Như vậy, có thể khái quát về BHXH như sau: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn " Một số giải pháp về quản lý thu BHXH trên
địa bàn thị xã Phúc Yên Tỉnh Vĩnh Phúc " là công trình nghiên cứu khoa học, độc
lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Bùi Thị Loan
Trang 4Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn đến các quý Thầy, Cô Viện Kinh tế
và Quản lý – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tậm tình giảng dạy, truyền thụ
và hướng dẫn cho tác giả nhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian theo học tại trường
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Cô giáo PGS.TS Trần Thị Bích Ngọc, Viện Kinh tế và Quản lý – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả vượt qua những khó khăn trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành cuốn luận văn này
Xin được chân thành cảm ơn Ban Giám đốc cùng toàn thể cán bộ công chức, viên chức cơ quan Bảo hiểm xã hội thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc đã nhiệt tình động viên, hỗ trợ cho tác giả nhiều thông tin và ý kiến quý báu trong quá trình tác giả thu thập thông tin để hoàn thành cuốn luận văn này
Với tất cả tình cảm yêu thương xin chân thành cảm ơn mọi thành viên trong gia đình, bạn bè luôn bên cạnh chăm sóc, động viên kích lệ và giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Bùi Thị Loan
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 4
1.1 Khái quát chung về bảo hiểm xã hội 4
1.2 Đặc điểm và vai trò của bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường 13
1.2.1 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường 13
1.2.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường 14
1.3 Nội dung công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội 15
1.3.1 Khái niệm chung về quản lý thu bảo hiểm xã hội 15
1.3.2 Cơ sở pháp lý thực hiện quản lý thu bảo hiểm xã hội 16
1.3.3 Nội dung công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội 18
1.4 Các nhân tố tác động đến quản thu bảo hiểm xã hội 26
1.5 Các tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thu bảo hiểm xã hội 28
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 31
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, lao động của thị xã Phúc Yên 31
2.2 Phân tính thực trạng về quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn thị xã Phúc Yên giai đoạn 2011 - 2015 38
2.2.1 Phân tích đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội 38
2.2.2 Phân tích căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo tiền lương .41
2.2.3 Phân tích phương thức và mức đóng bảo hiểm xã hội 45
2.2.4 Phân tích công tác quản lý thu – nộp bảo hiểm xã hội 47
2.2.5 Bài học kinh nghiệm về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội 55
2.2.6 Đánh giá chung công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội 57
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 64
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC TRONG NHỮNG NĂM TỚI 65
3.1 Mục tiêu về công tác quản lý thu bảo hiểm trong những năm tới của Bảo hiểm xã hội thị xã Phúc Yên 65
Trang 63.2 Giải pháp nâng cao công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn thị xã
Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm tới 66
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý thu bảo hiểm xã hội 66
3.2.2 Giải pháp cải cách thủ tục hành chính trong công tác giải quyết chế độ Bảo hiểm xã hội: 71
3.2.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội phù hợp với chế độ tiền lương, tiền công đóng BHXH 74
3.2.4 Giải pháp nâng cao năng lực hoạt động của bảo hiểm xã hội 74
3.2.5 Giải pháp ứng dụng công nghệ tin học trong quản lý 78
3.2.6 Giâỉ pháp đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền 79
3.2.7 Giải pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội 81
3.3 Một số kiến nghị để thực hiện được các giải pháp nâng cao công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn thị xã Phúc Yên 82
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 87
KẾT LUẬN 88
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội trên tiền lương của một số nước 12
Bảng 2.1 : Số đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH: 39
Bảng 2.2 Tổng quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của người lao động 41
Bảng 2.3 : Lãi suất chậm đóng BHXH 46
Bảng 2.4: Tình hình thực hiện kế hoạch thu bảo hiểm xã hội 49
Bảng 2.5 Kết quả thu bảo hiểm xã hội bắt buộc theo khối 50
Bảng 2.6: Biến động nợ đọng tại thị xã Phúc Yên 52
Bảng 2.7: Cơ cấu nợ đọng bảo hiểm xã hội xét theo khối 53
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Số tiền nợ đọng bảo hiểm xã hội xét theo khối 54
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ các bộ phận nghiệp vụ tại cơ quan Bảo hiểm xã hội thị xã Phúc Yên 38
Sơ đồ 3.1: Quy trình thu bảo hiểm xã hội hiện tại 67
Sơ đồ 3.2: Quy trình thu bảo hiểm xã hội theo kiến nghị 68
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của luận văn:
Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo ổn định chính trị – xã hội và phát triển kinh tế – xã hội(Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị khóa XI)
Thực hiện tốt chính sách BHXH là góp phần ổn định đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội và ổn định chính trị – xã hội từ đó đẩy mạnh sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Vì vậy, trong những năm qua Nhà nước có nhiều những văn bản sửa đổi, bổ sung để phù hợp với sự phát triển trong từng thời điểm,
có thể nói chính sách BHXH, luôn mang tính cấp thiết thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề an sinh xã hội
Sau khi Luật BHXH có hiệu lực thi hành thì các đối tượng tham gia đóng, hưởng BHXH được mở rộng Tính đến hết năm 2015, diện bao phủ BHXH mới đạt khoảng 2
, lẻ, Mặt khác nợ đọng BHXH kéo dài, thậm chí có những đơn vị SDLĐ chiếm dụng tiền đóng BHXH của NLĐ để làm vốn sản xuất kinh doanh… Do đó, đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH cho NLĐ nói chung và việc thực hiện công tác thu BHXH nói riêng
Để quỹ BHXH được ổn định lâu dài và phát triển bền vững thì công tác thu là một khâu quan trọng mang tính cơ bản nhất bởi vì có thu đúng, thu đủ, thu kịp thời thì đối tượng tham gia sẽ được chi trả và thụ hưởng các chế độ BHXH một cách nhanh chóng và kịp thời khi có rủi ro xảy ra Do vậy, tôi chọn đề tài Để đảm bảo nguyên tắc thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, đáp ứng được những yêu cầu trong công tác quản lý thu BHXH nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu BHXH do vậy
tôi chọn đề tài " Một số giải pháp về quản lý thu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn thị xã
Phúc Yên ,tỉnh Vĩnh Phúc "
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá tổng quát thực trạng quản lý thu BHXH trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 và định hướng phát triển trong những năm tới tại thị xã Phúc Yên, những bài học kinh nghiệm, những mặt còn hạn chế, những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu BHXH trong hiện tại và tương lai tại thị xã Phúc Yên nói riêng và trong toàn hệ thống BHXH tại tỉnh Vĩnh Phúc nói chung để đạt mục tiêu mọi người lao động thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc được tham gia BHXH và đảm bảo thực hiện các quy định của Nhà nước về BHXH có hiệu quả
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn thị xã Phúc Yên (không bao gồm Quỹ khám chữa bệnh, BHXH tự nguyện và Bảo hiểm thất nghiệp)
4 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tập trung nghiên cứu giải pháp quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn thị xã Phúc Yên trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm
2015
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luân văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, dựa trên các văn bản pháp quy, báo cáo đánh giá, kinh nghiệm thực tiễn trong công tác quản lý thu, nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn thị xã Phúc Yên và
đề xuất một số biện pháp chống thất thu nhằm hoàn thiện việc quản lý thu BHXH trên địa bàn thị xã Phúc Yên
6 Đóng góp của luận văn:
Trên cơ sở phân tích, đánh giá về thực trạng thu BHXH trên địa bàn thị xã từ năm 2011 đến năm 2015
- Phân tích thực trạng quản lý thu BHXH trên địa bàn thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc, công tác thu – nộp BHXH, tình trạng nợ đọng, cơ cấu nợ đọng, nêu được các kết quả đã đạt được trong công tác quản lý thu BHXH, một số tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại hạn chế
Trang 12- Luận văn đã đưa ra những giải pháp, kiến nghị trong công tác quản lý thu BHXH, các biện pháp khả thi mang ý nghĩa thực tiễn cao nhằm làm tăng số lao động được tham gia BHXH, tăng mức thụ hưởng từ các chế độ, chính sách BHXH của người lao động góp phần làm tăng số thu, hoàn thiện công tác quản lý thu trên địa bàn thị xã Phúc Yên
7 Bố cục của luận văn:
Chương 1: Lý luận chung về bảo hiểm xã hội và công tác quản lý thu Bảo
hiểm xã hội
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn thị
xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2015
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội
trên địa bàn thị xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm tới
Trang 13CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ
QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1 Khái quát chung về bảo hiểm xã hội
1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm và BHXH đã hình thành rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người và đã được nhiều nhà khoa học đề cập và nghiên cứu một cách sâu sắc dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Bảo hiểm xã hội đã xuất hiện và phát triển theo cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào năm 1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách BHXH và coi nó là một trong những chính sách xã hội quan trọng nhất trong hệ thống chính sách bảo đảm an sinh xã hội Mặc dù đã có quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay còn có nhiều khái niệm về BHXH, chưa có khái niệm thống nhất Bởi lẽ, BHXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như kinh tế, xã hội, pháp lý
Theo từ điển Bách khoa: "BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH,
có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo, an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội"
Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH
như sau: “BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình
thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và chết; đồng thời
Trang 14bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” Khái niệm này đã
phản ánh được sự kết hợp hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội
Còn theo khái niệm của BHXH Việt Nam: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội
đối với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho
họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già và chết Đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các thân nhân trong gia đình người lao động, để góp phần ổn định cuộc sống của bản thân người lao động và gia đình, góp phần an toàn xã hội”
Như vậy, có thể khái quát về BHXH như sau: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân người lao động và những người ruột thịt (bố, mẹ, vợ/ chồng, con) của người lao động trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội
1.1.2 Bản chất của bảo hiểm xã hội
Cùng với quá trình phát triển, tiến bộ của loài người, BHXH được coi là một chính sách xã hội quan trọng của bất kỳ nhà nước nào, nhằm bảo đảm an toàn cho sản xuất, cho đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người trong xã hội Với tư cách
là công cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội, nhà nước phải can thiệp và tổ chức bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động, đặc biệt là để giải quyết mối quan hệ thuê mướn lao động giữa chủ và thợ Yêu cầu giới chủ phải thực hiện những cam kết đảm bảo điều kiện làm việc và nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần cho giới thợ, trong đó có nhu cầu về tiền lương, về chăm sóc y tế, về chăm sóc khi
bị ốm đau, tai nạn, trả lương khi người lao động đến tuổi hưu Đồng thời bản thân người lao động cũng phải có trách nhiệm dành một khoản thu nhập chi trả cho bản thân mình khi có những rủi ro xảy ra Mặt khác, nhà nước được coi như
Trang 15một người chủ sử dụng lao động của mọi người lao động, vì vậy người lao động không đủ để trang trải cho những khoản chi cho người lao động khi họ gặp phải rủi ro thì Nhà nước phải có trách nhiệm trích một phần ngân sách để bảo đảm đời sống cơ bản cho người lao động
Như vậy, BHXH ra đời, tồn tại và phát triển là một nhu cầu khách quan Nền kinh tế hàng hóa càng phát triển, việc thuê mướn lao động trở nên phổ biến thì càng đòi hỏi sự phát triển và đa dạng của BHXH Nền kinh tế hàng hóa phát triển là nền tảng, là cơ sở của BHXH BHXH được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động, giữa các bên cùng tham gia và được hưởng BHXH Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH Chủ sử dụng và người lao động có trách nhiệm đóng góp để hình thành quỹ BHXH Người lao động (bên được BHXH) và gia đình của
họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi họ có đủ điều kiện theo chế độ BHXH quy định Đó chính là mối quan hệ của các bên tham gia BHXH
Phân phối trong BHXH là phân phối không đều, nghĩa là không phải ai tham gia BHXH cũng được phân phối với số tiền giống nhau Phân phối trong BHXH vừa mang tính bồi hoàn vừa không mang tính bồi hoàn Những biến cố xảy ra mang tính tất nhiên đối với con người là thai sản (đối với lao động nữ), tuổi già và chết, trong trường hợp này, BHXH phân phối mang tính bồi hoàn vì người lao động đóng BHXH chắc chắn được hưởng khoản trợ cấp đó Còn trợ cấp do những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm, những rủi ro xảy ra trái ngược với
ý muốn của con người như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, là sự phân phối mang tính không bồi hoàn; có nghĩa là chỉ khi nào người lao động gặp phải tổn thất do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì mới được hưởng khoản trợ cấp đó
BHXH hoạt động theo nguyên tắc "cộng đồng - lấy số đông bù cho số ít" tức
là dùng số tiền đóng góp nhỏ của số đông người tham gia BHXH để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của từng người, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro gây tổn thất
Trang 16Hoạt động BHXH là một loại hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao; lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động Hoạt động BHXH là quá trình tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý sự nghiệp BHXH đối với người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH Là quá trình
tổ chức thực hiện các nghiệp vụ thu BHXH đối với người sử dụng lao động và người lao động; giải quyết các chế độ, chính sách và chi BHXH cho người được hưởng; quản lý quỹ BHXH và thực hiện đầu tư bảo tồn và tăng trưởng quỹ BHXH BHXH có những nguyên lý hoạt động mang tính phổ biến và nhất quán đó là:
Thứ nhất, bảo hiểm là một hình thức hoạt động nhằm phân tán rủi ro, hỗ trợ
lẫn nhau giữa những đơn vị, cá nhân cùng tham gia bảo hiểm thực hiện theo nguyên tắc "cộng đồng - lấy số đông bù cho số ít" Vì vậy, dịch vụ bảo hiểm cần phải có đông người tham gia mới đạt được mục đích phân tán rủi ro, tổn thất Số người tham gia bảo hiểm càng đông thì mức độ tổn thất được phân tán càng rộng, mức
độ gánh chịu tổn thất của từng thành viên càng ít hơn Hình thành được quỹ bảo hiểm tập trung càng lớn, mức độ an toàn quỹ bảo hiểm càng cao, đảm bảo đủ nguồn lực tài chính đáp ứng yêu cầu chi trả càng kịp thời, đầy đủ hơn cho người được thụ hưởng
Thứ hai, quỹ bảo hiểm được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của những
bên tham gia bảo hiểm Quỹ bảo hiểm phải được tính toán cân đối thu - chi một cách khoa học dựa trên quy luật số lớn để xác định mức đóng góp của đối tượng tham gia và mức hưởng thụ do quỹ phải chi trả; sao cho quỹ bảo hiểm phải được ổn định, vững chắc trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn phải đảm bảo đủ nguồn lực tài chính để chi trả kịp thời, đầy đủ các khoản bồi thường, trợ cấp cho đối tượng được thụ hưởng
Thứ ba, quỹ bảo hiểm được quản lý và sử dụng theo chế độ tài chính và luật
pháp của nhà nước quy định Quỹ bảo hiểm tạm thời nhàn rỗi được thực hiện các hoạt động đầu tư vừa góp phần cung cấp nguồn vốn để phát triển nền kinh tế - xã hội; vừa để bảo toàn và tăng trưởng quỹ Khi thực hiện hoạt động đầu tư quỹ phải đảm bảo an toàn; hạn chế rủi ro, thất thoát quỹ đến mức thấp nhất, đạt hiệu quả kinh
Trang 17tế - xã hội và đảm bảo khả năng thanh toán linh hoạt
1.1.3 Đối tượng bảo hiểm xã hội
BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi do người lao động bị giảm hoặc bị mất khả năng lao động, bị mất việc làm vì các nguyên nhân rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, già yếu… Chính vì vậy, đối tượng của BHXH chính là thu nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc mất đi do
bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người tham gia BHXH
Đối tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử dụng lao động Tuy vậy, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó
Hầu hết các nước khi mới có chính sách BHXH, đều thực hiện BHXH đối với các viên chức Nhà nước, những người làm công hưởng lương Việt Nam cũng không vượt ra khỏi thực tế này, mặc dù biết rằng như vậy là không bình đẳng giữa tất cả những người lao động
Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoài người lao động cũng có người sử dụng lao động và cơ quan BHXH, dưới sự bảo trợ của Nhà nước Người sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH là trách nhiệm của họ để bảo hiểm cho người lao động mà họ sử dụng Các cơ quan BHXH nhận sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, phải có trách nhiệm quản lý và sử dụng quỹ để thực hiện mọi công việc về BHXH đối với người lao động Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của BHXH một cách ổn định và bền vững
1.1.4 Chức năng của bảo hiểm xã hội
BHXH thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động tham gia BHXH khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ tính chất và
cơ chế tổ chức của BHXH
BHXH tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Các bên tham gia BHXH đều phải đóng góp vào quỹ BHXH Quỹ
Trang 18này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia BHXH khi họ bị giảm
hoặc mất thu nhập Theo quy luật ” Số đông bù số ít ” BHXH thực hiện phân phối
lại thu nhập cả theo chiều dọc và chiều ngang Thực hiện chức năng này BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội
BHXH góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội Người lao động khi bị đau, thai sản, tai nạn lao động, về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất Do đó cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được bảo đảm, tạo cho người lao động luôn yên tâm làm việc
BHXH gắn bó lợi ích giữa ngưòi lao động và người sử dụng lao động, giữa người lao động với xã hội, giải quyết được mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ, đồng thời làm cho họ gắn bó và hiểu nhau hơn Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức chi ít nhất và có hiệu quả nhất, giải quyết được khó khăn về đời sống cho ngưòi lao động
Với những chức năng trên, BHXH đã trở thành một trong những quyền con người, được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và ghi vào Tuyên ngôn Nhân
quyền ngày 10/12/1948: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có
quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh
tế, xã hội và văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển con người”
1.1.5 Các chế độ bảo hiểm xã hội
Hệ thống các chế độ trong BHXH là những quy định cụ thể về điều kiện mức trợ cấp, thời gian trợ cấp mức đóng góp và mức hưởng BHXH Hệ thống này được xây dựng trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và cơ sở pháp lý của mỗi nước Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) có khuyến cáo BHXH gồm 9 chế độ:
Trang 191.1.6 Hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội
Khái niệm: Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân
sách Nhà nước Quỹ có mục đích và chủ thể riêng Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng để chi trả cho người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố hoặc rủi ro Chủ thể của quỹ BHXH chính là những người tham gia đóng góp để hình thành nên quỹ, do đó có thể bao gồm cả: Người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước
Quỹ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Quỹ ra đời, tồn tại và phát triển gắn với mục đích đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp các biến cố, rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động Hoạt động của quỹ không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời Vì vậy, nguyên tắc quản lý quỹ BHXH là: Cân bằng thu - chi
- Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả vừa mang tính chất không hoàn trả Tính chất hoàn trả thể hiện ở chỗ, người lao động là đối tượng tham gia và đóng góp BHXH đồng thời họ cũng là đối tượng được nhận trợ cấp, được chi trả từ quỹ BHXH cho dù chế độ, thời gian trợ cấp và mức trợ cấp của mỗi người sẽ khác nhau, tuỳ thuộc vào những biến cố hoặc rủi ro mà họ gặp phải, cũng như mức đóng góp và thời gian đóng góp BHXH của họ Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, cùng tham gia và đóng góp BHXH, nhưng có người được hưởng trợ cấp nhiều lần và nhiều chế độ khác nhau, nhưng cũng có những người được ít lần hơn, thậm chí
Trang 20không được hưởng Chính từ đặc điểm này nên một số đối tượng được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH thường lớn hơn nhiều so với mức đóng góp của họ và ngược lại Điều đó thể hiện tính chất xã hội của toàn bộ hoạt động BHXH
- Quá trình tích luỹ để bảo tồn giá trị và bảo đảm an toàn về tài chính đối với quỹ BHXH là một vấn đề mang tính nguyên tắc
- Quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất của tài chính BHXH Nó là khâu tài chính trung gian cùng với ngân sách Nhà nước và tài chính doanh nghiệp hình thành nên hệ thống tài chính quốc gia
- Sự ra đời, tồn tại và phát triển BHXH phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh
tế - xã hội của từng quốc gia và điều kiện lịch sử trong từng thời kỳ nhất định của đất nước Kinh tế - xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với người lao động càng được nâng cao Đồng thời kinh tế - xã hội phát triển, người lao động và người sử dụng lao động sẽ có thu nhập cao hơn, do đó họ càng có điều kiện tham gia và đóng góp BHXH v.v
- Các nguồn khác (như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ )
Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho người lao động được phân chia cho cả người sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở quan hệ lao động Điều này không phải là sự phân chia rủi ro, mà là lợi ích giữa hai bên Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp một phần BHXH cho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mà mình thuê mướn Đồng thời nó còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo được mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ - thợ Về phía người lao động, sự đóng góp một phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh
Trang 21chịu trực tiếp rủi ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ
Mối quan hệ chủ - thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích Vì thế, cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể thiếu được
sự tham gia đóng góp của Nhà nước Ngoài ra, bằng nhiều hình thức, biện pháp và mức độ can thiệp khác nhau, Nhà nước không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH mà còn trở thành chỗ dựa để đảm bảo cho hoạt động BHXH chắc chắn và ổn định
Quỹ BHXH được sử dụng để chi trả cho các mục đích sau:
- Chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH theo quy định của Pháp Luật
- Đóng BHYT cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp, ngành
- Chi khen thưởng theo quy định
- Chi đầu tư tăng trưởng quỹ
Bảng 1.1: Tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội trên tiền lương của một số nước
Đơn vị tính: %
Tỷ lệ đóng góp Người lao động Người sử dụng lao động
( Nguồn: Giáo trình An sinh xã hội )
Trang 221.2 Đặc điểm và vai trò của bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường
1.2.1 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường
Từ khái niệm về BHXH, nếu xem xét một cách toàn diện thì BHXH hàm chứa
và phản ánh những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Nguồn thu quỹ BHXH thông qua sự đóng góp của các bên tham gia
BHXH: Người lao động, người sử dụng lao động và sự ủng hộ của Nhà nước Sự đóng góp này thể hiện mối quan hệ 3 bên xuất phát từ lợi ích chung, vì sự an toàn,
ổn định và phát triển của xã hội, nó cũng thể hiện mối quan hệ giữa các bên đóng góp với bên nhân (bên được BHXH với cơ quan BHXH) Đó chính là cơ chế ràng buộc chặt chẽ giữa lợi ích và trách nhiệm giữa các bên liên quan
Thứ hai, việc tham gia BHXH về nguyên tắc là bắt buộc đối với mọi người lao
động Trừ một số ngoại lệ, những người lao động có thu nhập không ổn định do công việc làm thường xuyên không ổn định, hoặc theo mùa vụ
Thứ ba, nguồn đóng góp của các bên tham gia được đưa vào quỹ riêng, độc
lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước để chi trợ cấp cho các chế độ và hoạt động BHXH
Thứ tư, số tiền tạm thời nhàn rỗi của quỹ được đầu tư sinh lời nhằm bảo toàn
và tăng trưởng quỹ
Thứ năm, quyền được hưởng trợ cấp BHXH về nguyên tắc gắn liền với nghĩa
vụ đóng góp của người lao động Thông thường, mức đóng góp và mức hưởng trợ cấp đều có mối liên hệ đến thu nhập (tiền lương, tiền công) của người lao động Điều này thể hiện tính công bằng xã hội gắn liền giữa quyền và nghĩa vụ của người lao động
Song BHXH còn thực hiện theo nguyên tắc “ lấy số đông bù số ít”, có nghĩa là nhiều người đóng góp để một số ít người được hưởng Điều này thể hiện rõ bản chất của BHXH là sự tương trợ cộng đồng, người khoẻ giúp người yếu, người trẻ giúp người già, người lành lặn giúp người tàn tật và như thế BHXH mới đáp ứng được mục tiêu là bảo vệ người lao động khi gặp rủi ro
Trang 231.2.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường
Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, vị trí, vai trò của BHXH trong hệ thống an sinh xã hội, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng to lớn, có thể khái quát vai trò của BHXH trên các mặt sau:
Một là, BHXH góp phần ổn định đời sống của người lao động tham gia
BHXH, những người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu
thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng được những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường
Hai là, BHXH góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế–xã
hội Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ Khi có rủi ro xảy ra với người lao động, quỹ BHXH kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động nhanh
ổn định cuộc sống và sản xuất… Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng làm
ổn định nền kinh tế – xă hội
Ba là, BHXH làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử
dụng lao động và Nhà nước Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đều tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, điều đó làm cho người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, trong lao động sản xuất Người sử dụng lao động tham gia đóng góp vào quỹ BHXH cho người lao động được hưởng các chế độ BHXH cũng thấy rõ trách nhiệm của mình đối với người lao động Nhà nước vừa tham gia đóng góp, vừa điều hành hoạt động của quỹ BHXH, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho mọi đối tượng thụ hưởng… Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước – người sử dụng lao động – người lao động, góp phần ổn định nền kinh tế – xă hội
Bốn là, BHXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Quỹ BHXH được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động và gia đình họ, phần nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo tồn và tăng trưởng quỹ Như vậy, xét trên cả phương diện chi trả các chế độ BHXH
Trang 24cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ BHXH đều góp phần thúc đẩy
sự tăng trưởng kinh tế Mặt khác, phân phối trong BHXH là sự phân phối lại theo hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống Vì vậy, BHXH góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, góp phần bảo đảm sự công bằng xă hội
Năm là, BHXH trực tiếp thể hiện mục tiêu, tư tưởng, bản chất tốt đẹp của chế
độ chính trị, xă hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đă và đang phấn đấu, xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ, văn minh
1.3 Nội dung công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.3.1 Khái niệm chung về quản lý thu bảo hiểm xã hội
Trước tiên chúng ta cần hiểu khái niệm về quản lý Quản lý là những hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng quản lý nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người từ đó có thể duy trì được tính ổn định của đối tượng Đối tượng của quản
lý ở đây là công tác thu BHXH, thu BHXH là một thuật ngữ thuộc phạm trù tài chính, một khâu tài chính tồn tại độc lập trong hệ thống tài chính BHXH Công tác thu BHXH tham gia vào quá trình tạo lập quỹ BHXH, quỹ tài chính này nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro từ đó đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội Như vậy, nhìn rộng ra thì quản lý thu BHXH là việc sử dụng việc thu BHXH như một công cụ quản lý xã hội của Nhà nước Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì quản lý thu BHXH là quản lý đối tượng tham gia, quản lý mức đóng, căn cứ đóng và phương thức đóng của các đối tượng khi tham gia BHXH với mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời luôn đặt lên hàng đầu
Quản lý thu giữ vai trò quan trọng và quyết định đến sự thành công của quá trình thu BHXH, từ đó quyết định đến sức mạnh quỹ BHXH để đảm bảo cho việc chi trả cho các chế độ trợ cấp
Trang 251.3.2 Cơ sở pháp lý thực hiện quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.3.2.1 Những quy phạm pháp luật chủ yếu điều chỉnh công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VII và Hiến pháp năm 1992, ngày 23/6/1994
Bộ Luật Lao động đã được Quốc hội thông qua trong đó dành cả Chương XII để quy định về BHXH và có quy định "Loại hình tham gia BHXH áp dụng đối với doanh nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên ở những doanh nghiệp này, người
sử dụng lao động, người lao động phải đóng BHXH theo quy định "; "Người lao động làm việc ở những nơi sử dụng lao động dưới 10 lao động hoặc làm những công việc có thời hạn dưới 3 tháng, theo mùa vụ hoặc làm các công việc tạm thời khác, thì các khoản BHXH được tính vào tiền lương do người sử dụng lao động trả
để người lao động tham gia BHXH theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm"
Ngày 26/01/1995, Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định
số 12/CP và Điều lệ BHXH đối với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995, trong đó quy định rõ về đối tượng tham gia BHXH và tỷ lệ thu BHXH như: Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên thuộc đối tượng phải áp dụng các chế độ BHXH theo quy định Với tỷ lệ thu BHXH là 20%, trong đó người sử dụng lao động 15% tổng quỹ tiền lương, người lao động 5% tiền lương tháng Theo
đó, Bộ Tài Chính có Thông tư số 58/TT-BTC hướng dẫn quy định tạm thời về tài chính BHXH, trong đó quy định cụ thể về đối tượng, quy trình quản lý thu BHXH
Mặt khác, để phù hợp với tình hình kinh tế phát triển của đất nước tại Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc;Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện; Nghị định số 127/2008/NĐ- CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Trang 26Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp; Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2007 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân
Đặc biệt, ngày 09/01/2003 Chính phủ ban hành Nghị định số
01/2003/NĐ-CP đã qui định đối tượng áp dụng BHXH bắt buộc được mở rộng đến các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh cá thể, tổ hợp tác; người lao động, xã viên làm việc và hưởng tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ
03 tháng trở lên trong các hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã và các ngành sự nghiệp khác; các tổ chức khác có sử dụng lao động Đây là cơ sở pháp
lý cơ bản và hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh về quản lý thu, nộp BHXH trong hoạt động BHXH Việt Nam
1.3.2.2 Quy định về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Trên cơ sở các văn bản nêu trên, ngay sau khi được thành lập và bước vào hoạt động, với thẩm quyền của mình BHXH Việt Nam đã ban hành các văn bản hướng dẫn việc thực hiện quản lý, theo dõi quá trình thu nộp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động nhằm thực hiện có hiệu quả việc quản lý hành chính theo chức năng và nhiệm vụ được giao, cụ thể như:
- Công văn số 211/BHXH ngày 26/9/1995 quy định tạm thời về quản lý thu - chi
- Quyết định số 722/QĐ-BHXH-BT ngày 26/5/2003 về việc quy định quản lý thu BHXH, BHYT bắt buộc
Trang 27- Quyết định số 113/BHXH -QĐ ngày 22/6/1996 ban hành quy định về cấp và ghi sổ BHXH;
- Quyết định số 2352/1999/QĐ-BHXH ngày 28/9/1999 về việc ban hành quy định cấp, quản lý và sử dụng sổ BHXH;
- Quyết định 902/QĐ-BHXH ngày 26/06/2007 về việc ban hành quy định quản
lý thu BHXH, BHYT bắt buộc;
- Quyết định 1333/QĐ-BHXH ngày 21/02/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điểm của Quyết định 902/QĐ-BHXH;
- Công văn 1615/BHXH-CSXH ngày 02/6/2009 về việc hướng dẫn thu – chi bảo hiểm thất nghiệp;
- Quyết định 1111/QĐ-BHXH ngày 25/10/2011 về việc ban hành quy định quản
lý thu BHXH, BHYT, quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT
Trong các Quyết định này BHXH Việt Nam đã quy định rất rõ và cụ thể các trường hợp chậm đóng BHXH, BHYT bị tính lãi, cũng như thời điểm tính và lãi suất chậm đóng
1.3.3 Nội dung công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.3.3.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
Quy định đối tượng tham gia BHXH là NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước trong một số trường hợp Hiện nay đối tượng tham gia BHXH đang áp dụng với NLĐ trong mọi thành phần kinh tế được quy định tại Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày
09 tháng 01 năm 2003 và Điều 2 chương 1 Luật BHXH được Quốc hội ban hành ngày 29/6/2006, và các văn bản hướng dẫn thi hành của các Bộ Ngành có liên quan
và BHXH Việt Nam
a) Người lao động tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam bao gồm:
- Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên
- Người lao động là công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang
- Người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà chưa nhận bảo hiểm
Trang 28xã hội một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng(hợp đồng với tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp được phép hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, hợp đồng với doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu, công trình ở nước ngoài, hợp đồng cá nhân)
b) Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm:
- Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang
- Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác
- Tổ chức, đơn vị hoạt động theo quy định của pháp luật
- Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã
- Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam
1.3.3.2 Căn cứ đóng bảo hiểm xã hội
Trên cơ sở các văn bản quy định của Nhà nước về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH như: Điều 149 - Bộ Luật Lao động, Luật BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ và các Thông tư, Văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể hoá, hoặc giải thích rõ các vấn đề liên quan đến tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động, được quy định cụ thể như sau:
- Tiền lương hàng tháng làm căn cứ đóng BHXH là tiền lương, tiền công theo ngạch, bậc hoặc lương theo cấp bậc, chức vụ, lương hợp đồng; các khoản chức
vụ, thâm niên chức vụ bầu cử, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có)
Trang 29- Người lao động hưởng lương theo chế độ tiền lương thuộc hệ thống thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định, được tính theo mức tiền lương tối thiểu
do Nhà nước quy định tại thời điểm đóng BHXH
- Tiền lương hàng tháng làm căn cứ đóng BHXH của người lao động làm việc trong các đơn vị liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo mức lương ghi trong hợp đồng lao động, nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu
1.3.3.3 Quản lý mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm xã hội
Mức đóng BHXH:
(%) mức tiền lương, tiền công tháng như sau:
- Từ 01/01/2010 đến 31/12/2011: bằng 22%, trong đó: NLĐ đóng 6%; đơn vị đóng 16%
- Từ 01/01/2012 đến 31/12/2013: bằng 24%, trong đó: NLĐ đóng 7%; đơn vị đóng 17%
- Từ 01/01/2014 trở đi: bằng 32.5%, trong đó NLĐ đóng 10.5%; đơn vị đóng
thuộc ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả tiền lương, tiền
Trang 30công cho NLĐ theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, cá nhân sử dụng dưới 10 lao động có thể đóng hằng quý hoặc 6 tháng một lần Chậm nhất đến ngày cuối cùng của kỳ đóng, đơn vị phải chuyển đủ tiền vào quỹ BHXH
Đóng theo địa bàn: Cơ quan, đơn vị đóng trụ sở chính ở địa bàn tỉnh nào thì đăng ký tham gia đóng BHXH tại địa bàn tỉnh đó theo phân cấp của cơ quan BHXH tỉnh Chi nhánh của doanh nghiệp đóng BHXH tại địa bàn nơi cấp giấy phép kinh doanh cho chi nhánh
1.3.3.4 Quy trình quản lý thu – nộp bảo hiểm xã hội
a) Đối với đơn vị thu:
- Người lao động tham gia BHXH lần đầu: Căn cứ hồ sơ gốc kê khai “Tờ khai tham gia BHXH, BHYT bắt buộc” (Mẫu số A01-TS), nộp cho người sử dụng lao động; Trường hợp đã được cấp sổ BHXH thì không phải kê khai mà chỉ nộp sổ BHXH
- Người sử dụng lao động: Kiểm tra, đối chiếu Tờ khai tham gia BHXH với
hồ sơ gốc của từng người lao động; ký xác nhận và phải chịu trách nhiệm về những nội dung trên Tờ khai của người lao động
Lập 02 bản “Danh sách lao động tham gia BHXH bắt buộc” (Mẫu số TS) và bản sao quyết định thành lập hoặc chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì nộp bản hợp đồng lao động
D02a-Thang bảng lương do đơn vị tự xây dựng : 01 bộ và có xác nhận cơ quan quản
lý lao động, bản sao bảng xếp hạng doanh nghiệp (đôí với DN nhà nước nếu có), trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng, người sử dụng lao động phải nộp toàn bộ hồ sơ theo quy định đã nêu ở trên và sổ BHXH của người lao động (nếu có) cho cơ quan BHXH
Cơ quan BHXH: tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra số lượng, tính hợp pháp của các
Trang 31loại giấy tờ và hoàn thiện các thủ tục rồi chuyển trả người lao động Trường hợp hồ
sơ chưa đủ, cơ quan BHXH phải hướng dẫn cụ thể để đơn vị hoàn thiện
- Người sử dụng lao động đang tham gia BHXH:Lập danh sách 02a – TBH theo mẫu nếu tăng, giảm lao động hoặc thay đổi căn cứ đóng BHXH, BHYT trong tháng lập mẫu 03a – TBH nộp cho cơ quan BHXH trước ngày 20 hàng tháng
Cơ quan BHXH: tiếp nhận, kiểm tra, thẩm định hồ sơ; ký, đóng dấu vào danh sách lao động tham gia BHXH; các Tờ khai (nếu có), thông báo cho đơn vị đóng BHXH cho người lao động
b) Đối với công tác quản lý thu BHXH:
- BHXH tỉnh và BHXH huyện, thành thị không được sử dụng tiền thu BHXH, BHYT vào bất cứ mục đích gì (trường hợp đặc biệt phải được Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam chấp thuận bằng văn bản)
- Hàng quý, BHXH tỉnh (Phòng Kế hoạch-Tài chính) và BHXH huyện, thành thị gửi thông báo quyết toán cho phòng Thu hoặc bộ phận Thu;
- BHXH Việt Nam thẩm định số thu BHXH theo 6 tháng hoặc hàng năm đối với BHXH tỉnh, BHXH thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Ban Cơ yếu Chính phủ:
Phân cấp quản lý thu BHXH
- Bảo hiểm xã hội Việt Nam (Ban Thu BHXH) chịu trách nhiệm tổng hợp, phân loại đối tượng tham gia BHXH; Hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức, quản lý thu BHXH; Kiểm tra, đối chiếu tình hình thu nộp BHXH, cấp sổ BHXH và thẩm định
Trang 32Lao động hợp đồng thuộc doanh nghiệp lực lượng vũ trang;Các đơn vị đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; Những đơn vị BHXH huyện, thành thị không đủ điều kiện thu thì BHXH tỉnh trực tiếp tổ chức thu
+ Phòng Thu BHXH có trách nhiệm: Tổ chức, hướng dẫn thu BHXH; Định
kỳ quý, năm thẩm định số thu BHXH đối với BHXH huyện, thành thị; Phối hợp với phòng Kế hoạch Tài chính lập và giao kế hoạch, quản lý tiền thu BHXH, BHYT trên địa bàn tỉnh quản lý
- Bảo hiểm xã hội quận, huyện, thành thị thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là BHXH huyện) trực tiếp thu BHXH: Các đơn vị trên địa bàn do huyện quản lý; Các đơn vị khác do BHXH tỉnh giao nhiệm vụ thu; Hướng dẫn, tổ chức thực hiện quản
lý thu, nộp BHXH;
Lập và giao kế hoạch thu BHXH
a Bảo hiểm xã hội huyện, thành thị: Căn cứ tình hình thực hiện năm trước và khả năng mở rộng trong năm tới lập 02 bản "Kế hoạch thu BHXH bắt buộc" năm sau, gửi 01 bản đến BHXH tỉnh trước ngày 05/11 hàng năm
b Bảo hiểm xã hội tỉnh:
- Lập 02 bản "Kế hoạch thu BHXH bắt buộc" năm sau (Mẫu số 13-TBH), gửi BHXH Việt Nam 01 bản trước ngày 15/11 hàng năm
Quản lý tiền thu BHXH
- Thu BHXH bằng hình thức chuyển khoản, trường hợp cá biệt phải thu bằng tiền mặt thì cơ quan BHXH phải nộp tiền vào ngân hàng ngay trong ngày
- Không được sử dụng tiền thu BHXH để chi cho bất cứ việc gì; Không được
áp dụng hình thức gán thu bù chi tiền BHXH đối với các đơn vị Mọi trường hợp thoái thu, truy thu BHXH để cộng nối thời gian công tác chỉ được thực hiện sau khi
có sự chấp thuận bằng văn bản của BHXH Việt Nam
- Chậm nhất vào ngày cuối tháng, cơ quan, đơn vị quản lý đối tượng phải nộp
Trang 33đủ số tiền đã được xác định vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH nơi đăng
ký tham gia BHXH Nếu chậm nộp từ 30 ngày trở lên so với kỳ hạn phải nộp thì ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật xử phạt hành chính về BHXH, cơ quan, đơn vị còn phải nộp tiền lãi theo mức lãi suất tiền vay quá hạn do ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tại thời điểm truy nộp
- Bảo hiểm xã hội huyện, thành thị chuyển tiền thu BHXH về tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh vào ngày 10 và ngày 25 hàng tháng Riêng tháng cuối năm chuyển toàn bộ số tiền thu BHXH của huyện về BHXH tỉnh trước 24 giờ ngày 31/12
- Hàng tháng BHXH tỉnh chuyển tiền thu BHXH về tài khoản chuyên thu của BHXH Việt Nam vào các ngày 10, 20 và ngày cuối tháng Nếu số dư trên tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh quá 5 tỷ đồng, thì BHXH tỉnh phải chuyển bổ sung ngay về BHXH Việt Nam Riêng tháng cuối năm chuyển hết số tiền thu BHXH về BHXH Việt Nam trước 24 giờ ngày 31/12
Chế độ thông tin báo cáo
- BHXH tỉnh, huyện, thành thị mở Sổ chi tiết thu BHXH bắt buộc (Mẫu số 07-TBH); thực hiện ghi sổ theo hướng dẫn sử dụng mẫu biểu
- BHXH tỉnh, huyện, thành thị thực hiện chế độ báo cáo tình hình thu BHXH bắt buộc (Mẫu số 09, 10, 11-TBH) định kỳ tháng, quý, năm; BHXH như sau:
+ BHXH huyện, thành thị: Báo cáo tháng trước 22 hàng tháng; báo cáo quý trước ngày 20 tháng đầu quý sau; báo cáo năm trước ngày 25/01 năm sau
+ BHXH tỉnh: Báo cáo tháng trước 25 hàng tháng; báo cáo quý trước ngày cuối tháng đầu quý sau; báo cáo năm trước ngày 15/02 năm sau
Trang 34Chú thích: Quan hệ giữa BHXH và đơn vị tham gia
Quan hệ luân chuyển chứng từ
Quan hệ giữa đơn vị tham gia với BHXH
Sơ đồ 1.1: Quy trình thu
Thu
Danh sách lao động,
quỹ lương
Tài chính chính
Thanh toán ốm đau, thai sản Chứng từ chuyển tiền theo thời
gian và nội dung chứng từ
Hạch toán kế toán theo thời gian và nội dung chứng từ
Sổ chi tiết số phải thu
BHXH, BHYT, BHTN
Xác định nợ tính lãi
gia BHXH
Trang 351.4 Các nhân tố tác động đến quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.4.1 Nhân tố bên ngoài
Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu Bảo hiểm xã hội đó là chính sách tiền lương:
Giữa chính sách tiền lương và chính sách BHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Chính sách tiền lương là tiền
đề và cơ sở cho việc thực hiện chính sách thu BHXH nhất là đối với khu vực Nhà nước quy định thang bảng lương vì khu vực này tiền lương phụ thuộc vào mức lương tối thiểu và hệ số lương Nâng lương tối thiểu đồng nghĩa với việc tăng mức đóng BHXH và đương nhiên tăng số thu BHXH Như vậy, mức lương tối thiểu đã tác động gián tiếp tới mức thu BHXH
Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu Bảo hiểm xã hội là nguồn lực lao động:
Người lao động là đối tượng tham gia BHXH, đang trong độ tuổi lao động, trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội Như vậy, nếu một quốc gia có một dân số “già” tức là số người trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ thấp trong tổng dân số sẽ dẫn tới việc mất cân đối quỹ BHXH bởi vì số người tham gia đóng góp vào quỹ ngày càng
ít trong khi số người hưởng các chế độ BHXH đặc biệt là chế độ hưu trí ngày càng tăng Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, với dân số trẻ( Năm 2010 cả nước có 43,8 triệu người trong độ tuổi lao động đang làm việc, chiếm 51,1% dân số) đang có lợi thế về nguồn lực lao động tham gia đóng góp vào quỹ BHXH song đến hết năm
2010 có khoảng gần 10 triệu người tham gia( chiếm khoảng 20,5 % số người trong
độ tuổi lao động) Con số này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng nên ảnh hưởng rất lớn đến công tác thu
Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu Bảo hiểm xã hội, là tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của Nhà nước Vì thế, nếu một quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao và ổn định thì chắc chắn đời sống nhân dân sẽ được nâng cao dần lên, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cũng sẽ gặp nhiều thuận lợi và các doanh nghiệp cũng sẵn sàng tham gia BHXH cho người lao động Bên cạnh đó tốc
Trang 36độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững phản ánh nhiều người lao động có thu nhập cao thông qua quá trình lao động, đây là điều kiện tiền đề để người lao động có cơ hội tham gia BHXH Thêm nữa, khi đời sống kinh tế cao thì nhận thức của người lao động cũng tăng lên.Ngoài việc đảm bảo cuộc sống hàng ngày cho bản thân và gia đình họ, họ mong muốn có khoản trợ giúp khi không may gặp các rủi ro xã hội như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp khiến họ bị mất hoặc giảm thu nhập Những yếu tố trên tác động tích cực làm tăng thu BHXH
Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu Bảo hiểm xã hội đó là mức độ chi trả các chế
độ BHXH:
Mức độ chi trả các chế độ BHXH phụ thuộc vào: Số lượng các chế độ BHXH được áp dụng, số lượng người hưởng các chế độ BHXH Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) khuyến nghị các quốc gia tham gia phê chuẩn Công ước số 102 về BHXH phải áp dụng tối thiểu 3 trong 9 chế độ BHXH, trong đó ít nhất phải áp dụng một trong các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp tàn tật, trợ cấp nuôi dưỡng Nếu một quốc gia càng triển khai và áp dụng nhiều các chế độ trong số 9 chế độ thì số thu BHXH ngày càng lớn, ở Việt Nam hiện nay đang áp dụng 5 chế độ đó là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất Tỷ lệ hưởng càng cao nghĩa là số tiền chi trả cho các chế độ càng lớn, chính điều này đã đặt ra yêu cầu thu BHXH ngày càng cao hơn để tránh tình trạng mất cân đối quỹ BHXH Thực tế tỷ lệ hưởng lương hưu ở Việt Nam hiện nay
là 75% thuộc một trong những nước có tỷ lệ hưởng lương hưu cao trên thế giới, thông thường ở các nước chỉ ở mức 60% - 65% Song lương hưu ở Việt Nam lại thuộc vào những nước thấp trên thế giới, sở dĩ có nghịch lý này là do: mức đóng của người tham gia BHXH vào quỹ BHXH rất thấp do căn cứ vào tiền lương theo thang bảng lương Nhà nước quy định hoặc lương ký trên hợp đồng, mà đây là những mức lương rất thấp Khi tuổi nghỉ hưu càng được nâng lên thì mức thu càng tăng, giảm nguy cơ mất cân đối quỹ, ngược lại khi tuổi hưu càng thấp thì nguy cơ mất cân đối quỹ càng sớm xuất hiện bởi vì khi nghỉ hưu sớm thì số thu được của quỹ không
Trang 37những ít mà quỹ phải chi nhiều hơn cho người lao động về hưu
Như vậy, để số huy động vào quỹ BHXH ngày càng cao nhằm đảm bảo cho quỹ BHXH được cân đối lâu dài, ổn định thì việc nâng cao hiệu quả thu BHXH là một trong những công việc được đặt ra hàng đầu, tuy nhiên để có thể nâng cao hiệu quả thu BHXH chúng ta cần phải giải quyết hài hòa và căn cứ vào các nhân tố tác động đến công tác thu, qua đó chúng ta tìm ra những nhân tố tác động tích cực để phát huy tiềm năng, thế mạnh, tìm ra những nhân tố tiêu cực để có biện pháp hạn chế
1.4.2 Nhân tố bên trong
Nhận thức của người sử dụng lao động về BHXH: Nếu người lao động có
nhận thức tốt về BHXH có nghĩa là tình trạng nợ, trốn, tránh nộp quỹ BHXH được giảm thiểu, đỡ tốn nhiều công sức và tiền bạc trong việc kiểm soát
1.5 Các tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thu BHXH
- Mức giảm nợ đọng BHXH:Thực hiện thanh tra, kiểm tra các tổ thu hồi nợ trực tiếp đơn vị nợ BHXH để kiểm tra, đôn đốc và xử lý theo thẩm quyền.Trường hợp vượt quá thẩm quyền thì kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thanh tra, kiểm tra,và yêu cầu thanh toán dứt điểm số tiền nợ hoặc xử lý vi phạm hành chính, sau đó lập hồ sơ khởi kiện tòa xử phạt theo quy định.Đối với những đơn vị bị rút giấy phép kinh doanh hoặc đang làm thủ tục giải thể, phá sản hoặc bị phong tỏa, phát mãi tài sản thực hiện việc báo cáo cấp ủy, UBND các cấp và gửi các cơ quan cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, tòa án, ngân hàng đề nghị phong tỏa tài khoản, tài sản, phối hợp trong việc thu hồi nợ BHXH theo quy định của pháp luật và gửi hồ sơ khởi kiện đơn vị.Đối với các đơn vị nợ BHXH mạnh tính chiếm dụng tiền thì sau khi thanh tra, kiểm tra đã chấp hành nghiêm túc.Mặt khác thực hiện đôn đốc, thu nợ hàng tháng, gửi thông báo kết quả đóng đến chủ sử dụng lao động về số tiền đã đóng, số tiền nợ để thực hiện đôn đốc việc đóng, nộp BHXH
- Mức tăng đối tượng đóng BHXH: Đối tượng tham gia BHXH tiếp tục tăng lên đồng thời với việc mở rộng đối tượng, số thu BHXH từ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động cũng tăng lên Luật BHXH ( sửa đổi) với đối tượng người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mùa vụ hoặc một công việc nhất
Trang 38định có thời hạn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng phải tham gia BHXH bắt buộc.Việc đưa nhóm lao động trên tham gia BHXH bắt buộc là cần thiết tiếp tục mở rộng tăng đối tượng tham gia BHXH, bảo đảm an sinh xã hội cho NLĐ khi không còn khả năng lao động.Để tránh hiện tượng các DN trốn đóng BHXH cho NLĐ bằng các hợp đồng mùa vụ, dưới 3 tháng đề nghị phải luật hóa việc xác lập hợp đồng bằng văn bản khi thuê lao động có thời hạn dưới 3 tháng, mùa vụ Bởi quy định hiện hành cho phép DN nếu thuê NLĐ có thời hạn dưới 3 tháng thì không cần ký hợp đồng văn bản và cũng không phải đóng BHXH Điều này vô tình tạo điều kiện để nhiều
DN trốn đóng BHXH cho NLĐ bằng cách chỉ xác lập giao kèo thuê trong ngắn hạn.Vậy đề nghị DN bắt buộc phải xác lập hợp đồng bằng văn bản khi thuê lao động có thời hạn dưới 3 tháng, mùa vụ.Đồng thời, cần đảm bảo sau 1- 3 tháng, nếu
DN tiếp tục ký hợp đồng với NLĐ thì phải tham gia đóng BHXH, như vậy mới bảo đảm nguyên tắc Mặt khác việc đóng BHXH cho các cán bộ không chuyên trách của
xã, phường, thị trấn nên nới rộng hơn trong việc hỗ trợ các đối tượng này đóng BHXH.Quy định Nhà nước chỉ hỗ trợ không quá 10% tiền đóng BHXH cho các đối tượng này quá ít Việc tăng mức hỗ trợ lên nữa, dù ngân sách có thể phải chỉ thêm vài trăm tỷ đồng/ năm, nhưng phúc lợi mang lại sẽ rất lớn với những cán bộ gần gũi với người dân nhất
-Mức tăng tổng quĩ BHXH: Thực hiện theo đúng quy định tại Luật BHXH: cho ngân sách nhà nước vay, mua trái phiếu Chính phủ và đầu tư vào dự án Thủy điện Lai Châu đạt 80% số đầu tư quĩ.Việc tổ chức, triển khai thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020 đã phát huy tác dụng, các cấp ủy, chính quyền
từ Trung ương đến địa phương quan tâm, chỉ đạo sát sao hơn, tạo thuận lợi cơ bản cho công tác thực hiện BHXH.Quỹ BHXH cần được quản lý tập trung, có sự chia sẻ rủi ro trong toàn quốc, tính toán cân đối thu chi hợp lý, dựa trên mức thu nhập người dân, đưa ra hướng điều chỉnh hưu trí phù hợp nhằm cân đối quỹ, tính lại chi phí thường xuyên, không thường xuyên chi cho bộ máy, hoạt động hành chính
Trang 39Tiếp đó là công tác quản lý thu BHXH cũng chỉ ra được khái niệm chung về quản lý thu BHXH, cơ sở pháp lý để thực hiện cũng như những nội dung chính trong công tác quản lý thu BHXH
Ngoài ra phải kể đến những nhân tố tác động đến quản lý thu bảo hiểm xã hội đó là những nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong ảnh hưởng như thế nào đến quản lý thu BHXH, những nguyên nhân tích cực cũng như tiêu cực
Không chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp đó tác giả cũng đã tìm hiểu kinh nghiệm quản lý thu của một số địa phương khác điển hình là kinh nghiệm thu của BHXH tỉnh Vĩnh Phúc và BHXH tỉnh Nam Định, từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho địa phương mình
Cơ sở lý luận về BHXH là những căn cứ khoa học để phân tích thực trạng hoạt động thu BHXH và đề xuất giải pháp nâng cao công tác về quản lý thu BHXH
ở chương tiếp theo
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC
Thị xã Phúc Yên có điều kiện thuận lợi về giao thông đường sắt, đường bộ, đường không và đường sông có lợi thế trong giao lưu kinh tế tạo cơ hội cho Phúc Yên phát
triển toàn diện các mặt đời sống kinh tế, xã hội
2.1.2 Đặc điểm kinh tế
Phúc Yên hiện có 10 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 10 phường, 04 xã); Kinh tế trên địa bàn tăng trưởng khá, giá trị sản xuất của các ngành kinh tế bình quân tăng 8,46%/năm (Mục tiêu đại hội (MTĐH) là 18%/năm) Cơ cấu kinh tế năm
2014 là công nghiệp, xây dựng 90,22% - dịch vụ 9,32% - nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 0,46% So với đầu nhiệm kỳ, công nghiệp, xây dựng giảm 2,49%; dịch vụ tăng 2,6%; nông, lâm nghiệp, thuỷ sản giảm 0,11%
Tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp, xây dựng đạt gần 360.000 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010); trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 350.332 tỷ đồng, bình quân tăng 7,87%/năm (công nghiệp trong nước đạt 11.856 tỷ đồng, tăng 13,51%/năm; công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 338.476 tỷ đồng, tăng 7,54%/năm); giá trị ngành xây dựng đạt 9.562 tỷ đồng, bình quân tăng 13,34%/năm Sản xuất công nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo và tập trung ở các sản phẩm ô tô, xe máy của Công ty Toyota Việt Nam, Công ty Honda Việt Nam, Công ty Toyota