Trong quá trình thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa XHCN, ngành y tế còn chậm đổi mới, còn lúng túng cả về nhận thức và xây dựng cơ chế hoạt động, đặc biệt là
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
* * * * *
NGUYỄN NHẬT HẢI
CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CHO PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
* * * * *
NGUYỄN NHẬT HẢI
CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CHO PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số chuyên ngành: 62 31 01 02
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Văn Luân
Phản biện 3: PGS.TS Trần Thị Lan Hương
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1: PGS.TS NGUYỄN CHÍ HẢI 2: PGS.TS NGUYỄN MINH TUẤN
Phản biện độc lập 1: PGS.TS Trần Thị Lan Hương
Phản biện độc lập 2: PGS.TS Hồ Trọng Viện
TP Hồ Chí Minh, năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực
Những kết luận của luận án này chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Nhật Hải
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4
2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 4
2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 7
3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 10
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 11
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
6 ĐIỂM MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN 16
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN 16
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CHO PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 18
1.1 TÀI CHÍNH, TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TÀI CHÍNH Y TẾ 18
1.1.1 Tài chính 18
1.1.1.1 Khái niệm tài chính 18
1.1.1.2 Các chức năng của tài chính 19
1.1.1.3 Vai trò của tài chính 21
1.1.1.4 Hệ thống tài chính 23
1.1.2 Tài chính công 24
1.1.2.1 Khái miệm tài chính công 24
1.1.2.2 Chức năng của tài chính công 25
1.1.2.3 Vai trò của tài chính công 26
1.1.2.4 Hệ thống tài chính công 26
1.1.3 Tài chính y tế 28
Trang 51.1.3.1 Khái niệm tài chính y tế 28
1.1.3.2 Các chức năng của tài chính y tế 30
1.1.3.3 Vai trò của tài chính y tế 32
1.1.3.4 Hệ thống và cơ chế tài chính y tế 33
1.1.4 Kinh tế thị trường định hướng XHCN 36
1.1.5 Tính công bằng xã hội của tài chính y tế 41
1.2 CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH Y TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 44
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu của chính sách tài chính y tế 44
1.2.1.1 Khái niệm chính sách tài chính y tế 44
1.2.1.2 Đặc điểm của chính sách tài chính y tế 44
1.2.1.3 Mục tiêu của chính sách tài chính y tế 46
1.2.1.4 Những yếu tố cơ bản của chính sách tài chính y tế 47
1.2.2 Nội dung của những chính sách tài chính y tế 49
1.2.2.1 Nội dung của chính sách huy động các nguồn tài chính y tế 50
1.2.2.2 Nội dung của chính sách phương thức chi trả dịch vụ y tế 52
1.2.2.3 Nội dung của chính sách chi công và chi tư trong tổng chi xã hội cho y tế 55 1.2.2.4 Nội dung của chính sách chi phí và giá thành các dịch vụ y tế 56
1.3 KINH NGHIỆM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH Y TẾ CỦA CÁC NƯỚC 58
1.3.1 Kinh nghiệm của nhóm các nước có nền kinh tế chuyển đổi 58
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Cộng Hòa Estonia 58
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Cộng Hòa Czech 60
1.3.2 Kinh nghiệm của nhóm nước phát triển ở Tây Âu 62
1.3.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 63
1.3.4 Kinh nghiệm của Thái Lan 65
1.3.5 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 67
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 69
Trang 6CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CHO PHÁT
TRIỂN SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG Ở VIỆT NAM 70
2.1 HỆ THỐNG TÀI CHÍNH Y TẾ VÀ CÁC CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH Y TẾ70 2.1.1 Hệ thống tài chính y tế ở Việt Nam hiện nay 70
2.1.2 Chính sách tài chính y tế ở Việt Nam hiện nay 71
2.1.2.1 Các chính sách liên quan ngân sách nhà nước cho y tế 71
2.1.2.2 Chính sách bảo hiểm y tế 76
2.1.2.3 Chính sách tài chính từ nước ngoài 81
2.1.2.4 Chính sách chi tiêu trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình cho y tế 82
2.1.2.5 Chính sách huy động nguồn lực tài chính của xã hội cho y tế và cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp y tế 86
2.2 NHỮNG KẾT QUẢ CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH Y TẾ CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 92
2.2.1 Kết quả chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế 92
2.2.1.1 Ngân sách nhà nước cấp cho sự nghiệp y tế có xu hướng tăng 92
2.2.1.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN chi cho sự nghiệp y tế 96
2.2.2 Về thực hiện chính sách bảo hiểm y tế 99
2.2.2.1 Về diện bao phủ của bảo hiểm y tế 99
2.2.2.2 Về mức phí đóng bảo hiểm y tế 102
2.2.2.3 Về cơ chế chia sẻ rủi ro và cung ứng dịch vụ cho người bệnh tham gia BHYT 103
2.2.2.4 Về phương thức chi trả cho người bệnh tham gia BHYT 104
2.2.3 Thực trạng về viện trợ tài chính quốc tế cho y tế Việt Nam 105
2.2.4 Tình hình chi tiêu y tế từ tiền túi của hộ gia đình 106
2.2.5 Thực trạng huy động nguồn lực tài chính của xã hội cho y tế 108
2.2.5.1 Huy động nguồn lực tài chính ở các cơ sở y tế công lập 108
2.2.5.2 Tình hình phát triển y tế tư nhân 113
2.2.6 Tình hình thực hiện chính sách tự chủ tài chính 114
Trang 72.3 NHỮNG TỒN TẠI VÀ KHÓ KHĂN TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CHO SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN Y TẾ CÔNG Ở VIỆT NAM 121 2.3.1 Những vấn đề bất cập trong thực hiện chính sách tài chính y tế từ ngân sách Nhà nước 121 2.3.2 Những vấn đề tồn tại trong chính sách bảo hiểm y tế 124 2.3.3 Những khó khăn, thách thức và nguyên nhân tồn tại trong quản lý, sử dụng viện trợ nước ngoài cho y tế 124 2.3.4 Những tồn tại và nguyên nhân tồn tại đối với chi phí y tế từ tiền túi của hộ gia đình 126 2.3.5 Khó khăn, thách thức và nguyên nhân tồn tại trong huy động nguồn lực tài chính của xã hội cho y tế 127 2.3.6 Những tồn tại và nguyên nhân tồn tại trong thực hiện chính sách tự chủ tài chính y tế 129 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 131
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CHO PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 133
3.1 QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG 133 3.1.1 Căn cứ để xác định việc hoàn thiện chính sách tài chính y tế 133 3.1.1.1 Căn cứ vào yêu cầu phát triển của sự nghiệp y tế công trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 133 3.1.1.2 Căn cứ vào đánh giá thực trạng các chính sách tài chính cho sự nghiệp phát triển y tế công 134 3.1.1.3 Căn cứ vào dự báo những thuận lợi và khó khăn trong chính sách tài chính cho sự nghiệp phát triển y tế công 136 3.1.2 Quan điểm hoàn thiện chính sách tài chính y tế cho sự nghiệp phát triển y tế công trong thời gian tới 139
Trang 83.1.3 Các mục tiêu của sách tài chính cho sự nghiệp phát triển y tế công trong nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN 140
3.1.4 Hướng hoàn thiện chính sách tài chính y tế ở Việt Nam trong thời gian tới 142 3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 143
3.2.1 Nhóm giải pháp đối với các cơ quan quản lý nhà nước 143
3.2.2 Nhóm giải pháp cho tăng nguồn thu 146
3.2.3 Nhóm giải pháp đổi mới phương thức chi trả 153
3.2.4 Nhóm giải pháp đổi mới cơ chế tài chính 155
3.2.5 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực 160
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 162
KẾT LUẬN 164 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT : Bảo hiểm y tế
BHXH : Bảo hiểm xã hội
CNH : Công nghiệp hóa
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products)
HĐH : Hiện đại hóa
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH, SƠ ĐỒ
BẢNG
Bảng 1.1 Các chỉ số tài chính y tế của Cộng Hòa Estonia 59
Bảng 1.2 Các chỉ số tài chính y tế của Cộng Hòa Czech 60
Bảng 1.3 Các chỉ số tài chính y tế của Cộng Hòa Liên Bang Đức 62
Bảng 1.4 Các chỉ số tài chính y tế của Hàn Quốc 63
Bảng 1.5 Các chỉ số tài chính y tế của Thái Lan 65
Bảng 2.1 Bảng tình hình chi NSNN cho y tế giai đoạn 2001- 2014 92
Bảng 2.2 Số liệu NSNN cấp cho một số bệnh viện công giai đoạn 2005-2014 96
Bảng 2.3 Số người tham gia BHYT cả nước, 2008- 2009 100
Bảng 2.4 Số người tham gia BHYT cả nước, 2010- 2013 101
Bảng 2.5 Số thu BHYT giai đoạn 2010-2014 102
Bảng 2.6 Mức đóng BHYT bình quân năm 2013 theo các nhóm đối tượng 103
Bảng 2.7 Tổng kết thu– chi quỹ BHYT giai đoạn 2010 - 2014 105
Bảng 2.8 Mức thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người từ năm 2002-2014 107
Bảng 2.9 Mức chi cho y tế từ tiền túi của hộ gia đình trung bình/hộ/tháng (theo giá hiện hành và giá so sánh năm 2014), 2002~2014 107
Bảng 2.10 Thực trạng nghèo hóa do chi phí y tế tại Việt Nam 2002 – 2014 108
Bảng 2.11 Bảng tổng hợp kết quả liên doanh, liên kết năm 2011-2013 111
Bảng 2.12: Nguồn thu hoạt động dịch vụ theo yêu cầu tại một số bệnh viện công giai đoạn 2005 -2014 112
Bảng 2.13 Tổng hợp các nguồn thu viện phí và BHYT của các bệnh viện công trong cả nước giai đoạn 2001-2015 117
Bảng 2.14 Nguồn thu viện phí và viện phí BHYT của một số bệnh viện công lập giai đoạn 2005 – 2014 118
Bảng 2.15 Chi cho con người tại một số bệnh viện công lập giai đoạn 2005-2014 119
Trang 11HÌNH
Hình 2.1 Tỷ lệ gia tăng thực tế chi NSNN chung và cho y tế giai đoạn
2010–2014 93
Hình 2.2 Tốc độ tăng chi NSNN cho y tế so với tốc độ tăng chi NSNN theo giá so sánh giai đoạn 2004–2013 94
Hình 2.3 Tỷ trọng chi thường xuyên cho y tế từ NSNN so với tổng chi thường xuyên NSNN và so với GDP từ năm 2008–2013 95
Hình 2.4 Các mục chi NSNN cho y tế năm 2013 97
Hình 2.5 Chi Ngân sách nhà nước cho y tế bình quân đầu người giữa các vùng kinh tế xã hội năm 2013, Chi NSNN cho y tế bình quân đầu người 98
Hình 2.6 Cơ cấu chi phí y tế giai đoạn 2003 – 2013 99
Hình 2.7 Tỷ lệ người tham gia BHYT theo nhóm đối tượng năm 2013 100
Hình 2.8 Tỷ lệ các nguồn tại chính y tế tại Việt Nam giai đoạn 2002–2013 106
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Hệ thống tài chính 23
Sơ đồ 1.2 Hệ thống tài chính công 28
Sơ đồ 1.3 Hệ thống và cơ chế hoạt động của hệ thống tài chính y tế 35
Sơ đồ 1.4 Những yếu tố cơ bản quyết định tới chính sách tài chính y tế 49
Sơ đồ 2.1 Hệ thống tài chính y tế ở Việt Nam 70
Sơ đồ 3.1 Chăm sóc sức khỏe toàn diện 141
Trang 12MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong cuộc sống của con người và xã hội loài người, việc chăm lo cho sức khỏe của cá nhân và cộng đồng xã hội là vấn đề quyết định cho sự tồn vong của con người trước sự tác động của tự nhiên, của dịch bệnh Xã hội loài người càng phát triển, nền sản xuất xã hội càng phát triển, cá nhân và xã hội con người càng quan tâm đến chăm sóc sức khỏe cho mình Người ta ngày càng dành một phần lớn của cải làm ra để chi trả cho việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của mình Vì vậy, Chính phủ các quốc gia trên thế giới đều có chính sách y tế nhằm chăm lo sức khỏe của dân cư sống trên lãnh thổ quốc gia mình Tùy vào từng quốc gia, chính sách y tế cũng có khác nhau, có nước đề ra chính sách y tế dựa trên ngân sách nhà nước, toàn
bộ chi phí y tế đều do nhà nước chi trả theo nguyên tắc “chữa bệnh không mất tiền”,
có nước thực hiện chính sách y tế kết hợp ngân sách nhà nước chi trả một phần, phần còn lại do cá nhân người bệnh chi trả,…
Trong lịch sử, khi Việt Nam thực hiện chính sách kế hoạch hóa tập trung bao cấp, chính sách y tế của Việt Nam là Nhà nước đảm bảo chi trả toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cho người dân Từ khi Việt Nam chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì chính sách y tế của Việt Nam cũng có sự thay đổi Nhà nước không còn bao cấp hoàn toàn trong chi trả cho khám chữa bệnh của người dân mà chuyển sang cơ chế Nhà nước và nhân dân cùng chi trả cho các dịch vụ khám chữa bệnh Dựa trên chính sách y tế mới, chính sách tài chính cho phát triển sự nghiệp y tế ở Việt Nam cũng có sự thay đổi cho phù hợp
Trong thực tế để thiết kế một chính sách tài chính y tế phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vô cùng khó khăn và phức tạp Bởi
vì, xuất hiện hai quan điểm trái chiều: Một là, chúng ta quen với cơ chế bao cấp đã
lâu, khi không còn cơ chế bao cấp triệt để, chúng ta đã không nhanh chóng chuyển đổi tư tưởng và cách suy nghĩ về một cơ chế tài chính y tế thích hợp với cơ chế thị
Trang 13trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hai là, tồn tại quan điểm cho rằng sức khỏe
cũng là một loại hàng hóa nên khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường thì việc chăm sóc sức khỏe cũng sẽ được điều tiết đơn thuần bởi thị trường như các kiểu hàng hóa khác
Đứng trước những thử thách này, Đảng ta đã luôn luôn chỉ đạo, xác định những quan điểm về chiến lược phát triển ngành y tế phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội Những nghị quyết và chỉ thị của Đảng đã trở thành kim chỉ nam để hướng dẫn việc vận hành ngành y tế nước ta hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển Vì vậy trong những năm qua, y tế Việt Nam đã đạt được những thành quả nhất định trong đảm bảo khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển; nhiều dịch bệnh nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi; các dịch vụ y tế ngày một đa dạng; nhiều công nghệ mới được nghiên cứu và ứng dụng, nhiều cơ sở khám chữa bệnh, giảng dạy và nghiên cứu của ngành y tế được xây dựng mới, việc cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế kỹ thuật cao đã có nhiều tiến bộ vượt bậc Luật Bảo hiểm y tế ra đời và đã phát huy tác dụng tốt, độ bao phủ bảo hiểm y tế đã đạt ngưỡng 70% dân số (theo số liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tính đến tháng 6/2015) Người dân ở hầu hết các vùng, miền đã được chăm sóc sức khỏe tốt hơn, phần lớn các chỉ tiêu tổng quát về sức khỏe của nước ta đều vượt các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người Trình độ của các các y, bác sĩ ngày một nâng cao Đời sống của viên chức ngành y tế được cải thiện
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên ngành y tế hiện còn nhiều tồn tại, khó khăn, thách thức như: (i) mô hình bệnh tật thay đổi theo hướng gia tăng nhanh chóng gánh nặng các bệnh không lây nhiễm và tai nạn thương tích, đan xen với bệnh nhiễm trùng; tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, mang tính toàn cầu; vấn đề kiểm soát yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe còn gặp nhiều khó khăn (như dịch bệnh nguy hiểm, ngộ độc thực phẩm, ô nhiễm môi trường, tai nạn, tệ nạn
xã hội ), trong khi khả năng đáp ứng về dịch vụ y tế còn hạn chế, đặc biệt là ở y tế
cơ sở; (ii) chênh lệch về chỉ số sức khỏe giữa các vùng ngày càng cao; (iii) tình
Trang 14trạng sức khoẻ của nhân dân miền núi, vùng sâu, vùng xa tuy đã có cải thiện, nhưng tiến bộ chậm hơn so với mức chung của cả nước; (iv) hệ thống y tế cơ sở vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập; (v) chất lượng nguồn nhân lực y tế cơ sở ở nhiều nơi chưa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân, việc thu hút các cán bộ y
tế có trình độ chuyên môn giỏi về công tác tại tuyến cơ sở còn gặp khó khăn do chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng; đầu tư cho y tế cơ sở cả về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị chưa đáp ứng được yêu cầu,
Bên cạnh đó, những vấn đề do mặt trái của cơ chế thị trường mang lại đã gây một sức ép mới với ngành y tế Trong một thời gian dài chúng ta tập trung thực hiện nhiệm vụ chính là tăng trưởng kinh tế, coi nhẹ công tác phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe người dân Sự phân hóa giàu nghèo trước đây không có, nay đã xuất hiện gây khó khăn trong việc thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe Người có tiền do
có khả năng chi trả nên yêu cầu chăm sóc sức khỏe ngày một cao hơn, người nghèo không có tiền để chi trả, nhưng họ lại là những đối tượng hay ốm đau nên nhu cầu chăm sóc sức khỏe của họ rất lớn Vì vậy, cần phải có các giải pháp đột phá, khả thi
và hiệu quả cho việc xây dựng ngành y tế về các mặt: nhân lực, cơ sở hạ tầng, cơ chế tài chính, chính sách thu hút và đãi ngộ cán bộ nhằm đẩy mạnh việc chăm sóc sức khỏe ban đầu, hướng tới bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân, tiến tới xây dựng một nền y tế công bằng, hiệu quả và phát triển
Một thực tế khác là theo tiêu chuẩn quốc tế thì Việt Nam là nước có tỉ lệ chi tiêu y tế hộ gia đình rất cao - chi phí bằng tiền túi cho y tế của phần lớn các hộ gia đình đều vượt quá tỉ lệ hợp lý so với thu nhập của họ Điều này phản ánh hai thực tế: Một mặt, người dân Việt Nam đang cần được chăm sóc y tế; mặt khác, hệ thống bảo hiểm y tế xã hội chưa được bao phủ toàn dân Mục tiêu và cũng là thách thức của Việt Nam là phải thực hiện bảo BHYT toàn dân, cải cách các yếu tố của hệ thống tài chính và cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh để người dân được chăm sóc sức khỏe (CSSK) kịp thời và người cung cấp dịch vụ được khuyến khích điều trị bệnh theo hướng chi phí hợp lý và hiệu quả
Trang 15Trong quá trình thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), ngành y tế còn chậm đổi mới, còn lúng túng cả về nhận thức và xây dựng cơ chế hoạt động, đặc biệt là cơ chế tài chính, nên chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo của các đơn vị y tế cũng như của cán bộ y tế, chưa huy động đầy đủ nguồn lực xã hội để vừa thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, công bằng trong CSSK, vừa bảo đảm yêu cầu phát triển hệ thống y tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Để có cơ sở cho việc hoạch định chính sách tài chính y tế phù hợp với nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tôi chọn đề tài: “Chính sách tài chính cho phát triển sự nghiệp y tế công trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” để làm luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị
2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều công trình đã nghiên cứu về chính sách tài chính quốc gia, tác động của chính sách tài chính quốc gia đến nền kinh tế, tăng trưởng và giải quyết việc làm của quốc gia Đồng thời cũng có nhiều công trình nghiên cứu chính sách tài chính cho các lĩnh vực hoạt động cụ thể trong nền kinh tế như chính sách tài chính cho thị trường bất động sản, chính sách tài chính cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp, chính sách tài chính thu hút đầu tư nước ngoài, chính sách tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách tài chính cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, cho phát triển sự nghiệp y tế, …
Tuy nhiên các tài liệu viết về chính sách tài chính y tế thì không nhiều, một
số giáo trình mà tác giả đã được tham khảo như sau:
2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước
"Healthcare financing for Việt Nam" (2003) của tác giả Jordan D Ryan Tác giả cho rằng Việt nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề quan trọng trong công tác
y tế Một thách thức lớn là làm thế nào để bảo vệ các thành quả đạt được trong quá khứ, trong khi phải điều chỉnh để thích nghi với thực tế mới Các vấn đề cần giải quyết gồm: Chất lượng dịch vụ, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư của Chính phủ
Trang 16còn thấp cho y tế, vai trò của Nhà nước trong điều hành và giám sát y tế công, tư, bằng chứng thực tiễn chỉ ra rằng trong bối cảnh này các quyết định của Nhà nước về chiến lược tài chính cho y tế có những ảnh hưởng quan trọng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế và sức khỏe của người dân Tài liệu đóng góp những giải pháp chung cho tài chính y tế hiện tại và trong tương lai Hiện tại các chính sách tài chính
y tế ở Việt Nam đã làm tăng sự bất bình đẳng, trong khả năng tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh và sự chênh lệch về sức khỏe là nguyên nhân khiến nhiều người tái nghèo Để Việt Nam đạt được một ngành y tế có hiệu quả và công bằng, thì tài chính y tế phải là một nội dung chính và khẩn cấp trong chương trình cải cách về
chính sách y tế
“Health Financing Revisited”, Ngân hàng Thế Giới (2006) Trong tác phẩm này tập trung nghiên cứu về tài chính tế là một chức năng của hệ thống y tế có liên quan đến việc huy động, tập hợp và phân bổ các nguồn tài chính để chi trả cho nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ của nhân dân Mục tiêu của việc cung cấp tài chính cho y
tế là bảo đảm nguồn vốn cho phát triển sự nghiệp y tế, cũng như khuyến khích cho
cơ sở cung ứng dịch vụ tạo nguồn thu một cách hợp lý và bảo đảm cho mọi người dân được tiếp cận các dịch vụ y tế công cộng và chăm sóc sức khoẻ cá nhân có hiệu quả
“Strategy on Health Care Financing for Countries of the Western Pacific and South-East Asia Regions 2006–2010”, Tổ chức Y tế thế giới (2005) Tổ chức Y tế Thế giới đã nghiên cứu về chiến lược tài chính y tế cho khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương trong đó phân tích các thách thức mà các nước trong khu vực đang gặp phải như khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nguồn lực ngày càng khan hiếm
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đề xuất một khung chính sách chiến lược, trong đó nêu rõ các vấn đề như: Tăng đầu tư và chi tiêu công cho y tế; phát triển hệ thống CSSK toàn dân và mạng lưới an sinh xã hội đặc biệt cho người nghèo và người dễ
bị tổn thương; phát triển cơ chế chi trả trước thông qua BHYT toàn dân; tăng cường quản lý và can thiệp theo chức năng; hoàn thiện việc xây dựng và thực hiện các chính sách tài chính y tế
Trang 17"Health financing a basic guide" (2006), Tổ chức Y tế thế giới Tài liệu định hướng cho Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách của các quốc gia, nên đầu
tư cho cải thiện sức khỏe là rất cần thiết, vì đầu tư cho sức khỏe là đầu tư cho phát triển Mọi người dân đều khỏe mạnh tạo ra tăng trưởng đáng kể cho tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên các nhà làm chính sách sẽ luôn phải đối mặt với thực tế khắc nghiệt, là nhu cầu về chăm sóc sức khỏe của con người gần như không có giới hạn
và vẫn đang phát triển, trong khi nguồn lực hữu hạn ở mọi quốc gia ngày càng thu hẹp Vì vậy khi hoạch định chính sách tài chính cho y tế cần phải trả lời được các câu hỏi: Can thiệp của Chính phủ như thế nào để giải quyết mâu thuẫn trên là tốt nhất; Can thiệp có tính bền vững về tài chính hay không; Đó có phải là biện pháp tốt nhất để đáp ứng các mục tiêu chính sách y tế; Cộng đồng người nghèo sẽ nhận được gì từ các chính sách can thiệp của Chính phủ, Tài liệu cũng đưa ra các chỉ
số y tế cơ bản, qua đó có thể đánh giá hiệu quả của các chính sách tài chính y tế của các nước theo tiêu chuẩn của WHO
“Health financing policy: A guide for decision makers” (2008), tác giả Joseph Kutzin, trong tài liệu tác phân tích các chính sách tài chính từ ba khía cạnh: Một là, đưa ra các chuẩn mực, mục tiêu của Tổ chức Y tế thế giới về hệ thống tài chính y tế cho các nước; Hai là, đưa ra khung khái niệm để phân tích, mô tả, đánh giá chức năng của chính sách tài chính liên quan đến hệ thống y tế quốc gia; Ba là, nêu lên các hạn chế về tài chính mà các quốc gia phải đối mặt và sự lựa chọn chính sách tài chính phù hợp với điều kiện của từng quốc gia, nhằm đảm bảo cho người dân có thể tiếp cận với các dịch vụ y tế một cách hiệu quả nhất
“Health financing strategy for the Asia Pacific region 2010-2015” (2009), Tổ chức Y tế Thế Giới Trong tác phẩm này Tổ chức Y tế thế giới y tế đã đưa ra chiến lược tài chính y tế cho 37 quốc gia khu vực Tây Thái Bình Dương và 11 quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2010-2015 Các quốc gia trong khu vực phải đối mặt với suy thoái kinh tế toàn cầu, đặt ra những thách thức cũng như cơ hội để cải thiện hệ thống y tế Suy thoái kinh tế nảy sinh nhiều khó khăn đè nặng lên ngân sách Nhà nước cho công tác CSSK Mức độ chi tiêu tiền túi cho y tế ở khu vực này cao hơn
Trang 18nhiều so với các khu vực khác trên thế giới WHO khuyến khích Chính phủ các nước đưa ra chiến lược tăng cường đầu tư và chi tiêu công cho y tế, đồng thời có hành động để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính công, dựa trên nguyên tắc và các giá trị của việc CSSK ban đầu “Chiến lược tài chính cho khu vực Châu
Á Thái Bình Dương 2010-2015” giúp cho Chính phủ các nước trong khu vực phân tích tình huống tài chính y tế của mình và xác định cụ thể hành động để đạt được phổ cập trong CSSK ban đầu cho người dân với các chỉ tiêu cụ thể: Nguồn tài chính công phải đạt 5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP); chi tiêu từ tiền túi không được vượt 30 - 40% tổng chi phí cho y tế, BHYT phải bao phủ 90% dân số; hỗ trợ 100% người nghèo, người dễ bị tổn thương được Chính phủ mua cho thẻ BHYT Để đạt được các mục tiêu đã nêu, ngành y tế phải xây dựng đồng bộ 8 chiến lược gồm: (i) tăng cường đầu tư công cho y tế; (ii) tăng cường sử dụng hiệu quả các nguồn viện trợ cho y tế; (iii) hợp lý hóa các chi phí cho y tế; (iv) tiến tới BHYT toàn dân; (v) cải thiện phương thức thanh toán cho các cơ sở cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh (KCB); (vi) tăng cơ chế an sinh xã hội cho người nghèo, người dễ tổn thương; (vii) cải thiện các thông tin và bằng chứng khi xây hoạch định chính sách và (viii) cải thiện việc giám sát và đánh giá các thay đổi của chính sách
“Health Financing and Delivery in Vietnam”, (2008) Ngân hàng thế giới nghiên cứu về tài chính y tế Việt Nam, trong đó đã đánh giá thực trạng, những vấn
đề bất cập về các chính sách tài chính y tế ở Việt Nam như tỷ lệ người dân tham gia BHYT còn thấp, tỷ lệ chi tiêu tiền túi cho y tế chiếm hơn 50% tổng chi tiêu cho y tế, đồng thời đề xuất các giải pháp ngắn hạn và trung hạn về một số chính sách tài chính y tế của Việt Nam nhằm bảo đảm công bằng về đóng góp tài chính y tế từ các góc độ khác nhau như: Bảo đảm tính bền vững trong cung cấp tài chính cho y tế,
thực hiện Bảo hiểm y tế toàn dân
2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
“Kinh tế y tế” (2001), Phạm Huy Dũng,Trương Việt Dũng chủ biên, Nhà xuất bản Y học Trong tác phẩm có nhiều bài liên quan đến các khái niệm, cơ cấu, mục tiêu của các nguồn thu, chi của tài chính y tế Các tác giả nêu phương pháp
Trang 19phân tích các chỉ tiêu tài chính, đánh giá tài chính y tế trên cơ sở lý thuyết cũng như thực tiễn Trình bày kinh nghiệm của các nước đang phát triển và rút ra bài học kinh nghiệm cho tài chính y tế Việt Nam Đặc biệt có bài "Bảo hiểm y tế" của Vũ Xuân Phú, tác giả cho rằng BHYT dựa trên những nguyên lý chung về tập hợp và chia sẻ nguy cơ, rủi ro về sức khỏe và bệnh tật Hệ thống BHYT chi trả cho các dịch vụ y tế được bảo hiểm bằng các nguồn thu của Quỹ bảo hiểm Cơ sở phổ biến nhất của đóng phí bảo hiểm của một khách hàng là cả từ phía chủ lao động và người lao động, phụ thuộc vào khả năng mua, tiếp cận dịch vụ và nhu cầu sử dụng Người tham gia BHYT đóng góp một mức phí từ trước khi đau ốm và sẽ được hưởng các quyền lợi về chăm sóc y tế khi đến cơ sở KCB Trong quá trình phát triển BHYT đã trở thành một trong những phương thức đảm bảo tài chính có nhiều ưu điểm trong lĩnh vực y tế
"Bài giảng quản lý và chính sách y tế” (2002), tác giả Trương Việt Dũng, Nguyễn Duy Luật chủ biên, Nhà xuất bản Y học Hà Nội Trong tác phẩm này có nhiều bài viết của các tác giả khác nhau, mỗi bài đều là cơ sở lý thuyết giúp cho người đọc nắm vững nội dung, phương pháp quản lý y tế; phương pháp hoạch định, xây dựng các chính sách y tế; phương pháp nghiên cứu, đánh giá, điều chỉnh và theo dõi, giám sát các chính sách y tế Theo nhóm tác giả, nhiệm vụ của phân tích chính sách là cung cấp thông tin để cho thấy một số hoạt động thực thi chính sách như đã đề ra có phù hợp hay không, có được chấp nhận hay không Phân tích chính sách phải dự báo được liệu chính sách có thể sẽ gặp phải phản ứng ở đâu, ai sẽ được lợi và ai không được lợi và phản ứng của nhóm không được hưởng lợi sẽ ra sao, Phân tích chính sách y tế cần thiết phải đề cập tới những vấn đề liên quan tới việc ra quyết định cũng như sự phối hợp lồng ghép của các Bộ, Ngành, trong đó Bộ Y tế giữ vai trò chủ đạo nhằm đạt được mục tiêu của việc CSSK nhân dân
“Kinh tế y tế và bảo hiểm y tế” (2007) của tác giả Nguyễn Thị Kim Chúc chủ biên, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội Trong tác phẩm này tác giả đi sâu về lý thuyết kinh tế y tế, đồng thời cũng nêu khái niệm, phân tích tài chính y tế dưới góc độ lý thuyết và trình bày các mô hình tài chính y tế cơ bản trên thế giới Theo quan điểm
Trang 20của tác giả, Chính phủ đưa ra các chính sách tăng đầu tư và tăng trưởng kinh tế thì luôn phải quan tâm đến những thách thức cơ bản là: Làm sao để các khu vực, các tỉnh, các tầng lớp dân cư, các dân tộc ít người đều có cơ hội tham gia và hưởng lợi
từ tiến trình phát triển, để đất nước đạt được sự công bằng cao trong CSSK và phát triển con người Bên cạnh sự cải cách kinh tế vĩ mô phù hợp, cần phải có một công cuộc cải cách hành chính Nhà nước, trong đó vấn đề nổi cộm là chi trả cho các dịch
vụ công Lương cho người cung cấp dịch vụ công còn quá thấp so với chi tiêu trung bình hàng tháng của hộ gia đình, dẫn đến việc cung cấp dịch vụ chất lượng kém, nhiều hiện tượng tiêu cực là điều không thể tránh khỏi Hơn thế cũng cần phải có pháp luật Nhà nước, cải thiện các biện pháp bảo trợ xã hội và tăng cường sự tham gia của các tầng lớp xã hội
"Tài chính y tế: một trong những yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo một nền
y tế mang tính chất công bằng, góp phần an sinh xã hội", tác giả Phạm Mạnh Hùng, (2010), tác giả viết: "Tài chính y tế là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tính công bằng trong CSSK và đảm bảo an sinh xã hội Cách huy động các nguồn tài chính và cách phân bổ tài chính sẽ quyết định việc có giúp người dân, nhất là người nghèo vượt qua những khó khăn và rủi ro do chi phí dành cho CSSK gây ra hay không Nói một cách khác là việc xác định được cơ chế tài chính đúng sẽ làm giảm nguyên nhân gây ra nghèo đói do chi phí dành cho CSSK gây ra và thông qua đó mà ảnh hưởng rất lớn đến việc xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội" Tác giả cũng khẳng định rằng nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) thông qua thuế có tính ưu việt nhất trong các nguồn ngân sách cho y tế NSNN là giải pháp tốt nhất trong việc chia sẻ những khó khăn về tài chính để chăm sóc sức khỏe giữa người giàu với người nghèo, giữa vùng giàu với vùng nghèo, giữa người đang độ tuổi lao động với trẻ em
và người già, giữa người khỏe với người rủi ro về sức khỏe
“Đổi mới cơ chế tài chính y tế - Thực trạng và giải pháp”, kỷ yếu hội thảo khoa học kinh tế y tế lần thứ nhất (12/2010), Hà Nội Trong tác phẩm này có nhiều bài viết của các tác giả tập trung vào chủ đề đổi mới cơ chế tài chính y tế ở Việt Nam, đặc biệt là bài của tác giả Phạm Lê Tuấn với tiêu đề "Tài chính bệnh viện Việt
Trang 21Nam và những vấn đề cần quan tâm", tác giả đã nêu rõ việc xem xét và giải quyết những vấn đề cần quan tâm trong quá trình đổi mới cơ chế tài chính bệnh viện, theo chủ trương "xã hội hóa" và "tự chủ" Cần đánh giá toàn diện tình hình của các bệnh viện công lập, đặc biệt là các hoạt động liên doanh, liên kết, trên cơ sở đó xác định chủ trương đổi mới toàn diện cơ chế hoạt động của các bệnh viện công lập, đổi mới quản lý vĩ mô khu vực công và đổi mới vai trò và trách nhiệm của cơ quan BHYT Bảo đảm tính thống nhất và gắn kết các tuyến cung ứng dịch vụ y tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả các dịch vụ; gắn kết khám chữa bệnh với phòng bệnh và các hoạt động nâng cao sức khỏe cộng đồng Nghiên cứu đánh giá các cơ chế khuyến khích cán bộ, nhân viên các bệnh viện công lập và đề xuất các giải pháp toàn diện tạo động lực làm việc cho họ, trong đó đề cao giá trị tinh thần vào đạo đức của người thầy thuốc, đi đôi với việc tăng cường giám định chất lượng và xử lý thích đáng những vi phạm về tiêu chuẩn chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp Xây dựng hệ thống thông tin, giám sát, đánh giá hoạt động của bệnh viện, bảo đảm tính công khai, minh bạch và sự chỉ đạo, định hướng và kiểm soát của Bộ Y tế
Các nghiên cứu nêu trên đã cung cấp nhiều thông tin và bằng chứng hữu ích cho việc hoạch định chính sách tài chính y tế, tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể của tài chính y tế như viện phí, bảo hiểm y tế, cơ chế tài chính bệnh viện, cơ chế chi trả, đồng thời đề xuất và đưa ra các giải pháp cho tài chính y tế là huy động nguồn lực, điều phối nguồn lực và chi trả dịch vụ Các công trình trên chưa nghiên cứu một cách hệ thống về chính sách tài chính y tế và tính tất yếu phải thực hiện chính sách tài chính y tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với điều kiện vừa đảm bảo tính công bằng trong tiếp cận các dịch vụ y tế của các tầng lớp dân cư, vừa đảm bảo các yếu tố thị trường định hướng XHCN trong thực hiện các dịch vụ y tế, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế
3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của luận án là nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận về tài chính, tài chính công, tài chính y tế, chính sách tài chính y tế Phân tích thực trạng các chính sách tài chính y tế ở Việt Nam Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới,
Trang 22hoàn thiện chính sách tài chính cho phát triển sự nghiệp y tế công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Để đạt được mục tiêu trên luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
Thứ nhất, Hệ thống hóa cơ sở lý luận của tài chính, tài chính công, tài chính
y tế và chính sách tài chính y tế
Thứ hai, Luận giải các chính sách tài chính cho phát triển sự nghiệp y tế
công tại Việt Nam
Thứ ba, Phân tích thực trạng các chính sách tài chính cho phát triển sự
nghiệp y tế công hiện nay
Thứ tư, Xác định các căn cứ, quan điểm, từ đó đề xuất giải pháp nhằm đổi
mới, hoàn thiện chính sách tài chính cho phát triển sự nghiêp y tế công trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
Với các nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, luận án sẽ tập trung vào trả lời các câu hỏi sau:
Các chính sách tài chính y tế hiện nay có điểm nào còn hạn chế, chưa phù hợp với mục đích của ngành là cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cao với chi phí thấp?
Thực trạng các chính sách tài chính y tế hiện nay ở nước ta như thế nào? Các giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện việc xây dựng chính sách tài chính y
tế đảm bảo công bằng - hiệu quả - phát triển trong công tác CSSK nhân dân?
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các chính sách tài chính cho sự nghiệp phát triển y tế công ở Việt Nam
Các chính sách tài chính cho phát triển sự nghiệp y tế công liên quan đến nhiều lĩnh vực như: Khám chữa bệnh; y tế dự phòng; sản xuất kinh doanh thuốc, hóa chất, trang thiết bị y tế; y tế trong các lực lượng vũ trang; y tế biển đảo; y tế an sinh xã hội, … Trong phạm vi không gian của luận án, tác giả chỉ trình bày đến các chính sách tài chính trong lĩnh vực khám chữa bệnh, và nhấn mạnh đến tình hình
Trang 23thu - chi ở một số bệnh viện công lập Phạm vi thời gian của luận án là từ khi Việt Nam chuyển đổi mô hình từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Đặc biệt là giai đoạn đổi mới cơ chế quản lý tài chính, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Số liệu được sử dụng để phân tích trong luận án là nguồn số liệu thu thập ở một số bệnh viện công lập, niên giám thống kê y
tế, tài khoản y tế quốc gia và các báo cáo tài chính của Bộ Y tế, Bộ Tài chính trong
10 năm gần đây
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án được nghiên cứu dựa trên những nguyên lý của khoa học kinh tế chính trị Mác - Lê nin, có tham khảo một số lý thuyết của kinh tế học, kinh tế phát triển, tài chính học, dựa trên những quan điểm và đường lối mới trong các văn kiện của các Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), các nghị quyết của Đảng, các nghị định của Chính phủ, các thông tư của Bộ Tài chính, Bộ Y tế liên quan đến đề tài, có tham khảo một số kinh nghiệm về chính sách tài chính y tế của một số nước trên thế giới
Luận án thuộc chuyên ngành kinh tế chính trị, nên tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp chung của mọi ngành khoa học, để làm rõ nội dung và các yêu cầu của chính sách tài chính cho sự nghiệp phát triển y tế công trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác giả coi chính sách tài chính cho sự nghiệp phát triển y tế là sự phát triển tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường
và ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, có sự điều tiết của Nhà nước Chính sách tài chính cho sự nghiệp phát triển y tế công tùy thuộc nhiều vào
sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự hoàn thiện của quan hệ sản xuất tương ứng
và vai trò của Nhà nước thông qua bản chất và các chính sách pháp luật cụ thể trong lĩnh vực y tế công Do đó chính sách tài chính cho sự nghiệp phát triển y tế công không phải là do ý chí chủ quan, tâm lý, đạo đức, lương tâm mà có thể quyết định được
Trang 24Luận án chú trọng vào các mối liên hệ nội tại tác động qua lại lẫn nhau giữa các chính sách tài chính cho sự nghiệp y tế công; vai trò quản lý điều tiết tài chính của Nhà nước, chính sách tài khóa, chính sách giá, sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất tương ứng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Chính sách tài chính cho sự nghiệp phát triển y tế công tùy thuộc vào từng giai đoạn, từng thời kỳ của sự vận động phát triển của kinh tế xã hội, đó là vấn đề
có tính quy luật Phép biện chứng duy vật thể hiện ở các nguyên lý, các quy luật cơ bản, quy luật không cơ bản, các cặp phạm trù, Vận dụng quy luật mâu thuẫn vào phân tích và trình bày nội dung của đề tài Chính sách tài chính cho phát triển sự nghiệp y tế công có nhiều mâu thuẫn, do quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội (CNXH) ở Việt nam là quá độ gián tiếp, chưa có nền tảng vật chất do Chủ nghĩa Tư Bản (CNTB) để lại; từ sản xuất nhỏ đi lên nên có nhiều hệ quả để lại, nhất là tư duy còn nặng về bao cấp một phần giá viện phí nên gặp nhiều khó khăn khi xây dựng chính sách tài chính y tế cho sự nghiệp phát triển y tế công trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Vì vậy cần phải huy động toàn dân tham gia, tức là phải xã hội hóa chính sách tài chính y tế mới có thể giải quyết được mâu thuẫn lớn này, đồng thời phải cấu trúc lại hệ thống y tế công Thông qua các phương pháp nghiên cứu để xem xét vấn đề quản lý và sử dụng nguồn tài chính y tế công có hiệu quả đến đâu? Những hạn chế cần khắc phục và giải quyết cho chính sách tài chính công từng bước được hoàn thiện, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học, là phương pháp đặc trưng cơ bản nhất của kinh tế chính trị, thông qua phương pháp này vạch rõ bản chất của đối tượng nghiên cứu: Chính sách tài chính cho sự nghiệp phát triển y tế công trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Bản chất của nó là vai trò, trách nhiệm, hiệu quả của quản lý nhà nước trong chính sách tài chính nói chung và chính sách tài chính cho sự nghiệp phát triển y tế công nói riêng Việc nhận thức và vận dụng chính sách tài chính y tế phải gắn liền với chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách giá, … với kế hoạch phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 25Xem xét các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến chính sách tài chính cho sự nghiệp phát triển y tế công, thực hiện chính sách tài chính y tế thế nào để góp phần giải phóng các nguồn lực trực tiếp, nhất là đến sức khỏe con người, nguồn lực quý nhất, quyết định nhất trong mọi vấn đề là nguồn nhân lực
Trừu tượng hóa khoa học, quan trọng nhất là điểm xuất phát Điểm xuất phát của đề tài chính là vai trò của nhà nước trong việc ra và thực hiện chính sách tài chính một cách có hiệu quả nhất, phù hợp với từng giai đoạn, góp phần xây dựng đất nước ta trở thành một nước dân chủ và giàu mạnh Từ vai trò quản lý, điều tiết của nhà nước đối với chính sách tài chính y tế, việc xã hội hóa trong chính sách tài chính là tất yếu Do vậy phải cấu trúc lại tài chính y tế bao gồm khâu nào, lĩnh vực nào Nhà nước không thể bao cấp chung chính sách tài chính y tế như trước đây, khi
mà nguồn lực chưa đủ đáp ứng Mặt khác cũng không thể thị trường hóa trong lĩnh vực chính sách tài chính y tế, bởi chúng ta quá độ gián tiếp lên CNXH, đi lên từ sản xuất nhỏ, nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, một bộ phận dân cư không nhỏ, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng kháng chiến cũ đời sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn Với nguồn lực hạn chế, việc quản lý, sử dụng tài chính cho y tế, phải bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất trong chừng mực có thể cho phép Làm sao cho các lĩnh vực y tế giữ được vai trò chủ đạo, chi phối được những khâu quan trọng, then chốt trong ngành y tế nói chung
Phương pháp phân tích logic kết hợp với lịch sử: Lịch sử bắt đầu từ đâu, logic bắt đầu từ đó Lịch sử vận động, phát triển không phải theo đường thẳng, có thể là quá trình tịnh tiến, nhảy vọt hoặc quanh co khúc khuỷu, việc vận dụng phương pháp logic là tất yếu.Từ những quanh co khúc khuỷu của lịch sử, của thực
tế, phương pháp logic tìm ra những điểm chung xuyên suốt trong sự vận động phát triển của sự vật Kinh tế thị trường có những ưu thế, nhưng cũng có những khuyết tật Để phát huy ưu thế đã có, tạo những yếu tố góp phần hạn chế những khuyết tật, đòi hỏi phải có sự quản lý, điều tiết của nhà nước hết sức linh hoạt, mềm dẻo cho phù hợp từng giai đoạn, từng thời kỳ, từng lĩnh vực Bên cạnh sự ổn định, trong những bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh khác nhau, chính sách tài chính y tế cũng được
Trang 26vận dụng tương thích, vừa góp phần đáp ứng được yêu cầu CSSK của nguồn nhân lực, vừa tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh của các cơ sở y
tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Khuyến khích mặt tích cực, nâng cao chất lượng y tế phục vụ nhân dân, hạn chế những mặt yếu kém, tiêu cực trong mọi hoạt động của ngành y tế, từ chủ thể quản lý đến đối tượng quản ở các lĩnh vực
Do vậy, chính sách tài chính cho sự nghiệp y tế phải đáp ứng được yêu cầu khách quan đặt ra hiện nay
Phương pháp khoa học tiếp cận liên ngành, một đối tượng ngày nay do nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu, việc đó tùy thuộc vào sự tiếp cận và phương pháp nghiên cứu để khẳng định thuộc chuyên ngành nào Mặt khác giữa các ngành
có tác động liên quan chặt chẽ với nhau Việc tiếp cận liên ngành do vậy là tất yếu
Đề tài: "Chính sách tài chính cho sự nghiệp phát triển y tế công trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" được xem xét, phân tích dước góc độ chuyên ngành kinh tế chính trị Đồng thời cũng được vận dụng chuyên ngành tài chính và các chuyên ngành khoa học khác để phân tích về mặt vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế, nhưng không đi sâu vào nội dung cụ thể trong hoạt động của lĩnh vực tài chính cũng như các ngành khoa học khác Nếu có đề cập đến nội dung cũng chỉ nhằm làm nổi bật của chuyên ngành kinh tế chính trị
Thông qua môn lịch sử các học thuyết kinh tế, để thấy được vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong nền kinh tế - xã hội, trong đó có cả sự nghiệp của cộng đồng dân cư Những vấn đề này được đề cập từ trường phái kinh tế chính trị tư sản
cổ điển của Adam Smith trong tác phẩm "Nguồn của cải của các dân tộc" viết năm 1776; trong tác phẩm "Lý thuyết chung về lãi suất, tiền tệ và việc làm" của John Maynard Keynes viết năm 1936; Trong lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp của trường phái chính hiện đại Samuelson; Học thuyết nền kinh tế thị trường xã hội của Cộng Hòa Liên Bang Đức, Tuy nhiên bản chất của nhà nước ở nước ta hiện nay là nhà nước của dân, do dân, vì dân nên việc kế thừa có chọn lọc được đặt ra khi tham khảo kinh nghiệm của một số nước
Trang 27Phương pháp nghiên cứu định tính, thể hiện ở phần lý luận kinh tế chính trị được vận dụng làm công cụ phân tích, để chỉ ra bản chất của quan hệ tài chính nói chung và tài chính y tế nói riêng, chính sách tài chính y tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh nghiệm của một số nước giải quyết về chính sách tài chính y tế và những bài học rút ra cho chính sách tài chính y tế ở Việt Nam Đánh giá thực trạng chính sách tài chính y tế ở Việt Nam, quan điểm, mục tiêu, chiến lược phát triển y tế và các giải pháp để hoàn thiện chính sách tài chính cho sự nghiệp phát triển y tế công trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
6 ĐIỂM MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN
Dựa trên cơ sở hệ thống lý thuyết về tài chính, tài chính công, tài chính y tế, luận án đã xây dựng khung lý thuyết cho chính sách tài chính y tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Luận án thu thập, thống kê, các nguồn số liệu về tài chính y tế từ đó sơ đồ hóa và luận giải bức tranh toàn cảnh về chính sách tài chính cho phát triển sự nghiệp y tế công trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam và những vấn đề đang đặt
ra cần giải quyết
Luận án xác định các căn cứ, quan điểm, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện các chính sách tài chính y tế ở Việt Nam và nhấn mạnh đến giải pháp nhằm quy hoạch lại hệ thống các bệnh viện trong toàn quốc theo tiêu chí về cơ chế tài chính, phân biệt công, tư rõ ràng Bao gồm 4 nhóm bệnh viện: Nhóm bệnh viện miễn phí, nhóm bệnh viện doanh nghiệp phi lợi nhuận, nhóm bệnh viện hợp tác công - tư và nhóm bệnh viện tư nhân
Luận án cung cấp các luận cứ khoa học để các nhà hoạch định xây dựng chính sách tài chính cho phát triển sự nghiệp y tế công ở Việt Nam trong thời gian tới
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm ba chương sau:
Trang 28Chương 1 Cơ sở lý luận của chính sách tài chính cho phát triển sự nghiệp y
tế công trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Chương 2 Thực trạng chính sách tài chính cho phát triển sự nghiệp y tế
công trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Chương 3 Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách tài
chính cho phát triển sự nghiệp y tế công trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 29CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CHO PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
1.1 TÀI CHÍNH, TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TÀI CHÍNH Y TẾ
1.1.1 Tài chính
1.1.1.1 Khái niệm tài chính
“Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối và sử dụng dưới hình thức giá trị nguồn của cải, vật chất xã hội, thông qua đó các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung được hình thành và sử dụng nhằm đạt các mục tiêu về tái sản xuất và thỏa mãn nhu cầu đời sống của các cá nhân và cộng đồng” [25, trang 236]
Tài chính là phạm trù kinh tế gắn với nền kinh tế hàng hoá, nó ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước và nhất là với sự xuất hiện của tiền tệ Tiền tệ có chức năng là thước đo giá trị của hàng hóa Khi thực hiện việc phân phối giá trị của hàng hóa thì hình thành nên các khoản thu nhập bằng tiền của người sản xuất hàng hóa và đây cũng là nguồn hình thành nên quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường cần phải tạo lập ra các quỹ tiền tệ khác nhau, sau đó chia các quỹ này thành các phần để phân phối và sử dụng nó Trong đó, ngoài quan hệ trao đổi, mua bán,… còn hình thành và nảy sinh hàng loạt các quan
hệ khác như vay mượn, tài trợ, phân phối,… đó chính là các quan hệ tài chính Sự biểu hiện bề ngoài của quan hệ tài chính liên quan đến ba khu vực kinh tế cơ bản: Nhà nước, các đơn vị kinh tế và dân cư thông qua năm quan hệ, đó là:
Quan hệ giữa nhà nước với các đơn vị kinh tế trong nền kinh tế: quan hệ này được phát sinh khi các đơn vị kinh tế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước theo luật định và khi nhà nước cấp phát vốn và tài trợ cho các đơn vị kinh tế thuộc thành phần kinh tế nhà nước Quan hệ này gắn liền với việc hình thành nguồn thu
Trang 30ngân sách và các chính sách của Nhà nước trong việc phân phối, sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước
“Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các cơ quan quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội thông qua việc Nhà nước cấp phát kinh phí từ ngân sách cho sự hoạt động của các tổ chức đó
Quan hệ giữa Nhà nước và dân cư, quan hệ này nảy sinh trong quá trình phân phối lại ngân sách và các quỹ tiền tệ trong dân cư
Quan hệ giữa các đơn vị kinh tế với thị trường được thực hiện thông qua các hoạt động sản xuất, kinh doanh, mua, bán giữa các chủ thể tham gia trong thị trường
Quan hệ trong nội bộ các đơn vị kinh tế Quan hệ này hình thành trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nội bộ đơn vị, giữa đơn vị với các thành viên của nó” [77]
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, tất cả những quan hệ nêu trên trong xã hội tạo nên bản chất kinh tế của tài chính Có thể hiểu “ Bản chất tài chính phản ánh các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể với nhau trong quá trình tạo lập, phân phối
và sử dụng các nguồn tài chính” [50, trang 6]
1.1.1.2 Các chức năng của tài chính
Để làm rõ hơn bản chất của các quan hệ tài chính trong nền kinh tế quốc dân, cần thiết phải nghiên cứu các chức năng và vị trí, vai trò của quan hệ tài chính Trong nền kinh tế, tài chính thực hiện các chức năng: Huy động, phân phối và giám đốc, cụ thể như sau:
Thứ nhất, “Chức năng huy động nguồn tài chính thể hiện khả năng tổ chức
khai thác các nguồn tài chính, nhằm tạo lập nguồn lực đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế” [50, trang 7]
Chức năng huy động vốn được thể hiện trên cơ sở tương tác giữa các yếu tố: Chủ thể cần vốn; các nhà đầu tư; môi trường tài chính và kinh tế; hệ thống tài chính gồm thị trường tài chính và các định chế tài chính Sự huy động các nguồn lực chỉ đặt ra khi các chủ thể không đủ khả năng tự tài trợ, và do vậy phải huy động các
Trang 31nguồn lực được cung cấp từ hệ thống tài chính “Huy động vốn phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu và giá cả của vốn Thực hiện chức năng này yêu cầu các chủ thể phải thiết lập chính sách huy động vốn có hiệu quả trên cơ sở phân tích các yếu tố như là tính toán nhu cầu và quy mô vốn cần huy động; lựa chọn các công
cụ tài chính và đòn bẩy kinh tế trong huy động vốn” [50, trang 7]
Thứ hai, “Chức năng phân phối phản ánh bản chất của phạm trù tài chính
Phân phối trong tài chính là phân phối giá trị dưới hình thức tiền tệ” [42] Phân phối tài chính bao gồm: Quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại, trong đó phân phối lại giữ vai trò chủ yếu
“Phân phối lần đầu: Diễn ra trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhằm phân chia giá trị của hàng hoá tạo ra cho các chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh đó” [42]
“Phân phối lại là quá trình phân phối tiếp tục các quỹ tiền tệ hình thành từ quá trình phân phối lần đầu nhằm phục vụ các mục đích của các chủ thể kinh tế So với phân phối lần đầu, hoạt động phân phối lại trong tài chính phát triển đa dạng và phức tạp hơn nhiều do tính chất đa dạng và phức tạp của nhu cầu các chủ thể kinh
tế Phạm vi của phân phối lại cũng rộng hơn so với phân phối lần đầu, bao gồm cả lĩnh vực phi sản xuất vật chất và dịch vụ” [42] Phân phối lại được thực hiện bằng hai cách: Một là, thuế, tiền gửi ở ngân hàng, bảo hiểm, cổ phiếu, trái phiếu…; Hai
là, việc sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong xã hội cho giáo dục, y tế, văn hóa, nghệ thuật…
Thứ ba, chức năng giám đốc đó là khả năng khách quan để sử dụng tài chính
làm công cụ kiểm tra, giám đốc bằng đồng tiền với việc sử dụng chức năng thước
đo giá trị và phương tiện thanh toán của tiền tệ “Khả năng này biểu hiện ở chỗ, trong quá trình thực hiện chức năng phân phối, sự kiểm tra có thể diễn ra dưới dạng: Xem xét tính cần thiết, quy mô của việc phân phối các nguồn tài chính, hiệu quả của việc phân phối qua các quỹ tiền tệ” [77]
Trang 32“Giám đốc tài chính mang tính chất tổng hợp toàn diện, tự thân và diễn ra thường xuyên vì giám đốc tài chính là quá trình kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính nhằm phát hiện những ưu điểm để phát huy, tồn tại để khắc phục” [77]
Hoạt động tài chính diễn ra trên mọi lĩnh vực của quá trình tái sản xuất xã hội trên tầm vĩ mô và vi mô Trong các hoạt động đó tài chính không chỉ phản ánh kết quả sản xuất mà còn thúc đẩy phát triển “Động lực để thúc đẩy nhanh nền sản xuất xã hội không chỉ phụ thuộc vào sự phân phối cân bằng, hợp lý và cân đối giữa các bộ phận mà còn trực tiếp phụ thuộc vào sự kiểm tra, kiểm soát nghiêm ngặt mọi hoạt động tài chính” [77]
“Nội dung giám đốc tài chính là giám đốc sự vận động và chu chuyển của nguồn vốn tiền tệ với hiệu quả sử dụng vốn, giám đốc việc lập và chấp hành các chỉ tiêu kế hoạch, các định mức kinh tế tài chính, giám đốc quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, quá trình hạch toán kinh tế và giám đốc việc chấp hành các chính sách về tài chính” [77]
“Thực hiện quản lý tài chính đã khẳng định, để thực hiện triệt để và có hiệu quả việc giám đốc tài chính cần phải thường xuyên đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính phù hợp với cơ chế chính sách quản lý kinh tế và thực tiễn sản xuất kinh doanh Thông qua đó giúp cho việc thực hiện các giải pháp tối ưu nhằm làm lành mạnh tình hình tài chính và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp” [77]
Huy động vốn, phân phối và giám đốc là các chức năng cơ bản của tài chính, chúng có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau thông qua đó các chủ thể vận dụng để
sử dụng như công cụ cực kỳ quan trọng phục vụ mục đích đề ra
1.1.1.3 Vai trò của tài chính
Tài chính có vai trò rất lớn trong nền kinh tế, thể hiện cụ thể như sau:
Một là, điều tiết nền kinh tế quốc dân Để điều tiết kinh tế, Nhà nước phải kết
hợp cả ba chức năng: huy động, phân phối và giám đốc Trên cơ sở kiểm tra, giám sát bằng đồng tiền, Nhà nước nắm được thực tế hoạt động của nền kinh tế, từ đó, phát hiện ra những vấn đề cần can thiệp, điều tiết Nhà nước điều tiết nền kinh tế
Trang 33theo kế hoạch đã định bằng các chính sách phân phối [77] Để thúc đẩy sự phát triển của những ngành, lĩnh vực yếu kém trong nền kinh tế quốc dân Nhà nước có thể dùng biện pháp tăng thêm vốn và cấp phát bổ sung Để hạn chế phát triển những ngành và những khâu nhất định nhà nước cũng có thể dùng biện pháp giảm vốn đầu
tư và trợ cấp Với tác dụng điều tiết kinh tế, tài chính là công cụ chủ yếu thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển một cách cân đối và hợp lý
Hai là, xác lập và tăng cường các quan hệ kinh tế - xã hội Các chủ thể kinh
tế đều có các quan hệ với nhau, đặc biệt trong việc vay mượn lẫn nhau Điều này dễ dẫn đến tình trạng nợ nần dây dưa, làm trì trệ quá trình vận động, trao đổi hàng - tiền, hạn chế đầu tư, làm rối loạn sản xuất, lưu thông, Trước tình hình như vậy,
“Nhà nước có thể sử dụng luật pháp để điều chỉnh quan hệ tài chính, quan hệ tín dụng giữa các chủ thể kinh tế, cũng có thể sử dụng các biện pháp cấp bách buộc các chủ thể kinh tế thanh toán nợ nần theo tiến độ thời gian nhất định Việc điều chỉnh các quan hệ tài chính giữa các chủ thể kinh tế sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế và công bằng xã hội” [77]
Ba là, tập trung, tích lũy và cung ứng vốn cho các nhu cầu xây dựng và bảo
vệ đất nước “Quá trình di chuyển nguồn tài chính từ lĩnh vực sản xuất sang phi sản xuất, từ trong nước ra nước ngoài và ngược lại, luôn luôn diễn ra trong nền kinh tế” [77] Nếu Nhà nước có chính sách tốt điều chỉnh các quan hệ tài chính nảy sinh trong các quá trình trên, thì có thể thúc đẩy quá trình dòng vốn cho đầu tư phát triển, giảm bớt các chi phí không cần thiết, thu hút được đầu tư nước ngoài
Bốn là, hình thành quan hệ tích lũy, tiêu dùng hợp lý và đảm bảo an sinh xã
hội “Quá trình phân phối này có khả năng dẫn đến sự phân phối bất công, bất hợp lý” [77] Chính vì vậy, Nhà nước cần thường xuyên thực hiện việc phân phối lại và điều chỉnh sự phân phối theo định hướng xã hội chủ nghĩa Thông qua việc vận dụng các chức năng của tài chính, Nhà nước có thể thực hiện tốt điều này Nhà nước
có thể đánh thuế thu nhập cao đối với người có thu nhập cao, hỗ trợ người có thu nhập thấp; hoặc cũng có thể thành lập các quỹ xoá đói giảm nghèo, quỹ hỗ trợ đào
Trang 34tạo cho người nghèo, nâng lương cho các ngành có thu nhập thấp; các quỹ bảo hiểm
y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quỹ hưu trí,…
1.1.1.4 Hệ thống tài chính
Trong nền kinh tế thị trường, các hoạt động chuyển giao nguồn lực tài chính
giữa các chủ thể diễn ra rất đa dạng, phong phú, đan xen, tác động lẫn nhau trong hệ
thống thống nhất, đó là hệ thống tài chính “Hệ thống tài chính là một hệ thống gồm
có thị trường và các chủ thể tài chính thực hiện chức năng gắn kết cung - cầu về vốn
lại với nhau Cơ cấu hệ thống tài chính gồm: Thị trường tài chính; các chủ thể tài
chính - tham gia vào kiến tạo thị trường; cơ sở hạ tầng tài chính của hệ thống tài
- Cá nhân và hộ gia đình
- Doanh nghiệp
- Chính phủ
Các định chế tài chính
Thị trường tài chính
Vốn
Vốn
Vốn
Chức năng cơ bản của hệ thống tài chính là tạo ra kênh chuyển tải vốn từ
người thừa vốn đến người cần vốn Khi hệ thống vận hành có hiệu quả, nó góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và gia tăng phúc lợi xã hội “Qua hệ thống tài chính,
những chủ thể thừa vốn có nhiều cơ hội để đầu tư và gia tăng khả năng sinh lời của
Trang 35đồng vốn; còn những chủ thể thiếu vốn có nhiều cơ hội tiếp cận các nguồn vốn để thỏa mãn tối đa nhu cầu phát triển Ngoài ra, hệ thống tài chính còn cung cấp các dịch vụ tài chính như: chia sẻ rủi ro, tính lỏng và thông tin các giao dịch tài chính” [50, trang 11]
1.1.2 Tài chính công
1.1.2.1 Khái miệm tài chính công
“Là các hoạt động thu, chi bằng tiền của nhà nước, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng vốn có (không nhằm mục tiêu thu lợi nhuận) của nhà nước” [77, trang 23]
Tài chính công gắn liền với các hoạt động kinh tế của khu vực nhà nước Xét
về tính chất, tài chính công là những quan hệ tài chính gắn với sở hữu tài sản công, xét về nội dung vật chất là những quỹ tiền tệ thể hiện tài sản công Các quỹ tiền tệ thuộc tài chính công phục vụ cho lợi ích chung ở phạm vi lớn, nhỏ khác nhau, nhưng không bao giờ vì lợi ích riêng tư của một cá nhân, một tư nhân
Tài chính công không những là công cụ để nhà nước huy động các nguồn lực của xã hội để tài trợ mọi nhu cầu chi tiêu của nhà nước mà còn là công cụ để nhà nước can thiệp vào hoạt động kinh tế - xã hội
“Về phương diện kinh tế, nhà nước thực hiện chính sách thuế có phân biệt ưu đãi đối với các loại hàng hóa, ngành nghề, các địa phương để điều chỉnh cơ cấu kinh tế, ổn định giá cả thị trường, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển cân đối Đồng thời thông qua các khoản chi tiêu công, nhà nước tiến hành trợ cấp và chia sẻ những rủi ro với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong các lĩnh vực có lợi cho quốc kế dân sinh” [48, trang 25]
“Về phương diện xã hội, bằng việc phối hợp chính sách thuế và chính sách chi tiêu công, nhà nước hướng vào thực hiện chính sách điều tiết và phân phối thu nhập công bằng giữa các đối tượng trong xã hội” [48, trang 25]
Trang 36“Về phương diện quản lý, tài chính công không nhất thiết phải luôn có sự cân bằng giữa thu và chi, mà có thể hy sinh sự cân bằng này để góp phần điều chỉnh nền kinh tế vận hành theo định hướng của nhà nước Theo đó, khuôn khổ quản lý thu chi ngân sách không bị giới hạn trong một năm mà phải gắn liền với kế hoạch phát triển kinh tế trung và dài hạn” [48, trang 25]
Tài chính công phản ánh tổng thể mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính Bản chất kinh tế của tài chính công bắt nguồn từ sự quan tâm của chính phủ đến quy mô của chiếc bánh kinh tế Hoạt động thu, chi của chính phủ phải hướng đến làm tối đa hóa hiệu quả của nền kinh tế Bản chất chính trị của tài chính công bắt nguồn từ sự quan tâm của chính phủ đến sự phân phối chiếc bánh kinh tế và các mục tiêu nâng cao phúc lợi xã hội:
An sinh xã hội, giáo dục, y tế,…
1.1.2.2 Chức năng của tài chính công
Bên cạnh các chức năng gắn liền với chức năng của tài chính nói chung như: Chức năng huy động vốn, chức năng phân phối các nguồn vốn và chức năng kiểm tra, giám sát Tài chính công còn có thêm chức năng điều chỉnh vĩ mô, với đặc điểm
là phục vụ lợi ích công cộng đảm bảo sự phát triển và ổn định xã hội Tài chính công phải phát huy chức năng điều chỉnh vĩ mô đó là lợi ích giữa tích tụ và tập trung, giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa tổng thể các địa phương, vùng lãnh thổ, giữa nơi có thu nhập cao với nơi có thu nhập thấp, giữa người giàu với người nghèo, giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội,
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự điều chỉnh vĩ
mô toàn xã hội trước hết thể hiện sự phân phối và phân bổ các nguồn lực tài chính công Bởi vì, muốn có sự ổn định xã hội và phát triển bền vững thì việc điều tiết các nguồn lực tài chính từ nơi này đến nơi khác, chủ thể này đến chủ thể khác, từ cái riêng tư đến cái công cộng, từ tổng thể đến các tế bào của tổng thể là một điều tất yếu và sự phát huy chức năng điều chỉnh vĩ mô của tài chính công cũng trở thành cần thiết đối với sự phát triển và ổn định xã hội
Trang 371.1.2.3 Vai trò của tài chính công
Tài chính công là một bộ phận của tài chính quốc dân Tài chính công cũng
có các vai trò: Điều tiết kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô và khuyến khích kinh tế vi mô phát triển; huy động các nguồn lực tài chính để đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước; điều chỉnh, kiểm soát và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội đảm bảo việc duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước Ngoài ra tính cộng đồng của tài chính công là một đặc điểm đặc thù Các nguồn thu của nó được lấy từ mọi lĩnh vực hoạt động, từ mọi chủ thể kinh tế - xã hội; việc sử dụng chúng là
để phục vụ các nhu cầu chung, mang tính chất xã hội rộng lớn mà nhà nước phải đảm bảo Vai trò của tài chính công trong hệ thống tài chính quốc dân là do việc phát huy các chức năng của nó cùng vai trò lãnh đạo của nhà nước và vai trò của kinh tế nhà nước quyết định cụ thể, nó có vai trò chi phối; vai trò hướng dẫn; vai trò điều chỉnh đối với hoạt động tài chính của các chủ thể kinh tế - xã hội khác Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước có nhiệm vụ đảm bảo tính hiệu quả, khuyến khích công bằng; tăng cường và ổn định kinh tế vĩ mô Tài chính công là một trong những công cụ quan trọng của nhà nước để đảm bảo được những nhiệm vụ đó, cụ thể là tài chính công có vai trò sau đây:
“Một là, tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho nền kinh tế phát triển có hiệu quả” [77, trang 48]
“Hai là, tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội” [77, trang 49]
1.1.2.4 Hệ thống tài chính công
Quốc hội quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách nhà nước; quyết định phân bổ ngân sách nhà nước; giám sát việc thực hiện NSNN, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và NSNN
Trang 38Bộ tài chính là cơ quan có chức năng thống nhất quản lý nhà nước về lĩnh vực tài chính, kế toán, NSNN trong phạm vi cả nước
Các bộ ngành phối hợp với Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quá trình quản lý NSNN và các quỹ tài chính nhà nước khác thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách
Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ở các địa phương quyết định dự toán, phân bổ giám sát việc thực hiện, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương Riêng hội đồng nhân dân còn có nhiệm vụ thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật
Các đơn vị dự toán NSNN tổ chức việc lập dự toán thu chi NSNN thuộc phạm vi được giao; thực hiện dự toán thu, chi NSNN được giao theo đúng quy định
và luật pháp
Hệ thống thu thuế nhà nước được thành lập trực thuộc Bộ Tài chính, để quản
lý thống nhất trong cả nước công tác thu thuế và các khoản thu khác của NSNN
Kho bạc Nhà nước là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quỹ NSNN; quỹ dự trữ tài chính nhà nước, tiền, tài sản tạm thu, tạm giữ, huy động vốn cho NSNN và đầu tư phát triển
Hải quan có nhiệm vụ tổ chức thực hiện pháp luật về thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu
Dự trữ quốc gia có nhiệm vụ lập kế hoạch, dự toán ngân sách dự trữ nhà nước và phương án phân bổ vốn bổ sung dự trữ nhà nước trong từng thời kỳ và hàng năm
Trang 39Sơ đồ 1.2 Hệ thống tài chính công
Quốc hội
Chính phủ
Dự trữ quốc gia Hải quan Kho bạc Thuế
HĐND , UBND
Cấp tỉnh
Bộ Tài chính Các bộ , nghành
1.1.3.1 Khái niệm tài chính y tế
Khái niệm tài chính y tế, ở nơi này hay nơi khác chƣa có sự thống nhất, mỗi tác giả đƣa ra khái niệm theo một góc độ khác nhau cụ thể nhƣ:
Theo tổ chức Y tế thế giới, tài chính y tế là một trong các thành phần kiến tạo nên toàn bộ hệ thống y tế Tài chính y tế tác động tới tất cả các mục tiêu của ngành y tế và đóng vai trò trung tâm trong việc giảm thiểu các rủi ro và nâng cao tính công bằng cũng nhƣ hiệu quả của ngành y tế [WHO, 2007]
Trang 40Theo tác giả Nguyễn Thị Kim Chúc thì “dòng tiền chi trả cho chăm sóc sức khỏe gồm 3 nội dung và mỗi nội dung nêu sau đây đều có thể hiểu là tài chính y tế: Nguồn kinh phí chi trả cho các hoạt động y tế; phân bổ kinh phí cho các cơ sở y tế khác nhau của hệ thống y tế; việc trả tiền công, tiền lương lao động cho các cá nhân tham gia vào hệ thống y tế” [29, trang 174]
Theo tác giả Trương Việt Dũng và Nguyễn Duy Luật thì “tài chính y tế là một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia hoạt động trong lĩnh vực y tế” [35, trang 76]
Theo tác giả, xuất phát từ việc nghiên cứu bản chất của tài chính, ta có thể hiểu tài chính y tế là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hình thành và phân phối các quỹ tiền tệ phục vụ sự nghiệp y tế trong toàn bộ xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và phát triển nhân lực ngành y tế toàn diện để đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe cho người dân Các quan hệ kinh tế trong tài chính y tế là:
Quan hệ giữa Nhà nước với các đơn vị sự nghiệp y tế: Quan hệ này được phát sinh khi các đơn vị y tế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước theo luật định và khi Nhà nước cấp phát vốn cho các đơn vị y tế công Quan hệ này gắn liền với việc hình thành nguồn thu ngân sách và việc sử dụng ngân sách Nhà nước cho
sự nghiệp y tế
Quan hệ giữa Nhà nước và dân cư: Quan hệ này nảy sinh trong quá trình phân phối lại ngân sách và các quỹ tiền tệ trong dân cư phục vụ sự nghiệp y tế, cụ thể là: NSNN cấp cho các đơn vị y tế Nhà nước và các đơn vị y tế sử dụng ngân sách để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, thuốc men, y cụ, … phục vụ người dân NSNN trực tiếp mua thẻ BHYT cho một số đối tượng trong các tầng lớp dân
cư
Quan hệ giữa các quỹ bảo hiểm với người dân mua bảo hiểm y tế: Quan hệ này nảy phát sinh khi người dân nộp phí mua thẻ BHYT, hình thành quỹ BHYT và quỹ BHYT sẽ chi trả các dịch vụ KCB cho người dân khi đau ốm