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Lâm Ái (2003), Phát triển nguồn lao động thông qua giáo dục và đào tạo: kinh nghiệm Đông Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn lao động thông qua giáo dục và đào tạo: kinh nghiệm Đông Á
Tác giả: Lê Thị Lâm Ái
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
2. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái (1996), Văn kiện Đại hội Đảng Bộ Tỉnh lần thứ XIV, Lưu tại Tỉnh ủy Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng Bộ Tỉnh lần thứ XIV
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái
Năm: 1996
3. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái (2001), Văn kiện Đại hội Đảng Bộ Tỉnh lần thứ XV, Lưu tại Tỉnh ủy Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng Bộ Tỉnh lần thứ XV
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái
Năm: 2001
4. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái (2006), Văn kiện Đại hội Đảng Bộ Tỉnh lần thứ XVI, Lưu tại Tỉnh ủy Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng Bộ Tỉnh lần thứ XVI
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái
Năm: 2006
5. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái (2010), Văn kiện Đại hội Đảng Bộ Tỉnh lần thứ XVII, Lưu tại Tỉnh ủy Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng Bộ Tỉnh lần thứ XVII
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái
Năm: 2010
6. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái, Lịch sử Đảng bộ Yên bái Tập I (1930 - 1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Yên bái Tập I (1930 - 1975)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
7. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái, Lịch sử Đảng bộ Yên bái Tập II (1975 - 2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Yên bái Tập II (1975 - 2005)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
8. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái, Nghị quyết 03 ngày 15 tháng 3 năm 1993,về Tiếp tục đổi mới và phát triển nông - lâm nghiệp toàn diện, xây dựng nông thôn mới đến năm 2000, Lưu tại Tỉnh ủy Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới và phát triển nông - lâm nghiệp toàn diện, xây dựng nông thôn mới đến năm 2000
9. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (1930-2005), Nxb CTQG, Hà Nội 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (1930-2005)
Nhà XB: Nxb CTQG
10. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Tỉnh Yên Bái, Tổng điều tra dân số và nhà ở Yên Bái năm 2009 kết quả điều tra toàn bộ, Lưu tại Sở Lao động - Thương Binh - Xã hội tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Yên Bái năm 2009 kết quả điều tra toàn bộ
12. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Chỉ thị số 04CT/TU ngày 02 tháng 5 năm 1992 “Về một số nhiệm vụ cấp bách trong đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, Lưu tại Tỉnh ủy Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số nhiệm vụ cấp bách trong đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp
13. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (1999), Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao động ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao động ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và xã hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
14. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2001), Số liệu điều tra Lao động - Việc làm 2000, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu điều tra Lao động - Việc làm 2000
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2001
15. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2002), Số liệu điều tra Lao động - Việc làm 2001, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu điều tra Lao động - Việc làm 2001
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2002
16. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2003), Số liệu điều tra Lao động - Việc làm 2002, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu điều tra Lao động - Việc làm 2002
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2003
17. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2004), Số liệu điều tra Lao động - Việc làm 2003, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu điều tra Lao động - Việc làm 2003
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2004
18. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2005), Số liệu điều tra Lao động - Việc làm 2004, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu điều tra Lao động - Việc làm 2004
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2005
19. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2006), Số liệu điều tra Lao động - Việc làm 2005, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu điều tra Lao động - Việc làm 2005
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2006
153. Website Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai, http://www.laocai.gov.vn/ubnd- laocai/4/469/38156/169129/Gioi-thieu-ve-tinh-Lao-Cai-/Dan-so--dan-toc--don-vi-hanh-chinh.aspx Link
154. Website Cổng thông tin điện tử tỉnh Yên Bái, http://www.yenbai.gov.vn/vi/pages/chitietvitridialy.aspx Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Lao động ở Yên Bái  thuộc các đơn vị hành chính sự nghiệp trước và sau khi - Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng 2.1 Lao động ở Yên Bái thuộc các đơn vị hành chính sự nghiệp trước và sau khi (Trang 45)
Bảng 3.1: Tổng số lao động được giải quyết việc làm mới ở Yên Bái  giai đoạn 2001- 2010 - Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng 3.1 Tổng số lao động được giải quyết việc làm mới ở Yên Bái giai đoạn 2001- 2010 (Trang 90)
Bảng 3.2 : Số lao động được giải quyết việc làm mới mỗi năm thuộc nhóm ngành - Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng 3.2 Số lao động được giải quyết việc làm mới mỗi năm thuộc nhóm ngành (Trang 92)
Bảng 3.3: Số lao động được tạo việc làm mới thuộc nhóm ngành công nghiệp - dịch vụ - Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng 3.3 Số lao động được tạo việc làm mới thuộc nhóm ngành công nghiệp - dịch vụ (Trang 94)
Bảng 3.4 : Số lao động được tạo việc làm mới trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, - Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng 3.4 Số lao động được tạo việc làm mới trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, (Trang 95)
Bảng 3.6: Số trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và số học sinh, sinh viên - Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng 3.6 Số trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và số học sinh, sinh viên (Trang 103)
Bảng 3.9: Kết quả XKLĐ của tỉnh Yên Bái  chia theo khu vực - Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng 3.9 Kết quả XKLĐ của tỉnh Yên Bái chia theo khu vực (Trang 114)
Bảng 3.10: Lao động Yên Bái cung ứng đi tỉnh ngoài giai đoạn 2001-2010 - Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng 3.10 Lao động Yên Bái cung ứng đi tỉnh ngoài giai đoạn 2001-2010 (Trang 118)
Bảng phụ lục 1:  Thu nhập bình quân người/tháng của lao động Yên Bái trong các - Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng ph ụ lục 1: Thu nhập bình quân người/tháng của lao động Yên Bái trong các (Trang 174)
Bảng phụ lục 4: Số lao động trong các doanh nghiệp đang hoạt động ở Yên Bái - Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng ph ụ lục 4: Số lao động trong các doanh nghiệp đang hoạt động ở Yên Bái (Trang 175)
Bảng phụ lục 5: Công nhân viên chức nhà nước do địa phương (Yên Bái)  quản lý - Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010
Bảng ph ụ lục 5: Công nhân viên chức nhà nước do địa phương (Yên Bái) quản lý (Trang 177)
4.3. Hình thức, thời gian, nội dung đào tạo - Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010
4.3. Hình thức, thời gian, nội dung đào tạo (Trang 179)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w