Tóm lại, nghiên cứu về nhân viên công tác xã hội trong việc quản lý, nuôi dưỡng, điều trị, phục hồi chức năng cho người tâm thần tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội còn rất ít ỏi; cho đến n
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HÀ THỊ THƯ
Hà Nội, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Lại Tiến Thắng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC
XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI TÂM THẦN 12
1.1 Khái niệm và đặc điểm người tâm thần 12 1.2 Lý luận về nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần 191.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhân viên công tác xã hội trong hoạt động trợ giúp người tâm thần 27 1.4 Cơ sở pháp lý về nhân viên công tác xã hội trong hoạt động nghề nghiệp 30
Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ NHÂN VIÊNCÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TÂM THẦN TỈNH NINH BÌNH 34
2.1 Đặc điểm về địa bàn và khách thể nghiên cứu 34 2.2 Thực trạng về yêu cầu đối với nhân viên xã hội trong hoạt động trợ giúp người tâm thần tại Trung tâm 42
Chương 3 BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TÂM THẦN TỈNH NINH BÌNH 60
3.1 Biện pháp nâng cao năng lực, trình độ cho nhân viên công tác xã hội với người tâm thần 603.2 Biện pháp nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý về nhiệm, chức năng của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần 623.3 Biện pháp xây dựng mô hình về nhân viên công tác xã hội với người tâm thần tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình 65
KẾT LUẬN 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng Nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm những năm gần đây 35 Bảng 2.2 Đánh giá về số lượng Nhân viên công tác xã hội so với yêu cầu công việc tại Trung tâm 36 Bảng 2.3 Nhân viên công tác xã hội theo thâm niên công tác và theo giới tính 37 Bảng 2.4 Xếp loại về thi đua của đội ngũ Nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm 38 Bảng 2.5 Trình độ học vấn của đội ngũ nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm 39 Bảng 2.6 Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần được đào tạo về công tác xã hội 40 Bảng 2.7 Nhân viên công tác xã hội được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng liên quan đến người tâm thần 41 Bảng 2.8: Phẩm chất đạo đức của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần 43 Bảng 2.9 Mức độ đáp ứng yêu cầu về kiến thức liên quan đến công tác xã hội với người tâm thần qua cách nhìn nhận của Nhân viên công tác xã hội 44 Bảng 2.10 Mức độ đáp ứng yêu cầu về kỹ năng liên quan đến công tác xã hội với người tâm thần qua cách nhìn nhận của Nhân viên công tác xã hội 46 Bảng 2.11 Mức độ thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ chăm sóc y tế của nhân viên công tác xã hội với người tâm thần 48 Bảng 2.12 Mức độ thực hiện nhiệm vụ tư vấn, tham vấn của nhân viên công tác xã hội với người tâm thần 50 Bảng 2.13 Mức độ thực hiện nhiệm vụ phục hồi chức năng lao động của nhân viên công tác xã hội với người tâm thần 52 Bảng 2.14 Mức độ thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục của nhân viên công tác xã hội với người tâm thần 54 Bảng 2.15 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhân viên CTXH với người tâm thần 56
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình phát triển của bất cứ một Quốc gia nào đều phải quan tâm đến công tác an sinh xã hội Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội, đặc biệt là nhân lực thực hiện công tác xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực
để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta
Trong lĩnh vực bảo trợ xã hội, đối tượng phục vụ rất lớn và phức tạp, trong đó có đối tượng là người tâm thần đang được quản lý - chăm sóc - phục hồi chức năng tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội với số lượng lớn và có xu hướng ngày càng gia tăng Nhân viên công tác xã hội trước đây được đào tạo
là rất ít, hiện đang làm việc tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội, công tác xã hội còn xem là hoạt động từ thiện và còn nhiều bất cập, hệ thống cung cấp dịch
vụ trợ giúp xã hội còn mỏng, đội ngũ làm nghề công tác xã hội vừa thiếu về
số lượng, lại hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ; sự nhận biết của xã hội về nghề công tác xã hội còn hạn chế
Thực tế nhiều năm qua cho thấy, các chủ trương, chính sách về phát triển nghề công tác xã hội ngày càng được cụ thể hóa, đáp ứng tốt hơn những nhu cầu của xã hội đặc biệt là người khuyết tật, người yếu thế, trong đó có người tâm thần như Đề án 32/2010/QĐ-TTg của Chính phủ về phát triển nghề công tác xã hội, Đề án 1215/2011/QĐ-TTg của Chính phủ, phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020
Đối với Tỉnh Ninh Bình trong những năm qua công tác an sinh xã hội luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm Đặc biệt khi đề án 32, Đề
Trang 8sở vật chất phục vụ đối tượng được cải tạo, nâng cấp; nhiều lớp tập huấn, học tập nâng cao nhận thức về nghề công tác xã hội, trợ giúp người tâm thần được
tổ chức trong toàn tỉnh, nhất là cho cán bộ, nhân viên làm trong lĩnh vực Bảo trợ xã hội Từ đó đời sống vật chất và tinh thần của người tâm thần ngày càng được nâng cao, tính chuyên nghiệp của nhân viên công tác tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội được cải thiện
Các công trình nghiên cứu về công tác xã hội chung thì đã có, tuy nhiên nghiên cứu về nhân viên công tác xã hội đối làm việc trong lĩnh vực chăm sóc người tâm thần thì khá mới mẻ
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Nhân viên Công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần Tỉnh Ninh Bình” làm
luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới nghiên cứu dịch tễ học về các rối loạn tâm thần từ lâu đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách vì tính hữu dụng của nó Đã có rất nhiều những nghiên cứu về dịch
tễ học sức khỏe tâm thần
Sự phát triển dịch tễ học tâm thần chia ra 4 giai đoạn Đáng lưu ý là, trước đây, trong quá trình lịch sử, cách hiểu về các vấn đề tâm thần đã có.[26;29]
* Giai đoạn thứ nhất:
Giai đoạn này bắt đầu từ thời gian đầu xuất hiện dịch tễ học và kéo dài đến giữa thế kỷ 20 (năm 1950) Những nghiên cứu trong giai đoạn này dựa trên số liệu của người bệnh ở bệnh viện, nên nghiên cứu đã bỏ qua những người có bệnh nhưng không đến bệnh viện Kết quả là những số liệu thống kê trong giai đoạn này thường đơn lẻ và không mang tính đại điện, không thể
Trang 9hiện được tỉ lệ bệnh tâm thần trong cộng đồng [10, tr.63-65] Trong đó có tác giả Robert Faris và Warren Dunham nghiên cứu tại chỗ ở của người bệnh tâm thần, giữa những năm 1922 và 1934 tại Chicago; kết quả cho thấy, tỷ lệ Tâm thần phân liệt ở nông thôn thấp hơn ở thành thị
* Giai đoạn thứ hai từ nhăm 1950 đến 1980
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, có nhiều quân nhân bị bệnh tâm thần,
tỷ lệ bệnh tâm thần ở trong quân đội được quan tâm và nghiên cứu, nhiều cuộc điều tra trong quân đội được tiến hành Từ đây, khái niệm điều tra trong cộng đồng bắt đầu được sử dụng Trong dân sự, các nhà tâm thần học bắt đầu nghiên cứu bệnh tâm thần trong cộng đồng và bắt đầu điều tra bệnh tâm thần trong cộng đồng Trong giai đoạn này, các nhà nghiên cứu cũng bắt đầu sử dụng các bảng câu hỏi để nghiên cứu tại cộng đồng Sau đây là một vài thí dụ:
Trong điều tra ở Midtown Manhattan, do chuyên viên xã hội tiến hành, việc đánh giá người bệnh dựa vào hậu quả của bệnh tâm thần, kết quả điều tra cho thấy, 23% mẫu bị bệnh tâm thần nặng Điều tra Stirling County ở New York trên 1.010 hộ dân dựa trên bộ câu hỏi, và dựa vào Cẩm Nang Hướng Dẫn Thống Kê Chẩn Đoán về Các Chứng Bệnh Tâm thần lần 1 của Hiệp hội tâm thần Mỹ Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh tâm thần là 20% dân số
Những nghiên cứu trong giai đoạn này đã cung cấp được số liệu về tỉ lệ các vấn đề trong cộng đồng, nhờ sử dụng bảng câu hỏi mà kết quả có tính chất thống nhất và khách quan Tuy nhiên, phương pháp chẩn đoán và thu thập số liệu chưa được thống nhất giữa các cuộc điều tra Bên cạnh đó các công cụ nghiên cứu trong giai đoạn này không dựa vào các tiêu chuẩn chẩn đoán Số liệu từ những cuộc điều tra cộng đồng trên diện rộng sử dụng các bảng hỏi tự thuật về các dấu hiệu căng thẳng, đau buồn những không dựa trên các tiêu chuẩn chẩn đoán tổ chức hợp lý [27, Tr 221 - 223]
Trang 10* Giai đoan thứ ba từ 1980 đến 1990:
Trong giai đoạn này, các bảng câu hỏi vẫn được sử dụng trong các điều tra, nhưng với sự ra đời của ICD 10 và DSM IV, các bảng câu hỏi đã dựa trên những tiêu chuẩn chẩn đoán rõ ràng và hợp lý Sự ra đời của ICD 10 và DSM
IV được đánh giá là nền tảng cho sự tiến bộ lớn về phương pháp cho các nghiên cứu dịch tễ học [10, Trg 222] Bộ câu hỏi được chú ý trong giai đoạn này là Bảng liệt kê phỏng vấn chẩn đoán (Diagnostic Interview Schedule -DIS) xây dựng dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM IV Sau đây là một vài cuộc điều tra:
Điều tra dịch tễ vùng (Epidemiological Catchment Area - ECA) tại Hoa kỳ, [28; tr.63] với bộ câu hỏi Bảng liệt kê phỏng vấn chẩn đoán (DIS), xác định tỷ lệ bệnh tại Hoa kỳ, được coi là cuộc điều tra đầu tiên trên thế giới
có sử dụng phiếu hỏi chẩn đoán Kết quả nghiên cứu cho thấy trong vòng sáu tháng, cứ năm người Mỹ thì có một người bị mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần Nếu tính trong thời gian của cả đời, thì cứ 3 người Mỹ sẽ có người mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần
* Giai đoạn thứ tư từ 1990 đến nay: Các điều tra trong giai đoạn này cũng nhằm nhiều mục đích khác nhau: tỷ lệ bệnh trong cộng đồng, các thiệt hại của bệnh tâm thần, nhận thức của xã hội về bệnh tâm thần, tổ chức y tế v.v Cuộc điều tra quốc gia ở Úc năm 1999 [29, Tr 197-205], với bộ câu hỏi Bảng phỏng vấn chẩn đoán quốc tế tổng hợp (Composite International Diag-nostic Interview - CIDI) ngoài việc xác định tỷ lệ bệnh tâm thần trong cộng đồng, cuộc điều tra này còn nghiên cứu thiệt hại do bệnh tâm thần gây ra, chất lượng cuộc sống và sử dụng các dịch vụ y tế Kết quả nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ người dân mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến là 17,7% Trong tổng số những người mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần, có 4,6% không bao giờ liên lạc với các cơ sở chăm sóc sức khỏe, 29,4% đã có gặp bác
sĩ và 7,5% đã có gặp bác sĩ tâm thần trong năm qua
Trang 11Lần đầu tiên cuộc điều tra của Tổ chức Y tế thế giới năm 1990 (WHO) với bộ câu hỏi CIDI, trên 60.559 người ở trên 14 quốc gia khác nhau để xác định tỷ lệ bệnh tâm thần trong cộng đồng, thiệt hại do bệnh tâm thần gây ra;
và bộ câu hỏi khảo sát việc sử dụng dịch vụ y tế; hoạt động của ngành y tế
2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Một trong những nghiên cứu đầu tiên phải kể đến nghiên cứu dịch tễ về bệnh tâm thần phân liệt do Nguyên Văn Siêm thực hiện, nghiên cứu trên một phường tại Thành Phố Đà Nẵng, khảo sát toàn bộ các hộ trong phường với tổng số hộ dân là 23758 Khảo sát đựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán ICD 10, tác giả sử dụng hai phiếu khảo sát: a) khảo sát sàng lọc: “Phiếu sức khỏe gia đình” b) sau đó nếu tìm thấy những dấu hiệu nghi bệnh, người bệnh tiến hành
“Bảng phỏng vấn bệnh tâm thần phân liệt” Kết quả: tỷ lệ mắc chung là 0,52 - 0,61% dân số Tỷ lệ mắc điểm là 0,49 - 0,53% Tỷ lệ mới mắc trong một năm 0,29 - 0,56%o Xác suất mắc bệnh 1,26 - 1,44% Tỷ số bệnh nhân nữ/nam là 0,9 Số bệnh nhân khởi phát ở độ tuổi 15 - 25 có tỷ lệ cao nhất (49 - 65%) Tuổi khởi phát trung bình ở nam là 20 - 25, ở nữ là 25 - 30 Tỷ lệ độc thân ở bệnh nhân nam là 40,58%, ở bệnh nhân nữ là 38,71% Tỷ lệ ly hôn, ly thân là 5,33% Tỷ lệ bệnh nhân mạn tính và hay tái phát là 88 - 94% Tiên lượng: số bệnh nhân lành bệnh (ổn định trên 7 năm) khoảng 13% (bệnh nhân nữ lành bệnh so với nam là 5/1); tỷ lệ thuyên giảm tốt là 33%, cả khá và tốt là 50 - 77% Nghiên cứu này được tiến hành từ những năm 1977, và sau đó tiếp tục vào những năm 1999 Đề tài thực hiện cả bốn công đoạn của nghiên cứu dịch
tễ học theo quan điểm của các nhà y học: (mô tả, phân tích, can thiệp và đánh giá) Điểm hạn chế của đề tài là sử dụng một công cụ nghiên cứu do mình sáng tạo ra, nhưng lại không đề cập đến tính hiệu lực, độ tin cậy của công cụ nghiên cứu Điều này ảnh hướng đến giá trị khoa học của đề tài Mặc dù vậy,
số liệu của đề tài này vẫn rất đáng tham khảo vì đây là một trong những
Trang 12Nghiên cứu của tác giả Bùi Hồng Tâm, Cao Tiến Đức khảo sát tại Quảng Ninh, cho biết tỉ lệ mắc tâm thần phân liệt là 0,21%; động kinh là 0,12%, chậm phát triển tâm thần là 0,15%, nghiện rượu là 0,25), sa sút trí tuệ
là 0,05% Trần Viết Nghi & cộng sự [8] cho biết tỉ lệ mắc căng thẳng trên 881
công nhân làm việc tại một công ty giày da là 11,5% [22, tr 38-40]
Viện sức khỏe tâm thần ban ngày Mai Huơng, khảo sát sức khỏe tâm thần học sinh truờng học thành phố Hà Nội bằng công cụ SDQ của Tổ chức Y
tế Thế giới chuẩn hóa Việt Nam cho thấy trên mẫu nghiên cứu gồm 1.202 học sinh tiểu học và trung học cơ sở trong độ tuổi 10 - 16 tuổi, tỷ lệ học sinh có vấn
đề về sức khỏe tâm thần chung là 19,46 % Tỷ lệ này đối với nam, nữ, tiểu học, trung học cơ sở, nội thành, ngoại thành không có gì khác biệt [15, 108]
Đặng Hoàng Minh và Hoàng Cẩm Tú, năm 2009 sử dụng công cụ YSR thực hiện khảo sát trên 1727 học sinh, lứa tuổi từ 11- 15, ở 2 trường THCS ở Hà Nội cho thấy tỉ lệ trẻ mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần là 10,94% [19, tr 106-112]
Nghiên cứu về CTXH với người tâm thần những năm gần đây cũng có một tác giả quan tâm nghiên cứu tiêu biểu là tác giả Nguyễn Thị Thanh
Hường và cộng sự (2014) với giáo trình “Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần”, Giáo trình được biên soạn dưới sự hỗ trợ của Đề án 1215 và
Dự án Atlantic Philanthropies Giáo trình gồm 5 chương trong đó chương 1
có đề cập đến nhiệm vụ và chức năng của CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng Chương 3 có đề cập đến các nội dung can thiệp của CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần trong đó có hoạt động phát hiện sớm, can thiệp khẩn cấp, xác định và phân tích vấn đề, các hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho người tâm thần và gia đình, các hoạt động tạo ra sự thay đổi của cộng đồng để xây dựng môi trường thuận lợi nhằm phòng ngừa và giải quyết vấn đề cảu người tâm thần và gia đình họ Chương 4 đề cập đến các vấn đề
Trang 13sức khỏe tâm thần và một số phương pháp can thiệp của Nhân viên công tác
xã hội [12, tr5-6] Theo hướng nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Thị Thanh
Hương và Trần Đình Tuấn đã biên soạn giáo trình “Quản lý ca về chăm sóc
và phục hồi chức năng cho người tâm thần”, Giáo trình được biên soạn dưới
sự hỗ trợ của Đề án 1215 và Dự án Atlantic Philanthropies Giáo trình đã đề cập đến quy trình quản lý trường hợp trong chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, các kỹ năng cơ bản trong thực hành quản lý trường hợp với người tâm thần Đây là cơ sở rất quan trọng để Nhân viên công tác xã hội làm việc với người tâm thần có thể tìm hiểu và vận dụng vào công việc cụ thể của mình [13, tr5-6]
Tác giả Lê Thị Thu Phương, trong đề tài tốt nghiệp thạc sỹ về “Nhân viên xã hội trong hoạt động công tác xã hội từ thực tiễn huyện Eah’Leo, tỉnh Đắklắk” đã đề cập đến các yêu cầu và nhiệm vụ của nhân viên xã hội và nhan viên xã hội bao gồm cả những cán bộ lao động, trẻ em, phụ nữ, y tế
Tóm lại, nghiên cứu về nhân viên công tác xã hội trong việc quản lý, nuôi dưỡng, điều trị, phục hồi chức năng cho người tâm thần tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội còn rất ít ỏi; cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần Tỉnh Ninh Bình Do đó tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp của bản thân, góp phần nâng cao hiệu quả can thiệp, trợ giúp của nhân viên công tác xã hội với người tâm thần tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình; các yếu tố ảnh hưởng đến nhân viên công tác xã hội đang làm việc tại đây; từ đó đề xuất một số biện
Trang 14pháp nhằm nâng cao hiệu hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên công tác
xã hội với người tâm thần
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về người người tâm thần, nhân viên công tác xã hội đối với người người tâm thần
- Phân tích thực trạng nhân viên công tác xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến Nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần Tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất các biện pháp để phát huy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đối với người tâm thần của nhân viên công tác xã hội từ thực tiễn tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân viên công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng
tâm thần tỉnh Ninh Bình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về đối tượng: Có rất nhiều khía cạnh để nghiên cứu về nhân
viên công tác xã hội, tuy nhiên dựa vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi tập trung nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhiệm vụ nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp cho người tâm thần
Phạm vi về khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu bằng bảng hỏi 65 cán bộ,
nhân viên làm việc với người tâm thần tại Trung tâm, phỏng vấn sâu 3 lãnh đạo Trung tâm và 10 người tâm thần sống tại Trung tâm
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ những đánh giá thực trạng
về đời sống của Bệnh nhân tâm thần, thực trạng Nhân viên công tác xã hội đối
Trang 15với người tâm thần rút ra được những lý luận và đưa ra được những đề xuất
về biện pháp để nâng cao hiệu quả Nhân viên công tác xã hội đối với người tâm thần
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý
thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như công tác xã hội nhóm, công tác xã hội cá nhân đối với người tâm thần, hệ thống chính sách đối với người tâm thần, rối nhiễu tâm trí
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu
Là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu: + Tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến Nhân viên công tác
xã hội như: Nhập môn công tác xã hội, công tác xã hội nhóm, công tác xã hội
cá nhân, Phát triển cộng đồng, Lý thuyết công tác xã hội, công tác xã hội với người tâm thần…
+ Phân tích những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn
đề Nhân viên công tác xã hội đối với người tâm thần
+ Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo hàng năm của tỉnh, của Trung tâm như: “Báo cáo kết quả thực hiện Đề án 1215 , Đề án 32
+ Đọc, tìm hiểu và phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan đến chính sách hỗ trợ đối với người tâm thần và các biện pháp can thiệp, phục hồi chức năng, hỗ trợ, giúp đỡ đối tượng
- Phương pháp điều tra bảng hỏi
Dựa trên hình thức hỏi đáp gián tiếp dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi, người được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi ghi
Trang 16Với phương pháp này, đề tài sẽ phát bảng hỏi dành cho 65 cán bộ làm việc với người tâm thần tại Trung tâm để tìm hiểu, thu thập thông tin chung
về thực trạng về đặc điểm của Nhân viên công tác xã hội; thực trạng về việc đáp ứng yêu cầu về đạo đức, kiến thức, kỹ năng, thực trạng về việc thực hiện nhiệm vụ của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần cũng như các yếu
tố ảnh hưởng đến nhân viên công tác xã hội với người tâm thần
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi đáp Phương pháp này được
sử dụng để tìm hiểu sâu sắc về các phản ứng, suy nghĩ, thái độ tình cảm, động
cơ, quan điểm, chính kiến của nhân viên trực tiếp phục vụ đối tượng người
tâm thần cũng như ý kiến của lãnh đạo về Nhân viên công tác xã hội
Nội dung phỏng vấn: Phỏng vấn 03 lãnh đạo Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình để tìm hiểu đánh giá của lãnh đạo Trung tâm về đội ngũ Nhân viên công tác xã hội làm việc tại Trung tâm, những thuận lợi, khó khăn, liên quan đến trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của Nhân viên công tác xã hội khi thực hiện nhiệm vụ can thiệp, trợ giúp người tâm thần
kê như: tỷ lệ phần trăm, số trung bình cộng, thứ bậc để xử lý các số liệu đã thu thập được cho đề tài
Trang 176 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn
Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần Tỉnh Ninh Bình đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận liên quan đến người tâm thần, đến Nhân viên công tác xã hội đối với người tâm thần như khái niệm, nhiệm vụ, các yếu tố ảnh hưởng đến Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần Đồng thời cũng chỉ ra được cơ sở pháp lý về người tâm thần và Nhân viên Công tác xã hội với người tâm thần
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Đánh giá được thực trạng đặc điểm của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần, thực trạng đáp ứng yêu cầu của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần cũng như việc thực hiện nhiệm vụ của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần Đồng thời đánh giá được những yếu tố ảnh hưởng đến người tâm thần, Qua đó, đề xuất được các biện pháp nâng cao nhiệm vụ của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần và từ đó nâng cao nhận thức cả
xã hội đối với người tâm thần; giúp người tâm thần hòa nhập cộng đồng Góp phần vào hoạch định chính sách đối với Nhân viên công tác xã hội
và người tâm thần
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần
Chương 2: Thực trạng về nhân viên công tác xã tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả của nhân viên công tác xã hội
từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình
Trang 18Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI TÂM THẦN
1.1 Khái niệm và đặc điểm người tâm thần
1.1.1.Một số khái niệm
* Khái niệm về tâm thần
Trong tiếng Việt cũng có nhiều từ khác nhau thường được dùng để mô tả tình trạng bất thường về mặt sức khỏe tâm thần (tức tình trạng sức khỏe tâm thần không khỏe mạnh) như: Rối nhiễu tâm lý; tâm thần, bệnh tâm thần, sức khỏe tâm thần bị tổn thương, hay có vấn đề về sức khỏe tinh thần, có vấn đề tâm bệnh
Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra các quan điểm riêng của mình về tình trạng có vấn đề sức khỏe tâm thần Tác giả Hoàng Cẩm Tú đã dùng khái
niệm “sức khỏe tâm thần bị tổn thương” để mô tả tình trạng sức khỏe tâm thần không khỏe mạnh Bà xác định tình trạng này như sau: “sức khỏe tâm thần bị tổn thương: Không chỉ bó hẹp ở một tỉ lệ nhỏ của các tâm thần (10 - 20%) như những bệnh tâm thần nặng, mạn tính hoặc các khuyết tật thâm thần, mà còn bao gồm các trạng thái không thoải mái về tâm lý do căng thẳng bởi các stress tâm lý từ phía môi trường sống gia đình, trường học, cộng đồng
xã hội như rối loạn ngủ, biếng ăn, mệt mỏi, học giảm sút, thiếu hứng thú, xa lánh, ngại giao tiếp, lo sợ hốt hoảng, buồn chán đến rối loạn hành vi chống đối” [19, tr 106]
Trong điều tra về tỉ lệ trẻ vị thành niên miền Bắc Việt Nam có vấn đề sức khỏe tâm thần, tác giả Nguyễn Cao Minh lại trích dẫn quan điểm của WHO về vấn đề sức khỏe tâm thần: “sức khỏe tâm thần bao gồm rất nhiều các vấn đề khác nhau từ nhẹ đến nặng, với nhiều triệu chứng phong phú Tuy
Trang 19nhiên, một cách khái quát, những triệu chứng này là sự kết hợp của những suy nghĩ, cảm xúc lệch lạc và mối quan hệ với người khác lệch lạc, ví dụ như trầm cảm, lo âu, stress đến chậm phát triển và những rối loạn liên quan đến việc lạm dụng chất gây nghiện”, đồng thời cho rằng “Bệnh tâm thần là tình trạng sức khỏe do bị rối loạn các chức năng nhận thức, cảm xúc, xã hội Một người được coi là có bệnh tâm thần khi được những người có chuyên môn y tế như bác sỹ tâm thần, cán bộ tâm lý lâm sàng công nhận” [18, tr.10]
Một số tác giả khác cũng lý giải rõ: Thực ra, bệnh tâm thần chính là các
tâm thần Xét về khía cạnh thuật ngữ, chỉ được gọi là "bệnh" khi biết rõ được nguyên nhân và cơ chế gây bệnh của nó Trong khi hầu hết các tâm thần đều chưa xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh, cho nên gọi là "rối loạn”, để chỉ sự hoạt động tâm thần bất thường Chỉ được xem là có bệnh khi các rối loạn gây nên những hậu quả bất lợi về sinh học, tâm lý, xã hội Người
có triệu chứng tâm thần chưa hẳn gọi là có tâm thần Có nhiều loại tâm thần
mà người bệnh không tự nhận thức được các triệu chứng rối loạn của chính mình, mà do được quan sát bởi những người xung quanh, ví dụ: người bệnh miên hành (mộng du) hoặc những người có chứng hoang tưởng [20;22;23] Những cách dùng từ khác nhau trên phụ thuộc vào quan niệm riêng của từng tác giả về tình trạng có vấn đề về sức khỏe tâm thần, cũng như phụ thuộc vào mức độ nặng (nghiêm trọng) của các vấn đề sức khỏe tâm thần các tác giả đang quan tâm, hoặc đề cập đến trong nghiên cứu của mình Trong lĩnh vực công tác xã hội và cụ thể là trong nghiên cứu này chúng tôi gọi bằng thuật ngữ “Người tâm thần”
* Khái niệm người tâm thần
Lâu nay khi mọi người nghe nói đến người tâm thần ta thường nghĩ ngay đến hình ảnh những người ăn mặc quái dị, có những hành vi không giống ai, đứng la hét ngoài đường … hoặc thông qua phim ảnh, sách báo họ lại hình
Trang 20dung ra những người có tính khí hung dữ bất thường, hành vi ghê gớm không thể đoán trước … Thế thì có phải tất cả những người bệnh tâm thần đều là như thế không ? Thật ra những hiện tượng nêu trên chỉ gặp ở một bộ phận rất
ít những bệnh nhân bị các loại bệnh tâm thần nặng và không được điều trị kịp thời [23]
Trong nghiên cứu này tôi sử dụng khái niệm người tâm thần là người
“có vấn đề về sức khỏe tâm thần” để mô tả tình trạng không khỏe mạnh về sức khỏe tâm thần và xác định tình trạng có vấn đề về sức khỏe tâm thần là:
- Người có những biểu hiện hành vi, cảm xúc, suy nghĩ kém thích nghi,
mang tính kỳ lạ hoặc lệch chuẩn so với cộng đồng;
- Kéo dài, gây đau khổ hoặc làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, cuộc sống, mối quan hệ của cá nhân và những người xung quanh
- Được chẩn đoán, kết luận của những người có chuyên môn (bác sỹ tâm thần hoặc những nhà tâm lý lâm sàng được cấp phép)
1.1.2 Nguyên nhân của các vấn đề về tâm thần
Khác với các bệnh thực thể, nguyên nhân của tâm thần thường phức tạp
và thay đổi tùy theo các rối loạn đặc biệt và tùy theo từng cá nhân riêng biệt Mặc dù nguyên nhân của một số tâm thần chưa được xác định rõ nhưng rất nhiều bằng chứng đã chứng minh rằng những nhân tố sinh học, tâm lý và môi trường khác nhau có thể góp phần vào sự phát sinh hay tiến triển của một tâm thần Có thể nói hầu hết các vấn đề sức khỏe tâm thần đều là kết quả của sự kết hợp, tác động qua lại không ngừng giữa các yếu tố bên ngoài (kinh tế, văn hoá, các mối quan hệ xã hội ) và các yếu tố bên trong (các đặc điểm di truyền, sinh hoá, sinh lý của não và các đặc điểm tư duy, nhân cách ) chứ không phải là kết quả tác động trực tiếp của một yếu tố duy nhất
Rất nhiều tác giả thuộc các trường phái khác nhau quan tâm tìm cách giải thích nguyên nhân của các vấn đề sức khỏe tâm thần Thời trung cổ,
Trang 21người bệnh tâm thần bị loại ra khỏi thành phố và nhốt vào trong các tu viện, nhà tế bần, bởi lẽ quan niệm của tầng lớp thống trị thời đó cho rằng người bị bệnh tâm thần là do ma quỷ xâm nhập do đó bị trói, bị ngược đãi, bị thiêu sống Cuối thế kỷ XVIII - XIX, nhờ quan điểm duy vật chiếm ưu thế, Bs Pinel và sau đó là Esquirol đã khẳng định bệnh tâm thần không phải do ma xui quỷ khiến mà phát sinh từ não bộ, trên cơ sở đó đã góp phần giải phóng bệnh nhân tâm thần khỏi sự đối xử man rợ và cải cách nơi giam giữ bệnh nhân tâm thần thành bệnh viện [18]
Trong hầu hết thế kỷ 20, bệnh tâm thần được cho là gây ra bởi các mối quan hệ có vấn đề giữa trẻ em và cha mẹ của họ Quan điểm này đã được phổ biến vào cuối thập niên 1990, trong đó người ta tin rằng mối quan hệ giữa trẻ
em và cha mẹ là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến các vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng Sau đó, nhiều quan điểm khác lại cho rằng rằng mối quan
hệ giữa trẻ em và cha mẹ có ảnh hưởng nhỏ hơn so với các yếu tố về mặt sinh học và di truyền Trên cơ sở đó chúng ta có thể thấy quan điểm về nguyên nhân của các vấn đề sức khỏe tâm thần đã thay đổi theo thời gian và nhiều khả năng sẽ tiếp tục thay đổi khi chúng ta tiếp tục có những nghiên cứu sâu sắc và phong phú hơn trong lĩnh vực này
Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu thuộc các trường phái khác nhau đã đưa
ra các mô hình khác nhau để cách lý giải khác nhau về nguyên nhân của các vấn đề sức khỏe tâm thần Dưới đây là một số quan điểm tiêu biểu:
1.1.2.1 Những nhân tố sinh học
Mô hình sinh học tập trung vào các tiến trình thể chất và sinh lý của cơ thể như là nguyên nhân gây ra các tâm thần Theo mô hình này: Các yếu tố cấu trúc, chức năng của não bộ; bệnh tật cơ thể, những yếu tố di truyền có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sự phát triển của con người và các chức năng thông qua cơ chế sinh học Ngày nay đã có nhiều nghiên cứu trên các cặp sinh
Trang 22đôi cùng chứng đã cung cấp bằng chứng xác đáng cho lập luận về ảnh hưởng của yếu tố di truyền và tổn thương ở não bộ, hệ thần kinh đối với các bệnh tâm thần
Những tác giả theo quan điểm này cũng tin tưởng rằng suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của con người có liên quan đến hoạt động của các tế bào thần kinh trong đại não và cột sống Do đó nhiều tâm thần là hệ quả của sự tổn thương, khiếm khuyết hay sự thay đổi trong hoạt động hoặc cấu trúc của não
bộ Cũng theo quan điểm này, những tâm thần có thể được điều trị thành công bằng thuốc
Mô hình khá phổ biến được các tác giả theo trường phái sinh học đưa ra
và sử dụng để lý giải các vấn đề sức khỏe tâm thần có thể kể đến là mô hình sinh hóa chất dẫn truyền thần kinh Mô hình này cho rằng những lỗi trong
quá trình truyền các tín hiệu thần kinh gây ra các biểu hiện tâm bệnh học Một
số lỗi phổ biến trong quá trình truyền các tín hiệu thần kinh có thể kể đến như: Sợi trục giải phóng quá nhiều hoặc quá ít các chất dẫn truyền thần kinh; Tua nhánh quá nhạy cảm hoặc quá thiếu nhạy cảm với các chất dẫn truyền thần kinh được các sợi trục giải phóng ra; Các chất dẫn truyền thần kinh ở trong xi náp quá lâu hoặc quá ngắn
1.1.2.2 Những nhân nhân tố tâm lý
Những nhân tố tâm lý có ảnh hưởng đến sự phát sinh, hình thành và tiến triển của các vấn đề tâm thần bao gồm: đặc điểm nhân cách, hệ thống niềm tin cốt lõi về con người và cuộc sống; cách thức tư duy và mô hình ứng phó, giải quyết vấn đề cũng như trải nghiệm cuộc sống của từng cá nhân
Dưới đây là một số mô hình tâm lý tiêu biểu, thường được sử dụng phổ biến để lý giải nguyên nhân các vấn đề sức khỏe tâm thần:
- Mô hình hành vi chú trọng vào các quá trình liên quan trực tiếp đến
những hành vi bên ngoài (có thể quan sát được) như là nguyên nhân gây ra
Trang 23tâm bệnh học Mô hình hành vi giải thích sự hình thành và tiến triển của các vấn đề hành vi qua ba cơ chế: Điều kiện hóa cổ điển (Pavlov); điều kiện hóa thao tác (B F Skinner) và tập nhiễm qua quan sát (Albert Bandura)
Theo mô hình này, hầu hết các vấn đề sức khỏe tâm thần hay các hành vi bất thường không phải là bẩm sinh, không tự nhiên xuất hiện ở chủ thể Chúng được cá nhân tập nhiễm thông qua quá trình kích thích, củng cố một cách chủ đích hoặc không chủ đích từ người khác và môi trường xung quanh; hoặc tạp nhiễm trên cơ sở quan sát từ hành vi của người khác
Mô hình nhận thức tập trung vào những gì mà mọi người tin, suy nghĩ và
tự nhủ với bản thân như là nguyên nhân của các vấn đề tâm bệnh Theo mô hình này: Không phải những gì xảy ra mà là cách cá nhân diễn giải về sự việc, cách họ nghĩ về những gì đã xảy ra ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của cá nhân đó Hành vi bất thường là kết quả của những suy nghĩ không thích nghi, những niềm tin phi lý của cá nhân về những sự kiện trong cuộc đời họ
Mô hình chính niệm (“Mindfulness”) - Chú trọng vào những ảnh hưởng
của việc cố gắng né tránh các trải nghiệm cảm xúc như là nguyên nhân của tâm bệnh học Chẳng hạn việc bệnh nhân A luôn bận tâm về những điều bạn
lo lắng sẽ làm cho trạng thái lo âu của A trở nên nặng nề hơn; việc bệnh nhân
B trở nên buồn chán thất vọng về các biểu hiện trầm cảm của B sẽ làm cho B càng cảm thấy tồi tệ hơn
Lý thuyết gắn bó tập trung vào vai trò của các mối quan mẹ con sớm, hay
mối quan hệ giữa trẻ với người chăm sóc trong thời thơ ấu
Trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm, các tác giả đã cho thấy rằng có bốn
mô hình chính của mối quan hệ gắn bó mẹ con sớm: Mô hình gắn bó an toàn,
mô hình gắn bó kiểu né tránh, mô hình gắn bó kiểu vô tổ chức và mô hình gắn
bó kiểu mâu thuẫn Theo các tác giả, mối quan hệ của trẻ với người chăm sóc, nuôi dưỡng trong những năm đầu tiên của cuộc đời càng gắn bó, an toàn càng
Trang 24giúp trẻ có khả năng thiết lập và duy trì mối quan hệ lành mạnh với những người khác trong cuộc sống sau này Sự an toàn trong mối quan hệ với người chăm sóc, nuôi dưỡng trong những năm đầu tiên của cuộc đời ảnh hưởng đến cảm xúc, khả năng nhận thức, và xã hội của trẻ sau này
Những biến cố trong cuộc sống cũng được xếp vào danh sách những yếu
tố có vai trò quan trọng đối với sức khỏe tâm thần của con người, đặc biệt là sức khỏe tâm thần trẻ em Nhiều tác giả tin rằng trẻ em dễ bị tổn hại tâm lý từ các sự kiện đau thương hơn người lớn Tác động của sự kiện chấn thương bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: tính chất của từng sự việc khác nhau; thời gian cá nhân phải đối diện với sự kiện gây chấn thương tâm lý; ý nghĩa của sự kiện đó với cá nhân và gia đình Và dường như những thảm họa do con người gây ra ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần trẻ em nhiều hơn thiên tai
Có nhiều bằng chứng chứng minh ảnh hưởng của những yếu tố tâm lý xã hội, những sự kiện bất lợi trong cuộc sống đến sức khỏe tâm thần nói chung ở trẻ em và thanh thiếu niên Tình trạng bị ngược đãi trong thời thơ ấu, bao gồm
cả lạm dụng tình dục, bị bạo hành, lạm dụng tình cảm, bạo lực gia đình và bắt nạt, có liên quan đến sự phát triển của tâm thần, thông qua các tương tác phức tạp của các yếu tố xã hội, gia đình, yếu tố tâm lý và sinh học
Việc tiếp xúc trực tiếp với một sự kiện gây chấn thương nặng đôi khi có thể dẫn tới bệnh tâm thần, bao gồm PTSD tuy nhiên thông thường các vấn đề tâm thần không phát sinh một cách rõ ràng và trực tiếp như vậy Việc phát sinh một vấn đề tâm thần thường là kết quả của sự kết hợp, tác động qua lại một cách phức tạp giữa rất nhiều yếu tố sinh học, tâm lý và môi trường khác nhau
1.1.2.3 Các nhân tố môi trường
Ngoài ra có nhiều nhân tố khác tuy không phải là nguyên nhân trực tiếp
và quyết định nhưng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần, đó chính là những nhân tố môi trường như: nền văn hóa xã hội, văn hóa gia đình, chủng tộc, dân tộc, điều kiện kinh tế xã hội, thời tiết
Trang 25Sự kết hợp giữa các nhân tố: tâm lý - sinh học - xã hội
Căn cứ trên sự tác động qua lại giữa các yếu tố tâm lý, sinh học, xã hội,
các tác giả đã xây dựng mô hình tính dễ tổn thương và căng thẳng để lý giải
nguyên nhân của các vấn đề sức khỏe tâm thần Các tác giả theo mô hình này cho rằng các vấn đề sức khỏe tâm thần có xu hướng là kết quả tác động qua lại của yếu tố di truyền và yếu môi trường căng thẳng Mô hình này có thể sử dụng để giải thích những vấn đề hay những tâm thần cụ thể nhưng có thể có khó khăn trong việc xác định ranh giới cho hội chứng tâm thần không rõ ràng Nhìn chung, trong hầu hết các trường hợp chúng ta khó có thể khẳng định nhân tố nào là nhân tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng nhất đến vấn đề tâm thần của cá nhân và cộng đồng nói chung bởi các nhân tố nói trên không tác động một cách riêng rẽ mà thường kết hợp, tương tác với nhau một cách phức tạp
Mặt khác mỗi cá nhân đều có những đặc điểm riêng về mặt sức khỏe, di truyền, khí chất, nhân cách, hệ thống niềm tin, mô hình nhận thức và giải quyết vấn đề và trải nghiệm cuộc sống ; mỗi cộng đồng đều có những đặc điểm văn hóa riêng Sự khác biệt của tất cả những yếu tố đó tạo ra sự khác biệt trong khả năng chống đỡ và phục hồi của các cá nhân và cộng đồng Điều này góp phần lý giải vì sao cùng trải nghiệm những sự kiện bất lợi trong cuộc sống nhưng một số người, một số nhóm cộng đồng dễ gặp các vấn đề tâm thần hơn những người khác, những nhóm khác
1.2 Lý luận về nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần
1.2.1 Một số khái niệm
* Khái niệm Nhân viên công tác xã hội
Nhân viên xã hội là người được đào tạo công tác xã hội (có bằng đại học hay thạc sỹ), sử dụng kiến thức và kỹ năng để cung cấp các dịch vụ xã hội cho các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng, tổ chức, hay xã hội nhân viên xã
Trang 26hội giúp đỡ con người tăng cường năng lực đối phó và giải quyết vấn đề và giúp đỡ họ tìm kiếm được các nguồn trợ giúp cần thiết, tạo điều kiện cho sự tương tác giữa các cá nhân và giữa con người với môi trường xung quanh họ, làm cho các tổ chức có trách nhiệm với con người và tác động đến các chính sách xã hội [7]
Nhân viên xã hội là người làm việc để giúp đỡ mọi người Hầu hết họ làm việc với con người và giúp họ quản lý cuộc sống của mình, hiểu và thích nghi với ốm đau, khuyết tật, cái chết và cung cấp các dịch vụ xã hội, như chăm sóc sức khỏe, giúp đỡ pháp luật Những nhân viên xã hội khác làm việc như những quản trị viên trong hệ thống dịch vụ xã hội, viết các chương trình cho các tổ chức phi lợi nhuận, biện hộ cho các chính sách xã hội thuộc nhiều
cấp độ của chính phủ và tiến hành các nghiên cứu
Ở hầu hết các nước, CTXH chuyên nghiệp được đào tạo ở bậc Đại học Đây là quan điểm được đề xuất trong bản báo cáo năm 2004 về "Các tiêu chuẩn toàn cầu về đào tạo CTXH" của IFSW và IASSW Tuy nhiên, những
cơ quan quốc tế này đồng thời cũng chấp nhận rằng ở một số quốc gia việc đào tạo Nhân viên công tác xã hội ở các cấp thấp hơn là một nguyện vọng để
đạt được số lượng như yêu cầu [11, tr.13]
Trên thế giới, để hành nghề CTXH chuyên nghiệp, một người phải trải qua nhiều kỳ thi và kiểm tra ngặt nghèo Nhờ đó họ được cấp chứng chỉ hành nghề
và phải tiếp tục tham gia các khóa học, trải qua các kỳ thi Quá trình hành nghề của Nhân viên công tác xã hội luôn đặt dưới sự giám sát của cơ quan nơi họ công tác và Hiệp hội nghề nghiệp Khi một Nhân viên công tác xã hội vi phạm các chuẩn mực đạo đức, gây ra các tổn hại cho thân chủ hoặc nghề nghiệp, họ sẽ đứng trước nguy cơ bị sa thải, tịch thu chứng chỉ hành nghề.[11]
Người ta có thể chia Nhân viên công tác xã hội thành hai kiểu Nhân viên công tác xã hội chính: Những Nhân viên công tác xã hội cung ứng dịch vụ
Trang 27trực tiếp, người giúp thân chủ giải quyết và đương đầu với các vấn đề trong cuộc sống thường ngày của họ, và Nhân viên công tác xã hội lâm sàng, người chẩn đoán và điều trị các vấn đề về sức khỏe tâm thần, hành vi và cảm xúc
Ngoài ra còn có khái niệm Nhân viên công tác xã hội bán chuyên nghiệp đó là những người làm việc trong một số vai trò như một Nhân viên công tác xã hội, tuy nhiên họ không được đào tạo một cách chính quy về CTXH Rất nhiều người ở cấp xã được gọi là những nhân viên xã hội cơ
sở” Họ làm việc trực tiếp với các cá nhân, gia đình nhưng họ không được đào tạo hoặc chỉ được đào tạo rất ít thông qua các khóa tập huấn ngắn hạn Những Nhân viên công tác xã hội này được coi như là bán chuyên nghiệp trong vai trò của mình, nền tảng kiến thức và kỹ năng của họ phần nào giống như của CTXH chuyên nghiệp nhưng quá trình hình thành kiến thức
và kỹ năng của họ vẫn ở dưới mức cần thiết để thừa nhận vai trò chuyên nghiệp” [8,Tr 16 - 17]
Tại Việt Nam, theo Thông tư số 34/2010/TT-BLĐTBXH Quy định
về tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH, có 3 ngạch viên chức CTXH gồm Công tác xã hội viên chính, Công tác xã hội viên và Nhân viên công tác xã hội, ở đây chúng tôi xin gọi chung là nhân viên xã hội Thông
tư quy định Nhân viên công tác xã hội là người có bằng từ trung cấp trở lên chuyên ngành CTXH hoặc các chuyên ngành khoa học xã hội có liên quan [25, Tr 22 - 26]
Trong đề tài này, để thống nhất cách hiểu về Nhân viên công tác xã hội tôi xin đưa ra các điểm chính sau để giới hạn khách thể nghiên cứu:
+ Nhân viên công tác xã hội là những người trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện hoạt động trợ giúp cho các đối tượng yếu thế tại các cơ sở, tổ chức xã hội như Trung tâm bảo trợ xã hội, Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần,
Trang 28+ Nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp là những người đã được đào tạo chính quy từ Trung cấp trở lên chuyên ngành CTXH;
+ Nhân viên công tác xã hội bán chuyên nghiệp là người hoạt động trong lĩnh vực CTXH trong vai trò là người trợ giúp nhưng chưa qua đào tạo chính quy về CTXH (họ tham gia cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho đối tượng)
* Khái niệm nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần
Từ những khái niệm nêu trên, khái niệm nhân viên công tác xã hội
trong trợ giúp người tâm thần được hiểu là những người thực hiện nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công tác xã hội cho người tâm thần và gia đình người tâm thần phát huy được tiềm năng và kết nối các nguồn lực để hỗ trợ người tâm thần giải quyết vấn đề gặp phải, vươn lên hòa nhập cộng đồng
Từ khái niệm này cho thấy, trước hết nhân viên công tác xã hội với người tâm thần là người cung cấp các dịch vụ công tác xã hội cho người tâm thần và gia đình họ như chăm sóc y tế, tư vấn- tham vấn, phục hồi chức năng lao động; tuyên truyền và giáo dục
Thứ hai, nhân viên công tác xã hội trợ giúp người tâm thần và gia đình
họ phát huy được tiềm năng và kết nối các nguồn lực để hỗ trợ người tâm thần giải quyết vấn đề gặp phải, vươn lên hòa nhập cộng đồng
1.2.2 Nguyên tắc của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần
1.2.2.1 Giữ bí mật thông tin cho thân chủ
Đây là nguyên tắc quan trọng trong CTXH với người tâm thần Nhân viên công tác xã hội có nhiệm vụ giữ bí mật những thông tin mà người tâm thần và gia đình họ cung cấp trong hầu hết các tình huống Việc phá vỡ nguyên tắc bảo mật phải được cân nhắc kỹ lưỡng trong những trường hợp nghiêm trọng khi người thân chủ có hành vi đe dọa đến an toàn của bản thân
và người khác hoặc thân chủ, gia đình thân chủ cho phép
Trang 291.2.2.2 Chấp nhận thân chủ: Nhân viên công tác xã hội chấp nhận
người tâm thần với tất cả những phẩm chất tốt hay xấu, điểm mạnh hay điểm yếu của họ mà không phán xét, không dán nhãn, phân biệt đối xử với nhận thức và hành vi của người tâm thần
1.2.2.3 Cá biệt hóa: Mỗi thân chủ là người tâm thần có những dạng
tâm thần khác nhau, có người đơn thuần chỉ là bị trầm cảm hoặc stress, có người tâm thần phân liệt, mỗi người tâm thần là là một cá thể duy nhất với những đặc điểm cá tính riêng biệt không lặp lại Nhân viên công tác xã hội không dán nhãn lên mọi hành vi của người tâm thần, cảm nhận họ qua những nét riêng tư và sự sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của họ là điều quan trọng nhất trong nguyên tắc này
1.2.3.4 Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ: Nguyên tắc này cho
rằng người tâm thần và gia đình họ (nếu có) có quyền quyết định những vấn
đề thuộc về đời sống riêng tư của họ và người khác không có quyền áp đặt các quyết định lên họ Quyền tự quyết thể hiện ở việc người tâm thần và gia đình họ có sự cam kết tham gia vào toàn bộ tiến trình giải quyết vấn đề, mà quyết định đó không gây tổn hại đến bản thân của thân chủ cũng như tới người khác Nhân viên công tác xã hội có thể hướng dẫn, hỗ trợ họ đưa ra những quyết định đúng Nhất là đối với những người tâm thần quá nặng (tâm thần phân liệt) không có khả năng làm chủ cảm xúc và hành vi
1.2.3.5 Khuyến khích thân chủ tham gia giải quyết vấn đề: Nguyên tắc
này gắn liền với quyền tự quyết của thân chủ là người tâm thần, Nhân viên công tác xã hội không ép buộc thân chủ, mà tạo động lực, duy trì tinh thần và khả năng sẵn sàng ứng phó với những vấn đề khó khăn Góp phần giúp thân chủ chủ động tham gia vào việc theo đuổi những kế hoạch dài hạn cả sau khi can thiệp chấm dứt
Trang 301.2.3.6 Xây dựng mối quan hệ chuyên nghệp giữa Nhân viên công tác
xã hội và thân chủ: Sự hỗ trợ của Nhân viên công tác xã hội là một dịch vụ,
không phải là quyền uy, ban phát ơn nghĩa Tính chuyên nghiệp thể hiện trong việc giúp đỡ có thời hạn, có kế hoạch dựa trên tinh thần tất cả vì lợi ích của người tâm thần và gia đình họ (nếu có), trong quá trình trợ giúp Nhân viên công tác xã hội cần có sự hỗ trợ của cả hệ thống có liên quan
1.2.3 Những yêu cầu đối với nhân viên xã hội trong can thiệp, hỗ trợ người tâm thần
1.2.3.1 Yêu cầu về đạo đức
Nhân viên công tác xã hội cần có tình yêu nghề bởi lẽ yêu nghề họ sẽ vượt qua được những khó khăn của nghề mang tính chất phức tạp này Khi họ yêu nghề họ sẽ sự cảm thông, sự sẵn sàng giúp đỡ con người nói chung, người tâm thần nói riêng
Cần có niềm đam mê, tin tưởng, sự cam kết, sự tâm huyết nghề nghiệp giúp cho người tam thần có niềm tin, có ý chí để vượt qua những giai đoạn khó khăn trong quá trình giúp đỡ thân chủ
Trung thực, khiêm tốn, tự trọng và tôn trọnglà một yếu tố đạo đức quan trọng mà nhân viên xã hội cần có trong quá trình can thiệp, hỗ trợ người tâm thần
Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần cần có tính giản dị, chân thành, kiên trì, dũng cảm trong hỗ trợ can thiệp người tâm thần
Nhân viên công tác xã hội trong làm việc với người tâm thần còn cần
có lòng vị tha, thân thiện, sự rộng lượng, hòa đồng
Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần cần có phẩm chất dũng cảm, bởi lẽ người tâm thân nhiều lúc họ không làm chủ được cảm xúc của mình
họ thường quá hưng cảm nên người làm CTXH cần phải dũng cảm để đương đầu với những khó khăn gặp phải khi can thiệp, trợ giúp cho người tâm thần
Trang 311.2.3.2 Yêu cầu về kiến thức
Kiến thức về luật pháp, chính sách dành cho lĩnh vực Công tác xã hội với người tâm thần và lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần
Kiến thức về tâm sinh lý của người tâm thần như đặc điểm tâm lý, nhu cầu của người tâm thần
Kiến thức chuyên sâu về CTXH trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần
1.2.3.3 Yêu cầu về kỹ năng
Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần cần có một số kỹ năng cơ bản sau:
Kỹ năng lắng nghe tích cực
Kỹ năng thấu cảm
Kỹ năng thiết lập mối quan hệ với người tâm thần, gia đình của họ
Kỹ năng quan sát
Kỹ năng truyền thông
Kỹ năng đặt câu hỏi
Kỹ năng vẽ sơ đồ phả hệ
Kỹ năng kết nối nguồn lực liên quan đến người tâm thần
Kỹ năng biện hộ cho người tâm thần và người nhà của họ
Kỹ năng quản lý trường hợp người tâm thần
1.2.4 Nhiệm vụ nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người thâm thần
1.2.4.1 Nhiệm vụ hỗ trợ chăm sóc y tế
Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ người tâm thần và gia đình tuân thủ quy trình điều trị, phương pháp chăm sóc người tâm thần về mặt y tế như cho uổng thuốc đúng giờ, đúng liều, đúng thời gian quy định
Nhân viên công tác xã hội giám sát việc uống thuốc của người tâm thần xem họ có tuân thủ theo đúng quy trình theo Bộ Y tế quy định cũng như theo chỉ định của bác sĩ hay không
Trang 32Nhân viên công tác xã hội xây dựng cách thức đối phó với nguy cơ lạm dụng thuốc cũng như chất gây nghiện cho người tâm thần
Nhân viên công tác xã hội hợp tác với các cán bộ chuyên môn để đánh giá các yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần, các yếu tố nguy cơ và yếu tố
hỗ trợ của cá nhân và gia đình, từ đó cùng nhóm các bộ chuyên môn, người tâm thần cũng như gia đình xây dựng kế hoạch can thiệp
1.2.4.2 Nhiệm vụ tư vấn- tham vấn
Nhân viên công tác xã hội tư vấn cho người tâm thần liên quan đến chăm sóc y tế, phục hồi chức năng lao động, cũng như về những văn bản chính sách có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người tâm thần
Nhân viên công tác xã hội cần có kỹ năng tham vấn tâm lý cho người tâm thần, gia đình người tâm thần để họ vượt qua những cảm xúc tiêu cực thay đổi nhận thức, thái độ, cảm xúc và hành vi theo hướng tích cực giúp họ
có thể chữa bệnh và có khả năng hòa nhập cộng đồng khi điều trị xong
1.2.4.3 Nhiệm vụ phục hồi chức năng lao động
Nhân viên công tác xã hội tìm hiểu về nghề nghiệp, kỹ năng lao động của người tâm thần trước khi họ bị tâm thần Bởi lẽ, người tâm thần trước khi vào các trung tâm công tác xã hội với người tâm thần họ thường là những người trong độ tuổi lao động nên họ đã có nghề nghiệp và tay nghề nhất định
Lý do bệnh tật nên nhân viên công tác xã hội phải tham gia vào hoạt động phục hồi chức năng lao động cho họ
Nhân viên công tác xã hội phải coi lao động chính là liệu pháp, là biện pháp giáo dục để trị liệu cho người tâm thần giúp họ vượt qua bệnh tật cũng như họ có khả năng hòa nhập cộng đồng sau khi họ ra khỏi trung tâm
1.2.4.4 Nhiệm vụ tuyên truyền và giáo dục
Cung cấp thông tin một cách chính xác, rõ ràng, đầy đủ về các nội dung liên quan đến chứng bệnh tâm thần như nguyên nhân, biểu hiện và cách
Trang 33phòng, chữa trị giúp người tâm thần, gia đình họ và cộng đồng có hiểu biết sâu sắc về các rối loạn tâm thần
Cung cấp thông tin về chương trình chính sách, các địa chỉ cung cấp dịch vụ dành cho người tâm thần và gia đình người tâm thần ở cộng đồng Giúp cho người tâm thần và gia đình họ hình thành các kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân và người thân trong gia đình cũng như những người xung quanh
Truyền thông để huy động sự tham gia tích cực của gia đình và người dân trong cộng đồng liên quan đến chăm sóc sức khỏe tâm thần
Hiểu biết và ứng dụng được những biện pháp giáo dục cho người tâm thần
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhân viên công tác xã hội trong hoạt động trợ giúp người tâm thần
1.3.1 Kiến thức, kỹ năng của nhân viên công tác xã hội
công tác xã hội là một nghề có khả năng ứng dụng rộng lớn, Nhân viên công tác xã hội tham gia hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, vì thế đòi hỏi họ phải có nền tảng kiến thức rộng và phong phú Đối với Nhân viên công tác xã hội khi làm việc với người tâm thần cần có những kiến thức và kỹ năng cần thiết để đảm bảo thành công trong nghề trợ giúp
1.3.2 Yếu tố cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính
Đây là một trong ba nguồn lực quan trọng không thể thiếu nhằm đảm bảo cho quá trình hỗ trợ người tâm thần đạt hiệu quả cao Trong khi nguồn ngân sách còn hạn chế cho công tác xã hội thì việc đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người tâm thần hiện nay ở các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội là không đơn giản Chính vì
cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội còn hạn chế dẫn đến hiệu quả cung cấp dịch vụ chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của người tâm thần và gia đình họ
Trang 34Cần có những cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính phù hợp để Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần có thể thực hiện vai trò của mình như phòng tư vấn, tham vấn, các trang thiết bị, các công cụ dạy nghề phù hợp để phục hồi chức năng nghề, các trang thiết bị và nguồn lực tài chính phục vụ cho công tác truyền thông, giáo dục cho người tâm thần, nếu thiếu yếu tố nảy sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện vai trò của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần
1.3.3 Kinh nghiệm thực tiễn/thâm niên công tác
Kinh nghiệm thực tiễn/thâm niên công tác của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần cũng có ảnh hưởng khá nhiều tới hiệu quả của hoạt động trợ giúp Những kinh nghiệm sống hay kinh nghiệm nghề nghiệp đã tạo cho Nhân viên công tác xã hội một nền tảng tri thức để họ vận dụng vào công việc trợ giúp Những kinh nghiệm tích luỹ trong cuộc sống và trong công việc
là những bài học được đúc rút từ thực tiễn đã giúp cho Nhân viên công tác xã hội xử lý một cách linh hoạt và khéo léo những tình huống gặp phải và cung cấp cho người tâm thần nhiều thông tin hay kinh nghiệm quý báu Không những thế, kinh nghiệm còn là yếu tố giúp cho người tâm thần tìm thấy sự tin tưởng vào Nhân viên công tác xã hội để họ chia sẻ vấn đề của mình Thực tiễn cho thấy, những người có bề dày về thời gian làm công tác xã hội với người tâm thần thường sử dụng kỹ năng thành thục và linh hoạt hơn khi tác nghiệp Không những thế họ còn biết cách tự kiểm soát bản thân trong những tình huống khó khăn Như vậy, kinh nghiệm sống và làm việc được xem như một trong những yếu tố quan trọng giúp cho Nhân viên công tác xã hội thực hiện vai trò trợ giúp người tâm thần một cách có hiệu quả
1.3.4.Cơ chế chính sách đối với nhân viên công tác xã hội với người tâm thần
Đây là yếu tố động lực thúc đẩy Nhân viên công tác xã hội làm việc hiệu quả và nâng cao tay nghề Cơ chế chính sách phù hợp, đảm bảo cuộc
Trang 35sống và cơ hội phát triển nghề nghiệp sẽ làm cho Nhân viên công tác xã hội yên tâm và chuyên tâm với hoạt động trợ giúp đem lại nhiều lợi ích hơn cho trẻ, thúc đẩy Nhân viên công tác xã hội học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của công việc
- Nghề công tác xã hội với người tâm thần chưa được công nhận chính thức (chưa có mã nghề) còn nghề công tác xã hội nói chung có mã nghề nhưng hầu như chưa triển khai vào thực tiễn
- Chưa có hội, hiệp hội bảo vệ người làm công tác xã hội với người tâm thần
- Xã hội chưa nhận thức đúng đắn về nghề Công tác xã hội nhất là với người tâm thần
- Làm công tác xã hội với người tâm thần là chưa chuyên nghiệp
1.3.5 Yếu tố đặc điểm của đối tượng trợ giúp
Đối tượng trợ giúp của công tác xã hội với người tâm thần là người tâm thần ở các dạng khác nhau Thông thường ở các Trung tâm cung cấp dịch vụ với người tâm thần thường bao gồm các đối tượng sau: Đối tượng người có công bị tâm thần; đối tượng hưu trí, mất sức lao động bị tâm thần; đối tượng trẻ em bị tâm thần; đối tượng tâm thần thuộc diện tự nguyện, với đủ các dạng tâm thần từ trầm cảm, rối nhiễu cảm xúc, lo âu, đến tâm thần phân liệt
Người tâm thần thường có cảm xúc hưng cảm chiếm ưu thế, khi được điều trị bằng thuốc họ lại rơi vào trầm cảm Không dễ dàng gì cho nv công tác
xã hội có thể can thiệp, trợ giúp cho họ
Liên quan đến hoạt động can thiệp, trợ giúp bằng phương pháp công tác xã hội với người tâm thần còn có gia đình của người tâm thần, một số gia đình họ không chịu thừa nhận, bỏ mặc người tâm thần ở các Trung tâm nên cũng gây khó khăn không ít cho nv công tác xã hội, nhất là những Nhân viên công tác xã hội không được đào tạo chuyên sâu về công tác xã hội hoặc tâm
lý học lâm sàng
Trang 361.4 Cơ sở pháp lý về nhân viên công tác xã hội trong hoạt động nghề nghiệp
- Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân ban hành năm 1989 đã đề cập đến quyền của người rối loạn tâm thần thông qua quy định một số tình trạng sức khỏe cần có sự đồng ý của gia đình người có vấn đề tâm thần trước khi điều trị cũng như điều kiện để được điều trị bắt buộc
- Dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia nay thuộc Chương trình mục tiêu của Bộ Y tế được Chính phủ phê duyệt năm
1998 trong đó có nêu rõ mục tiêu cần đạt tới là xây dựng mạng lưới, triển khai
mô hình lồng ghép nội dung chăm sóc sức khoẻ tâm thần với các nội dung chăm sóc sức khoẻ khác của trạm y tế xã, phường- phát hiện, quản lý và điều trị người tâm thần (tập trung vào tâm thần phân liệt, động kinh) kịp thời để họ sớm trở về sống hoà nhập với cộng đồng;
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng khuyết tật hoặc mât năng lực hành vi dân sự và con cái có nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ đặc biệt khi ốm đau, già yếu, tàn tật Luật cũng đồng thời quy định một sổ quyền quản lý tài sản đối với con/cha mẹ mất năng lực hành
vi dân sự;
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định người tâm thần không được làm chứng, tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can bị bệnh tâm thần và phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người chấp hành hình phạt tù có mắc chứng tâm thần;
- Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 quy định về việc thành lập tổ chức giám định pháp y tâm thần;
- Luật Dược năm 2005 quy định về quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền chất làm thuốc;
Trang 37- Luật Bảo hiểm y tế năm 2005 quy định bảo hiểm bắt buộc đối với các thân chủ bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp hàng tháng, trong đó bao gồm thân chủ tâm thần;
- Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định quyền trẻ em trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan đoàn thê, cộng đông và gia đình trong việc chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bao gồm: trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em khuyết tật thể chất và tâm thần, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em nhiễm chất độc màu da cam ;
- Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội và Nghị định số13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điêu của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ Chính sách này quy định mức trợ cấp
xã hội hàng tháng cho người mắc bệnh tâm thân thuộc các loại tâm thần phân liệt, rôi loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm; quy định về cấp thẻ bảo hiểm y tế, chế độ mai táng và các chế độ khác
Luật Người khuyết tật năm 2010 quy định người tâm thần, người có khuyết tật thần kinh là nhóm thân chủ khuyết tật Đây là cơ sở để người tâm thần được hưởng một số chính sách hỗ trợ của nhà nước
- Quyết định số 32/2010/QĐ-TTG ngày 25 tháng 3 năm 2010 phê duyệt
Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020 Đề án là một bước tiến lớn với nhiệm vụ trọng tâm là phát triển công tác xã hội trờ thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác
xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng - đạt yêu cầu về chất lượng gán với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng
hệ thống an sinh xã hội tiên tiến
- Thông tư số 08/2010/TT-BNV ngày 25 tháng 8 năm 2010: Tiếp nối Quyết định sổ 32/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ, ngày 25
Trang 38tháng 8 năm 2010 Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 08/2010/TT' BNV ban hành chức danh, mã số ngạch viên chức công tác xã hội Như vậy, Thông tư đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc tuyển dụng cũng như chế độ cho người làm nghề này
- Thông tư Liên tịch số 11/2011/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 26 tháng
01 năm 2011: Thông tư quy định chi tiết về đối tượng áp dụng và nguồn kinh phí thực hiện cũng như hướng dẫn chi tiết nội dung và mức chi cho các hoạt động của Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020
- Thông tư số 04/2011/TT-BLĐTBXH ngày 25 tháng 2 năm 2011: Thông tư quy định rõ và đầy đủ tiêu chuẩn chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội bao gồm đối tượng và phạm vi áp dụng; quy trình tiếp nhận và chăm sóc đối tượng; các tiêu chuẩn về y tế, dinh dường, giáo dục, học nghề, văn hóa - thể thao Điều đặc biệt trong Thông tư này đó là quy trình tiếp nhận và chăm sóc đối tượng đà tiến gần tới quy trình quản lý trường hợp trong công tác xã hội Như vậy, có thể nói rằng hoạt động tại các trung tâm Bảo trợ xã hội đang dần trở nên chuyên nghiệp
- Nghị định số 56/2011/NĐ-CP ngày 4 tháng 7 năm 2011: Nghị định quy định chế độ phụ cấp ưu đài theo nghề đối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở y tế công lập Theo đó, mỗi công chức, viên chức chỉ được hưởng một phụ cấp ưu đãi theo nghề ở mức cao nhất; phụ cấp ưu đãi theo nghề được tính theo tỷ lệ % trên mức lương ngạch, bậc hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) của đối tượng được hưởng
- Quyết định số 1215/2011/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiều tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011- 2020 Quy định nhằm xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án 1215; quy hoạch phát triển hệ thông các cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thân và người rối nhiều tâm trí; đào tạo, bồi dưỡng đội
Trang 39ngũ cán bộ làm công tác trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí; xây dựng mô hình cơ sở phòng và trị liệu rối nhiễu tâm trí; truyền thông, nâng cao nhận thức về trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội về chăm sóc và phục hồi chức năng cho đối tượng
Năm 2015, Thông tư liên tịch số 30/2015 quy định mã số và tiêu chuẩn
chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành công tác xã hội trong đó quy định chi tiết về tiêu chuẩn chung về đạo đức nghề nghiệp của viên chức chuyên ngành công tác xã hội cũng như tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp công tác xã hội
Kết luận chương 1
Nhân viên công tác xã hội đối với người tâm thần là những người thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho người tâm thần nhằm trợ giúp người tâm thần và gia đình người tâm thần phát huy được tiềm năng và kết nối các nguồn lực để hỗ trợ người tâm thần giải quyết vấn đề gặp phải, vươn lên hòa nhập cộng đồng
Những yêu cầu đối với nhân viên xã hội trong can thiệp, hỗ trợ người tâm thần đó là: Yêu cầu về đạo đức; Yêu cầu về kiến thức và Yêu cầu về kỹ năng
Vai trò của Nhân viên công tác xã hội đối với người thâm thần thể hiện
ở 4 nhiệm vụ chủ yếu sau: Nhiệm vụ hỗ trợ chăm sóc y tế; Nhiệm vụ tư vấn- tham vấn; Nhiệm vụ phục hồi chức năng lao động và Nhiệm vụ tuyên truyền
và giáo dục
Có một số yếu tố ảnh hưởng đến Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần đó là: Kiến thức, kỹ năng của nhân viên Công tác xã hội; Yếu tố cơ
sở vật chất, nguồn lực tài chính; Kinh nghiệm thực tiễn/thâm niên công tác;
Cơ chế chính sách đối với nhân viên công tác xã hội với người tâm thần và Yếu tố đặc điểm của đối tượng trợ giúp
Chương này cũng chỉ ra cơ sở pháp lý liên quan đến người tâm thần, đặc biệt là cơ sở pháp lý liên quan đến Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ NHÂN VIÊNCÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TÂM THẦN TỈNH NINH BÌNH
2.1 Đặc điểm về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần Tỉnh Ninh Bình
Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần Tỉnh Ninh Bình được thành lập ngày 03/5/1977 theo Quyết định số: 383/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh
Hà Nam Ninh, đến nay Trung tâm là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở lao thương binh và xã hội tỉnh Ninh Bình Trung tâm có chức năng nhiệm vụ là:
động-Tiếp nhận, Quản lý, nuôi dưỡng, Chăm sóc, Điều trị, Phục hồi chức năng tâm thần bao gồm các đối tượng: Người khuyết tật đặc biệt nặng (dạng khuyết tật
thần kinh, tâm thần) không nơi nương tựa không tự lo được cuộc sống theo quy định của pháp luật về người khuyết tật; Người tâm thần lang thang cơ nhỡ được các Huyện, thành phố thu gom trong các dịp ngày lễ, tết, ngày trọng đại theo quy định và theo sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Lao động TB&XH; Người tâm thần, rối nhiễu tâm trí được người đại diện hợp pháp đưa vào Trung tâm quản lý, nuôi dưỡng điều trị theo chế độ tự nguyện theo quy định
a) Tổ chức bộ máy: Hiện tại tổ chức bộ máy của trung tâm gồm Ban
giám đốc và 8 phòng, khoa Trong đó:
* Ban giám đốc gồm 3 người: Giám đốc và 02 phó giám đốc
* Các khoa, phòng chuyên môn: 08 phòng khoa gồm:
- 03 khoa bệnh nhân nam giới (Gồm Khoa 1, Khoa 2 và Khoa 5)
- 02 khoa bệnh nhân nữ giới (Gồm Khoa 3 và Khoa 4)
- 01 khoa dinh dưỡng
- 01 phòng Tổ chức hành chính tổng hợp
- 01 phòng Y vụ - Dược – Xét nghiệm- Công tác xã hội