Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn 20102015 và xu hướng đầu tư nước ngoài của Đài Loan Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài của đài loan vào việt nam trong suốt giai đoạn 20102015 và giải pháp đẩy mạnh đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đài Loan vào Việt Nam
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu nhà trường, cùng các thầy cô giáo trong Viện thương mại và kinh tế quốc tế đã tạo mọi điều kiện giúp tác giả có được môi trường học tập và rèn luyện tốt nhất Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị cho tác giả kiến thức nền tảng làm hành trang quý báu
Đặc biệt tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và tri ân sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, thầy đã tận tình giúp đỡ, trực tiếp hỗ trợ, hướng dẫn tận tình, định hướng đúng đắn giúp tác giả hoàn thành đề tài này Trong thời gian làm việc với thầy, tác giả không ngừng tiếp thu thêm được nhiều kiến thức
bổ ích mà còn học tập được tinh thần làm việc, thái độ nghiên cứu khoa học nghiêm túc, hiệu quả và đây là những điều rất cần thiết cho tác giả trong quá trình học tập và công tác sau này Tác giả xin kính chúc thầy cùng gia đình có thật nhiều sức khỏe, kính chúc thầy thành công hơn nữa trong công tác giảng dạy và nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian, kinh nghiệm cũng như kiến thức thực tế nên đề
án này không thể tránh khỏi những sai sót, hạn chế rất mong các thầy bỏ qua và tác giả cũng rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ phía thầy để tác giả có thể học hỏi thêm được nhiều kinh nghiệm và để đề án được hoàn thiện hơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 21 tháng 3 năm 2016.
LỜI CAM ĐOAN
Trang 2Tên tác giả là Trương Huyền Nhã – sinh viên lớp kinh tế quốc tế 55C, mã sinh viên 11132949 xin cam đoan đề án “ Đầu tư trực tiếp của Đài Loan vào Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tác giả dưới sự chỉ dẫn của PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, không có sự sao chép đề án của khóa trước, mọi tham khảo dùng trong đề án đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố.
Tác giả xin chịu trách nhiệm về cam đoan này!
Hà Nội, ngày 21 tháng 3 năm 2016
Sinh viên làm đề án
Trương Huyền Nhã
MỤC LỤCLỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 31.1 Tình hình hoạt động.
1.1.1 Vốn thực hiện
1.1.2 Tình hính xuất, nhập khẩu
1.2 Tình hình cấp giấy chứng nhận đầu tư.
1.2.1 Theo ngành, lĩnh vực đầu tư
1.2.2 Theo đối tác đầu tư
1.2.3 Theo địa bàn đầu tư
1.2.4 Theo hình thức đầu tư
1.3 Xu hướng đầu tư trực tiếp của nhà đầu tư Đài Loan.
1.3.1 Theo lĩnh vực đầu tư
1.3.2 Theo địa bàn đầu tư
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA ĐÀI LOAN VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005-2015
2.1 Tình hình đầu tư trực tiếp của Đài Loan vào Việt Nam.
2.1.1 Tình hình chung về đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam.
2.1.2 Cơ cấu đầu tư trực tiếp của Đài Loan vào Việt Nam
2.1.2.1 Cơ cấu đầu tư theo ngành.
2.1.2.2 Cơ cấu đầu tư phân theo hình thức đầu tư.
2.1.2.3 Cơ cấu đầu tư theo địa phương.
2.2 Đánh giá tác động tích cực và hạn chế của đầu tư trực tiếp của Đài Loan vào Việt Nam.
2.2.1 Những mặt tích cực.
2.2.1.1 Chuyển giao công nghệ.
Trang 42.2.1.2 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
2.2.1.3 Thúc đẩy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
2.2.2 Những hạn chế còn tồn đọng và nguyên nhân của đầu tư Đài Loan vào Việt Nam.
2.2.2.1 Chuyển giao công nghệ.
2.2.2.2 Phụ thuộc về kinh tế đối với Đài Loan cũng như các nước khác.
2.2.2.3 Chi phí cho việc thu hút FDI và sản xuất hàng hóa không thích hợp.
2.2.2.4 Những mặt trái khác.
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT FDI ĐÀI LOAN NÓI RIÊNG VÀ NƯỚC NGOÀI NÓI CHUNG 3.1 Định hướng thu hút đầu tư Đài Loan vào Việt Nam.
3.1.1 Cơ hội và thách thức của đầu tư Đài Loan vào Việt Nam.
3.2.1.1 Hoàn thiện pháp luật về đầu tư.
3.2.1.2 Xây dựng hoàn thiện môi trường đầu tư.
Trang 53.2.1.3 Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại
và chuẩn bị triển khai các dự án đầu tư.
3.2.1.4 Thực hiện chiến lược khuyến khích đầu tư.
3.2.1.5 Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài.
3.2.1.6 Cải thiện cơ sở hạ tầng.
3.2.2 Giải pháp từ phía các doanh nghiệp.
3.2.2.1 Nâng cao trình độ cán bộ quản lý của đối tác doanh nghiệp Việt Nam.
Trang 6tháng năm 2015 theo đối tác
3 1.3 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 11
tháng năm 2015 theo địa phương
4 1.4 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 11
tháng năm 2015 theo hình thức 2.1 Danh sách các quốc gia Việt Nam đã ký
hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư 2.2 Tình hình đầu tư nước ngoài của Đài
Loan vào Việt Nam giai đoạn 2005-2015 2.2 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu về thu hút
FDI của Đài Loan 2.2.1
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 1.1 Kim ngạch và tốc độ tăng/giảm xuất khẩu,
nhập khẩu 2 tháng đầu năm giai đoạn
2011-2015
2 1.2 Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
3 2.1 Cơ cấu FDI của Đài Loan vào Việt Nam
phân theo ngành
Trang 74 2.2 Cơ cấu FDI của Đài Loan vào Việt Nam
phân theo hình thức đầu tư
5 3.1 Dự báo đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đài
Loan vào Việt Nam đến năm 2025
1 ASEAN Association of Southeast
Asian Nations Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
2 BOT Built-Operation-Transfer Hợp đồng xây dựng – Kinh doanh –
Chuyển giao
4 BTO Built-Transfer-Operation Hợp đồng xây dựng – Chuyển giao –
Kinh doanh
hiệu lực chung
8 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
9 FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
T
Giấy chứng nhận đầu tư
Trang 812 KHDT Kế hoạch đầu tư
14 TPP Trans-Pacific Strategic
Economic Partnership Agreement
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình
Dương
15 VCCI Vietnam Chamber of
Commerce and Industry Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
17 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Vốn là một trong năm nhân tố quan trọng tác động tới việc tăng trưởng nền kinh tế Vì vậy vốn ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước
đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và khá ổn định, vì vậy nhu cầu về vốn đang trở nên hết sức cấp thiết Từ thực tế đó, Đại hội Đảng IX diễn ra vào năm 2001 đã xác định nguồn vốn trong nước là quyết định và nguồn vốn nước ngoài là quan trọng, đặc biệt nhấn mạnh tới thu hút vốn FDI
Trong giai đoạn đầu mở cửa, đầu tư trực tiếp nước ngoài là giải pháp hữu hiệu góp phần đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng khó khăn bị bao vây, cấm vận; khẳng định xu thế mở cửa và quan điểm “ Việt Nam muốn là bạn của các nước trong cộng đồng thế giới” Trong các giai đoạn tiếp theo, đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, góp phần đáng
kể thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, khai thông thị trường quốc tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu,….phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo thêm việc làm Vì vậy Việt Nam cần xem xét lại tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua, chú trọng đến
Trang 9Đài Loan - là một trong những đối tác đầu tư luôn ở trong tốp các nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam và đề xuất các giải pháp để tăng cường thu hút FDI của Đài Loan hơn nữa trong thời gian tới Để nhìn lại thực trạng đầu tư của Đài Loan
vào Việt Nam và những giải pháp thu hút FDI từ Đài Loan, tác giả chọn đề tài “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đài Loan và Việt Nam”.
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
2.1 Mục đích:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam của Đài Loan để đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy thu hút vốn đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam đến năm 2025
2.3 Đối tượng và phạm vi của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đài Loan vào Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đài Loan vào Việt Nam giai đoạn 2005-2015 và định hướng đến năm 2025
2.4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính,phân tích, thống kê, tổng hợp…
Các số liệu được tác giả tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau
2.5 Kết cấu của đề tài:
Trang 10Ngoài lời mở đầu,kết luận,phụ lục,danh mục tài liệu tham khảo thì đề tài được chia làm 3 phần :
Chương 1: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong năm 2015 và xu hướng đầu tư trực tiếp của Đài Loan vào Việt Nam
Chương 2: Thực trạng của việc đầu tư trực tiếp của Đài Loan vào Việt Nam giai đoạn 2005-2015
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI Đài Loan vào Việt Nam đến năm 2025
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG NĂM 2015 VÀ
XU HƯỚNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA ĐÀI LOAN VÀO
VIỆT NAM
1.1 Tình hình hoạt động:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua đã có những đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nguồn vốn FDI là một bộ phận quan trọng trong nguồn vốn đầu tư toàn xã hội Nguồn vốn này đã góp phần to lớn vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên trong thực tiễn hiện nay, tình hình triển khai thực hiện các dự án FDI tại Việt Nam đang gặp không ít khó khăn và ở mức độ trung bình, thậm chí nhiều dự án FDI bị giải thể đã làm nản lòng nhà đầu tư nước ngoài và ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư ở Việt Nam Thực tiễn này đòi hòi Việt Nam phải có những nhìn nhận và đánh giá nghiêm túc để có ngay những ứng xử cần thiết nhằm cải thiện môi trường đầu tư, tăng cường triển khai các dự án FDI và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Để có cái nhìn rõ ràng, cụ thể hơn về tình hình thực hiện các dự án FDI chúng ta xem xét tình hình đầu tư thực hiện theo các khía cạnh sau:
1.1.1 Vốn thực hiện:
Trang 11Trong 11 tháng năm 2015, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã giải ngân được 13,2 tỷ USD, tăng 17,9% với cùng kỳ năm 2014 Theo báo cáo cập nhật của Tổng cục Thống kê cho thấy tính từ đầu năm 2015 đến ngày 15-12, nguồn vốn FDI cam kết vào Việt Nam đạt 22,76 tỉ đô la Mỹ, tăng 12,5%
so với năm ngoái 22,76 tỷ USD là con số ấn tượng, nhất là trong bối cảnh những tháng đầu năm 2015, vốn FDI vào Việt Nam có xu hướng suy giảm Trong khi đó, thành tựu đáng ghi nhận, đó là vốn FDI thực hiện đã đạt mức kỷ lục, ước tính đạt 14,5 tỷ USD, tăng 17,4% so với năm trước
Ngoài ra, tình hình giải ngân vốn thực hiện của doanh nghiệp FDI cũng có những tiến triển tốt Cụ thể tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2015 ước tính đạt 14,5 tỉ đô la Mỹ, tăng 17,4% so với năm trước Đây cũng là mức khá trong tình hình giải ngân vốn của doanh nghiệp FDI trong 3 năm qua ở mức 11-13 tỉ đô la Mỹ/năm
1.1.2 Tình hình xuất, nhập khẩu:
Trong cuộc hành trình 30 năm trở lại đây, Việt Nam đã có bước tiến nhảy vọt trong việc mở cửa giao lưu với các nền kinh tế nước bạn Sự ra đời của những chính sách thân thiện trong thương mại cũng như chính sách đầu tư trực tiếp từ nước ngoài chính là yếu tố quan trọng nhất đem lại thành công trong việc tạo lập môi trường cho các công ty FDI đầu tư vào ngành xuất khẩu tại Việt Nam Tổng xuất khẩu và nhập khẩu bằng 160% GDP đã biến nền kinh tế Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới
Trang 12(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Biểu đồ 1.1: Kim ngạch và tốc độ tăng/giảm xuất khẩu, nhập khẩu 2 tháng đầu
năm giai đoạn 2011-2015
Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, xuất khẩu của khu vực FDI (kể cả dầu thô) năm 2014 đạt 101,59 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2013 và chiếm 68% kim ngạch xuất khẩu Xuất khẩu không kể dầu thô trong 12 tháng đạt 94,41 tỷ USD tăng 16,7% so với cùng kỳ 2013
Nhập khẩu của khu vực FDI năm 2014 đạt 84,56 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2013 và chiếm 57% kim ngạch nhập khẩu Tính chung 12 tháng, khu vực đầu tư nước ngoài xuất siêu 17,03 tỷ USD
Như vậy, có thể thấy xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài là một điểm sáng trong bức tranh kinh tế chung của Việt Nam trong năm 2014 Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực này trong tổng kim ngạch xuất khẩu có xu hướng ngày càng tăng trong các năm gần đây (năm 2010 là 54,1%; năm 2011 là 56,9%; năm
Trang 132012 là 64%, năm 2013 là 66,9%) Và trong năm 2014 đạt mức cao nhất từ trước đến nay 101,59 tỷ USD, chiếm 68% kim ngạch xuất khẩu.
Xuất khẩu của khu vực ĐTNN (kể cả dầu thô) trong 11 tháng năm 2015 đạt 105,1 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2014 và chiếm 70,7% tổng kim ngạch xuất khẩu Nhập khẩu của khu vực ĐTNN 11 tháng năm 2015 đạt 90,14 tỷ USD, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2014 và chiếm 59,1% tổng kim ngạch nhập khẩu Tính chung trong 11 tháng năm 2015, khu vực ĐTNN xuất siêu gần 15 tỷ USD
1.2 Tình hình cấp giấy chứng nhận đầu tư:
Theo quy định của Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực từ ngày 01/07/2015 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sau khi thành lập theo qui định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên Khi doanh nghiệp có nhu cầu thay đổi các nội dung trên GCNĐT,nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục điều chỉnh GCNĐT và giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Theo số liệu của hệ thống thông tin về Đầu tư nước ngoài, tính đến ngày
20 tháng 11 năm 2015 cả nước có 1.855 dự án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký là 13,55 tỷ USD, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm 2014 Có 692 lượt
dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 6,66 tỷ USD, tăng 70,1% so với cùng kỳ năm 2014
Tính chung trong 11 tháng năm 2015, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng
thêm là 20,22 tỷ USD, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm 2014 Trong năm 2014 cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 11 dự án (tăng 05 dự án so với cùng kỳ năm trước) thuộc lĩnh vực thủy điện, công nghiệp xây dựng, nông lâm nghiệp với vốn đăng ký 6.852.472,6 triệu đồng Lũy kế đến hết năm 2014 trên địa bàn tỉnh
có 120 dự án (còn hiệu lực) với tổng vốn đầu tư 92.903.501,1 triệu đồng Ngoài
ra cấp Giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh 14 dự án (tăng 06 dự án so với cùng
kỳ năm trước).
Trang 14Cũng trong năm 2014, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì phối hợp với các
sở, ngành liên quan rà soát, kiểm tra tình hình hoạt động của 75 dự án sau cấp Giấy chứng nhận đầu tư Sau đợt kiểm tra, rà soát đã tham mưu UBND tỉnh thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư của 56 dự án (chủ yếu thuộc lĩnh vực khoáng sản kim loại, khoáng sản làm vật liệu xây dựng, một số dự án trồng rừng sản xuất)
Lý do thu hồi: Các dự án vi phạm quy định của Luật Đầu tư (hết hạn thời gian thực hiện dự án ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư, hoặc chậm tiến độ khởi công
- hoàn thành theo Giấy chứng nhận đầu tư)
Tính lũy kế đến hết năm 2015, cả nước có được 2.013 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 15,58 tỉ đô la Mỹ, tăng 26,8% về số dự án và giảm 0,4% về số vốn so với cùng kỳ năm ngoái Cùng thời gian này có 814 lượt
dự án FDI đã cấp phép từ các năm trước được cấp vốn bổ sung với 7,18 tỉ đô la
Mỹ Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 22,76 tỉ đô la Mỹ, tăng 12,5% so với năm 2014
Tuy nhiên kết quả này có thể sẽ thay đổi theo hướng cao hơn Cụ thể như năm ngoái, Cục Đầu tư nước ngoài cho biết tổng vốn FDI cam kết trong năm lên tới gần 22 tỉ đô la Mỹ, chứ không phải là 20,23 tỉ đô la Mỹ như con số ước tính
đã công bố đến ngày 20-12
1.2.1 Theo ngành, lĩnh vực đầu tư:
Theo thống kê của 11 tháng đầu năm 2015, nhà đầu tư nước ngoài đã đầu
tư vào 18 ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 892 dự
án đầu tư đăng ký mới và 491 lượt dự án tăng vốn, với tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 12,9 tỷ USD, chiếm 64% tổng vốn đầu tư đăng ký Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện đứng thứ hai với hai với 8 dự án đăng ký cấp mới và 6 lượt dự án tăng vốn với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,77 tỷ USD, chiếm 13,7% tổng vốn đầu tư Đứng thứ ba là lĩnh vực Kinh doanh bất động sản với 29 dự án đầu tư mới và 10 lượt dự án tăng vốn, tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,32 tỷ USD chiếm 11,5% tổng vốn đầu tư
Trang 15Và tính lũy kế đến hết năm 2015, xét về ngành nghề đầu tư, báo cáo của Tổng cục Thống kê cho thấy ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài nhiều nhất với số vốn đăng ký đạt 15,23 tỉ đô la Mỹ, chiếm 66,9% tổng vốn đăng ký Tiếp đến là ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt hơn 2,8 tỉ đô la Mỹ, chiếm 12,4% Ngành kinh doanh bất động sản ở vị trí thứ ba đạt gần 2,395 tỉ đô
la Mỹ, chiếm 10,5%; các ngành còn lại đạt hơn 2,32 tỉ đô la Mỹ, chiếm 10,2% Theo Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch Đầu tư, lĩnh vực bất động sản có 29 dự án mới và 10 lượt dự án tăng vốn với tổng vốn đầu tư đăng kí cấp mới tăng thêm là 2,32 tỷ đô la Mỹ Cơ quan này cho rằng, vốn FDI đăng ký trong lĩnh vực bất động sản vẫn đang tăng trong thời gian gần đây Các chuyên gia đánh giá nguồn vốn ngoại vẫn tiếp tục chảy mạnh vào bất động sản và dự báo không ngừng gia tăng và tiếp tục có những bứt phá trong vài năm tới với sự xuất hiện của một số dự án tỉ đô la Mỹ
Sau đây là bảng tổng hợp về các ngành thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 11 tháng đầu năm 2015( Tính từ 01/01/2015 đến 20/11/2015) theo ngành, theo tổng hợp của Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch đầu tư:
Bảng 1.1 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 11 tháng năm 2015 theo ngành
Tính từ 01/01/2015 đến 20/11/2015
Số dự
án cấp mới
Vốn đăng
ký cấp mới (triệu USD)
Số lượt
dự án tăng vốn
Vốn đăng ký tăng thêm (triệu USD)
Vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm (triệu USD)
1 Công nghiệp chế biến, chế tạo 892 7070.2 491 5861.5 12,931.6 2
Sản xuất, phân phối
điện, khí, nước, điều
Trang 166 Nông nghiêp, lâm nghiệp và thủy sản 17 178.0 13 92.5 270.5
7 Hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ 194 210.0 37 19.5 229.5
17 Nghệ thuật, vui chơi và giải trí 1 2.5 1 0.4 2.9
18 Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 1 1.1 1.1
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài- Bộ Kế hoạch và Đầu tư
1.2.2 Theo đối tác đầu tư:
Đã có 58 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam Hàn Quốc dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 6,3 tỷ USD, chiếm 31,6% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam Malaysia đứng vị trí thứ hai với số vốn là 2,53 tỷ USD chiếm 12,5% tổng vốn đầu tư, Nhật Bản đứng vị trí thứ ba với số vốn đầu tư là 1,72 tỷ USD chiếm 8,5% tổng vốn đầu tư, BritishVirginIslands đứng vị trí thứ tư với số vốn đầu tư là 1,3 tỷ USD chiếm 6,4% tổng vốn đầu tư
Hàn Quốc và Nhật Bản đang là những nhà đầu tư hàng đầu và rất uy tín ở Việt Nam, không chỉ vì hai đối tác này có những dự án lớn, mà còn vì họ thường triển khai dự án rất nhanh chóng, chắc chắn và hiệu quả Itochu, Honda,
Trang 17Toyota, Mitsubishi, Samsung, LG, Kumho Asiana… là những cái tên mà chỉ cần nhắc tới, cũng đủ thấy sự tín nhiệm.
Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện Hàn Quốc đứng đầu, còn Nhật Bản đứng thứ ba trong danh sách 58 quốc gia và vùng lãnh thổ
có đầu tư vào Việt Nam, với tương ứng 2512 dự án, 29 tỷ USD và 3.487 dự án, 24,86 tỷ USD
Và Mỹ cũng là một sự lựa chọn khôn ngoan, bởi nếu thu hút FDI được từ nền kinh tế lớn nhất thế giới này, Việt Nam sẽ được rất nhiều: vốn, công nghệ, trình độ quản lý và thị trường
Vì nhiều lý do, mà phần lớn xuất phát từ môi trường đầu tư của Việt Nam, như chính sách chưa thực sự nhất quán, thiếu minh bạch, trình độ nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu…, nên FDI từ Mỹ vào Việt Nam trong thời gian qua chưa đạt kỳ vọng, với lũy kế tính đến ngày 20/2/2013, còn 642 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư 10,5 tỷ USD, xếp thứ 7 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam Tuy nhiên, Mỹ luôn là một trong những đối tác hàng đầu mà Việt Nam muốn và cần thu hút đầu tư
Ngoài 3 đối tác trên, 5 đối tác khác cần tập trung thu hút đầu tư Ở châu
Á, thêm Đài Loan, Singapore Còn ở châu Âu, nên có Anh, Đức, Pháp
Như vậy, với việc thêm Đài Loan và Singapore, đã có đủ 4 tên trong top 4 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam Đài Loan đã đầu tư vào Việt Nam 27 tỷ USD, còn Singapore đầu tư 24,85 tỷ USD
Trong vài năm qua gần đây, lượng vốn đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam có suy giảm, do những khó khăn của kinh tế Đài Loan, do cả môi trường đầu tư của Việt Nam, song theo ông Bùi Trọng Định, Tham tán Đầu tư tại Đài Loan, cơ hội thu hút FDI của đối tác này là không nhỏ
Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư Việt Nam - Đài Loan tới tháng
5 này là tròn 20 năm, nên các nhà đầu tư Đài Loan cũng đã muốn gia hạn để tạo thuận lợi cho đầu tư vào Việt Nam
Theo Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng đầu tư của Ấn Độ vào Việt Nam vẫn còn khiêm tốn, với trên
Trang 18250 triệu USD, đứng thứ 30 trong các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Tuy nhiên, thời gian gần đây, nhiều tập đoàn lớn của Ấn Độ, như Tata, Relience, Essar, ONGC, Infosys, NIIT, Wipro , hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất thép, khai thác dầu khí, hoá dầu, công nghệ thông tin, viễn thông… đã tới Việt Nam bày tỏ ý định đầu tư Trong số này, có dự án thép của Tata, với tổng vốn đầu tư khoảng 5 tỷ USD, vẫn đang trong quá trình thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư.
Trong khi đó, đầu tư của Đức, Anh, Pháp nói riêng, của các quốc gia châu
Âu nói chung vào Việt Nam còn hạn chế Pháp hiện đứng thứ 15, Anh đứng thứ
16, còn Đức ở thứ hạng 21 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam
Chưa có quyết định cuối cùng về việc sẽ chọn ai là đối tác chiến lược trong thu hút FDI giai đoạn tới, bởi Đề án vẫn đang trong quá trình xây dựng Tuy nhiên, điều rất dễ hiểu là, nếu chọn đúng, Việt Nam sẽ có cơ hội để tiếp tục bứt phá trong thu hút FDI để có thêm nguồn vốn phát triển kinh tế - xã hội
Sau đây là bảng số liệu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 11 tháng năm
2015 theo đối tác, xét 10 đối tác dẫn đầu theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
Bảng 1.2: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 11 tháng năm 2015 theo đối tác
Xét 10 đối tác dẫn đầu tính từ 01/01/2015 đến 20/11/2015
Số dự
án cấp mới
Vốn đăng
ký cấp mới (triệu USD)
Số lượt
dự án tăng vốn
Vốn đăng ký tăng thêm (triệu USD)
Vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm (triệu USD)
1 Hàn Quốc 653 2515.551 251 3876.3 6,391.811
2,536.749
1,723.860
1,300.477
Trang 195 Vương quốc Anh 26 1269.245 2 5.0
1,274.240
1,115.223
1,033.487
8 Hồng Kông 89 458.517 38 475.8 934.367
9 Thổ Nhĩ Kỳ 2 660.250 660.250
619.224
1.2.3 Theo địa bàn đầu tư:
Trong 11 tháng năm 2015 nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 48 tỉnh thành phố, trong đó Bắc Ninh dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 3,46 tỷ USD, chiếm 17,2% tổng vốn đầu tư đăng ký TP Hồ Chí Minh đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,99 tỷ USD, chiếm 14,8% Trà Vinh đứng thứ ba với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm 2,52 tỷ USD, chiếm 12,5% tổng vốn đầu tư Tiếp theo là Đồng Nai và Bình Dương với tổng vốn đầu tư lần lượt là 1,85 tỷ USD và 1,59 tỷ USD
Nhưng tính lũy kế đến hết 2015, TPHCM đã vươn lên dẫn đầu với số vốn đăng ký đạt hơn 2,8 tỉ đô la Mỹ, chiếm 18% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến
Trang 20là Trà Vinh đạt gần 2,527 tỉ đô la Mỹ, chiếm 16,2%; Bình Dương đạt gần 2,466
tỉ đô la Mỹ, chiếm 15,8%
Theo FIA, trong số 16,5 tỉ đô la Mỹ vốn FDI cấp mới năm 2014, có 6,65
tỉ đô la Mỹ của 4 dự án có quy mô tỉ đô la Mỹ, chiếm 30,5% tổng vốn đầu tư năm 2014 Trong 4 dự án tỉ đô la Mỹ này có đến 3 dự án của Samsung, đầu tư ở Thái Nguyên (3 tỉ đô la Mỹ), Bắc Ninh (1 tỉ đô la Mỹ) và TPHCM (1,4 tỉ đô la Mỹ) đầu tư trong lĩnh vực sản xuất điện thoại di động, thiết bị di động và sản phẩm điện tử gia dụng
Dự án còn lại là của Công ty TNHH Dewan International do nhà đầu tư Hồng Kông đầu tư tại Khánh Hòa với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,25 tỉ đô la Mỹ
Dự án này dự kiến đầu tư vào việc xây dựng, phát triển toàn bộ khu vực bãi biển chính của thành phố Nha Trang
69,5% vốn đầu tư cam kết mới còn lại là những dự án có quy mô vốn vừa và nhỏ, trong đó dự án có vốn đầu tư trên 10 triệu đô la Mỹ chỉ chiếm 11,5% số dự án và 47,5% vốn đầu tư Riêng những dự án có vốn đầu tư với quy
mô vốn nhỏ dưới 1 triệu đô la Mỹ chiếm 56% số dự án đăng ký nhưng chỉ chiếm 2% vốn đầu tư
Trong năm 2014, không kể dầu khí ngoài khơi, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 56 tỉnh thành phố Thái Nguyên là địa phương thu hút nhiều vốn FDI nhất với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 3,35 tỉ đô la
Mỹ, chiếm 15,3% vốn đăng ký TPHCM đứng thứ hai với 3,26 tỉ đô la Mỹ vốn đăng ký mới và tăng thêm chiếm 14,9% tổng vốn đầu tư Đồng Nai đứng thứ 3 với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm 1,83 tỉ đô la Mỹ, chiếm 8,4% vốn đăng ký
Một số dự án lớn được cấp phép trong 11 tháng năm 2015 là:
- Dự án Cty SamSung Display Việt Nam với số vốn đầu tư tăng thêm là 3
tỷ USD; dự án này được cấp phép năm 2014 với số vốn đầu ban đầu là 1 tỷ
Trang 21USD; dự án được đầu tư tại KCN Yên Phong 1, Bắc Ninh với mục tiêu sản xuất, lắp ráp, gia công, tiếp thị hoặc bán các loại màn hình.
- Dự án Nhà máy điện Duyên Hải 2 với tổng vốn đầu tư là 2,4 tỷ USD do Công ty Janakuasa Sdn Bhd – Malaysia đầu tư tại tỉnh Trà Vinh với mục tiêu Thiết kế, xây dựng, vận hành và chuyển giao một nhà máy nhiệt điện đốt than, công suất khoảng 1.200 MW (bao gồm hai tổ máy với công suất thiết kế 600
MW mỗi tổ máy)
- Dự án Cty TNHH liên doanh thành phố Đế Vương tổng vốn đầu tư là 1,2
tỷ USD do Cty cổ phần bất động sản Tiến Phước và Cty TNHH bất động sản Trần Thái Liên doanh với nhà đầu tư Denver Power Ltd - Vương quốc Anh dự
án đầu tư tại TP Hồ Chí Minh vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản
- Dự án Cty TNHH Hyosung Đồng Nai tổng vốn đầu tư 660 triệu USD do nhà đầu tư Thổ Nhĩ Kỳ đầu tư tại Khu công nghiệp Đồng Nai với mục tiêu sản xuất và gia công các loại sợi
- Dự án Xây dựng cầu Bạch Đằng, đường dẫn và nút giao cuối tuyến theo hình thức BOT với tổng vốn đầu tư của dự án là 343,6 triệu USD dự án đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh
Sau đây là bảng số liệu về top 15 địa phương dẫn đầu về vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm (triệu USD) trong 11 tháng năm 2015:
Bảng 1.3: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 11 tháng năm 2015 theo địa phương
Số lượt
dự án tăng vốn
Vốn đăng ký tăng thêm (triệu USD)
Vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm (triệu USD)
3,469.4
2 TP Hồ Chí Minh 511 2546.8 122 450.1
Trang 221,065.9
710.4
694.2
533.3
10 Vĩnh Phúc 36 371.2 16 98.4 469.6
11 Tây Ninh 11 425.8 6 25.3 451.1
384.3
332.2
319.4
306.2
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch Đầu tư
1.2.4 Theo hình thức đầu tư:
Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, hiện nay các nhà đầu tư quốc tế đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam dưới 6 hình thức, gồm: 100% vốn nước ngoài, liên doanh, Hợp đồng BOT, BT, BTO; Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), Công ty cổ phần và Công ty mẹ con
Các dự án của nước ngoài chủ yếu đầu tư theo hình thức 100% vốn
nước ngoài, chiếm ưu thế cả về số lượng dự án lẫn tổng vốn đầu tư đăng ký,
Trang 23vượt trội hơn hẳn các hình thức đầu tư còn lại,với 1611 dự án cấp mới, 625 lượt tăng vốn, tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 8322,7 triệu USD (chiếm 86,8% tổng vốn đầu tư đăng ký của các nước tại Việt Nam), còn lại là 12,3% theo hình thức liên doanh, còn lại là 0,9% gồm hợp đồng hợp tác kinh doanh và hợp đồng BOT, BT, BTO.
Tính lũy kế đến 14/11/2014, cả nước đã thu hút được 17.219 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký lên tới trên 244 tỷ USD Dẫn đầu là các dự án FDI đầu tư dưới hình thức 100% vốn nước ngoài với 13.886 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 166,35 tỷ USD (chiếm 81% tổng số dự án và 68% tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước)
Biểu đồ 1.2: Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Hình thức liên doanh đứng thứ hai với 2.912 dự án và 59,8 tỷ USD đăng
ký (chiếm 17% tổng số dư án và 25% tổng vốn đầu tư đăng ký) Các hình thức tiếp theo lần lượt là: hình thức hình thức hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT), xây dựng - chuyển giao (BT), hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, hình thức công ty cổ phần, hình thức công ty mẹ con
Với hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài quyền điều hành hoàn toàn thuộc về chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý toàn bộ và chịu trách nhiệm
Trang 24hoàn toàn về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của dự án FDI, vì vậy tạo tâm lý thoải mái, tự chủ, không chịu sự rằng buộc cho nhà đầu tư
Cục Đầu tư nước ngoài nhận định đây là ưu điểm lớn khiến hình thức này luôn chiếm ưu thế trong cơ cấu vốn FDI của cả nước so với các hình thức đầu tư khác
Dưới đây là số liệu về việc đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo hình thức của Cục đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch đầu tư:
Bảng 1.4: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 11 tháng năm 2015 theo hình thức
Vốn đăng
ký cấp mới (triệu USD)
Số lượt
dự án tăng vốn
Vốn đăng
ký tăng thêm (triệu USD)
Vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm (triệu USD)
1
100% vốn
14,589.2
2,836.83
Tổng số 1,855 13554.4 692 6666.2 20,221
( Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bố Kế hoạch và Đầu tư )
1.3 Xu hướng đầu tư trực tiếp của nhà đầu tư Đài Loan vào Việt Nam:
1.3.1 Theo địa bàn:
Trong hơn 2 thập kỷ qua, Trung Quốc luôn là điểm đến số một của nhiều công ty Đài Loan Nhưng hiện nay, các công ty này lại đang chuyển sang tìm kiếm các cơ hội đầu tư tại các nước trong khối ASEAN Một trong những lợi thế khi mở các nhà máy tại các quốc gia ASEAN là việc tận dụng nguồn nhân công giá rẻ, đồng tiền được neo giữ ở mức thấp và hưởng lợi từ biểu thuế quan 0% giữa các quốc gia thành viên trong ASEAN Đặc biệt, một số nước tại đây
Trang 25tham gia Hiệp định thương mại tự do TPP và Hiệp định đối tác kinh tế toàn khu vực RCEP sẽ mở ra nhiều cơ hội phát triển cho các công ty nội địa Nhiều DN Đài Loan gia tăng hoạt động đầu tư sang các nước ASEAN, đặc biệt là Việt Nam
và Indonesia, để hưởng lợi từ TPP và tránh bị kiện phá giá
Theo số liệu của Ủy ban Đầu tư Đài Loan, tổng vốn đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào khu vực ASEAN đã vượt mốc 2 tỷ USD trong năm
2015, tăng gấp 10 lần so với năm 2005 Một trong số các công ty đầu tư vào khu vực này có thể kể đến công ty Kenda Rubber, nhà sản xuất lốp xe lớn thứ 2 của Đài Loan
Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư điện tử - Baodautu.vn tại Đài Bắc, ông Berton B.C Chiu, cố vấn kinh tế của Phòng Các dự án hội nhập kinh tế khu vực, thuộc Cục Ngoại thương (Bộ Kinh tế Đài Loan) cho biết, Việt Nam sẽ đón làn sóng đầu tư lớn từ Đài Loan vì các nhà đầu tư từ nền kinh tế này nhận thấy nhiều lợi ích khi đầu tư vào Việt Nam - nơi đã và sẽ ký nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương
Theo ông Chiu, các doanh nghiệp Đài Loan có thể sử dụng Việt Nam làm cơ sở sản xuất chính và thiết lập các mối quan hệ đối tác với các doanh nghiệp Việt Nam, để hai bên có thể tận dụng tốt các cơ hội hội nhập kinh tế khu vực và tăng cường hiệu quả của các chuỗi giá trị
“Nhiều nhà đầu tư Đài Loan đang rất quan tâm tới thị trường Việt Nam, đặc biệt trong các ngành nông nghiệp, dệt may, công nghệ thông tin, chế tạo ô tô và xe máy”, ông Chiu cho biết
Cùng quan điểm với ông Chiu, ông Jack Lin, đại diện I-Mei Foods Co., Ltd (Đài Loan) - công ty đang vận hành một nhà máy sản xuất các loại bánh gạo tại Hà Nội) nhận định: “Nền kinh tế Việt Nam đang hồi phục mạnh mẽ và Việt Nam đang thực hiện các cam kết giảm thuế đáng kể trong khuôn khổ các FTA Điều này sẽ tạo cơ hội lớn cho chúng tôi mở rộng sản xuất tại Việt Nam Chúng tôi có thể tăng cường đầu tư tại đây”
1.3.2 Theo lĩnh vực đầu tư:
Trang 26Chiếc Luxgen 7 SUV, thuộc dòng xe sang của Đài Loan được triển lãm tại Việt Nam vừa qua, là một chiếc xe hội tụ đủ “đồ chơi” công nghệ cao cấp và gây nhiều hứng thú cho khách tham quan Không chỉ có xe hơi, công nghệ sản xuất điện thoại, máy tính của xứ Đài cũng phát triển rất mạnh.
Lý do rất đơn giản Bởi từ trước đến nay, các công ty Đài Loan đã quen với việc sản xuất máy nghe nhạc, máy tính xách tay và điện thoại di động theo thiết kế kỹ thuật từ những khách hàng nh Apple, HP hay Motorola Các tập đoàn phương Tây sau đó chỉ việc gắn thương hiệu vào những thiết bị này và bán cho người tiêu dùng
Tuy nhiên, công nghệ Đài Loan đã qua rồi thời ẩn mình làm gia công Sau khi nắm được công nghệ sản xuất, các doanh nghiệp xứ Đài đã tự mình bước ra thương trường với nhiều sản phẩm “làm mưa làm gió” khắp thế giới và dần chiếm lĩnh thị phần tại Việt Nam Những cái tên quen thuộc như HTC, Acer hay Asus đều có nguồn gốc từ Đài Loan
HTC là điển hình cho sự bứt phá này Chính họ đã phát triển được những chiếc điện thoại di động thông minh đầu tiên sử dụng hệ điều hành Android của Google Dù đang có dấu hiệu phát triển chậm lại, nhưng tính đến quý III/2015, điện thoại của HTC vẫn chiếm 2% thị phần thế giới
Còn Asus (tiền thân là Asustek), với sản phẩm Eee PC, đã góp phần khơi mào cho dòng sản phẩm máy tính cá nhân netbook Ðến nay, hầu hết các hãng máy tính lớn trên thế giới đều đã cho ra đời những sản phẩm tương tự Đứng đầu tại thị trường Đài loan, Asus đã vươn ra thế giới và chiếm thị phần không nhỏ tại Việt Nam Những năm gần đây, máy tính Asus thường xuyên chiếm thị phần thứ
2, thứ 3 tại Việt Nam
Trong khi đó, với khả năng sản xuất ra những chiếc máy tính có chất lượng tốt mà giá bán lại rẻ hơn các đối thủ khác, hãng Acer đã trở thành đối thủ của Dell và HP, 2 hãng máy tính lớn nhất nhì thế giới Còn ở Việt Nam, tuy không “hoành tráng” bằng người đồng hương Asus, nhưng Acer cũng đang đứng
vị trí thứ 5 với 4% thị phần máy tính cá nhân
Trang 27Không chỉ đưa sản phẩm vào thị trường Việt Nam, người Đài còn đẩy mạnh đầu tư nhà máy sản xuất tại đây Tận dụng cơ hội từ TPP, cuối tháng 9 vừa qua, một hãng sản xuất điện thoại lớn của Ðài Loan là Compal vừa xác nhận đã quyết định quay lại tỉnh Vĩnh Phúc để tiếp tục đầu tư vào dự án sản xuất điện thoại thông minh, vốn dở dang từ cuối năm 2007.
Ðài Loan tiến hành đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất trong nhiều ngành nghề khác Gần đây nhất là dự án nhà máy giấy của Cheng Loong Bình Dương (thuộc Tập đoàn Cheng Loong), có tổng mức đầu tư lên tới 22.700 tỉ đồng Đây chính là dự án FDI lớn nhất được công bố tại Bình Dương từ đầu năm đến nay
Dự kiến, dự án này sẽ cung cấp giấy công nghiệp và giấy tiêu dùng ra thị trường vào năm 2018
Chọn đặt nhà máy tại Việt Nam, những doanh nghiệp gốc Ðài đang cạnh tranh khách hàng với các nhà máy dệt may của Việt Nam khi TPP có hiệu lực Với công suất lớn và lợi thế nhân công giá rẻ, lại hưởng mức thuế như các doanh nghiệp Việt, chắc chắn người Đài sẽ thu hút không ít khách hàng từ tay doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Bà Sara Huang, đại diện của nhà sản xuất gốm lừng danh Franz Collection Inc (trụ sở tại Mỹ và Đài Loan) cho biết, Công ty đang tìm kiếm nhiều nhà phân phối tại Việt Nam để đưa các sản phẩm gốm chất lượng cao vào thị trường này, nhằm tận dụng cơ hội từ việc thuế nhập khẩu các sản phẩm này sẽ giảm đáng kể theo cam kết của các FTA
“Nhu cầu của Việt Nam về các sản phẩm gốm như của Franz Collection Inc đang tăng lên Nếu như thiết lập được mạng lưới đối tác tốt tại Việt Nam, thì Franz Collection Inc có thể tính toán các bước đầu tư tiếp theo”, bà Huang cho biết
Liên quan đến ngành dệt, ông Chiu nhấn mạnh rằng, với việc ký kết FTA với nhiều đối tác thương mại quan trọng và tới đây sẽ ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ ưu đãi thuế quan theo các hiệp định này Trong khi đó, ngành dệt của Đài Loan đang phải đối mặt
Trang 28với nhiều sức ép từ xu thế hội nhập kinh tế khu vực Do vậy, nhiều doanh nghiệp dệt Đài Loan muốn đầu tư cơ sở sản xuất tại Việt Nam để cung ứng các sản phẩm chất lượng cao cho ngành dệt may Việt Nam, từ đó giúp đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu Còn Công ty dệt may Eclat Textile của Đài Loan (chuyên gia công cho Nike và Adidas) cũng quyết định đầu tư thêm 50 triệu USD để gia tăng công suất sản xuất tại Việt Nam Đây là một phần trong chiến lược phát triển của Eclat Textile nhằm tận dụng cơ hội khi TPP sắp chính thức có hiệu lực Công ty này sẽ rót 40 triệu USD vào nhà máy tại Bà Rịa - Vũng Tàu và 10,5 triệu USD cho nhà máy ở Đồng Nai Hai nhà máy sẽ được khởi công vào đầu năm 2016.
Ông Chiu cũng nhấn mạnh rằng, ngành sản xuất phụ tùng ô tô và xe máy của Việt Nam đang rất hấp dẫn đối với các doanh nghiệp Đài Loan Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, Chính phủ Việt Nam đã áp dụng chính sách ưu đãi thuế quan cho phụ tùng xe máy và ô tô nhiều hơn so với
xe máy và ô tô nguyên chiếc Vì thế, các mức thuế đối với phụ tùng đã giảm dần Ngoài ra, theo Chương trình Ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung của ASEAN, bắt đầu từ ngày 1/1/2014, Việt Nam đã bắt đầu giảm thuế nhập khẩu ô
tô và xe máy xuống dưới 50% và mức thuế này sẽ giảm xuống 0% vào năm 2018
Theo phân tích của ông Chiu, Chính phủ Việt Nam đang rất quan tâm tới việc phát triển ngành công nghiệp phụ tùng để phát triển tổng thể ngành công nghiệp ô tô - xe máy Trong khi đó, Việt Nam vẫn phụ thuộc khá lớn vào nhập khẩu phụ tùng và việc lắp ráp lại đòi hỏi công nghệ kỹ thuật tiên tiến
“Chúng tôi cho rằng, doanh nghiệp hai bên cần thành lập các liên doanh hoặc hợp tác kỹ thuật để phát triển tại thị trường Việt Nam Các liên doanh này, cùng với nhu cầu đang gia tăng của thị trường quốc tế, có thể mở các nhà máy tại Việt Nam thông qua việc mua lại hoặc sáp nhập các nhà sản xuất phụ tùng trong nước”, ông Chiu đề xuất
Trang 29Sau gần 3 thập kỷ, quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Đài Loan không nhừng phát triển, thương mại song phương tăng trưởng 27 lần, vốn đầu tư của doanh nghiệp Đài Loan tại Việt Nam tăng 28 lần Và như vậy, trong thời gian tới, Việt Nam vẫn luôn là điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư Đài Loan cùng với nhiều chính sách mở cửa và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư hơn Đặc biệt là khi Việt Nam đã kết thúc thành công đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu thì điều này sẽ giúp môi trường đầu tư của Việt Nam theo hướng phù hợp với chuẩn mực quốc tế và sẽ ngày các thu hút được nhiều nhà đầu tư Đài Loan hơn nữa.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA ĐÀI LOAN VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005-2015 2.1 Các thỏa thuận pháp lý giữa Việt Nam và Đài Loan về đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Nhằm khuyến khích và đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác đầu tư lâu dài giữa Đài Loan và Việt Nam, cả hai bên đã có những thỏa thuận pháp lý để nâng cao và củng cố mối quan hệ này Như là:
Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư:
Bảng 2.1: Danh sách các quốc gia Việt Nam đã ký hiệp định
Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư:
Trang 30Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường hợp tác kinh tế giữa Đài Loan và Việt Nam, đặc biệt cho những đầu tư của công dân và công ty của nước này trên lãnh thổ nước kia trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, việc khuyến khích và bảo hộ đầu tư sẽ có ảnh hưởng tích cực đến việc khuyến khích sáng kiến kinh doanh và làm tăng sự thịnh vượng ở cả hai quốc gia Với mục đích của hiệp định này, cả hai bên nhất trí thực hiện theo những nguyên tắc sau:
(a) Mỗi bên ký kết sẽ khuyến khích việc tạo ra các điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư của bên ký kết kia đầu tư trên lãnh thổ nước mình và tiếp nhận các khoản đầu tư đó phù hợp với pháp luật và quy định của mình
(b) Các khoản đầu tư của nhà đầu tư mỗi Bên Ký kết sẽ luôn được hưởng sự đối
xử công bằng, thỏa đáng và được bảo hộ đầy đủ, an toàn trên lãnh thổ của Bên Ký kết kia
(c) Mỗi Bên Ký kết, trên lãnh thổ của mình, phải dành cho các khoản đầu tư và thu nhập của nhà đầu tư Bên Ký kết kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn
sự đối xử mà Bên Ký kết đó dành cho các khoản đầu tư và thu nhập của nhà
Trang 31đầu tư nước mình hoặc các khoản đầu tư và thu nhập của bất kỳ Quốc gia thứ
ba nào, tùy thuộc sự đối xử nào thuận lợi hơn cho nhà đầu tư
(d) Mỗi Bên Ký kết, trên lãnh thổ của mình, phải dành cho nhà đầu tư Bên Ký kết kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Bên Ký kết đó dành cho các nhà đầu tư nước mình hoặc các nhà đầu tư của bất kỳ Quốc gia thứ ba nào trong việc quản lý, duy trì, sử dụng, thừa hưởng hoặc định đoạt các khoản đầu tư của họ, tùy thuộc sự đối xử nào thuận lợi hơn cho nhà đầu tư
(e) Cho dù có các quy định tại các khoản (c) và (d) Điều này, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể duy trì hiệu lực của các biện pháp được quy định theo pháp luật Việt Nam vào ngày Hiệp định này có hiệu lực, đồng thời đưa vào Phụ lục kèm theo Hiệp định này như những ngoại lệ về việc dành đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho nhà đầu tư nước mình Những biện pháp này sẽ tự động loại ra khỏi Phụ lục ngay sau khi pháp luật Việt Nam sửa đổi hoặc hủy bỏ các ngoại lệ để cho phép việc loại bỏ như vậy Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ thông báo bằng văn bản cho Chính phủ Đại Hàn Dân Quốc việc sửa đổi hoặc hủy bỏ như vậy.(f) Những quy định tại khoản (c) và (d) Điều này không được hiểu là bắt buộc một Bên Ký kết phải dành cho các nhà đầu tư Bên Ký kết kia lợi ích của bất
kỳ sự đối xử nào, ưu đãi hoặc đặc quyền nào có được từ bất kỳ hiệp định hoặc thỏa thuận quốc tế nào liên quan đến toàn bộ hoặc chủ yếu đến thuế
(g) Sự đối xử nêu tại đoạn (c) và (d) Điều này không liên quan đến những đặc quyền mà mỗi Bên Ký kết dành cho các nhà đầu tư của Quốc gia thứ ba do việc Bên Ký kết đó đang hoặc sẽ là thành viên của, hoặc liên kết với một liên minh thuế quan hoặc kinh tế, thị trường chung hoặc khu vực thương mại tự
do hoặc một thỏa thuận quốc tế tương tự
Với mong muốn thúc đẩy quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam
và Đài Loan, mở rộng tăng cường quan hệ kinh tế giữa hai nước, đặc biệt đối với những đầu tư của các công dân của Đài Loan và Việt Nam Nhận thấy rằng Hiệp định về đối xử một cách công bằng và thỏa đáng đối với những đầu tư như vậy sẽ khuyến khích nguồn vốn, công nghệ và sự phát triển kinh tế của cả hai nước
Trang 32 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần:
Hiệp định này được ký kết vào ngày 6/4/1998 và có hiệu lực kể từ ngày 6/5/1998 Mục tiêu của Hiệp định về cơ bản là nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu việc đánh thuế hai lần đối với một số khoản thu của phía Đài Loan Do việc đánh thuế trùng được xem như là rào cản thương mại, là trở ngại đối với tự do hóa giao lưu, hợp tác kinh tế, với mục đích là loại bỏ trở ngại trên, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, trao đổi thương mại, kinh tế giữa Việt Nam và Đài Loan Để thực hiện mục tiêu này, các Hiệp định thường được thỏa thuận một số nguyên tắc, biện pháp để phân chia, xác định thẩm quyền đánh thuế của Đài Loan và Việt Nam như:
(a) Khấu trừ số thuế mà đối tượng cư trú Đài Loan đã nộp tại Đài Loan vào số thuế phải nộp tại Việt Nam
(b) Giới hạn mức thuế suất đánh trên một số khoản thu nhập của cư dân Đài Loan sống ở Việt Nam
(c) Ngăn ngừa việc trốn lậu thuế bằng cách tăng cường trao đổi thông tin giữa Đài Loan và Việt Nam
Ngoài ra, Hiệp định còn tạo khuôn khổ pháp lý cho việc hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các cơ quan thuế Việt Nam với cơ quan thuế Đài Loan trong công tác quản lý thuế quốc tế nhằm ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và vào tài sản
Qua việc ký kết Hiệp định khuyến khích và Bảo hộ đầu tư, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và một số thỏa thuận khác đã giúp thúc đẩy mối quan hệ hợp tác đầu tư giữa Đài Loan và Việt Nam cũng như cải thiện được môi trường đầu tư Việt Nam-Đài Loan ngày một thân thiện, hấp dẫn hơn
2.2 Tình hình đầu tư trực tiếp của Đài Loan vào Việt Nam:
2.2.1 Tình hình chung về đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam:
Trang 33“ Là đối tác đầu tư lớn thứ tư, đối tác thương mại lớn thứ năm, thị trường khách du lịch lớn thứ sáu đến Việt Nam, Đài Loan là một trong những đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam những năm qua Quan hệ kinh tế, văn hóa Việt Nam – Đài Loan tiếp tục được coi trọng và kì vọng sẽ còn nhiều không gian, cơ hội, tiềm năng để cộng đồng doanh nghiệp tận dụng và phát triển” Đó là nhận định của ông Tô Quốc Tuấn – Thư kí Ủy ban Sự vụ Đài Loan VCCI tại “ Diễn đàn về phát triển kinh tế thương mại Đài Loan và Việt Nam 2015 ”, được tổ chức ngày 19/09/2015 tại TP.HCM
Theo Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư , 6 tháng đầu năm
2015, Đài Loan có 42 dự án FDI cấp mới và 21 lượt dự án tăng vốn tại Việt Nam Tổng số vốn đăng kí cấp mới và tăng thêm đạt gần 287,41 triệu USD Trong số đó, dự án tiêu biểu của Đài Loan vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm nay là dự án Công ty TNHH Fuhua – chi nhánh tại KCN Bình Xuyên II, tỉnh Vĩnh Phúc với tổng vốn đầu tư 28,5 triệu USD Như vậy, tính lũy kế đến tháng 6/2015, Đài Loan có 2.429 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 28,74 tỷ USD, xếp thứ tư trong tổng số 103 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, sau Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore Tuy nhiên quy mô đầu
tư trung bình/ dự án vẫn còn thấp, khoảng 11,83 triệu USD/dự án Trong khi đó mức trung bình các dự án nước ngoài tại Việt Nam hiện nay là khoảng 13,9 triệu USD/dự án
Các lĩnh vực đầu tư lớn của Đài Loan vào Việt Nam như công nghiệp
chế biến, chế tạo, ngoài ra là bất động sản, xây dựng cùng với đó còn có giáo dục, dịch vụ, y tế…là những mũi nhọn được dự báo đã và sẽ tiếp tục được các
DN Đài Loan tiếp tục quan tâm, đẩy mạnh đầu tư tại Việt Nam trong giai đoạn tới
Sau đây là bảng thống kê về tình hình FDI Đài Loan vào Việt Nam giai đoạn 2005-2015:
Bảng 2.2: Tình hình đầu tư nước ngoài của Đài Loan vào Việt Nam giai đoạn
2005-2015
Trang 34Năm Số dự án Tổng vốn đầu tư
(Tỷ USD) Đầu tư thực hiện (Tỷ USD)
219 dự án tương đương 1.146 tỷ USD so với năm 2005; năm 2008 tăng 181 dự
án tương đương 8.64 tỷ USD so với năm 2007; và từ năm 2009 đến năm 2015 tăng 7.452 tỷ USD; tuy năm 2013 giảm 6 dự án so với năm 2012 song lượng vốn đầu tư vẫn tăng 72 triệu USD do các dự án đã được đầu tư tiếp tục mở rộng quy mô trong năm 2013 Và trong thời gian tới, trước những cơ hội mà TPP mang lại thì lượng vốn FDI của Đài Loan vào Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cả về số lượng lẫn chất lượng
2.2.2 Cơ cấu đầu tư trực tiếp của Đài Loan vào Việt Nam:
2.2.2.1 Cơ cấu đầu tư theo ngành:
Các nhà đầu tư Đài Loan đã đầu tư vào tổng số 18/18 ngành kinh tế theo
hệ thống phân ngành của Việt Nam, tập trung chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư, công nghiệp chế biến, chế tạo với 67 dự án mới, 43 lượt tăng vốn, tổng vốn đăng
ký cấp mới và tăng thêm đạt 890,45 triệu USD ( chiếm gần 80% tổng vốn đầu tư
Trang 35đăng ký của Đài Loan tại Việt Nam) Tận dụng cơ hội từ TPP, cuối tháng 9 năm
2015, một hãng sản xuất điện thoại lớn của Ðài Loan là Compal vừa xác nhận đã quyết định quay lại tỉnh Vĩnh Phúc để tiếp tục đầu tư vào dự án sản xuất điện thoại thông minh, vốn dở dang từ cuối năm 2007
Một xu hướng rõ nét trong cơ cấu vốn FDI của giai đoạn 2005-2009 đó là các doanh nghiệp nước ngoài tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp, công nghệ chế tạo chiếm đến hơn 80% vốn FDI, còn lại là ngành dịch vụ
Tuy nhiên, cơ cấu đầu tư FDI những năm gần đây lại chuyển mạnh mẽ sang lĩnh vực dịch vụ (trong đó lĩnh vực bất động sản là chủ yếu, bất động sản được xếp vào ngành dịch vụ), đặc biệt có những dự án lên đến hàng tỷ USD Cơ cấu vốn FDI hiện nay có đến 74,5% là dịch vụ, còn lại là ngành công nghiệp
Cụ thể, Compal từng được cấp chứng nhận đầu tư 500 triệu USD để xây dựng nhà máy sản xuất máy tính xách tay tại tỉnh Vĩnh Phúc và dự kiến đến năm
2013, công suất tại nhà máy này sẽ chiếm 50% tổng công suất toàn cầu của Compal Nhưng do khủng hoảng kinh tế, dự án này đã bị đình trệ từ đó đến nay Mới đây, theo Cổng thông tin điện tử Vĩnh Phúc, Phó Tổng Giám đốc Vincent Lee của Compal Việt Nam cho biết sau nhiều năm bỏ không dự án, công ty này đang khẩn trương sửa chữa lại hệ thống nhà xưởng, lắp đặt thiết bị, dây chuyền máy móc, làm việc với một số địa phương trong, ngoài tỉnh để tuyển dụng lao động Tất cả nhằm chuẩn bị đón những khách hàng thế giới đến thăm
và tìm hiểu cơ hội hợp tác đầu tư sản xuất điện thoại thông minh tại Vĩnh Phúc Đứng thứ hai là lĩnh vực kinh doanh bất động sản với 26 dự án cùng tổng vốn đăng ký đạt gần 1,73 tỷ USD ( chiếm hơn 6% tổng vốn đầu tư đăng ký của Đài Loan tại Việt Nam) So với cùng kì năm 2014, lĩnh vực kinh doanh bất động sản với 25 dự án và 1,69 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 6% tổng vốn đầu tư của Đài Loan tại Việt Nam, nhìn chung xu hướng đầu tư về lĩnh vực kinh doanh bất động sản không có nhiều thay đổi
Ngành xây dựng đứng thứ ba với 111 dự án, đạt 1,56 tỷ USD ( chiếm 5,4% tổng vốn đăng ký của Đài Loan ở Việt Nam) So với cùng kì năm 2014 thì
Trang 36năm 2015 tăng 5 dự án tương đương với tăng 60 triệu USD và vẫn giữ vị trí thứ
ba trong tổng số các ngành đầu tư vào Việt Nam Ðài Loan đã tiến hành đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất trong nhiều ngành nghề khác Gần đây nhất là dự án nhà máy giấy của Cheng Loong Bình Dương (thuộc Tập đoàn Cheng Loong), có tổng mức đầu tư lên tới 22.700 tỉ đồng Đây chính là dự án FDI lớn nhất được công bố tại Bình Dương trong năm 2015 Dự kiến, dự án này sẽ cung cấp giấy công nghiệp và giấy tiêu dùng ra thị trường vào năm 2018
Sau đây là biểu đồ thể hiện cơ cấu FDI của Đài Loan vào Việt Nam phân theo ngành tính lũy kế đến năm 2015:
( Nguồn: Tác giả)
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu FDI của Đài Loan vào Việt Nam phân theo ngành
Ngoài ra trong lĩnh vực dệt may, Tập đoàn Dệt may Tân Thế kỷ Viễn Đông, một trong những nhà sản xuất vải dệt lớn của Đài Loan, sẽ đầu tư 320 triệu USD để xây thêm một nhà máy sản xuất tại Bình Dương Nhà máy này sẽ giúp FENC mở rộng công suất tại Việt Nam, khép kín quy trình từ sản xuất sợi, dệt vải, nhuộm vải đến gia công quần áo và đáp ứng được nguyên tắc xuất xứ
“từ sợi trở đi” của TPP Năm 2014, tổng doanh thu toàn cầu của Tập đoàn Dệt may Tân Thế kỷ Viễn Đông đạt 7,8 tỉ USD
Chọn đặt nhà máy tại Việt Nam, những doanh nghiệp gốc Ðài đang cạnh tranh khách hàng với các nhà máy dệt may của Việt Nam khi TPP có hiệu lực Với công suất lớn và lợi thế nhân công giá rẻ, lại hưởng mức thuế như các doanh nghiệp Việt, chắc chắn người Đài sẽ thu hút không ít khách hàng từ tay doanh nghiệp dệt may Việt Nam
2.2.2.2 Cơ cấu đầu tư phân theo hình thức đầu tư:
Trang 37Năm 2014, các dự án của Đài Loan chủ yếu đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài với 2.080 dự án, tổng vốn đầu tư là 23,83 tỷ USD (chiếm gần 85% tổng vốn đầu tư đăng ký của Đài Loan tại Việt Nam), còn lại là 15% theo các hình thức liên doanh, công ty cổ phần và hợp đồng hợp tác kinh doanh Đến năm 2015, các dự án của Đài Loan chủ yếu đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài với 88 dự án mới, 48 lượt tăng vốn, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm đạt 1,06 tỷ USD (chiếm tới 95% tổng vốn đầu tư đăng ký của Đài Loan tại Việt Nam), còn lại là các dự án theo các hình thức liên doanh, hợp đồng BOT, BT, BTO và hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Sau đây là biểu đồ thể hiện cơ cấu FDI của Đài Loan vào Việt Nam năm
2015 phân theo hình thức đầu tư:
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu vốn FDI của Đài Loan vào Việt Nam
phân theo hình thức đầu tư
2.2.2.3 Cơ cấu đầu tư theo địa phương:
Trong số 63 tỉnh, thành phố, đầu tư của Đài Loan đã hiện diện tại 54 nơi (tính cả khu vực dầu khí ngoài khơi) trong năm 2014 Theo Cục Đầu tư nước ngoài, phần lớn các dự án của Đài Loan tập trung tại Hà Tĩnh và các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam như Đồng Nai, Bình Dương và TP Hồ Chí Minh
Trong đó, Hà Tĩnh có 31 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 10,25 tỷ USD (chiếm 36,5% tổng vốn đầu tư đăng ký của Đài Loan tại Việt Nam) Đồng Nai đứng thứ hai với 329 dự án, tổng vốn đầu tư đạt 4,6 tỷ USD (chiếm 16,4% tổng vốn đầu tư đăng ký của Đài Loan tại Việt Nam)
Trang 38Các dự án tiêu biểu của Đài Loan tại Việt Nam năm 2014 gồm: Dự án Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh hoạt động trong lĩnh vực luyện kim, sản xuất mua - bán xuất nhập khẩu gang thép, kinh doanh cảng, sản xuất sản phẩm từ xỉ lò, xi măng, sản phẩm ép; dự án Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa gồm nhà máy se sợi, sợi nguyên liệu, nhà máy điện, nhà máy
xử lý nước; dự án Công ty CP China Steel Sumikin Việt Nam về sản xuất sắt thép, gang, luyện bột kim loại
Các dự án đầu tư của Đài Loan trong 9 tháng đầu năm 2015 phân bổ tại 21/63 tỉnh, thành phố của Việt Nam (tính cả khu vực dầu khí ngoài khơi), nhưng tương đối tập trung tại một số địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam như Bình Dương, Đồng Nai, (do các địa phương này có điều kiện thuận lợi về thị trường, các ngành công nghiệp phụ trợ, tập trung đông doanh nghiệp Đài Loan và người Hoa sinh sống)
Đứng đầu là tỉnh Bình Dương có 26 dự án cấp mới, 5 lượt dự án tăng vốn, với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm đạt 410,6 triệu USD
(chiếm 42,2% tổng vốn đầu tư đăng ký của Đài Loan tại Việt Nam) Tỉnh Đồng
Nai đứng thứ hai có tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm đạt 218,2 triệu USD (chiếm 22,4% tổng vốn đầu tư đăng ký của Đài Loan tại Việt Nam) Còn lại là những địa phương khác
Nhưng tính lũy kế đến hết năm 2015, Hà Tĩnh đứng đầu trong các tỉnh, thành phố về thu hút FDI từ các nhà đầu tư Đài Loan với 36 dự án và 10,2 tỷ USD vốn đầu tư Trong đó có dự án có tổng vốn đầu tư lớn nhất tại Việt Nam hiện nay là dự án Formosa Hà Tĩnh có vốn đầu tư là 9,996 tỷ USD
Đồng Nai đứng thứ hai với 333 dự án và 4,8 tỷ USD vốn đầu tư Bình Dương đứng thứ ba với 688 dự án và 2,6 tỷ USD vốn đầu tư Bình Dương cũng
là tỉnh thu hút được nhiều dự án của Đài Loan nhất
Bảng 2.2: 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu về thu hút FDI của Đài Loan
Tính đến tháng 12/2015
Trang 39STT Địa phương Số dự án Tổng vốn đầu tư (USD)
(Nguồn : Cục Đầu tư nước ngoài )
Ngày 24-6, UBND tỉnh Bình Dương đã chứng kiến lễ ký hợp đồng thuê đất tại KCN Mỹ Phước 3, thị xã Bến Cát giữa Tổng công ty Becamex IDC và Tập đoàn Kingtec Group (vốn FDI Đài Loan)
Đây là hợp đồng thực hiện dự án quy mô lớn tại Bình Dương, với diện tích lên tới 16ha và vốn đầu tư ban đầu 30 triệu USD
Sau khi đi vào hoạt động, nhà máy của Kingtec Group sẽ sản xuất các thiết bị chiếu sáng, nội thất, máy phát điện cho ôtô và các thiết bị điện tử để xuất khẩu đi châu Âu và Mỹ
Tính riêng trong năm nay, dự án lớn nhất của Đài Loan tại Việt Nam là
dự án Nhà máy Công ty TNHH POLYTEX FAR EASTERN (Việt Nam), cấp phép tháng 6/2015 Tổng vốn đầu tư đăng ký 274,2 triệu USD Dự án hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại tỉnh Bình Dương
Các dự án tiêu biểu của Đài Loan tại Việt Nam gồm: Dự án Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh hoạt động trong lĩnh vực luyện kim, sản xuất mua – bán xuất nhập khẩu gang thép, kinh doanh cảng, sản xuất sản phẩm từ xỉ lò, xi măng, sản phẩm ép Dự án công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa gồm nhà máy se sợi, sợi nguyên liệu, nhà máy điện, nhà máy
Trang 40xử lý nước tại tỉnh Đồng Nai, dự án tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là dự án Công ty
CP China Steel Sumikin Việt Nam về sản xuất sắt thép, gang, luyện bột kim loại
2.3 Đánh giá tác động tích cực và hạn chế của FDI Đài Loan vào Việt Nam:
2.3.1 Những mặt tích cực:
2.3.1.1 Chuyển giao công nghệ:
Lợi ích quan trọng mà FDI của Đài Loan mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại, kỹ sảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến Khi đầu tư vào Việt Nam, Đài Loan không chỉ chuyển vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu,…tri thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị trường….Do vậy tính về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước ta FDI có thể thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt
là những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao Vì thế nó có tác dụng to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, dịch chuyển cơ cấu kinh tế của nước ta FDI đem lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trong nước ta, thông qua những chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa làm FDI còn thúc đẩy nước ta phải cố gắng đào tạo những kỹ sư, những nhà quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên doanh nước ngoài
Thực tiễn cho thấy nước ta khi thu hút FDI của Đài Loan cũng như các nước khác đã cải thiện đáng kể trình độ kỹ thuật công nghệ của mình
Trong điều kiện hiện nay, trên thế giới có rất nhiều công ty của nhiều quốc gia khác nhau có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài và thực hiện chuyển giao công nghệ cho nước nào tiếp nhận đầu tư Thì đây là cơ hội cho nước ta cũng như các nước đang phát triển khác có thể tiếp thu được các công nghệ thuận lợi nhất
2.3.1.2 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế :