1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh quảng ninh

84 274 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 543,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, bài viết “Thực trạng mạng lưới dịch vụ xã hội ở Việt Nam – Những khuyến nghị và giải pháp”, tác giả Bùi Thị Xuân Mai đã trình bày khái quát về cơ sở lý luận, nhu cầu và thực

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS PHẠM HỮU NGHỊ

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

PHẠM THỊ NGOAN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.1 Khái niệm, chức năng, nhiệm vụ, vai trò, nguyên tắc của công tác xã hội và dịch vụ công tác xã hội 9 1.2 Đối tượng, nhu cầu của các đối tượng cung cấp dịch vụ công tác xã hội 17 1.3 Vai trò, yêu cầu về đạo đức, kiến thức, kỹ năng đối với nhân viên công tác xã hội trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội 20 1.5 Thể chế dịch vụ công tác xã hội 24 1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội 27

Chương 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI TRUNG TÂM BẢO

2.1 Điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của tỉnh Quảng Ninh ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội 32 2.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh 34 2.3 Thực trạng và nhu cầu của người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh 36 2.4 Thực trạng dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh 40

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH

VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH 613.1 Định hướng nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội 61 3.2 Giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh 63

KẾT LUẬN 67

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Tổng hợp nhóm đối tượng yếu thế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 32

Bảng 2.2: Số lượng người cao tuổi tỉnh Quảng Ninh 33

Bảng 2.3: Số lượng người cao tuổi tại Trung tâm chia theo hai nhóm 38

Bảng 2.4: Phân bố theo nhóm tuổi của người cao tuổi 38

Bảng 2.5: Phân bố theo giới tính của người cao tuổi tại Trung tâm 39

Bảng 2.6: Hoàn cảnh gia đình của người cao tuổi 39

Bảng 2.7: Số liệu người cao tuổi được bảo vệ khẩn cấp qua các năm 40

Bảng 2.8: Nội dung tham vấn, tư vấn (thang điểm 10) 44

Bảng 2.9: Những vấn đề lo lắng nhất trong cuộc sống của NCT 44

Bảng 2.10: Nhu cầu lao động của người cao tuổi(%) 53

Bảng 2.11: Các hoạt động chăm sóc sức khoẻ Người cao tuổi 54

Bảng 2.12: Các hoạt động vui chơi, giải trí của NCT 56

Bảng 2.13: Đánh giá chất lượng dịch vụ công tác xã hội được cung cấp tại Trung tâm 57

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm 36

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế hiện nay, những vấn đề xã hội bức xúc cũng đang có xu hướng bùng phát và duy trì ở mức cao, như sự phân hóa giầu nghèo, tệ nạn cờ bạc, nghiện ma túy, mại dâm, hay vấn đề già hóa dân số… Rõ ràng trong thế giới ngày nay việc giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội trên là rất cần thiết và không thể cứ mò mẫm, theo chủ nghĩa kinh nghiệm thuần túy hoặc theo chủ nghĩa duy lý trí như trước

Công tác xã hội được công nhận là một nghề như nhiều ngành nghề khác trong

xã hội đã được thực hiện từ những năm 40 của thế kỷ trước ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển ở Châu Âu, Châu Mỹ Dịch vụ công tác xã hội cần phải mang tính chuyên nghiệp, những người làm dịch vụ công tác xã hội cần phải được đào tạo một cách chính quy, có bài bản Các nước phát triển trên thế giới xem dịch vụ công tác xã hội như một phần quan trọng của sự phát triển cộng đồng, phát triển xã hội và các nhân viên xã hội là người thực hiện trực tiếp Dịch vụ công tác xã hội phát triển mạnh sẽ góp phần phát triển và cải thiện hệ thống an sinh xã hội, trợ giúp con người và cộng đồng giải quyết và đối phó với khó khăn trong cuộc sống

Theo ước tính của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, hiện Việt Nam có khoảng 28% dân số có nhu cầu sử dụng các dịch vụ công tác xã hội, trong đó bao gồm khoảng 9,4 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khoảng 1,5 triệu lượt hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hằng năm, 5,97% hộ nghèo; khoảng 30.000 nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình; 234.000 người nhiễm HIV được phát hiện; 204.000 người nghiện ma tuý; hơn 48.000 người bán dâm; khoảng 14,8% dân số có vấn đề về rối nhiễu tâm thần cũng đang cần sự trợ giúp chuyên nghiệp.( Cục Bảo trợ xã hội, 2015a) Đây được coi là nhu cầu cấp bách cần phát triển các dịch vụ công tác xã hội, một nghề mới đang phát triển ở Việt Nam Tuy nhiên câu hỏi đặt ra và cũng là thách thức cho Việt Nam

là làm thế nào để có thể phát triển các dịch vụ này theo hướng chuyên nghiệp đảm bảo đáp ứng tốt nhất nhu cầu của đối tượng

Trang 7

Công tác xã hội là một nghề mới ở Việt Nam, được ra đời căn cứ theo Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề

án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (sau đây gọi tắt là Đề án 32) Sau khi Đề án 32 được phê duyệt, các hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội đã được các cơ quan và các tổ chức xã hội quan tâm thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau góp một phần hỗ trợ các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương giải quyết khó khăn và hòa nhập với cuộc sống của cộng đồng

Quảng Ninh là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế cao, 58% dân số sống ở thành thị, cao thứ 3 toàn quốc nên cũng có nhiều vấn đề xã hội phức tạp Trong đó có rất nhiều các nhóm đối tượng yếu thế, đòi hỏi việc cung cấp các dịch vụ công tác xã hội để đảm bảo đáp ứng các nhu cầu của họ là vô cùng cần thiết với sự phát triển của xã hội nhằm đảm bảo an sinh xã hội

Từ trước tới nay đã có một số đề tài nghiên cứu đến việc cung cấp các dịch

vụ công tác xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong đó đề cập đến các dịch vụ công tác xã hội dành cho người nghèo, dịch vụ công tác xã hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt…Tuy nhiên đề cập đến việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội còn là đề tài khá mới mẻ

Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh có lịch sử hình thành và phát triển trên 55 năm Từ khi Đề án 32 của Chính phủ được triển khai, Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh đã bước đầu thực hiện việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp và đạt được một số kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên trong quá trình thực hiện việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội còn tồn tại nhiều vướng mắc Hiện nay, nhu cầu được cung cấp dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm ngày càng lớn, đòi hỏi sự chuyên nghiệp hoá trong cung cấp các dịch vụ công tác xã hội

Từ những lý do trên tôi nhận thấy việc thực hiện nghiên cứu: “ Dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh” là vô cùng cần thiết Đề tài sẽ góp phần tìm hiểu các dịch vụ công tác xã hội đang được cung cấp tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh Qua đó đề xuất một số giải pháp để

Trang 8

cải thiện chất lượng dịch vụ công tác xã hội cho nhóm đối tượng được cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại Trung tâm

2 Tình hình nghiên cứu

Từ lý luận và thực tiễn cho thấy, việc cung cấp các dịch vụ công tác xã hội trở lên cấp thiết hơn bao giờ hết Vấn đề này không chỉ là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới mà của cả nhân loại trong

đó có Việt Nam Nhận thức được tầm ảnh hưởng sâu sắc của vấn đề dịch vụ công tác xã hội tới sự ổn định và phát triển xã hội, các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới đã có nhiều cuộc khảo sát, đánh giá, đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này

Ths Đặng Kim Chung và nhóm nghiên cứu năm 2011 với đề tài: “Đánh giá

nhu cầu về dịch vụ công tác xã hội và xây dựng công tác xã hội và xây dựng kế hoạch thiết lập mô hình và hệ thống cung cấp dịch vụ từ trung ương đến cộng đồng” Nghiên cứu đã đánh giá nhu cầu dịch vụ công tác xã hội tại cộng đồng và

trong trung tâm, nghiên cứu việc phát triển những dịch vụ công tác xã hội trong phạm vi tài nguyên có thể huy động, đề xuất kế hoạch xây dựng và vận hành mô

hình và hệ thống cung cấp dịch vụ công tác xã hội từ trung ương đến cộng đồng Đề

tài đã phân tích và đánh giá nhu cầu của các đối tượng dựa trên hai khái cạnh: cung

và cầu dịch vụ cho từng nhóm đối tượng cụ thể: người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, người trưởng thành… Nhu cầu với dịch vụ công tác xã hội của các nhóm đối tượng rất lớn nhưng vẫn còn đang tiềm ẩn trong xã hội Hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ còn manh mún và chất lượng còn kém Nhận thức và hiểu biết của công chúng và các nhà hoạch định chính sách về nghề công tác xã hội còn chưa sâu Cán

bộ làm công tác xã hội còn thiếu và chưa được đào tạo chính quy, tổ chức cung cấp dịch vụ công tác xã hội ở cộng đồng gần như chưa có Đề tài đưa ra các giải pháp để tuyên truyền, phổ biến chính sách, chế độ trợ cấp, các dịch vụ xã hội Nâng cao năng lực xây dựng và thực hiện của các trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội đặc biệt là các cán bộ thực hiện ở cấp cơ sở Giải pháp tuyên truyền vận động các tổ chức, đoàn thể để có sự hiểu biết về các dịch vụ của công tác xã hội

Trang 9

Cuốn sách “Đổi mới công tác xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và hội

nhập quốc tế - Lý luận và thực tiễn” do tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2013) làm chủ

biên đã tập trung đánh giá thực trạng công tác xã hội ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập Quốc tế, tìm hiểu những yếu tố thúc đẩy, cản trở việc phát huy hiệu quả của các hoạt động này, từ đó đề xuất những khuyến nghị về mặt chính sách đối với Đảng và Nhà nước nhằm phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp tại Việt Nam Trong đó có những nghiên cứu về vấn đề phát triển mạng lưới CTXH, mô hình CTXH dựa vào cộng đồng tại Việt Nam và những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn phát triển CTXH của Liên Bang Nga và một số quốc gia khác

Cuốn kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc tế “Thực tiễn và hội nhập trong phát

triển công tác xã hội ở Việt Nam” (2015) đã tổng hợp nhiều công trình nghiên cứu,

bài viết của các nhà khoa học về vấn đề phát triển nguồn nhân lực, hệ thống cung

cấp dịch vụ CTXH ở Việt Nam Trong đó, bài viết “Thực trạng mạng lưới dịch vụ

xã hội ở Việt Nam – Những khuyến nghị và giải pháp”, tác giả Bùi Thị Xuân Mai

đã trình bày khái quát về cơ sở lý luận, nhu cầu và thực trạng mạng lưới cung cấp dịch vụ xã hội ở nước ta đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm phát triển hệ thống dịch vụ xã hội ở Việt Nam, trong đó đề cập đến giải pháp phát triển mô hình mạng lưới của các cơ sở vừa tham gia quản lý nhà nước, vừa tham gia cung cấp dịch vụ/ trợ giúp xã hội tại xã, phường

Trong những năm gần đây, các cơ quan quản lý nhà nước, Viện nghiên cứu, các cơ sở đào tạo cũng như cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH đã tổ chức và phối hợp tổ chức nhiều Hội thảo quốc gia, quốc tế về vấn đề phát triển nghề và mạng lưới cung cấp dịch vụ CTXH tại Việt Nam Trong bản tham luận trình bày tại Hội nghị “Sơ kết 4 năm thực hiện Đề án phát triển nghề CTXH” tại Đà Nẵng, ông Nguyễn Trọng Đàm - Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho rằng mạng lưới các

cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng Tính xã hội chưa cao, chưa dựa vào cộng đồng Đội ngũ nhân viên CTXH còn mỏng và chưa chuyên nghiệp, thiếu mạng lưới cộng tác viên tại các cộng đồng Nhận thức của các cấp, ngành địa phương và cộng đồng về vị trí, vai trò của CTXH còn rất hạn

Trang 10

chế Từ những đánh giá trên, Thứ trưởng đã coi việc đẩy mạnh xây dựng mạng lưới nhân viên CTXH, cộng tác viên cung cấp dịch vụ CTXH tại cộng đồng gắn với đào tạo, đào tạo lại, nâng cao trình độ, kỹ năng của đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội tại xã, phường là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đề án trong giai đoạn tới

Ngoài ra còn rất nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học, nghiên cứu sinh, học viên cao học về công tác xã hội đối với các đối tượng người cao tuổi, người khuyết tật, nghiện ma túy, bạo lực Các nghiên cứu này là những tài liệu tham khảo quý giá, hỗ trợ hữu ích cho hệ thống lý thuyết của đề tài Tuy nhiên, các nghiên cứu về công tác xã hội ở Việt Nam thường chỉ nhấn mạnh đến việc xây dựng, phát triển hệ thống cung cung cấp dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp

Đề tài “ Dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh” đề cập cụ thể việc cung cấp các dịch vụ công tác xã hội tại một cơ sở

bảo trợ xã hội Bên cạnh hướng đến việc trợ giúp các đối tượng yếu thế tại cộng đồng, thực hiện nhiệm vụ này còn góp phần vào việc quảng bá hình ảnh, thay đổi nhận thức của cộng đồng về nghề công tác xã hội, và tạo tiền đề cho việc cơ cấu lại

tổ chức và nhiệm vụ của các cơ sở bảo trợ xã hội trên cả nước Đây chính là cơ sở của một trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp trong tương lai, góp phần thúc đẩy các dịch vụ công tác xã hội phát triển tương xứng với sự phát triển và nhu cầu của xã hội

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn (thông qua nghiên cứu thực tiễn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh) về dịch vụ công tác xã hội, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội

Để đạt mục đích nói trên, các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra là:

- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của dịch vụ công tác xã hội

- Đánh giá thực trạng dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ

xã hội tỉnh Quảng Ninh

Trang 11

- Ứng dụng lý thuyết dịch vụ công tác xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của đối tượng cung cấp dịch vụ công tác xã hội Trong luận văn chỉ nghiên cứu đối tượng cung cấp dịch vụ là người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh

- Đề xuất kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công tác

4.2 Đối tượng nghiên cứu

- Dịch vụ công tác xã hội tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh.( Gồm 7 dịch vụ chủ yếu)

5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận:

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này tôi chủ yếu sử dụng các thuyết chính sau: Thuyết về nhu cầu con người; Thuyết về quyền con người; Thuyết nhận thức

- hành vi; Lý thuyết công tác xã hội; Lý thuyết xã hội học; Lý thuyết tâm lý học

Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích thông tin, số liệu từ các báo cáo, ấn phẩm, tài liệu liên quan đến lĩnh vực dịch vụ công tác xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Phương pháp thu thập thông tin: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp có thể thu thập được một lượng thông tin trong quá trình điều tra và thu thập thông tin từ người cao tuổi Cơ cấu bảng hỏi tôi xây dựng theo 2 phần: Phần 1 thông tin cá nhân, phần 2 phần trả lời câu hỏi Số lượng câu hỏi là: 23 câu hỏi Số phiếu phát ra 30 Phương

Trang 12

pháp phỏng vấn sâu là phương pháp thu thập thông tin cụ thể của xã hội học thông qua việc tác động vào tâm lý xã hội trực tiếp giữa người đi hỏi và người được hỏi nhằm thu thập được những thông tin phù hợp với mục đích và đề tài nghiên cứu Đề tài phỏng vấn những người cao tuổi được hưởng các dịch vụ công tác xã hội tại trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh Số lượng là 30 người

Phương pháp quan sát: Là thu thập thông tin thực nghiệm thông qua nghe, nhìn để thu thập thông tin về các dịch vụ công tác xã hội và các hoạt động can thiệp, trợ giúp của nhân viên công tác xã hội trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh Đối với đề tài này tôi quan sát qua các hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại Trung tâm trong vòng 3 tháng

Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp như: thống kê, lịch sử, xã hội học, tâm lý học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn xác định khung lý thuyết dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội như: Các khái niệm, nguyên tắc, đặc điểm cơ bản của dịch vụ công tác xã hội, các khái niệm, đặc điểm, vấn đề của các đối tượng được cung cấp các dịch vụ công tác xã hội, các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này Luận văn bổ sung một

số vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn một trung tâm

bổ sung hệ thống lý thuyết dịch vụ công tác xã hội, từ đó có những định hướng thích hợp để nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội tại các Trung tâm Bảo trợ

xã hội

Trang 13

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, các phụ lục luận văn còn có

3 chương, gồm:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội

Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ

xã hội tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Định hướng và giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ công tác

xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI 1.1 Khái niệm, chức năng, nhiệm vụ, vai trò, nguyên tắc của công tác xã hội và dịch vụ công tác xã hội

1.1.1 Khái niệm, chức năng, nhiệm vụ của dịch vụ công tác xã hội

Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất [Từ điển Wikipedia] Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ…và mang lại lợi nhuận

Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền với sản phẩm vật chất

Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung thì: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội

- Khái niệm công tác xã hội

Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội Dưới đây là một số khái niệm về CTXH và nghề CTXH được đông đảo các nhà nghiên cứu và những người thực hành CTXH trên thế giới tham khảo, sử dụng:

Trang 15

Theo định nghĩa của Hiệp hội quốc gia các nhân viên CTXH Mỹ (NASW -

1970): "Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng

đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”

Luật an sinh-xã hội Phillipines giải thích: Công tác xã hội là một nghề bao

gồm các hoạt động cung cấp các dịch vụ nhằm thúc đẩy hay điều phối các mối quan

hệ xã hội, điều chỉnh sự hoà hợp giữa cá nhân và môi trường để có xã hội tốt đẹp

Tháng 7 năm 2000 tại Montréal, Canada, Hiệp hội Nhân viên Công tác xã

hội Quốc tế (IFSW, 2000) đã thông khái niệm nghề CTXH "Nghề CTXH thúc đẩy

biến đổi xã hội, giải quyết vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa con người với con người và tăng cường năng lực, tự do của con người nhằm cải thiện điều kiện sống nói chung Bằng việc vận dụng các lý thuyết hành vi của con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào những thời điểm con người giao tiếp với môi trường của mình Các nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội là nền tảng cơ bản của nghề công tác xã hội”

Gần đây nhất, tháng 7/2014, Đại hội đồng Hiệp hội Nhân viên CTXH Quốc

tế (IFSW General Meeting) và Đại hội đồng Hiệp hội quốc tế các trường đào tạo CTXH (IASSW General Assembly) đã thống nhất toàn cầu về định nghĩa nghề

CTXH “CTXH là một ngành khoa học và là nghề thực hành thúc đẩy nâng cao

năng lực, sự tự do, liên kết xã hội, thay đổi xã hội và phát triển Nguyên tắc chủ đạo của CTXH là tôn trọng sự đa dạng, trách nhiệm tập thể, quyền con người và công bằng xã hội Trên nền tảng lý thuyết CTXH, khoa học xã hội,, kiến thức bản địa và nhân văn, CTXH kết nối nhân dân và tổ chức để bày tỏ những thách thức trong

Ở Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về CTXH CTXH có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình

và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội

Trang 16

Theo Đề án phát triển nghề công tác xã hội Việt Nam giai đoạn 2010

-2020, CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện theo các nguyên

tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ Qua đó, CTXH theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc cho con người và tiến bộ xã hội

Theo TS Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề về xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.” [20, tr 4]

Như vậy, có thể hiểu công tác xã hội là một nghề chuyên nghiệp, áp dụng những nguyên tắc, kỹ năng để trợ giúp có hiệu quả cho cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết vấn đề góp phần xây dựng xã hội công bằng, hạnh phúc

- Khái niệm dịch vụ công tác xã hội

Có thể hiểu dịch vụ công tác xã hội như là dịch vụ xã hội

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), dịch vụ xã hội (DVXH) là các hoạt

động cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định

Ngoài ra còn có một số cách hiểu khác về dịch vụ xã hội nhìn từ vai trò của người cung cấp dịch vụ và người tiếp nhận dịch vụ Theo cách nhìn này, dịch vụ xã hội là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu

cơ bản và thúc đẩy khả năng hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế Dịch vụ xã hội là các sáng kiến can thiệp nhằm vào các nhu cầu và các vấn đề của các nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm cả việc phòng ngừa bạo lực, tan vỡ gia đình, xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ người khuyết tật, trẻ em và người già

Tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Tuấn (2012) cho rằng dịch vụ xã hội là những dịch vụ đáp ứng nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo hạnh phúc, phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao tính nhân văn và vì con

Trang 17

người DVXH là hoạt động mang bản chất kinh tế, xã hội do Nhà nước, thị trường hoặc xã hội dân sự cung ứng tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay tư của từng lĩnh vực dịch vụ, bao gồm các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao và các trợ giúp xã hội khác

Dịch vụ công tác xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế chính là việc cung cấp các hoạt động mang tính chất phòng ngừa- khắc phục rủi ro và hoà nhập cộng đồng cho các nhóm đối tượng yếu thế dựa trên các nhu cầu cơ bản của họ nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội [12]

Thuật ngữ dịch vụ công tác xã hội ở nước ta chưa được nói đến nhiều Song thuật ngữ này sẽ từng bước được làm quen và được mọi người chấp nhận vì hiện nay nước ta có hàng chục triệu người đang cần loại hình dịch vụ này và không chỉ

có những đối tượng hiện tại mà còn hàng triệu đối tượng tiềm năng sẽ cần được cung cấp dịch vụ công tác xã hội trong tương lai

- Chức năng, nhiệm vụ của dịch vụ công tác xã hội

- Các chức năng cuả dịch vụ công tác xã hội

Như là bác sỹ xã hội, các nhân viên xã hội khi tiến hành các dịch cụ công tác

xã hội cần thực hiện được các chức năng: Phòng ngừa, chức năng Can thiệp, Chức năng Phục hồi; Chức năng Phát triển

- Chức năng can thiệp

Chức năng can thiệp (còn được gọi là chức năng chữa trị hay trị liệu) nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình hay cộng đồng giải quyết vấn đề đang gặp phải Khi thực hiện chức năng này nhân viên xã hội giúp đỡ đối tượng vượt qua khó khăn, giải quyết vấn đề đang tồn tại

- Chức năng phục hồi

Trang 18

Đó là việc các dịch vụ công tác xã hội giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng khôi phục lại chức năng xã hội đã bị suy giảm Nó bao gồm những hoạt động trợ giúp đối tượng trở lại mức ban đầu và hoà nhập cuộc sống xã hội

- Chức năng phát triển: Chức năng phát triển của dịch vụ công tác xã hội thể hiện qua các hoạt động nhằm tăng năng lực, tăng khả năng ứng phó với các tình huống có vấn đề, những sự việc có nguy cơ cao [20, tr 5]

- Các nhiệm vụ cơ bản của dịch vụ CTXH:

+ Nâng cao năng lực, thúc đẩy khả năng tự giải quyết vấn đề của cá nhân,

+ Phát triển và cải thiện chính sách xã hội [20, tr 5]

1.1.2 Vai trò của dịch vụ công tác xã hội

Thứ nhất, với tính chất là phục vụ con người thì dịch vụ công tác xã hội đã

góp phần vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người, đặc biệt là nhóm người yếu thế, giúp họ thay đổi cuộc sống, vượt qua khó khăn về thể chất, tinh thần

và xã hội để hoà nhập cuộc sống

Thứ hai, dịch vụ công tác xã hội góp phần thực hiện, triển khai các chính sách

xã hội về trợ giúp xã hội, chính sách công tác xã hội, đảm bảo công bằng và tiến bộ

xã hội như bình đẳng giới, chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, người nghèo Việc thúc đẩy các dịch vụ công và tư nhân trong lĩnh vực công tác xã hội đóng vai trò tạo nhiều cơ hội cho nhóm người yếu thế được tiếp cận các dịch vụ xã hội khác

Thứ ba, dịch vụ công tác xã hội góp phần ổn định xã hội và tạo ra nhiều cơ hội

giáo dục, việc làm…cho các đối tượng yếu thế, góp phần giảm đi các vấn đề để lại

do nghiện ma tuý, bạo lực, giảm tỉ lệ nghèo đói, thất nghiệp, vô gia cư…gây ra

Trang 19

Thứ tư, sự phát triển của dịch vụ công tác xã hội được cung cấp bởi hệ thống

các trung tâm công tác xã hội đã tạo ra một cơ hội nghề nghiệp lớn cho các nhân viên công tác xã hội, người có chuyên môn nghề nghiệp được đào tạo lại tại các cơ

sở giáo dục

Thứ năm, sự phát triển của dịch vụ công tác xã hội có thể làm cho các nhóm

đối tượng, các giai cấp, tầng lớp xã hội, các lĩnh vực dịch vụ xã hội khác gần nhau hơn trong việc trợ giúp một trường hợp hay nhóm đối tượng yếu thế nào đó

Thứ sáu, dịch vụ công tác xã hội góp phần gìn giữ và phát huy những bản sắc

tốt đẹp, đồng thời góp phần xoá đi những hủ tục lạc hậu, thói quen không lành mạnh của cộng đồng, nâng cao hiểu biết cho người dân thông qua các hoạt động phát triển cộng đồng, truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng [12]

1.1.3 Nguyên tắc của dịch vụ công tác xã hội

Trên cơ sở nền tảng triết lý, giá trị và nguyên tắc nghề nghiệp của CTXH người ta đưa ra hệ thống các qui tắc ứng xử cho NVCTXH trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và cung cấp các dịch vụ công tác xã hội Những qui tắc ứng xử này đóng vai trò như kim chỉ nam cho hành động tương tác của NVCTXH với thân chủ trong quá trình trợ giúp Sau đây là những nguyên tắc ứng xử của NVCTXH trong quá trình tiến hành hoạt động trợ giúp và cung cấp các dịch vụ công tác xã hội:

Thứ nhất, chấp nhận thân chủ

Chấp nhận đòi hỏi việc tiếp nhận thân chủ, theo nghĩa bóng và nghĩa đen, không tính toán, không thành kiến và không đưa ra phán quyết nào về hành vi của anh ta Thân chủ phục vụ của ngành CTXH là con người, đặc biệt là nhóm người yếu thế, nhóm người có hoàn cảnh và nhu cầu cơ bản chưa được đáp ứng Mỗi con người, dù là bình thường hay bất bình thường họ đều có nhân phẩm, có giá trị riêng

và có quyền được tôn trọng, bình đẳng Chính vì vậy trong các hoạt động trợ giúp, NVCTXH cần có thái độ tôn trọng phẩm giá con người và chấp nhận họ Việc chấp nhận những hành vi, quan điểm hay giá trị của thân chủ không có nghĩa là đồng tình với những hành vi, suy nghĩ của họ Sự thực hiện nguyên tắc này giúp cho NVCTXH tạo được lòng tin từ thân chủ, qua đó thúc đẩy sự hợp tác và chia sẻ của

họ, đó là nền tảng cho thiết lập mối quan hệ tương tác trong quá trình giúp đỡ

Trang 20

Thứ hai, tạo điều kiện để thân chủ tham gia giải quyết vấn đề

Nguyên tắc để thân chủ tham gia giải quyết vấn đề là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của NVCTXH Vấn đề là của thân chủ, họ hiểu hoàn cảnh và khả năng của mình hơn ai hết nếu được sự trợ giúp Vì vậy, họ cần là người tham gia chủ yếu từ khâu đánh giá vấn đề tới ra quyết định, lựa chọn giải pháp, thực hiện giải pháp cũng như lượng giá kết quả của giải pháp đó Người NVCTXH chỉ đóng vai trò xúc tác, vai trò định hướng trong quá trình trợ giúp thân chủ thực hiện giải pháp cho vấn đề của họ mà không làm thay, làm hộ chủ yếu khích lệ họ có niềm tin để tự giải quyết vấn đề

Thứ ba, tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ

Mỗi cá nhân có quyền quyết định về các vấn đề thuộc về cuộc đời, những quyết định của người khác hướng dẫn họ nhưng không nên áp đặt trên họ Nguyên tắc tự quyết định, giống như sự tự do, cũng có những giới hạn của nó, nó không mang nghĩa tuyệt đối Thực hiện nguyên tắc này cũng là cách mà NVCTXH giúp cho thân chủ trở nên tự tin, nâng cao khả năng đưa ra quyết định đúng đắn trong cuộc sống

Thứ tư, đảm bảo tính cá nhân hóa

Việc cá biệt hoá trường hợp của thân chủ (cá nhân, gia đình hay cộng đồng) giúp NVCTXH đưa ra phương pháp giúp đỡ thích hợp với từng trường hợp cụ thể Việc đảm bảo tính khác biệt trong trợ giúp thân chủ thể hiện ở việc tìm hiểu và phát hiện những nét đặc thù của trường hợp đó, linh hoạt trong giải quyết vấn đề, không

áp dụng cách giải quyết giống nhau cho các trường hợp Giải pháp cho mỗi trường hợp cần được cân nhắc trên cơ sở nhu cầu, đặc điểm, khả năng và nguồn lực mà họ

có Thực hiện nguyên tắc này trong hoạt động của mình sẽ cho phép NVCTXH đảm bảo lợi ích thiết thực của các nhóm thân chủ, đáp ứng đúng nhu cầu của thân chủ và rèn luyện khả năng ứng phó linh hoạt trong giải quyết vấn đề, khắc phục sự bảo thủ, quan liêu, cứng nhắc trong quá trình trợ giúp

Thứ năm, đảm bảo tính riêng tư, kín đáo các thông tin về trường hợp của thân chủ

Trang 21

Kín đáo hay giữ bí mật thông tin là một trong những nguyên tắc cơ bản không chỉ ngành CTXH sử dụng mà nhiều ngành khác cũng áp dụng như: ngành luật, tài chính, y tế… Nó thể hiện sự tôn trọng những vấn đề riêng tư của thân chủ

và không được chia sẻ những thông tin của thân chủ với người khác khi chưa có sự đồng ý của thân chủ Tuy nhiên trong một số trường hợp sẽ có ngoại lệ với nguyên tắc này nếu như những hành vi của thân chủ đe doạ tính mạng của bản thân họ hay của những người khác thì NVCTXH có quyền trao đổi thông tin với những người

có thẩm quyền Việc đảm bảo bí mật thông tin của thân chủ sẽ giúp cho thân chủ tin tưởng vào nhân viên xã hội, từ đó họ sẵn sàng chia sẻ và hợp tác Bên cạnh đó việc đảm bảo bí mật của thân chủ còn là yêu cầu mang tính nhân văn trong quan hệ con người và quan hệ nghề nghiệp

Thứ sáu, tự ý thức về bản thân

Trong khi thực thi nhiệm vụ, với tư cách là người đại diện của cơ quan xã hội NVCTXH cần ý thức rằng vai trò của mình là hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn đề Phục vụ thân chủ là trách nhiệm của nhân viên xã hội, vì vậy cần tránh lạm dụng quyền lực, vị trí công việc để mưu lợi cá nhân Đồng thời NVCTXH cũng cần phải

ý thức được khả năng trình độ chuyên môn của bản thân có đáp ứng yêu cầu của công việc được giao hay không (tức là cần nhận biết được trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn của mình tới đâu)… Khi gặp trường hợp quá phức tạp và vượt quá giới hạn khả năng cá nhân thì NVCTXH chuyển giao trường hợp đang thụ lý cho NVCTXH khác giúp đỡ

NVCTXH nên duy trì một mức độ khoảng cách nhất định, bên cạnh sự đồng cảm và mức độ cảm xúc nào đó để có thể giúp thân chủ giải quyết vấn đề một cách khách quan và lập kế hoạch một cách thực tế

Thứ bảy, đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp

Công cụ chính trong các hoạt động công tác xã hội là mối quan hệ giữa NVCTXH và thân chủ Do thân chủ tác động của NVCTXH là con người, NVCTXH cần có phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp Mối quan hệ giữa NVCTXH và thân chủ cần đảm bảo tính thân thiện, tương tác hai chiều, song khách

Trang 22

quan và đảm bảo yêu cầu của chuyên môn Nguyên tắc này giúp cho NVCTXH đảm bảo tính khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đảm bảo sự công bằng trong giúp đỡ mọi thân chủ

1.2 Đối tƣợng, nhu cầu của các đối tƣợng cung cấp dịch vụ công tác xã hội

1.2.1 Đối tượng cung cấp dịch vụ công tác xã hội

Công tác xã hội hướng đến các đối tượng đa dạng về lứa tuổi, dân tộc, trình

độ học vấn, mức sống, tôn giáo, cũng như có những năng lực cá nhân và XH khác nhau Đối tượng trợ giúp của công tác xã hội là cá nhân, gia đình, nhóm người hay cộng đồng đang trong hoàn cảnh có vấn đề

Cá nhân có thể là người già hay người trẻ, người giàu hay người nghèo Khi

họ gặp phải khó khăn trong cuộc sống và không tự giải quyết được họ mong muốn

có sự trợ giúp Người nghèo cần có sự trợ giúp về vật chất và tinh thần để vượt qua nghèo khó Người giàu khi rơi vào hoàn cảnh khủng hoảng tinh thần (như phá sản, thua lỗ, sức ép công việc hay sự cạnh tranh trong kinh doanh ) đều có thể cần tới

sự can thiệp trợ giúp của nhân viên xã hội Tuy nhiên, đối tượng thường được hướng tới trong hoạt động trợ giúp của CTXH là những nhóm người yếu thế như người nghèo, người lang thang cơ nhỡ, những người bị HIV/AIDS hay những người mại dâm ma tuý

Có thể liệt kê một số nhóm đối tượng yếu thế thường được công tác xã hội chú trọng trợ giúp: Phụ nữ, Trẻ em, người cao tuổi, người thất nghiệp, các nạn nhân của bạo lực gia đình; Trẻ em lang thang, bị bỏ rơi, mồ côi, trẻ bị lạm dụng; Các nạn nhân do thiên tai, hiểm hoạ; Những người có ý định tự sát; Những người vô gia cư; Những người khuyết tật; Người bị bệnh tâm thần; Những người phạm pháp; Người nghèo; Người thiểu số; Những người nghiện; Người mại dâm

Cộng đồng nghèo khó thường là đối tượng tác động đầu tiên trong công tác

xã hội với cộng đồng Những cộng đồng có nhiều vấn đề xã hội như nghèo đói, trình độ dân trí thấp, môi trường vệ sinh không đảm bảo… thường cần tới các chương trình dịch vụ xã hội trong công tác xã hội [20, tr 9]

Trang 23

1.2.2 Đặc điểm, nhu cầu của các đối tượng cung cấp dịch vụ công tác xã hội

Đối tượng cung cấp dịch vụ công tác xã hội rất đa dạng và phong phú, đề tài này tập trung về nhu cầu của các đối tượng trong nhóm yếu thế (hay còn gọi là những cá nhân có nhu cầu đặc biệt) trong đó phân tích kỹ về nhu cầu của người cao tuổi- đối tượng được cung cấp dịch vụ được đề cập trong chương II của Đề tài Nhóm yếu thế (hay nhóm thiệt thòi) là những nhóm xã hội đặc biệt, có hoàn cảnh khó khăn hơn, có vị thế xã hội thấp kém hơn so với với các nhóm xã hội “bình thường” có những đặc điểm tương tự Họ gặp phải hàng loạt thách thức, ngăn cản khả năng hòa nhập của họ vào đời sống cộng đồng Hàng rào đó có thể liên quan đến thể chất, liên quan đến khả năng, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, sự đánh gía, kỳ thị của xã hội, các vấn đề tâm lý… Hàng rào đó có thể là vô hình, có thể là hữu hình, ngăn cản họ tiếp cận và sử dụng các phương tiện sống thiết yếu hay các dịch

vụ xã hội cần thiết cho mọi thành viên “bình thường” của xã hội Để nâng cao vị thế

xã hội, giảm sự thiệt thòi, họ rất cần được sự quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ từ xã hội

Trong luận văn này, đối tượng được cung cấp dịch vụ công tác xã hội được nghiên cứu là người cao tuổi Vì vậy, dưới đây chúng tôi xin trình bày về đặc điểm sinh lý và nhu cầu của người cao tuổi

Đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của người cao tuổi:

Đặc điểm đầu tiên cần quan tâm với NCT là những thay đổi về sinh lý do thay đổi về tuổi tác Nhận thức của NCT có suy giảm ví dụ như trí nhớ thay đổi rõ rệt, trí nhớ ngắn hạn giảm sút, trí nhớ dài hạn vẫn ở mức cao, họ sống nặng về nội tâm; tư duy kém năng động và linh hoạt; NCT thường khó chấp nhận cái mới và không thích phải thay đổi thói quen

Bên cạnh đó NCT cũng có giảm sút về chức năng hoạt động của một số cơ quan trong cơ thể dẫn đến mắc một số bệnh về hô hấp, tim mạch Việc thay đổi hình dáng bên ngoài cũng là một đặc điểm thay đổi về sinh học có thể gây ra những khó khăn cho NCT

Tiếp theo là những thay đổi về đặc điểm tâm lý Về tình cảm, NCT có phản ứng cảm xúc nhạy bén, vui buồn dễ dàng NCT cũng thường có tâm lý tiêu cực như

tự ti, có cảm giác mất mát, cô độc và suy giảm khả năng giao tiếp

Trang 24

Xét về nhu cầu của NCT, NCT cần được quan tâm, chăm sóc, yêu mến; nhu cầu chăm sóc sức khỏe; nhu cầu thấy mình có ích cho xã hội; nhu cầu được học hỏi thêm và vui hưởng tuổi thọ quây quần bên con cháu

NCT thường phải đối phó với sự giảm sút về sức mạnh trên nhiều cấp độ:

 Sức khỏe thể chất có xu hướng giảm khi có tuổi, vì vậy người cao tuổi phải phụ thuộc vào sự hỗ trợ để tồn tại

 NCT thường duy trì sức khỏe tâm thần, tuy nhiều nhiều người trong số họ trải qua mất trí nhớ tạm thời trong ngắn hạn, giảm tốc độ trong học tập, phản ứng chậm chạp, và sự đãng trí ở mức độ nhẹ.”

 Mất các hệ thống hỗ trợ ví dụ như sức khỏe của các bạn của họ bị suy giảm

 Việc nghỉ hưu cũng có thể khiến NCT tập thích ứng, đòi hỏi họ phải tìm ra cách khác để giết thời gian rảnh rỗi, cảm giác vô dụng khi không còn đi làm nữa

 Phân biệt đối xử về mặt tuổi tác thể hiện ở các khuôn mẫu gây phương hại, chẳng hạn như nhấn mạnh vào điểm yếu về thể chất, tâm thần và kinh tế

Nói tóm lại, một số đặc điểm xã hội đặc thù của NCT:

Thứ nhất, NCT là người đã kết thúc giai đoạn lao động chính thức Nhiều người sau khi nghỉ hưu vẫn tham gia lao động dưới nhiều hình thức (mặc dù có lương hưu) Họ tiếp tục tạo thu nhập bằng nghề nghiệp cũ, hoặc nhận những công việc mới phù hợp sức lực, hoặc đảm đương công việc nội trợ trong gia đình, quản lý đất đai nhà cửa hoặc trông nom các cháu Những suy nghĩ và việc làm của NCT không nhằm vào lợi ích kinh tế mà hướng vào các giá trị xã hội nhằm khẳng định vị thế, sự hữu ích và uy tín với con cháu, với cộng đồng

Thứ hai, đối với NCT là có sự thay đổi các vai trò, chức năng trong gia đình:

Dù trong gia đình truyền thống hay gia đình hiện đại, vai trò, chức năng của người già đều được điều chỉnh lại phù hợp với sức khoẻ và tuổi tác của họ Sự quan trọng của NCT đối với gia đình không phụ thuộc quá nhiều vào việc họ có sống cùng con cháu hay không Trong cuộc sống gia đình, NCT vừa muốn sống độc lập không phụ thuộc con cháu (nhất là về kinh tế), song họ đều muốn gần gũi cháu con, để tránh sự

cô đơn, để được sự chăm nom, săn sóc lúc “trái nắng, trở giời.”

Trang 25

Thứ ba là các mối quan hệ xã hội được điều chỉnh: Từ mối quan hệ gia đình,

họ hàng, láng giềng, đến quan hệ đồng niên trong các hội NCT, NCT luôn lấy cái tình, cái nghĩa làm trọng Những tác động của đời sống kinh tế xã hội tạo ra những thay đổi quan trọng trong đời sống xã hội, gia đình nói chung và đời sống NCT nói riêng NCT tự cảm thấy mình đang mất dần các uy thế và quyền lực Quan hệ với con cháu trước đây được coi như một nhu cầu tình cảm, thì bây giờ là sự phân công, sắp đặt, là bổn phận đối với con cái Do tuổi cao, sức yếu, NCT thường là từ chối, ngại tham gia các hoạt động xã hội mang tính tập thể Hạnh phúc nhất của tuổi già chính là sự thanh thản với những sở thích cá nhân Quan hệ giao tiếp xã hội thường giới hạn ở những nhóm nhỏ, như hội NCT, hội dưỡng sinh, các câu lạc bộ, hoặc tham gia các sinh hoạt lễ hội, chùa chiền (nhất là ở các cụ bà) Quan hệ xã hội ở NCT đã được thu hẹp lại, họ mãn nguyện trong sự hoà thuận, xum vầy với con cháu, hoặc tự ái, sống cô đơn trong sự bất lực, giận dỗi với người thân

1.3 Vai trò, yêu cầu về đạo đức, kiến thức, kỹ năng đối với nhân viên công tác xã hội trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội

1.3.1 Vai trò đối với nhân viên công tác xã hội trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội

Khi nhân viên xã hội ở những vị trí khác nhau thì vai trò và các hoạt động của

họ cũng rất khác nhau, tùy theo chức năng và nhóm đối tượng họ làm việc Theo quan điểm của Feyerico (1973) người nhân viên xã hội có những vai trò sau đây:

Vai trò là người vận động nguồn lực:

Vai trò là người kết nối các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho đối tượng các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có

Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp

họ bị từ chối

Vai trò là người vận động/hoạt động xã hội: là nhà vận động xã hội tổ chức các hoạt động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho đối tượng, cổ vũ tuyên truyền

Trang 26

Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức kỹ năng, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng

Vai trò người tạo sự thay đổi: Nhân viên xã hội tham gia vào các hoạt động phát triển cộng đồng để tạo nên sự thay đổi về đời sống cũng như tư duy của người dân trong cộng đồng nghèo là một ví dụ

Vai trò là người tư vấn: Nhân viên xã hội tư vấn, cung cấp thông tin cho cá nhân, gia đình cộng đồng, làm việc với những nhà chuyên môn khác để giúp họ có được những dịch vụ tốt hơn

Vai trò là người tham vấn: nhân viên xã hội trợ giúp gia đình và cá nhân tự mình xem xét vấn đề, và tự thay đổi Ví dụ như nhân viên xã hội tham gia tham vấn giúp trẻ em bị xâm hại tình dục hay phụ nữ bị bạo hành vượt qua khủng hoảng

Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng

Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp: nhân viên xã hội có thể thực hiện nhiệm vụ của người chăm sóc những người già, trẻ em trong các trung tâm chăm sóc nuôi dưỡng tập trung

Vai trò là người quản lý hành chính: quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch và triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình và cộng đồng Thực hiện công tác đánh giá và báo cáo về sự thực hiện công việc, chất lượng dịch vụ…

Người tìm hiểu, khám phá cộng đồng: nhân viên xã hội đi vào cộng đồng để xác định vấn đề của cộng đồng để đưa ra những kế hoạch trợ giúp, theo dõi, giới thiệu chuyển giao những dịch vụ cần thiết cho các nhóm đối tượng trong cộng đồng [7, tr 24]

1.3.2 Yêu cầu đạo đức, kiến thức và kỹ năng đối với nhân viên xã hội trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội

* Yêu cầu về phẩm chất đạo đức

Chất lượng và hiệu quả của thực hành công tác xã hội được quyết định một phần bởi phẩm chất đạo đức của người nhân viên xã hội Đây là hoạt động được

Trang 27

xem như một nghệ thuật, nghệ thuật của giao tiếp cùng với trái tim nhân hậu Có thể

kể tới những phẩm chất đạo đức sau đây cần có ở họ:

- Trước hết nhân viên xã hội cần sự cảm thông và tình yêu thương con người,

sự sẵn sàng giúp đỡ người khác cũng là một phẩm chất đạo đức quan trọng ở người nhân viên xã hội

- Thứ hai, nhân viên xã hội cần có niềm đam mê nghề nghiệp, sự cam kết với nghề nghiệp

- Trung thực là một yếu tố đạo đức quan trọng nhân viên xã hội cần có

- Thái độ cởi mở cũng được xem như một yếu nhân cách cần có đối với nhân viên xã hội bởi đó là yếu tố tiên quyết tạo nên niềm tin và sự chia sẻ từ phía đối tượng đối với nhân viên xã hội

- Nhân viên xã hội cần có tính kiên trì, nhẫn nại

- Nhân viên xã hội cần có lòng vị tha, sự rộng lượng

- Nhân viên xã hội cũng cần là con người luôn có quan điểm cấp tiến và hoạt động hướng tới sự thay đổi trong trật tự xã hội

- Nhân viên xã hội cũng cần là người người tỏ ra cương trực, sẵn sàng từ chối sự gian lận trong người quản lý

* Yêu cầu về kiến thức

Nhân viên xã hội cần có những kiến thức cơ bản sau đây:

Kiến thức về chính sách và dịch vụ trợ cấp xã hội

Kiến thức về hành vi ứng xử của con người và môi trường xã hội

Các phương pháp công tác xã hội, bao gồm kỹ thuật can thiệp trong khi làm việc với cá nhân, làm việc với nhóm và tổ chức cộng đồng; kiến thức về nghiên cứu

và quản lý

Các kiến thức chung về kinh tế- xã hội, pháp luật

* Yêu cầu về kỹ năng với nhân viên xã hội

Trong tiến trình trợ giúp đối tượng giải quyết vấn đề, người nhân viên xã hội cần có những kỹ năng cụ thể về đảm bảo hiệu quả công việc, tuỳ theo chức năng và hoạt động Một số kỹ năng như: Kỹ năng lắng nghe tích cực; Kỹ năng thu thập,

Trang 28

phân tích thông tin; Kỹ năng nhận xét, đánh giá; Kỹ năng thiết lập mối quan hệ với đối tượng; Kỹ năng quan sát đối tượn; Kỹ năng làm việc với nhiều tổ chức khác nhau, kể cả những tổ chức chính phủ và phi chính phủ; Kỹ năng biện hộ cho nhu cầu của đối tượng; Kỹ năng giao tiếp; truyền thông; tham vấn [20, tr 25]

1.4 Các dịch vụ công tác xã hội

Trong thời gian qua khi các chính sách, các chương trình, dự án dành cho nhóm yếu thế được hiện thực hóa Các dịch vụ xã hội cũng đã được hình thành và phát triển dựa trên nhu cầu thực tiễn, đặc biệt là nhu cầu của những người lao động nghèo và nhóm yếu thế Các dịch vụ xã hội đặc thù đó đã được phổ biến rộng rãi và mang lại nhiều lợi ích và nhiều thay đổi theo hướng tích cực trong đời sống của nhóm yếu thế, giúp họ tự tin hơn, dân chủ hơn trong đời sống cộng đồng

Nhiều dịch vụ chăm sóc cho nhưng đối tượng yếu thế trong xã hội như dịch

vụ chăm sóc thay thế cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, tham vấn, tư vấn, quản lý

ca, tổ chức hoạt động nhóm, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhiều đối tượng người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật, người rối nhiễu tâm trí, người nghiện

Trong vài năm gần đây, một số địa phương ở nước ta đã thành lập Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Theo Bộ LĐTBXH (2014), cả nước đã có hơn 30 Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH cấp tỉnh và gần 10 Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH cấp huyện Như vậy, có thể nói dịch vụ CTXH là các dịch vụ do Trung tâm dịch vụ CTXH cung cấp và được thực hiện bởi các cán bộ, nhân viên và cộng tác viên CTXH có trình độ chuyên môn

Dịch vụ của Trung tâm công tác xã hội gồm tham vấn, trị liệu rối nhiễu

tâm trí, khủng hoảng tâm lý và phục hồi thể chất cho đối tượng; cung cấp dịch vụ điều trị y tế ban đầu; tư vấn và trợ giúp đối tượng thụ hưởng các chính sách trợ giúp

xã hội; phối hợp với các cơ quan, tổ chức phù hợp khác để bảo vệ, trợ giúp đối tượng; tìm kiếm, sắp xếp các hình thức chăm sóc Xây dựng kế hoạch can thiệp và trợ giúp đối tượng; giám sát và rà soát lại các hoạt động can thiệp, trợ giúp và điều chỉnh kế hoạch

Trang 29

Trong đề tài này, tác giả đề cập kỹ hơn về các dịch vụ công tác xã hội đƣợc cung cấp tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội, chủ yếu gồm các dịch vụ sau:

- Xây dựng kế hoạch can thiệp và trợ giúp đối tượng; Giám sát và rà soát lại các hoạt động can thiệp, trợ giúp và điều chỉnh kế hoạch

- Thực hiện các biện pháp phòng ngừa đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn

và bị xâm hại, bạo lực, ngược đãi

- Hỗ trợ đối tượng hoà nhập cộng đồng

- Quản lý trường hợp

- Cung cấp các dịch vụ về giáo dục xã hội và nâng cao năng lực

- Phát triển cộng đồng

- Thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trung hạn và dài hạn

- Cung cấp dịch vụ chăm sóc bán trú tại cơ sở bảo trợ xã hội và tại cộng đồng

- Cung cấp dịch vụ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng

1.5 Thể chế dịch vụ công tác xã hội

1.5.1 Quan điểm, chính sách của Đảng

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề này, trước hết đề cập ở các chính sách về an sinh xã hội An sinh xã hội có thể được xem như một thiết chế xã hội bao gồm hệ thống các cơ quan tổ chức hoạt động với mục đích giải quyết, xoá

bỏ và phòng chống các vấn đề xã hội để nâng cao an sinh của mọi cá nhân, nhóm và cộng đồng Nó còn bao gồm các chính sách, luật pháp, các chương trình dịch vụ xã hội như chương trình cứu trợ xã hội, trợ giúp xã hội để giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết các vấn đề xã hội

Trang 30

Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là tăng trưởng kinh tế phải tiến hành đồng thời với tiến bộ và công bằng xã hội Song song với tăng trưởng kinh tế phải tập trung cho giảm nghèo,

hỗ trợ các đối tượng yếu thế như người già, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người nghèo và các đối tượng xã hội khác Thực hiện chủ trương đó, Việt Nam đã có những thay đổi tích cực và quan trọng trên nhiều lĩnh vực Nền kinh tế-

xã hội đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Mức sống của nhân dân ngày càng được nâng cao Hệ thống luật pháp, chính sách về an sinh xã hội đã được hình thành và từng bước hoàn thiện Tính từ năm

1989 đến nay đã có trên 10 Bộ luật, luật; 7 Pháp lệnh và hơn 30 Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, thông tư và các văn bản chỉ đạo khác trực tiếp hoặc có nội dung quy định khung pháp lý, chính sách là cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện chính sách xã hội ở Việt Nam; trợ giúp các đối tượng, góp phần ổn định xã hội

Các chính sách, chương trình, các dịch vụ xã hội ngày càng toàn diện hơn, bao trùm các nhu cầu cơ bản của đối tượng: về nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, hướng nghiệp, dạy nghề Đối tượng được trợ giúp từng bước được mở rộng, đáp ứng với đòi hỏi của thực tiễn Mức trợ giúp xã hội ngày càng cao hơn, cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản ngày càng tốt hơn Đặc biệt các chính sách mới ngày càng mang tính hội nhập quốc tế, phát huy truyền thống văn hoá, nhân văn của dân tộc và mang tính xã hội hoá, không ỷ lại vào nhà nước nhiều;

Hệ thống tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân viên công tác xã hội làm việc trong lĩnh vực an sinh xã hội ngày càng được mở rộng Đề án phát triển nghề công tác xã hội

đã đi vào cuộc sống và đạt được nhiều kết quả tích cực trên nhiều lĩnh vực

Việc tồn tại và phát triển CTXH ở Việt Nam đã trở thành một nhu cầu xã

hội Trên thực tế, CTXH với những biểu hiện cụ thể của nó đã được đề cập trong

pháp luật Việt Nam từ rất sớm, ngay những năm 40-50 của thế kỷ trước thông qua các hoạt động trợ giúp, hỗ trợ người cao tuổi, trẻ em mồ côi, khuyết tật, những người gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn do cá nhân, tổ chức như Hội Chữ thập đỏ, phụ nữ, thanh niên …thực hiện Các dịch vụ xã hội cũng đã được hình thành và phát

Trang 31

triển dựa trên nhu cầu của thực tế của các nhóm yếu thế cụ thể Các chính sách, các dịch vụ xã hội đã huy động được sức mạnh của toàn xã hội trong việc hỗ trợ người thiệt thòi và đã giúp hàng triệu người yếu thế có được mức sống tối thiểu, tự tin, yên tâm và từng bước hòa nhập và cộng đồng

Như vậy, nghề công tác xã hội tuy mới được thừa nhận là một nghề ở Việt Nam những đã được Đảng và Nhà nước vô cùng quan tâm và đầu tư phát triển mạnh mẽ thông qua những chủ trương, đường lối và sự đầu tư phát triển trong vòng nửa thập kỷ qua Việc phát triển các dịch vụ công tác xã hội gắn với phát triển kinh

tế, phát triển xã hội, đảm bảo an sinh và công bằng xã hội đã góp phần thúc đẩy các dịch vụ công tác xã hội trở nên chuyên nghiệp hơn nhằm đáp ứng ngày càng có hiệu quả cao tương xứng với sự phát triển của xã hội

1.5.2 Các văn bản pháp luật

Đã có những văn bản có liên quan đến hoạt động CTXH được quy định trong các lĩnh vực cụ thể là cơ sở thuận lợi cho việc bổ sung, điều chỉnh, xây dựng các quy định pháp luật về nghề CTXH trong thời gian tới Nhiều nội dung liên quan đến CTXH đã được qui định trong pháp luật Việt Nam, có liên quan đến nhiều lĩnh vực của các Bộ, ngành Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ

em và Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật; Nhiều văn bản pháp luật liên quan đến trợ giúp, chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng có hoàn cảnh khó khăn được xây dựng và ban hành như Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật phòng chống bạo lực gia đình, Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020; Quyết định số 1215/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội

và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020, Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 phê duyệt

Đề án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-2020, Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 5/8/2012 phê duyệt Đề án trợ

Trang 32

giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020; Quyết định số 524/QĐ-TTg ngày 20/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án củng cố, phát triển mạng lưới các

cơ sở trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2025 Các văn bản nêu trên là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng để các Bộ, ngành, địa phương xây dựng và phát triển mạng lưới các cơ

sở trợ giúp người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em và trung tâm công tác xã hội theo hướng cung cấp dịch vụ công tác xã hội, trợ giúp xã hội tại cộng đồng

Trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội, các văn bản đã được triển khai, thực hiện và đã cơ bản đáp ứng những vấn đề có liên quan đến những hoạt động phục vụ con người, cộng đồng, xã hội

Tuy nhiên còn có những hạn chế trong các văn bản pháp luật về công tác xã hội Về cơ bản, các quy định pháp luật trong các lĩnh vực có liên quan đến CTXH rất đa dạng, phong phú, tuy nhiên chưa được xác định rõ đó là các hoạt động CTXH Một số lĩnh vực còn thể hiện sự thiếu hụt, khoảng trống, trùng chéo, rải rác, đan xen, thiếu đồng bộ và bất cập trong quá trình triển khai, thực hiện CTXH ở Việt Nam, đối với những nội dung đã được pháp luật qui định vẫn còn chung chung, chưa cụ thể Bên cạnh đó, còn nhiều nội dung về CTXH lại chưa được pháp luật qui định Các quy định liên quan đến vị trí, vai trò, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và chính sách bảo đảm, hỗ trợ cho việc thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội, dịch vụ công tác xã hội trong các văn bản luật pháp chưa rõ ràng Các chính sách bảo đảm,

hỗ trợ cho việc thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội đối với các đối tượng thực hiện nhiệm vụ này chưa tương xứng, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, như quy định chế độ thụ hưởng chưa phù hợp với đặc thù của công việc mà họ đảm nhiệm, thực hiện Chế độ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội cũng chưa rõ, đặc biệt là đối với các đối tượng trong các cơ sở cung cấp DVCTXH

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội

Yếu tố chính sách

Hệ thống chính sách về an sinh xã hội nói chung cũng như những chính sách

cụ thể hoá đã tương đối đồng bộ và đầy đủ Từ việc đảm bảo về đời sống đến các

Trang 33

điều kiện chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và các hỗ trợ khác…Các chính sách cũng đã

có những ưu tiên theo hoàn cảnh, nhóm đối tượng, nhu cầu trợ giúp của từng nhóm đối tượng trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội Với quan điểm xây dựng hệ thống chính sách xã hội toàn điện, đối tượng hưởng lợi chính sách được mở rộng hơn Hiệu quả chính sách được nâng cao, tác động trực tiếp đến đời sống của đối tượng hưởng lợi, trong đó có các nhóm đối tượng yếu thế Tuy nhiên do tính chất phức tạp và đa dạng về đối tượng, dẫn đến những quy định chính sách vẫn còn những hạn chế nhất định Hệ thống chính sách an sinh xã hội chưa phát triển toàn diện, độ bao phủ còn thấp, khả năng tiếp cận với một số chín sách, chương trình chỉ

ở một số nhóm đối tượng, một số vùng miền hay khu vực, nhiều chính sách còn bất cập, thiếu đồng bộ, thiếu sự liên kết, chưa huy động nguồn lực và chưa bảo đảm tính bền vững Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các chính sách đối với các nhóm đối tượng cần được trợ giúp trong công tác xã hội

Ở một số nước, CTXH có luật riêng, có nhiều điều luật nằm xen kẽ trong các đạo luật hoặc luật chuyên ngành Ở Việt Nam còn có những khoảng trống và bất cập do thiếu những điều kiện cần và đủ có liên quan giữa các quy định pháp luật đã được ban hành so với thực tiễn triển khai, thực hiện và vận dụng (như nhận thức, cơ chế, con người, cơ sở vật chất…) Hầu hết các lĩnh vực các quy định pháp luật về CTXH cho thấy có những vấn đề cần được bổ sung, điều chỉnh, sửa đổi, xây dựng mới cho phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra và phù hợp với nhu cầu phát triển của CTXH ở Việt Nam và thế giới

Đối với hệ thống chính sách về chế độ tiền lương của những người làm công tác

xã hội còn nhiều hạn chế Mức lương của những người làm nghề công tác xã hội khá thấp so với nhiều ngành nghề khác trong xã hội khiến cho việc thu hút sức lao động qua đào tạo vào vị trí này còn rất hạn chế Muốn cho chất lượng cung cấp dịch vụ công tác xã hội có hiệu quả cao thù các vấn đề tiền lương cần phải được quan tâm thích đáng Bên cạnh đó chưa có những chính sách quy định về đạo đức nghề nghiệp… đối với nhân viên công tác xã hội nên ảnh hưởng đến việc đo lường chất lượng làm việc và mức độ thành công trong trợ giúp của người nhân viên công tác xã hội

Trang 34

Yếu tố thuộc về đội ngũ nhân viên xã hội

Chất lượng cung cấp dịch vụ công tác xã hội có đảm bảo hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn và người cung cấp dịch vụ, đó chính là đội ngũ nhân viên công tác

xã hội Nếu như nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp thì dịch vụ CTXH được cung cấp sẽ trở nên chuyên nghiệp và hiệu quả cao Ngược lại nếu đội ngũ nhân viên không có trình độ chuyên môn và năng lực về công tác xã hội thì việc cung cấp dịch vụ CTXH sẽ rời rạc, không đảm bảo tính chuyên nghiệp, trợ giúp cho đối tượng không có hiệu quả

Hiện nay có số cán bộ rất lớn trong các ngành lao động TBXH, Hội phụ nữ, Hội chữ thập đỏ với nhiệm vụ trợ giúp các đối tượng: người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghiện, gia đình nghèo, người bị bệnh tâm thần, cá nhân hoặc gia đình bị thiên tai, rủi ro, nạn nhân chiến tranh… Với

sự đa dạng về nhóm đối tượng cần trợ giúp đòi hỏi nhân viên công tác xã hội phải

có những hiểu biết cơ bản về những lĩnh vực khác nhau, cần có những vai trò khác nhau và sử dụng những kỹ năng khác nhau phù hợp với nhóm đối tượng trợ giúp Tuy nhiên đội ngũ nhân viên công tác xã hội hiện nay còn rất thiếu kiến thức, kỹ năng CTXH chuyên nghiệp, do vậy các ngành cũng đã tổ chức khá nhiều khoá tập huấn nhằm cung cấp kiến thức kỹ năng CTXH cơ bản cho những cán bộ hiện đang quản lý và chăm sóc cho những đối tượng yếu thế Thậm chí, nhận thức của không

ít cán bộ quản lý tại cơ sở rằng công tác xã hội chủ yếu bằng sự nhiệt tình chứ chưa

coi trọng tính chuyên nghiệp của hoạt động này

Yếu tố thuộc về đối tượng của dịch vụ công tác xã hội

Là một nước có nền sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, trải qua hàng bao thập kỷ bị chiến tranh, vị trí địa lý thường có nhiều thiên tai bão lụt, cùng với những cơ chế quản lý bao cấp từ nhiều năm trước đây, hiện nay chúng ta đang trong quá trình đổi mới với nhiều thay đổi trong kinh tế, xã hội, thể chế, do vậy

có nhiều vấn đề xã hội đang tồn tại, thậm chí gia tăng cần được giải quyết, trong

đó có một số lượng lớn và đa dạng nhóm đối tượng yếu thế như người có công với cách mạng, người nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người

Trang 35

nghiện…Trình độ nhận thức của đối tượng hạn chế vì vậy gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cung cấp dịch vụ Trong công tác xã hội, những dịch vụ cung cấp cho nhóm đối tượng này đòi hỏi sự tham gia của đối tượng để tự họ giải quyết được vấn đề của mình, tuy nhiên do nhận thức hạn chế, đôi khi một số nhóm đối tượng có sức “ ỳ” cao nên việc cung cấp dịch vụ gặp nhiều khó khăn, khó có thể tiếp cận và trợ giúp được đối tượng

Yếu tố cơ sở vật chất

Chất lượng cung cấp các dịch vụ công tác xã hội đạt được đến đâu phụ thuộc

rất lớn vào việc khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực về cơ sở vật chất Những yếu tố về giao thông, hệ thống y tế, hệ thống giáo dục… ảnh hưởng không nhỏ đến việc cung cấp các dịch vụ công tác xã hội Ví dụ đơn giản nếu như hệ thống giao thông phát triển, hệ thống điện lưới được kéo đến các vùng sâu xa thì việc cung cấp các dịch vụ về truyền thông trong công tác xã hội sẽ gặp nhiều thuận lợi Người dân sẽ dễ dàng tiếp cận các dịch vụ công tác xã hội Bên cạnh đó mức thu nhập bình quân của người dân và tốc độ tăng trưởng kinh tế, vấn đề ngân sách của trung ương hay ngân sách địa phương đều có những tác động đến việc cung cấp dịch vụ

Yếu tố nguồn lực và kết nối nguồn lực: Trong công tác xã hội, để trợ giúp cho đối tượng có hiệu quả thì việc kết nối nguồn lực là vô cùng cần thiết Tuy nhiên mạng lưới công tác xã hội ở Việt Nam đang trên đà phát triển và còn tồn tại nhiều hạn chế, vì vậy ảnh hưởng đến việc kết nối các nguồn lực để trợ giúp cho đối tượng

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Công tác xã hội tại Việt Nam là một nghề mới tại Việt Nam Các dịch vụ công tác xã hội đã được triển khai trợ giúp có hiệu quả đáp ứng nhu cầu của xã hội Đối với nhóm đối tượng yếu thế, cung cấp các dịch vụ công tác xã hội là vô cùng cần thiết

Những khái niệm công cụ được đề cập đến trong luận văn là khái niệm dịch

vụ, công tác xã hội, dịch vụ công tác xã hội; chức năng, nhiệm vụ, vai trò, nguyên tắc của công tác xã hội và dịch vụ công tác xã hội; Đối tượng, nhu cầu của các đối tượng cung cấp dịch vụ công tác xã hội; đặc điểm và nhu cầu của người cao tuổi; Vai trò, yêu cầu về đạo đức, kiến thức, kỹ năng đối với nhân viên công tác xã hội trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội; Các dịch vụ công tác xã hội; Thể chế dịch

vụ công tác xã hội và các yếu tố ảnh hưởng tới dịch vụ công tác xã hội

Việc nghiên cứu lý luận về dịch vụ công tác xã hội sẽ giúp xây dựng một hệ thống các khái niệm mang tính thực hành trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội Đây sẽ là tiền đề để làm sáng tỏ phần nội dung ở chương 2 khi đề cập đến các dịch

vụ công tác xã hội cụ thể và đối tượng cụ thể tại một cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI

TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH

2.1 Điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của tỉnh Quảng Ninh ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội

Quảng Ninh là một tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, với diện tích 611.081,3 km2, dân số trên 1,1 triệu người, gồm 14 huyện, thị xã, thành phố với 186

xã, phường, thị trấn Có đường bờ biển dài 250 km, đường biên giới dài 132 km giáp với Trung Quốc và cửa khẩu Quốc tế Móng Cái Nằm trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế khu vực phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), có khu công nghiệp than lớn nhất cả nước, có Vịnh Hạ Long là một trong những kì quan thiên nhiên của Thế giới thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Với lợi thế về địa lý: cảng biển, biên giới và nguồn tài nguyên, đây là thế mạnh để các ngành kinh tế của Quảng Ninh phát triển như: công nghiệp, giao thông vận tải, du lịch, thương mại và dịch vụ

Theo xu hướng chung của cả nước, cùng với những mặt tích cực của quá trình phát triển là những tác động tiêu cực của sự phát triển

Bảng 2.1: Tổng hợp nhóm đối tượng yếu thế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

ĐVT: Người

12 Tổng số đối tượng hiện đang được hưởng chế độ BTXH 26.300

13 Số người sống trong gia đình hộ nghèo 78.000

[38, tr 2]

Trang 38

Số người có nhu cầu sử dụng các dịch vụ của công tác xã hội và các đối tượng yếu thế cần sự trợ giúp xã hội ở tỉnh Quảng Ninh là rất lớn

Đây là những nhóm đối tượng có nhu cầu rất lớn từ thực tiễn xã hội, đòi hỏi cần có những hoạt động cung cấp dịch vụ xã hội và phúc lợi xã hội cho nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Trước bối cảnh trên, để đáp ứng nhu cầu sử dụng các dịch vụ của công tác xã hội ngày càng lớn và mang tính chuyên nghiệp, Quảng Ninh đã triển khai thực hiện

Đề án phát triển công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 nhằm phát triển và nâng cao tính chuyên nghiệp hoá nghề công tác xã hội một cách có hệ thống và khoa học Tỉnh Quảng Ninh đã sớm xây dựng Kế hoạch số 1811/KH-UBND triển khai thực hiện Đề án 32 trên địa bàn tỉnh với mục tiêu: Phát triển CTXH trở thành một nghề chuyên nghiệp ở tỉnh Quảng Ninh; Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; Xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ

về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng, có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức tốt gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp, góp phần tích cực xây dựng, ổn định và phát triển hệ thống an sinh xã hội tiên tiến trên địa bàn tỉnh

Trong hệ thống các Trung tâm cung cấp các dịch vụ công tác xã hội thì Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh đang cung cấp một số dịch vụ dành cho người cao tuổi Nhóm Người cao tuổi là một trong những nhóm dễ bị tổn thương trước những khó khăn trong cuộc sống, dễ gặp nhiều rủi ro trong sự biến đổi của môi trường sống xung quanh Số lượng người cao tuổi cũng chiếm một phần lớn và người cao tuổi là một trong những đối tượng yếu thế có nhu cầu về trợ giúp xã hội

Bảng 2.2: Số lượng người cao tuổi tỉnh Quảng Ninh Năm Số người trên 60 tuổi

Trang 39

2.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh

- Lịch sử phát triển của Trung tâm

Trung tâm Bảo trợ xã hội là một đơn vị trực thuộc Sở Lao động Thương binh

và xã hội Quảng Ninh, có trụ sở tại phường Nam Khê, thành phố Uông Bí Trải qua

50 năm hình thành phát triển với bao thăng trầm, biến đổi, Trung tâm Bảo trợ xã hội

đã từng bước trưởng thành trong việc thực hiện sứ mệnh chính trị của mình

Năm 2001 đổi tên thành Trung tâm Bảo trợ xã hội như hiện nay với 120 đối tượng được nuôi dưỡng, chăm sóc Hiện tại, Trung tâm duy trì thường xuyên 100 đối tượng, trụ sở được xây dựng trên tổng diện tích sử dụng là 18.000m2 Trước kia,

cơ sở vật chất của Trung tâm đã cũ và xuống cấp, năm 2008 được sự quan tâm của UBND tỉnh, Trung tâm đã khởi công xây mới hoàn toàn các khu ở cho đối tượng, khu văn phòng làm việc và cải tạo toàn bộ khuôn viên

- Chức năng, nhiệm vụ:

Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh là đơn vị sự nghiệp công lập có chức năng giúp Giám đốc Sở tiếp nhận, tập trung quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, phục hồi chức năng, tổ chức lao động sản xuất cho các đối tượng thuộc diện bảo trợ

xã hội trên địa bàn tỉnh, đặc biệt khó khăn không tự lo được cuộc sống Tiếp nhận, quản lý ngắn hạn, đưa về địa phương những đối tượng lang thang cơ nhỡ, xin ăn trên địa bàn tỉnh Tiếp nhận, chăm sóc và nuôi dưỡng đối tượng là người cao tuổi không có điều kiện sống ở gia đình, có nguồn thu nhập, tự nguyện đóng góp kinh phí vào sống tại Trung tâm Phối hợp tổ chức các hoạt động rà soát, nắm tình hình

và trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng trên địa bàn tỉnh

- Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh:

+ Ban giám đốc Trung tâm: 01 giám đốc, 01 phó giám đốc

+ 04 phòng chuyên môn gồm: Phòng Hành chính kế toán; Phòng Y tế phục hồi chức năng; Phòng Quản lý và tư vấn; Phòng chăm sóc đối tượng Tự nguyện

- Về nhân lực và chất lượng nhân lực: Trung tâm được giao 22 biên chế (20 viên chức và 02 HĐ 68) Hợp đồng thêm 4 vị trí lao động

Trang 40

+ Trình độ chuyên môn: Cử nhân: 10; Cao đẳng: 02; Trung cấp và khác: 14;

Lý luận chính trị: Cao cấp: 01; Trung cấp: 03; Sơ cấp 01; Quản lý nhà nước: Chuyên viên chính: 01; Chuyên viên: 03; Đảng viên: 10 đảng viên

+ Chuyên ngành đào tạo: Lao động xã hội, Quản trị nhân lực, Công tác xã hội: 06; Tài chính kế toán: 07; Y tế: 05; Sư phạm: 02; Khác 06 Hiện tại Trung tâm đang cử 04 cán bộ học lớp thạc sỹ chuyên ngành Công tác xã hội,; 03 nhân viên học lớp Đại học Quản trị nhân lực của Trường Đại học Lao động xã hội tổ chức 100% CBVC,LĐ được tập huấn nghiệp vụ về công tác xã hội, nghiệp vụ chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật 3 cán bộ viên chức được cấp chứng chỉ về quản lý công tác xã hội cấp cao

Đội ngũ cán bộ, nhân viên của Trung tâm có trình độ, kiến thức, kỹ năng tốt

về lĩnh vực bảo trợ xã hội; có tâm huyết với nghề, nhiệt tình, trách nhiệm, thực hiện tốt các nhiệm vụ của đơn vị Với việc sắp xếp bố trí cán bộ nhân viên tương đối phù hợp với từng vị trí và phân công nhiệm vụ cụ thể rõ ràng, hệ thống nhân lực đang hoạt động có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu công việc trong tình hình mới Tuy nhiên còn tồn tại một số vị trí công việc còn chưa phù hợp về trình độ chuyên môn, cũng làm ảnh hưởng một phần nhỏ đến chất lượng thực hiện công việc

- Cơ sở vật chất: Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh đang quản lý diện tích đất 15.065 m2, gồm có: 01 nhà điều hành 2 tầng; 01 nhà sinh hoạt chung;

01 nhà sinh hoạt cộng đồng; 01 phòng tập với các hệ thống máy móc phục hồi chức năng hiện đại; 04 khu nhà ở với hệ thống 33 phòng khép kín một tầng dành cho đối tượng; 01 khu nhà quản lý đối tượng khẩn cấp; 01 nhà tang lễ đối tượng; 01 khu nghĩa trang riêng dành cho các đối tượng mất tại Trung tâm; 01 gara xe và các hạng mục phụ trợ khác với tổng diện tích sàn trên 5.35m2 Khuôn viên của Trung tâm được quy hoạch mới và bao phủ nhiều cây xanh, đường đi nội bộ và ao thả cá để tạo môi trường cảnh quan đẹp

Ngày đăng: 13/10/2016, 14:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội - UNICEF - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - Hiệp hội dạy nghề và nghề công tác xã hội Việt Nam - USAID (2013), “Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế Nâng cao tính chuyên nghiệp công tác xã hội vì phát triển và hội nhập”, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế Nâng cao tính chuyên nghiệp công tác xã hội vì phát triển và hội nhập”
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội - UNICEF - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - Hiệp hội dạy nghề và nghề công tác xã hội Việt Nam - USAID
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2013
5. Bộ LĐTBXH, Báo cáo kết quả thực hiện công tác bảo trợ xã hội năm 2013, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác bảo trợ xã hội năm 2013
6. Chính phủ Việt Nam (2013), Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Nghị định số 136/NĐ-CP/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2013
7. Đặng Kim Chung (2012) Báo cáo đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội và đề xuất kế hoạch phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH từ trung ương đến địa phương, Viên Khoa học Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội và đề xuất kế hoạch phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH từ trung ương đến địa phương
8. Cục BTXH.(2015a). Kế hoạch thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2016-2020. Trình bày tại buổi toạ đàm chuyên gia về phát triển nghề công tác xã hội. Uỷ ban Các vấn đề xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2016-2020
9. Cục BTXH.(2015b). Khảo sát Hệ thống chăm sóc xã hội. Bộ Lao động- Thương binh và xã hội.(Chưa công bố) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát Hệ thống chăm sóc xã hội
13. Tạ Hải Giang (2013). Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ xã hội tại Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc tế, ĐH LĐXH tháng 11/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ xã hội tại Việt Nam
Tác giả: Tạ Hải Giang
Năm: 2013
15. Nguyễn Thị Thu Hà (2015), Một số giải pháp nhằm thu hút đối tượng tự nguyện vào sống tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nhằm thu hút đối tượng tự nguyện vào sống tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2015
16. Trần Hậu – Đoàn Minh Tuấn (2012), Phát triển dịch vụ xã hội ở nước ta đến năm 2020 – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dịch vụ xã hội ở nước ta đến năm 2020 – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Hậu – Đoàn Minh Tuấn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
18. Nguyễn Hải Hữu, Nguyễn Thị Thái Lan(2015). Báo cáo tổng quan hệ thống chăm sóc xã hội ở Việt Nam. UNICEF.( Chưa công bố) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan hệ thống chăm sóc xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hải Hữu, Nguyễn Thị Thái Lan
Năm: 2015
20. Bùi Thị Xuân Mai (2013), Đề tài cấp bộ: Phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ công tác xã hội và Nhân viên công tác xã hội, Tổng cục dạy nghề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ công tác xã hội và Nhân viên công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Năm: 2013
21. Bùi Thị Xuân Mai (2012), “Giáo trình nhập môn công tác xã hội”, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình nhập môn công tác xã hội”
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2012
22. Bùi Thị Xuân Mai (2014), Phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ công tác xã hôi và Nhân viên công tác xã hội. Nxb Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ công tác xã hôi và Nhân viên công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2014
23. Bùi Thị Xuân Mai (2013), Vai trò của NVCTXH và mạng lưới NVCTXH trong cung cấp dịch vụ xã hội, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: Nâng cao tính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của NVCTXH và mạng lưới NVCTXH trong cung cấp dịch vụ xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Năm: 2013
24. Mendoza, T. (2008). phúc lợi xã hội và công tác xã hội. Chương 10 – “Các lĩnh vực hoạt động của công tác xã hội” Trung tâm Cung cấp sách Quezon Sách, tạp chí
Tiêu đề: phúc lợi xã hội và công tác xã hội. Chương 10 – “Các lĩnh vực hoạt động của công tác xã hội”
Tác giả: Mendoza, T
Năm: 2008
25. MOLISA - ULSA - CFSI - ASI - AP - UNICEF (2012), “Khóa đào tạo công tác xã hội cho các nhà quản lý công tác xã hội, chủ đề công tác xã hội với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khóa đào tạo công tác xã hội cho các nhà quản lý công tác xã hội, chủ đề công tác xã hội với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt”
Tác giả: MOLISA - ULSA - CFSI - ASI - AP - UNICEF
Năm: 2012
33. Nguyễn Thế Thịnh (2013), Một số kết quả và kinh nghiệm trong việc triển khai thực hiện đề án phát triển nghề CTXH tại tỉnh Quảng Ninh, Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc tế: Nâng cao tính chuyên nghiệp CTXH vì phát triển và hội nhập, Hà Nội, tháng 11/2013 Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả và kinh nghiệm trong việc triển khai thực hiện đề án phát triển nghề CTXH tại tỉnh Quảng Ninh", Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc tế: "Nâng cao tính chuyên nghiệp CTXH vì phát triển và hội nhập
Tác giả: Nguyễn Thế Thịnh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2013
34. Trần Kiên Trung (2013), Đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ CTXH tại Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo “Xác định ngày CTXH Việt Nam, Hà Nội, tháng 12/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ CTXH tại Việt Nam
Tác giả: Trần Kiên Trung
Năm: 2013
35. Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh (2013), "Báo cáo tổng kết công tác năm 2013, phương hướng nhiệm vụ năm 2014", Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2013, phương hướng nhiệm vụ năm 2014
Tác giả: Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2013
11. Gary Bailey (2003), Tiêu chuẩn NASW về các Dịch vụ Công tác Xã hội tại cơ sở chăm sóc dài hạn. Cục BTXH biên dịch năm 2014.http://congtacxahoi.molisa.gov.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng hợp nhóm đối tƣợng yếu thế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh - Dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh quảng ninh
Bảng 2.1 Tổng hợp nhóm đối tƣợng yếu thế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (Trang 37)
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm - Dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh quảng ninh
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm (Trang 41)
Bảng 2.3: Số lượng người cao tuổi tại Trung tâm chia theo hai nhóm - Dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh quảng ninh
Bảng 2.3 Số lượng người cao tuổi tại Trung tâm chia theo hai nhóm (Trang 43)
Bảng 2.5: Phân bố theo giới tính của người cao tuổi tại Trung tâm - Dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh quảng ninh
Bảng 2.5 Phân bố theo giới tính của người cao tuổi tại Trung tâm (Trang 44)
Bảng 2.7: Số liệu người cao tuổi được bảo vệ khẩn cấp qua các năm - Dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh quảng ninh
Bảng 2.7 Số liệu người cao tuổi được bảo vệ khẩn cấp qua các năm (Trang 45)
Bảng 2.8: Nội dung tham vấn, tƣ vấn (thang điểm 10) - Dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh quảng ninh
Bảng 2.8 Nội dung tham vấn, tƣ vấn (thang điểm 10) (Trang 49)
Bảng 2.10: Nhu cầu lao động của người cao tuổi(%) - Dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh quảng ninh
Bảng 2.10 Nhu cầu lao động của người cao tuổi(%) (Trang 58)
Bảng 2.11: Các hoạt động chăm sóc sức khoẻ Người cao tuổi - Dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh quảng ninh
Bảng 2.11 Các hoạt động chăm sóc sức khoẻ Người cao tuổi (Trang 59)
Bảng 2.13: Đánh giá chất lƣợng dịch vụ công tác xã hội đƣợc cung cấp  tại Trung tâm - Dịch vụ công tác xã hội từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh quảng ninh
Bảng 2.13 Đánh giá chất lƣợng dịch vụ công tác xã hội đƣợc cung cấp tại Trung tâm (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w