MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9.10.2014 của Bộ Chính trị về Công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 khẳng định: một trong 2những nhiệm vụ quan trọng của giới lý luận nước ta trong thời gian tới là “Xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực để phát triển đất nước, văn hóa phải đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đi đôi với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Phát triển văn hóa để xây dựng con người phát triển toàn diện”[19]. Ngày nay, chúng ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và chúng ta đã đạt được những thành công nhất định trong sự nghi ệp trọng đại này. Mức sống và chất lượng sống của người dân đã từng bước được cải thiện. Những thành quả của công cuộc đổi mới đất nước tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự phát triển toàn diện con người. Trong những năm gần đây, toàn cầu hoá đã trở thành xu thế tất yếu đang chi phối cuộc sống của mọi quốc gia. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã góp phần làm cho xã hội Việt Nam năng động hơn, phát triển hơn, con người trở nên tự tin hơn. Kinh tế thị trường cũng trở thành một lực đẩy quan trọng đối với dân chủ và dân chủ hoá đời sống xã hội. Song mặt trái của nền kinh tế thị trường đã thâm nhập rất mạnh vào tâm lý, lối sống của người Việt Nam. Con người hiện nay quá bận tâm với các nhu cầu và tiện nghi vật chất. Họ ít chú trọng phát triển nhân cách và thế giới tinh thần của mình. Trước sự quyến rũ về vật chất, họ lãng quên những chân giá trị tinh thần như tình bác ái, sẻ chia, lòng trắc ẩn, v.v... Các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc gần đây đều nhận định, đánh giá tình trạng suy thoái về đạo đức, cụ thể, Văn kiện Đại hội XI (2011) đã chỉ ra rằng: “Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại” [17, tr.169],“xu hướng thương mại hóa và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội” [17, tr.168]. Văn kiện Đại hội XII tiếp tụcnhấn mạnh “ Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội và một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng” [18, tr.125], Vì vậy, việc thức tỉnh con người nhớ đến những giá trị tinh thần cao cả đã được các thánh nhân tạo dựng có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách. Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “Tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới để làm giàu thêm nền văn hóa Việt Nam”[15, tr.111]. Tôn giáo đã từng tồn tại lâu dài cùng với quá trình lịch sử loài người, nên cần phải xem nó là một bộ phận di sản văn hóa tinh thần của nhân loại. Trong quá trình phát triển, phổ biến trên quy mô toàn thế giới, tôn giáo không chỉ đơn thuần chuyển tải niềm tin của con người mà còn có vai trò chuyển tải, hoà nhập văn hóa và văn minh, góp phần duy trì đạo đức xã hội qua các thế hệ. Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của con người. Với tư cách một hệ giá trị tinh thần nhân văn, tôn giáo đã có những biểu hiện độc đáo thể hiện trong cách ứng xử, lối sống, phong tục, tập quán, trong các yếu tố văn hóa vật chất cũng như tinh thần của cộng đồng xã hội, của mỗi khu vực, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc [37]. Kitô giáo là một trong ba tôn giáo thế giới, mang t rong mình những giá trị tinh thần tốt đẹp, phản ánh truyền thống văn hóa phương Tây và một bộ phận của văn hóa chung nhân loại. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Tôn giáo của Zêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả”[71, tr.152]. Những giá trị Văn kiện Đại hội XI (2011) đã chỉ ra rằng: “Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại” [17, tr.169],“xu hướng thương mại hóa và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội” [17, tr.168]. Văn kiện Đại hội XII tiếp tụcnhấn mạnh “ Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội và một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng” [18, tr.125], Vì vậy, việc thức tỉnh con người nhớ đến những giá trị tinh thần cao cả đã được các thánh nhân tạo dựng có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách. Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “Tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới để làm giàu thêm nền văn hóa Việt Nam”[15, tr.111]. Tôn giáo đã từng tồn tại lâu dài cùng với quá trình lịch sử loài người, nên cần phải xem nó là một bộ phận di sản văn hóa tinh thần của nhân loại. Trong quá trình phát triển, phổ biến trên quy mô toàn thế giới, tôn giáo không chỉ đơn thuần chuyển tải niềm tin của con người mà còn có vai trò chuyển tải, hoà nhập văn hóa và văn minh, góp phần duy trì đạo đức xã hội qua các thế hệ. Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của con người. Với tư cách một hệ giá trị tinh thần nhân văn, tôn giáo đã có những biểu hiện độc đáo thể hiện trong cách ứng xử, lối sống, phong tục, tập quán, trong các yếu tố văn hóa vật chất cũng như tinh thần của cộng đồng xã hội, của mỗi khu vực, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc [37]. Kitô giáo là một trong ba tôn giáo thế giới, mang t rong mình những giá trị tinh thần tốt đẹp, phản ánh truyền thống văn hóa phương Tây và một bộ phận của văn hóa chung nhân loại. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Tôn giáo của Zêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả”[71, tr.152]. Những giá trị Văn kiện Đại hội XI (2011) đã chỉ ra rằng: “Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại” [17, tr.169],“xu hướng thương mại hóa và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội” [17, tr.168]. Văn kiện Đại hội XII tiếp tụcnhấn mạnh “ Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội và một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng” [18, tr.125], Vì vậy, việc thức tỉnh con người nhớ đến những giá trị tinh thần cao cả đã được các thánh nhân tạo dựng có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách. Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “Tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới để làm giàu thêm nền văn hóa Việt Nam”[15, tr.111]. Tôn giáo đã từng tồn tại lâu dài cùng với quá trình lịch sử loài người, nên cần phải xem nó là một bộ phận di sản văn hóa tinh thần của nhân loại. Trong quá trình phát triển, phổ biến trên quy mô toàn thế giới, tôn giáo không chỉ đơn thuần chuyển tải niềm tin của con người mà còn có vai trò chuyển tải, hoà nhập văn hóa và văn minh, góp phần duy trì đạo đức xã hội qua các thế hệ. Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của con người. Với tư cách một hệ giá trị tinh thần nhân văn, tôn giáo đã có những biểu hiện độc đáo thể hiện trong cách ứng xử, lối sống, phong tục, tập quán, trong các yếu tố văn hóa vật chất cũng như tinh thần của cộng đồng xã hội, của mỗi khu vực, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc [37]. Kitô giáo là một trong ba tôn giáo thế giới, mang t rong mình những giá trị tinh thần tốt đẹp, phản ánh truyền thống văn hóa phương Tây và một bộ phận của văn hóa chung nhân loại. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Tôn giáo của Zêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả”[71, tr.152]. Những giá trị tinh thần của Kitô giáo rất gần gũi với những giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp của người Việt, đặc biệt là tinh thần tương thân, tương ái [26]. Cuộc sống không chỉ dựa trên lợi ích vật chất mà còn cần đến những giá trị tinh thần, những giá trị về đạo đức cao cả. Con người không chỉ thỏa mãn với tiền tài, địa vị mà còn cần hơn nữa sự cảm thông và chia sẻ tình người, cần đến sự bao dung, tha thứ, cảm thông; Kitô giáo hướng con người đến tình yêu tha nhân như rường cột của một cuộc sống đích thực. Như vậy, nghiên cứu tôn giáo nói chung, tư tưởng về đạo làm người của Kitô giáo nói riêng là một trong những nhiệm vụ nghiên cứu của bộ môn lịch sử triết học. Song, việc nghiên cứu này còn tạo điều kiện để chúng ta giải quyết những vấn đề thực tiễn là hoàn thiện đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân nhờ tiếp thu những giá trị chung của nhân loại và những giá trị nhân văn của Kitô giáo. Kitô giáo có những ảnh hưởng nhất định đến văn hóa Việt Nam và đặc biệt là đã ảnh hưởng không nhỏ đến đạo đức, lối sống của một bộ phận giáo dân Việt Nam. Việc tiếp thu những giá trị tinh thần của Kitô giáo trong điều kiện đạo đức của một bộ phận xã hội bị suy thoái đạo đức do tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa có ý nghĩa quan trọng. Tinh hoa đạo đức ("đạo làm người") của Kitô giáo được đúc kết trong Bài giảng trên núi (vẫn quen được gọi là tinh hoa của Phúc âm, Phúc âm của Phúc âm) có thể cộng hưởng với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, góp phần tích cực trong việc giáo dục đạo đức con người và xã hội hôm nay. Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài “Tư tưởng về “đạo làm người” và con đường đạt tới nó trong “Bài giảng trên núi” của Chúa Kitô ” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN XUÂN TOÁN
TƯ TƯỞNG VỀ “ĐẠO LÀM NGƯỜI”
VÀ CON ĐƯỜNG ĐẠT TỚI NÓTRONG
“BÀI GIẢNG TRÊN NÚI” CỦA CHÚA KITÔ
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS ĐỖ LAN HIỀN
Hà Nội - 2016
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9.10.2014 của Bộ Chính trị về Công
tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 khẳng định: một trong
2những nhiệm vụ quan trọng của giới lý luận nước ta trong thời gian tới là
“Xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực để phát triển đất nước, văn hóa phải đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đi đôi với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Phát triển văn hóa để xây dựng con người phát triển toàn diện”[19] Ngày nay, chúng ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và chúng ta đã đạt được những thành công nhất định trong sự nghiệp trọng đại này Mức sống và chất lượng sống của người dân đã từng bước được cải thiện Những thành quả của công cuộc đổi mới đất nước tạo ra những tiền
đề cần thiết cho sự phát triển toàn diện con người
Trong những năm gần đây, toàn cầu hoá đã trở thành xu thế tất yếu đang chi phối cuộc sống của mọi quốc gia Nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa đã góp phần làm cho xã hội Việt Nam năng động hơn, phát triển hơn, con người trở nên tự tin hơn Kinh tế thị trường cũng trở thành một lực đẩy quan trọng đối với dân chủ và dân chủ hoá đời sống xã hội Song mặt trái của nền kinh tế thị trường đã thâm nhập rất mạnh vào tâm lý, lối sống của người Việt Nam Con người hiện nay quá bận tâm với các nhu cầu và tiện nghi vật chất Họ ít chú trọng phát triển nhân cách và thế giới tinh thần của mình Trước sự quyến rũ về vật chất, họ lãng quên những chân giá trị tinh thần như tình bác ái, sẻ chia, lòng trắc ẩn, v.v Các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc gần đây đều nhận định, đánh giá tình trạng suy thoái về đạo đức, cụ thể,
Trang 42
Văn kiện Đại hội XI (2011) đã chỉ ra rằng: “Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại” [17, tr.169],“xu hướng thương mại hóa và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội” [17, tr.168] Văn kiện Đại hội XII tiếp tụcnhấn mạnh “ Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội và một
số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng” [18, tr.125], Vì vậy, việc thức tỉnh con người nhớ đến những giá trị tinh thần cao cả đã được các thánh nhân tạo dựng có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách
Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “Tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới để làm giàu thêm nền văn hóa Việt Nam”[15, tr.111] Tôn giáo đã từng tồn tại lâu dài cùng với quá trình lịch sử loài người, nên cần phải xem nó là một bộ phận di sản văn hóa tinh thần của nhân loại Trong quá trình phát triển, phổ biến trên quy mô toàn thế giới, tôn giáo không chỉ đơn thuần chuyển tải niềm tin của con người mà còn có vai trò chuyển tải, hoà nhập văn hóa và văn minh, góp phần duy trì đạo đức xã hội qua các thế hệ Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của con người Với tư cách một hệ giá trị tinh thần nhân văn, tôn giáo đã có những biểu hiện độc đáo thể hiện trong cách ứng xử, lối sống, phong tục, tập quán, trong các yếu tố văn hóa vật chất cũng như tinh thần của cộng đồng xã hội, của mỗi khu vực, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc [37] Kitô giáo là một trong ba tôn giáo thế giới, mang trong mình những giá trị tinh thần tốt đẹp, phản ánh truyền thống văn hóa phương Tây và một bộ phận của văn hóa chung nhân loại Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Tôn giáo của Zêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả”[71, tr.152] Những giá trị
Trang 53
tinh thần của Kitô giáo rất gần gũi với những giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp của người Việt, đặc biệt là tinh thần tương thân, tương ái [26] Cuộc sống không chỉ dựa trên lợi ích vật chất mà còn cần đến những giá trị tinh thần, những giá trị về đạo đức cao cả Con người không chỉ thỏa mãn với tiền tài, địa vị mà còn cần hơn nữa sự cảm thông và chia sẻ tình người, cần đến sự bao dung, tha thứ, cảm thông; Kitô giáo hướng con người đến tình yêu tha nhân như rường cột của một cuộc sống đích thực
Như vậy, nghiên cứu tôn giáo nói chung, tư tưởng về đạo làm người của Kitô giáo nói riêng là một trong những nhiệm vụ nghiên cứu của bộ môn lịch sử triết học Song, việc nghiên cứu này còn tạo điều kiện để chúng ta giải quyết những vấn đề thực tiễn là hoàn thiện đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân nhờ tiếp thu những giá trị chung của nhân loại và những giá trị nhân văn của Kitô giáo Kitô giáo có những ảnh hưởng nhất định đến văn hóa Việt Nam và đặc biệt là đã ảnh hưởng không nhỏ đến đạo đức, lối sống của một bộ phận giáo dân Việt Nam Việc tiếp thu những giá trị tinh thần của Kitô giáo trong điều kiện đạo đức của một bộ phận xã hội bị suy thoái đạo đức do tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa có ý nghĩa quan trọng Tinh hoa đạo đức ("đạo làm người") của Kitô giáo được đúc kết trong Bài giảng trên núi (vẫn quen được gọi là tinh hoa của Phúc âm, Phúc âm của Phúc âm)
có thể cộng hưởng với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, góp phần tích cực trong việc giáo dục đạo đức con người và xã hội hôm nay
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài “Tư tưởng về “đạo làm người” và con đường đạt tới nó trong “Bài giảng trên núi” của Chúa Kitô ” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình
2 Tình hình nghiên đề tài
Ngoài những cơ sở lý luận chung của lịch sử triết học mác xít, như quan niệm duy vật về lịch sử, nguyên lý biện chứng duy vật và các phương
Trang 64
pháp nghiên cứu lịch sử tư tưởng, theo chúng tôi, để tiếp cận với tư tưởng
“đạo làm người” của Kitô giáo, cần phải quan niệm nó là sự kết tinh tinh hoa văn hóa của thời đại tương ứng cả trong và ngoài nước
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Từ trước đến nay, đề tài Kinh Thánh đã thu hút sự quan tâm nghiên
cứu của nhiều chuyên gia, học giả cả trong và ngoài Kitô giáo, các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức quốc tế, và cho đến hiện nay có nhiều công trình khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về đề tài này đã được công
bố Tiêu biểu trong số đó có các công trình sau:
“A new Catechism Catholic Faith ForAdults”(Giáo lý mới Thời đại
mới) do các học viện giáo lý Hòa Lan biên soạn, được Nxb Herder and herder New York ấn hành năm 1967 Trong cuốn sách này, đã phân tích, trình bày khá đầy đủ về nhân quan Kitô giáo về đời sống nhân loại đến Đường tới Đức Kitô Trong cuốn sách còn giới thiệu chung về các tôn giáo lớn và các học thuyết xã hội nhân bản với những đường nét tương hợp và khác biệt với Công giáo bằng cách nhìn nhận tôn trọng tương đối khách quan, nhưng dĩ nhiên vẫn theo một nhân quan Kitô giáo Ngoài ra, trọng tâm của cuốn sách là
đã diễn giải về lịch sử Cứu độ từ sự ra đời của Đấng Cứu thế đến nhiệm vụ cứu chuộc và mầu nhiệm Thánh linh trên giáo hội; diễn giải về Giáo hội hữu hình ở trần thế và những phương thế để giáo hội thông ban ơn cứu độ cho mọi tín hữu; diễn giải về kết cục của con người cái chết và thế giới bên kia của sự sống trần thế;
Lynne Bundesen, “The Woman's Guide to the Bible”(Kinh Thánh
hướng đến phụ nữ) được xuất bản bởi John Wiley & Sons, 1993 Cuốn sách
đã phân tích, chỉ ra những giá trị thuộc về sức mạnh tinh thần của phụ nữ trong Kinh Thánh, thông qua các câu chuyện của các phụ nữ trong Kinh Thánh; đồng thời cuốn sách còn phân tích những trở ngại và thuận lợi của phụ
Trang 75
nữ trên con đường đến với Kinh Thánh;
“Tôn giáo và đời sống hiện đại” của Viện Thông tin Khoa học xã hội
thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 2004 Đây là loạt sách đã trình, giới thiệu những vấn đề chung nhất
về các tôn giáo trên thế giới, từng khu vực và từng nước, thông qua việc trình bày khái quát những đặc trưng mang tính lịch sử, quá trình hình thành, du nhập, truyền bá và phát triển của các tôn giáo lớn, trong đó có Kinh Thánh của đạo Công giáo; Ngoài ra, các cuốn sách đó cũng đã khái quát thực trạng tôn giáo và chính sách tôn giáo của một số nước, cũng như phân tích ảnh hưởng của các tôn giáo đối với đời sống xã hội hiện đại;
Lynne Bundesen, The Feminine Spirit, Recapturing the Heart of
Scripture The Woman's Guide to the Bible” (Sức mạnh tinh thần – Kinh
Thánh hướng dẫn cách chiếm được trái tim của Phụ nữ), được xuất bản bởi John Wiley&Sons, 2007 Trong công trình này, Lynne Bundesen đã đi sâu phân tích bộ sách Kinh Thánh nhằm mô tả về Thiên Chúa là ai, ngoài ra công trình còn phân tích một cách sâu sắc con đường, cách thức cho phụ nữ vượt qua định kiến, tư tưởng gia trưởng trọng nam kinh nữ đang chiếm ưu thế trong xã hội để người phụ nữ có vị trí và vai trò của mình trong xã hội;
Trong cuốn “Christian and social issues” (Kitô giáo và những vấn đề
xã hội), xuất bản tại New York, năm 1998, được viết bởi R.L Stine, tác giả đã phân tích khá sâu sắc về địa vị xã hội và số phận của con người; mối quan hệ của con người với phần thế giới còn lại, lịch sử loài người do có sự giáng thế của Thiên chúa Trong đó, R.L Stine đã phân tích, nhìn nhận các hiện tượng của xã hội dưới góc nhìn nhân văn của con người được thể hiện trong Kinh Thánh, từ đó R.L Stine đã khẳng định chỉ có Kinh Thánh mới có thể khắc phục được những hiện tượng xã hội mang tính tiêu cực của con người do sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật trong xã hội hiện đại gây ra;
Trang 86
Công trình của Kathleen Norris“Thiện hành trong tu viện”, được
Nguyễn Kim Dân biên dịch, Nxb Tôn Giáo, xuất bản năm 2009 Trong công trình này, Kathleen Norris đã tìm hiểu, phân tích khá sâu sắc về đức tin; ngoài
ra Kathleen Norris đã đưa ra những minh chứng rằng những người mộ đạo không quá cứng nhắc trong nghi thức; Kathleen Norris đã cho rằng các tu sĩ cũng là những con người Họ cũng nói chuyện phiếm, cười đùa, ngủ gật trong nhà thờ, đau khổ vì những căng thẳng như nhiều người trong chúng ta Thật khó mà không thán phục sự quyết tâm của Kathleen Norris trong việc khôi phục lại những nguyên tắc trong tu viện và cố gắng giải thích chúng;
Cuốn sách của Jean-Baptite Duroselle và Jean-Marie Mayeur: “Lịch sử
đạo Thiên Chúa”, do Trần Chí Đạo dịch, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2004 Cuốn
sách đã cung cấp cái nhìn tổng thể và trình bày một cách khái quát nhất về lịch sử đạo Thiên Chúa và Kinh Thánh của đạo Công giáo;
Trong cuốn sách cùa Pearl Buck: “Chuyện Kinh Thánh” doNguyễn
Ước dịch, được Nxb Văn học, Hà Nội, giới thiệu năm 2003 Trong tác phẩm này, có thể nói Pearl Buck đã trình bày một cách cô động bằng sự kết hợp giữa truyền thống đông tây, cả văn học lẫn tôn giáo về cuộc phấn đấu của con người, nam lẫn nữ, trong nỗ lực tìm kiếm cội nguồn của mình và nguyên thủy của sự sống và sự chết, về bản nguyên của vũ trụ;
Cuốn sách của GS,TS Trác Tân Bình: “Lý giải Tôn giáo” do Trần
Nghĩa Phương dịch, Nxb Hà Nội giới thiệu năm 2008, Trong công trình này, tác giả đã trình bày và lí giải về các tôn giáo ở Trung Quốc và trên thế giới Tác giả đặc biệt chú trọng mô tả những hiện tượng biểu hiện bên ngoài của các tôn giáo nói chung và đạo Công giáo nói riêng; đồng thời tác giả đi sâu phân tích mổ xẻ kết cấu nội tại của các tôn giáo và trong đó hiển nhiên có Kinh Thánh của đạo Công giáo, nhằm đạt đến sự lí giải chân thực thế giới tâm linh tôn giáo, qua đó làm nổi bật hết sức khách quan mối quan hệ gắn bó giữa
Trang 97
tôn giáo và đời sống xã hội hiện thực của nhân loại
Công trình “Folk-lore in the Old Testament: Studies in Comparative
Religion, Legend and Law” (Văn hóa dân gian trong Kinh Cựu Ước: Nghiên
cứu so sánh Tôn giáo, Thần Thoại và Luật) của James George Frazer, Nxb Kessinger Publishing, LLC, năm 2010 Công trình được coi là di sản chung thời cổ đại và sơ khai, trong đó James George Frazer đã nghiên cứu, phân tích khá sâu sắc về văn học – văn hóa dân gian, những giá trị đạo đức, nhận thức, niềm tin của con người về thế giới thông qua nhiều câu chuyện huyền thoại của bộ lạc Do Thái cổ được ghi trong Kinh Thánh;
“The Genesis Flood – The Biblical Record and its Scientific i2mplications” (Khi trận lũ bắt đầu – Những điều ghi trong Kinh Thánh và ý
nghĩa khoa học của nó) được viết bởi Tiến sĩ Henry M Morris và Tiến sĩ John
C Whitcomb, Nxb P & R, xuất bản năm 2011 Trong cuốn sách này, các tác giả đã phân tích và cung cấp cái nhìn về sự tiến hóa của các loài động vật dưới góc nhìn của Kinh Thánh; Sự sống trên trái đất; trận lũ toàn cầu, thế giới động vật trên cạn phải làm gì để có thể tồn tại theo cách lý giải của Thiên Chúa trong Kinh Thánh;
Trong công trình “The Human Condition” (Triển vọng của con người)
của Robert G Bednarik, đăng trên Tạp chí B K Hall, Choice, Vol 49, Số 6, Tháng 2, 2012, tác giả cho rằng, nội dung quan trọng nhất của Kinh Thánh không phải là hệ vấn đề giáo lý hay tổ chức giáo hội, mà là vấn đề nguồn gốc loại người và hiện sinh của con người Chính vấn đề giải phóng con người mới là con đường, phương thức khắc phục sự tha hóa của con người Đây cũng là nội dung quan trọng của Kinh Thánh được Robert G Bednarik quan tâm phân tích, nghiên cứu và giải quyết nhờ đối chiếu giữa giải pháp Mác-xít với giải pháp Kitô giáo;
Cuốn sách “Bible and Astronomy” (Kinh Thánh và Thiên văn học) của
Trang 108
tiến sĩ John C Whitcomb, Nxb Answers in Genesis Trong công trình này, John C Whitcomb đã phân tích, tổng hợp nhiều câu hỏi về thiên văn học và bên ngoài không gian, tiêu biểu như: Có cuộc sống ngoài không gian? Tại sao vạn vật phát triển?Liệu có một vụ nổ lớn trong vũ trụ? Chúng ta có thể thấy những ngôi sao xa xôi trong vũ trụ?…từ đó phân tích, luận giải những câu hỏi trên theo góc nhìn của Kinh Thánh;
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trong những thập niên gần đây, những vấn đề trong Kinh Thánh đã thu
hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học trong và ngoài Kitô giáo, các
tổ chức chính trị, xã hội, văn hóa và khoa học trên cả nước Và, cho đến hiện nay, nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đề tài này đã được công bố Có thể khái quát các công trình tiêu biểu trong số đó như sau:
“Tôn giáo và đời sống hiện đại” của Viện Thông tin Khoa học xã hội
thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 2004 Đây là loạt sách đã trình, giới thiệu những vấn đề chung nhất
về các tôn giáo trên thế giới, từng khu vực và từng nước, thông qua việc trình bày khái quát những đặc trưng mang tính lịch sử, quá trình hình thành, du nhập, truyền bá và phát triển của các tôn giáo lớn, trong đó có Kinh Thánh của đạo Công giáo; Ngoài ra, các cuốn sách đó cũng đã khái quát thực trạng tôn giáo và chính sách tôn giáo của một số nước, cũng như phân tích ảnh hưởng của các tôn giáo đối với đời sống xã hội hiện đại;
Cuốn sách “Tôn giáo và mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt
Nam” của Nguyễn Hồng Dương, Nxb Khoa học xã hội, xuất bản năm 2004
tại Hà Nội Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày khái quát một số vấn đề
lý luận để giải quyết mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa; đặc biệt cuốn sách
đã phân tích khá sâu sắc vị trí, vai trò và ảnh hưởng của đạo Công giáo nói chung và những chuẩn mực trong Kinh Thánh nói riêng đến văn hóa và sự
Trang 119
phát triển của đời sống xã hội Việt Nam hiện đại, cũng như vai trò của lễ hội tôn giáo nói chung và đạo đạo Công giáo nói riêng đến văn hóa Việt Nam và nêu lên những đề xuất về chính sách văn hóa đối với tôn giáo;
Cuốn “Đại cương lịch sử triết học phương Tây”, Nxb Đại học Tổng
hợp Hồ Chí Minh, Tp HCM, 2006 của nhóm tác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn chỉ ra triết học Hy Lạp cổ đại là tiền đề quan trọng của tư tưởng “đạo làm người” của Kitô giáo Các tác giả khẳng định “Kitô giáo đánh dấu một bước ngoặt triệt để trong tư duy triết học… việc phổ biến Kitô giáo đồng thời cũng có nghĩa là sự xuất hiện một triết học mới” [23, tr 121] Trong cuốn sách này, các tác giả đã phân tích bốn phương diện nội dung nhân học triết học Hy Lạp cổ đại đã được kế tục một cách có phê phán và vượt bỏ trong Kinh Thánh để hình thành tư tưởng “đạo làm người” của Kitô giáo là (1) chủ nghĩa nhân cách; (2) tư tưởng sáng thế; (3) chủ nghĩa con là người trung tâm; (4) tư tưởng về niềm tin, hy vọng và tình yêu [23, tr 122-128]
Cuốn “Tôn giáo học nhập môn”Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2006 do Đỗ
Minh Hợp (chủ biên), trong đó các tác giả cho rằng, tư tưởng đạo đức Kitô
giáo là quan điểm về các nhân đức thể hiện trên các mặt chính trị - xã hội, kinh tế và đạo đức được luận chứng về mặt triết học và thần học nhờ viện dẫn vào Kinh Thánh Tư tưởng này biểu hiện khủng hoảng của những giá trị văn hóa nhân sinh cổ đại Hy Lạp cổ đại: thói ích kỷ, thái độ thờ ơ đối với đau khổ của người khác, và cho rằng các giá trị tinh thần của Kitô giáo với cốt lõi là
“tình yêu tha nhân” chính là lối thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng ấy Sự tồn tại
và phát triển của văn minh cổ đại bị đe dọa, đòi hỏi tạo dựng một hệ thống giá trị văn hóa tinh thần mới.Kitô giáo đáp ứng nhu cầu tinh thần này
Công trình “Tôn giáo - Lý luận xưa và nay”, do Đỗ Minh Hợp, Nguyễn
Anh Tuấn, Nguyễn Thanh, Lê Hải Thanh (đồng biên soạn), được Nxb Tổng
Trang 1210
hợp TP Hồ Chí Minh giới thiệu năm 2006 Trong công trình này, các tác giả
đã phân tích khái quát những cơ sở lý luận của tôn giáo học; trình bày khái quát lịch sử tôn giáo; phân tích khá sâu sắc một số thuật ngữ cơ bản của tôn giáo; đặc biệt các tác giả đã chỉ ra được tính đặc thù của triết học Kitô giáo nguyên thủy qua phản ánh sự bình đẳng trong quan hệ giữa con người với con người; lòng tham, sự giàu có và nghĩa vụ lao động của mỗi người;
“Công giáo thế giới – tri thức cơ bản” của PGS, TS Nguyễn Hồng
Dương, Nxb Từ điển Bách khoa, xuất bản năm 2012 Trong công trình này, tác giả đã giới thiệu những kiến thức cơ bản về các tôn giáo có nhiều tín đồ đang hiện hữu ở Việt Nam, trong đó có Kitô giáo Ngoài ra, tác giả còn trình bày, phân tích khá kỹ về những tri thức cơ bản về Kitô giáo và Kinh Thánh: quá trình hình thành và phát triển (ra đời, lễ nghi và kinh sách, tổ chức, phân chia giáo phái, phát triển,…); quá trình du nhập vào Việt Nam; các cơ sở thờ tự; giải thích Kinh Thánh qua các thời kỳ,…;
Công trình nghiên cứu của GS Đặng Nghiêm Vạn: “Lý luận về tôn
giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà
Nội, xuất bản năm 2012 Trong công trình này, tác giả đã phân tích khá toàn diện về mặt lý luận tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, trong đó tác giả
đã phân tích sâu sắc về đặc điểm và vai trò của tôn giáo Việt Nam nói chung
và đạo Công giáo nói riêng trong đời sống hiện nay, đặc biệt là đời sống văn hóa khi đất nước đang bước vào đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập vào xu thế toàn cầu hóa Từ đó, công trình đã đề cập đến một
số vấn đề về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta;
Trong công trình “Công giáo và Đức Kitô - Kinh Thánh qua cái nhìn
từ phương Đông” của Lý Minh Tuấn, được Nxb Tôn giáo, Hà Nội giới thiệu
vào năm 2014 Trong công trình này, tác giả đã trình bày, phân tích khái quát mối quan hệ giữa Công giáo và Do Thái giáo; Ngũ kinh và những vấn đề liên
Trang 1311
quan đến Ngũ kinh; đặc biệt tác giả đã phân tích khá sâu sắc những nội dung trong Kinh Cựu Ước và rút ra những giá trị của Kinh Cựu Ước đối với đời sống xã hội;
Cuốn sách “Tôn giáo phương Đông - quá khứ và hiện tại” của Đỗ Minh Hợp (chủ biên), Nxb Tôn giáo, Hà Nội, xuất bản 2015 Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày về lịch sử hình thành và phát triển của các tôn giáo nói chung và đạo Công giáo nói riêng, về Kinh Thánh,… theo trình tự lịch đại khu vực và chủ yếu quan tâm tới những hình thức và biến thể khác nhau của các tôn giáo phương Đông, tác giả cũng đã trình bày các hệ thống tôn giáo dưới dạng khái quát có hệ thống, có so sánh theo thời gian; ngoài ra, tác giả cũng trình bày khái quát trạng thái hiện nay của các tôn giáo phương Đông, chỉ ra các xu hướng đổi mới, thích nghi của nó với nhu cầu hiện nay
Có thể nói, nguồn tư liệu nghiên cứu về lĩnh vực này còn hạn chế và khá chung chung, chưa đem lại một cái nhìn tổng quát về con đường thực hiện“đạo làm người” của tín đồ Công giáo Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có mục đích là làm rõ tư tưởng “đạo làm người” trong Bài giảng trên núi của Kitô Giêsu
Để đạt tới mục đích này, luận văn sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, trình bày các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa
cho sự ra đời tư tưởng “đạo làm người” trong Bài giảng trên núi của Kitô Giêsu
Thứ hai, phân tích các nội dung cơ bản của tư tưởng “đạo làm người”
trong Bài giảng trên núi của Kitô Giêsu
Thứ ba, đánh giá khái quát về tư tưởng “đạo làm người” trong Bài
giảng trên núi của Kitô Giêsu
Trang 1412
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng “đạo làm người” trong Bài giảng trên núi của Kitô Giêsu qua các tác phẩm kinh điển của đạo Kitô
Phạm vi nghiên cứu: giới hạn nghiên cứu chủ yếu qua bản Kinh Thánh Tân Ước do Hội đồng Giám mục Việt Nam biên dịch, xuất bản và ấn hành năm 2014
Ngoài ra, luận văn sẽ tham khảo các bản dịch Kinh Thánh của linh mục Nguyễn Thế Thuấn, Tòa tổng Giám mục Sài Gòn, xuất bản năm 1975; của Hồng y Trịnh Văn Căn, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội xuất bản năm 1985; của Nhóm phiên dịch “Các giờ kinh phụng vụ” do Nxb TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 1998
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt nam về tôn giáo
Phương pháp luận nghiên cứu của luận văn là phương pháp biện chứng duy vật, ngoài ra luận văn sẽ sử dụng phương pháp như phân tích, tổng hợp, lịch sử, khái quát, so sánh, văn bản học, nhân học văn hóa, v.v
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần nhận thức sâu sắc hơn tư tưởng đạo đức của Kitô giáo
Ý nghĩa thực tiễn: những luận điểm được trình bày trong luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu nội dung đạo đức học Kitô giáo, làm cơ sở lý luận để hoạch định chính sách phát huy những giá trị nhân văn Kitô giáo trong việc tổ chức và định hướng giá trị cho đời sống đạo của Kitô hữu ở nước ta hiện nay
Trang 1513
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Sự ra đời bài giảng trên núi của Kitô Giêsu
Chương 2: Tư tưởng “đạo làm người” và “con đường đạt đạo” trong
bài giảng trên núi của Kitô Giêsu
Trang 1614
Chương 1
SỰ RA ĐỜI BÀI GIẢNG TRÊN NÚI CỦA CHÚA KITÔ
1.1 Các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa, các tiền đề
lý luận cho sự ra đời tư tưởng “đạo làm người” trong Bài giảng trên núi của Chúa Kitô
Theo Phúc âm Matthêu, Bài giảng trên núi là bài thuyết giáo được Chúa Giêsu giảng cho các môn đệ và đám đông lớn trên một ngọn núi vào khoảng năm 30 Công nguyên (Mt5, 1;7, 28) Nơi diễn ra bài giảng được cho là một ngọn núi ở bờ bắc của biển Galilee, gần Capernaum mà ngày nay gọi là núi Bát Phúc Bài giảng ra đời cùng với sự ra đời của Kitô giáo phản ánh tồn tại xã hội của vùng Palestine thuộc đế chế LaMã từ đầu Công nguyên Hay nói cách khác, sự ra đời Bài giảng trên núi của Kitô Giêsu luôn gắn liền với những điều kiện về kinh tế – xã hội, chính trị và văn hóa, có tiền đề lý luận của mình và phản ánh đời sống xã hội đương thời
1.1.1 Các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa cho sự ra đời tư tưởng “đạo làm người” trong Bài giảng trên núi của Chúa Kitô
Đạo Kitô xuất phát từ tư tưởng “đối thần – đối nhân” (“đạo”, hai giá trị cốt lõi là “kính Chúa – yêu người” của Cựu Ước) Song trong điều kiện lịch
sử mới, Chúa Kitô đã tiếp tục phát triển tư tưởng ấy bằng cách nêu bật những nhân đức mà con người cần phải có để đạt tới “đạo” ấy Tám mối phúc thật được Ngài trình bày trong Bài giảng trên núi bao chứa toàn bộ tinh thần của học thuyết Kitô và qua đó cũng chính là sự kết tinh tinh thần của thời đại lịch
sử tương ứng Như vậy, nói tới các điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa cho sự ra đời của tư tưởng “đạo làm người” trong Bài giảng trên núi của Kitô Giêsu cũng đồng nghĩa với việc nói tới các điều kiện kinh tế, chính trị -
xã hội và văn hóa cho sự ra đời của đạo Kitô
Trang 1715
Về điều kiện kinh tế - xã hội: Bài giảng trên núi của Chúa Giêsu ra đời
vào đầu Công nguyên ở vùng đất Palestine, thuộc địa của đế chế La Mã Thế nhưng, không thể không nhắc đến những biến cố lịch sử của dân Israel từ khoảng 600 năm trước Công nguyên như một tiến trình lịch sử cho quá trình
ra đời và phát triển của Kitô giáo, cũng như sự ra đời bài giảng
Đầu công nguyên, Đế chế La Mã được xem là thời kỳ cực thịnh; cai trị
cả một vùng lãnh thổ khổng lồ về tài nguyên, thiên nhiên và con người Nền kinh tế lúc bấy giờ của đế chế La Mã khá đa dạng: nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ, ngoại thương, ngân hàng và đặc biệt là buôn bán nô
lệ Kinh tế nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa mì, ép rượu nho, ép dầu ô liu Hàng hóa nông nghiệp ngoài cung cấp cho nhu cầu trong nước họ còn dùng
để trao đổi với các quốc gia khác như Ấn Độ, Ba Tư v.v… Lúc bấy giờ, các ngành thủ công nghiệp khá phát triển như nghề dệt vải, làm bồn chứa, đóng ghe, thuyền v.v Kỹ nghệ và chế tạo đồ dùng với mức hoạt động khá nhỏ, các công việc khai mỏ và khai thác đá xây dựng khá nhộn nhịp Tuy nhiên, trong lĩnh vực sản xuất gạch xây dựng cũng có những xí nghiệp lên đến hàng trăm người Một số nhà viết sử mô tả sự phát triển kinh tế ở thời kỳ đầu của
La Mã đã thúc đẩy nghành kỹ nghệ và nghệ thuật phát triển, đặc biệt ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế thời Phục Hưng và về sau này của Châu Âu Mặc dù nền kinh tế của đế chế khá phát triển, nhưng do phải nuôi bộ máy chính quyền khá lớn, đặc biệt là phải nuôi đội quân hùng mạnh bậc nhất thế giới lúc bấy giờ, phải phục vụ cho các cuộc viễn chinh và bảo vệ đế chế trước các thế lực khác xâm hại liên tục, nên người dân phải nộp thuế rất nặng, dẫn đến cuộc sống kinh tế người dân lao động vẫn cùng khổ
Lúc này giai cấp trong xã hội được chia làm ba hạng người rất rõ rệt: người có quyền công dân Rôma, người tự do nhưng không có quyền công dân Rôma và nô lệ Những người có quyền công dân Rôma sẽ có rất nhiều lợi thế,
Trang 18nô nhằm chống lại sự bóc lột tàn bạo của chủ nô Các cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa các quốc gia nổ ra triền miên để tranh giành đất đai và nô lệ Vào những thập niên đầu Công nguyên, đế chế La Mã đã chuyển từ chế độ thị tộc sang chế độ xã hội có giai cấp La Mã là một đế chế chiếm hữu nô lệ và là nhà nước có quân đội hùng mạnh nhất thế giới khi đó Nhà nước chiếm hữu
nô lệ hùng mạnh nhất cũng có nghĩa là nhà nước có nhiều nô lệ nhất, và chế
độ nô lệ ở đây cũng khắc nghiệt nhất Nô lệ là tầng lớp tận cùng của xã hội, bị coi như những súc vật biết nói Người ta có thể mua bán nô lệ như mua bán súc vật Tầng lớp nô lệ bị áp bức dã man, bị bóc lột tàn khốc Đây là nguyên nhân khiến họ liên kết để đấu tranh chống lại tầng lớp chủ nô
Trong những cuộc nổi dậy của nô lệ thì khởi nghĩa do Spactacus lãnh đạo vào những năm73-71 Tr.Cn đã gây được tiếng vang rất lớn Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, cuộc khởi nghĩa này cũng bị dìm trong biển máu Kết cục là anh hùng nô lệ Spartacus bị hành hình Cuộc khởi nghĩa không thành nên mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ, giữa giới quý tộc với giới bình dân càng gay gắt hơn Những người nghèo khổ càng ngày càng cùng khổ hơn Niềm hy vọng được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột của họ đã hoàn toàn bị dập tắt
Có một thực tế rằng, khi con người tỏ ra bất lực trước đời sống hiện thực, trước các lực lượng thống trị vật chất, thì con người chỉ biết dựa vào đời sống tinh thần, đặc biệt là tôn giáo Và sự ra đời Bài giảng trên núi là sự bảo
Trang 1917
vệ và che chở vững chắc về mặt tinh thần cho những con người đang chìm trong đau khổ và mất mát
Về bối cảnh chính trị: vào năm 586 trước Công nguyên, Vua
Nabuchodonosor II (605-561 Tr.cn) của đế chế Babylon đưa quân chinh phạt Vương quốc Judah và Israel, phá hủy đền thờ Do Thái Ông không ngừng dùng vũ lực để mở rộng đất đai, vó ngựa chinh chiến của ông rong rủi khắp nơi Syrie và Palestine Ông hai lần vây hãm Jerusalem, diệt vương quốc Do Thái, bắt tất cả quý tộc tăng lữ, thương nhân và thợ thuyền Do Thái về quản chế ở Babylon
Tương truyền rằng, vào năm 538 trước Công nguyên, vua Belshazzar khi đang dự yến tiệc ở kinh thành Babylon thì bỗng thấy có bàn tay người hiện ra viết một dòng chữ lên tường thành, nhà vua vội triệu tiên tri Daniel vào hỏi, thì ông giải nghĩa dòng chữ rằng, Thiên Chúa đã phán quyết Đế quốc Babylon đã đến hồi diệt vong Quả nhiên, vua Cyrus nước Ba Tư mang binh
mã tinh nhuệ đánh chiếm nước Babylon và lật đổ Belshazzar, tiêu diệt luôn cả
đế quốc của ông ta Sau khi toàn thắng, Cyrus liền ban bố sắc lệnh của mình, Cyrus, vua Ba Tư, tuyên bố: “Yave, Đức Chúa Trời đã ban cho ta các nước thế gian, và bảo ta xây cất cho Ngài một cái đền ở tại Jerusalem trong xứ Judah Trong các ngươi, phàm ai thuộc về dân Ngài, hãy trở về Jerusalem; nguyện Yave, Đức Chúa Trời của người ấy ở cùng người!” Thế rồi, không những dân Do Thái mà tất cả các dân tộc bị tù đày trong đế quốc Babylon đều được vua Cyrus ban bố tự do cho trở về cố hương Từ năm 538 Tr Cn cho đến năm 535 Tr Cn, quan tổng đốc Zerubabbel đã dẫn dắt nhóm người Do Thái đầu tiên về quê hương Theo huấn lệnh của nhà vua, quan Tổng đốc tỉnh Judah là Sheshbazzar - người có dòng dõi vua David - dẫn nhóm người Do Thái đầu tiên trở về thành Jerusalem Hai năm sau, tức năm 536 trước Công Nguyên, người cháu của David là Zerubabbel dẫn thêm một nhóm người Do
Trang 2018
Thái thứ hai trở về cố hương, chấm dứt kiếp tù đày của họ Trở về, trước cảnh hoang tàn của thành Jerusalem họ hết mực đau buồn Với chính sách tự do tôn giáo, triều đình Cyrus còn lấy ngân khố quốc gia Ba Tư để giúp nhân dân Israel xây dựng lại đền thờ
Sau bước đường hồi hương là thời kỳ mà các nhà chú giải Kinh thánh
gọi là thời kỳ yên lặng về mặt tôn giáo, kéo dài khoảng 400 năm, vì hầu như không có một biến cố gì quan trọng được Cựu Ước đề cập đến Tuy nhiên về chính trị xã hội vẫn còn nhiều bất ổn, chiến tranh vẫn xảy ra trên vùng đất Jerusalem do sự chiếm đóng của nhiều đế quốc khác nhau Quan trọng nhất là vào năm 336 Tr Cn, Alexandre đại đế chinh phục thế giới, và đem đến miền
Trung Đông ngôn ngữ phổ thông Lingua franca, lúc đó là tiếng Hy Lạp
Nhưng Alexandre đại đế chỉ cai trị đế quốc một thời gian ngắn Sau khi ông qua đời, đế quốc của ông bị phân chia vào tay bốn vị tướng Trong đó, người giữ vai trò rất quan trọng đối với lịch sử dân tộc Do Thái là Seleucus vì ông
đã sáng lập một đế quốc tồn tại khoảng hai trăm năm Trong thời kỳ của Seleucus, xuất hiện cuộc nổi dậy của Judas Maccabee chống lại đế quốc Cuộc nổi dậy thắng lợi, vì lúc đó Seleucus đang phải đối phó với nhiều thế lực Về phía Bắc, Seleucus phải đối phó với sự phản công của Parthian (cựu
đế quốc Ba Tư) Về phía Nam, Seleucus phải đối phó với sự nổi dậy của Ai Cập Và về phía Tây, Seleucus phải đối phó với một đế quốc mới là đế quốc
La Mã
Với sự thành công của cuộc nổi dậy do Judas Maccabee lãnh đạo, vào năm 150 Tr.Cn, dân tộc Do Thái bước vào giai đoạn mới Đó là triều đại nhà Hasmonean, còn gọi là nhà Judas Maccabee, cai trị trong vòng 100 năm Đây
là thời kỳ duy nhất dân Do Thái có một chế độ vua chúa với một nhà nước độc lập sau thời kỳ vàng son của David và Solomon Nhưng vào cuối thời kỳ này, việc cai trị trở nên bất ổn do sự tham nhũng, bóc lột, tranh giành quyền
Trang 2119
hành giữa nhiều phe phái khác nhau Thế nên, các phe phái phải nhờ một người ngoại bang làm thủ tướng để cai trị, đó là Antipater Antipater đến từ vùng Petra, biển Chết, thuộc dòng Nabatean Arabs, và đặc biệt là một người khôn khéo Antipater đã biến vùng Palestine thành quốc gia hậu thuẫn La
Mã chống lại Nabateans Arabs ở miền Nam và đế quốc Parthians ở phía Đông Vì vậy, ông rất được chính quyền La Mã tin tưởng và hầu hết dân chúng ủng hộ Khi Antipater bị ám sát, con thứ của ông là Hêrode được đưa lên làm vua, Hêrode đầy mưu mô và xảo quyệt Trong những năm bất ổn ở vùng Địa Trung Hải, Hêrode đã kết thân với Pompei, Julius Caesar, Antony, rồi Augustus, … Ông ta tỏ ra rất được lòng những vị hoàng đế La Mã lúc bấy giờ, vì vậy, mọi quyết định của ông đều được chính quyền La Mã chấp thuận,
kể cả vụ thảm sát hơn 200 trẻ sơ sinh ở Bethlehem và vùng phụ cận (Mt 2, 16 – 18)
Trong bối cảnh lịch sử về tình hình chính trị như thế, Đức Giêsu xuất hiện và rao giảng giáo lý công bằng, bình đẳng, bác ái, khoan dung, tha thứ; hứa hẹn một nước trời hoan lạc và vĩnh cửu Thế nên, sự xuất hiện Bài giảng trên núi dẫu sao cũng giúp những con người nghèo khổ, bị áp bức cũng tìm thấy ở đây sự an ủi, vỗ về; cùng những lời hứa hẹn được giải thoát dù chỉ là thuần túy về mặt tinh thần
Về hoạt động tôn giáo: Theo Josephus, sử gia nổi tiếng của Do Thái
vào thế kỷ I, diễn tả ba nhóm tôn giáo chính với triết lý hoạt động khác nhau,
đó là: phái Pharisiêu, phái Saduseo và phái Essiene Tuy nhiên, Kinh thánh
Tân Ước chỉ đề cập đến phái Pharisiêu và Saduseo, mà không đề cập gì đến phái Essiene Ngoài việc đề cập đến ba nhóm hoạt động tôn giáo trên, Josephus cũng đề cập đến những nhóm chính trị và những nhóm cách mạng của người Do Thái trong thế kỷ này Đặc biệt là những nhóm có liên quan đến cuộc chiến tranh lần thứ nhất với La Mã
Trang 2220
Phái Pharisiêu có ảnh hưởng trong xã hội Do Thái từ thế kỷ thứ II Tr
Cn đến thế kỷ thứ I sau Cn Phái này nhắm đến việc duy trì nhóm bằng sự trung thành với luật lệ và lòng sùng đạo Họ quan niệm giữ sự khắt khe trong các lễ nghi Do Thái giáo, giữ sự trong sạch trong dịp lễ, và đòi hỏi khắt khe trong việc ăn uống Họ chủ trương giữ luật theo những truyền thống rất tỉ mỉ,
vì thế nhiều lần họ đã bị Đức Giêsu đả kích rất nặng nề Mặt khác, họ tin có thiên thần, tin người ta sẽ sống lại để được thưởng hoặc bị phạt đời sau Họ cũng chờ đợi một Đấng Cứu Thế thuộc dòng dõi Đavít sẽ đến phục hồi tôn giáo và cứu dân tộc khỏi ách ngoại bang Những quan niệm này của phái Pharisiêu được căn cứ theo Cựu Ước, cùng những truyền thống khác do các rabbi (thầy tư tế) thêm vào qua nhiều thời kỳ Phái Pharisiêu có ảnh hưởng đến những người thuộc chính quyền Do Thái lúc bấy giờ, cũng như dân thường Do Thái Phái Pharisiêu có khuynh hướng đối nghịch chính trị, đối nghịch tôn giáo với phái Saduseo Những người lãnh đạo của phái Pharisiêu được gọi là rabbi, như Nicodem Saolo (Ga 3, 1-10; Cv 23, 6; 26, 5)
Phái Saduseo có ảnh hưởng về mặt tôn giáo trong đời sống người Do Thái từ thế kỷ II Tr Cn đến thế kỷ I sau Công nguyên Tuy là một nhóm nhỏ hơn nhóm Pharisiêu, nhưng do tập hợp được những thành phần quan trọng (đa
số là những thầy tế lễ) nên phái Saduseo có ảnh hưởng mạnh hơn nhóm Pharisiêu Đặc biệt, phái Saduseo thường là những người có học thức, tiền bạc
và thế lực, nên bị phái Pharisiêu ganh ghét Trái với phái Pharisiêu, là những người chú trọng về lời truyền khẩu của các bậc trưởng lão, những người Saduseo hạn chế sự tin kính mình trong các lễ đạo mà người ta thấy ở trong chính lời Cựu Ước Người Saduseo cho rằng chỉ trong luật pháp chép mới bị bắt buộc giữ theo Phái Saduseo kiểm soát các thể lệ trong đời sống tôn giáo của người Do Thái khi đó Nhóm này cũng ủng hộ triều đại cũ của Do Thái nên không thích chế độ mới của vua Hêrôđê, và đối lập với nhóm Hedonians
Trang 2321
Phái Saduseo cũng kiểm soát mọi sinh hoạt trong đền thờ Jerusalem Nhưng phái Saduseo bị xem là có hành vi bòn rút của người nghèo sùng đạo, cũng như cho phép việc buôn bán đổi tiền ở trong đền thờ Như khi Đức Giêsu vào đền thờ Jerusalem lần đầu tiên, Đức Giêsu đã xua đuổi đám người buôn bán đổi tiền này Phái Saduseo còn nhượng bộ với Hêrôđê và cả những nhóm khác Vậy nên, việc tế lễ trong đền thờ lúc bây giờ là cách trục lợi kinh tế; Đức Giêsu đã lên án cách làm bất chính này và bị nhóm này ghen ghét, tìm cách loại trừ (Mt 12, 41-44)
Nhóm thứ ba được Josephus nhắc đến là Essiene Phái Essiene là một nhóm nhỏ, có lối sống tách biệt khỏi những cộng đồng ở vùng Qumran thuộc biển Chết; là giáo phái đông thứ nhì sau phái Pharisiêu Giáo phài này chủ trương đứng về phía người nghèo Lúc đầu, họ là những thầy tế lễ Nhưng về sau, họ tách rời ra khỏi các lễ lộc trong đền thờ Jerusalem Họ cho rằng các thầy tế lễ trong đền thờ không đủ tư cách, không đủ thẩm quyền để thờ phụng Chúa Có giả thuyết được nhiều người chấp nhận rằng, họ tập trung ở vùng biển Chết và giữ bí mật những cổ kinh Cựu Ước, những cổ kinh này được tìm thấy ở Qumran năm 1947
Dân Israel sống trong cảnh bị áp bức, không những dưới tay Hêrôđê mà còn dưới ách thống trị của La Mã Trong bối cảnh xã hội đó, dân Israel khao khát một đấng cứu tinh, người Israel nào cũng mong chờ sự ra đời của Đấng Messia đã được các tiên tri loan báo từ bao đời nay Họ mong Đấng Messia đến lật đổ người La Mã, chấm dứt sự khổ ải của cả một dân tộc Vậy nên, thời điểm Đức Giêsu sinh ra đời đúng vào lúc người Do Thái đang ấp ủ một ao ước có một vị lãnh tụ để giải phóng họ như Ápraham, như Môise, như Giôsua, như Đavít, v.v Vì vậy, lúc đầu Đức Giêsu xuất hiện họ chào đón và
hy vọng như một anh hùng dân tộc Thế nhưng, càng về sau giới chóp bu trong Do Thái giáo nhận thấy Đức Giêsu không phải là một lãnh tụ giải phóng
Trang 2422
dân tộc Israel, thậm chí có nhiều tư tưởng khác với tư tưởng truyền thống, nhất là họ sợ dân chúng tin theo Đức Giêsu và không tin những lời giảng dạy của họ nữa thì uy tín, tầm ảnh hưởng của họ có nguy cơ bị giảm sút và rồi họ
đã tìm cách loại trừ ĐứcGiêsu Theo thần học Kitô giáo thì Đức Giêsu là đấng giải thoát con người về tinh thần, về phần linh hồn chứ không phải là một vị anh hùng cách mạng để giải cứu dân tộc Israel, nên người Israel đã thất vọng
Về điều kiện văn hóa: văn hóa của người Do Thái thời Chúa Giêsu chủ
yếu được thể hiện qua quan niệm tôn giáo của họ và những hoạt động văn hóa tâm linh tương ứng (ngày lễ) Đó là quan niệm của họ về Thiên Chúa, thiên thần và quỷ dữ, loài người, cứu thế
Về Thiên Chúa: Nếu các dân tộc đương thời chủ yếu theo đa thần giáo,
thì duy nhất dân tộc Do Thái ngay từ đầu đã theo độc thần giáo Thực tế này
phản ánh tinh thần cố kết dân tộc cao là một truyền thống ngàn đời của người
Do Thái, vì “thần” ở đây chính là hệ giá trị văn hóa tinh thần được toàn bộ dân tộc “tôn kính trên hết mọi sự” (“giống như mỗi nhà chỉ có một nóc”, một bàn thờ, một cha) Sau thời bị đầy ải ở Babilon, người Do Thái càng ý thức sâu sắc hơn độc thần giáo Mỗi khi làn sóng đa thần giáo của các dân tộc ngoại bang tràn vào đất nước họ, toàn thể dân tộc Do Thái luôn đoàn kết thành một khối thống nhất để bảo vệ tôn giáo độc thần của họ
Về Thiên Thần và quỷ dữ: Người Do Thái tin là có Thiên Thần Song
quan niệm của họ được mở rộng quá mức sau cuộc lưu đầy về Họ tin có hai hạng: thần lành và thần dữ Quan niệm của họ gần gũi với quan niệm của người Ba Tư về Nhị thần đối phản (Machenisme – đạo Thiện Ác): Thiên Thần
và quỷ dữ là loài thụ tạo do Thiên Chúa tác thành và luôn hoạt động dưới quyền Ngài điều khiển Chúa Giêsu sẽ đưa ra quan điểm “tự do ý chí” qua sáng thế luận từ hư không
Trang 2523
Về loài người: Các vấn đề về cứu độ nhân loại, về thưởng phạt luôn
làm cho người Do Thái bận tâm Quá trình Cựu Ước cho thấy họ dần dần nhận thức ngày một rõ hơn thực chất của các vấn đề này Có thể nói, người
Do Thái đã nhận được những nền tảng sâu xa về giáo lý này từ ngày Thiên Chúa mạc khải cho họ Luật trên núi Sinai Họ tin vững chắc rằng, Thiên Chúa công bằng và thánh thiện Thiên Chúa công bằng vì Ngài không thể không trừng phạt tội ác Thiên Chúa thánh thiện vì Ngài đòi hỏi con người phải sống theo Luật siêu nhiên Sự thưởng phạt ở đời này chưa đủ để khuyến thiện trừng
ác Trái lại, nhiều khi lắm kẻ làm việc ác lại được thịnh, nhiều người làm việc thiện lại bị khổ, v.v Thiên Chúa công bằng tất phải lập lại một trật tự mới trong cuộc sống hậu lai Đó là then chốt của sự thưởng phạt Chính vì vậy, dưới thời Chúa Giêsu, dân Do Thái luôn tin nhận linh hồn bất tử và điều kiện
ở đây là phải biến thể xác thành chi thể Thiên Chúa, thành “đền thờ Chúa Thánh thần”
Như vậy, có thể khẳng định rằng, với điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị và văn hóa, xã hội của vùng Palestine thuộc đế chế La Mã đầu Công nguyên là những yếu tố cơ bản đưa đến sự ra đời của Kitô giáo cũng như Bài giảng trên núi của Kitô Giêsu Sự ra đời bài giảng này đã phản ánh đúng nguyện vọng của người dân vùng Palestine vào đầu Công nguyên
1.1.2 Các tiền đề tư tưởng cho sự ra đời tư tưởng “đạo làm người” trong Bài giảng trên núi của Chúa Kitô
Ngoài các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa, các tiền đề tư tưởng cũng đóng vai trò quan trọng cho Kitô giáo ra đời Về các tiền đề này, xuất phát từ bản thân lịch sử bắt nguồn của Kitô giáo từ Do Thái giáo và nó đồng thời cũng là tôn giáo trước hết của dân Do Thái, chúng ta có thể khẳng định rằng, tư tưởng Cựu Ước (Kinh Thánh của Do Thái giáo) đóng vai trò cội nguồn tư tưởng trực tiếp cho Tân Ước nói chung và đặc biệt là cho Bài giảng
Trang 2624
trên núi nói riêng
Như chúng ta đã nói ở trên, người Do Thái quan niệm Thiên Chúa toàn năng xét xử công bằng, quỉ Satan chuyên cám dỗ, Thiên đường là chốn vui sướng vô cùng, về hỏa ngục là chốn đau đớn muôn đời muôn kiếp với một chảo lửa khổng lồ không bao giờ tắt, ngày tận thế với những vì sao trên vòm trời rụng xuống như mưa, viễn cảnh loài người từ mọi chân trời góc bể nghe được tiếng kèn của thiên thần trỗi dậy để nghe Thiên Chúa xét xử công bằng trong ngày phán xét cuối cùng Người Do Thái có một niềm tin sâu xa về Chúa Cứu thế mà tiếng Do Thái gọi là Messia, tiếng Hy Lạp dịch thành Christos Đấng Messia là Đấng mà các tổ phụ, tiên tri Do Thái, như Ápraham, Môise, Đavít, Sôlômông, Isaya, Samuel, Elia, v.v đã tiên báo và mỏi mòn mong đợi từ lâu Người Do Thái, dù là Pharisiêu, Saduseo hay Essiene, đều đang mòn mỏi trông đợi Ðấng Cứu thế Cứ mỗi lần quốc gia họ lâm nguy hoặc dân chúng rơi vào cảnh nô lệ, lòng trông đợi lại nổi lên mạnh
mẽ Qua các thời đại, nhờ sự nhắc nhở của các tiên tri, họ càng ý thức rõ rệt hơn về chọn lựa mà Thiên Chúa đã giao ước với Tổ phụ họ
Khi sống dưới ách đế quốc La Mã hà khắc, lòng trông đợi lại càng
mãnh liệt hơn Họ dựa theo lời tiên tri trong Kinh thánh và lập luận rằng thời
gian trông đợi đã đến Vì rằng tiên tri Ðanielđã tiên đoán: Sau 69 “tuần năm”, các đau khổ của Israel sẽ chấm dứt (Đn 9, 24-27) Thật ra, người Do Thái khi
đó không có một quan niệm rõ rệt về đấng Messia mà họ mong đợi Sống trong cảnh nô lệ, bị áp bức nên hầu hết người Do Thái cho rằng đấng Messia
sẽ là vị anh hùng cứu quốc, có trong tay cả trăm ngàn binh sĩ Ngài sẽ báo thù cho dân Ngài, “đập tan các thù địch như đập bình gốm” (Ml 1, 13) Ngài sẽ thống trị muôn dân, mở đầu cho thời huy hoàng của Israel Vì vậy, khi Đức Giêsu xuất hiện, rao giảng và tự xưng mình là Đấng Messia thì hầu hết người
Do Thái đều tin Đức Giêsu sẽ làm một cuộc cách mạng để giải phóng dân tộc
Trang 2725
Trong Phúc âm cũng tường thuật lại nhiều chi tiết chứng tỏ rằng người Do Thái lúc bấy giờ không nghĩ rằng Đức Giêsu là một người sáng lập tôn giáo mới mà hầu như nghĩ rằng Đức Giêsu là lãnh tụ cách mạng cho Israel và Ngài
sẽ làm vua Do Thái Sau này, khi Đức Giêsu đi rao giảng cũng nhiều lần chứng minh với người Do Thái rằng chính Ngài là Đấng Messia mà các tiên tri đã từng loan báo, một số người Do Thái đã tin theo, nhưng một số khác thì phản đối và xem đó là sự mạo danh, là sự phạm thượng nên tìm cách loại trừ Như vậy, có thể khẳng định thế giới quan, nhân sinh quan, quan niệm đạo đức của Do Thái giáo là tiền đề tư tưởng trực tiếp của Kitô giáo Chính Đức Giêsu trong quá trình rao giảng về giáo lý Kitô giáo cũng khẳng định giáo lý Ngài rao giảng không phủ định tư tưởng luật lệ của người Do Thái mà ngược lại là sự tiếp nối, kiện toàn những gì đã có (Mt 5, 17-19)
Tiền đề tư tưởng triết học Hy Lạp: Hy Lạp cổ đại là thời kỳ lịch sử bao
trùm toàn bộ khu vực Địa Trung Hải và biển đen, kéo dài 100 năm đến khi Kitô giáo xuất hiện Các nhà sử học coi đó là nền tảng văn hóa văn minh phương Tây Văn hóa Hy Lạp có ảnh hưởng rất lớn trong đế chế La Mã và các nước trong khắp vùng Châu Âu Các triết gia Hy Lạp xuất hiện trước Đức Giêsu khoảng năm thế kỷ, như Pytago, Platon, Aristot, Phylon, v.v đã có những tư tưởng và quan niệm về một thế giới siêu nhiên, về linh hồn bất tử,
về Ngôi lời nhập thể, v.v Vì thế những tư tưởng đó vừa là tiền đề, vừa là giá
đỡ về mặt lý luận cho Kitô giáo Điều đó cũng được các nhà thần học, triết học và những nhà hoạt động Kitô giáo thừa nhận Chẳng hạn, Thượng phụ Bartholomew viết: “Thật vậy, con người không thể phủ nhận sự đóng góp của nền văn chương và triết học Hy Lạp vào tư tưởng và giáo lý Kitô giáo Ngay
từ thuở ban đầu, nghĩa là từ thời các tông đồ, những người bị coi là không có học thức, Giáo hội đã nhận được ảnh hưởng có lợi từ nền văn chương và triết học Hy Lạp và đã vận dụng chúng làm phương tiện để phát triển và biểu
Trang 28Những văn bản đầu tiên của Thiên Chúa giáo, thuật lại tư tưởng và hoạt động của Đức Giêsu, có nhiều điểm tương đồng với những văn bản của Sénophone Ngay cả từ “theology” (thần học) cũng đã thấy xuất hiện trong cuốn Republique của Platon Triết gia Céneque thì thuyết giảng rằng Thượng
đế là cha và là người đồng hành với con người; con người phải luôn luôn bày
tỏ niềm tri ân với Thượng đế trong việc thực thi các nhân đức Aristot thì khẳng định tính ưu việt của thần học trên tất cả các khoa học khác Trong khi
đó, Pythago thì ghép chung khoa học và tôn giáo thành một cặp song đôi… Vì vậy, có thể hiểu như vị thượng phụ Batholomew đã khẳng định: “Giáo hội, qua những hoạt động giáo huấn đã hằng bao thế kỷ, giảng dạy cho giáo dân những chân lý đã được mạc khải, Giáo hội chịu ơn những trường phái triết học về những tư tưởng nhân sinh, về vũ trụ quan; những trường phái triết học
ấy đã góp phần vào việc phát triển tri thức và tâm linh con người…” [62, tr 129]
Bên cạnh tư tưởng triết học, Hy Lạp còn nổi danh là một kho tàng khổng lồ của thế giới về thần thoại Thần thoại Hy Lạp là tập hợp những câu chuyện huyền thoại và truyền thuyết của người Hy Lạp cổ đại, liên quan đến các vị thần Đặc tính của các truyện thần thoại này là người có thể biến thành thần hoặc thần biến thành người Người Hy Lạp có truyền thống ước mơ một
vị thần linh đầy quyền phép sẽ từ trên trời xuống trần thế làm người, để cứu
họ thoát khỏi cuộc sống trầm luân phàm tục Cuối thế kỷ I Tr.Cn, một sản
Trang 2927
phẩm thần thoại mới của Hy Lạp được ra đời là Thần Ngôn (Logos) nghĩa là thần nói ra lời Thần Logos được mô tả là Chúa Cứu thế từ trời, đầu thai vào một thân xác con người
Khi Kitô giáo ra đời và truyền đến Hy Lạp, một số nhà văn Hy Lạp đã gán chuyện thần thoại Logos này vào nhân vậtvà biến Giêsu thành “Chúa Kitô Ngôi Lời nhập thể” Một số nhà nghiên cứu triết học tôn giáo có quan niệm rằng Kitô giáo là kết quả tổng hợp giữa huyền thoại Kitô của Do Thái giáo và thần thoại Logos của Hy Lạp Chúng tôi cũng cho rằng, nếu nhìn nhận dưới góc độ lịch sử triết học, tư tưởng, giáo lý Kitô giáo ra đời như một sự tiếp biến tư tưởng thần thoại, tôn giáo và triết học của người Do Thái và người Hy Lạp cổ đại
Tư tưởng của Zarathustrisme (đạo phương Đông do Zarathustra sáng lập) có ảnh hưởng đáng kể đến Kitô giáo nói chung và tư tưởng “đạo làm người” của Kitô giáo nói riêng Theo các tác giả Long Đan, Đỗ Văn Bình trong cuốn “Do Thái trí tuệ toàn thư” Nxb Thời đại, Hà Nội, 2010 [14], do bị người Ba Tư nô dịch về văn hóa và cũng do đồng cảm về mặt giá trị, nên người Do Thái đã tiếp thu có chọn lọc và phát triển một số tư tưởng cốt lõi của Zarathustrisme Sự ảnh hương của Zarathustrisme đến tư tưởng đạo làm
người của Kitô giáo thể hiện rõ nhất ở một số điểm sau đây: thứ nhất, Kitô
giáo chịu ảnh hưởng của quan niệm Zarathustrisme về ngày tận thế, sự phán
xét và cuộc sống đời sau, lấy bác ái làm hạt nhân của đạo làm người; thứ hai,
Kitô giáo chịu ảnh hưởng quan niệm của Zarathustrisme về cái ác như hệ quả
tội lỗi của con người; thứ ba, Kitô giáo chịu ảnh hưởng quan niệm của
Zarathustrisme về đạo đức trong sạch hoàn toàn để phát triển tư tưởng bác ái [10, tr 40-46]
Vậy có thể nói, với điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội của vùng Palestine đầu Công nguyên, cùng với ngọn nguồn thần thoại, tư tưởng triết
Trang 3028
học và tôn giáo đã có từ hàng ngàn năm trước của người Do Thái và người Hy Lạp, sự ra đời Bài giảng trên núi của Kitô Giêsu không phải là sự ngẫu nhiên
mà là một tất yếu của lịch sử
1.2 Khái quát Bài giảng trên n i của Chúa Kitô
Bài giảng trên núi, một bản văn được đặt tên là Hiến chương của Nước Trời, đặc biệt được phục vụ trình bày như tiêu chuẩn để thực hiện cuộc cải hoán tâm trạng Chúa Giêsu có nhiều bài giảng nổi tiếng Song, như đã nói, xét trên phương diện “đạo làm người”, bài giảng vĩ đại nhất của Ngài chính là Bài giảng trên núi Bài giảng trên núi tóm tắt ngắn gọn đạo đức của toàn bộ Kinh Thánh Đó cũng là bài giảng của Chúa Giêsu dạy về đạo làm người ở cõi nhân sinh Bài giảng này thực chất là tinh hoa của Phúc âm, nên người ta còn gọi nó là “PHÚC ÂM CỦA PHÚC ÂM” Trước khi đi sâu tìm hiểu những tư tưởng cơ bản của Bài giảng, chúng ta cần phải làm rõ bối cảnh diễn
ra Bài giảng
1.2.1 Tên gọi, địa điểm và cấu trúc bài giảng
Về tên gọi của Bài giảng: Bài giảng này của Chúa Giêsu sở dĩ được gọi
là Bài giảng trên núi vì, như Thánh tông đồ Mátthêu viết: “Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên Người mở miệng dạy họ” (Mt 5, 1-2) Thuở xưa,Thiên Chúa ban hành lề luật trên một quả núi (Sinai) Ngày nay, cũng trên một quả núi, Đức Chúa Giêsu, Đấng thay Trời lập Đạo (thế Thiên hành đạo), đã công bố luật Đạo mới, Đạo Phúc âm Luật này được công bố trong một bài giảng, quen được gọi là Bài giảng trên núi
Nó được gọi là “Bài giảng”, bởi vì nó bắt đầu với thái độ của một giảng viên “Đức Giêsu ngồi xuống mở miệng dạy” (Mt 5, 1-2), và kết thúc với những lời ở cuối chương 7: “khi đức Giêsu giảng dạy những điều ấy xong, đám đông sửng sốt về lời giảng dạy của Người”, còn gọi là “trên núi” bởi vì ở đầu chương 5, thánh Matthêu đã viết: “thấy đám đông, đức Giêsu lên núi”, và
Trang 3129
ở đầu chương 8, thánh sử viết: “Khi Đức Giêsu ở trên núi xuống, đám đông lũ lượt đi theo Người” Vì vậy mà kể từ thánh Augustino, các học giả đã gọi là Bài giảng trên núi (De sermone Domini in monte)
Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn khung cảnh ra đời của “Bài giảng”, chúng ta cần làm quen với nó qua thời gian, địa điểm và đối tượng của nó Đọc Phúc
âm của Mátthêu, chúng ta có cảm tưởng là Chúa đã giảng bài này ngay từ hồi mới xuất thân hành đạo Song, Luca (Lc 4, 12) nói rõ hơn: Bài giảng đó đã diễn ra sau khi Chúa lựa chọn mười hai Tông đồ Qua hai bản Phúc âm của Matthêu
Về địa điểm ra đời“Bài giảng”: Phúc âm không nói rõ, những lời
truyền tụng cũng khác nhau Xưa kia người ta thừa nhận, Chúa Giêsu đã giảng trên núi Cây dầu Sở dĩ người ta tin tưởng như vậy vì trong Bài giảng có Kinh Lạy Cha (Mt 6, 9) Mà Kinh này được Chúa dạy ở núi Cây dầu (Lc 11, 1) Thánh Giêronimô không tán thành quan điểm này Vì núi Cây dầu ở gần Giêrusalem thuộc sứ Giuđêa Thế mà xét hoàn cảnh, Chúa Giêsu đã diễn thuyết Bài giảng này trong thời gian đang hành đạo ở Galilêa
Thánh Giêronimô suy luận như sau: Chúa Giêsu đã giảng trên núi Thabôrê hay là trên một quả núi nào đó ở trong xứ Galilêa[40, tr36] Song ngày nay, các nhà khảo cổ không xác minh nhận định này Họ cũng có những
ý kiến khác nhau Lagrange và Durand cho rằng, Chúa Giêsu đã giảng trên một cao nguyên giữa núi Kourn Hattin ở gần Magđala, cách Capharnaum chừng 8 cây số[40, tr38] Người khác lại cho rằng Bài giảng này diễn ra ở trên núi Ain Tabgha ở mạn tây cách Capharnaum chừng 3 cây số Ý kiến này xem
ra là hợp lý, vì theo Phúc âm khi giảng Bài này, Chúa Giêsu đang ở Capharnaum Ngài đã từ trong thị trấn đi ra, lên núi giảng rồi lại xuốngnúi trở
về thành Như vậy, ta có thể tin được núi đó ở ngay chính Capharnaum (ý kiến của Buzy, Prat, Renié)[40, tr.40]
Trang 3230
Về thính giả, sau khi đọc“Bài giảng”, ta thấy nhiều câu Ngài nói riêng với các môn đệ, nhiều câu Ngài nói với một số đông người khác Đọc kỹ và khái quát các ý tưởng trong bài tường thuật của Mátthêu và Luca, chúng ta có thể hình dung khá chính xác rằng, Ngài đã giảng bài này trước một cử tọa hỗn hợp Ngài ngồi trên sườn núi, gần kề ngay hai bên có các tông đồ, các môn
đệ, xa hơn một chút là dân chúng, Họ ngồi quây quần bên nhau lại từng nhóm
để nghe Ngài giảng Họ gồm đủ mọi loại người đến từ các miền thuộc xứ Palestine (Mt 6, 25; Lc, 17)
Về cấu trúc của “Bài giảng”:Bài giảng trên núi được thánh Matthêu ghi
lại trong ba chương 5, 6, 7 của Tân Ước:
Chương 5 gồm:
Thứ nhất,Tám mối phúc (Mt 5, 1-12)
Thứ hai, Muối cho đời và ánh sáng của trần gian (Mt 5, 13-16)
Thứ ba, Đức Giêsu Kiện toàn luật Môsê (Mt 5, 17-19)
Thứ tư, Đức công chính của người môn đệ (Mt 5, 20)
Thứ hai, Cầu nguyện nơi kín đáo (Mt 6:5-6)
Thứ ba, Kinh "Lạy Cha" (Mt 6, 7-15)
Thứ tư, Ăn chay cách kín đáo (Mt 6:16-18)
Thứ năm, Của cải trên trời (Mt 6, 19-21)
Trang 3331
Thứ sáu, Đèn của thân thể (Mt 6, 22-23)
Thứ bảy, Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của (Mt
6, 24)
Thứ tám, Tin tưởng vào Chúa quan phòng (Mt 6, 25-34);
Chương 7 gồm:
Thứ nhất, Đừng xét đoán(Mt 7, 1-5)
Thứ hai, Đừng quăng của thánh cho chó (Mt 7, 6)
Thứ ba, Cứ xin thì sẽ được (Mt 7, 7-11)
Thứ tư, Khuôn vàng thước ngọc (Mt 7, 12)
Thứ năm, Hai con đường (Mt 7, 13-14)
Thứ sáu, Cây nào trái ấy (Mt 7, 15-20)
Thứ bảy, Môn đệ chân chính (Mt 7, 21-27)
Thứ mười, Cách giảng dạy của Đức Giêsu(Mt 7, 28-29)
Song, vì đây là một bài giảng, nên nó phải có cấu trúc giống như mọi bài giảng khác Chúng ta có thể tóm tắt đại cương Bài giảng (do Matthêu ghi lại) như sau:
A Phần mở bài: Chúa hứa ban hạnh phúc cho những ai vâng lời Ngài
B Phần thân bài: bác bỏ những vấn nạn có thể và vạch ra con đường,
phương pháp (tiêu cực và tích cực) giúp người ta tiến tới bậc toàn thiện (đạt đạo) (Mt 5, 17 - 7, 23)
Trang 3432
I) Bác vấn nạn ngấm ngầm của người Do Thái đối với Giáo hội Chúa (Mt 5, 17-48)
1) Chúa đến không cốt để bãi bỏ Luật Môise (Mt 5, 17-20);
2) Trái lại, Ngài làm cho nó hoàn hảo (Mt 5, 20) bằng cách sửa bỏ tệ tục và giữ đức nhân ái: sửa tệ tục a) trong xã hội (Mt 5, 21-26), b) trong đời sống gia đình (Mt 5, 27-32); c) trong việc phụng sự Thiên Chúa (Mt 5, 32-37); d) phải yêu thương, tha thứ kẻ thù thì mới trọn đức nhân ái (Mt 5, 38-48)
II Con đường đạt đạo:
2.1 Phương pháp tiêu cực: chừa bỏ các thói hư (Mt 5,1; Mt 7, 6): 1) Chừa thói phô trương trong khi làm việc thiện (Mt 6, 1 – 6; 16-18); 2) Đừng quá lo lắng hay bận lòng về phần xác (Mt 6, 19-34);
3) Đừng phán xét sự lỗi người khác (Mt 7, 1-5);
4) Phải chừa sự nông nổi nhẹ dạ (Mt 7, 6)
2.2 Phương pháp tích cực để tiến tới toàn thiện (Mt 7, 7-23):
1) Cầu nguyện cho bản thân và cho đồng loại (Mt 7, 7-12);
1.2.2 Nội dung và ý nghĩa bài giảng
Về nội dung chính của “Bài giảng”: Nội dung Bài giảng trên núi rất
phong phú, gồm nhiều đề tài khác nhau Nổi bật hơn cả là Tám mối phúc thật
và Kinh Lạy cha Có thể phân thành bốn đề tài chính:
1) Tám mối phúc (Mt 5,3-12) được coi như dẫn nhập cho Bài giảng trên núi và được kéo dài thêm với vài áp dụng luân lý qua hai hình ảnh muối
và ánh sáng (Mt 5, 13-16)
Trang 3533
2) Đức Giêsu kiện toàn Lề luật và các ngôn sứ (Mt 5,17-48)
3) Đức Giêsu dạy cho các môn đệ biết thế nào là “công chính” trước mặt Thiên Chúa, cách riêng qua việc bố thí, cầu nguyện, ăn chay Trong bối cảnh này Người dạy kinh Lạy Cha (Mt 6, 1-18)
4) Thái độ đối với tài sản vật chất (Mt 6,19-34) Những lời khuyên về cách đối xử với anh em tóm lại trong “Khuôn vàng thước ngọc” (Mt 7)
Bài giảng được trình bày trước một cử tọa hỗn hợp mọi loại người, cố nhiên diễn giả đã sử dụng lời văn bình dị để biểu thị ý tưởng Nhưng trong Bài giảng này không thiếu những kiểu nói bóng Chẳng hạn như: hãy móc mắt, chặt chân, hãy giơ cả má hữu cho kẻ tát vào má tả, ai toan cướp áo dài thì hãy cởi cả áo lót mà cho, v.v Khi giảng dạy những điều ấy, Chúa Giêsu đã thừa hiểu đã ý thức rất rõ rằng không có ai quá ngây thơ nghĩ là Chúa bắt người ta thi hành nghĩa đen của lời giảng!
Xét về nội dung của Bài giảng, chắc không ai nghĩ Bài này bao gồm tất
cả mọi điều Tín lý và Luân lý của Công giáo Trong Bài này hoàn toàn không
đề cập tới mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi, về ơn cứu độ, về Bí tích, về giáo hội, v.v Bài giảng này cũng không định rõ giới hạn và quyền hạn của mọi người, những điều bắt buộc và những điều khuyên nhủ cũng được trình bày đan xen với nhau
Về ý nghĩa của “Bài giảng”: trong Bài giảng này, Chúa Giêsu chỉ nêu
ra ít nhiều tấm gương cho người ta noi theo để tiến tới bậc toàn thiện Một khi giữ trọn những điều Chúa dạy trong Bài giảng này, người ta chắc chắn sẽ trở nên trọn lành Bởi lẽ đó, như chúng tôi đã nói ở trên, người ta quan niệm Bài giảng này là tinh hoa của Phúc âm hay là Phúc âm của Phúc âm
Về bài giảng trên núi này, Kenneth C.Davis viết như sau trong
cuốn Don't Know Much About The Bible: Everything You Need to Know
About the Good Book But Never Learned:
Trang 3634
"Một trong những bài giảng chính của Giêsu là một bài dài mà Augustine gọi là "Bài Giảng Trên Núi.""Bài Giảng Trên Núi" được trình bày toàn phần trong Phúc Âm Matthew (hơn 100 câu) và dưới dạng một bản rút ngắn trong Phúc Âm Luke.Trong Luke bài giảng này tương tự như trong Matthew, tuy ngắn hơn (khoảng 30 câu), và được nói ở đồng bằng khi Giêsu cầu nguyện xong và xuống núi
Những sự khác nhau trong hai bài giảng này đã đưa đến sự đồng thuận của các học giả là bài giảng trong Matthew là kết quả góp nhặt từ nhiều bài giảng của Giêsu thành một bài dài có thể nhớ được Nói khác đi, đó là những lời giảng của Giêsu được ghi lại một cách trung thực và là "Những Lời Hay Ý Đẹp Nhất của Giêsu" được gom lại thành một bài."[42]
Theo nhà chú giải Thánh Kinh J.Jérémias, “Bài giảng trên núi đã cho ta thấy một tổng hợp các lời nói của chúa Giêsu, nằm nhiều chỗ khác nhau trong bài giảng của Ngài Đôi khi các lời nói này gói trọn trong một câu văn Mỗi một câu trong những lời nói này có thể là một lời tóm lược một bài giảng, câu hỏi và câu trả lời, hoặc cũng còn là kết luận của một cuộc tranh biện với những kẻ đối nghịch với ngài”[66, tr 11]
Nội dung của Bài giảng trên núi được cho là “giáo pháp” của Giêsu, nghĩa là những lời dạy về luân lý đạo đức con người, được gói ghém trong
Bài Giảng Trên Núi (Sermon on the Mount) Trong bài giảng này có một
phần mà các Linh mục thường mang ra giảng trong nhà thờ, và do đó các tín
đồ thường biết dưới tên "Phúc Thật Tám Mối" và ca tụng với người ngoại đạo
là “tuyệt vời” Đặc biệt “Đạo làm người” được đề cập cô đọng nhất trong tám mối phúc thật
Kết luận chương 1
Bài giảng trên núi là tập hợp các lời dạy của Giêsu mà các môn đồ đầu
tiên của ông ghi lại hơn là một bài nói hoàn chỉnh vào một ngày hay sự kiện
Trang 3735
nào đó Bản văn này chứa đựng những nội dung trọng yếu của Thiên Chúa
Giáo và được người Thiên Chúa Giáo xem là “Hiến Chương của Nước Trời”
Bài giảng trên núi không dành cho hết mọi người mà chỉ dành cho một thiểu số Khuynh hướng này lưu ý tới chỗ là ở đầu Bài giảng trên núi thánh
Matthêu đã nói rõ: Chúa Giêsu dạy các "môn đệ" chứ không phải dạy hết mọi người Bài giảng trên núi dành riêng cho những ai muốn làm môn đệ của đức Kitô, muốn theoNgười sát gót và họa lại cuộc sống của Người
Bài giảng trên núi không đề ra một bài học luân lý, nhưng vạch cho con người thấy mình phải ràng buộc bởi bao nhiêu thứ nô lệ Tuy nhiên, đối với nền đạo đức nhân loại, Bài giảng trên núi là một sự nâng cấp so với các giới luật đã hình thành và được truyền bá trong xã hội DoThái thời bấy giờ như Mười Điều Răn, Lời Ngôn Sứ trong Kinh Thánh của Đạo Do Thái Và ngay
cả cho đến nay, Bài giảng trên núi vẫn được chính người công giáo xem như những lý tưởng hoàn thiện của luân lý và nhân cách, “một lý tưởng nhưng không thể thực hiện được” mà chỉ “một vài người nhận được ơn gọi đặc biệt
thì mới có thể thi hành nổi”.Con người chỉ có thể được giải thoát khỏi những
tròng nô lệ đó khi biết hoàn toàn để cho lòng khoan nhân của Chúa dìu dắt
Qua Bài giảng trên núi, có thể thấy nền đạo đức đích thực của Kitô giáo
đó là tình yêu Đây là con đường cao cả của cuộc sống Chỉ trên con đường tình yêu, với những lối đi đã được Bài giảng trên núi diễn tả, mà sự phong
phú của cuộc đời và sự cao cả về ơn gọi của con người mới được mở ra
Trang 3836
Chương 2
TƯ TƯỞNG “ĐẠO LÀM NGƯỜI” VÀ “CON ĐƯỜNG ĐẠT ĐẠO”
TRONG BÀI GIẢNG TRÊN NÚI CỦA CHÚA KITÔ
2.1 “Đạo làm người” trong Bài giảng trên núi của Chúa Kitô
Tư tưởng “đạo làm người” trong Bài giảng trên núi của Chúa Kitô đã đưa ra một cách tiếp cận mới về đạo đức dựa trên hai mối quan hệ và hệ chuẩn đó là: đối thần và đối nhân
2.1.1 “Đạo làm người” trong quan hệ “đối nhân”
Ở thời Chúa Giêsu, người Do Thái đã có một bộ Luật lâu đời (Luật Môise) quy định quan hệ giữa người với người (đối nhân), cách đối nhân xử thế, đóng vai trò là nền tảng đạo đức đương thời của dân Do Thái Phần lớn các học sĩ, dân chúng đều coi Luật này là thiêng liêng và tuyệt đối tuân thủ
nó Do vậy để hiểu rõ thực chất “đạo làm người” mà Chúa Giêsu trình bày trong Bài giảng trên núi, thì cần phải nắm bắt thái độ của Chúa Giêsu đối với
“Luật Môise” và sự cách tân nó,vì đây chính là cột mốc lịch sử đánh dấu sự ra đời của một “Đạo mới”, “Luật mới”
Chúa Giêsu tuyên bố dứt khoát rằng, Ngài đến không phải để bãi bỏ
Luật Người Do Thái, nhất là các Pharisiêu và các Luật sĩ (hay Thông giáo),
nghe Chúa giảng những điều hạnh phúc, họ tự vấn tâm rằng, Ông này đến bãi
bỏ Luật ư? Hiểu ý họ, Chúa đã bài bác câu vấn nạn ngấm ngầm đó Ngài tuyên bố không bãi bỏ Luật, trái lại làm cho Luật trở nên hoàn hảo, đồng thời Ngài còn vạch rõ cho họ thấy Ngài sẽ hoàn thiện Luật bằng cách nào Ngài nói: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Moise hoặc lời các ngôn
sứ Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành” (Mt 5, 17-18)