Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, đổi mới giáo dục đòi hỏi các tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên phải có những biện pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả cho hoạt đ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-
PHẠM THÀNH KHÁNH
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG PHONG TRÀO CHO SINH VIÊN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Phan Thanh Long, người
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Tâm lý – Giáo dục
trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, những người đã góp ý kiến quý báu
cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các bạn đồng nghiệp cùng các
đồng chí cán bộ Đoàn Thanh niên và sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm
Thái Bình, nơi tôi đang công tác đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp và khoá học
Và cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn đối với gia đình tôi, bạn bè,
những người đã luôn động viên, ủng hộ và giúp đỡ tôi trong quá trình tôi làm
luận văn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Đóng góp của luận văn 5
9 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG PHONG TRÀO CHO SINH VIÊN TRONG TRƯỜNG CAO ĐẲNG 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 12
1.2.1 Khái niệm tổ chức 12
1.2.2 Khái niệm HĐPT 12
1.2.3 Khái niệm tổ chức HĐPT 15
1.3 HĐPT với sự phát triển nhân cách cho sinh viên trong trường cao đẳng 16
1.3.1 Những đặc điểm cơ bản trong sự phát triển tâm lý của sinh viên 16
1.3.2 Vai trò của HĐPT đối với sự phát triển nhân cách của sinh viên 29
1.3.3 Nhiệm vụ của HĐPT 39
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức HĐPT trong trường đại học 40
1.4.1 Yêu cầu đổi mới giáo dục đại học liên quan đến HĐPT 40
1.4.2 Nhận thức của các lực lượng giáo dục 42
1.4.3 Năng lực của người tổ chức HĐPT 42
1.4.4 Nội dung chương trình của HĐPT 43
1.4.5 Hình thức tổ chức HĐPT 43
1.4.6 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của HĐPT 43
1.4.7 Các điều kiện để tổ chức HĐPT đạt hiệu quả 44
Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HĐPT CHO SINH VIÊN TRONG TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH 2.1 Mục đích, đối tượng, nội dung và phương pháp khảo sát 46
2.1.1 Mục đích khảo sát 46
2.1.2 Đối tượng khảo sát 46
2.1.3 Nội dung khảo sát 47
2.1.4 Tiêu chí đánh giá và thang đo 47
2.2 Vài nét về quá trình trưởng thành và phát triển của trường CĐSP TB 48
2.3 Thực trạng HĐPT cho sinh viên trường CĐSPTB 51
2.3.1 Đánh giá về mức độ tổ chức các HĐPT cho sinh viên trong trường CĐSPTB 52
2.3.2 Đánh giá về quy mô tổ chức các HĐPT cho SV trong trường CĐSPTB 59
2.3.3 Đánh giá về hình thức tổ chức HĐPT cho SV trong trường CĐSPTB 63
2.3.4 Thực trạng các lực lượng tổ chức HĐPT cho SV trong trường CĐSPTB 67
Trang 42.3.5 Tìm hiểu mức độ tham gia của SV vào các HĐPT do nhà trường tổ chức 69
2.4 Khảo sát thực trạng biện pháp tổ chức HĐPT cho SV trong trường CĐSPTB 71
2.4.1 Nhận thức của các lực lượng về tính cần thiết sử dụng biện pháp tổ chức 71 2.4.2 Đánh giá về mức độ sử dụng các biện pháp tổ chức HĐPT 75
2.4.3 Đánh giá về ưu, nhược điểm của các biện pháp tổ chức HĐPT trong trường CĐSPTB 77
2.4.4 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các biện pháp tổ chức HĐPT 78
2.5 Đánh giá chung thực trạng và nguyên nhân 80
2.5.1 Đánh giá chung về thực trạng 80
2.5.2 Nguyên nhân của thực trạng 81
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HĐPT CHO SINH VIÊN TRONG TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH 3.1 Những nguyên tắc xây dựng các biện pháp 83
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo thực hiện mục tiêu của giáo dục đại học 83
3.1.2 Nguyên tắc tổ chức HĐPT phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý SV 84
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo sự huy động các chủ thể cùng tham gia 84
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính xung kích, chủ động sáng tạo 85
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi của biện pháp tổ chức HĐPT 85
3.1.6 Đảm báo tính giáo dục cao 85
3.2 Đề xuất một số biện pháp tổ chức HĐPT cho sinh viên 86
3.2.1 Biện pháp 1: Tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng của sinh viên 86
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng nội dung, hình thức tổ chức hoạt động 88
3.2.3 Biện pháp 3: Chuẩn bị các điều kiện cho công tác tổ chức HĐPT 92
3.2.4 Biện pháp 4: Xây dựng quy chế khen thưởng cho sinh viên tích cực 93
3.2.5 Biện pháp 5: Bồi dưỡng, tập huấn năng lực cho cán bộ tổ chức HĐPT 95
3.2.6 Biện pháp 6: Tuyên truyền kế hoạch hoạt động đến các lực lượng 96
3.2.7 Biện pháp 7: Phát huy tính tích cực và chủ động của sinh viên 98
3.2.8 Biện pháp 8: Xã hội hoá HĐPT cho sinh viên 99
3.2.9 Biện pháp 9: Chương trình hoá, Đa dạng hoá hình thức tổ chức HĐPT 100
3.3 Khảo nghiệm các biện pháp tổ chức HĐPT 106
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 106
3.3.2 Nội dung khảo nghiệm 106
3.3.3 Đối tượng khảo nghiệm 106
3.3.4 Tiến trình khảo nghiệm 106
3.3.5 Kết quả khảo nghiệm 107
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I Kết luận 115
II Kiến nghị 116
1 Đối với trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình 116
2 Đối với các khoa, bộ môn 116
3 Đối với các lớp, chi đoàn, chi hội 117
4 Đối với cán bộ phong trào 117
5 Đối với giảng viên 117
6 Đối với sinh viên 117
Trang 5DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình 50
Bảng 2.1 Đánh giá về mức độ tổ chức các HĐPT 52
Biểu đồ 2.1 Đánh giá về quy mô các HĐPT tổ chức ở cấp trường 59
Biểu đồ 2.2 Đánh giá về quy mô các HĐPT tổ chức ở cấp khoa 61
Biểu đồ 2.3 Đánh giá về quy mô các HĐPT tổ chức ở cấp lớp 62
Biểu đồ 2.4 Đánh giá về tính phong phú của các HĐPT 64
Biểu đồ 2.5 Đánh giá về tính đơn điệu của các HĐPT 65
Biểu đồ 2.6 Đánh giá về thực trạng lực lượng tổ chức các HĐPT 67
Biểu đồ 2.7 Đánh giá về mức độ tham gia của sinh viên vào HĐPT 69
Biểu đồ 2.8 Đánh giá về tính cần thiết sử dụng các biện pháp tổ chức HĐPT 71
Biểu đồ 2.9 Đánh giá của CBPT về tính cần thiết sử dụng các biện pháp tổ chức 73
Biểu đồ 2.10 Đánh giá của SV về tính cần thiết sử dụng các biện pháp tổ chức 74
Biểu đồ 2.11 Đánh giá về mức độ sử dụng các biện pháp tổ chức HĐPT 75
Biểu đồ 3.1 Khảo nghiệm về tính phù hợp của các biện pháp 107
Biểu đồ 3.2 Đánh giá về tính hiệu quả của các biện pháp 109
Biểu đồ 3.3 Khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp 111
Bảng 3.1 Đánh giá về nội dung và cách thức thực hiện các biện pháp 112
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Ảnh 1: Thầy Hiệu trưởng trong lễ khai giảng năm học 2007 - 2008 Ảnh 2: Đại diện ĐTN trường nhận cớ lưu niệm của Tỉnh Đoàn Thái Bình Ảnh 3: Hoạt động của CLB khiêu vũ trong hội diễn văn nghệ 20/11/2008 Ảnh 4: Giải bóng đá sinh viên ( Tháng 10/2007)
Ảnh 5: Thầy, cô tham gia văn nghệ trong buổi giao lưu văn nghệ 20/11/2008 Ảnh 6: Các thầy phòng Đào tạo tham gia văn nghệ 20/11/2008
Ảnh 7: Tiết mục của Thầy, cô giáo trong giao lưu văn nghệ 20/11/2008 Ảnh 8: Văn nghệ chào mừng ngày 20/11/2008
Ảnh 9: Ảnh triển lãm tranh mùa thu do sinh viên tổ chức Ảnh 10: Triển lãm Mỹ thuật do sinh viên tổ chức Ảnh 10a: Sáng tác tranh với chủ đè " Khúc giao mùa" SV: Vũ Bình Nguyên Ảnh 10b: Sáng tác tranh với chủ đề " Khúc giao mùa" SV: Mai Tiến Bộ Ảnh 10c: Sáng tác tranh với chủ đề " Khúc giao mùa" SV: Nguyễn Ngọc Ảnh 10d: Văn nghệ trong chủ đề " Khúc giao mùa" Tháng 11/2008 Ảnh 11: Hoạt động văn nghệ chào mừng ngày thành lập ĐTNCS HCM 26/3/2009
Ảnh 12: Đêm giao lưu văn nghệ chào mừng ngày thành lập ĐTNCS HCM 26/3/2009
Ảnh 13: Sự hưởng ứng, động viên của Thầy, cô và tham gia của các em SV trong đêm chào mừng ngày thành lập ĐTNCS HCM 26/3/2009
Ảnh 14: Đội TNXK trường trong đêm liên hoan văn nghệ Lễ khai giảng năm học 2009 - 2010
Trang 6Ảnh 15: Lễ khai giảng năm học 2009 - 2010
Ảnh 16: Hoạt động văn nghệ chào mừng khai giảng năm học 2009 - 2010 do
có sự đóng góp của các lực lượng giáo dục và phải được tiến hành thông qua nhiều hoạt động Một số nhà nghiên cứu đã khẳng định: "Nhà trường ngày nay là nhà trường hoạt động…Phương pháp giáo dục bằng hoạt động…hoạt động cùng nhau, hoạt động hợp tác giữa thầy và trò, hoạt động hợp tác giữa trò - trò có một tác dụng lớn”
Sinh viên là những người đang học tập, nghiên cứu tại các trường cao đẳng, đại học Phần lớn các em sinh viên, học sinh đã và đang sinh hoạt tại các tổ chức Đoàn TNCSHCM, Hội học sinh, sinh viên trong trường học Trong những năm qua công tác Đoàn và phong trào thanh niên trường học đã có những chuyển biến tích cực, đạt kết quả tốt Tuy nhiên, hiện nay nhiều trường còn lúng túng trong việc đưa ra các mô hình hoạt động phù hợp, chưa đưa ra được các biện pháp
tổ chức hoạt động phong trào nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục trong trường Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình tiền thân là trường Trung cấp Sư phạm, ra đời tháng 10 - 1959 Đây là trường trung cấp chuyên nghiệp đầu tiên của tỉnh Nhiệm vụ của trường là: đào tạo giáo viên cấp 2, bồi dưỡng kiến thức văn hoá phổ thông cho cán bộ các ngành của tỉnh Hơn 50 năm xây dựng
và phát triển, nhà trường đã tích cực phấn đấu trở thành trung tâm đào tạo, bồi dưỡng văn hoá cho các cán bộ trong tỉnh, đã và đang góp phần tích cực vào sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Trang 7Bên cạnh việc giáo dục hành vi văn hoá, bồi dưỡng kiến thức cho sinh
viên, trong những năm qua tổ chức Đoàn trong Trường Cao đẳng Sư phạm
Thái Bình đã thường xuyên tổ chức các hoạt động phong trào thu hút nhiều
sinh viên tham gia Qua các hoạt động đã tạo nên môi trường sư phạm lành
mạnh, góp phần tích cực vào quá trình đổi mới công tác giáo dục, đào tạo của
nhà trường Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, đổi mới giáo
dục đòi hỏi các tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên phải có những biện
pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả cho hoạt động phong trào trong
trường Thực tế, những hoạt động phong trào của nhà trường mới chỉ tập
trung ở một số nội dung nhất định, hình thức còn đơn điệu, quy trình và cách
thức tổ chức còn hạn chế, dẫn đến tác dụng của các hoạt động này tới công tác
giáo dục đào tạo chưa nhiều Việc xây dựng và hoàn thiện các biện pháp tổ
chức hoạt động phong trào cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm
Thái Bình là hết sức cần thiết Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa
chọn đề tài: "Tổ chức hoạt động phong trào cho sinh viên trường Cao đẳng Sư
phạm Thái Bình" để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Hoàn thiện các biện pháp tổ chức HĐPT cho sinh viên trường Cao đẳng Sư
phạm Thái Bình, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục - đào tạo của nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Lý luận và thực tiễn tổ chức các HĐPT cho sinh viên trong trường Cao
đẳng sư phạm
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức HĐPT cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
4 Giả thuyết khoa học
HĐPT trong trường Cao đẳng Sư phạm bị chế ước và chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau Nếu thiết lập được các biện pháp tổ chức hợp lý, phát huy tốt các yếu tố tích cực, hạn chế, khắc phục những khó khăn trở ngại thì hiệu quả hoạt động HĐPT của sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm sẽ được nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hoá cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức HĐPT cho sinh viên trong trường đại học, cao đẳng
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng các biện pháp tổ chức HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
5.3 Hoàn thiện các biện pháp tổ chức HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình và tiến hành khảo nghiệm tính khả thi
và mức độ phù hợp của biện pháp này
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu nhằm hoàn thiện các biện pháp tổ chức HĐPT cho sinh viên của các đoàn thể, đặc biệt là Đoàn Thanh niên CSHCM trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đọc các tài liệu để phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các lý thuyết có liên quan nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn bản chất của vấn đề nghiên cứu, đồng thời sắp xếp chúng thành một hệ thống để hình thành giả thuyết khoa học định hướng cho quá trình nghiên cứu
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng các phương pháp này nhằm xem xét, phân tích các biện pháp, cách thức tổ chức HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, đảm bảo tính chân thực, khách quan của đối tượng nghiên cứu
Trang 8- Phương pháp điều tra: Sử dụng bộ phiếu câu hỏi để điều tra các đối
tượng là: Cán bộ quản lý, cán bộ tổ chức phong trào, giảng viên và sinh viên
các khoa, lớp Thông qua đó để khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức HĐPT
cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
- Phương pháp phỏng vấn: Trực tiếp trao đổi với đại diện: Ban giám
hiệu; Cán bộ đoàn thể; Lãnh đạo các bộ phận và giảng viên, sinh viên trong
trường để thấy rõ thực trạng các biện pháp tổ chức HĐPT cho sinh viên Đồng
thời, chỉ ra được những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức
HĐPT cho sinh viên trường CĐSPTB
- Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tham
khảo ý kiến của một số nhà tổ chức và chuyên gia nghiên cứu về cách thức tổ
chức HĐPT cho sinh viên trong trường đại học và cao đẳng, các nhà giáo dục
nhằm xây dựng đề cương nghiên cứu, xử lý số liệu, xây dựng biện pháp tổ
chức các HĐPT trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu hiệu quả
các HĐPT do nhà trường tổ chức cho sinh viên nhằm đánh giá, tổng kết kinh
nghiệm đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện các biện pháp tổ chức các
HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Trên cơ sở các báo cáo tổng kết
đánh giá hiệu quả HĐPT cho sinh viên tại trường Cao đẳng Sư phạm Thái
Bình trong 5 năm trở lại đây; Tham khảo ý kiến của đại diện Ban giám hiệu;
Cán bộ tổ chức HĐPT; Lãnh đạo các bộ phận và giảng viên, sinh viên nhà
trường trong công tác tổ chức HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư
phạm Thái Bình
7.3 Phương pháp xử lý số liệu
Chúng tôi sử dụng phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
để xử lý số liệu điều tra làm cơ sở cho các phân tích khoa học
8 Đóng góp của luận văn
Hoàn thiện hệ thống các biện pháp tổ chức HĐPT cho sinh viên của Đoàn thanh niên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường
9 Cấu trúc của luận văn
Mở đầu Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tổ chức HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng
Chương 2: Thực trạng tổ chức HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
Chương 3: Các biện pháp tổ chức HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
Kết luận và kiến nghị
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG PHONG TRÀO
CHO SINH VIÊN TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1.Các nghiên cứu ở nước ngoài
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền
đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người
Nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân
tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người
không ngừng tiến lên Ngày nay giáo dục đã trở thành một hoạt động được tổ
chức đặc biệt, đạt tới trình độ cao, có chương trình, kế hoạch, có nội dung,
phương pháp hiện đại, diễn ra theo một nhịp độ khẩn trương và đã trở thành
động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài người
Giáo dục có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống con người Mục
tiêu cuối cùng của giáo dục nhằm phát triển toàn diện nhân cách người được
giáo dục (học sinh, sinh viên) Sự phát triển toàn diện nhân cách đó bao hàm
sự phát triển về thể chất, tâm trí và năng lực thực tiễn Muốn đạt được mục
tiêu nêu trên thì giáo dục không chỉ khuôn gọn trong không gian trên giảng
đường mà phải mở rộng trong không gian xã hội, tổ chức HĐPT là để hướng
đến các yêu cầu đó Sinh viên không chỉ là khách thể mà cuối cùng phải là
chủ thể của quá trình giáo dục trong trường đại học, cao đẳng Việc giáo dục
không chỉ diễn ra trên lớp, mà còn phải thực hiện ở ngoài lớp, phải có phương
thức phối hợp của nhiều lực lượng giáo dục, thông qua các hình thức học tập,
lao động, vui chơi, giải trí, sinh hoạt ngoài trời, tham quan, du lịch, hoạt động
trong môi trường thiên nhiên, sinh hoạt tập thể…
Trong lịch sử giáo dục học đã từng có những lý luận và những quan điểm thừa nhận vai trò chủ đạo của giáo dục Nhà giáo dục Tiệp khắc vĩ đại Jan Amôt Cômenxki (thế kỷ XVII) đã nói: "Dù cho tấm gương có mờ mấy đi chăng nữa chưa chắc nó đã không phản chiếu được gì, dù cho cái bảng có sù
sì đến mấy chăng nữa, chưa chắc đã không viết được gì trên đó" Muốn phát triển một cách sáng tạo các tư tưởng giáo dục trong quá khứ, tiếp cận với các
tư tưởng giáo dục hiện đại, chúng ta cần kế thừa các thành tựu và kinh nghiệm giáo dục trong lịch sử giáo dục của nhân loại:
Arixittôt là thuỷ tổ của nhiều ngành khoa học hiện nay như: Toán học, sinh học, văn học, địa lý, thiên văn học, tâm lý học và giáo dục học Ông để lại cho nhân loại nhiều di sản giáo dục quý báu Lần đầu tiên trong lịch sử nhà trường Arixittôt khẳng định: Muốn giáo dục con người có hiệu quả cần xuất phát từ những đặc điểm tự nhiên của con người và nhu cầu phát triển của con người Đêmôcơrit đặc biệt coi trọng vai trò của giáo dục lao động cho học sinh Ông đưa ra nguyên tắc kết hợp giáo dục với lao động trong hoạt động giáo dục, trong cuộc sống sinh hoạt của học sinh
Các nhà giáo dục của Hy lạp cổ đại đã để lại cho nhân loại những tư tưởng giáo dục rất tiến bộ Đánh giá về họ, Các Mác viết: "Nếu không có chế
độ nô lệ, chưa chắc đã có đế quốc La Mã, mà không có sự vững vàng của Hy Lạp và đế quốc La Mã chưa chắc đã có Châu Âu hiện nay"
J.A Cômenxki ( 1592 - 1670) được coi là "Ông tổ của nền sư phạm cận đại" đã có những đóng góp lớn lao cho nền giáo dục trên thế giới Ông khẳng định "Học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà con lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ" (14)
Quan điểm C Mác (1818 - 1883) cho rằng: "Bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng vốn có, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội" Ông cũng khẳng định hoạt
Trang 10động thực tiễn, hoạt động lao động, hoạt động xã hội là yếu tố quyết định trực
tiếp quá trình hình thành và phát triển nhân cách Mác chỉ ra nguyên tắc để
giáo dục con người phát triển toàn diện là: Kết hợp giữa các mặt giáo dục với
giáo dục lao động sản xuất, muốn kết hợp phải tiến hành giáo dục bách khoa
V.I Lênin (1870 – 1924) là người phát triển học thuyết của C Mác và
F.Anghen, trong đó có học thuyết về giáo dục XHCN đã vận dụng phương
thức giáo dục này vào thực tiễn và coi là một trong những nguyên tắc của
giáo dục XHCN Trong bài phát biểu “Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên”
(1920), Người nói: “Chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết lao động và
hoạt động xã hội cùng với công nhân và nông dân” [ 2 ]
N.K Cơrupxkaia (1869 - 1939) - nhà giáo dục Xô viết vĩ đại Bà đã vận
dụng phương pháp luận Mác xít vào việc nghiên cứu khoa học giáo dục và đặt
nền móng phương pháp luận nghiên cứu khoa học xã hội chủ nghĩa Theo bà,
nguyên tắc giáo dục chung nhất là: Đảm bảo tính mục đích, giáo dục kết hợp
với lao động sản xuất một cách hợp lí, giáo dục kỹ thuật tổng hợp và giáo dục
tập thể Bàn về nhiệm vụ giáo dục của tổ chức đoàn thanh niên và đội thiếu
niên tiền phong, bà yêu cầu các tổ chức này phải tiến hành nhiệm vụ giáo dục
thông qua các hoạt động của mình Hình thức hoạt động: Đội chủ yếu hoạt
động thông qua vui chơi, thể dục, thể thao, hoạt động tập thể Đoàn chủ yếu
thông qua lao động công ích, nghiên cứu khoa học
Không chỉ dừng lại ở đánh giá cao vai trò của hoạt động ngoài lớp, hoạt
động lao động, hoạt động xã hội, hoạt động trong môi trường thiên nhiên, sự
kết hợp giữa giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội mà
cao hơn nữa một số nhà giáo dục còn thử nghiệm giáo dục thông qua hoạt
động sản xuất, hoạt động trong tập thể như Petxtalozi, Robert Owen Đặc biệt
A X Macarenco (1888 - 1939) - nhà giáo dục Xô viết vĩ đại Người có công
làm một cuộc thử nghiệm giáo dục vĩ đại trong gần 20 năm trời ở "Trại lao
động Goocki và DecZinxki", đã thử nghiệm giáo dục cải tạo trẻ em phạm pháp trong hoạt động xã hội, hoạt động trong tập thể vì tập thể, giáo dục trong lao động, giáo dục bằng tiền đồ, viễn cảnh
Như vậy, tư tưởng giáo dục trong nhà trường kết hợp với giáo dục ngoài nhà trường, kết hợp giáo dục lao động sản xuất đã được nhiều nhà giáo dục vĩ đại trên thế giới đề cập tới và thử nghiệm thành công Hiện nay xu thế phát triển giáo dục thế giới thể hiện qua tư tưởng của UNESCO là: giáo dục thường xuyên, giáo dục suốt đời, giáo dục cho mọi người, giáo dục hướng tới
4 trụ cột: học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình Tư tưởng này chỉ được thực hiện qua các hoạt động Song muốn giáo dục giúp cho sinh viên hướng đến 4 trụ cột trên, đòi hỏi giáo dục phải được thực hiện với nhiều hình thức phong phú đa dạng, trong đó đặc biệt coi trong hình thức HĐPT
Tóm lại, giáo dục thông qua HĐPT là bí quyết thành công của sự nghiệp giáo dục con người, là tư tưởng cốt lõi của mọi thời đại Song xây dựng kế hoạch
và tổ chức HĐPT như thế nào có hiệu quả nhất trong trường đại học, cao đẳng góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đại học, cao đẳng đang trở thành một đòi hỏi cấp thiết hiện nay
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của HĐPT như:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của HĐPT tới hiệu quả giáo dục một mặt nào đó trong nhân cách như: giáo dục đạo đức, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục lý tưởng…
- Nghiên cứu về giáo dục ngoài giờ lên lớp và sự phối kết hợp các lực lượng giáo dục trong việc tổ chức HĐPT ở ngoài trường
Trang 11- Nghiên cứu HĐPT ở trường phổ thông nhấn mạnh vai trò chủ thể
trong hoạt động tập thể
- Nghiên cứu đề cập đến các hình thức tổ chức HĐPT
- Nghiên cứu về công tác quản lý tổ chức HĐPT
Tiêu biểu như:
- Năm 1995, Chương trình Khoa học – Công nghệ cấp Nhà nước
KX.05 với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KX.05.10: “Vị trí, vai
trò hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã hội trong hệ
thống chính trị thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” do PGS TS
Nguyễn Viết Vượng chủ nhiệm đề tài đã bước đầu xây dựng hệ thống các
quan điểm lý luận, nhận thức mới, làm tiền đề đổi mới tổ chức, hoạt động của
các tổ chức, đoàn thể nhân dân trong thời kỳ quá độ lên CNXH Trong đề tài
đã xác định vị trí, vai trò, tính chất, chức năng, đặc điểm của các mặt trận, các
đoàn thể, tổ chức xã hội
- Luận án tiến sĩ giáo dục học của Nguyễn Thị Thành nghiên cứu về
“Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trung
học phổ thông” Công trình đi sâu phân tích khẳng định vai trò HĐGDNGLL
trong việc hỗ trợ các hoạt động giáo dục khác trong việc hình thành những
phẩm chất nhân cách, kỹ năng sống cho học sinh đáp ứng yêu cầu của nền
kinh tế tri thức và xu thế hội nhập Xác định được những yếu tố chủ quan và
khách quan ảnh hưởng đến việc tổ chức HĐGDNGLL, tìm ra được các biện
pháp tổ chức mang tính khả thi giúp các trường THPT có được những biện
pháp tổ chức HĐGDNGLL hiệu quả, chỉ ra được quy trình thực hiện biện
pháp Đồng thời xác định việc lựa chọn biện pháp trong từng dạng hoạt động,
góp phần nâng cao chất lượng các hoạt động, đáp ứng mục tiêu đổi mới của
giáo dục THPT
Qua tổng quan một số công trình nghiên cứu trước đây, cho thấy đã có nhiều tác giả đề cập tới vấn đề HĐPT, song các tác giả hầu hết chỉ đi sâu nghiên cứu về vai trò của các tổ chức trong công tác tổ chức HĐPT, hay ảnh hưởng của HĐPT đến quá trình hình thành nhân cách cho người học, sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác này, mà chưa phân tích biện pháp
cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động này Hoặc có thì chỉ tập trung nghiên cứu ở cấp học phổ thông, chưa có đề tài nghiên cứu làm nổi bật tầm quan trọng, vai trò của HĐPT trong việc hình thành nhân cách sinh viên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện tại các trường ĐH, CĐ trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là chưa đi sâu nghiên cứu tìm và hoàn thiện biện pháp tổ chức HĐPT cho đối tượng sinh viên trong các trường đại học
Một số các công trình nghiên cứu đã gợi mở nhiều ý tưởng nghiên cứu sáng tạo, cho chúng tôi những kinh nghiệm, những cách tiếp cận có ý nghĩa đối với đề tài của riêng mình Trên tinh thần kế thừa và phát huy tính tích cực của những tác giả đi trước, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu bàn về tổ chức HĐPT cho sinh viên trong các trường Cao đẳng Đặc biệt là trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình nơi tôi đang công tác, do tính chất đặc thù về mục tiêu đào tạo của nhà trường là đào tạo ra những cán bộ giáo dục có trình độ, bên cạnh đó có những kỹ năng hoạt động xã hội, hoạt động phong trào Chính vì vậy việc làm cho sinh viên nhà trường quen với các HĐPT ngay khi còn ngồi trên ghế giảng đường không những giúp họ có hứng thú khi học các môn nội khoá, mà còn thông qua các HĐPT này chính là điều kiện để sinh viên thực nghiệm, vận dụng những kiến thức đã học vào hoạt động thực tiễn, giúp nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ tổ chức phong trào sau khi
ra trường, đáp ứng phương hướng đổi mới hoạt động dạy học trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình hiện nay
Trang 121.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Khái niệm tổ chức
Tổ chức (Orgamizo - tiếng Latin): Một sự sắp xếp tương hỗ và sự liên
hệ qua lại của các yếu tố trong một phức hợp nào đó, tổ chức được hiểu là
một trật tự xác định cả về mặt ý nghĩa chức năng cũng như về ý nghĩa cấu
trúc và đối tượng sự vật
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng (Nguyễn Như Ý chủ biên):
Tổ chức (I establish; set up organize đgt): Sắp xếp, bố trí thành các bộ
phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ, hoặc một chức năng chung Là sự sắp
xếp, bố trí để làm cho có trật tự, có nền nếp Là tiến hành một công việc theo
cách thức, trình tự nào đó
Tổ chức (organization dt): Tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất
định để hoạt động vì lợi ích chung VD: Tổ chức Đoàn thanh niên, tổ chức công
đoàn
Như vậy: Tổ chức theo quan điểm của một số tác giả là sự sắp xếp, bố
trí một cách tương hỗ, qua lại, khoa học giữa các thành tố để đạt mục đích
chung
1.2.2 Khái niệm HĐPT
Theo từ điển Nguyễn Như Ý chủ biên: Hoạt động - Làm những việc
khác nhau, với mục đích nhất định trong đời sống xã hội
Từ điển tiếng Việt tường giải và liên tưởng của Nguyễn Văn Đạm cho
rằng: "Hoạt động là toàn thể những việc làm của một tổ chức, một cá nhân, có
liên quan với nhau để qui vào một mục đích chung, thường trong những lĩnh
vực hoạt động xã hội" [10,tr.380]
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì: "Hoạt động là tiến hành
những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định
trong đời sống xã hội" [1,tr.426]
Các nhà Tâm lý học cho rằng: "Hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa người với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và sản phẩm về phía con người" Trong quá trình tác động qua lại đó, có 2 chiều tác động diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau: Quá trình xuất tâm (Quá trình đối tượng hoá) và quá trình nhập tâm (quá trình chủ thể hoá) Trong hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của chính mình Có thể nói tâm lý của con người chỉ có thể được bộc lộ, hình thành trong hoạt động và thông qua hoạt động
Hoạt động là phương thức tồn tại tích cực của con người với môi trường sống của mình Hoạt động là cơ chế, là con đường để hình thành phát triển nhân cách Trong đó có hoạt động học tập, hoạt động xã hội, HĐPT, hoạt động lao động sản xuất…
Khái niệm Phong trào, theo từ điển tiếng Việt thông dụng Nguyễn Như
Ý chủ biên: "Là hoạt động lôi cuốn được đông đảo (nhiều) người tham gia" [602]
Theo tác giả Nguyễn Văn Đạm: "Phong trào là hoạt động của đông đảo quần chúng, thường diễn ra trong một thời gian không dài có lãnh đạo hoặc tự phát…" [3, tr 648]
Từ điển tiếng Việt do Hoàng phê (chủ biên) giải thích: "phong trào là hoạt động chính trị, văn hoá, xã hội lôi cuốn được đông đảo quần chúng tham gia" [19, tr.756]
Theo cách hiểu này, phong trào có các đặc trưng cơ bản sau đây:
- Là một dạng hoạt động (chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội)
- Có sự tham gia của đông đảo quần chúng
- Có sức hấp dẫn, thu hút quần chúng (lôi cuốn)
- Do một tổ chức phát động (Đoàn thanh niên, Hội LHTN…)
Trang 13Từ những khái niệm trên đã cho thấy các tác giả đều thống nhất cho
rằng HĐPT là những hoạt động chính trị, văn hoá, xã hội của một tổ chức
trong đó lôi cuốn nhiều thành viên tham gia Trong nhà trường, HĐPT có một
vai trò quan trọng, với những hình thức đa dạng nhằm nâng cao hiểu biết các
giá trị truyền thống của dân tộc, củng cố kiến thức đã học, bồi dưỡng năng lực
tổ chức, hoạt động, năng lực hợp tác, cạnh tranh, năng lực hoạt động chính trị
xã hội, đồng thời giúp sinh viên có thái độ đúng đắn trước những vấn đề của
cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành động của mình, tự đánh giá và phấn
đấu trong cuộc sống HĐPT trong nhà trường có các hình thức như: Hoạt
động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, hoạt động vui chơi, tham quan, du
lịch, hoạt động giáo dục môi trường, hoạt động lao động công ích, hoạt động
xã hội Các hoạt động này phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý sinh viên và
hướng tới sự phát triển tâm lý, ý thức sinh viên
Khi tổ chức HĐPT cho sinh viên cần có những biện pháp Khái niệm
biện pháp cũng có những quan điểm khác nhau
Từ điển tiếng Việt thông dụng Nguyễn Như Ý chủ biên: "Biện pháp là
cách làm, cách thức tiến hành"[67] Trong cuốn "Từ điển tiếng Việt tường
giải và liên tưởng", Tác giả Nguyễn Văn Đạm cho rằng: " Biện pháp là cách
làm, cách hành động, đối phó để đi tới một mục đích nhất định"[13,tr.66]
Trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) đưa ra khái niệm
"Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể"[29,tr.64] Như
vậy, nghĩa chung nhất của biện pháp là cách làm để thực hiện một công việc
nào đó nhằm đạt mục đích đề ra Biện pháp ở đây chủ yếu nhấn mạnh đến
cách làm, cách hành động cụ thể
1.2.3 Khái niệm tổ chức HĐPT
Trước hết về khái niệm tổ chức là công việc bao gồm sự sắp xếp, thiết
kế biện pháp tiến hành hoạt động, là việc sử dụng đối tượng vào các phương tiện hỗ trợ nhằm đạt mục tiêu đề ra
Tổ chức HĐPT là sự sắp xếp, thiết kế các biện pháp tiến hành hoạt động theo các bước nhằm đạt mục tiêu của các nội dung hoạt động đặt ra
Tổ chức có vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của hoạt động
Biện pháp tổ chức HĐPT về bản chất là chỉ ra cách làm rất cụ thể, chi tiết khoa học Có thể nói HĐPT chỉ có hiệu quả khi nó được tiến hành một
cách có tổ chức hợp lý Trong nhà trường, tổ chức HĐPT được coi là một nhiệm vụ thường xuyên, chủ đạo của các tổ chức, đặc biệt là các đoàn thể Nghiên cứu tổ chức HĐPT có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong các trường học, nhưng khi xây dựng các biện pháp tổ chức cần tuân thủ những đặc trưng sau:
Tính mục đích: Hoạt động nào cũng có tính mục đích Vì vậy trong việc
giáo dục tổ chức HĐPT cho sinh viên phải đặc biệt chú trọng chuẩn bị cho các em lựa chọn mục đích và các phương pháp hoạt động Điều đó có nghĩa là cần coi trọng việc xây dựng nhu cầu, động cơ hoạt động và mục đích hành động cho các em Muốn vậy, mục đích đặt ra cho hoạt động vừa phải có ý nghĩa xã hội, có lợi cho tập thể, vừa trở thành cái cần thiết, cái mong đợi, thoả mãn những tình cảm cao đẹp của học sinh Cần tạo ra không khí thi đua sôi nổi, phấn khởi để đạt được những mục đích đề ra cho hoạt động
Tính nội dung: Tổ chức HĐPT cho sinh viên phải có nội dung, đồng
thời đảm bảo sự phân công công việc cho từng thành viên Nội dung tổ chức HĐPT và sự phân công khoa học thì hiệu quả tổ chức càng cao Ở đây, đòi hỏi người tổ chức HĐPT phải là người biết tổ chức, biết nắm bắt đặc điểm
Trang 14tâm lý đối tượng, phân phối công việc phù hợp vơí năng lực của từng người
nhằm phát huy tối ưu tiềm năng của tập thể, tạo ra hiệu quả cao nhất cho
HĐPT
Mối quan hệ, tác động qua lại giữa phương pháp, phương tiện, con
người Trong tổ chức HĐPT đòi hỏi phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, tự
lập của sinh viên, biết lập kế hoạch, đề ra kế hoạch, phân công, kiểm tra đôn
đốc thường xuyên Đồng thời phải có sự điều chỉnh uốn nắn, sửa chữa về các
mối quan hệ giao lưu trong quá trình hoạt động của học sinh Kinh nghiệm
cho thấy rằng: Với nội dung và hình thức tổ chức HĐPT đa dạng, phong phú,
với thời gian thích hợp cùng với những phương pháp khéo léo đối xử sư phạm
của nhà quản lý, tổ chức thì hiệu quả của HĐPT cao Trong tổ chức HĐPT có
mối quan hệ giữa cá nhân - cá nhân, giữa cá nhân với tập thể, giữa tập thể với
tập thể Mức độ của các quan hệ này tuỳ thuộc vào uy tín của người tổ chức
phong trào, những người tham gia phong trào, sự phát triển của tập thể
Tổ chức HĐPT theo một quy trình và có ekíp làm việc Quy trình ở đây thể
hiện từ khâu lập kế hoạch báo cáo đến xây dựng một ekíp làm việc hiệu quả, thực
hiện, tổng kết đánh giá hoạt động Tổ chức HĐPT là những cán bộ quản lý, cán bộ
đoàn, cán bộ hội sinh viên, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, sinh viên…
Từ những phân tích trên, chúng tôi đưa ra quan niệm: Tổ chức HĐPT là
cách thức sắp xếp các thành tố của HĐPT theo quy trình tổng thể và quan hệ
qua lại để HĐPT đạt kết quả cao
1.3 HĐPT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHO SINH VIÊN
TRONG TRƯỜNG CAO ĐẲNG
1.3.1 Những đặc điểm cơ bản trong sự phát triển tâm lý của sinh
viên
- Sự thích nghi của sinh viên mới nhập học với cuộc sống trong môi
trường cao đẳng, đại học
Khi rời ghế nhà trường phổ thông, sinh viên bước vào một cuộc sống hoàn toàn khác Sinh viên phải tự lập trong mọi hoạt động: sinh hoạt cá nhân, học tập và các quan hệ xã hội Trừ số ít sinh viên có gia đình ở gần các trường Đại học, Cao đẳng không ở ký túc xá và các khu nhà trọ dành cho sinh viên Còn đa số sinh viên phải sống xa nhà trong điều kiện thiếu thốn Hiện nay, ký túc xá của các trường không đủ chỗ cho nhu cầu ở của sinh viên Dù ở trong
ký túc xá hay ở nhà trọ, sinh viên phải tự lo liệu cuộc sống của bản thân trong điều kiện rất khó khăn Tất cả các phương tiện thiết yếu phục vụ sinh hoạt cá nhân đều thiếu thốn Đó là chưa kể áp lực của yêu cầu học tập, các quan hệ xã hội và các điều kiện kinh tế xã hội khác
Có thể thấy điều kiện sống và học tập của sinh viên đã thay đổi hoàn toàn so với sinh viên phổ thông Xét về mặt nào đó, sinh viên theo học ở các trường Cao đẳng, Đại học là những người trưởng thành, phải tự lo cho mình
từ ăn, ở, điều tiết các mối quan hệ xã hội Điều đó đã làm cho đời sống tâm lý của sinh viên có những thay đổi rất căn bản
Thứ nhất, sinh viên phải biết sắp xếp thời gian để đảm bảo thời gian học trên giảng đường, học ở nhà, vui chơi và tham gia các hoạt động xã hội khác
Thứ hai, với lượng tiền hạn chế, sinh viên phải tự lo liệu tất cả các khoản chi tiêu sao cho hợp lý, để đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần: ăn uống đầy đủ trong khuôn khổ cho phép, mua sắm những sách báo, tài liệu, giao lưu bạn bè và các mối quan hệ khác
Thứ ba, tự quyết định các bước đi để có thể học được nhiều nhất, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động? Ví dụ: Có học thêm văn bằng 2 không? Có học thêm ngoại ngữ không?
Với cuộc sống tự lập gần như hoàn toàn, sinh viên phải tự xử lí các mối quan hệ: tình bạn, tình yêu Đó là không kể những cám dỗ và những tác động xấu của mặt trái xã hội đối với sinh viên
Trang 15Tất cả các yêu cầu của cuộc sống tự lập làm cho sinh viên phải rèn cho
mình một số kỹ năng sống để có khả năng xử lý được các tính huống mà cuộc
sống đặt ra Trong điều kiện đó, đa số sinh viên có thể thích ứng và vươn lên
trong học tập, rèn luyện để trở thành người có trí thức, có năng lực chuyên
môn, có đao đức nghề nghiệp, đáp ứng với thị trường lao động Tuy nhiên
một số sinh viên đã không thể thích ứng và bị đào thải khỏi môi trường đại
học, cao đẳng, hoặc không thể xin được việc làm do trình độ chuyên môn
không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng
Hiện nay, số lượng sinh viên ngày càng tăng do sự phát triển rất mạnh
mẽ của giáo dục đại học trong khi khả năng cung cấp tài chính của một số gia
đình không đủ cho sinh viên ăn học Vì thế nhiều sinh viên phải bươn trải
kiếm sống để học tập Những sinh viên có nghị lực đã vượt qua được những
khó khăn đó và hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của mình Điều đó cho thấy
những điều kiện cụ thể của cuộc sống sinh viên đã chi phối sự phát triển tâm lý
của họ nhưng đã tạo ra sự phát triển khác nhau tuỳ thuộc vào sự tiếp nhận các tác
động đó của sinh viên
Ngoài ra, những biến đối của điều kiện kinh tế - xã hội đã tác động đến
môi trường các trường đại học rất lớn Từ yêu cầu đào tạo, từ mức độ quan
tâm của giảng viên đến sinh viên đến các điều kiện sống cụ thể đều có nhiều
biến đổi Do đó, đặc điểm tâm lý sinh viên ngày nay cũng có nhiều điểm khác
trước Bên cạnh những biến đổi tốt cũng có những sự lệch lạc nhất định trong
định hướng giá trị, trong xác định mục đích sống của sinh viên Những biến
đổi đó đòi hỏi các giảng viên, các nhà quản lý phải biết để có biện pháp giúp
đỡ, hỗ trợ sinh viên học tập và rèn luyện
- Yêu cầu học tập
Hoạt động học của sinh viên là hoạt động diễn ra ở trường Đại học,
Cao đẳng với tư cách là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Sinh viên phải làm việc độc lập dưới sự hướng dẫn của giảng viên nhằm đào tạo đội ngũ tri thức có nhân cách phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động ngày càng cao Hoạt động học tập của sinh viên mang đặc điểm của hoạt động nói chung và có những đặc trưng riêng Đây là hoạt động học tập của những người ở tuổi trưởng thành và đang được đào tạo theo những nghề nghiệp nhất định
Hoạt động tự học đòi hỏi sinh viên phải làm việc độc lập, tự nghiên cứu, tự thực hành nhằm củng cố và ôn luyện tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã học, giải quyết hệ thống các bài tập và câu hỏi do giảng viên yêu cầu Họ phải đọc tài liệu giáo trình, tìm kiếm những tri thức ở các nguồn tài liệu khác nhau mà hiện nay chủ yếu là trên mạng Sinh viên có thể được giảng viên kiểm tra và đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ học tập khi nhiệm vụ đó được giảng viên giao cho sinh viên
Ngoài ra, hoạt động học của sinh viên có thể là hoạt động tự học tự giác
ở nhà không có sự giám sát của giáo viên Khi đó sinh viên phải tự xây dựng
kế hoạch học tập phù hợp với năng lực, điều kiện hỗ trợ và sự nỗ lực của bản thân, không đòi hỏi sự giám sát trực tiếp của giảng viên, kết quả tự học, tự nghiên cứu được họ phân tích, kiểm tra đánh giá thông qua các hình thức dạy học, nhất là trong bài kiểm tra và thi của sinh viên
Trong hoạt động tự học tích cực, sinh viên triển khai các đề tài tập dượt nghiên cứu khoa học, tiến hành các đợt thực hành, thức tế chuyên môn, thực
tế nghề nghiệp nhằm củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nâng cao năng lực tư duy và năng lực nghiệp vụ của chuyên ngành Hoạt động tự học đòi hỏi sinh viên phải tự giác, độc lập và sáng tạo cao Có thể so sánh làm rõ hơn những yêu cầu học tập của sinh viên ở đại học qua một mặt cụ thể của hoạt động học
Trang 16Về nội dung học tập: Trong mỗi học kỳ, sinh viên phải học tập những
môn học, ở mỗi môn học khối lượng kiến thức rất lơn, mức độ khó khăn phức
tạp tăng dần theo năm học, một số môn học kiến thức có tính khái quát vừa có
tính trừu tượng cao Nếu so với giáo dục ở bậc phổ thông có thì khối lượng
kiến thức mới ở đại học chiếm tỷ lệ lớn và từng môn học có nộ dung khác
nhau… đòi hỏi sinh viên phải có khả năng và phương pháp học phù hợp mới
có thể nhận thức được khối lượng lớn những nội dung phong phú của các
môn học Đồng thời phải thích ứng với phương pháp giảng dạy và hướng dẫn
của từng giảng viên thì học tập mới có kết quả
Về phương pháp học: Đối với phương pháp học của sinh viên so với
phương pháp học của học sinh ở phổ thông thì phương pháp học của sinh viên
ở đại học đòi hỏi tính tự giác, chủ động và sáng tạo rất cao Quá trình học tập
trên lớp, sinh viên phải tập trung chú ý quan sát, nghe và suy nghĩ kết hợp lựa
chọn nội dung để ghi bài theo cách thức riêng, biết liên kết kiến thức mới với
kiến thức tích luỹ và vận dụng vào hoạt động thực tiễn để hiểu rộng, sâu nội
dung học tập, có tư duy độc lập và sáng tạo trong học tập, thường xuyên trao
đổi với các bạn trong lớp về kiến thức và phương pháp tự học, tự đọc, tự
nghiên cứu giáo trình, tài liệu tham khảo, tự nghiên cứu giáo trình và tài liệu
chuyên môn ở thư viện, ở trên mạng, tự nêu thắc mắc và tự đề xuất phương
pháp giải quyết hoặc đề xuất ý kiến với giảng viên, tự phân phối thời gian học
tập ngày, tuần và tự lập kế hoạch ngoài giờ lên lớp… Những thay đổi về
phương pháp học ở đại học đặt ra yêu cầu đối với sinh viên phải biết tìm cho
mình phương pháp học phù hợp để có kết quả học tập cao
Về phương tiện kỹ thuật dạy học Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin được ứng dụng
nhanh chóng và sâu rộng vào giáo dục đại học Điều đó làm cho hệ thống phương tiện kỹ thuật dạy học có bước phát triển vượt bậc Ngoài hệ thống phương tiện kỹ thuật dạy học có tính chất truyền thống, những phương tiện dạy học hiện đại như: máy tính, projector, mạng internet, sách điện tử và bài giảng điện tử … được trang bị phổ biện tạo ra những thay đổi cơ bản về phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học…đòi hỏi sinh viên phải am hiểu và sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật dạy học được trang bị ở trường đại học hoặc tự trang bị để đảm bảo cho hoạt động học tập có hiệu quả cao nhất
Về giáo trình, tài liệu tham khảo và cơ sở vật chất:
Thực tế cho thấy, các trường đại học đều đã tích cực chủ động trong việc biên soạn giáo trình và tài liệu tham khảo, mua sắm cơ sở vật chất bảo đảm cho sinh viên học tập Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh chóng của thức tiễn nên giáo trình và tài liệu tham khảo thường xuyên lạc hậu, việc biên soạn lại và bổ sung chưa đáp ứng được nhu cầu giảng dạy và học tập Đồng thời với sự tăng gia về số lượng sinh viên dẫn đến cơ sở vật chất của các trường đại học cũng không đáp ứng đầy đủ, tình trạng phổ biến ở trường đại học là giáo trình và tài liệu tham khảo thiếu, lạc hậu, giảng đường chật hẹp, số lượng sinh viên trong một lớp học quá đông… đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập và một số đặc điểm tâm lý của sinh viên
Từ những đặc điểm và yêu cầu về học tập của sinh viên, chúng ta có thể thấy: Sinh viên phải tự xoay xở, phải tự lập và tự chịu trách nhiệm về việc học của mình Do đó, sinh viên phải có một loạt các phẩm chất cần thiết như:
ý thức tự giác, tính tự chịu trách nhiệm về các việc làm của mình, tính tự lập trong sinh hoạt, học tập Vì thế, đây là một trong những yếu tố chi phối mạnh
mẽ các đặc điểm tâm lý của sinh viên Những sinh viên thiếu tự giác sẽ không
Trang 17tích cực học tập, chất lượng học tập sẽ thấp vì không ai kiểm tra Có những
nhóm sinh viên rất chăm chỉ và kết quả học tập tốt Một số khác rất lười học,
học đối phó và chất lượng học tập thấp Có những sinh viên vươn lên rất
nhanh Khi đang học ở đại học đã có cơ quan tiếp nhận công tác, có những
sinh viên ra trường nhiều năm vẫn không xin được việc làm
Bên cạnh những yêu cầu chung của hoạt động học tập của sinh viên,
những biến đổi tâm lý, nhân cách của sinh viên còn bị chi phối bởi xu hướng
đổi mới giáo dục đại học của Việt Nam
Xu hướng đổi mới giáo dục đại học ở trong nước Ảnh hưởng của giáo
dục đại học quốc tế, xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá, những thành tựu
quan trọng của công cuộc đổi mới đất nước và yêu cầu về nguồn lực có chất
lượng cao đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá… đã tạo ra môi
trường mới, điều kiện mới và thời cơ mới cho sự phát triển toàn diện giáo dục
đại học Tác giả Vũ Văn Tảo cho rằng: "Mục tiêu đào tạo của giáo dục đại
học phải hướng vào sự hình thành con người có ý chí cách mạng, năng động,
sáng tạo, có năng lực tự chủ, tự học, thích ứng tốt với những thay đổi nhanh
chóng của thị trường sức lao động, vừa có đủ khả năng cơ động nghề nghiệp
lớn, vừa có thể đóng góp tích cực và sự nghiệp phát triển của xã hội" Đối với
mục tiêu đào tạo, giáo dục đại học hiện đang đổi mới theo hướng phát huy
tích cực, chủ động và sáng tạo của người học trong quá trình đào tạo Người
học phải chịu trách nhiệm và biết lựa chọn cho bản thân con đường học vấn
thích hợp nhất, tìm kiếm việc làm trong xã hội và cách thức tự phát triển hiện
thực nhất
- Đời sống tình cảm
Thanh niên sinh viên đã trưởng thành về tâm sinh lý nên đời sống tình
cảm của sinh viên rất phong phú, tình cảm đã phát trỉên sâu sắc và bền vững
Ở thời kỳ này, tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm mỹ của sinh viên phát triển đến mức độ tích cực nhất
Tình cảm trí tuệ của sinh viên biểu hiện rõ qua thái độ tích cực đối với việc chiếm lĩnh tri thức khoa học Nhiều sinh viên rất chủ động tìm tòi, khám phá các phương pháp, cách thức học tập phù hợp với điều kiện và yêu cầu môn học nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ học tập Tình cảm trí tuệ của sinh viên còn thể hiện ở việc họ vừa tích cực học tập các chuyên môn chính của một lĩnh vực lao động xã hội vừa học thêm các tri thức, rèn thêm các kỹ năng hỗ trợ để có thể có hiệu quả lao động tốt nhất Vì thế, nhiều sinh viên trong 4 - 5 năm học đại học đã có 2 bằng đại học, hoặc có thêm các chứng chỉ hỗ trợ cho hoạt động nghề nghiệp sau này
Tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm mỹ của sinh viên phát triển có chiều sâu Sinh viên có thể lý giải, phân tích một cách có cơ sở những gì mà
họ yêu thích Nhiều sinh viên đã có ý thức rất rõ về trách nhiệm của mình với người thân, với xã hội Sinh viên cũng thể hiện rõ quan niệm riêng về cái đẹp và
có thể lý giải về quan niệm đó Tuy nhiên, không phải lúc nào và sinh viên nào cũng có quan niệm phù hợp, cũng hiểu đầy đủ về cái đẹp Vì thế, việc giáo dục tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm trí tuệ cho sinh viên cần phải được chú trọng
Ở lứa tuổi sinh viên, tình bạn phát triển rất mạnh và có chiều sâu Trong cuộc đời con người, tình bạn ở lứa tuổi thanh niên tồn tại rất lâu bền Tình bạn của sinh viên đã góp phần làm cho đời sống tinh thần, nhân cách của
họ phát triển mạnh Bên cạnh tình bạn, tình yêu nam nữ của sinh viên hiện nay rất phát triển Nhiều cặp đã đi đến kết hôn sau khi tốt nghiệp Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, đây là vấn đề cần quan tâm của nhiều nhà giáo dục
- Trí tuệ cảm xúc
Trang 18Có nhiều quan niệm khác nhau về trí tuệ cảm xúc Theo Nguyễn Huy
Tú: "Trí tuệ cảm xúc là một phẩm chất phức hợp, đa diện, đại diện cho những
nhân tố khó thấy, khó nắm bắt như tự ý thức, tự nhận biết, tự tin, tính lạc
quan, sự thấu cảm, tính kiên nhẫn, tính tích cực trong hoạt động, xã hội…" (
Nguyễn Huy Tú - Trí tuệ cảm xúc - bản chất và phương pháp chẩn đoán" -
Tạp chí Tâm lý học số 6/2000, trang 78-80)
Trí tuệ cảm xúc có vai trò rất quan trọng đối với sự thành công hay thất
bại trong hoạt động của con người nói chung và với sinh viên nói riêng Vì
thế rất cần quan tâm đến sự phát triển trí tuệ cảm xúc ở sinh viên
Những nghiên cứu gần đây cho thấy, khi bước vào trường cao đẳng, đại
học, trí tuệ cảm xúc của sinh viên đã phát triển Sinh viên đã có những kinh
nghiệm nhất định về các lĩnh vực tình cảm Một số phẩm chất ý chí như: Tính
độc lập, khả năng tự kiềm chế…đã được củng cố và phát triển Do đó, sinh
viên có khả năng kiềm chế bản thân trước những ham muốn tiêu cực, biết
phân tích và đánh giá các hiện tượng trong đời sống xã hội và các vấn đề của
bản thân
Đặc biệt, do có những hiểu biết và kinh nghiệm nhất định nên sinh viên
có khả năng làm chủ những cảm xúc của bản thân Sinh viên có thể điều
khiển được những cảm xúc của bản thân cho phù hợp với từng tình huống,
thậm chí có thể nguỵ trang những tình cảm thật của mình Thanh niên sinh
viên đã có trải nghiệm trong các mối quan hệ Vì thế họ có khả năng đọc được
những trạng thái tình cảm của người khác, biết đáp lại một cách tinh tế những
diễn biến trong tình cảm của người khác Điều này đem lại những biểu hiện
mới trong quan hệ với người xung quanh Tuy nhiên, khả năng kiểm soát và
điều khiển các cảm xúc của sinh viên cũng còn có hạn chế nhất định Vì thế,
trong một số tình huống sinh viên có thể có những lệch lạc hoặc quá đà trong
quan hệ
- Sự phát triển tự ý thức
Do yêu cầu của nhiệm vụ học tập và rèn luyện, khả năng quan sát bản thân, khả năng tự kiểm tra và tự đánh giá hành vi của mình ở sinh viên đã phát triển mạnh Sinh viên có khả năng tự điều chỉnh các hoạt động tâm lý của bản thân như nhận thức, thái độ và hành vi để có thể thích ứng được với các hoạt động học tập rèn luyện, các sinh hoạt cá nhân, hoạt động tập thể ở trường cao đẳng, đại học
Khi tham gia các hoạt động ở trường cao đẳng, đại học, sinh viên đã có thể tự thu thập và xử lý các thông tin về bản thân để tự điều chỉnh bản thân Nguồn thông tin về bản thân sinh viên có thể từ phía các giảng viên hoặc từ phía sinh viên khác Tiếp nhận những thông tin đó, sinh viên tự nhìn nhận lại bản thân, so sánh với những nhận xét của mình về bản thân Sự so sánh đó giúp sinh viên đánh giá lại bản thân mình và nảy sinh nhu cầu tự hoàn thiện Đồng thời, sự so sánh cũng giúp sinh viên vừa thể hiện bản lĩnh, vừa rèn luyện bản lĩnh khi tự đánh giá về chính mình
Sự phát triển tự ý thức của sinh viên vừa là biểu hiện của sự phát triển nhân cách, vừa là yêu cầu của sự phát triển nhân cách người lao động tương lai Đánh giá khách quan về bản thân để có thái độ tích cực trong học tập và rèn luyện là một yêu cầu rất quan trọng phải giáo dục cho sinh viên Sự đánh giá khách quan về bản thân giúp sinh viên xác định rõ những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân để xác định rõ mức độ đáp ứng với yêu cầu nghề nghiệp của họ
Từ đó, có sự tự xác định theo yêu cầu nghề nghiệp và kế hoạch rèn luyện tương ướng
- Sự phát triển động cơ học tập ở sinh viên
Trước xu hướng phát triển của thời đại, yêu cầu của nền kinh tế tri thức, của sự hội nhập quốc tế buộc tất cả mọi người muốn tồn tại phải vươn lên, phải có khả năng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động
Trang 19Xã hội càng phát triển, sự phân hoá xã hội ngày càng sâu sắc Sự phân hoá đó
thể hiện rất rõ trong sinh viên Có thể cùng tốt nghiệp một trường đại học, có
người xin được việc và đi làm ngày với mức lương khá cao, có người không
thể xin được việc phải đi làm nghề khác với mức lương thấp Tại sao lại có
hiện tượng đó? Có thể thấy kinh tế thị trường đã xâm nhập rất sâu vào tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội Yêu cầu của các đơn vị tuyển dụng lao động
đã tác động đến sinh viên làm cho họ biết xác định trách nhiệm của mình, biết
đặt ra yêu cầu rèn luyện của bản thân để có thể thích ứng được vưói yêu cầu
của sự phát triển kinh tế - xã hội
Sự biến đổi kinh tế - xã hội đã làm thay đổi về nhận thức của con
người, về nhu cầu học tập và quyền lợi được học tập, là nguyên nhân cơ bản
dẫn tới sự phát triển nhanh chóng của giáo dục đại học Giáo dục đại học đang
có những biến đổi sâu sắc để đáp ứng yêu cầu về nguồn lực chất lượng cao
cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Nhận thức được sự thay đổi của các điều kiện kinh tế - xã hội, sinh viên
đã có những thay đổi theo hướng thích ứng với các đòi hỏi mới của xã hội
như sẵn sàng học thêm một chuyên môn khác, học thêm các chứng chỉ Trong
điều kiện hiện nay, sinh viên năng động hơn trước rất nhiều, sự phân hoá sinh
viên như trên đã phân tích ngày càng rõ Những sinh viên học cầm chừng theo
kiểu trung bình chủ nghĩa hầu như không có Những điều đó cho thấy, sự biến
đổi kinh tế xã hội đã làm thay đổi cách nghĩ và cách hành động của sinh viên
hiện nay
- Một số đặc điểm trong định hướng giá trị ở sinh viên
Sinh viên đại học, cao đẳng là những trí thức tương lai Song trước khi
trở thành trí thức họ là những công dân, những thành viên của cộng đồng
những người đang học nghề, đang rèn luyện những phẩm chất năng lực cho
nghề nghiệp tương lai Do đó, họ cần được giáo dục một cách toàn diện Cần
giáo dục ý thức chính trị, làm cho học sinh quan tâm đến những vấn đề chính trị, xã hội đang diễn ra trong nước và trên thế giới, thấy được trách nhiệm của sinh viên trong đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, tích cực tham gia các hoạt động xã hội của Đoàn và Hội sinh viên Giáo dục ý thức pháp luật, vấn đề bức xúc hiện nay mà sinh viên cần quan tâm là chấp hành tốt luật lệ giao thông, thực hiện nghiêm quy chế học tập, thi và kiểm tra, có nếp sống văn minh nơi công cộng Giáo dục ý thức đạo đức, nhà trường cần trang bị cho học sinh những tri thức cần thiết về các mối quan hệ xã hội, về lối sống nhân văn Giáo dục văn hoá - thẩm mỹ, nội dung giáo dục thẩm mỹ bao gồm bồi dưỡng cho sinh viên năng lực cảm thụ cái đẹp trong tự nhiên, cái
mỹ trong đời sống con người Đồng thời cần giáo dục cho sinh viên thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh, luôn hướng tới cái đẹp và phấn đấu cho cái đẹp, vì cái đẹp Giáo dục hướng nghiệp với mục đích giúp sinh viên hiểu đầy đủ hơn những yêu cầu và xu hướng phát triển nghề mình đã chọn, nhu cầu của thị trường lao động hiện nay để sinh viên yên tâm với nghề mình đã chọn và có ý thức phấn đấu rèn luyện các phẩm chất mà nghề nghiệp đòi hỏi Giáo dục dân
số, sức khỏe sinh sản vị thành niên, mục đích là nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức về giới và giới tính, về sức khoẻ sinh sản Giúp họ hình thành thái độ và hành vi đứng đắn trong các mối quan hệ: tình yêu, tình bạn khác giới, biết cách giải quyết các vấn đề liên quan đến tình yêu, tình dục Đồng thời giúp sinh viên có kiến thức và khả năng phòng tránh những bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và bệnh lây lan qua đường tình dục, đặc biệt là HIV/AIDS Giáo dục môi trường nhằm giáo dục cho sinh viên ý thức tham gia tích cực các hoạt động giữ gìn vệ sinh sạch sẽ môi trường sống ở ký túc
xá, nơi công cộng và luôn có ý thức tuyên truyền, vận động mọi người cùng tham gia bảo vệ môi trường sống Giáo dục phòng chống các tệ nạn xã hội, phòng chống ma tuý Ngoài ra cần quan tâm tới vấn đề giáo dục đạo đức và
Trang 20đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Cần định hướng nội dung giáo dục đạo
đức cho sinh viên: Sống có mục đích, được mọi người xung quanh tôn trọng,
cha mẹ vui lòng, gia đình yêu mến, có tình bạn tốt, tình yêu lành mạnh, đối xử
công bằng, hướng về cái đẹp, cái thiện, có trình độ học vấn, thành đạt, có
nghề nghiệp nhất định, cống hiến cho xã hội Giáo dục đạo đức nghề nghiệp
cho sinh viên; Giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên Hình thức giáo dục kỹ
năng sống có thể rất linh hoạt Bởi vì đây không phải là một môn học mà là
một nội dung cần giáo dục cho sinh viên Do đó có thể tổ chức các hình thức
câu lạc bộ, các sinh hoạt chuyên đề của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên Tuy
nhiên để giáo dục có hiệu quả, nhà trường và các giảng viên cần quan tâm tạo
điều kiện cho sinh viên như dành quỹ thời gian, hướng dẫn sinh viên tổ chức
các hoạt động để chuyển tải các nội dung giáo dục trên Ngoài ra nếu có thể cần
dành một khoản kinh phí nhất định cho các hoạt động giáo dục kỹ năng sống
cho sinh viên
Khi đã thi vào cao đẳng, đại học nghĩa là sinh viên đã lựa chọn giá trị là
trình độ học vấn cao, được lao động ở trình độ cao, được đãi ngộ hơn các tầng
lớp khác trong xã hội Vì thế những ngành nghề có thu nhập cao được sinh
viên lựa chọn nhiều Sau đó mới đến các ngành nghề khác Nhiều sinh viên
chọn các nghề có thu nhập không cao không phải do họ say mê với nghề đó
mà họ lựa chọn theo khả năng thực có thể vẫn được học ở đại học trong khi
khả năng mình có hạn Đó là sự lựa chọn khôn ngoan nhưng có thể thấy sinh
viên hướng vào các giá trị vật chất của nghề nhiều hơn các giá trị xã hội, tinh
thần
Tóm lại, sinh viên là lớp người trẻ, có kiến thức khoa học cơ bản và
đang được trang bị những kiến thức thuộc lĩnh vực chuyên môn nhất định,
đang rèn luyện, học tập để trở thành người có trí thức, người lao động có trình
độ cao Sinh viên là những người có sự trưởng thành về thể chất và tinh thần
Năng lực nhận thức của sinh viên phát triển mạnh mẽ và luôn có khát vọng vươn lên Tuy nhiên, sinh viên cũng bộc lộ tính bồng bột của tuổi trẻ nên việc thực hiện các dự định cho tương lai không phải lúc nào cũng diễn ra suôn sẻ
Vì vậy, vấn đề cần hết sức quan tâm là hiểu sinh viên và có biện pháp giúp sinh viên hoàn thành các nhiệm vụ học tập, rèn luyện đã đặt ra
1.3.2 Vai trò của HĐPT đối với sự phát triển nhân cách của sinh viên
1.3.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của sinh viên
- Yếu tố thể chất
Sinh viên là những người đã trưởng thành về thể chất và có sự phát triển tương đối hoàn thiện về mặt sinh lý Họ có hệ xương, hệ cơ phát triển ổn định và đồng đều Các tố chất về thể lực như sức nhanh, sức bền bỉ, dẻo dai, linh hoạt đều phát triển mạnh nhờ sự phát triển ổn định của các tuyến nội tiết
và sự tăng trưởng các hoóc môn nam và nữ Theo luật pháp Việt Nam: Nữ 18 tuổi và Nam 20 tuổi được phép kết hôn Luật pháp cho phép kết hôn có nghĩa những người ở lứa tuổi đó đã chín muồi về sự phát triển thể chất, đủ để làm cha, làm mẹ Trên lý thuyết, tuổi thấp nhất của sinh viên Việt Nam bước vào học Cao đẳng, Đại học là 18 Cho nên, sinh viên Việt Nam đều đã là người có
đủ điều kiện để thực hiện các nghĩa vụ và quyền lợi của một công dân
- Sự phát triển nhận thức
Sự hoàn thiện về cấu trúc và chức năng của hệ thần kinh làm cho hoạt động nhận thức của sinh viên nhanh và mạnh Khả năng cảm giác và tri giác phát triển đến trình độ tinh tế Tri giác có chủ định chiếm ưu thế, thể hiện ở khả năng quan sát có hệ thống và toàn diện các sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan
Trang 21Trí nhớ của thanh niên sinh viên phát triển mạnh trên cả hai phương
diện: tăng khối lượng ghi nhớ và phương thức ghi nhớ Ghi nhớ có ý nghĩa
chiếm ưu thế trong hoạt động nhận thức của sinh viên Khả năng tư duy trừu
tượng của sinh viên phát triển đến độ cao Tính độc lập, sáng tạo trong tư duy,
khả năng lập luận và khái quát của tư duy ở sinh viên ngày càng hoàn thiện,
khả năng phê phán và tính mềm dẻo trong tư duy cũng phát triển cao
Ở cao đẳng, đại học, sinh viên phải học nhiều môn học thuộc nhiều
kĩnh vực khoa học khác nhau Điều đó buộc sinh viên phải có sự mềm dẻo về
trí tuệ để thích ứng với yêu cầu của từng môn học Đồng thời yêu cầu của các
môn học cũng tạo ra điều kiện phát triển khả năng nhận thức của sinh viên
Nội dung và phương thức học tập ở cao đẳng, đại học đòi hỏi tính mềm dẻo
của các thao tác tư duy như: phân tích, so sánh, khái quát hoá…Trong hoạt
động nhận thức, sinh viên thể hiện khả năng tiếp thu có phê phán những kiến
thức khoa học mà giảng viên cung cấp hoặc sinh viên tự tìm hiểu được
Sự phát triển nhân cách
Qua thời kỳ thanh niên học sinh, chiều hướng phát triển nhân cách của
sinh viên đã xác định hơn Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Quá trình phát
triển nhân cách của con người có hai mốc quan trọng: Mốc thứ nhất là ở tuổi
lên 3, trẻ xuất hiện ý thức bản ngã Đó là lúc trẻ bắt đầu tự nhận thức được
bản thân mình Mốc thứ hai là khi các em ở tuổi 17 - 18, tự ý thức và các đặc
điểm tâm lý khác ở các em đã định hình rõ nét Các em có khả năng nhận thức
về bản thân khách quan hơn tuổi thiếu niên Do đó, các em xác định cho mình
các bước đi tiếp theo rõ ràng hơn Cuối tuổi thanh niên học sinh, xu hướng
nghề nghiệp của các em đã hình thành khá rõ ràng Đại bộ phận các em đã có
sự chuẩn bị để có thể bước vào nghề mình đã chọn
Khi bước sang tuổi sinh viên, sự phát triển nhân cách của sinh viên vẫn
tiếp nối sự phát triển, hoàn thiện xu hướng nghề nghiệp mà họ đã chọn khi
học phổ thông Các hoạt động của sinh viên ở trường Cao đẳng, Đại học đều
hướng vào việc lĩnh hội hệ thống tri thức, kỹ năng và rèn luyện phẩm chất theo yêu cầu của một nghề cụ thể Vì thế sự phát triển nhân cách của sinh viên
có nhiều điểm khác với sự hình thành nhân cách của học sinh Một mặt sinh viên phát triển nhân cách với tư cách của một công dân Mặt khác, nhân cách của sinh viên phát triển hướng tới các yêu cầu của một người trí thức hoạt động trong một lĩnh vực chuyên môn, một nghề nào đó Vì thế, ngoài những phẩm chất, năng lực chung đủ để người sinh viên hoàn thành nghĩa vụ của một công dân, thì điều quan trọng là các phẩm chất, năng lực cần thiết của người lao động có trình độ cao trong tương lai đều do xu hướng nghề nghiệp chi phối Có thể nói, sự phát triển nhân cách của sinh viên được định hướng theo yêu cầu của nghề nghiệp Mô hình nhân cách mà sinh viên hướng tới là
mô hình nhân cách của một người lao động trong một nghề cụ thể Ví dụ: Sự phát triển nhân cách của sinh viên sư phạm hướng vào yêu cầu của nhân cách người thầy giáo Các yêu cầu về phẩm chất và năng lực người thầy giáo là cái đích mà sinh viên sư phạm hướng tới, rèn luyện để có được
Do yêu cầu học tập và rèn luyện ở trường Cao đẳng, Đại học đòi hỏi sự
tự lập cao Sinh viên phải tự sắp xếp thời gian học tập, sinh hoạt cá nhân…nên tính tự chủ, ý thức trách nhiệm với công việc của sinh viên được nâng cao Hơn nữa, sinh viên phải tự chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình nên khả năng tự đánh giá, tự điều chỉnh, tự giáo dục của họ đều được phát triển
- Các hoạt động cơ bản của sinh viên
+ Hoạt động học tập Học tập của sinh viên cũng như học tập của học sinh nói chung có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả Học tập của sinh viên với tư cách một hoạt động không nhằm biến đổi đối tượng mà tạo ra sự biến đổi chính bản
Trang 22thân sinh viên Hoạt động học tập của sinh viên Việt Nam có nhiều điểm khác
với sinh viên các nước
Phương thức đào tạo ở các trường Cao đẳng, Đại học ở Việt Nam vẫn
theo niên chế nên việc thực hiện kế hoạch giảng dạy và học tập phải tuân thủ
theo một kế hoạch chặt chẽ và máy móc Thời khoá biểu của các lớp, các
khoa được xây dựng theo kế hoạch từng năm học, học kỳ rất nghiêm ngặt
Sinh viên không thể học kế hoạch cá nhân mà phải tuân thủ theo kế hoạch của
từng khoá, từng ngành đào tạo
Trong học tập sinh viên phải sử dụng nhiều sách vở, tài liệu, ngoài bài
giảng của giảng viên Do đó, thư viện, đặc biệt là các cổng thông tin điện tử,
các trang Web trên mạng, các phòng thí nghiệm, cơ sở thực nghiệm là những
điều kiện không thể thiếu trong học tập của sinh viên Hơn nữa điều kiện học
tập của sinh viên Việt Nam rất khó khăn, phòng ở của sinh viên vừa là chỗ ăn
nghỉ, vừa là nơi diễn ra các sinh hoạt cá nhân và cũng là nơi để sinh viên tự
học ở nhà
Do học theo phương thức tự nghiên cứu nên các hoạt động tâm lý của
sinh viên diễn ra với cường độ cao và căng thẳng Sinh viên chịu nhiều sức ép
do yêu cầu học tập, yêu cầu của các cớ ở sử dụng lao động về các kiến thức,
kỹ năng cần có nên họ phải học thêm nhiều những nội dung ngoài chương
trình chính khoá Do đó, sinh viên luôn bị áp lực, phải vươn lên trong học tập
Hoạt động của sinh viên là tìm tòi, khám phá nên buộc họ phải luôn
huy động các chức năng tâm lý ở cường độ cao để nhận thức được bản chất
của các khái niệm, bản chất của các vấn đề mà khoa học đang đặt ra và thể
hiện chính kiến của mình Đây là yêu cầu của hoạt động học tập ở Đại học
nhằm phát triển các năng lực trí tuệ, trong đó có năng lực phê phán của sinh
viên
Từ những đặc điểm trên cho thấy: Nét đặc trưng trong hoạt động học
tập của sinh viên là quá trình nhận thức ở cường độ cao mà trọng tâm là quá
trình tư duy trong tìm tòi khám phá Hoạt động học của sinh viên Cao đẳng, Đại học vừa có điểm giống, vừa có điểm khác với hoạt động học sinh Về mục đích hoạt động học, sinh viên và học sinh nhằm biến đổi bản thân người học Nhưng đối tượng của hoạt động học của sinh viên và học sinh có sự khác biệt nhất định Đối tượng của hoạt động học ở học sinh là những tri thức khoa học cơ bản đã được hệ thống hoá và chế biến cho phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh từng cấp học Đối tượng của hoạt động học ở sinh viên là những tri thức khoa học chuyên sâu và không có giới hạn về sự khám phá Hoạt động học của sinh viên đòi hỏi sự sáng tạo, những tri thức sinh viên cần lĩnh hội vượt ra ngoài những giáo trình, bài giảng mà giảng viên cung cấp Quá trình nhận thức trong học tập của sinh viên
Hoạt động nhận thức trong học tập của sinh viên diễn ra ở cường độ cao Các quá trình nhận thức từ tri giác, trí nhớ, tư duy và tưởng tượng đều được huy động ở mức độ cao Sức tập trung và độ bền vững của chú ý cũng được huy động tối đa để đáp ứng yêu cầu học tập theo phương thức tự nghiên cứu
Do đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên là tìm tòi khám phá nên năng lực quan sát và các thuộc tính của tri giác ở sinh viên phát triển mạnh Đối tượng học của sinh viên không chỉ là những tri thức khoa học hấp dẫn mà rất nhiều tri thức khoa học vừa khó, vừa khô khan Không phải bài giảng nào của giảng viên nào cũng hấp dẫn nhưng sinh viên đều phải tập trung lĩnh hội
và tham gia vào bài giảng nên tri giác có chủ định, chú ý có chủ định được huy động là chủ yếu
Quá quá trình trí nhớ trong hoạt động học tập của sinh viên đều được huy động ở mức độ cao Khả năng tưởng tượng của sinh viên cũng đã phát triển ở mức độ cao Sinh viên có thể xây dựng những hình ảnh mới, độc đáo
mà học sinh phổ thông chưa có được Đặc biệt sinh viên một số ngành nghệ
Trang 23thuật, xây dựng, kiến trúc… có khả năng tưởng tượng rất độc đáo và phong
phú nên có thể đã có được những tác phẩm có giá trị ngay khi còn ngồi trên
ghế nhà trường đại học
+ Hoạt động nghiên cứu khoa học
Đây là nội dung phải được thực hiện trong quá trình đào tạo ở cao
đẳng, đại học Hay nói khác đi, đây cũng là một hình thức học tập của sinh
viên Nghiên cứu khoa học vừa giúp sinh viên nắm được các tri thức khoa học
công nghệ mà còn giúp sinh viên có kỹ năng nghiên cứu Khác với học sinh
phổ thông, sinh viên vừa được học nội dung các tri thức khoa học chuyên
ngành vừa được học phương pháp nghiên cứu các khoa học đó Trong hoạt
động này sinh viên được rèn luyện một số phẩm chất và kỹ năng của người
làm khoa học như nhãn quan khoa học, tính khách quan, trung thực, tính độc
lập của nhà nghiên cứu, các kỹ năng tìm tòi khai thác tài liệu, khả năng đánh
giá và tự đánh giá một công trình khoa học Ngoài ra còn hình thành ở sinh
viên năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt
động sản xuất, hoạt động xã hội Đây vừa là một đặc điểm, vừa là một phẩm
chất cần hình thành ở sinh viên
+ Hoat động chính trị xã hội của sinh viên
Nhà trường cao đẳng, đại học là một đơn vị sự nghiệp, trong đó các cán
bộ giảng dạy, sinh viên đều thuộc các tổ chức chính trị xã hội của địa phương
nơi trường đóng Vì thế bên cạnh việc học tập, rèn luyện để trở thành người
lao động có trình độ cao, sinh viên của các trường cao đẳng, đại học không
thể tách rời hoạt động chung của các tổ chức chính trị xã hội Trong các
trường cao đẳng, đại học có các tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên Sinh viên tham gia chủ yếu vào hai tổ
chức chính trị xã hội đó là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội
sinh viên Ngoài việc tham gia các hoạt động do hai tổ chức của sinh viên tổ
chức, sinh viên có thể còn tham gia các hoạt động do các tổ chức khác của Đảng và Nhà nước tổ chức hoặc do chính sinh viên đứng ra tổ chức
Nội dung các hoạt động chính trị xã hội của sinh viên vừa gắn với các hoạt động chung của các tổ chức chính trị xã hội vừa gắn với các nội dung đào tạo chuyên môn về ngành nghề theo mục tiêu đào tạo của nhà trường Các nội dung hoạt động thường gắn với một phong trào nào đó của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên và các đợt sinh hoạt chính trị của nhà trường Ví dụ, Đoàn thanh niên có thể phát động phong trào mùa thi nghiêm túc vào cuối mỗi năm học để vừa có thể phát động phong trào mùa thi nghiêm túc vừa phục vụ mục tiêu đào tạo của nhà trường Sinh viên tham gia phong trào vừa để thực hiện nhiệm vụ của người đoàn viên, vừa hoàn thành nhiệm vụ của người sinh viên Hình thức hoạt động chính trị xã hội của sinh viên rất phong phú và đa dạng từ phong trào thi đua của sinh viên và tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh đến các hoạt động thực tiễn Sinh viên có thể tham gia làm tình nguyện viên cho hoạt động công ích đóng góp xây dựng công trình văn hoá giữ gìn trật tự công cộng của địa phương Đồng thời họ có thể trở thành tuyên truyền viên phổ biến những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về một vấn đề nào đó Ngoài mùa hè tình nguyện của các cơ sở Đoàn, trong năm học sinh viên có thể có nhiều hoạt động thiết thực khác đóng góp cho xã hội như: Hiến máu cứu người, tham gia các cuộc thi do các tổ chức xã hộ tổ chức như kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, lái xe an toàn… Cùng với hoạt động phong trào, sinh viên có thể tham gia các câu lạc
bộ để có những sinh hoạt chuyên đề vừa để học hỏi thêm những kiến thức ngoài chuyên môn vừa là sân chơi của sinh viên để thoả mãn nhu cầu vui chơi, giải trí Hình thức tổ chức câu lạc bộ lôi cuốn được nhiều sinh viên tham gia vì sinh hoạt câu lạc bộ vừa vui vừa bổ ích Như câu lạc bộ phòng chống tệ nạn xã hội, câu lạc bộ những người yêu thích bóng đá
Trang 241.3.2.2 Vai trò của HĐPT với sự phát triển nhân cách của sinh viên
Hoạt động chính trị xã hội có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển
nhân cách của sinh viên Thông qua các hoạt động chính trị xã hội, sinh viên
có thể hình thành thêm nhiều phẩm chất tâm lý, kỹ năng sống rất cần cho họ
trong thực tại và trong nghề nghiệp tương lai
Trong các hoạt động tình nguyện, sinh viên hiểu biết rõ hơn về thực
tiễn xã hội hiện nay Họ có thể vận dụng những hiểu biết về lý luận để lý giải
các hiện tượng xã hội, có thêm những ví dụ thực tiễn sinh động cho các bài
học của mình ở nhà trường Đặc biệt, đối với những sinh viên thuộc nhóm
ngành khoa học xã hội và nhân văn thì qua các hoạt động họ được bổ sung
thêm nhiều kiến thức thực tiễn quý báu mà sách mở không thể nói hết
Điều quan trọng là sinh viên có thể thay đổi nhận thức và thái độ đối
với một số vấn đề xã hội khi trực tiếp tham gia các hoạt đông Như khi tham
gia hoạt động tình nguyện, sinh viên hiểu thêm về sự vất vả của đồng bào
vùng sâu, cùng xa khi lên miền núi làm tình nguyện viên xoá mù chữ Họ sẽ
có thái độ đồng cảm và biết chia sẻ với những người có hoàn cảnh khó khăn
Khi tiếp xúc với những người tàn tật hoặc nhiễm HIV họ hiểu rõ hơn căn
bệnh thế kỷ và không kỳ thị với những người nhiễm HIV
Một số kỹ năng sống và kỹ năng cần thiết của nghề nghiệp tương lai
được hình thành nhờ các hoạt đọng xã hội như kỹ năng thiết lập quan hệ với
người khác, kỹ năng tổ chức các hoạt động tập thể cho thanh thiếu niên… đều
được hình thành Khi tham gia các câu lạc bộ chuyên đề có liên quan đến hoạt
động nghề nghiệp tương lai, sinh viên không chỉ có thêm kiến thức mà còn
được rèn luyện một số kỹ năng nghề Ví dụ, sinh viên sư phạm có thể được
rèn kỹ năng trình bày vấn đề trước mọi người
Vì thế hoạt động chính trị xã hội, hoạt động phong trào là một phương
thức giáo dục sinh viên Phương thức này vừa nhẹ nhàng, vừa phù hợp với
đặc điểm tâm lý của tuổi trẻ, đồng thời cũng là một hình thức sử dụng thời gian rỗi của sinh viên một cách hữu ích
Hoạt động chính trị xã hội, hoạt động phong trào cũng là biểu hiện của
sự trưởng thành về mặt xã hội của sinh viên Sinh viên đồng thời là những công dân nên những gì diễn ra trong xã hội không thể xa lạ với sinh viên Thông qua các hoạt động xã hội, sinh viên thể hiện vai trò và trách nhiệm của mình với xã hội, hình thành tình cảm trách nhiệm với người khác, với các nghĩa vụ xã hội của một công dân Những sinh viên tích cực tham gia hoặc thủ lĩnh của sinh viên trong các hoạt động xã hội thường trưởng thành nhanh chóng Họ dễ dàng thích ứng với môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp hơn những sinh viên ít tham gia các hoạt động tập thể Vì thế, các nhà trường cần quan tâm thoả đáng đến các hoạt động này với tư cách là một hình thức giáo dục toàn diện cho sinh viên
Những hoạt động cơ bản của sinh viên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Hoạt động học tập, hoạt động nghiên cứu khoa học và các hoạt động thực tiễn đều có mục đích chung là rèn luyện các phẩm chất theo một yêu cầu nghề nghiệp, theo chuyên ngành đào tạo của sinh viên Do đó, tổ chức tốt các hoạt động của sinh viên chính là phương thức, là con đường giáo dục toàn diện cho sinh viên và nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học
- HĐPT tạo điều kiện thuận lợi, phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của sinh viên, biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục
Tự giáo dục là phương thức tự khẳng định, được hình thành thông qua hoạt động mà cá nhân phát huy vai trò chủ thể Tự giáo dục bắt đầu từ việc xây dựng các mục tiêu lý tưởng cho tương lai, tiếp đó là tìm biện pháp và quyết tâm thực hiện mục tiêu xác định, thường xuyên tự kiểm tra các kết quả
Trang 25và phương thức thực hiện, tìm các giải pháp sáng tạo mới, xác định quyết tâm
mới để tiếp tục hoàn thiện bản thân
HĐPT là điều kiện, là môi trường để sinh viên phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của bản thân Trong HĐPT vai trò chủ thể có điều kiện
được phát huy, sinh viên được giao việc, được chủ động hoàn thành theo mục
tiêu hoạt động Ví dụ hoạt động biểu diễn thời trang với các chủ đề khác nhau
(bảo vệ môi trường, sống tiết kiệm, chống tệ nạn xã hội) sinh viên có thể trình
bày rất nhiều ý kiến sáng tạo độc đáo qua các mẫu trang phục, qua chất liệu
làm trang phục như cách biểu diễn gây ấn tượng, do khống chế về số lượng
cũng như chất liệu nên sinh viên hoàn toàn chủ động sáng tạo trong công việc
của mình
HĐPT tạo cơ hội để sinh viên tự giáo dục Tự giáo dục có vai trò to lớn
trong quá trình phát triển nhân cách của mỗi cá nhân, khẳng định vị thế của
mỗi cá nhân
- HĐPT tạo cơ hội phát triển các kỹ năng và năng lực ở sinh viên góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới để
Việt Nam có thể hội nhập với giáo dục khu vực và thế giới
Qua HĐPT sinh viên hình thành được một số năng lực như: Năng lực
tổ chức, quản lý, năng lực tự hoàn thiện, năng lực giao tiếp, năng lực hoạt
động chính trị - xã hội, khả năng làm việc độc lập, khả năng diễn đạt trước
đám đông, khả năng phản xạ nhanh, hình thành quan niệm sống đúng đăn, lý
tưởng sống của thanh niên trong giai đoạn CNH - HĐH đất nước, biết chung
sống hoà hợp với thiên nhiên, với xã hội và cộng đồng, biết đấu tranh với
những biểu hiện sai trái của bản thân và của người khác…HĐPT hội tụ được
nhiều ưu thế giúp cho sinh viên có được các kỹ năng sống đáp ứng với nền
kinh tế hội nhập
- HĐPT góp phần giáo dục tinh thần hợp tác vì mục tiêu chung, là môi trường nảy nở các tình cảm tốt đẹp, nâng cao tinh thần trách nhiệm với bản thân, bạn bè và xã hội
Để thực hiện tốt HĐPT đòi hỏi tập thể sinh viên phải có sự hợp tác, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ, phải có sự tương tác giữa các thành viên
- HĐPT hướng hứng thú của sinh viên vào các hoạt động bổ ích làm giảm thiểu tình trạng yếu kém đạo đức của sinh viên
HĐPT là sân chơi thú vị với nhiều nhiều thức phong phú, nên khi sinh viên đầu tư thời gian vào các hoạt động bổ ích sẽ làm giảm thời gian tham gia các hoạt động không lành mạnh, hạn chế nhóm tự phát, tránh ảnh hưởng xấu, HĐPT sẽ phát huy được tính tích cực của sinh viên yếu kém về đạo đức Qua mỗi hoạt động sinh viên sẽ xích lại gần tập thể hơn, dần dần sẽ tạo được những thói quen tốt
- HĐPT giúp nhà giáo dục sớm phát hiện năng khiếu của sinh viên từ
đó có kế hoạch bồi dưỡng nhằm giúp sinh viên phát triển năng khiếu, sở thích của bản thân trong học tập và cuộc sống
HĐPT giúp sinh viên kiểm nghiệm được khả năng của mình từ đó có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với tương lai, đối với nhà tổ chức, nhà giáo dục HĐPT giúp họ phát triển, lựa chọn các em sinh viên có năng khiếu trên các mặt, từ đó đóng góp vào phong trào chung của nhà trường
- HĐPT là con đường gắn lý thuyết với thực hành, gắn giáo dục của nhà trường với thực tiễn xã hội
HĐPT là các "giờ học thực hành", các giờ học đặc biệt này đòi hỏi sinh viên không chỉ có kiến thức lý luận học trong sách với mà phải có vốn hiểu biết thực tế sống động, biết vận dụng vào giải quyết các tình huống cụ thể
Trang 26Như vậy HĐPT làm cho quá trình đào tạo của nhà trường dần trở lên phù hợp
hơn, thiết thực hơn với thực tiễn xã hội
1.3.3 Nhiệm vụ của HĐPT trong nhà trường đại học, cao đẳng
- Về kiến thức: Củng cố và khắc sâu những kiến thức đã học, mở rộng
và nâng cao hiểu biết của sinh viên về những kiến thức tự nhiên, xã hội
- Về kỹ năng: Rèn luyện và củng cố vững chắc cho sinh viên các kinh
nghiệm cơ bản như kinh nghiệm giao tiếp, ứng xử, kinh nghiệm tổ chức, hợp
tác, thích ứng, kinh nghiệm kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động
- Về thái độ: Tạo cho sinh viên hứng thú, thái độ tích cực, tự giác khi
tham gia HĐPT
1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TỔ CHỨC HĐPT
TRONG TRƯỜNG CAO ĐẲNG
1.4.1 Yêu cầu đổi mới giáo dục đại học liên quan đến HĐPT
1.4.1.1 Một số định hướng đổi mới giáo dục đại học Việt Nam liên
quan đến HĐPT
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới đã và
đang có những chuyển biến vĩ đại, đó là thời đại của "Cuộc cách mạng đại
công nghệ", thời đại của "chủ nghĩa nhân văn", thời đại của "giáo dục và đào
tạo"…Trước những biến đổi lớn lao về đời sống xã hội và sự phát triển như
vũ bão của khoa học và công nghệ, nhà trường đại học, cao đẳng cần có tư
duy mới về chiến lược và phương thức đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ
thuật Các cấp quản lí lãnh đạo cần ý thức được rằng: "Đội ngũ cán bộ khoa
học, đặc biệt cán bộ có trình độ cao là vốn quý của dân tộc, cần được chú
trọng, phát huy năng lực nhằm phục vụ sự phát triển của đất nước" (Nghị
quyết của Bộ Chính trị về Khoa học và Công nghệ trong sự nghiệp đổi mới"
Điều đó đòi hỏi các trường đại học, cao đẳng phải đào tạo những đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ quản lí nghiệp vụ có phẩm chất và năng lực ngày càng hoàn thiện, đáp ứng được những yêu cầu, nhiệm vụ trước mắt
và lâu dài Đồng thời phải biết tận dụng những cơ hội mà thời đại mới mang lại, phải biết tiếp thu thành quả các nước, phải kế thừa những kinh nghiệm, những thành công cũng như biết tránh những thất bại, sai lầm, biết đi tắt và đón đầu để nhanh chóng sánh vai với các nước phát triển
Trong nghị quyết số 14/2005/NQ - CP ngày 02/11/2005 của chính phủ
đã xác định Định hướng đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010, trong đó có đề cập đến HĐPT như:
1.4.1.2 Về quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục đại học liên quan đến HĐPT
Nghị quyết của Thủ tướng Chính phủ xác định "Để nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới, giáo dục đại học nước ta phải đổi mới một cách mạnh mẽ, cơ bản và toàn diện, Chính phủ đã quyết nghị về
đề án đối mới giáo dục đại học Việt Nam với những nội dung sau:
- Gắn kết chặt chẽ đổi mới giáo dục đại học với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, nhu cầu nhân lực trình độ cao của đất nước và xu thế phát triển của khoa học và công nghệ Hiện đại hoá hệ thống giáo dục đại học trên cơ sở kế thừa những thành quả giáo dục đào tạo của đất nước, phát huy bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại, nhanh chóng tiếp cận xu thế phát triển giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới Đổi mới giáo dục đại học phải đảm bảo tính thực tiễn, hiệu quả và đồng bộ … tạo điều kiện về cơ chế để các tổ chức tham gia vào phát triển giáo dục đại học HĐPT phải được đổi mới, được quan tâm đầu tư thích đáng, có như vậy HĐPT trong trường Đại học, Cao đẳng mới phát huy tác dụng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu thời đại
Trang 27- Đổi mới mục tiêu giáo dục đại học liên quan tới HĐPT: Mục tiêu của
giáo dục đại học trong Luật Giáo dục ghi rõ: "Mục tiêu của giáo dục đại học
là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân
dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ
đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc" (Điều 39,
luật giáo dục 2006)
Trong Nghị quyết của Chính phủ xác định: "Phát triển các chương trình
giáo dục đại học theo hướng nghiên cứu và định hướng nghề nghiệp" (Nghị
quyết 14/2005/NQ - CP của Chính phủ)
HĐPT là một trong những con đường thực hiện mục tiêu đổi mới giáo
dục đại học, để đáp ứng mục tiêu đổi mới giáo dục đại học, HĐPT phải có
chương trình, nội dung phù hợp với yêu cầu đổi mới và trở thành hoạt động
quan trọng và chú trọng trong các trường đại học hiện nay
- Đổi mới nội dung giáo dục đại học liên quan tới HĐPT: Trong nghị quyết
Chính phủ nhấn mạnh: "Cơ cấu lại khung chương trình, đảm bảo giải quyết tốt
mối quan hệ về khối lượng kiến thức và khối lượng học tập giữa các môn giáo dục
đại cương và giáo dục chuyên nghiệp… Đổi mới nội dung đào tạo, gắn kết chặt
chẽ với thực tiễn nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nghề nghiệp trong
xã hội Phát triển tiềm năng nghiên cứu sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực
hoạt động trong cộng đồng và khả năng lập nghiệp của người học…"
1.4.2 Nhận thức của các lực lượng giáo dục
HĐPT diễn ra trong nhà trường và ngoài nhà trường, các lực lượng giáo
dục có ảnh hưởng tới hoạt động đó là: Các đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà
trường và ngoài nhà trường, phụ huynh, giáo viên, cán bộ quản lý và sinh
viên
Để tổ chức có hiệu quả HĐPT cần thiết có sự hợp tác, sự đồng thuận của
tất cả các lực lượng tham gia tổ chức Nhận thức của các lực lượng giáo dục có
ảnh hưởng không nhỏ đến tổ chức HĐPT cho sinh viên trong trường đại học hiện nay
1.4.3 Năng lực của người tổ chức HĐPT
HĐPT rất đa dạng, phong phú về hình thức tổ chức, nôi dung, nhân tố nhân lực tham gia, cách điều hành, tổ chức, quản lý Do vậy đòi hỏi người tổ chức phải có năng lực nhận thức trên nhiều lĩnh vực, năng lực thu nhập thông tin, khả năng diễn đạt tốt, năng động, sáng tạo luôn có ý thức tìm tòi, biết huy động mọi thành viên tham gia hoạt động
1.4.4 Nội dung chương trình của HĐPT
Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, mạng truyền thông, nhu cầu trao đổi, tìm kiếm và lựa chọn thông tin ngày càng nhiều HĐPT nếu khơi dậy nhu cầu ham học hỏi, tự tìm tòi kiến thức phám phá cái mới của sinh viên thì nội dung kiến thức sẽ được mở rộng, phong phú Chương trình HĐPT phải đảm bảo cân đối, phù hợp trong các hoạt động của nhà trường, nếu thời lượng quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến học văn hoá ngược lại quá ít sẽ khó có được kết quả hình thành được những phẩm chất đạo đức và những kỹ năng cần thiết
1.4.5 Hình thức tổ chức HĐPT
Đặc trưng của HĐPT là hoạt động giáo dục diễn ra ở các môi trường giáo dục, với quy mô và hình thức khác nhau Hình thức tổ chức đa dạng, phong phú: Hình thức sân khấu hoá, hình thức sân chơi trí tuệ, hình thức thi rung chuông vàng, chương trình sinh viên, hình thức thi thanh lịch, nói chuyện thời sự, tuyên truyền tham gia, dã ngoại, tình nguyện…
Hình thức tổ chức có ý nghĩa quan trọng đến hiệu quả HĐPT, nó mang lại sự hấp dẫn của hoạt động, thu hút được nhiều sinh viên tham gia nhiệt tình
và có kết quả Tuy nhiên thời gian tổ chức hình thức hoạt động phải hợp lý, nếu không sẽ không gây hứng thú sinh viên, hoạt động khó có hiệu quả
1.4.6 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của HĐPT
Trang 28Đánh giá HĐPT là việc làm rất khó khăn so với việc đánh giá giờ dạy
trên lớp, song việc đánh giá đúng sẽ động viên, thúc đẩy hoạt động và ngược
lại Đánh giá không chỉ nhận xét chung về tinh thần, thái độ tham gia mà đánh
giá phải được ghi nhận bằng giấy khen, bằng khen, đánh giá điểm rèn luyện
hoặc động viên kịp thời, thường xuyên, điều đó sẽ đem lại hiệu quả cho
HĐPT
1.4.7 Các điều kiện để tổ chức HĐPT đạt hiệu quả
Để tổ chức HĐPT đạt hiệu quả cần có các điều kiện và sự tác động qua
lại, tương hỗ của nhiều yếu tố, điều kiện như: Nhân tố con người, cơ sở vật
chất, phương tiện kỹ thuật, kinh phí và sự đồng thuận của ban giám hiệu nhà
trường… Việc huy động sức mạnh của lực lượng giáo dục sẽ tạo thuận lợi
cho HĐPT đạt kết quả cao
Tiểu kết chương 1
1 HĐPT là bộ phận của quá trình giáo dục trong trường đại học, cao đẳng, là sự tiếp nối hoạt động dạy trên lớp, có vai trò quan trọng trong việc tạo nên sản phẩm giáo dục đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của xã hội
2 Đã có nhều tác giả trong nước và ngoài nước nghiên cứu về HĐPT như: Làm thế nào để hoạt động này phát huy tác dụng, làm thế nào để HĐPT trở thành một yếu tố có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào về tổ chức HĐPT và từ đó đưa ra biện pháp tổ chức HĐPT cho sinh viên trường CĐSP Thái Bình
3 HĐPT ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: Yêu cầu đổi mới giáo dục đại học; nhận thức của các lực lượng giáo dục; năng lực người tổ chức; nội dung; chương trình; hình thức; sự đánh giá và các điều kiện để tổ chức HĐPT Bởi vậy phải có biện pháp tổ chức hợp lý, hiệu quả thì HĐPT sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của trường học
Trang 29Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HĐPT CHO SINH VIÊN
- Đánh giá, ưu, nhược điểm và nguyên nhân ảnh hưởng đến các biện
pháp tổ chức HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
Trong đó: Cán bộ phong trào là lãnh đạo các bộ phận, lãnh đạo các
đoàn thể, giảng viên, sinh viên những người đang trực tiếp tham gia tổ chức
HĐPT trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
- Phỏng vấn sâu 20 đối tượng, gồm:
2.1.3 Nội dung khảo sát
- Khảo sát thực trạng tổ chức HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
- Đánh giá thực trạng các biện pháp trong quá trình tổ chức các HĐPT cho sinh viên
- Đề xuất các biện pháp tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả của HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
* Phương pháp khảo sát:
- Điều tra bằng phiếu hỏi ý kiến
- Phỏng vấn trực tiếp
- Xử lý kết quả khảo sát bằng phương pháp thống kê toán học
2.1.4 Tiêu chí đánh giá và thang đo
- Để nghiên cứu thực trạng tổ chức HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, chúng tôi tiến hành lấy ý kiến bằng phiếu hỏi
và phỏng vấn trực tiếp cán bộ lãnh đạo, cán bộ phong trào, giảng viên, sinh viên, dựa trên các tiêu chí sau:
Trang 30+ Nhận thức về tầm quan trọng của các HĐPT
+ Tìm hiểu mức độ tham gia và các HĐPT của sinh viên
+ Tìm hiểu về lực lượng (Khoa, Phòng, Đoàn thể) trong nhà trường
thường đứng ra tổ chức các HĐPT cho sinh viên
+ Đánh giá của cán bộ phong trào, giảng viên, sinh viên với tư cách là
chủ thể tổ chức và tham gia vào HĐPT về mức độ, quy mô, hình thức tổ chức
các hoạt động này
- Để nghiên cứu thực trạng sử dụng các biện pháp trong tổ chức HĐPT
cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình chúng tôi tiến hành
lấy ý kiến bằng phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp cán bộ phong trào, giảng
viên, sinh viên, dựa trên các tiêu chí sau:
+ Tìm hiểu về mực độ áp dụng các biện pháp tổ chức HĐPT cho sinh
viên
+ Nhận thức của cán bộ phong trào, giảng viên, sinh viên vè tính cần
thiết của việc áp dụng các biện pháp vào quán trình tổ chức HĐPT cho sinh
viên
+ Đánh giá của cán bộ phong trào, giảng viên và sinh viên về những
nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các biện pháp tổ chức HĐPT
2.2 VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH TRƯỞNG THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH
Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình tiền thân là trường Trung cấp Sư
phạm, ra đời tháng 10 - 1959 Đây là trường Trung cấp Chuyên nghiệp đầu
tiên của tỉnh Nhiệm vụ của trường là: đào tạo giáo viên cấp 2, bồi dưỡng kiến
thức văn hoá phổ thông cho cán bộ các ngành của tỉnh
Do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, do điều kiện chiến tranh,
trường đã nhiều lần chia tách, sáp nhập, di chuyển địa điểm đặt trường Lần
sáp nhập cuối cùng trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước diễn ra vào
tháng 9 năm 1974, từ năm 1974 trường đổi tên thành trường Sư phạm 10 + 3 Thái Bình
Năm 1978, cùng với 16 trường sư phạm khác trong cả nước, trường được Chính phủ quyết định nâng cấp thành trường Cao đẳng Sư phạm Trường có nhiệm vụ đào tạo giáo viên cấp 2 có trình độ cao đẳng cho tỉnh, bồi dưỡng chuẩn hoá giáo viên cấp 2 có trình độ cao đẳng; tổ chức nghiên cứu khoa học cho giảng viên và sinh viên Đối tượng đào tạo chính quy là học sinh tốt nghiệp THPT, bổ túc THPT Thời gian đào tạo 3 năm
Tháng 7/ 1997, trường Trung cấp Sư phạm cấp 1 (12 + 2) sáp nhập với trường CĐSP Từ đây trường nhận thêm nhiệm vụ đào tạo giáo viên tiểu học
có trình độ cao đẳng sư phạm
Ngày 26/9/2001 trường chuyển sang trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Ngày 01/07/2001, trường sáp nhập thêm trường Cán bộ quản lý giáo dục Theo đó quy mô và nhiệm vụ của nhà trường tiếp tục tăng lên
Năm học 2007 - 2008 trường CĐSP Thái Bình có quy mô đào tạo là
3585 sinh viên Trường có 6 khoa đào tạo: Xã hội, Tự nhiên, Năng khiếu, Ngoại ngữ, Cán bộ quản lý, Giáo dục Tiểu học - Mầm non và 2 tổ bộ môn chung: Tâm lý- Giáo dục; Giáo dục Chính trị
Ngoài hình thức đào tạo chính quy tập trung, Trường còn đào tạo hệ không chính quy nâng chuẩn cho giáo viên mầm non và giáo viên tiểu học, liên kết với các trường đại học đào tạo nâng chuẩn giáo viên THCS có trình
độ đại học, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục các bậc học
Cùng với các hoạt động đào tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường đã đi vào quy củ, nề nếp Hàng năng trường thực hiện từ 7 - 10 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp tỉnh
Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, công nhân + Cán bộ quản lý:
Trang 31- 01 Hiệu trưởng và 04 Phó hiệu trưởng
- Mỗi khoa có 01 Trưởng khoa và 01 hoặc 02 Phó trưởng khoa
- Mỗi phòng ban có 01 Trưởng phòng và 01 hoặc 02 Phó trưởng phòng
- Mỗi bộ môn có 01 Trưởng bộ môn và 01 Phó trưởng Bộ môn
+ Cán bộ giảng dạy: 161 Trong đó có:
CÁC PHÒNG
- Phòng Đào tạo
- Phòng Tổ chức cán bộ
- Phòng Công tác Chính trị - sinh viên
- Phòng Quản trị đời sống
- Phòng Hành chính tổng hợp
- Tổ Giáo dục chính trị
* Công đoàn Công đoàn nhà trường trực thuộc Công đoàn viên chức tỉnh Công đoàn nhà trường có 218 công đoàn viên sinh hoạt tại 11 công đoàn bộ phận
* Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Đoàn thanh niên CSHCM nhà trường trực thuộc Tỉnh đoàn Đoàn thanh niên nhà trường có 1500 đoàn viên sinh hoạt tại 5 Liên chi đoàn khoa
* Hội cựu chiến binh Hội cựu chiến binh nhà trường trực thuộc Hội cựu chiến binh khối cơ quan Dân chính Đảng tỉnh Hội có 50 hội viên sinh hoạt tại 2 chi hội
* Hội khuyến học Hội khuyến học nhà trường trực thuộc Hội khuyến học Tỉnh Thái Bình 2.3 THỰC TRẠNG HĐPT CHO SINH VIÊN TRONG TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH
Để đánh giá thực trạng HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái bình, chúng tôi khảo sát trên các tiêu chí sau:
- Mức độ tổ chức các HĐPT cho sinh viên
- Đánh giá về quy mô tổ chức các HĐPT cho sinh viên
- Nội dung và hình thức tổ chức HĐPT cho sinh viên
- Tìm hiểu lực lượng thường đứng ra tổ chức các HĐPT cho sinh viên
- Mức độ tham gia vào các HĐPT của sinh viên
Trang 322.3.1 Đánh giá về mức độ tổ chức các HĐPT cho sinh viên trong
Thỉnh thoảng
Không bao giờ
% % %
Để tìm hiểu về mức độ tổ chức các HĐPT cho sinh viên trong trường
Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, chúng tôi đã đưa ra câu hỏi "Trường Cao đẳng
Sư phạm Thái Bình đã tổ chức những HĐPT nào dưới đây?" với thang đo ở
ba mức độ (Thường xuyên, thỉnh thoảng, không bao giờ), được điều tra trên
cả ba đối tượng cán bộ phong trào, giảng viên, sinh viên Từ số liệu trên chúng tôi thấy:
- 8/15 HĐPT được cán bộ, giảng viên, sinh viên đánh giá ở mức độ thường xuyên tổ chức trên 50% đó là:
+ Hoạt động vào dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn + Các hoạt động xã hội, nhân đạo từ thiện + Học tập chính trị, đầu khoá
+ Hội diễn văn hoá, văn nghệ + Các giải thể thao
+ Thăm hỏi, giúp đỡ gia đình chính sách + Tổ chức hiến máu nhân đạo
+ Tuyên truyền chính sách, PL của Đảng, Nhà nước
Từ kết quả nghiên cứu ở trên đã phản ánh thực trạng các HĐPT được nhà trường thường xuyên tổ chức là những HĐPT bề nổi (văn hoá, văn nghệ, hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn) Sở dĩ có kết quả đó là do nhiều nguyên nhân: Những HĐPT này là những hoạt động bề nổi, do đó thường có sức cuốn hút rất mạnh đối với sinh viên, đồng thời các hoạt động này lại phù hợp với đặc điểm tâm lý của sinh viên nên các đoàn thể thường quan tâm tổ chức Mặt khác được sự đồng ý của Đảng uỷ - Ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện
hỗ trợ về tinh thần và vật chất; cán bộ Đoàn trường là những thầy cô nhiệt huyết, tâm huyết với Đoàn, có nhiều kinh nghiệm tổ chức, thu hút đoàn viên tham gia phong trào Theo ý kiến của đồng chí Nguyễn Viết Hiển (Phó Hiệu trưởng nhà trường) người từng tham gia công tác Đoàn của trường cho rằng:
"Thế hệ cán bộ Đoàn trường hiện nay được thừa hưởng những thành quả của
thế hệ cán bộ Đoàn đi trước, nhưng cũng phải khẳng định cán bộ Đoàn trường gồm nhiều đồng chí năng động, sáng tạo, có những sáng kiến mang tính chất đổi mới, đột phá nhằm nâng cao hiệu quả của HĐPT của nhà trường"
Trang 33Tuy nhiên, từ kết quả HĐPT trên chúng ta thấy mức độ tổ chức các
HĐPT mang tính chất thường xuyên không đều trong các hoạt động, có
HĐPT mức độ thường xuyên cao nhưng cũng có nội dung thể hiện ở mức
Những HĐPT này Từ năm 2006 trở về trước không được thường xuyên
tổ chức, chỉ những năm gần đây phong trào này mới được tổ chức Tuy tỷ lệ
mức độ tổ chức không cao nhưng nhìn về mặt nào đó cũng là những thành
tích đáng tự hào của Đoàn trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
Hoạt động tình nguyện được tổ chức với các hình thức đa dạng: Phong
trào tình nguyện phòng chống tệ nạn xã hội Đây là phong trào lớn mà Đoàn
trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình phối hợp với Tỉnh đoàn Thái Bình,
Chính quyền địa phương, lực lượng công an Hoạt động thanh niên tình
nguyện phòng chống các tệ nạn xã hội có 3 nội dung chủ yếu: Hoạt động
tuyên truyền phòng chống tệ nạn xã hội, hoạt động tham gia phát hiện, truy
quét tội phạm, hoạt động giúp đỡ đối tượng mắc tệ nạn xã hội tái hoà nhập
cộng đồng Ở mức độ và phạm vị cho phép, Cán bộ Đoàn trường Cao đẳng Sư
phạm Thái Bình tổ chức hoạt động tuyên truyền phòng chống các tệ nạn xã
hội với mục đích giúp sinh viên nhận thấy mức độ nguy hiểm của các tệ nạn
xã hội, phòng tránh cho bản thân mình, cho gia đình và đồng thời tuyên
truyền vận động mọi người tránh xa các tệ nạn xã hội Các thanh niên tình
nguyện đã tập trung tuyên truyền cung cấp thông tin, kiến thức nâng cao nhận
thức cho sinh viên, quần chúng nhân dân về tác hại nguy hiểm của các tệ nạn
xã hội để từ đó có thái độ tích cực phòng ngừa, không bị sa vào cạm bẫy của
các tệ nạn xã hội Nội dung tuyên truyền rất phong phú như Cuộc thi tìm hiểu
về tác hại của tệ nạn xã hội, tuyên truyền vận động, giúp đỡ những người mắc
tệ nạn xã hội Hình thức tuyên truyền Đoàn trường tổ chức rất phong phú đa dạng như nói chuyện chuyên đề, phát tời rơi, biểu diễn tiểu phẩm với chủ đề phòng chống tệ nạn xã hội, tổ chức các đội tuyên truyền xung kích tại các địa bàn trọng điểm, vận động thanh niên thực hiện 3 " không" ( không trồng cây thuốc phiện, không tàng trữ buôn bán ma tuý, không thử hút trích) và 3 "nên" (nên trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, nên giúp đỡ người nghiện, nên tuyên truyền vận động cộng đồng không nghiện hút)
Được sự đồng ý, tạo điều kiện của Đảng uỷ, Ban giám hiệu nhà trường
mà hình thức các câu lạc bộ ngày càng đa dạng Đoàn trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình đã tổ chức và thành lập các câu lạc bộ: Câu lạc bộ Hiến máu nhân đạo, câu lạc bộ khiêu vũ, câu lạc bộ học tập, câu lạc bộ ngoại ngữ tin học cho thầy, cô giáo và các đoàn viên sinh viên trong trường
Sự thành lập các câu lạc bộ này tuy chưa nhiều nhưng có một ý nghĩa rất quan trọng So với những năm trước đây số lượng các câu lạc bộ này trong trường chưa có, chất lượng chưa cao Mặc dù tỷ lệ chúng tôi điều tra chưa cao nhưng cũng nhận thấy sự phát triển trên đà tiến bộ của Đoàn trường Cao đẳng
Trang 34Qua số liệu trên ta thấy tỷ lệ tổ chức hoạt động hè cho thiếu nhi trên địa
bàn; thi Olympíc các môn học; thi báo tường, báo ảnh; tổ chức ngày hội việc
làm cho sinh viên; thi tìm hiểu pháp luật chưa cao Nguyên nhân dẫn đến tình
trạng trên do đâu?
Việc tổ chức hoạt động hè cho thiếu nhi trên địa bàn chiếm tỷ lệ thấp
Qua tìm hiểu chúng tôi thấy Đoàn trường mới chỉ phối hợp với đoàn viên giáo
viên, sinh viên tổ chức ngày Tết trung thu hàng năm cho con em cán bộ giáo
viên trong khu tập thể cán bộ giáo viên, tổ chức khen thưởng các cháu có
thành tích trong học tập Hoạt động này diễn ra một lần trong một năm Việc
phối hợp với chính quyền địa phương nơi trường đóng để tổ chức hoạt động
hè cho các cháu thì chưa phối hợp thực hiện Đây là vấn đề lớn, nhạy cảm bởi
ở mỗi địa phương cũng có tổ trưởng dân phố, ban chỉ đạo, thậm chí cũng có
cán bộ của trường sinh sống, do đó ở địa phương hàng năm vẫn tổ chức sinh
hoạt hè cho các cháu Nếu Đoàn trường phối hợp được với chính quyền địa
phương tổ chức hoạt động hè cho các cháu thì hình thức tổ chức đa dạng hơn,
hiệu quả phối hợp sẽ cao hơn
Việc tổ chức thi Olympíc các môn học chiếm tỷ lệ thấp Đây là hoạt
động phong trào đòi hỏi chuyên sâu về chuyên môn, đòi hỏi người tổ chức
phải dày kinh nghiệm, đồng thời phải tạo ra một ban tổ chức gồm nhiều cán
bộ, thầy cô ở nhiều lĩnh vực, chuyên ngành, có kinh nghiệm tổ chức, có trình
độ chuyên môn, có tâm huyết với chương trình đầy trí tuệ này Mặt khác cán
bộ Đoàn trường không phải là những người chuyên trách, mà chỉ làm kiêm
nghiệm, hàng năm luôn có sự thay đổi về nhân sự do cán bộ đi học, chuyển
công tác, cán bộ làm công tác đoàn phần nhiều là những thầy cô giáo trẻ mới
ra trường chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức Việc tổ chức thi
Olympíc các môn học chỉ diễn ra ở Tổ bộ môn chính trị, Tâm lý - giáo dục,
tức là mới chỉ tổ chức ở cấp bộ môn, khoa chứ cấp độ lớn hơn là Đoàn trường
tổ chức thì chưa nhiều Đây cũng là một trong những vấn đề mà Đoàn trường đang tìm hướng giải quyết, cách khắc phục trong những năm gần đây Hoạt động tổ chức thi báo tường ảnh ( 18%) chỉ diễn ra ở bộ môn Công tác Đội, Khoa Tiểu học bởi nó gắn liền với môn học và chuyên ngành của các
em Do đó hoạt động tổ chức nhiều ở cấp lớp học và nó cũng mang tính đặc thù của từng chuyên ngành
Sinh viên tốt nghiệp là đối tượng được đào tạo - người làm việc, học tập khai thác tri thức Là đối tượng xã hội đặc thù, là lực lượng xã hội có học thức, nguồn bổ sung chính cho lực lượng lao động trí tuệ, cán bộ khoa học công nghệ, chủ nhân tương lai của nền kinh tế tri thức, là nguồn lực to lớn, có vai trò quyết định trong việc thúc đẩy sự phát triển đất nước Nhưng qua số liệu trên 5% ý kiến đánh giá mức độ Tổ chức ngày hội việc làm cho sinh viên Điều đó cho thấy một thực tế đáng lo ngại Nó không chỉ là vấn đề trăn trở của bản thân sinh viên, của nhà trường và của xã hội Luận giải vấn đề này đòi hỏi sự quan tâm và giải quyết của các cấp, các ngành cũng như toàn xã hội
Từ những số liệu trên, một lần nữa khẳng định hiện nay trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, các HĐPT mới chỉ tập trung vào các hoạt động
bề nổi (Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao) Các hoạt động được đánh giá là ít tổ chức lại là các hoạt động gắn với chuyên môn, gắn với quá trình đào tạo, gắn với khả năng tiếp cận của sinh viên sau khi ra trường như tổ chức các ngày hội việc làm cho sinh viên… nguyên nhân là do các hoạt động này thường gắn với từng chuyên ngành đào tạo nên số lượng sinh viên tham gia không đông, thứ hai quá trình tổ chức đòi hỏi người tổ chức HĐPT phải đầu tư công sức rất cao, nội dung đòi hỏi độ chính xác, bởi đây là những sân chơi trí tuệ, là một trong những hình thức để sinh viên tiếp thu tri thức và thực tập những tình huống giả định nên ít được các nhà tổ chức lựa chọn
Trang 35Để làm rõ những nhận định trên chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trực
tiếp một số cán bộ phong trào, giảng viên, sinh viên về các HĐPT này: " Em
hãy kể tên những HĐPT mà trường thường xuyên tổ chức cho sinh viên", trả
lời " Trong năm học qua nhà trường tổ chức các hoạt động như: Hội diễn văn
nghệ chào mừng ngày lễ lớn, các hoạt động văn hoá văn nghệ vào các dịp
26/3, 20/11, khai giảng, giải bóng đá sinh viên…" (SV Nguyễn Thị Hoài T -
Lớp QTVP 3)
Một số cán bộ phong trào, giảng viên khi được phỏng vấn cũng đều
nhận định "So với trước đây HĐPT của Đoàn trường tổ chức đã có nhiều
thay đổi về số lượng hoạt động, chất lượng chương trình Tuy nhiên HĐPT
mới chỉ tập trung ở các hoạt động bề nổi là chủ yếu, các HĐPT mang tính
chất chuyên môn sâu chưa nhiều và chất lượng chưa cao" (GV Vũ Quốc C -
UVBCH Đoàn trường)
Khi phỏng vấn sinh viên có quan tâm đến những HĐPT gắn với chuyên
môn hay không " Được học tập và rèn luyện trong trường năm nay là năm
thứ 2, em thấy Đoàn trường chưa tổ chức nhiều HĐPT gắn với chuyên môn
và mang tính cấp trường Về bản thân, chúng em mong muốn có nhiều cuộc
thi Olympíc môn học, mang tính cấp trường để chúng em được tham gia được
cọ sát, không chỉ trong khoa, trong trường mà tham gia học hỏi, học tập với
các trường bạn trong địa bàn Tỉnh" (SV Ngô Thị H - Toán Lý 2)
Từ thực trạng các HĐPT hiện nay của nhà trường, có thể thấy rằng cần
có sự điều chỉnh trong việc xác định nội dung tổ chức các HĐPT ở nhà
trường Việc đổi mới nội dung hoạt động là yêu cầu cấp thiết có như vậy mới
thực sự làm tăng hiệu quả của các hoạt động này đối với công tác giáo dục
các mặt trong nhân cách sinh viên
2.3.2 Đánh giá về quy mô tổ chức các HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
Để tìm hiểu quy mô tổ chức của các HĐPT cho sinh viên, chúng tôi tiến hành xin ý kiến của cán bộ phong trào từ cấp lớp đến cấp trường, những người trực tiếp tổ chức hoạt động này Được đánh giá trên 3 thang đo (Cấp trường, cấp khoa, cấp lớp) và để có căn cứ kết luận chúng tôi đưa ra tỷ lệ, nếu
có từ ( 50%) đối tượng được hỏi trả lời đồng ý thì HĐPT đó được đánh giá là thường tổ chức ở cấp tương ứng Kết quả như sau:
* Quy mô cấp trường
Biểu đồ 2.1 Đánh giá về quy mô các HĐPT tổ chức ở cấp trường
Nội dung hoạt động
Trang 36Có 8/15 hoạt động được đánh giá là thường xuyên tổ chức ở cấp
trường như: Hoạt động học chính trị đầu khoá, hoạt động kỷ niệm những ngày
lễ lớn, hội diễn văn nghệ, các giải thể thao, hoạt động thăm hỏi gia đình chính
sách, hoạt động câu lạc bộ…
Điều đó chứng tỏ HĐPT do Đoàn trường tổ chức trong những năm gần
đây có chiều hướng phát triển Hoạt động chính trị đầu khoá và hoạt động kỷ
niệm các ngày lễ lớn chiếm tỷ lệ cao nguyên nhân là do xuất phát trường đào
tạo ra các cán bộ sư phạm, là trường sư phạm duy nhất trong tỉnh có nhiệm vụ
đào tạo ra các cán bộ, giáo viên có trình độ Do đó trường đặc biệt coi trọng
các hoạt động chính trị đầu khoá Phòng công tác chính trị, học sinh sinh viên
và Đoàn trường đã phối hợp với các lực lượng trong nhà trường tổ chức hoạt
động chính trị đầu khoá này một cách nghiêm túc, thường xuyên theo từng
khoá học, từng kỳ nhằm rèn luyện đạo đức, tư tưởng cho sinh viên Bên cạnh
đó hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn, hoạt động văn hoá văn nghệ cũng được
duy trì và phát triển nhằm đưa sinh viên vào tham gia hoạt động, từ đó nhằm
phát triển tính năng động sáng tạo, nhân cách sinh viên
Việc tổ chức học tập, tham gia văn hoá văn nghệ là cần thiết, nhưng tỷ
lệ đầu ra, đặc biệt là tổ chức các ngày hội việc làm nhằm giúp sinh viên yên
tâm về ngành nghề mình đã chọn, có những thông tin về cơ sở tuyển chọn,
nghiên cứu nhu cầu thị trường lao động trong tỉnh… thì lại chiếm tỷ lệ rất
thấp Thủ tướng Phan Văn Khải khi phát biểu tại Hội nghị Giáo dục Đại học
tổ chức ở Hà Nội tháng 10/2000 đã nhấn mạnh: "Một năng lực cụ thể rất quan
trọng mà trường đại học cần trang bị cho sinh viên là năng lực tìm việc làm và
tạo ra việc làm cho bản thân và cho người khác"
Đây là một vấn đề mang tính cấp thiết không chỉ đối với trường cao đẳng sư
phạm mà rộng hơn là các trường cao đẳng, đại học trong cả nước
* Quy mô cấp khoa
Biểu đồ 2.2 Đánh giá về quy mô các HĐPT tổ chức ở cấp khoa
Từ kết quả nghiên cứu trên ta thấy, một số HĐPT như: Hoạt động kỷ niệm các ngày lễ, hội diễn văn hoá văn nghệ, các giải thể thao, hiến máu nhân đạo chiếm tỷ lệ cao từ 55 - 69% Sở dĩ các khoa tổ chức được các hoạt động này là ở mỗi khoa có thành lập BCH liên chi đoàn khoa, bí thư liên chi đoàn khoa là UVBCH đoàn trường Mặt khác mỗi khoa có đặc thù riêng về chuyên ngành, vào các dịp lễ, đầu năm học mới các khoa thường tổ chức các hoạt động riêng như: Giải bóng đá sinh viên cấp khoa, văn nghệ chào mừng sinh viên mới Các đơn vị khoa là thành viên của BCH Đoàn trường, do đó các hoạt động bề nổi có tiếng nói chung Câu lạc bộ hiến máu trường thành lập vào năm 2004, mỗi học kỳ, dưới sự tổ chức của BCH liên chi đoàn khoa, BCH Đoàn trường đã tổ chức cho sinh viên tình nguyện hiến máu cho bệnh viện và hoạt động này được phân đều cho các khoa đảm nhiệm
Nội dung hoạt động
Trang 37Bên cạnh những hoạt động phong trào văn hoá, văn nghệ chiếm tỷ lệ
cao, còn có những HĐPT chiếm tỷ lệ thấp, thậm chí có những HĐPT chưa
bao giờ tổ chức ở cấp khoa Điều đó cũng phản ánh quy mô, quyền hạn trách
nhiệm, mức độ ảnh hưởng của tổ chức đoàn các khoa
* Quy mô cấp lớp
Biểu đồ 2.3 Đánh giá về quy mô các HĐPT tổ chức ở cấp lớp
Từ biểu đồ trên phản ánh một thực tế hiện nay trong nhà trường, các
HĐPT thường rất ít được tổ chức ở cấp lớp, chi đoàn, nếu có chỉ là một vài
hoạt động đơn lẻ Ở cấp chi đoàn tổ chức được các hoạt động như: Hoạt động
kỷ niệm các ngày lễ, thi báo tường, báo ảnh, các giải thể thao, thành lập câu
lạc bộ Sở dĩ các hoạt động này được tổ chức ở chi đoàn là do sự nhiệt tình
của giáo viên chủ nhiệm, cán bộ đoàn, lớp Có những đồng chí vừa là Bí thư
Liên chi đoàn khoa, vừa là giáo viên chủ nhiệm Có những sinh viên vừa là
chủ nhiệm một câu lạc bộ, vừa là Bí thư hoặc lớp trưởng Sự năng động, sáng
Nội dung hoạt động
Từ thực tế trên cho thấy HĐPT ở cấp lớp, cấp chi đoàn là những hoạt động rất cần thiết và thiết thực bởi những hoạt động này thường xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng của sinh viên, phù hợp với sinh viên, đặc biệt HĐPT cấp lớp mới góp phần phát huy được tính tích cực của từng sinh viên, mới ảnh hưởng đến từng đoàn viên, sinh viên Trong hoạt động này họ vừa là người tổ chức, vừa là người tham gia, hiệu quả giáo dục của HĐPT cấp lớp thường rất cao Chính vì vậy, việc quan tâm tổ chức các HĐPT cấp lớp là rất quan trọng, phù hợp với yêu cầu đổ mới công tác tổ chức HĐPT hiện nay là hướng tới cơ
sở và xuất phát từ cơ sở
Từ thực trạng quy mô tổ chức HĐPT hiện nay trong trường Cao đẳng
Sư phạm, chúng tôi thấy trong những năm qua HĐPT ở cấp trường đã tổ chức khá phong phú, đa dạng Tuy nhiên HĐPT ở cấp lớp, chi đoàn chưa được các đoàn thể, khoa quan tâm, hiệu quả hoạt động của các lớp chưa cao Để đổi mới và nâng cao hiệu quả HĐPT ở cấp lớp, yêu cầu đầu tiên là cần kiện toàn
bộ máy cán bộ phong trào ở cấp lớp, cấp chi đoàn
2.3.3 Đánh giá về hình thức tổ chức các HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình hiện nay
Để tìm hiểu tính hấp dẫn và khả năng thu hút của các HĐPT do nhà trường tổ chức đối với sinh viên, chúng tôi đề nghị sinh viên cho biết đánh giá
Trang 38của mình về hình thức tổ chức với các thang đo (phong phú hay đơn điệu) Để
đo về tính hấp dẫn của từng HĐPT chúng tôi đưa ra tỷ lệ, nếu có từ 50% ý
kiến đồng ý trở lên thì HĐPT đó mới thực sự được đánh giá phong phú về
hình thức Kết quả thu được như sau:
2.3.3.1 Đánh giá về tính phong phú của HĐPT
Biểu đồ 2.4 Đánh giá về tính phong phú của các HĐPT
Qua biểu đồ, chúng tôi thấy trong 15 HĐPT được nhà trường tổ chức
chỉ có 3/15 hoạt động được sinh viên có ý kiến đánh giá là có hình thức tổ
chức phong phú như:
+ Hoạt động kỷ niệm các ngày lễ ( 62%)
+ Hội diễn văn hoá, văn nghệ ( 58%)
Làm thế nào để đưa ra các hình thức tổ chức HĐPT phong phú, đa
dạng Đây có lẽ cũng là câu hỏi lớn mà Đoàn trường đang tìm hướng giải
quyết trong giai đoạn hiện nay
Nội dung hoạt động
2.2.3.2 Đánh giá về tính đơn điệu của các HĐPT
Biểu đồ 2.5 Đánh giá về tính đơn điệu của các HĐPT
Qua biểu đồ trên ta thấy 12/15 HĐPT sinh viên cho rằng hình thức tổ chức còn đơn điệu về hình thức, đó là các hoạt động:
+ Học chính trị đầu khoá ( 73%) + Thi Olympíc các môn ( 86%) + Thi tìm hiểu pháp luật ( 63%) + Thi báo tường, báo ảnh ( 53.5%) + Các giải thể thao ( 59%) + Hiến máu nhân đạo ( 61.3%) + Thăm hỏi các gia đình chính sách ( 72%) + Hoạt động hè cho thiếu nhi ( 82%) + Tổ chức các ngày hội việc làm ( 91%)
Nội dung hoạt động
Trang 39+ Thành lập các câu lạc bộ ( 57%)
+ Tuyên truyền chính sách, pháp luật ( 92%)
+ Hoạt động nhân đạo, từ thiện ( 75%)
Từ những số liệu trên chúng tôi nhận thấy các hoạt động mà sinh viên
đánh giá là có hình thức tổ chức phong phú về nội dung, đa dạng về hình
thức, chủ yếu là các HĐPT bề nổi, thiên về các hoạt động văn hoá, văn nghệ,
thể thao Do các hoạt động này thường phù hợp với nhu cầu sinh viên, mặt
khác các hoạt động này thường thu hút đông người tham gia, không khí tổ
chức thường sôi động, vui nhộn, nhiều màu sắc Đây cũng là những hoạt động
mang tính đặc thù, gắn liền với nội dung hoạt động của các đoàn thể Những
hoạt động bề nổi này là điều kiện để sinh viên bộc lộ năng khiếu của mình, là
điều kiện để sinh viên thể hiện mình trước đám đông Đặc biệt là, hiệu quả
của các HĐPT bề nổi không phụ thuộc nhiều vào nội dung mà chủ yếu phụ
thuộc vào hình thức tổ chức như thế nào Thực tế đã cho thấy, nếu cùng tổ
chức một nội dung hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao nhưng hình
thức tổ chức nào phong phú thì sẽ thu được hiệu quả cao và ngược lại
Trong 12 hoạt động mà sinh viên đánh giá là hình thức đơn điệu chủ
yếu là những hoạt động có nội dung chính gắn với một mục tiêu giáo dục
chính trị, tư tưởng cho sinh viên như ( hoạt động chính trị, hoạt động nhân
đạo, thăm hỏi các gia đình chính sách, tuyên truyền chủ trương chính sách
pháp luật của Đảng và Nhà nước…) bản thân những hoạt động này thường
thiên nội dung, chiều sâu Do đó để có hình thức tổ chức phong phú đòi hỏi
người tổ chức phải dày công nghiên cứu, mặt khác tính sáng tạo trong quá
trình tổ chức các hoạt động này cũng đòi hỏi phải nằm trong khuôn khổ
những quy định cụ thể
Có thể nói khả năng thu hút và hiệu quả của các HĐPT phụ thuộc rất
lớn vào tính hấp dẫn, mức độ phong phú của hình thức tổ chức Do đó, trong
quá trình tổ chức HĐPT người cán bộ phong trào đa dạng hoá hình thức, thường xuyên đổi mới về hình thức thì mới thu hút được sinh viên tham gia
2.3.4 Thực trạng các lực lượng (khoa, phòng, đoàn thể) tổ chức HĐPT cho sinh viên trong trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
Biểu đồ 2.6 Đánh giá về thực trạng lực lượng tổ chức các HĐPT
Để tìm hiểu lực lượng nào thường đứng ra tổ chức các HĐPT cho sinh viên, chúng tôi đưa ra câu hỏi trong đó đề cập đến 6 lực lượng chính Kết quả theo biểu đồ 2.6 cho thấy:
Có 3 lực lượng được đánh giá thường xuyên tổ chức các HĐPT cho sinh viên đó là:
+ Đoàn thanh niên trường 86%
+ Các khoa chủ quản (65%) + Các lớp tự tổ chức ( 52%) Điều đó thể hiện vai trò quan trọng của Đoàn trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình trong việc tổ chức HĐPT cho sinh viên Bên cạnh đó vai trò của các khoa chủ quản, vai trò tự tổ chức của các lớp cũng rất cao Trong trường có khoa Năng khiếu gồm 4 bộ môn: Nhạc, Hoạ, Thể dục thể thao, Đoàn đội; Khoa Giáo dục tiểu học - mầm non; Khoa Tự nhiên; Khoa xã hội
Trang 40các khoa thường đứng ra tổ chức các hoạt động cho sinh viên trong khoa làm
cho tỷ lệ HĐPT ở cấp khoa tương đối cao Ngoài ra đơn vị lớp vừa là người
tham gia đồng thời cũng là người tổ chức các HĐPT nhỏ như Đại hội lớp, Đại
hội chi đoàn, các hoạt động chào mừng ngày 8/3, 20/11…các HĐPT này cũng
chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong cơ cấu tổ chức HĐPT của cấp khoa
Các lực lượng Ban giám hiệu, Công đoàn, phòng công tác chính trị -
sinh viên là những lực lượng tạo động lực thúc đẩy các HĐPT của Đoàn
trường cũng như các khoa, đồng thời phối hợp với Đoàn thanh niên trường,
các lực lượng khoa, phòng để tổ chức tốt các HĐPT Về mặt pháp lý sự phân
công này cũng được đề cập ngay trong Luật giáo dục: "Cơ quan nhà nước, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề
nghiệp…có trách nhiệm: Giúp nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục và
nghiên cứu khoa học; tạo điều kiện cho nhà giáo và người học tham quan,
thực tập, nghiên cứu khoa học; Góp phần xây dựng phong trào học tập và
môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, ngăn chặn những hoạt động có ảnh
hưởng xấu đến thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; Tạo điều kiện để người
học được vui chơi, hoạt động văn hoá, thể dục thể thao lành mạnh; Hỗ trợ về
tài lực, vật lực cho sự nghiệp phát triển giáo dục theo khả năng của mình;
Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các đoàn thể có trách nhiệm phối
hợp với nhà trường giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng: vận động
đoàn viên, thanh niên gương mẫu trong học tập, rèn luyện và tham gia phát
triển sự nghiệp giáo dục" [điều 97, Luật Giáo dục]
Hiện nay trong trường chưa thành lập được Hội sinh viên, điều đó cũng
ảnh hưởng tới HĐPT của nhà trường và vai trò tự quản, tự lập của sinh viên
Tổ chức Đoàn thanh niên trong nhà trường với chức năng là tổ chức chính trị
xã hội, có nhiệm vụ là đại diện, chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của
đoàn viên, sinh viên; Đặc biệt với vai trò là nòng cốt Đoàn trường luôn chủ
động phối hợp với lực lượng giáo dục thường xuyên tổ chức HĐPT qua đó tạo môi trường giáo dục, rèn luyện đoàn viên, sinh viên nhằm góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị của nhà trường; Đoàn trường có nhiệm vụ phối hợp với Ban giám hiệu, các khoa phòng, phòng bộ phận và các đoàn thể, các tập thể lớp chăm lo giáo dục, khuyến khích sinh viên tích cực học tập, rèn luyện, tích cực tham gia các HĐPT của nhà trường và xã hội
2.3.5 Tìm hiểu mức độ tham gia của sinh viên vào các HĐPT do nhà trường tổ chức
Để tìm hiểu về mức độ tham gia của sinh viên vào các HĐPT do nhà trường tổ chức chúng tôi tiến hành lấy ý kiến của sinh viên qua phiếu hỏi và qua trao đổi, với các mức độ thang đo ( thường xuyên, thỉnh thoảng, hiếm khi
và không bao giờ tham gia), kết quả như sau:
Biểu đồ 2.7 Đánh giá về mức độ tham gia của sinh viên vào các HĐPT
Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình với quy mô, cơ cấu đào tạo nhỏ,
số lượng sinh viên trong khoảng 1500 sinh viên, diện tích mặt bằng trường không rộng, mặt khác sinh viên tập trung ở trong ký túc xá của trường Với sự quản lý chặt chẽ và tổ chức tốt các HĐPT bề nổi do đó thường thu hút sự tham gia của các em sinh viên Vì thế kết quả điều tra cho thấy có 78% ý kiến sinh viên cho rằng trong quá trình học tập tại trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình thường xuyên tích cực tham gia vào các HĐPT do nhà trường, Đoàn
78%
9%