I.GIỚI THIỆU CHUNG: Khủng long là một siêu bò sát khổng lồ, chúng đã từng thống lĩnh hệ sinh thái mặt đất trong khoảng 180 triệu năm tồn tại từ kỉ Triat đến Jura và kết thúc ở Kreta v
Trang 4Nội Dung:
I Giới thiệu chung.
II Khủng long là gì?
III Nguồn gốc.
IV Phân loại.
V Cấu tạo.
VI Khả năng của khủng long.
VII Những điều kì thú về khủng long.
Trang 6I.GIỚI THIỆU CHUNG:
Khủng long là một siêu bò sát khổng lồ,
chúng đã từng thống lĩnh hệ sinh thái mặt đất trong khoảng 180 triệu năm (tồn tại từ kỉ Triat đến Jura và kết thúc ở Kreta) và chúng đã phải hứng chịu một cuộc tuyệt chủng lớn
Khi khủng long mới được phát hiện, người ta háo hức muốn biết về chúng Do hiểu biết còn hạn chế, chúng được minh họa như những con
“thằn lằn khổng lồ” đi bằng 4 chân một cách nặng nề.
Trang 7 Trong bất kì thời đại nào cũng vậy, khủng
long cũng chiếm một phần không nhỏ trong tri thức, văn hóa của loài người và để lại
cho con người những cảm xúc đặc biệt:
kinh ngạc, sợ hãi nhưng thích thú, kích
thích trí tò mò và tưởng tượng của loài
người về loài siêu bò sát khổng lồ này.
Trang 8II.KHỦNG LONG LÀ GÌ?
Theo nghĩa Hán Việt khủng long có nghĩa là con rồng khủng khiếp
Dinosaure – theo từ ngữ quốc tế là con “thằn lằn khủng khiếp” Deinos có
nghĩa là khủng khiếp, sauros có nghĩa là thằn lằn
Tên của khủng long được đặt bởi Richart Owen một bác sĩ, một nhà cổ sinh vật học người Anh vào năm 1842 dựa trên một nhóm hóa thạch do Gideon Mantell tìm thấy vào năm 1825
Trang 9 Ngày nay, hóa thạch của chúng được tìm thấy ở khắp mọi nơi trên thế giới từ
châu Aâu, Mỹ, Á, Phi đến châu Nam Cực
Theo thống kê, hiện nay có khoảng 250 loài khủng long (tuy nhiên một số cuốn
sách viết là hơn 600 loài)
Loài khủng long có cái tên dài nhất là
Micropachyphalosaurus lại là con khủng
long có kích thước bé bằng con mèo, ăn cỏ, đi bằng hai chân.
Trang 10- Năm 1992, ở Argentina phát hiện một chi thuộc phân bộ Thoropoda, có niên đại 228
triệu năm trước (cuối kỉ Triat).
Eoraptor
Trang 11III.NGUỒN GỐC :
Kỉ Triat (hay kỉ Tam Điệp) mở đầu cho đại
Trung Sinh, bắt đầu cách đây 245 triệu năm đến 205 triệu năm
Chu kì Hecxini đã vào pha cuối cùng: núi non đã ổn định và ngoại lực bắt đầu bào
mòn địa hình
Khí hậu trên Trái Đất có hai loại: khí hậu
nhiệt đới nóng ẩm ở dọc hai đường xích đạo và khí hậu cận nhiệt nóng khô ở các phần khác của siêu lục địa Pangea
Pangea dần dần tách ra thành lục địa phía Bắc là Laurasia, lục địa phía Nam là
Gondwana
Trang 12 Lúc này biển tiến sâu vào lục địa
tạo điều kiện cho các sinh vật như cá và các động vật thân mềm phát triển
Đáng chú ý là loài ốc Tiễn thạch còn sót lại trong biển, hình dáng biến đổi từ thon dài đến cuộn tròn lại.
Ở trên cạn, vào cuối kỉ Triat còn xuất hiện loài động vật có vú đầu tiên tiến hóa từ loài bò sát răng thú.
Trang 13 Các cây hạt trần lá kim đã bắt đầu phát triển mạnh cùng với sự xuất hiện những cây tuế đầu tiên làm cho thế
giới thực vật càng đa dạng, phong phú hơn, chuẩn bị nguồn thức ăn dồi dào
cho sự phát triển của loài bò sát khổng lồ ở kỉ Jura
Đến kỉ Jura cách đây từ 205 triệu
năm đến 135 triệu năm, biển tiến vào
các lục địa và khí hậu toàn Trái Đất lại nóng ẩm ở khắp mọi nơi
Trang 14 Các loài bò sát có mặt ở khắp mọi nơi và tiến hóa thành loài bò sát khổng lồ
chiếm lĩnh không chừa nơi nào: dưới nước, trên cạn, và trên không trung
Bên dưới các lớp nước biển loài thằn
lằn cá đã biến mất, nhưỡng chỗ cho các loài bò sát khổng lồ như con Platycarpus
Trên cạn là nhiều loài bò sát hình dáng
kì lạ còn gọi là khủng long, gồm gần 250 loài và có đủ mọi kích thước
Trang 15 Các loài khủng long tồn tại từ kỉ Triat
đến kỉ Jura và kết thúc ở kỉ Kreta vì thế đại Trung sinh còn gọi là “đại khủng long”, kéo dài đến 180 triệu năm
Nếu không có biến cố lớn cách đây 65 triệu năm thì có lẽ chúng vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay?
Lịch sử tiến hóa của loài khủng long
thường được các nhà cổ sinh học phân ra làm 3 thời kì:
Trang 16III.NGUỒN GỐC :
1 Vào kỉ Triat, các loài bò sát cổ
Thecodonte cạnh tranh sinh tồn
quyết liệt với các loài bò sát răng thú Therapside
Trang 17III.NGUỒN GỐC :
2 Vào kỉ Jura, bò sát cổ nhờ có máu
nóng đã lợi dụng sự biến đổi khí hậu trở nên nóng ẩm đồng nhất trên
toàn thế giới Sự vắng mặt của bò sát răng thú và sự phát triển đa
dạng của các cây hạt trần, các
cây tuế, đã tiến hóa đa dạng với
đủ mọi kích thước từ bé đến lớn và loại bỏ dần dần thằn lằn cổ dài ăn cỏ (Sauropode) có máu lạnh.
Trang 18III.NGUỒN GỐC :
• 3 Đến kỉ Kreta, còn gọi là kỉ Phấn
Trắng, cách đây 135 triệu năm đến
60 năm triệu năm, biển Tethys tách
siêu lục địa Pangea ra làm hai lục
địa cách nhau bởi eo biển hẹp: lục địa Laurasia gồm Bắc Mỹ, châu Aâu
và châu Á ngày nay nằm ở phía Bắc và lục địa Gondwana gồm Nam Mỹ, Châu Phi, Australia, châu Nam Cực
và tiểu lục địa Ấn Độ
Trang 19III.NGUỒN GỐC :
Trên lục địa Gondwana, khí hậu ôn
hòa, ấm áp mà ngay ở đáy biển sâu cũng ấm áp rất thuận lợi cả cho sự phát triển của các loài bò sát có
máu lạnh nên khủng long phát triển rất thuận lợi.
Phần lớn với kích thước khổng lồ từ con Diplodocus có cái cổ dài và
toàn thân dài 21m, cao 8m nặng 30 tấn, con Triceratops có 3 sừng, dài
9m, nặng 5 tấn.
Trang 20III.NGUỒN GỐC :
Trên lục địa rộng lớn, khí hậu có khô khan hơn, có nhiều hoang mạc nằm sâu trong lục địa, ở đó thỉnh thoảng có những trận bão cát dữ dội vùi lấp những con khủng long chậm chân dưới lớp cát dày, biến
chúng thành các hóa thạch được bảo
tồn đến tận ngày nay
Tại đây phát triển các loài bò sát chạy như Velociraptor và Oviraptor có kích
thước nhỏ hơn, thân dài từ 3m đến hơn 10
m, sống bầy đàn
Trang 21Con Diplodocus Con Pteranodon
Trang 22Con Triceratops Con Pteranodon
Trang 23• Đến cuối kỉ
Creta còn xuất
hiện thêm loài bò
có con dài đến
13m, có cấu tạo
bộ răng chủ yếu
để ăn cỏ cây
Con Hadro sau
rus
Trang 25IV.PHÂN LOẠI:
• Căn cứ vào cách đi đứng và sinh hoạt
các nhà cổ sinh đã phân chia khủng long
ra làm nhiều loại:
• III.1/ Khủng long ăn thịt (Carnosaurus và
Coelusosaurus)
Là các loài khủng long đầu tiên chiếm lĩnh đất liền Con Ornitholeste tuy bé nhỏ
chỉ bằng con gà tây nhưng săn bắt côn
trùng và tranh cướp rất nhanh thịt của các con khác săn bắt được
Trang 26Con Ornith
oleste
Trang 27• Con Allosaurus và
con Spinosaurus
có thân dài 12m,
đứng cao đến 5m
chuyên săn bắt
các loài khủng
long ăn cỏ khổng
lồ
Con Allosaurus
Trang 28 Cũng có những
con chuyên ăn thịt
các xác chết như
con Ceratosaurus.
Các khủng long ăn
thịt có hai chi sau
rất phát triển nên
chúng thường đi
bằng 2 chân, 2 chi
trước có nhiều
vuốt nhọn và hàm
răng sắc khỏe giúp
chúng săn bắt mồi
dễ dàng
Ceratosaurus
Trang 29• Trong các bang
Colorado, Uominh,
Uta, Techdat, mà
riêng ở bang Techdat
diện tích có nhiều
dấu chân khủng long
lên tới 100 000 km2
(bằng 1/5 diện tích
của bang), nhà khảo
cổ Rolang (Roland
Bird) đã gửi về lưu trữ
tại Viện bảo tàng tự
nhiên Niu Yooc trong
những năm 1930 rất
nhiều phim chụp, bản
vẽ và những ghi chép
tỉ mỉ của ông về các
dấu chân đó Dấu chân khủng long ở Montana, nước Mỹ
Trang 30IV.2:Khủng long ăn cỏ (sauropode)
Là loài khủng long có kích thước to lớn nhất và có hình dạng kì lạ nhất trong thế giới khủng long
Vì ăn cây cỏ, chúng cần có một bộ máy tiêu hóa dài hơn loài ăn thịt nên thân hình
chúng hết sức đồ sộ, nặng nề hàng chục tấn Chúng thích ngâm mình dưới nước hơn ở cạn, vì nước nâng đỡ thân hình chúng, giúp chúng trở nên linh hoạt hơn.
Con Brachiosaurus có đôi vai khỏe và cái cổ dài, giúp nó có thể dễ dàng ăn lá trên
cây cao 12m như kiểu các con hươu cao cổ ngày nay
Trang 31Con Brachiosaurus Con Ultrasaurus
Trang 32IV.3/Khủng long bay (Pterosaurus)
Là loài khủng long có nếp da sọc sườn rất mỏng được giăng rộng ra bằng ngón thứ tư của chi trước phát triển rất dài
Chúng chuyên săn bắt các loài sâu bọ
trên cây, bay chuyền từ cành này sang cành khác, bám chặt được vào thân cây nhờ những ngón dài có móng lớn
Những thằn lằn bay đầu tiên như con
Rhamphorynchus có đuôi dài và các
xương cánh ngắn
Trang 33IV.3/Khuûng long bay (Pterosaurus)
Con Rhamphorynchus
Trang 34IV.3/Khủng long bay (Pterosaurus)
có đuôi ngắn
hơn và xương
cánh rất phát
triển
Con Pterodactylus
Trang 35IV.3/Khuûng long bay (Pterosaurus)
Con Ctenochasma
Trang 37IV.4/Khủng long hông thằn lằn:
gồm 2 phân bộ
• IV.4.a/Khủng long chân thú:
• Gồm tất cả các loài khủng long
ăn thịt Chúng có thể có lông vũ và những loài chân thú nhỏ còn là tổ tiên của loài chim.
• IV.4.b/Khủng long dạng chân thằn lằn:
• Gồm các loài ăn thực vật phát
triển mạnh vào kỉ Jura, thân hình đồ sộ và có cổ dài.
Trang 38IV.4/Khuûng long hoâng thaèn laèn
Kieåu Hoâng Thaèn Laèn
Trang 39IV.5/Khủng long hông chim:
Aên thực vật sống ở kỉ Kreta, đi bằng 4 chân, có vành xương ở cổ, có sừng Trong phân bộ này chứa cận bộ khủng long
hông chim (Omithopoda), bao gồm những loài khủng long ăn thực vật sinh sống trong
kỉ Phấn trắng, đi được bằng 4 chân lẫn 2 chân sau
Sống ở kỉ Jura, có bộ giáp long nặng nề tạo bởi các tấm xương và gai hoặc có hai hàng xương dựng đứng trên lưng, đuôi có chùy hoặc gai
Trang 40IV.5/Khuûng long hoâng chim:
Kieåu Hoâng Chim
Trang 42V.2/ Bộ xương:
Trang 44V.2/ Bộ xương:
V.2.a/ Cột sống:
• - Phần cổ: gồm nhiều đốt, gồm có 8
đốt
• - Phần ngực gồm nhiều đốt và thay đổi tùy loài
• - Phần thắt lưng cũng có số đốt sống
thay đổi, mỗi đốt có mang xương sườn
Trang 46V.2.c/ Xương chi:
• - Đai vai ở mỗi bên gồm xương quạ, trước quạ và xương bả Thường có thêm xương đòn và xương gian đòn hình chữ thập
• - Đai hông: ở mỗi bên gồm xương
hông, xương háng và xương ngồi Hai
xương háng và hai xương ngồi gắn với nhau thành tiếp hợp Trung gian hai tiếp hợp là lỗ háng ngồi
Trang 47Hình: Đai vai (trái) và đai hông (phải)
Trang 48V.3/ Hệ cơ:
• Hệ cơ phân hóa mạnh, thành
nhiều cơ riêng biệt Cấu tạo phân đốt của cơ đã mờ đi nhiều, trừ cơ đuôi Cơ liên sườn khá phát triển,
cơ da bám vào vảy bì đã xuất
hiện nhưng còn kém phát triển.
Trang 49V.4/ Hệ thần kinh:
• - Bán cầu não lớn, chủ yếu ở vòm não
Nóc não có chất thần kinh chính thức làm
thành võm não mới.
• - Thùy đỉnh và thùy khứu giác lớn, giúp
cho cấu tạo của mắt: có nhân mắt và màng võng.
• - Tiểu não rất phát triển, hành tủy uốn
cong.
• - Có 12 đôi dây thần kinh não Tuy nhiên đôi XII còn nằm ngoài hộp sọ và đôi dây XI chưa tách khỏi dây X.
• - Tủy sống chạy dọc suốt cột sống, đã có hai phần phình và các đôi dây thần kinh tủy làm thành đám rối thần kinh điển hình ở vùng vai và vùng hông.
Trang 50Hình não bộ Hình trên, trái: Nhìn trên; Hình trên, phải: Nhìn dưới;
Hình dưới: Nhìn bên
Trang 51V.5 Giác quan:
• V.5.a/ Thị giác:
• - Có mí trên, mí dưới và màng nháy
• - Có một vòng tấm xương nhỏ trong màng cứng,
một tấm lược là một mấu nhiều mạch máu đi từ thành sau của thủy tinh thể qua buồng sau thủy tinh đến màng mạch.
• - Mắt được điều tiết nhờ cơ vân nằm trong thể
mí.
• V.5.b/ Thính giác:
• Có ốc tai lớn, có màng nhĩ và khoang tai giữa,
âm thanh được truyền vào tai trong nhờ xương
hàm dưới.
• V.5.c/ Khứu giác:
• Trong khoang mũi có xương xoăn chia khoang
mũi ra thành ngăn hô hấp ở dưới và ngăn khứu
giác ở trên
Trang 52V.6/ Cơ quan tiêu hóa:
Khoang miệng: giới hạn rõ với hầu
• Lưỡi: phát triển, có nhiều loài lưỡi có thể thò ra ngoài
• Răng: tùy từng loài mà có số răng khác nhau Loài khủng long ăn thịt thường có nhiều răng, răng sắc và nhọn Các loài ăn cỏ răng thường mòn.
• Thực quản: Tương đối dài
• Dạ dày: biệt lập rõ ràng với ruột, nối giữa thực quản và ruột.
• Ruột non: dài và có nhiều khúc, giới hạn giữa ruột non và ruột già là ruột thẳng, cuối cùng là
huyệt.
• Tuyến tiêu hóa: Gan lớn, có túi mật Tuyến tụy hình lá, dày, nằm ở trong khúc ruột tá Lá nách là thể màu đỏ, nằm ở phía sau dạ dày.
Trang 53V.7/ Hệ hô hấp:
Cơ quan hô hấp chủ yếu là phổi Mặt trong phổi có nhiều vách ngăn thành lỗ tổ ong làm diện tích mặt trong của phổi tăng lên
Đường hô hấp đã phân biệt rõ với
đường tiêu hóa Khe họng sau lưỡi, dẫn tới buồng thanh quản có sụn nhẫn và hai sụn hạt cau
Thở bằng lồng ngực nhờ cơ liên sườn làm nở, xẹp lồng ngực
Trang 54V.8/ Hệ tuần hoàn:
• V.8.a/ Tim:
• Có 3 ngăn (hai tâm nhĩ và một tâm
thất), tâm thất có vách ngăn
TIM VÀ CÁC MẠCH MÁU CHÍNH
Trang 55Thân động mạch xuất phát từ tim, chia
ra làm 3 nhánh:
• - Nhánh thứ nhất: Động mạch phổi, đi từ
nửa phải tâm thất (mang máu tĩnh mạch) tách ra hai động mạch phổi đi tới phổi
• - Nhánh thứ hai: đi từ nửa phải tâm thất
và mang máu tĩnh mạch, uốn sang bên
trái
• - Nhánh thứ ba: đi từ nửa trái tâm thất
mang máu động mạch, uốn sang bên
phải, phát cung chủ động mạch phải và động mạch cảnh Như vậy máu lên đầu là máu hoàn toàn đã oxy hóa
Trang 56HÌNH HỆ TUẦN HOÀN
Trang 57V.8.c/ Hệ tĩnh mạch:
Máu từ phần sau cơ thể về tim lần
lượt theo các tĩnh mạch sau đây:
•
• - Tĩnh mạch chậu nhận máu tĩnh mạch từ
tĩnh mạch đuôi, tĩnh mạch chân sau của đôi tĩnh mạch gánh thận, tập trung
thành tĩnh mạch bụng, rồi chuyển vào
tĩnh mạch chủ sau
• - Tĩnh mạch bụng nhận máu của nhiều
tĩnh mạch nội quan, trở thành tĩnh mạch cửa gan, vào gan phân mao quản thành hệ gánh gan, rồi tập trung lại thành tĩnh mạch gan, sau đó tập trung vào tĩnh
mạch chủ sau
•
Trang 58• - Tĩnh mạch chủ sau, sau khi nhận máu từ tĩnh mạch thận và tĩnh mạch gan đổ vào
xoang tĩnh mạch rồi vào tâm nhĩ phải.
• Máu ở trước cơ thể chuyển về tim theo các tĩnh mạch sau đây:
• - Máu tĩnh mạch ở đầu đổ vào hai tĩnh
• Tĩnh mạch phổi: Hai tĩnh mạch phổi đưa máu đã được oxy hóa từ phổi về tâm nhĩ trái.
Trang 59• Thận là hậu thận, có hình khối dài
bám vào vách lưng của vùng chậu Ống dẫn liệu hình thành mới từ gốc
ống dẫn tinh (ốngVonpho) Trung thận chỉ có giai đoạn phôi.
Trang 60V.10/ Hệ sinh dục:
• V.10.a/ Cơ quan sinh dục đực:
• Gồm 2 tinh hoàn cỡ lớn và hình dạng
thay đổi tùy loài như hình tròn, hình trứng, hình quả lê … Tinh hoàn phát ra nhiều ống nhỏ làm thành phụ tinh hoàn (hay mào
tinh), sau đó đổ vào ống dẫn tinh rồi đổ
vào xoang huyệt
• Cơ quan giao cấu là ngọc hành kép (hemipenis): Đó là hai túi rỗng, ở hai bên bờ khe huyệt: khi bị kích thích máu dồn tới làm túi cương lên và khi đó ngọc hành có thể lộn trái thò ra ngoài Ngọc hành có
rãnh để dẫn tinh dịch
Trang 61• Gồm 2 buồng trứng hình túi rỗng,
hẹp và xếp so le, ống dẫn trứng là ống Munle, ống dẫn trứng dài, đầu trên loe rộng thành phễu, mở vào khoang bụng, đầu dưới đổ vào
khoang huyệt.
Trang 62V.11/ Trứng và sự phát triển phôi:
Trứng khá lớn, chứa nhiều noãn hoàng, bảo đảm cho trứng trực tiếp phát triển
thành con không qua giai đoạn ấu trùng Trứng được bao bọc bằng vỏ dai bảo vệ trứng khỏi bị khô
Trong quá trình phát triển phôi hình
thành màng phôi đặc biệt, chính nhờ có các màng phôi này mà phôi phát triển
trực tiếp thành con không qua giai đoạn ấu trùng
Trang 63Hình Bốn giai đoạn phát triển màng phôi của nhóm có màng ối
Trang 65VI/ KHẢ NĂNG CỦA KHỦNG LONG
VI.1/ Về trí tuệ:
Khủng Long Thông Minh Như Thế Nào?
Khủng long thông minh nhất là con
Troodon, bằng cỡ một con chó to, não rất
lớn so với kích thước của nó Nó có thể chạy rất nhanh, rẽ ngoặt và chúi xuống để bắt
con mồi
Nhiều loài, ví dụ chi Velociraptor có trí
tuệ ngang với chim hiện đại và có những tư
duy, hành vi khá phức tạp
Trang 66VI.1/ Veà trí tueä:
Con Velociraptor
Trang 67V.2/ Về giác quan:
• Khủng long sỡ dĩ
vốn không có tai
nhưng có một số
khả năng đặc biệt
khác tùy loại
khủng long, ví dụ:
loài Velociraptor
Mongoliensis khứu
giác nhạy bén như
Kền Kền Con Velociraptor Mongoliensis
Trang 68Vậy khủng long liên lạc với nhau bằng cách nào?
• Nhiều loài Khủng Long mỏ vịt có một cấu trúc xương lớn trong đầu, có lẽ
dùng để khuếch đại âm thanh, có phần nào giống với thùng đàn ghita Các hành lang rỗng chứa
không khí trong cấu trúc này cho phép Khủng Long tạo ra các tiếng kêu trầm, bổng.