LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận án “Biến đổi sinh kế của người nông dân ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương trong bối cảnh công nghiệp hóa và đô thị hóa”, ngoài những nỗ lực của bản thân, tô
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN TẠO
BIÕN §æI SINH KÕ CñA NG¦êI N¤NG D¢N
ë HUYÖN GIA LéC, TØNH H¶I D¦¥NG TRONG BèI C¶NH
C¤NG NGHIÖP HãA Vµ §¤ THÞ HãA
Chuyên ngành: NHÂN HỌC
Mã số: 62 31 03 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1- PGS.TS Nguyễn Duy Thiệu
2- TS Trần Hồng Hạnh
HÀ NỘI – 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án “Biến đổi sinh kế của người nông dân ở huyện Gia Lộc,
tỉnh Hải Dương trong bối cảnh công nghiệp hóa và đô thị hóa”, ngoài những nỗ lực
của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ từ gia đình, đồng nghiệp, các chuyên gia, các nhà khoa học và các tổ chức
Tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn đến gia đình, bố mẹ đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ để tôi có động lực vượt qua những khó khăn, hoàn thành luận án này
Tôi xin gửi lời cảm ơn và tri ân sâu sắc nhất đến giáo viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Duy Thiệu và TS Trần Hồng Hạnh đã định hướng, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Nhân đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Dân tộc học (nay là Khoa Dân tộc học và Nhân học), Học viện Khoa học xã hội, Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Khoa Tổ chức và Quản lý nhân lực, Ban Giám hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, PGS.TS Phạm Quang Hoan, TS Nguyễn Thị Song Hà đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án
Tôi cũng sẽ không thể thực hiện và hoàn thành luận án nếu không có sự tạo điều kiện, giúp đỡ, đặc biệt là trong việc cung cấp các thông tin liên quan đến luận án
ở cấp cơ sở, của lãnh đạo, chuyên viên các phòng/ban chức năng của Ủy ban nhân dân huyện Gia Lộc, lãnh đạo các xã và đông đảo người dân ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương Tôi xin trân trọng cảm ơn các quý vị vì sự giúp đỡ quý báu này
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
NGHIÊN CỨU SINH
Nguyễn Văn Tạo
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực và khách quan Các thông tin được trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm về những gì đã cam đoan ở trên
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2016
Tác giả luận án
NCS Nguyễn Văn Tạo
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 9
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.2 Cơ sở lý thuyết 14
1.3 Khái quát về huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương 25
CHƯƠNG 2: SINH KẾ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN Ở HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG 35
2.1 Nông nghiệp 35
2.2 Các nghề thủ công truyền thống 50
2.3 Hoạt động thương mại, dịch vụ 63
2.4 Khai thác nguồn lợi tự nhiên 64
CHƯƠNG 3: SINH KẾ CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN Ở HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ ĐÔ THỊ HÓA 68
3.1 Bối cảnh biến đổi sinh kế của người nông dân ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương 68
3.2 Những biến đổi trong nông nghiệp 93
3.3 Biến đổi của các ngành tiểu thủ công nghiệp 104
3.4 Biến đổi của các ngành thương mại - dịch vụ 111
3.5 Sự xuất hiện của các loại hình sinh kế mới 115
3.6 Tác động của biến đổi sinh kế đến người nông dân huyện Gia Lộc và những vấn đề đặt ra 118
3.7 Giải pháp và khuyến nghị 139
KẾT LUẬN 146
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Viết đầy đủ
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1: Diện tích trồng lúa vụ chiêm xuân giai đoạn 1957 - 1961 36Bảng 2.2: Các giống lúa được gieo trồng trong truyền thống tại hai xã Gia Lương và
Liên Hồng 38Bảng 2.3: Các loại cây hoa màu chủ yếu trong truyền thống của hai xã Gia Lương
và Liên Hồng 42Bảng 2.4: Giá bán trâu, bò giống trong truyền thống 45Bảng 2.5: Các hoạt động khai thác tự nhiên trong truyền thống của người nông dân
tại hai xã Gia Lương và Liên Hồng 65Bảng 3.1: Tình hình dân số của huyện Gia Lộc giai đoạn 2000 - 2014 75Bảng 3.2: Dự báo dân số và nguồn nhân lực huyện Gia Lộc đến năm 2020 76Bảng 3.3: So sánh mong muốn về học tập và nghề nghiệp cho con ở hai xã Gia
Lương và Liên Hồng 78Bảng 3.4: Cơ cấu số người trong độ tuổi lao động khu vực nông thôn tại hai điểm
nghiên cứu phân theo trình độ chuyên môn 79
Bảng 3.5: Tình hình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp huyện Gia Lộc (Từ
ngày 1/1/2000 đến ngày 1/1/2005) 80
Bảng 3.6: Dự báo biến động diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện Gia Lộc
giai đoạn 2010 - 2020 82Bảng 3.7: Diện tích đã chuyển đổi sang ao, vườn ở xã Gia Lương 83Bảng 3.8: So sánh hệ thống dịch vụ bưu chính viễn thông ở hai xã Gia Lương và
Liên Hồng 87Bảng 3.9: Một số tài sản gia đình của hai xã Liên Hồng và Gia Lương 88Bảng 3.10: Các nguồn vốn tài chính của người nông dân tại hai điểm nghiên cứu 89Bảng 3.11: Ủy thác cho vay vốn thông qua các tổ chức chính trị - xã hội của Ngân
hàng Chính sách xã hội chi nhánh huyện Gia Lộc 90Bảng 3.12: Khung giá đền bù đối với nhóm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp ở
vùng đồng bằng sông Hồng (Áp dụng từ ngày 29/12/2014) 91
Bảng 3.13: Khung giá đền bù đối với nhóm đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở các
xã đồng bằng thuộc tỉnh Hải Dương (Áp dụng từ ngày 1/1/2015) 92
Bảng 3.14: Các khoản đền bù khi thu hồi đất tại hai điểm nghiên cứu 92
Trang 7Bảng 3.15: Các giống lúa và năng suất được gieo trồng hiện nay ở hai xã Gia Lương
và Liên Hồng 94Bảng 3.16: Số lượng thiết bị máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp tại hai xã Gia
Lương và Liên Hồng 96Bảng 3.17: Số lượng các loại vật nuôi tại hai xã Gia Lương và Liên Hồng 99giai đoạn 2000 - 2010 110Bảng 3.18: So sánh số lượng ô tô của hai xã Gia Lương và Liên Hồng trong đối
sánh với huyện Gia Lộc 114Bảng 3.19: Các khoản thu nhập trung bình của người lao động khi làm ở các khu công
nghiệp 116Bảng 3.20: Biến đổi cơ cấu thu nhập của người nông dân giai đoạn 2006 - 2011 tại
hai xã Liên Hồng và Gia Lương 121Bảng 3.21: So sánh diện tích quy hoạch sân vận động tại hai điểm nghiên cứu 126Bảng 3.22: Diện tích đã xây dựng nhà văn hóa và diện tích đất quy hoạch mới ở hai
điểm nghiên cứu 127Bảng 3.23: Đánh giá hiệu quả thu hút lao động vào các khu công nghiệp tại hai
điểm nghiên cứu 128Bảng 3.24: Nguyên nhân người lao động không được nhận vào làm việc trong các
khu công nghiệp tại hai điểm nghiên cứu 129Bảng 3.25: Các hình thức xử lý rác thải chủ yếu của các hộ gia đình 131Bảng 3.26: Nguyên nhân gây bệnh ở hai xã Gia Lương và Liên Hồng 131Bảng 3.27: Đối tượng trò chuyện, tâm sự của người cao tuổi (60 tuổi trở lên) tại
hai xã Gia Lương và Liên Hồng 133
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 3.1: Cơ cấu chất lượng lao động của huyện Gia Lộc giai đoạn 2000 - 2010
(Thống kê 23 xã) 77Hình 3.2: Tình hình cho vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
huyện Gia Lộc giai đoạn 2010 - 2014 90Hình 3.3: Diện tích nuôi trồng và sản lượng thủy sản của huyện Gia Lộc giai đoạn
2000 - 2010 101Hình 3.4: Giá trị sản xuất ngành chế biến gỗ, mây tre đan của huyện Gia Lộc 110Hình 3.5: Chuyển dịch ngành thương mại - dịch vụ của huyện Gia Lộc giai đoạn
1991 - 2011 111Hình 3.6: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Gia Lộc giai đoạn 1991 – 2011 119Hình 3.7: Biến đổi cơ cấu thu nhập của người nông dân Gia Lộc giai đoạn 2006 –
2011 120 Hình 3.8: Dự báo sự chuyển dịch cơ cấu lao động huyện Gia Lộc đến năm 2020 137
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, nông dân là cư dân chính và cũng là lực lượng lao động chủ yếu của xã hội Trong chiến tranh, họ là lực lượng chủ yếu và quan trọng nhất ở tiền tuyến; họ ra đi cứu nước với sự nhiệt thành, trong sáng Khi đất nước hòa bình, họ trở
về với xóm, làng và tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất Hiện nay, người nông dân là lực lượng lao động trực tiếp sản xuất, cung cấp lương thực, thực phẩm cho xã hội, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước
Cho đến nay, nước ta vẫn là nước nông nghiệp, phần lớn người dân vẫn sống ở khu vực nông thôn, vẫn coi ruộng đất là tư liệu sản xuất chính Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố nội sinh và ngoại sinh mà sinh kế của người nông đã có nhiều thay đổi so với trước kia Tại một số địa phương, do chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân như thiên tai, dịch bệnh, mất mùa, ảnh hưởng của cơ chế thị trường, của quá trình chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất công nghiệp nên diện tích canh tác
đã bị thu hẹp Điều đó làm cho người nông dân luôn có nguy cơ chịu những rủi ro và tổn thương trong cuộc sống mưu sinh Quá trình sản xuất nông nghiệp của người nông dân phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên và thị trường Họ chưa chủ động được sản phẩm do mình làm ra: có khi người nông dân mất mùa vì thiên tai, dịch bệnh, có khi lại thất bại vì thị trường không ổn định
Việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo sinh kế cho người nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa là một trong những trách nhiệm của Đảng và Nhà nước nhằm đảm bảo ổn định xã hội Trong thực tế, không phải đến năm 1986 khi Đảng thực hiện việc đổi mới thì quá trình biến đổi sinh kế mới diễn ra,
mà biến đổi sinh kế là lẽ tự nhiên, tất yếu đối với tất cả các quốc gia, các tộc người và cộng đồng dân cư Ở Việt Nam quá trình này diễn ra chậm hơn do đặc điểm tính cách, tâm lý, tập tục sinh hoạt và truyền thống cố kết cộng đồng quy định
Ngày nay, quá trình biến đổi sinh kế của người nông dân ở tất cả các vùng miền trong phạm vi cả nước vẫn đang diễn ra với quy mô và tốc độ ngày càng lớn,
nhất là ở các vùng đồng bằng và khu vực ven đô thị “Theo Hội Nông dân Việt
Nam, mỗi năm cả nước có khoảng 200.000ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, tương ứng mỗi hộ gia đình có khoảng 1,5 lao động mất việc làm”
[101] Điều này đặt ra rất nhiều vấn đề về dân số, lao động, việc làm, ô nhiễm môi
Trang 10trường, an sinh xã hội, đặc biệt là sinh kế của những người nông dân bị mất đất nông nghiệp Nhiều người nông dân hiện nay bị trắng tay và bơ vơ không biết làm
gì để mưu sinh khi ruộng đất của họ trở thành các khu công nghiệp, các đô thị Việc ổn định sinh kế cho người nông dân trong khoảng thời gian dài, có tính bền vững đang là một thách thức và một vấn đề không dễ giải quyết trong điều kiện kinh tế, xã hội nước ta hiện nay
Gia Lộc là một huyện nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hải Dương thuộc châu thổ đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng tam giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh nên đang chịu tác động rất lớn từ các chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội theo vùng, lãnh thổ cả ở cấp độ quốc gia lẫn địa phương Huyện Gia Lộc gồm có 22 xã1
và một thị trấn Trước đô thị hóa, Gia Lộc là một huyện thuần nông với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, đất nông nghiệp chiếm tới 67% diện tích đất đai của toàn huyện Với
vị trí địa lý thuận lợi, cơ sở hạ tầng phát triển, cơ chế chính sách thông thoáng nên trong những năm vừa qua tỉnh Hải Dương nói chung và huyện Gia Lộc nói riêng có tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa rất nhanh Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã làm cho
cơ cấu kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng các ngành nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ Trong hoạt động sinh kế, người nông dân chuyển từ kiếm sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp sang kết hợp nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; chuyển từ độc canh cây lúa sang kết hợp nuôi trồng nhiều cây con có giá trị kinh tế cao; chuyển từ việc kiếm
sống quanh quẩn sau “lũy tre làng” sang việc di chuyển khắp các vùng miền trong cả
nước để kiếm sống… Bên cạnh những giá trị tích cực mà quá trình công nghiệp hóa và
đô thị hóa mang lại, quá trình này cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Đó là diện tích đất nông nghiệp của huyện ngày càng bị thu hẹp, người nông dân mất việc làm truyền thống, trong khi nghề nghiệp mới chưa được định hướng rõ ràng, các tệ nạn xã hội xuất hiện ngày càng nhiều Cũng như nhiều vùng quê khác trong cả nước, người nông dân của huyện Gia Lộc luôn mong muốn có được sinh kế ổn định, bền vững Do đó, nghiên cứu sự biến đổi sinh kế của người dân ở huyện Gia Lộc sẽ góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sinh kế bền vững của người nông dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay
1 Đó là các xã: Đoàn Thượng, Đồng Quang, Đức Xương, Gia Hòa, Gia Khánh, Gia Lương, Gia Tân, Gia Xuyên, Hoàng Diệu, Hồng Hưng, Lê Lợi, Liên Hồng, Nhật Tân, Phạm Trấn, Phương Hưng, Quang Minh, Tân Tiến, Thống Kênh, Thống Nhất, Toàn Thắng, Trùng Khánh và Yết Kiêu
Trang 11Vì những lý do trên, tôi đã lựa chọn “Biến đổi sinh kế của người nông dân ở
huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương trong bối cảnh công nghiệp hóa và đô thị hóa” làm
đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích của luận án
Góp phần làm sáng rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về sinh kế và biến đổi sinh
kế của người nông dân Trên cơ sở đó, luận án đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp hướng tới sinh kế bền vững cho người nông dân ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để đạt được những mục đích nêu trên, luận án đặt ra các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu hệ thống lý luận về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, công nghiệp hóa, đô thị hóa, sinh kế và sinh kế bền vững của người nông dân
- Tìm hiểu bức tranh tổng thể về sinh kế của người nông dân trước khi công nghiệp hóa, đô thị hóa ở huyện Gia Lộc
- Làm rõ những biến đổi về sinh kế của người nông dân
- Nêu một số giải pháp để chính quyền địa phương và các nhà hoạch định chính sách tham khảo để xây dựng các chính sách cho hoạt động thực tiễn
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sinh kế và những biến đổi sinh kế của người nông dân ở huyện Gia Lộc trong bối cảnh công nghiệp hóa và đô thị hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
Về thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu từ sau Đổi mới (1986) đến nay Sở
dĩ đề tài lấy mốc là năm 1986 vì đây là thời điểm diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu bước chuyển đổi quan trọng về tư duy, quan điểm, đường lối, chủ trương phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Đảng và Nhà nước: chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Sự đổi mới này đã làm cho đời sống kinh
tế, văn hoá, xã hội của tất cả các tộc người, các vùng miền trên đất nước ta, trong đó
có người nông dân ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, có sự chuyển biến mạnh mẽ Cùng với quá trình Đổi mới là sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, đã làm cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân nói chung và người nông dân
Trang 12nói riêng được nâng cao, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới Tuy nhiên, cũng có không ít thách thức đang đặt ra trong quá trình phát triển
Về không gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu về sinh kế và biến đổi sinh kế
ở huyện Gia Lộc trong đó tập trung vào hai xã có quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh nhất (xã Liên Hồng) và chậm nhất (xã Gia Lương) để có được một nghiên cứu so sánh về sự biến đổi sinh kế và thích ứng của người dân trong các bối cảnh và điều kiện khác nhau Trong đó, xã Liên Hồng nằm giáp thành phố Hải Dương, có tốc độ đô thị hóa nhanh với nhiều công trình dân sinh, khu công nghiệp, bệnh viện trường học được tập trung đầu tư Ngược lại, xã Gia Lương nằm khá xa thành phố Hải Dương, xa
quốc lộ, chưa có khu công nghiệp và có tốc độ đô thị hóa chậm
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận của luận án
Để thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi đã xem xét và vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin (trong đó có thuyết duy vật biện chứng), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, sinh kế, công nghiệp hóa và đô thị hóa trong nghiên cứu của mình Dưới góc nhìn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các vấn đề về sinh kế, nông nghiệp, nông dân, nông thôn sẽ được nhìn nhận trong mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau trong một tổng thể
Bên cạnh đó, luận án này còn sử dụng các lý thuyết cụ thể để tham chiếu, đánh giá, xem xét quá trình biến đổi sinh kế của người nông dân ở huyện Gia Lộc Nội dung các lý thuyết sử dụng trong luận án được trình bày cụ thể trong chương I
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Để có thể thực hiện đề tài này, chúng tôi đã kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, nghiên cứu lịch sử (đồng đại và lịch đại) Cụ thể như sau:
Phương pháp phân tích, kế thừa tài liệu thứ cấp: Đó là việc thu thập và xử lý
các thông tin, tài liệu liên quan như sách, báo, tạp chí, phim ảnh, kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án, các văn bản của Đảng và Nhà nước; các công trình nghiên cứu
về sinh kế của các tác giả trong và ngoài nước Bên cạnh đó, còn có các Nghị quyết, Chỉ thị của huyện Ủy Gia Lộc, các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Ủy ban nhân dân huyện Gia Lộc, văn bản báo cáo, thông kế, tổng hợp, hướng dẫn của các phòng/ban chức năng của huyện Gia Lộc, hai xã Gia Lương và Liên Hồng
Trang 13Phương pháp điền dã dân tộc học được đặc biệt quan tâm, sử dụng để thu thập
nguồn tài liệu định tính liên quan đến đề tài trên thực địa Trong đó, các công cụ và phương pháp chính được sử dụng gồm: quan sát trực tiếp, quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, phỏng vấn cấu trúc và bán cấu trúc, thảo luận nhóm Để có cái nhìn sâu hơn, phương pháp phỏng vấn cá nhân cũng được sử dụng để thu thập thông tin có liên quan đến đề tài, trong đó có tính đến yếu tố vị trí công tác, tuổi và giới tính của người được phỏng vấn Theo đó, phỏng vấn sâu được thực hiện với nhiều đối tượng khác nhau, trong
đó có đại diện của các nhà quản lý ở các cấp từ Trung ương đến xã và người dân của hai
xã Gia Lương và xã Liên Hồng (huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương) nhằm chú trọng tiếng nói người dân ở hai điểm nghiên cứu này Mẫu được chọn để phỏng vấn sâu gồm người dân thuộc các thế hệ khác nhau: những người già (trên 60 tuổi) cho biết các hoạt động sinh kế truyền thống, đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội truyền thống của các điểm nghiên cứu; những người trung niên (từ 40 đến 59 tuổi) cung cấp các thông tin về những chuyển biến về sinh kế và điều kiện sống trước và sau Đổi mới; những người trẻ (từ 16 đến 39 tuổi) chia sẻ sinh kế hiện tại và những tâm lý, cảm nhận của họ trước sự biến đổi của xã hội hiện đại; cán bộ quản lý các cấp (Trung ương, tỉnh, huyện, xã) bày tỏ quan điểm của
họ trước những vấn đề đã và đang đặt ra hiện nay tại địa phương (Xem Phụ lục 2)
Bên cạnh đó, việc thực hiện ba cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc) trong dân
tộc học cũng được áp dụng trong nghiên cứu này Điều này giúp nghiên cứu có được những thông tin, tài liệu phong phú, đa dạng và sát với thực tế Bên cạnh đó, với cách làm này, chúng tôi có được sự tiếp cận hai chiều: không chỉ từ trên xuống (xem xét tiếng nói và sự áp đặt của các nhà quản lý các cấp từ trung ương xuống địa phương) mà còn từ dưới lên (tôn trọng ý kiến của người dân) Trong luận án này, tác giả chú trọng tiếp cận các ý kiến của người nông dân, bởi đây là đối tượng đang chịu sự tác động trực tiếp và mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa
Để có tài liệu định lượng, bên cạnh các phương phán nghiên cứu định tính,
chúng tôi cũng sử dụng phương pháp điều tra qua bảng hỏi để lấy ý kiến của các
đối tượng khác nhau (nhà quản lý và người dân) về các vấn đề liên quan đến đề tài Bảng hỏi được thiết kế kết hợp dạng câu hỏi đóng và câu hỏi mở, dành cho cán
bộ và người dân trong huyện Gia Lộc, đặc biệt là người dân của hai xã Gia Lương
và xã Liên Hồng Đã có 360 bảng hỏi được sử dụng để thu thập các thông tin định lượng ở các cộng đồng được nghiên cứu, trong đó 110 bảng hỏi dành cho xã Gia
Trang 14Lương và 120 bảng hỏi dành cho xã Liên Hồng, 30 bảng hỏi dành cho các nhà quản lý ở huyện, tỉnh, và 100 bảng hỏi cho các xã khác trong huyện Đối tượng được hỏi gồm người dân thuộc các thế hệ khác nhau: những người già (trên 60 tuổi); những người trung niên (từ 40 đến 59 tuổi); những người trẻ (từ 16 đến 39 tuổi); cán bộ quản lý các cấp (Trung ương, tỉnh, huyện, xã) Nội dung câu hỏi tập trung vào thu thập các thông tin liên quan đến sinh kế truyền thống, sinh kế hiện tại, dự đoán dự báo về sinh kế tương lai; quan điểm của người nông dân và các nhà quản lý về quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa; những mong muốn và đề xuất của họ đối với Đảng và Nhà nước Kết quả điều tra được xử lý thủ công: theo toán học thống kê để lấy tỷ lệ các ý kiến trùng lặp
Nghiên cứu này, trong đó có những hoạt động thu thập tư liệu tại địa bàn nghiên cứu được trải dài trong 4 năm (2012 - 2016) Trong năm 2012 và nửa đầu năm
2013, tác giả tập trung chủ yếu vào việc học và hoàn thành các chuyên đề dành cho thạc sĩ và nghiên cứu sinh; đồng thời, trong thời gian này, tác giả cũng tập hợp, sưu tầm các tài liệu liên quan đến luận án, chủ yếu là các tài liệu thứ cấp Từ tháng 9 năm
2013 đến tháng 2 năm 2016, tác giả đã tiến hành 03 đợt điền dã thực địa: đợt 1 từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 12 năm 2013; đợt 2 từ tháng 2 năm 2014 đến tháng 4 năm 2014; đợt 3 từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 9 năm 2015 Trong các đợt khảo sát thực tế, tác giả đã lần lượt thu thập các tài liệu liên quan đến đề tài, đặc biệt là những thông tin liên quan đến các điểm nghiên cứu, bổ sung các tư liệu còn thiếu, kiểm tra chéo thông tin
Ngoài ra, để thu thập các thông tin và tư liệu trên thực địa, chúng tôi còn sử dụng các công cụ hỗ trợ như chụp ảnh, ghi âm, quay video Các phương pháp này đã cung cấp nguồn tư liệu phong phú và làm sinh động các minh chứng về biến đổi sinh
kế của người nông dân huyện Gia Lộc
Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình thực hiện luận án này, tác giả luận
án đã tham vấn và tranh thủ ý kiến của các nhà khoa học có nhiều am hiểu và kinh nghiệm về sinh kế và biến đổi sinh kế Đội ngũ chuyên gia được tham vấn rất đa dạng, gồm: chuyên gia về quản lý trong lĩnh vực sinh kế, nông nghiệp, nông dân, nông thôn; chuyên gia nghiên cứu về sinh kế truyền thống của các đồng bào dân tộc thiểu số; chuyên gia nghiên cứu về sinh kế hiện đại; chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực dân tộc học… Theo đó, các chuyên gia đã tư vấn, đưa ra những đóng góp, gợi
Trang 15mở và lời khuyên bổ ích giúp tác giả có cách tiếp cận đúng chuyên ngành và hướng nghiên cứu Bên cạnh đó, đội ngũ chuyên gia đã giới thiệu và trong một số trường hợp, đã cung cấp nguồn tư liệu phong phú đa dạng giúp tác giả có góc nhìn đa chiều
về vấn đề nghiên cứu và tiết kiệm thời gian cho việc tìm kiếm nguồn tư liệu liên quan đến đề tài
Các phương pháp: lịch sử (lịch đại và đồng đại), tổng hợp, phân tích, so sánh cũng được áp dụng trong quá trình hoàn thành luận án nhằm đánh giá, giải mã
các tài liệu định tính và định lượng So sánh để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa hiện tại và quá khứ để thấy quy luật biến đổi và lý giải sự biến đổi đó So sánh lịch đại để tìm hiểu mối liên hệ dọc, tức là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng mưu sinh diễn ra hiện nay với các sự vật, hiện tượng diễn ra trước đây Trong khi đó,
so sánh đồng đại giúp làm rõ mối liên hệ ngang, tức là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng mưu sinh diễn ra đồng thời cùng một thời điểm
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đây là luận án tiến sĩ đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về sinh kế và biến đổi sinh kế của người nông dân ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương dưới góc nhìn nhân học Luận án đã góp phần cung cấp một góc nhìn mới về sinh kế nói chung và sinh kế của người nông dân nói riêng trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa Đây là kết quả của sự kết hợp nhiều lý thuyết khác nhau trong xem xét hệ thống sinh
kế truyền thống của người nông dân và những chuyển đổi của hệ thống ấy trong bối
cảnh các điều kiện sống thay đổi
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận án
- Luận án làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về sinh kế, nông nghiệp, nông dân, nông thôn
- Luận án góp phần cung cấp một cách nhìn mới trong xem xét, phân tích và đánh giá sinh kế và biến đổi sinh kế ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt ở những vùng chịu ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, thông qua sự vận dụng các lý thuyết vào nghiên cứu thực tiễn
- Luận án chỉ ra thực trạng và những chuyển biến về sinh kế của người nông dân ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; đồng thời, cung cấp các góc nhìn đa chiều trong việc đảm bảo sinh kế cho người nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, đô
thị hóa
Trang 166.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Luận án cung cấp cơ sở lý luận cho các nhà hoạch định và thực thi chính sách ở các cấp trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống cho người nông dân Từ đó, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở vùng được nghiên cứu một cách bền vững hơn
- Luận án có thể là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho các cán bộ, nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương và những người quan tâm đến sinh kế và đời sống của người nông dân trong thời kỳ công nghiệp hóa và đô thị hóa
- Các kết quả của luận án cũng có thể được sử dụng để phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy về sinh kế của người nông dân đồng bằng dưới góc nhìn nhân học
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được chia thành 3 chương sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và địa bàn nghiên cứu Chương 2: Sinh kế truyền thống của người nông dân ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương
Chương 3: Sinh kế của người nông dân ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương trong bối cảnh công nghiệp hóa và đô thị hóa
Trang 17CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về sinh kế của các học giả nước ngoài
Đến nay, đã có rất nhiều tác phẩm trên thế giới nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, sinh kế, công nghiệp hóa, đô thị hóa Có thể kể đến một số nghiên cứu về nông nghiệp và các hoạt động sinh kế của con người dưới góc nhìn nhân học sau
đây: Hai tác giả V D Blavaski và A V Nikitin đã cho ra đời công trình Sự xuất hiện và
phát triển của nông nghiệp [123] Tác phẩm gồm 230 trang được chia thành X chương,
mô tả nền sản xuất nông nghiệp nguyên thủy (Chương I); nền nông nghiệp của xã hội có giai cấp sơ kỳ (Chương II); các cư dân nông nghiệp thời kỳ cổ trên lãnh thổ Liên Xô (Chương III); nền nông nghiệp cổ Hy La (Chương IV); nền nông nghiệp ở các quốc gia
cổ Hy La ở Bờ Bắc Biển Đen trong những giai đoạn khác nhau (Chương V và VI); nền nông nghiệp của các bộ lạc trước nền văn hóa Za - Zu - Bib - Xo và Trec - Nha - Khốp (Chương VII); nền nông nghiệp của người dòng Xlavo (Chương VIII); nền nông nghiệp của nước Nga trong các thời kỳ khác nhau (Chương IX và X) Bên cạnh đó, nghiên cứu này đã mô tả các loại nông cụ, các giống cây trồng của các tộc người và trong các điều kiện kinh tế khác nhau Đánh giá về vai trò của nền nông nghiệp đối với loài người, các tác giả cho rằng nông nghiệp xuất hiện ngay trong thời đại công xã nguyên thủy là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của năng suất lao động và sự tích lũy tài sản, dẫn tới việc củng cố và thịnh đạt của xã hội ở mọi thời kỳ Từ đó, họ khẳng định nông nghiệp là một trong những phát minh vĩ đại nhất của nhân loại
Dưới khía cạnh dân tộc học nông nghiệp, G G Gromop và Yu F Nôvichkop
đã xuất bản ấn phẩm “Một số vấn đề nghiên cứu dân tộc học nông nghiệp” [55] Ấn
phẩm gồm 18 trang với 4 phần đã khái quát một số vấn đề cơ bản của nền nông nghiệp như cơ cấu nông cụ, điều kiện kinh tế - xã hội, những cây trồng chính và điều kiện địa lý tự nhiên Các tác giả đã chỉ ra một cách đúng đắn rằng, khi nghiên cứu kỹ thuật học nông nghiệp, cần xem xét những điều kiện địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội mà các dân tộc nông nghiệp sinh sống bởi các điều kiện này sẽ quyết định kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản các hàng nông sản Đồng thời, họ cũng phê phán các quan điểm của một số học giả khi đánh giá quá cao ý nghĩa của đặc tính dân tộc riêng biệt khi nghiên cứu về dân tộc học nông nghiệp
Trang 18Cũng với quan điểm trên, khi bàn về dân tộc học nông nghiệp Đông Nam Á, tác
giả N N Tsebocsarop và IA V Tsesnop trong tác phẩm “Một số vấn đề dân tộc học
nông nghiệp Đông Nam Á” [76] đã khẳng định rằng những đặc trưng văn hóa nông
nghiệp ở các dân tộc ở Đông Nam Á đã hình thành từ những điều kiện lịch sử nhất định
và chúng được định đoạt bởi sự phát triển kinh tế - xã hội và hoàn cảnh tự nhiên Những đặc trưng đó được truyền thống củng cố, trở thành những đặc điểm riêng biệt của tộc người đó trong một thời kỳ lâu dài Tuy nhiên, các giá trị đặc trưng truyền thống đó có thể dần dần biến mất với sự xuất hiện của nền nông nghiệp cơ giới hiện đại
Các tác giả Emily A Schultz và H Lavenda khi nghiên cứu về kinh tế đã đưa
ra khái niệm “phương cách sinh tồn” và “phương thức mưu sinh” trong tác phẩm
“Nhân học một quan điểm về tình trạng nhân sinh” [54] Các tác giả cho rằng con
người tự tạo ra những phương thức sử dụng các mối quan hệ giữa họ với nhau và với
môi trường tự nhiên để kiếm sống Sinh tồn thường được dùng để chỉ việc thoả mãn
những nhu cầu vật chất thiết yếu nhất để tồn tại của con người, chủ yếu là nhu cầu về thức ăn, quần áo và chỗ ở Các tác giả đã đề xuất một sơ đồ các thành tố hợp thành
“phương cách sinh tồn” Theo đó, mỗi “phương cách sinh tồn” gồm hai thành tố
thuộc hai cấp độ khác nhau: cấp độ một là thu lượm lương thực; cấp độ hai là sản xuất lương thực Tiếp đến, ở cấp độ hai, sản xuất lương thực lại gồm hai thành tố hợp thành là chăn nuôi và trồng trọt Sau đó, bộ phận trồng trọt lại chia tách và phát triển thành cấp độ
ba, gồm ba thành tố cấu thành là nông nghiệp quảng canh, nông nghiệp thâm canh và nông nghiệp cơ giới hóa mang tính chất công nghiệp
Trong những năm gần đây, ấn phẩm “Bức khảm văn hóa châu Á: tiếp cận nhân
học” do Grant Evans chủ biên [56] đã gây sự chú ý cho nhiều nhà nghiên cứu về nhân học
của Việt Nam Tác phẩm tập hợp 15 bài viết của các nhà dân tộc học/nhân học có uy tín với tổng dung lượng là 529 trang Trong tác phẩm này, có nhiều bàn luận, đánh giá về mọi vấn đề của đời sống xã hội mà con người đang quan tâm, trong đó có vấn đề sinh kế của
con người Đặc biệt, trong bài viết “Ngư dân, du canh, du cư, người bán hàng rong, nông
dân và dân chăn nuôi: nhân học kinh tế”, tác giả John Clammer đã đưa ra những nhận
định, đánh giá về kinh tế và mối quan hệ của nó với văn hóa, xã hội dưới góc nhìn nhân
học Theo ông, “đối với các nhà nhân học thì các quan niệm kinh tế cũng là những quan
niệm xã hội, nêu rõ một cách sâu sắc những giá trị cơ bản, thế giới quan và những định hướng về đạo lý của một xã hội” [56, 195] Cũng trong bài viết này, tác giả đã có những
nhận định, đánh giá về quá trình biến đổi của kinh tế, đó là những mối quan hệ luôn biến
Trang 19động và phản ánh các mối quan hệ xã hội: “…hoạt động kinh tế liên quan đến các mối
quan hệ xã hội - đến sự tạo thành, bảo tồn và nâng cao các mối quan hệ xã hội đó - và khi cần những mối quan hệ đó sẽ tự kết thúc” [56, 197]…
Các tác phẩm rất đa dạng về nội dung, phong phú về đối tượng phản ánh và cách thể hiện Tuy đa dạng nhưng có hai trường phái khá rõ nét: i) Góc nhìn của các nhà dân tộc học/nhân học Liên Xô cũ, Trung Quốc; và ii) Góc nhìn của các nhà dân tộc học/nhân học phương Tây Rõ ràng, cùng tiếp cận nhân học nhưng do cách nhìn nhận bằng con mắt chính trị và hệ tư tưởng khác nhau nên cách đánh giá và giải quyết vấn đề cũng không giống nhau Cho đến nay, các quan điểm và cách tiếp cận đã có sự thu hẹp về khoảng cách, các nhà dân tộc học/nhân học ở các trường phái đối lập nhau
đã có sự lắng nghe và chia sẻ lẫn nhau Hệ tư tưởng và quan điểm đã tiến gần nhau hơn khi tiếp cận một vấn đề về dân tộc học/nhân học
Các tác phẩm của các nhà dân tộc học/nhân học hàng đầu thế giới đã tạo tiền
đề, gợi mở về sự đa dạng lý thuyết để các nhà dân tộc học/nhân học Việt Nam tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và phát triển làm sâu sắc các lý thuyết Bên cạnh đó, những nghiên cứu vừa kể trên cũng là nguồn tư liệu tham khảo rất có giá trị, đặc biệt
là về vấn đề lý thuyết và cách tiếp cận, cho luận án này
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về sinh kế của các học giả trong nước
Nghiên cứu về sinh kế của người nông dân mới xuất hiện ở Việt Nam trong những năm 60 của thế kỷ trước nhưng rất phát triển, nhất là từ khi quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ Các công trình nghiên cứu đã thể hiện sự quan tâm của các nhà khoa học với nhiều góc nhìn khác nhau về sinh kế Tuy nhiên, các tác phẩm đề cập trực tiếp đến vấn đề sinh kế của người nông dân chưa nhiều hoặc mới chỉ đề cập một góc độ, một số khía cạnh nhất định Có thể kể đến các tác phẩm
đề cập trực tiếp đến vấn đề sinh kế sau:
Bài viết “Sinh kế người dân thị trấn Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị trong quá trình phát
triển khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo” (2009) của Mai Văn Xuân và Hồ Văn
Minh đăng trên Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, số 54 với dung lượng 8 trang Bài viết
đã bàn luận về khung sinh kế bền vững được vận dụng làm cơ sở cho việc soi chiếu vào địa bàn nghiên cứu Sau khi nêu các đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu, nghiên cứu này đã chỉ ra những yếu tố tác động đến sinh kế, thu nhập của người nông dân khi mở rộng, phát triển khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hệ thống sinh kế cho người dân ở khu vực này
Trang 20Gắn với lý thuyết, bài viết “Khung sinh kế bền vững: một cách phân tích toàn
diện về phát triển và giảm nghèo” (2010) của Nguyễn Văn Sửu đăng trên Tạp chí
Dân tộc học số 2 đã phân tích, nhận định và đánh giá khá sâu sắc về khung sinh kế bền vững mà DFID đã đưa ra Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá vai trò của từng loại nguồn vốn đối với sinh kế của người nông dân, đồng thời cũng khẳng định tính ứng dụng của lý thuyết sinh kế bền vững trong xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững
ở Việt Nam hiện nay
Tương tự như vấn đề nghiên cứu của luận án, phải kể đến “Nghiên cứu ảnh
hưởng sinh kế người nông dân khi chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” (2010) của Ngô Hữu Hoạch và Huỳnh Văn
Chương đăng trên Tạp chí Khoa học Đất số 35 với dung lượng 7 trang Các tác giả đã
mô tả sự biến đổi các nguồn lực trong Khung sinh kế bền vững của DFID; trên cơ sở
đó, họ khẳng định rằng, đất nông nghiệp bị thu hẹp do đô thị hóa đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sinh kế của người nông dân ở Hội An, Quảng Nam
Mô tả và phân tích sự đa dạng sinh kế của một tộc người thiểu số ở vùng miền
núi phía Bắc, Trần Hồng Hạnh đã cho đăng bài viết “Sinh kế của người Pà Thẻn ở
huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang” (2011) trên Tạp chí Dân tộc học số 6 với dung
lượng 11 trang Trong bài viết này, dưới góc nhìn nhân học kinh tế, tác giả đã mô tả, đánh giá sâu sắc các hoạt động sinh kế của người Pà Thẻn ở huyện Quảng Bình, tỉnh
Hà Giang trong truyền thống và hiện tại
Tài liệu hội thảo “Tái định cư trong các dự án thủy điện cuộc sống người dân
có tốt hơn?” (2011) của Viện Tư vấn phát triển – CODE đã có những đánh giá sâu
sắc về những tác động đến mọi mặt đời sống của người dân, trong đó có vấn đề sinh
kế Tài liệu hội thảo có dung lượng 103 trang với 10 bài viết Đáng chú ý là “Sinh kế
bền vững cho người dân bị ảnh hưởng bởi dự án thủy điện Sông Bung 4” của Nguyễn
Hồng Vũ Tác giả đã chỉ ra rất rõ những tác động của dự án điện Sông Bung 4 đến sinh kế của người dân bằng những số liệu thực địa Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những chương trình, dự án mà Nhà nước cần triển khai nhằm đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân ở những vùng xây dựng thủy điện
Hoạt động mưu sinh như một cách nhìn về sinh kế cũng được giới thiệu trong
luận án tiến sĩ “Hoạt động mưu sinh của người Kháng ở xã Chiềng Bôm, huyện
Thuận Châu, tỉnh Sơn La” (2013) của Bùi Thị Bích Lan Luận án đã cung cấp các tư
liệu mới về hoạt động mưu sinh của dân tộc Kháng ở Chiềng Bôm trước và sau Đổi
Trang 21mới đến nay Đồng thời, luận án phân tích một cách có hệ thống và toàn diện về sự tác động của hoạt động mưu sinh tới phát triển bền vững, từ đó tìm ra những bất cập trong phát triển sinh kế của người Kháng trong giai đoạn hiện nay
Trong mối liên hệ giữa sinh kế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tác phẩm
“Công nghiệp hóa, đô thị hóa và biến đổi sinh kế ở ven đô Hà Nội” (2014) của
Nguyễn Văn Sửu gồm 5 chương với 199 trang, đã cung cấp nguồn tư liệu phong phú, đang dạng về sinh kế của người nông dân ở vùng ven đô Hà Nội trong bối cảnh công nghiệp hóa và đô thị hóa hiện nay Mặc dù chỉ khảo sát tại hai làng Phú Điền và Gia Minh nhưng tác phẩm đã khái quát hóa và chỉ ra được những biến đổi
về sinh kế của người nông dân do tác động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa
Nông nghiệp và nhiều vấn đề liên quan đến nông nghiệp lại một lần nữa được
quan tâm và đề cập trong luận án tiến sĩ “Những biến đổi trong sản xuất nông nghiệp
của người Mạ tỉnh Lâm Đồng” (2015) của Trần Minh Đức Tác giả đã mô tả khá đầy
đủ những biến đổi về giống, kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi của người Mạ tại hai điểm nghiên cứu là xã Đinh Trang Thượng và thị trấn Lộc Thắng của tỉnh Lâm Đồng Trong luận án này, tác giả cũng chỉ ra những vấn đề phát sinh ảnh hưởng đến đời sống của người Mạ do quá trình biến đổi trong sản xuất nông nghiệp
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, đến sinh kế, biến đổi sinh kế của người nông dân do tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa; mô tả, xem xét, đánh giá nhiều góc độ khác nhau của sinh kế và biến đổi sinh kế; từ đó, cung cấp một bức tranh đa chiều về hoạt động sinh kế của người dân trong bối cảnh công nghiệp hóa và đô thị hóa Tuy nhiên, các công trình đó chủ yếu phân tích, đánh giá một hoặc một vài yếu tố của các nguồn vốn trong khung sinh kế bền vững hoặc mới chỉ tập trung vào vùng sâu vùng xa, vùng biên giới Một số tác phẩm đã đề cập trực tiếp đến biến đổi sinh kế của người nông dân nhưng lại được tiếp cận dưới góc nhìn truyền thống, tức thiên về mô tả các hoạt động mưu sinh là chính hoặc góc nhìn không phải của Dân tộc học Trong bối cảnh biến đổi của các tư liệu sản xuất do tác động của quá trình công nghiệp hóa
và đô thị hóa, sự xem xét, đánh giá một cách có hệ thống sinh kế của người nông dân, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo sinh kế bền vững cho người nông dân là rất cần thiết Có thể nói, các công trình nghiên cứu trước đó liên quan đến sinh kế là nguồn tư liệu có giá trị để tác giả tham khảo và kế thừa
Trang 22Có thể khẳng định rằng, kể từ khi đất nước đổi mới đến nay, chưa có đề tài khoa học, bài viết hay công trình khoa học nào nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về sự biến đổi sinh kế của người nông dân ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương Do đó, nghiên cứu về vấn
đề này ở huyện Gia Lộc là mới và cần thiết Trong quá trình thực hiện đề tài này, những nghiên cứu vừa kể trên là một nguồn tư liệu vô cùng quý báu để chúng tôi có thể trang
bị, bổ sung những khung lý thuyết có liên quan đến đề tài và những thực tế ở các địa phương khác nhau cũng như ứng dụng chúng trong nghiên cứu của mình
và sâu sắc nhất là khu vực nông thôn với đối tượng trung tâm là người nông dân Để quản lý và điều chỉnh quá trình này, trước hết cần hiểu rõ bản chất của sự biến đổi Khái niệm biến đổi được sử dụng khá phổ biến trong quản lý xã hội và xã hội học
Theo tác giả Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành trong cuốn “Từ
điển tiếng Việt thông dụng”, “Biến đổi: thay đổi làm cho khác trước” [128, 91]
Tương tự như vậy, theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ do tác giả Hoàng Phê
làm chủ biên, “Biến đổi là thay đổi thành khác trước” [84, 95] Trong khi đó, dưới góc độ xã hội, sự biến đổi thường được quan niệm là biến đổi xã hội, “là việc chuyển
đổi xã hội từ trạng thái này sang trạng thái khác, mà trạng thái chính là bộ mặt xã hội với những yếu tố hoạt động xã hội và quan hệ xã hội đạt được ở một mức độ nào
đó (cao, thấp, tốt, xấu…)” [100, 14]
Trong luận án này, biến đổi được nhìn nhận là quá trình thay đổi tất yếu, diễn
ra ở mọi sự vật, hiện tượng, trong đó những thay đổi xã hội diễn ra mạnh mẽ và toàn diện nhất Sự biến đổi sẽ dẫn đến một trạng thái khác trước (có thể cao hơn hoặc thấp hơn, tốt hơn hoặc xấu hơn…) Khi xem xét sự biến đổi, luận án sẽ chỉ tập trung xem xét biến đổi sinh kế của người nông dân, trong đó trọng tâm là sự biến đổi các nguồn lực đảm bảo sinh kế
Trang 23* Công nghiệp hóa
Công nghiệp hóa là một quá trình tất yếu của sự phát triển, thể hiện sự chuyển dịch, chủ yếu là kinh tế, theo hướng đi lên của mỗi quốc gia Quá trình này sẽ làm cho nền kinh tế chuyển dịch từ nền sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, thủ công là chủ yếu sang nền sản xuất công nghiệp với mức độ tập trung lớn, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Quá trình công nghiệp hóa sẽ làm tăng giá trị của hàng hóa, giải phóng sức lao động chân tay cho con người
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “công nghiệp hóa là quá trình
chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học và công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao Quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo (trước hết là nông nghiệp và toàn bộ nền kinh
tế quốc dân) nhằm biến một nước chậm phát triển, sản xuất nhỏ là phổ biến sang nền sản xuất lớn chuyên môn hóa Hiện đại hóa là quá trình xây dựng cơ cấu kinh tế mới
mà nòng cốt là cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp hiện đại” [2]
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, “công nghiệp hóa, hiện đại hóa là
quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch
vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học
và công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động cao” [43, 241] Theo đó, Đảng ta đã
xác định nội hàm của quá trình công nghiệp hóa rộng hơn các quan điểm trước đó Quá trình này không chỉ bó hẹp trong phạm vi nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất, kỹ thuật đơn thuần mà còn bao gồm cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ xã hội và được sử dụng bằng các phương tiện tiên tiến hiện đại với công nghệ cao
Trong luận án này, quan điểm về công nghiệp hóa của Đảng được sử dụng làm
cơ sở lý luận xuyên suốt Quan điểm của Đảng mang tính toàn diện, thể hiện được bản chất của quá trình công nghiệp hóa với sự biến đổi từ sản xuất, kinh doanh dịch
vụ, khoa học kỹ thuật đến quản lý kinh tế, xã hội…
Trang 24* Đô thị và Đô thị hóa
Cũng như công nghiệp hóa, đô thị hóa là quá trình tất yếu của sự phát triển, luôn gắn liền với công nghiệp hóa Quá trình công nghiệp hóa diễn ra sẽ kéo theo đô thị hóa bởi đất nông nghiệp sẽ được chuyển đổi mục đích sử dụng cho công nghiệp, người nông dân sẽ bị mất đất và trở thành người thành thị một cách bắt buộc, các vùng nông thôn sẽ trở thành đô thị
Trước khi đi tìm hiểu quá trình đô thị hóa, cần làm rõ khái niệm đô thị Khái niệm đô thị khá phổ biến hiện nay và được dùng trong nhiều công trình nghiên cứu và
văn bản quản lý nhà nước Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, đô thị là “(cg
điểm dân cư đô thị), không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp Đô thị được phân loại theo các chức năng kinh tế, xã hội như: Đô thị công nghiệp, đô thị hành chính, đô thị du lịch, đô thị cảnh quan, v.v, đồng thời được phân loại theo quy mô số dân Ở Việt Nam, đô thị được phân thành 4 loại: đô thị rất lớn (trên một triệu dân), đô thị lớn (35 vạn - 1 triệu dân), đô thị trung bình (3 vạn - 10 vạn dân), đô thị nhỏ (dưới 3 vạn dân)” [2] Trong
khi đó, theo tác giả Nguyễn Lân trong cuốn “Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam” đã định nghĩa đô thị như sau: “Đô thị: chỗ tụ họp buôn bán đông đúc, sầm uất” [73, 653]
Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng nội hàm của khái niệm đô thị
cơ bản thống nhất rằng: Đô thị là không gian sống tập trung của một bộ phận dân cư
với chủ yếu các hoạt động phi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng phát triển, lối sống mang tính chất thành thị Trong luận án này, khái niệm đô thị được hiểu theo hướng này
Cũng như khái niệm đô thị, khái niệm đô thị hóa cũng có nhiều cách diễn đạt
khác nhau Cụ thể là: Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “đô thị hóa là quá
trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất, bố trí dân cư, những vùng không phải
đô thị trở thành đô thị Tiền đề cơ bản của đô thị hóa là sự phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ thu hút nhiều nhân lực từ nông thôn đến sinh sống và làm việc, làm cho tỉ trọng dân cư ở các đô thị tăng nhanh Đô thị xuất hiện làm tăng sự phát triển giao thông với các vùng nông nghiệp xung quanh và các đô thị khác; phát triển văn hoá
và sự phân công lao động theo lãnh thổ, tăng cường thành phần công nhân, tiểu thủ công, trí thức, thương nhân, kĩ thuật viên, v.v…” [2] Theo quan điểm này, đô thị hóa là
chuyển biến và thay đổi một cách căn bản và toàn diện mọi mặt khu vực nông thôn từ cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng đến nhân lực, cơ cấu việc làm… Quá trình này sẽ kéo theo sự thay đổi về tư duy, lối sống, cách ứng xử và các mối quan hệ xã hội
Trang 25Tác giả Nguyễn Lân trong cuốn “Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam” đã định nghĩa
đô thị hóa như sau: “Đô thị hóa (hóa: làm thành) biến thành đô thị” [73, 653] Theo
đó, tác giả chú trọng và quan tâm đến việc bóc tách từ ngữ của cụm từ “đô thị hóa” nên chưa phản ánh hết được nội dung của quá trình đô thị hóa hiện nay Song, dù nhìn nhận theo cách nào, quá trình đô thị hóa cũng có tác động và ảnh hưởng mạnh
mẽ đến đời sống của người dân, trực tiếp là người nông dân
Đánh giá về sự biến đổi do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, Giáo sư xã hội
học nổi tiếng người Mỹ Louis Wirth đã phân tích trong bài viết nổi tiếng “Đô thị hóa
như một lối sống” vào năm 1938 rằng đô thị hóa sẽ làm rạn vỡ các mối quan hệ gắn
bó từng là cơ sở cho cả hai lối sống: nông thôn và thành thị; nó làm biến dạng cộng đồng nông thôn và ngược lại, càng làm méo mó các quy chuẩn của cộng đồng thành thị nói theo ngôn ngữ hiện đại là nông thôn hóa thành thị và thành thị hóa nông thôn
Trong sự đa dạng về nhận thức và định nghĩa về đô thị hóa như vừa nêu trên,
luận án xem xét và tiếp cận khái niệm đô thị hóa như sau: Đô thị hóa là quá trình
biến đổi các vùng nông thôn thành đô thị Quá trình đô thị hóa sẽ làm biến đổi toàn diện, mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, các mối quan hệ trong gia đình, cộng đồng, làng xóm, xu hướng phân bố dân cư, phân bố lao động ở khu vực nông thôn… theo hướng đô thị Với cách tiếp cận trên, luận án sẽ nhấn mạnh đến quá trình biến đổi ở khu vực nông thôn
* Nông nghiệp, nông dân, nông thôn
- Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng, đảm bảo nhu cầu
lương thực cho con người Đây cũng là ngành ra đời từ rất sớm gắn liền với quá trình
hình thành loài người Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “nông nghiệp là
một ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội; sử dụng đất đai để trồng trọt, chăn nuôi; khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thuỷ sản” [2] Trong nông nghiệp, đất
đai là nguồn tư liệu chính và chủ yếu; quá trình sản xuất nông nghiệp luôn gắn với đất đai Ngành kinh tế nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
vì nó liên quan đến an ninh lương thực của mỗi quốc gia
Theo quan điểm của Đảng, “nông nghiệp là khái niệm chỉ ngành nghề hay sản
nghiệp phân biệt với công nghiệp và dịch vụ Nông nghiệp là tên chung chỉ những
Trang 26ngành sản xuất lấy đất đai, mặt nước, đồng cỏ, quy trình sinh học… làm đối tượng và
tư liệu sản xuất chủ yếu… Nông nghiệp là sản nghiệp cơ sở (nền tảng) của các sản nghiệp thứ hai (công nghiệp) và sản nghiệp thứ ba (dịch vụ); là sản nghiệp chính của nông dân và là sản nghiệp đầu tiên cần thiết cho sự sinh tồn của xã hội” [11, 111-
112] Quan điểm này đã cho thấy sự quan tâm của Đảng về vấn đề nông nghiệp trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Quan điểm của Đảng đã xác định nguồn tư liệu chủ yếu của nền sản xuất nông nghiệp là đất đai, cho nên vấn đề đất đai luôn là sự quan tâm hàng đầu của người nông dân
Trong luận án này, quan niệm của Đảng về nông nghiệp được chú trọng sử dụng
để xem xét, đánh giá tình hình nông nghiệp của cư dân ở địa bàn nghiên cứu Quan niệm của Đảng đã phản ánh đầy đủ và chỉ rõ bản chất của khái niệm nông nghiệp, đó là ngành nghề có những hoạt động đặc thù riêng gắn liền với người nông dân với các nguồn tư liệu truyền thống là đất đai, mặt nước, đồng cỏ, quy trình sinh học… Quan niệm này cũng phù hợp với điều kiện và bối cảnh của Việt Nam trong truyền thống và hiện tại
- Nông dân là một phạm trù được nghiên cứu ở nhiều ngành khoa học khác
nhau vì nó vừa mang tính triết học và chính trị, vừa mang tính xã hội Do đó, các khái niệm đưa ra về người nông dân cũng rất khác nhau: có khi nó được nhìn nhận là thân phận một kiếp người, nhưng cũng có khi được xem xét là một giai cấp trong xã hội, hoặc một thành phần xã hội…
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “nông dân là người lao động cư
trú ở nông thôn, sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, sau đó bằng các ngành, nghề
mà tư liệu sản xuất chính là đất đai; tuỳ theo từng thời kì lịch sử, ở từng nước, có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất; những người này hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội…” [2]
Theo quan điểm của Đảng, “nông dân là khái niệm chỉ về thân phận hay nghề
nghiệp của một nhóm dân cư trong xã hội, phân biệt với công nhân, trí thức… Nông dân theo khái niệm này thường có hai tiêu chí phân biệt: một là, nghề nghiệp chính là trồng trọt và chăn nuôi; hai là, sinh sống ở nông thôn (phân biệt với thành thị)” [11,
112] Trong các thời kỳ của lịch sử, người nông dân luôn có vai trò rất lớn, là lực lượng chính trong các cuộc cách mạng và cũng là lực lượng sản xuất ra của cải vật chất chủ yếu nuôi sống xã hội Ở nước ta, vị trí và vai trò của người nông dân được
đề cao và quan tâm Điều này được thể hiện trong các quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho người nông dân
Trang 27Trong luận án này, quan niệm của Đảng về nông dân được sử dụng làm cơ sở
nghiên cứu Quan niệm này đã chỉ ra những tiêu chí rất rõ ràng để phân biệt nông dân với các tầng lớp, giai cấp khác trong xã hội Đồng thời, quan niệm này cũng mang độ phủ quát rộng, phản ánh được bản chất của giai cấp nông dân Việt Nam
- Nông thôn, cũng như khái niệm nông nghiệp và nông dân vừa được nêu ở trên, được nhìn nhận theo những góc độ khác nhau Theo Từ điển Bách khoa toàn thư
Việt Nam, nông thôn là “phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp” [2]
Theo quan điểm của Đảng, “nông thôn là khái niệm chỉ vùng, khu vực hành
chính, phân biệt với thành phố, thị xã Nông thôn là khu vực, lãnh thổ rộng lớn nằm ngoài thành thị” [11, 112]
Mặc dù cách diễn đạt khác nhau nhưng các quan điểm đều có điểm chung rằng, nông thôn là không gian sống của người nông dân và cũng là khu vực thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã làm cho khu vực nông thôn có những chuyển biến mạnh mẽ với cả những tốt - xấu, tích cực tiến bộ và cũ, lạc hậu cùng tồn tại, đòi hỏi phải có những chính sách kịp
thời, phù hợp Luận án sử dụng quan niệm chung nêu trên để xem xét, đánh giá và
nhìn nhận về nông thôn
* Sinh kế, sinh kế bền vững và biến đổi sinh kế
- Sinh kế: Trên thế giới, thuật ngữ sinh kế (livelihood) đã xuất hiện từ khá lâu
Người đầu tiên sử dụng và đề cập đến sinh kế là Robert Chambers vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX Sau đó, thuật ngữ này được sử dụng nhiều hơn trong các công trình nghiên cứu của F Ellis, Barrett và Reardon, Dorward Đến đầu những 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ này ngày càng được sử dụng một cách rộng rãi và chính thống với nhiều cách tiếp cận khác nhau Cho đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về sinh kế và sinh kế bền vững
Theo Robert Chambers, sinh kế bao gồm những khả năng, những tài sản (bao gồm các tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống của người dân Trong nhiều nghiên cứu của mình, F Ellis cho rằng, sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và các hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội) mà theo đó các quyết định về sinh
Trang 28kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ [Dẫn lại của Mai Văn Xuân, Hồ Văn
Minh (2009), trong tác phẩm “Sinh kế người dân thị trấn Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị
trong quá trình phát triển khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo”, đăng trên Tạp
chí Khoa học Đại học Huế, Số 54, tr 177-184] [127] Theo Emily A Schultz và
Robert H Lavenda (2001), trong tác phẩm Nhân học, một quan điểm về tình trạng
nhân sinh, nói đến sinh kế là hàm ý con người phải làm gì để có được của cải vật chất
như lương thực, quần áo, chỗ ở nhằm duy trì cuộc sống [54] Grant Evans (Chủ biên)
(2001), trong tác phẩm Bức khảm văn hóa châu Á: tiếp cận nhân học, đã cho rằng
“sinh kế nghiên cứu mặt vật chất của đời sống trong bối cảnh xã hội và văn hóa của
nó, đồng thời nghiên cứu cái cách mà các khâu sản xuất phân phối tiêu thụ đã tham gia như thế nào vào toàn bộ cấu trúc của xã hội Sinh kế không chỉ là kinh tế mà còn
là văn hóa và phản ánh văn hóa” [56, 195]
Dưới góc độ tiếng Việt, sinh kế là từ Hán Việt Trong đó, sinh là sinh sống, kế
là cách thức, phương pháp, phương cách Sinh kế là phương cách kiếm sống, phương
cách mưu sinh của con người Khi tiếp cận sinh kế ở Việt Nam, nội hàm của khái
niệm cũng không có nhiều khác biệt so với cách tiếp cận của các nước trên thế giới
Ở Việt Nam, sinh kế cũng được hiểu là cách thức kiếm ăn và bao gồm các nguồn lực
để người dân có thể thực hiện các hoạt động kiếm sống Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, “sinh kế là việc làm để kiếm ăn, để mưu sống” [125, 1101]
Theo Giáo trình Nhân học đại cương của trường Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh, hoạt động kinh tế hay sinh kế chính là sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên trong quá trình thỏa mãn các nhu cầu vật chất để đảm bảo sự sinh tồn của mình [31]
Theo định nghĩa trong khung phân tích sinh kế bền vững của DFID, “sinh kế
bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống” [131]
Cho dù có các cách tiếp cận khác nhau nhưng các quan điểm trên đều thống nhất rằng, sinh kế là cách thức kiếm sống và các loại nguồn lực khác nhau để đảm bảo các hộ gia đình, các cộng đồng dân cư có thể thực hiện các hoạt động kiếm sống một cách bình thường Luận án này sẽ vận dụng cách tiếp cận của DFID để xem xét, phân tích, đánh giá
về biến đổi sinh kế của người nông dân ở huyện Gia Lộc hiện nay
- Sinh kế bền vững: Trong bối cảnh hiện nay, khi tăng trưởng kinh tế luôn kéo
theo những hệ lụy khôn lường về môi trường, cùng với việc xóa đói giảm nghèo thiếu
Trang 29tính bền vững, việc đòi hỏi một sinh kế bền vững, đảm bảo nguồn sống của người dân không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên được đặt ra bức thiết Theo Robert Chambers, sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó với và được khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên [Dẫn lại của Mai Văn Xuân, Hồ Văn Minh
(2009), trong tác phẩm “Sinh kế người dân thị trấn Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị trong
quá trình phát triển khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo”, đăng trên Tạp chí
Khoa học Đại học Huế, Số 54, tr 177-184] [127]
Các nghiên cứu hiện nay vẫn dựa chủ yếu vào khung sinh kế bền vững của DFID với năm nguồn vốn cơ bản để phân tích, đánh giá khả năng thích ứng với sự biến đổi của các vùng nông thôn trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay Trong luận án sẽ xem xét sinh kế của người nông dân trên cơ sở tiếp cận các nguồn vốn của DFID trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
- Biến đổi sinh kế: Trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa, toàn cầu hóa
diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, việc biến đổi về sinh kế là một tất yếu Sự biến đổi sẽ đem đến một trạng thái mới (tốt hơn hoặc xấu hơn), do đó rất cần sự quản lý, sự định hướng để quá trình biến đổi theo chiều hướng tốt hơn Khi nghiên cứu về biến đổi sinh kế, tác giả Champen, Ashley, D Carney đã đưa ra các yếu tố biến đổi sinh kế
bao gồm: Thứ nhất, biến đổi về cơ cấu thu nhập; Thứ hai, biến đổi về phân công lao động Trong nghiên cứu về sinh kế ở khu vực nông thôn, còn thêm một yếu tố thứ ba
là quá trình chuyển đổi sinh kế từ nông nghiệp thuần túy sang nông nghiệp kết hợp với phi nông nghiệp (dịch vụ, làm thuê ) [129], [130]
Luận án sẽ xem xét sự biến đổi sinh kế của người nông dân theo lát cắt ngang
của cơ cấu kinh tế, cả truyền thống và đương đại, nghĩa là xem xét sự biến đổi theo ngành nghề như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và các hoạt động sinh kế khác dựa trên cơ sở năm nguồn vốn mà DFID đã đưa ra
Trang 30rất nhiều tổ chức và các quốc gia ứng dụng trong nghiên cứu về sinh kế hộ gia đình, cộng đồng, tộc người, đặc biệt là trong công tác xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh
tế - xã hội
Khi nghiên cứu và đề ra các chính sách phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, các quốc gia đều coi khung sinh kế bền vững của DFID là một tham chiếu để xem xét, đánh giá và hướng tới Theo lý thuyết này, DFID đã đưa ra 5 loại nguồn vốn đảm bảo sinh kế, bao gồm: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn vật chất và vốn tài chính Cụ thể như sau:
Vốn con người (human capital): bao gồm các kỹ năng, kiến thức, khả năng lao
động và sức khoẻ của con người, giúp họ theo đuổi những sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu của sinh kế Nguồn lực này đóng vai trò trung tâm, điều tiết các loại nguồn lực khác trong sinh kế bền vững
Vốn tự nhiên (natural capital): bao gồm các yếu tố có sẵn trong tự nhiên phục
vụ cho quá trình sinh kế của người dân như đất, nước, không khí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên… Trong vốn tự nhiên, đất đai đóng vai trò quan trọng nhất và quyết định đối với người nông dân trong việc đảm bảo sinh kế
Vốn xã hội (social capital): bao gồm các tiềm lực xã hội mà con người vạch ra
nhằm theo đuổi các mục tiêu sinh kế Nguồn lực xã hội được thể hiện thông qua hệ thống các mạng lưới, các mối liên kết, tính đoàn hội của các nhóm, tinh thần cộng đồng Bên cạnh đó là sự tương tác với các thiết chế chính trị, các thiết chế văn hóa, các chuẩn mực và sự ủng hộ
Vốn vật chất (physical capital): bao gồm cơ sở hạ tầng và các công cụ sản xuất
cần thiết để hỗ trợ sinh kế Nguồn vốn này đóng vai trò huyết mạch, đảm bảo sự kết nối các loại nguồn lực với nhau một cách nhanh chóng và thuận lợi
Vốn tài chính (financial capital): bao gồm các nguồn lực tài chính mà con
người sử dụng nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình Nguồn lực tài chính đóng vai trò là trung gian cho sự trao đổi, có ý nghĩa quan trọng đối với việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác Nguồn lực tài chính của người nông dân được xem xét
dưới hai nguồn cơ bản: i) nguồn vốn sẵn có (tiền tiết kiệm, vật nuôi, vay nợ các cơ
sở tín dụng…); ii) nguồn vốn vào thường xuyên (trợ cấp, các khoản tiền chuyển
nhượng từ Nhà nước, các khoản tiền gửi…) Khi người nông dân chuyển đổi mô hình sản xuất từ nhỏ lẻ, manh mún sang nền sản xuất hàng hóa thì nhu cầu về vốn là rất lớn
Trang 31Năm nguồn vốn cơ bản đó tạo thành một hình ngũ giác như sau:
Các nguồn vốn cần được nhìn nhận một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện môi trường sống của từng tộc người ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau Luận án sử dụng năm nguồn vốn của DFID để tham chiếu, phân tích, đánh giá, nhận xét và đưa
ra những giải pháp về biến đổi sinh kế của người nông dân ở huyện Gia Lộc
* Lý thuyết về sinh thái văn hoá
Lý thuyết về sinh thái văn hoá (Cultural ecology) ra đời vào khoảng những năm
40 của thế kỷ XX Người khởi xướng lý thuyết sinh thái văn hóa là J H Stewward, một
nhà văn hóa học người Mỹ Năm 1938 ông cho xuất bản tác phẩm “Các nhóm chính trị
xã hội thổ dân vùng thung lũng - cao nguyên” (Basin - Plateau Aboriginal Sociopolitical
Groups) đã đánh dấu sự ra đời của lý thuyết này, đồng thời cũng đánh dấu bước ngoặt trong sự phát triển của ngành nhân học Mỹ Sau đó, lý thuyết sinh thái văn hóa được M Beits, Andrew Vayda, Royppaport… tiếp tục hoàn thiện và phát triển
Lý thuyết này giải thích sự ảnh hưởng qua lại giữa môi trường tự nhiên và văn
hoá Cách tiếp cận nghiên cứu của Nhân học sinh thái văn hóa là tìm hiểu mối quan hệ
tương tác luôn động và sáng tạo giữa tự nhiên và văn hoá ở các tộc người tiền công nghiệp Vấn đề cốt lõi của lý thuyết về sinh thái văn hóa là mỗi tộc người, mỗi vùng miền và rộng ra là mỗi quốc gia hình thành, tồn tại và phát triển đều là kết quả của quá trình thích nghi với môi trường tự nhiên và xã hội Đối với một cộng đồng hoặc tộc người khép kín thì văn hóa sẽ chịu sự chi phối bởi môi trường tự nhiên và môi trường xã hội đang tồn tại Theo quan niệm của các học giả theo trường phái này, nghiên cứu sinh thái văn hoá nhằm giải thích mối quan hệ và ảnh hưởng qua lại giữa môi trường tự nhiên
và văn hóa Điều này cũng có nghĩa là văn hóa sẽ phản ánh môi trường sống mà nó hình thành, tồn tại Cũng theo lý thuyết này, môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi
Trang 32trường xã hội ảnh hưởng đến các đặc điểm văn hoá; trong đó, mỗi thành viên ứng xử theo cách khác nhau sẽ có những mức độ thành công khác nhau trong việc sinh tồn và tái sản xuất và sự ứng xử này sẽ có những biến đổi từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong quan niệm này, sinh kế là một phần của văn hóa, hoạt động sinh kế sẽ phản ánh trong văn hóa Như vậy, môi trường có ảnh hưởng quyết định đến văn hóa, cũng có nghĩa là quyết định đến phương cách kiếm sống (sinh kế) của con người Do đó, việc nghiên cứu
về sinh kế của người nông dân ở huyện Gia Lộc trong bối cảnh công nghiệp hóa và đô thị hóa hiện nay sẽ được đặt trong bối cảnh văn hóa truyền thống và hiện đại để xem xét
* Lý thuyết biến đổi văn hoá
Lý thuyết biến đổi văn hóa (Culture change) xuất hiện vào những năm 50 của thế kỷ XX cũng do J H Steward, một nhà văn hóa học người Mỹ khởi xướng Năm
1955, ông xuất bản tác phẩm “Lý thuyết về biến đổi văn hóa: Phương pháp luận về
tiến hóa đa hệ” (Theory of Cuture Change: The Methodology of Multilinear
Evolution), đã đánh dấu sự ra đời của lý thuyết biến đổi văn hóa
Nội dung cơ bản của lý thuyết biến đổi văn hóa cho rằng, trong quá trình tồn tại và phát triển, văn hóa không đứng yên mà luôn biến động, thay đổi Đứng yên chỉ
là trạng thái tương đối, sự vận động biến đổi mới là trạng thái tuyện đối của văn hóa
Sự vận động, biến đổi của văn hóa là tất yếu Quá trình biến đổi chịu sự tác động của nhiều yếu tố nội tại và cả những yếu tố ngoại sinh bên ngoài
Về những yếu tố tác động nội tại: Bản thân các điều kiện về tự nhiên, kinh tế,
xã hội cũng luôn thay đổi, do đó văn hóa cũng phải có những biến đổi cho phù hợp
Sự biến đổi văn hóa do tác động bởi những yếu tố nội tại sẽ giúp quá trình tiếp biến của văn hóa bản địa được hiệu quả hơn
Về những yếu tố tác động ngoại sinh: Sự giao lưu tiếp biến văn hóa bản địa với các nền văn hóa bên ngoài là tất yếu Lịch sử cho thấy, sự giao lưu văn hóa được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Có khi sự giao lưu văn hóa mang tính tự nguyện giữa các tộc người, các vùng miền hoặc các quốc gia với nhau Những cũng
có khi sự giao lưu được thực hiện một cách cưỡng bức thông qua sự xâm lược, đồng hóa giữa các quốc gia, các tộc người với nhau
Trong một nền văn hóa hiện nay luôn tồn tại hai lớp: một lớp văn hóa gốc, bản địa, nội sinh và một lớp văn hóa học hỏi và chịu ảnh hưởng từ bên ngoài Tuy nhiên,
sự học hỏi từ nền văn hóa bên ngoài không phải là học nguyên xi mà có sự tiếp biến
cho phù hợp
Trang 33Lý thuyết biến đổi văn hóa được tác giả vận dụng vào trong quá trình làm luận
án để xem xét từng lớp văn hóa ở địa bàn nghiên cứu Luận án tìm hiểu nền văn hóa gốc để từ đó thấy được sự du nhập, tác động của nền văn hóa ngoại sinh, thấy được
sự tiếp biến văn hóa của người nông dân huyện Gia Lộc, đặc biệt trong mối quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm và được đặt trong các hoạt động sinh kế
* Lý thuyết về phát triển bền vững
Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung: “Sự phát triển của nhân loại
không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” Khái niệm này được
phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và
Phát triển Thế giới - WCED Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát
triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ”
Nội dung cốt lõi của lý thuyết phát triển bền vững là phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, không khai thác cạn kiệt tài nguyên, tàn phá môi trường
và không làm xuống cấp các giá trị văn hóa… Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường
Tại Việt Nam, khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến vào cuối thập
niên 80 đầu thập niên 90 Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ Trong các chương trình, dự án hiện nay ở Việt Nam, vấn đề phát triển bền vững luôn được đặt lên hàng đầu bởi sự cấp bách của nó Việc nghiên cứu sinh kế của người nông dân trong bối cảnh công nghiệp hóa và đô thị hóa hiện nay cũng rất cần đến tính bền vững Do đó, lý thuyết về phát triển bền vững được sử dụng làm tham chiếu không chỉ để xem xét sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung mà còn nhằm xem xét, đánh giá về chiến lược sinh kế của người nông dân
1.3 Khái quát về huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên
Về vị trí địa lý, Gia Lộc là một huyện nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hải Dương
thuộc châu thổ đồng bằng sông Hồng Huyện Gia Lộc nằm trong tọa độ 1060 14’15”đến
1060 21’01” kinh độ Đông, 200 46’38”đến 200 55’23” vĩ độ Bắc; phía Bắc giáp thành phố
Trang 34Hải Dương, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Thanh Miện và Ninh Giang, phía Đông
giáp huyện Tứ Kỳ và phía Tây giáp huyện Bình Giang (xem Phụ lục 1)
Về mặt địa hình, huyện Gia Lộc có địa hình tương đối bằng phẳng, có xu hướng
thấp dần từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam và từ Tây sang Đông, vùng cao nhất là +3,5m ở xã Đoàn Thượng, vùng thấp nhất từ +0,6m đến +1,5m nằm rải rác ở các thôn ven sông Phần lớn các vùng đất có độ cao từ +1m đến 2,7m Do địa hình tương đối bằng phẳng, phì nhiêu kèm theo các điều kiện về thời tiết, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng thuận lợi cho nền sản xuất nông nghiệp lúa nước nên con người tập trung sinh sống trong các làng và thực hành nông nghiệp (chủ yếu là canh tác lúa nước) ở đây khá sớm Các làng mạc trong huyện khá tập trung với mật độ dân số tương đối cao Đây cũng là điều kiện thuận lợi để huy động nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế và cũng là thị trường tiêu thụ lớn trong huyện
Về mặt khí hậu, huyện Gia Lộc nằm trong vùng khí hậu gió mùa nóng, ẩm của
miền Bắc Khí hậu được chia thành hai mùa khá rõ rệt Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Nhiệt độ trung bình trong năm là 23,60C Nhiệt độ nóng nhất trong khoảng 37-390C (thường vào tháng 6 và tháng 8) Nhiệt độ lạnh nhất khoảng 8-100C (thường vào tháng 1 và tháng 2) Độ ẩm không khí trung bình từ 75% đến 85% Tốc độ gió trung bình năm từ 1,2m/s đến 2,5m/s Số giờ nắng trung bình trong năm là 1.600 - 2.000 giờ Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.622mm, cao hơn mức trung bình của tỉnh (1.616mm) Lượng mưa năm cao nhất là 2.310mm và năm thấp nhất 1.250mm
Bên cạnh đó, huyện Gia Lộc cũng chịu ảnh hưởng của hai loại gió rõ rệt, gió Đông Bắc xuất hiện vào mùa đông và gió Đông Nam xuất hiện vào mùa hè Vào các tháng chuyển tiếp giữa các mùa, thỉnh thoảng xuất hiện gió Tây Nam và Đông Nam Điều kiện khí hậu như vậy đã hình thành bốn mùa xuân - hạ - thu - đông và mỗi mùa lại phù hợp cho những cây trồng, vật nuôi khác nhau Do đó, mùa nào thức ấy, quanh năm trong huyện luôn có các cây con đặc trưng theo mùa, rất đa dạng và phong phú
Về thủy văn, huyện Gia Lộc có hệ thống sông ngòi, kênh rạch khá dày đặc và
đa dạng Trong huyện có nhiều con sông mang nhiều phù sa chảy qua, lớn nhất là sông Thái Bình được chia thành nhiều nhánh, rồi đến các con sông nhỏ khác: sông Sặt chảy qua một số xã phía Bắc và phía Tây của huyện; sông Đĩnh Đào từ xã Trùng Khánh đến xã Thống Kênh; sông Đồng Tràng chảy từ xã Gia Xuyên đến xã Hoàng Diệu… Ngoài ra, trong toàn huyện còn có hàng trăm km kênh mương chảy theo
Trang 35hướng nghiêng của địa hình Hàng năm, tuy hệ thống sông này gây ra lũ lụt nhưng cũng cung cấp một lượng phù sa rất lớn cho các cánh đồng Hệ thống thủy lợi đã giúp phát triển các cây trồng ưa nước (điển hình là lúa nước) và thuận lợi để phát triển một
số loại gia cầm, nuôi trồng thủy sản…, tạo sự đa dạng trong cơ cấu cây trồng, vật nuôi ở Gia Lộc
Về thổ nhưỡng, vùng đất huyện Gia Lộc có gốc tích phù sa bồi đắp do hệ
thống sông Hồng và sông Thái Bình tạo nên Đất ở đây chủ yếu là đất thịt nhẹ, cát pha, gồm các loại chính sau: i) Đất phù sa có feralit bạc màu, phân bổ chủ yếu ở các
xã phía Đông của huyện; ii) Đất phù sa không được bồi glây, trung tính, ít chua, phân
bố chủ yếu ở các xã phía Bắc của huyện; iii) Đất phù sa được bồi glây phân bố rải rác
ở một số xã phía Nam của huyện; và iv) Đất phù sa không được bồi glây, ít chua, phân bố rải rác ở một số xã phía Tây và phía Nam của huyện Đặc điểm nổi bật về thổ nhưỡng của huyện Gia Lộc là đất chua, nghèo dinh dưỡng, nhưng qua nhiều năm thâm canh và cải tạo chất đất, đã trở nên màu mỡ hơn Sự đa dạng về đất dẫn đến sự phong phú và đa dạng về các loại cây trồng tương ứng với từng loại đất
Như vậy, đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên như vừa đề cập ở trên đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước, ở huyện Gia Lộc Những thuận lợi này cũng là những khởi đầu và nguyên nhân quan trọng khiến cư dân sống mật tập ở vùng này từ rất sớm Để sinh tồn và phát triển, con người Gia Lộc đã tìm kế sinh nhai chủ yếu thông qua các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi Cho đến nay, hoạt động sinh kế chủ yếu của người dân huyện Gia Lộc vẫn là sản xuất nông nghiệp Gắn liền với nó là đời sống văn hóa - xã hội phong phú của con người nơi đây
1.3.2 Đặc điểm văn hóa
Điều kiện tự nhiên trù phú và nền nông nghiệp phát triển, cùng với sự du nhập
từ rất sớm của các tôn giáo khác nhau, đã làm cho đời sống tinh thần của người dân nơi đây rất đa dạng và phong phú Gia Lộc là một trong những huyện của tỉnh Hải Dương
có hệ thống các đình, chùa, miếu mạo đặc sắc với hệ thống cảnh đẹp có kiến trúc độc đáo mang nhiều giá trị to lớn
Tính đến năm 2012, tổng số cơ sở tín ngưỡng, văn hóa là 72 cơ sở (đình, đền), có
27 cơ sở đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử (06 cơ sở), xếp hạng di tích văn hoá (02 cơ sở), xếp hạng di tích lịch sử văn hoá (15 cơ sở), xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật (04 cơ sở) [22]… Đây là không gian lý tưởng để nhân dân thực hiện các hoạt động
Trang 36sinh hoạt văn hóa, giao lưu trao đổi sau những giờ làm việc đồng áng vất vả hoặc vào những dịp tết đến xuân về Cũng chính từ không gian này, các giá trị văn hóa phi vật chất được phát huy, nhân rộng, bồi đắp và phát triển làm phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân nơi đây Các không gian văn hóa này sẽ góp phần giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống, đạo đức, tinh thần cao đẹp của địa phương và dân tộc
Bên cạnh không gian văn hóa, các hoạt động nhằm tăng cường sự đoàn kết, củng cố tinh thần cộng đồng và giải trí cũng thường xuyên được tổ chức Các hoạt động như bơi Chải ở Yết Kiêu, múa rối nước ở Lê Lợi, vật, đánh pháo đất ở Đức Xương và Gia Tân, đánh thó (đánh gậy) ở Phương Hưng, thị trấn Gia Lộc, hát tuồng, chèo ở Gia Lương, hát đúm, hát ả đào, ca trù… thường được tổ chức vào những dịp tết đến xuân về hoặc lúc nông nhàn Hàng năm, nhân dân trong huyện Gia Lộc tổ chức rất nhiều lễ hội truyền thống như lễ hội Đền Quát, thờ danh tướng Yết Kiêu đời Trần, lễ hội Đền Cối Xuyên (Đề Cuối) thời danh Tướng Nguyễn Chế Nghĩa [68]… Các lễ hội không chỉ củng cố tinh thần đoàn kết, vui chơi giải trí mà còn góp phần giáo
dục truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng cho thế hệ trẻ (xem Ảnh 6, Phụ lục 3)
Đặc điểm văn hóa ở huyện Gia Lộc mang màu sắc chung và đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ, đó là nền văn hóa cộng đồng làng xã với các hoạt động tập thể gắn với nông nghiệp Các hoạt động văn hóa, văn nghệ cộng đồng được tổ chức khá thường xuyên nhằm giúp bù đắp những thiếu thốn về tinh thần cho người nông dân Người nông dân có ít cơ hội được tiếp cận và giao lưu rộng rãi nên mỗi dịp lễ hội hoặc mỗi khi tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ cộng đồng, người nông dân huyện Gia Lộc thường rất háo hức, mong chờ và tham gia rất nhiệt tình
Ở các gia đình và dòng họ, các giá trị văn hóa truyền thống vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày này Mối quan hệ cha - con, vợ - chồng, anh - em, bạn bè được thực hiện theo đúng tôn ti trật tự Trong truyền thống, mỗi gia đình ở Gia Lộc vẫn là cái nôi nuôi dưỡng, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của gia đình, dòng họ, làng
xã và quê hương Cũng chính các giá trị văn hóa truyền thống này đã cố kết cộng đồng, giáo dục sự tương trợ lẫn nhau, yêu thương đùm bọc giữa những người trong
gia đình, dòng họ, làng xóm nhất là những lúc khó khăn “Tối lửa tắt đèn có nhau”
Những nét văn hóa đặc trưng trong gia đình của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đều được lưu giữ và phản ánh khá rõ nét trong các gia đình của huyện Gia Lộc
Những giá trị văn hóa, tinh thần truyền thống được bồi đắp qua các thế hệ tạo thành sức mạnh giúp người nông dân huyện Gia Lộc vượt qua những khó khăn trong
Trang 37cuộc sống Mặc dù trải qua những thăm trầm lịch sử nhưng người nông dân huyện Gia Lộc vẫn một lòng một dạ theo Đảng, đóng góp sức người sức của trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước
1.3.3 Đặc điểm xã hội
Gia Lộc là mảnh đất trù phú, nơi con người xuất hiện sớm và mong muốn sinh sống, lập nghiệp Trải qua những thăng trầm lịch sử con người đã quần cư thành các làng xóm đông đúc như hiện nay Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cấp tổng bị xóa bỏ, hình thành cấp xã, mỗi xã bao gồm một số thôn Khi đó, Gia Lộc có thêm xã Hoàng Diệu và hai thôn Lũy Dương và Xuân Dương thuộc xã Gia Lương (do huyện
Tứ Kỳ chuyển sang) Trong kháng chiến chống Pháp, số xã, thôn được điều chỉnh lại còn 21 xã, gồm 114 thôn [6, 13]
Ngày 26/1/1968, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ra Nghị quyết số TVQH về việc hợp nhất hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên lấy tên là Hải Hưng Huyện Gia Lộc khi đó thuộc tỉnh Hải Hưng
504/NQ-Ngày 24/2/1979, Thường trực Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Quyết định số 70/CP về việc hợp nhất hai huyện Gia Lộc và Tứ
Kỳ và lấy tên là huyện Tứ Lộc, huyện lỵ được đặt lại Gia Lộc (thuộc địa bàn hai xã Nghĩa Hưng và Phương Hưng cũ)
Ngày 28/6/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/CP về việc thành lập thị trấn Gia Lộc trên cơ sở diện tích, dân số của xã Nghĩa Hưng và thôn Phương Điếm (xã Phương Hưng) Huyện lỵ Gia Lộc xưa đóng ở làng Lạc Thị thuộc xã Lê Lợi, nhưng sau chuyển về đóng ở làng Hội Xuyên, xã Nghĩa Hưng
Ngày 27/1/1996, Chính phủ đã ra Nghị định số 05/CP về việc tách huyện Tứ Lộc thành hai huyện cũ là Gia Lộc và Tứ Kỳ Từ ngày 1/3/1996, hai huyện bắt đầu làm việc theo đơn vị hành chính như trước khi hợp nhất Trụ sở huyện Gia Lộc đặt tại thị trấn Gia Lộc ngày nay
Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã ra Nghị quyết tách tỉnh Hải Hưng để tái lập hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên Huyện Gia Lộc thuộc tỉnh Hải Dương từ đó cho đến ngày nay
Ngày 20 tháng 3 năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
30/2008/NĐ-CP điều chỉnh địa giới thành phố Hải Dương Theo đó, sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã: Thạch Khôi, Tân Hưng thuộc huyện Gia Lộc về thành phố Hải Dương quản lý Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, huyện Gia Lộc còn lại
Trang 3811.181,37ha diện tích tự nhiên và 137.586 nhân khẩu, có 23 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: Liên Hồng, Thống Nhất, Trùng Khánh, Yết Kiêu, Gia Hoà, Lê Lợi, Phương Hưng, Toàn Thắng, Đoàn Thượng, Phạm Trấn, Đồng Quang, Quang Minh, Nhật Tân, Đức Xương, Hồng Hưng, Thống Kênh, Hoàng Diệu, Gia Lương, Gia Khánh, Gia Tân, Tân Tiến, Gia Xuyên và thị trấn Gia Lộc
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính huyện Gia Lộc các khu công nghiệp, khu
đô thị trên địa bàn huyện Gia Lộc có điều kiện, cơ hội hình thành và phát triển Các xã trước kia xa thành phố Hải Dương thì nay tiệm cận gần hơn, đời sống đô thị đến gần hơn Sự thay đổi về địa giới hành chính đã kéo theo sự thay đổi mọi mặt kinh tế, văn hóa,
xã hội, trong đó có sự thay đổi về cơ cấu dân số, nhân lực và các mối quan hệ xã hội
Các gia đình vẫn mang đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ, đó là cấu trúc gia đình
lớn Các thế hệ sống chung dưới một mái nhà tạo thành “tam đại đồng đường”, “tứ đại
đồng đường” khá phổ biến Quy mô gia đình lớn nhiều thế hệ sống chung một mái nhà,
chung không gian sống tưởng chừng như “bất biến” bởi nó đã tồn tại hàng trăm năm,
qua nhiều thế hệ Thông qua quy mô gia đình nhiều thế hệ, các giá trị truyền thống của gia đình, dòng họ, làng xóm đã được bảo tồn và phát huy rất hiệu quả; tuy nhiên, chúng
đã “trói buộc” tư duy, khả năng sáng tạo và “cái tôi” của mỗi cá nhân Mối quan hệ chủ
đạo chi phối các mối quan hệ khác trong gia đình là ông - bà, cha - mẹ với tính mệnh
lệnh “gia trưởng” ở người đàn ông rất cao Người phụ nữ phải thực hiện theo nguyên tắc “phu xướng phụ tùy”, “thuyền theo lái, gái theo chồng”
Các đặc điểm về xã hội với lịch sử truyền thống lâu đời, mối quan hệ gia đình dòng họ, làng xóm chặt chẽ đã giúp tăng cường sự đoàn kết cộng đồng, tương hỗ nhau trong hoạt động sinh kế
1.3.4 Giới thiệu về hai điểm nghiên cứu: xã Gia Lương và xã Liên Hồng
1.3.4.1 Xã Gia Lương
Gia Lương là một xã thuộc huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương và nằm ở phía Đông của huyện, phía Tây giáp xã Gia Khánh, phía Nam giáp xã Hoàng Diệu, phía Đông bắc giáp xã Tân Tiến Gia Lương có chiều dài gần 3km, chiều rộng 2km, gồm các thôn Thành Lập, Đồng Tâm, Cộng Hòa, Xuân Dương, Trình Xá và Lũy Dương
Tổng số hộ của xã tính đến năm 2014 là 1.706 hộ với 4.885 người Số người trong
độ tuổi lao động của xã là 2.970 người, chiếm 60,8% Đây là nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của xã nhưng nó cũng tạo ra áp lực lớn cho vấn đề giải quyết việc làm Đến năm 2015, trong toàn xã có 96/1.706 hộ nghèo (chiếm 5,6%) với 164 nhân khẩn; 82/1.706 hộ cận nghèo (chiếm 4,7%) với 201 nhân khẩu [111]
Trang 39Điều kiện về tự nhiên, thủy văn, thổ nhưỡng, địa hình của xã Gia Lương không
có nhiều khác biệt so với đặc điểm chung của toàn huyện Đây là vùng đất màu mỡ, phì nhiêu, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, người dân sống quây quần, đầm ấm, tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày
Trong truyền thống, quá trình sản xuất ở Gia Lương mang nặng tính tự cấp, tự túc Hàng hóa sản xuất ra chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của người dân và làm nghĩa vụ với Nhà nước Nếu năm nào mưa thuận gió hòa, có chút dư thừa, người dân mang ra chợ trao đổi, nhưng việc trao đổi này cũng nhằm đổi lấy những sản vật phục vụ cho cuộc sống chứ rất ít khi được tích lũy dưới dạng tiền tệ Cũng do việc mua bán trao đổi không phổ biến nên chợ ở Gia Lương rất ít phát triển Nền kinh tế nông nghiệp khép kín, ít áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã dẫn đến một nền sản xuất nhỏ lẻ và lạc hậu, làm hạn chế việc tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa Nền kinh tế truyền thống đó được người nông dân chấp nhận và duy trì vì nó đã đáp ứng được nhu cầu của họ: đủ ăn,
đủ mặc, còn các nhu cầu tinh thần và vật chất cao hơn rất ít được quan tâm
Cho đến nay, do vị trí địa lý xã trung tâm, không có tuyến quốc lộ chạy qua, nên trên địa bàn xã Gia Lương chưa có một khu cụm công nghiệp nào, cũng không có các công trình dân sinh, công trình phục vụ an ninh quốc phòng Cuộc sống của người nông dân nơi này vẫn tương đối thuần nông, sự biến đổi sinh kế của người nông dân chưa nhiều Đa số diện tích đất nông nghiệp vẫn sử dụng vào mục đích trồng trọt chăn nuôi, chỉ có một số ít chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang nuôi thủy sản hoặc nhà ở Các hoạt động công nghiệp và dịch vụ của xã chưa phát triển Người nông dân vẫn chủ yếu sống bằng nghề nông, một số người trẻ khỏe thì đi làm công nhân ở các khu công nghiệp hoặc đi làm thuê ở các tỉnh khác Quá trình đô thị hóa đang diễn ra khá mạnh mẽ ở huyện Gia Lộc, nhưng so với tốc độ chung của huyện thì xã Gia Lương có tốc độ đô thị hóa chậm hơn
1.3.4.2 Xã Liên Hồng
Xã Liên Hồng nằm ở phía Bắc huyện Gia Lộc, cách trung tâm huyện khoảng 3km về phía Tây Bắc; phía Đông giáp xã Thạch Khôi và xã Gia Xuyên; phía Tây giáp xã Thống Nhất; phía Nam giáp xã Gia Hòa và Thị Trấn Gia Lộc; phía Bắc giáp sông Kẻ Sặt và xã Tứ Minh (Thành phố Hải Dương)
Diện tích tự nhiên hiện nay là 939,09ha Chiều dài của xã gần 4km, từ cánh đồng giáp thôn Lễ Quán (Thạch Khôi) đến cánh đồng giáp thôn Ty (Thống Nhất), chiều rộng khoảng 3km, từ thôn Nợ (Gia Hòa) đến bờ sông Kẻ Sặt
Trang 40Tính đến cuối năm 2014, toàn xã Liên Hồng có 3.025 hộ với 9.443 nhân khẩu, gồm nhiều dòng họ: Nguyễn, Phạm, Lê, Vũ, Phùng, Trần, Tăng, Trịnh, Bùi, Mai, Đồng, Ngô, Hồ, Đào, Đỉnh, Đoàn Số người trong độ tuổi lao động là 5.702 người, chiếm 60,4% Đây là nguồn nhân lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của xã, nhưng cũng tạo ra những áp lực về giải quyết việc làm lớn cho xã Đến năm 2015, trong toàn xã có 140/3.025 hộ nghèo (chiếm 4,6%) với 336 nhân khẩn; 106/3.025 hộ cận nghèo (chiếm 3,5%) với 231 nhân khẩu [111] Tỷ lệ hộ nghèo thấp cũng phản ánh mức sống và điều kiện kinh tế của người nông dân xã Liên Hồng đã có nhiều khởi sắc
Cũng như xã Gia Lương, điều kiện về tự nhiên, thủy văn, thổ nhưỡng, địa hình của xã Liên Hồng không có nhiều khác biệt so với đặc điểm chung của toàn huyện Đây là vùng đất màu mỡ, phì nhiêu, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, người dân sống quây quần, đầm ấm, tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày
Trải qua nhiều biến động của lịch sử, địa giới và tên gọi hành chính của Liên Hồng có nhiều thay đổi Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, theo thiết chế hành chính của Nhà nước phong kiến, mỗi làng là một xã (nhất xã, nhất thôn); Liên Hồng có 5 làng (lúc ấy gọi là 5 xã): Tâng Thượng, Phú Triều, Thanh Xá, Qua Bộ, Đồng Lại Năm
xã trên đều thuộc Tổng2
Bao Trung, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương Qua nhiều lần chia tách sáp nhập, đến ngày nay, xã Liên Hồng có 5 thôn: Tâng Thượng, Phú Triều, Thanh Xá, Qua Bộ, Đồng Lại
Trong truyền thống, xã Liên Hồng là một xã thuần nông với cuộc sống chủ yếu nhờ vào sản xuất nông nghiệp và các hoạt động mưu sinh khác Người dân nơi đây sống chủ yếu nhờ trồng trọt và chăn nuôi, trong đó cây lúa là cây trồng chủ đạo Nền sản xuất của xã Liên Hồng vẫn là khép kín, nhỏ lẻ, manh mún, hàng hóa sản xuất ra chủ yếu đáp ứng nhu cầu của người dân địa phương, rất ít hàng hóa dư thừa mang ra trao đổi Do đó, các hoạt động công nghiệp, thương mại rất hạn chế Cũng như xã Gia Lương, xã Liên Hồng không có nghề truyền thống, người dân nơi đây chủ yếu đi làm thuê ở các làng nghề trong huyện những lúc nông nhàn
Hiện nay với vị trí địa lý thuận lợi, giáp thành phố Hải Dương, gần đường quốc lộ, nhiều công trình phục vụ việc phát triển kinh tế - xã hội đã đẩy nhanh quá trình đô thị hóa trên địa bàn xã Liên Hồng Đến nay, trên địa bàn xã Liên Hồng, đã xuất hiện rất nhiều cụm, khu công nghiệp, bệnh viện, trường học, các công trình phục
2 Đơn vị hành chính thời Pháp thuộc, gồm nhiều xã