1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ thương mại việt nam ASEAN, những vấn đề đặt ra trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN

83 347 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không chỉ đưa ra thực trạng, nghiên cứu còn chỉ ra những ảnh hưởng của việc tham gia CEPT/AFTA đối với thương mại và sản xuất khẩu trong nước, từ đó đưa ra được những giải pháp khá thiết

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

TRẦN VĂN HOÀNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG 10

1.1 Một số khái niệm cơ bản 10

1.2 Lý thuyết thương mại quốc tế 13

1.3 Thương mại song phương và các nhân tố tác động 19

1.4 Lý thuyết về Hiệp định thương mại tự do 22

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG VIỆT NAM – ASEAN 32

2.1 Khung khổ pháp lý cho quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN 32

2.2 Bức tranh quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN 41

2.3 Vấn đề đặt ra đối với xuất nhập khẩu hàng hóa 62

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA VIỆT NAM – ASEAN TRONG BỐI CẢNH AEC 69

3.1 Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu cho Việt Nam 69

3.2 Nhóm giải pháp riêng để thúc đẩy thương mại Việt Nam-ASEAN 73

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CEPT Chương trình Ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung

PTA Hiệp định ưu đãi thuế quan

RCA Chỉ số lợi thế so sánh thể hiện

UNCOMTRADE Cơ sở dữ liệu thương mại của Liên hiệp quốc

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam với các đối tác thương mại chính 45 Hình 2: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN (%) 45 Hình 3: Xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN phân theo trình độ công nghệ của sản phẩm 49 Hình 4: Xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN, 2001-2014 52 Hình 5: Cơ cấu nhập khẩu hàng hóa theo trình độ công nghệ của Việt Nam từ ASEAN 56 Hình 6: Cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam từ ASEAN phân theo mục đích sử dụng, 2001-2014 57 Hình 7: Quan hệ thương mại Việt Nam - ASEAN, 2001-2014 59 Hình 8: Chỉ số tương đồng xuất khẩu giữa Việt Nam và một số nước ASEAN 64

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Quan hệ thương mại Việt Nam - ASEAN 43Bảng 2: Số lượng mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN 46Bảng 3: Nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang ASEAN 48

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ sau “Đổi mới” Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế đáng kể Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 7,22% trong giai đoạn 2001-2010, thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh, chất lượng cuộc sống của người dân cải thiện đáng kể, cơ sở hạ tầng phát triển nhanh chóng Những thành tựu trên có được nhờ chủ trương mở cửa hội nhập với khu vực và thế giới

Hội nhập ASEAN là một trong những bước hội nhập đầu tiên của Việt Nam với khu vực và thế giới Năm 1992, Việt Nam tham gia ASEAN với vai trò quan sát viên và với những nỗ lực rất lớn từ hai phía, ba năm sau Việt Nam chính thức là thành viên thứ bảy của ASEAN Sự kiện trên không chỉ mang lại các lợi ích về địa chính trị mà còn mang tới những lợi ích lớn về kinh tế Thông qua hội nhập khu vực Việt Nam tiếp cận thị trường hơn 300 triệu dân của ASEAN, với nguồn tài nguyên phong phú là cơ sở cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình phát triển của Việt Nam hơn 20 năm qua

Trong thời gian đầu hội nhập, thương mại Việt Nam – ASEAN tăng trưởng đột biến nhưng thất thường Mức tăng trưởng bình quân thời kỳ 1991-

1995 là 26%, chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, thời kỳ này quan hệ thương mại giữa Việt Nam và ASEAN khá thiên lệch Trong khi ASEAN là thị trường nhập khẩu hàng đầu của Việt Nam thì xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN lại không đáng kể Nhập khẩu từ ASEAN chiếm 30% tổng nhập khẩu của Việt Nam với các hàng hóa chủ yếu là các nhu yếu phẩm, tư liệu sản xuất mà trong nước đang rất thiếu, nhưng ở chiều ngược lại tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN chỉ chiếm ba phần nghìn tổng nhập khẩu của khối Theo thời gian cơ cấu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và ASEAN hiện nay đã trở nên cân đối hơn rất nhiều Theo số liệu thống

kê thương mại hàng hóa năm 2014, xuất khẩu sang ASEAN chiếm 12,8% tổng xuất khẩu của Việt Nam trong khi giá trị nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á chiếm 15,5% tổng nhập khẩu của Việt Nam

Trang 7

2

Mặc dù đã có những thay đổi tích cực trong cơ cấu xuất nhập khẩu nhưng Việt Nam vẫn là bên nhập siêu trong quan hệ thương mại với ASEAN

Vì hai lý do, thứ nhất, mặc dù tỷ trọng của ASEAN ngày càng sụt giảm trong

cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam nhưng đây vẫn là một trong những thị trường nhập khẩu quan trong trọng của Việt Nam Thứ hai, các nhà xuất khẩu Việt Nam chưa quan tâm đúng mức trong việc phát triển thị trường xuất khẩu ở các nước ASEAN

Năm 2015, với sự hình thành của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), quan hệ Việt Nam –ASEAN nói chung và quan hệ thương mại nói riêng thực

sự sẽ bước sang một trang mới Với sự kiện này, ASEAN đã bước một bước

tiến dài để tiến tới mục tiêu được đề ra trong Hiến chương ASEAN là “xây

dựng ASEAN thành một thị trường đơn nhất và là một cơ sở sản xuất chung”

Với sự hình thành AEC các rào cản thương mại thuế quan gần như bị loại bỏ hoàn toàn, các rào cản kỹ thuật bị gỡ bỏ đáng kể giúp cho luồng vốn, hàng hóa

và thậm chỉ cả thể nhân (ở một số lĩnh vực) có thể dịch chuyển tự do trong khối Điều này hàm ý rằng, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chịu áp lực cạnh tranh rất lớn từ các doanh nghiệp đến từ các nước có nền sản xuất phát triển hơn trong khu vực (vốn dĩ có trình độ quản lý và sản xuất hiện đại hơn) Tuy nhiên, khía cạnh tích cực là hàng hóa của Việt Nam cũng sẽ dễ dàng lưu thông hơn trong khối, do đó tiềm năng xuất khẩu sang các đối tác trong khu vực sẽ rất lớn

Nói tóm lại, quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN đã thay đổi rất nhiều trong hơn 20 năm hội nhập kinh tế khu vực của Việt Nam, có những thành tựu rất đáng ghi nhận nhưng cũng còn đó những hạn chế mà Việt Nam cần phải cải thiện hơn nữa để có thể nâng tầm quan hệ thương mại với khối này, đặc biệt là trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vừa được thành lập (2015)

Trang 8

3

Do đó, luận văn sẽ đánh giá lại quá trình quan hệ thương mại giữa Việt Nam và ASEAN để đánh giá những mặt tích cực và hạn chế trong quan hệ trên để từ đó đưa ra một số giải pháp khắc phục giúp cho Việt Nam có thể chuẩn bị tốt hơn trọng việc tận dụng cơ hội mà AEC mang lại

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Về quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN, đã có rất nhiều công trình

nghiên cứu về vấn đề này Đỗ Như Khuê, Nguyễn Thị Loan Anh (1997) trong

cuốn “Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và ASEAN” đã đưa ra một bức

tranh tổng thể về thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN trong giai đoạn đầu của hội nhập Không chỉ đưa ra thực trạng, nghiên cứu còn chỉ

ra những ảnh hưởng của việc tham gia CEPT/AFTA đối với thương mại và sản xuất khẩu trong nước, từ đó đưa ra được những giải pháp khá thiết thực để thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN Hạn chế của nghiên cứu này là chỉ dừng lại ở phân tích định tính và phân tích thống kê giản đơn Vũ

Dương Ninh (2001), với nghiên cứu “Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN và

doanh nghiệp Việt Nam”, đi sâu phân tích quan hệ thương mại Việt Nam –

ASEAN dưới tác động của CEPT/AFTA Nghiên cứu đã khái quát tình hình quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN trong bối cảnh thực hiện các cam kết CEPT/AFTA, đồng thời chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện các hiệp định này của Việt Nam Hồng Vân (2007), đã có những phân tích ở cấp độ chi tiết hơn về quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN trong 10 năm kể từ khi Việt Nam tham gia CEPT/AFTA thông qua các chỉ số thương mại Gần đây, có nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Tâm (2016) về

“quan hệ thương mại hàng hóa giữa Việt Nam với một số nước ASEAN phát triển” đã cập nhật thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN đặc

biệt là với bốn quốc gia phát triển của ASEAN là: Singapore, Thái lan, Indonesia, Malaysia

Trang 9

4

Về phương pháp đánh giá tác động của hiệp định thương mại tự do đối với phát triển kinh tế, đầu tiên phải kể đến nghiên cứu của Plummer và cộng

sự (2010), “Methodology for Impact Assessment of Free Trade Agreements”,

đã cung cấp một khung khổ đầy đủ cả nền tảng lý thuyết và công cụ phân tích cho việc đáng giá tác động của FTA tới tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, MUTRAP III (2010) với nghiên cứu “Đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do đối với nền kinh tế Việt Nam” đã sử một bộ công cụ rất công phu từ phân tích chỉ số, phân tích ngành, phân tích thuế quan, mô hình cân bằng từng phần, mô hình cân bằng tổng thể,… để định lượng các tác động

mà các FTA Việt Nam tham gia tới nền kinh tế Ngoài ra, UNCTAD cũng cung cấp một bộ công cụ khá đầy đủ kèm theo các hướng dẫn thực hành đánh giá tác động của FTA

Nghiên cứu này, sẽ kết hợp một số phương pháp định tính và định lượng trong các nghiên cứu trên và kế thừa các phân tích thương mại song phương Việt Nam – ASEAN để cập nhsật thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN, đồng thời đưa ra những đánh giá về những thành công và hạn chế của Việt Nam trong quan hệ thương mại với ASEAN

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích thực trạng cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và ASEAN trong giai đoạn 2001-2014, chỉ ra những thành tựu và hạn chế của Việt Nam, từ đó đưa ra những kiến nghị giúp Việt Nam có thể phát huy thế mạnh, hạn chế nhược điểm để tận dụng tối đa cơ hội từ AEC đồng thời hạn chế những rủi ro mà nó mang lại cho hoạt động thương mại hàng hóa của Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng hợp và nghiên cứu một số vấn đề lý thuyết về hiệp định thương mại tự do

Trang 10

5

- Sử dụng phương pháp định lượng (phân tích chỉ số) để làm rõ các vấn

đề trong quan hệ xuất nhập khẩu của Việt Nam – ASEAN trong giai đoạn 2001-2014

- Phân tích thực trạng quan hệ thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và ASEAN trong giai đoạn 2001-2014 cũng như trong bối cảnh AEC được thành lập

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quan hệ thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và ASEAN trong giai đoạn 2001-2014

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu chỉ xem xét quan hệ thương mại hàng hóa giữa Việt Nam

và ASEAN chứ không xem xét thương mại dịch vụ

- Nghiên cứu chỉ đề cập tới dòng thương mại trực tiếp giữa Việt Nam

và ASEAN chứ không đề cập tới thương mại gián tiếp qua nước thứ ba

- Giai đoạn nghiên cứu: 2001 - 2014

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn: (i) các phương pháp phân tích định tính như: Phân tích tổng hợp, phân tích SWOT,…; (ii) các phương pháp phân tích định lượng như: phân tích thống kê, phân tích chỉ số, mô hình định lượng Các phương pháp nghiên cứu dự kiến được sử dụng như sau:

- Phương pháp tổng hợp: đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong luận văn Phương pháp này được sử dụng để phác thảo bức tranh quan hệ thương mại Việt Nam-ASEAN, quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế của Việt Nam, ra soát các cam kết AFTA, AEC…

- Phương pháp SWOT: được sử dụng kết hợp với phương pháp tổng hợp

để chỉ ra cơ hội, thách thức, điểm mạnh và điểm yếu của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập AEC

Trang 11

6

- Phương pháp phân tích thống kê: được sử dụng nhiều trong việc phác thảo bức tranh quan hệ thương mại của Việt Nam nói chung và với ASEAN nói riêng Các phân tích số liệu thống kê từ số liệu bộ điều tra doanh nghiệp để chỉ ra sự dịch chuyển cơ cấu trong các ngành sản xuất của Việt Nam

- Phương pháp định lượng sử dung các chỉ số thương mại để đánh giá những khó khăn và thách thức của hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN Các chỉ số được sử dụng bao gồm:

o Chỉ số thương mại nội vùng (Intraregional Trade Share - ITS)

Chỉ số thương mại nội vùng được định nghĩa là tỷ số giữa thương mại nội khối với tổng thương mại của các quốc gia trong khối

Công thức tính:

: tổng giá trị xuất nhập khẩu giữa các quốc gia trong khối

: tổng giá trị xuất nhập khẩu của khối

Ý nghĩa kinh tế: Chỉ số này chỉ ra tầm quan trọng tương đối của thương

mại nội khối so với tổng thương mại của các quốc gia trong khối

o Chỉ số tương đồng xuất khẩu (Export Similarity Index - XS)

Công thức tính:

where

Xrg = giá trị xuất khẩu hàng hóa “g” của vùng “r”

Xr = tổng giá trị xuất khẩu của vùng “r”

Xcg = giá trị xuất khẩu hàng hóa “g” của nước “c”

Trang 12

7

Xc = tổng giá trị xuất khẩu của nước “c”

Chỉ số tương đồng xuất khẩu có giá trị nằm trong khoảng từ 0 đến 1 Giá trị “0” hàm ý rằng không có sự trùng lắp trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu giữa nước “c” và vùng “r” Giá trị “1” hàm ý rằng có sự trùng lắp hoàn toàn trong cơ cấu xuất khẩu giữa quốc gia “c” và vùng “r” Chỉ số tương đồng càng lớn hàm ý rằng mức độ cạnh tranh xuất khẩu giữa quốc gia “c” và vùng “r” càng lớn

o Chỉ số Bổ trợ thương mại (Trade Complementarity Index - TC)

Đo lường mức độ tương thích giữa cơ cấu xuất khẩu của một nước với

cơ cấu nhập khẩu của vùng đối tác

Công thức tính:

Trong đó:

Mrg: giá trị nhập khẩu hàng hóa “g” của vùng “r”

Mr: tổng giá trị nhập khẩu của vùng “r”

Xcg: giá trị xuất khẩu hàng hóa “g” của nước “c”

Xc: tổng giá trị xuất khẩu của nước “c”

Ý nghĩa kinh tế của chỉ số bổ trợ thương mại: giá trị của chỉ số nằm trong khoảng (0, 1) Về mặt lý thuyết, giá trị “0” hàm ý hoàn toàn không có sự

bổ trợ giữa cơ cấu xuất khẩu của nước “c” và cơ cấu nhập khẩu của vùng “r”, ngược lại giá trị “1” hàm ý rằng cơ cấu xuất khẩu của nước “c” và cơ cấu nhập khẩu của vùng “r” hoàn toàn bổ trợ lẫn nhau Mức độ bổ trợ thương mại càng cao hàm ý rằng hiệp định thương mại giữa quốc gia “c” và vùng “r” sẽ mang lại tiềm năng thúc đẩy thương mại giữa hai bên

o Chỉ số Lợi thế so sánh thể hiện (Revealed Comparativeness Advantage -

RCA)

Trang 13

8

Công thức tính:

Trong đó:

= giá trị xuất khẩu mặt hàng “g” của nước “c”

= tổng giá trị xuất khẩu của nước “c”

= giá trị xuất khẩu hàng hóa “g” của thế giới

= tổng giá trị xuất khẩu của thế giới

Chỉ số Lợi thế so sánh thể hiện được sử dụng để so sánh mức độ chuyên môn hóa tương đối trong xuất khẩu của nước “c” với thế giới ≥ 1, khi thị phần xuất khẩu hàng hóa “g” của nước “c” lớn hơn tương đối so với thị phần xuất khẩu hàng hóa “g” của thế giới Điều này hàm ý rằng quốc gia “c”

có mức độ chuyên môn hóa mặt hàng “g” Ngược lại, < 1, khi thị phần xuất khẩu hàng hóa “g” của nước “c” thấp hơn tương đối so với thị phần xuất khẩu hàng hóa “g” của thế giới

Số liệu nghiên cứu

Phần lớn số liệu thương mại hàng hóa được sử dụng trong luận văn được lấy từ Cơ sở dữ liệu thương mại của Liên hiệp Quốc (UNCOMTRADE) Bên cạnh đó, luận văn cũng tham khảo các nguồn số liệu thương mại khác của Việt Nam như: Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan và cơ sở dữ liệu của Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)

Trang 14

9

Ngoài ra, luận văn có sử dụng số liệu thứ cấp từ một số công trình nghiên cứu nghiêm túc khác

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về lý thuyết, luận văn cung cấp một khung lý thuyết về hiệp định thương mại tự do để làm tiền đề cho các phân tích về quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN

Về mặt thực tiễn, luận văn cung cấp một bức tranh tổng thể về quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN trong giai đoạn 2001-2015 Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra những vấn đề trong cơ cấu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Đồng thời chỉ ra các cơ hội và thách thức của Việt Nam trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập năm 2015 Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp để Việt Nam có thể tận dụng tốt các cơ hội và hạn chế các thách thức mà AEC có thể mang lại cho Việt Nam

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương như sau: Chương 1: Cơ sở lý luận về quan hệ thương mại song phương

Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại song phương Việt Nam – ASEAN Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy thương mại hàng hóa Việt Nam – ASEAN trong bối cảnh AEC

Trang 15

10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Thương mại hàng hóa

Có nhiều định nghĩa về thương mại và thương mại hàng hóa được đưa

ra dựa vào cách tiếp cận

Bách khoa toàn thư mở định nghĩa về “thương mại”: “Thương mại là

hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ,… giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó bằng tiền hoặc bằng hàng hóa, dịch vụ khác như một hình thức hàng đổi hàng”1

UNCTAD (2010), sử dụng thuật ngữ “thương mại” để phản ảnh vai trò

chủ đạo của hoạt động mua và bán trong việc tạo ra các dòng lưu chuyển hàng hóa xuyên quốc gia

Định nghĩa của OECD về “thương mại hàng hóa” (Merchandise

Trade): “Thương mại hàng hóa là hoạt động nhằm tăng hoặc giảm nguồn lực

vật chất của một quốc gia bằng cách nhập hoặc xuất nó ra khỏi lãnh thổ kinh

tế của một quốc gia Hàng hóa chỉ được vận chuyển qua một nước (hàng hóa quá cảnh) hoặc hàng tạm nhập, tái xuất (không qua chế biến) không làm tăng hoặc giảm nguồn lực vật chất của một quốc gia không được tính vào thống kê thương mại hàng hóa quốc tế”2

Định nghĩa của Bách khoa toàn thư mở đã khái quát được bản chất của hoạt động thương mại Trong khi định nghĩa về thương mại và thương mại hàng hóa của UNCTAD và OECD nhấn mạnh vào hoạt động thương mại quốc

tế Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả sẽ sử dụng khái niệm

“thương mại” theo định nghĩa của UNCTAD (2010) và khái niệm “thương mại hàng hóa” theo định nghĩa của OECD

1 Nguyễn Minh Hương (2012)

2 https://stats.oecd.org/glossary/detail.asp?ID=6174

Trang 16

11

1.1.2 Thương mại liên ngành và thương mại nội ngành

Thương mại liên ngành là thương mại của các sản phẩm thuộc các

ngành khác nhau Thương mại của các sản phẩm nông nghiệp được sản xuất ở một quốc gia với các sản phẩm công nghệ được sản xuất ở một nước khác là một ví dụ điển hình về thương mại liên ngành Các quốc gia tham gia vào thương mại liên ngành theo lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó

Ngược lại, thương mại nội ngành là thương mại giữa các sản phẩm

thuộc cùng một ngành Lấy gạo làm ví dụ, Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới nhưng người tiêu dùng Việt Nam vẫn sử dụng gạo được nhập khẩu từ Thái lan Thương mại nội ngành đã trở thành một nhân

tố quan trọng của tăng trưởng thương mại trong những thập kỷ gần đây Xu hướng này được hình thành chủ yếu nhờ sự phân mảng sản xuất (thuê ngoài

hoặc tự sản xuất) và là kết quả của toàn cầu hóa và đổi mới công nghệ.[???]

Handjiski và cộng sự (2010)

Dựa trên đặc điểm và tính chất của trao đổi hàng hóa mà thương mại

nội ngành được phân thành thương mại nội ngành dọc và thương mại nội

ngành ngang

Thương mại nội ngành ngang là thương mại giữa các sản phẩm giống

nhau về chức năng, mục đích sử dụng nhưng khác nhau về giá cả, chất lượng

và mẫu mã Ví dụ, Nhật Bản xuất khẩu ô tô Toyota sang Đức và nhập khẩu ô

tô BMW của Đức

Thương mại nội ngành dọc là thương mại giữa các sản phẩm trong cùng

một ngành nhưng khác nhau về chức năng Ví dụ, Việt Nam nhập khẩu các linh kiện điện thoại từ Hàn Quốc để lắp ráp thành các điện thoại thông minh

và sau đó xuất khẩu các sản phẩm hoàn thiện này sang các thị trường khác

1.1.3 Cơ cấu thương mại hàng hóa

Tùy vào mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận, hàng hóa xuất nhập khẩu có thể được phân loại theo nhiều các khác nhau

Trang 17

12

Để thuận tiện cho thống kê Hải quan và tính thuế quan giữa các quốc gia, Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) đã cho ra đời Hệ thống mã và mô tả hàng hóa điều hòa (Harmonised Commodity Description and Coding System) – gọi tắt là Hệ thống Hài hòa (HS) HS phân loại hàng hóa dựa trên bản chất của chúng Với HS, hàng hóa được phân loại thành phần, chương, nhóm và phân nhóm với mức chi tiết tới 6 chữ số

Hệ thống HS thường xuyên được cập nhật và sửa đổi cho phù hợp với

sự phát triển công nghệ, thay đổi trong giao dịch thương mại và nhu cầu sử dụng Phiên bản đầu tiên của hệ thống HS được WCO ban hành năm 1988, được sửa đổi lần đầu vào năm 1992 và tiếp tục được bổ sung chỉnh sửa vào năm 1996 Phiên bản HS-1996 là phiên bản cũ nhất vẫn còn hiệu lực trên thực

tế Trong bản HS-1996, hàng hóa xuất nhập khẩu được chia thành 21 phần, 97 chương (2 chữ số), 1241 nhóm (4 chữ số) và 5113 phân nhóm (6 chữ số) Sau

đó, HS tiếp tục được cập nhật với các phiên bản HS 2002, HS 2007 và phiên bản mới nhất hiện nay là HS-2012 được WCO ban hành vào thành 1 năm

2012 Trong phiên bản HS-2012, hàng hóa được phân thành 21 phần, 98 chương, 1231 nhóm hàng và 5212 phân nhóm

Hệ thống HS có một hạn chế là không thể so sánh giữa các nước Do

đó, để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu và so sánh hoạt động thương mại giữa các nước, Liên hiệp Quốc đã cho ra đời Hệ thống phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu (SITC) Bản SITC đầu tiên ra đời năm 1950, và liên tục được cập nhật vào những năm 1969, 1975, 1988, 1996, 2002 và 2007 Phiên bản SITC 2007 là phiên bản mới nhất hiện nay Và để thuận tiện, Hội đồng Kinh tế và

Xã hội của Liên hiệp quốc cũng đưa ra các bản chuyển đổi giữa SITC và HS

Ngoài hai hệ thống phân loại phổ biến trên, Ủy ban Thống kê Liên hiệp quốc còn đưa ra hệ thống phân loại hàng hóa theo mục đích sử dụng còn gọi là Danh mục phân loại hàng hóa theo ngành kinh tế rộng (BEC) Đây là bảng danh mục phân loại hàng hóa nhập khẩu theo công dụng cuối cùng của chúng

Trang 18

13

thành các nhóm thương ứng với nhóm hàng hóa cơ bản trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), đó là tư liệu sản xuất, hàng hóa trung gian và hàng hóa tiêu dùng

Ngoài các phân loại hàng hóa chính thức như trên, tùy vào mục đích nghiên cứu các nhà kinh tế học còn phân loại hàng hóa theo mức độ thâm dụng nguồn lực (vốn, lao động, công nghệ); theo trình độ sản xuất (hàng hóa thô, sơ chế, hàng chế biến sử dụng nhiều tài nguyên, hàng chế biến công nghệ thấp, công nghệ trung bình và công nghệ cao)

Để phục vụ cho nghiên cứu, luận văn ngoài sử dụng tiêu chuẩn phân loại HS còn sử dụng các tiêu chí phân loại theo trình độ công nghệ và phân loại theo mục đích sử dụng

1.2 Lý thuyết thương mại quốc tế

1.2.1 Lý thuyết thương mại cố điển và tân cổ điển

a Chủ nghĩa Thương mại trọng thương

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, đã hình thành một dòng lý thuyết ủng hộ thương mại quốc tế mà chúng ta vẫn thường biết

đến là “chủ nghĩa thương mại trọng thương” Một trong những người ủng hộ

mạnh mẽ nhất của chủ nghĩa trọng thương là Thomas Mun Với vai trò là người lãnh đạo của công ty Đông Ấn hùng mạnh thời kỳ đó, Thomas Mun và những người cùng tư tưởng ra sức đưa ra các luận điểm ủng hộ ngoại thương

Họ cho rằng các quốc gia muốn trở nên giàu mạnh thì phải phát triển ngoại thương Ngoại thương sẽ thúc đẩy sản xuất trong nước thông qua việc tăng cường tiêu thụ các sản phẩm này ở nước ngoài, đồng thời có thể nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất giá rẻ ở nước ngoài phục vụ cho sản xuất trong nước

Và quốc gia sẽ trở nên giàu có nhờ lượng vàng thu được từ thặng dư thương mại Mặc dù đã chỉ ra được mặt tích cực của thương mại quốc tế nhưng các lập luận của trường phái trọng thương còn nhiều hạn chế, đặc biệt là chưa đưa

ra được lý do mà các quốc gia yếu hơn (thường chịu thâm hụt trong quan hệ thương mại với các quốc gia hùng mạnh) tham gia vào thương mại quốc tế

Trang 19

14

b Lý thuyết lợi thế tuyệt đối

Được đưa ra bởi A Smith (1776) trong tác phẩm “Của cải của các dân

tộc” A Smith nhận định rằng, mỗi quốc gia có các điều kiện (khí hậu, tài

nguyên thiên nhiên, văn hóa,…) khác nhau nên sẽ hình thành các lợi thế mà

các quốc gia khác không có được, được gọi là “lợi thế tuyệt đối” Sự khác biệt

trong lợi thế tuyệt đối giữa các quốc gia chính là nguồn gốc của thương mại quốc tế

Ví dụ, với hai nước Việt Nam và Nhật, với nền kinh tế được đơn giản hóa với hai mặt hàng là hàng may mặc và ô tô Việt Nam với lợi thế giá nhân công rẻ và nguồn lao động phổ thông dồi dào được xem là có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất hàng may mặc còn Nhật Bản với lợi thế về khoa học kỹ thuật và nguồn tư bản dồi dao được xem là có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất

ô tô Do đó, Việt Nam sẽ tập trung sản xuất hàng may mặc và mang chúng ra trao đổi lấy ô tô do Nhật chế tạo Ở chiều ngược lại, Nhật Bản sẽ sản xuất ô tô

để tận dụng lợi thế tuyệt đối của mình và sẽ đem đổi lấy hàng may mặc từ Việt Nam để phục vụ nhu cầu trong nước

Lý thuyết của A Smith đã giải thích được nguyên nhân của thương mại quốc tế và sự hình thành cơ cấu xuất khẩu của các quốc gia Tuy nhiên, lý thuyết này chưa giải thích được tại sao có những quốc gia không có bất kỳ lợi thế tuyệt đối nào (ví dụ như Singapore thời kỳ đầu lập quốc) lại tham gia và được lợi từ thương mại quốc tế

c Lý thuyết lợi thế tương đối

Quy luật “lợi thế so sánh” được D Ricardo sử dụng lần đầu tiên năm

1817 trong nghiên cứu kinh điển “Nguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế

khóa” Quy luật lợi thế so sánh phát biểu rằng: “mỗi quốc gia nên chuyên

môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh

Trang 20

15

D Ricardo nhấn mạnh rằng: Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với nước khác trong việc sản xuất mọi sản sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm nào đó Bằng việc sản xuất các sản phẩm mà nước mình có lợi thế so sánh và xuất khẩu một phần để nhập khẩu các sản phẩm cần thiết mà nước mình không có lợi thế so sánh, mọi quốc gia tham gia thương mại quốc tế đều đạt được những lợi ích nhất định

Lý thuyết về lợi thế so sánh của D Ricardo có thể được làm sáng tỏ bằng ví dụ đơn giản sau:

Lúa mỳ: Kg/người/h (W) 6 1 Vải: mét/người/h (C) 4 2 Trong ví dụ này, thế giới được đơn giản hóa bằng hai quốc gia Mỹ và Anh, thị trường có hai loại hàng hóa là lúa mỳ và vải (may mặc) Một người

Mỹ trong 1h có thể sản xuất ra 6kg lúa mỳ hoặc 4m vải, một người Anh trong 1h chỉ có thể sản xuất ra 1kg lúa mỳ hoặc 2m vải Như vậy, cho dù sản xuất lúa mỳ hay vải thì người Anh đều kém hiệu quả hơn người Mỹ, điều này đồng nghĩa với việc người Anh không có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất vải hay trồng lúa mỳ Tuy nhiên, xét mức giá tương đối giữa lúa mỳ và vải ta thấy, để sản xuất 1m vải nước Mỹ phải bỏ chi phí cơ hội là 1,5kg lúa mỳ (6/4) trong khi với nước Anh là 0,5kg (1/2) Ngược lại, để sản xuất 1kg lúa mỳ nước Mỹ phải bỏ chi phí cơ hội là 2/3m vải trong khi nước Anh phải từ bỏ 2m (2/1) vải Như vậy, trong trường hợp này nước Anh nên chuyên môn hóa sản xuất vải và nước Mỹ nên chuyên môn hóa sản xuất lúa mỳ để đạt được hiệu quả sản xuất cao nhất

Trang 21

16

d Lý thuyết tương quan các nhân tố (Lý thuyết H-O)

Mặc dù, đã khắc phục được các khiếm khuyết của lý thuyết lợi thế tuyệt đối nhưng lý thuyết tương đối vẫn còn điểm hạn chế đó là chưa giải thích hiện tượng thương mại nội ngành Nguyên nhân chính là do, thuyết lợi thế tương đối được xây dựng dựa trên giả định công nghệ sản xuất một sản phẩm là như nhau Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ trong các cuộc cách mạng công nghiệp thì giả thiết trên trở nên lỗi thời Trên thực

tế, trình độ công nghệ sản xuất khác cho phép các quốc gia sản xuất cùng một sản phẩm với kết hợp các yếu tố sản xuất khác nhau, do đó các quốc gia có thể sản xuất cùng một sản phẩm, hoặc các sản phẩm trong cùng một ngành và có thể xuất khẩu các sản phẩm này sang thị trường của nhau Phát hiện ra thiếu sót trên trong thuyết tương đối của D Ricardo, hai nhà kinh tế học là Eli Heckscher và Ohlin đã đưa ra lý thuyết mới giải thích nguồn gốc của thương mại quốc tế thông qua hàm lượng các yếu tố sản xuất và mức độ dồi dào các yếu tố sản xuất của một nước

Lý thuyết H-O phát biểu rằng, mỗi quốc gia có một nguồn cung dồi dào

về một yếu tố sản xuất nào đó (vốn, tài nguyên, lao động, công nghệ) so với các yếu tố khác Và các quốc gia có xu hướng sản xuất các hàng hóa sử dụng nhiều các yếu tố sẵn có của quốc gia mình và nhập khẩu các hàng hóa sử dụng nhiều các yếu tố mà nước mình khan hiếm Việc sản xuất hàng hóa sử dụng nhiều yếu tố sẵn có trong nước giúp chi phí sản xuất trở nên thấp tương đối so với việc sản xuất các hàng hóa sử dụng các yếu tố trong nước khan hiếm nên việc sản xuất và xuất khẩu các hàng hóa sử dụng nhiều yếu tố sẵn có và nhập khẩu các hàng hóa sử dụng các yếu tố khan hiếm giúp các quốc gia thu được lợi ích từ thương mại quốc tế

1.2.2 Lý thuyết thương mại hiện đại

Nhờ sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ mà trình độ sản xuất cũng phát triển nhanh chóng, kéo theo sự phát triển trong quan hệ thương

Trang 22

17

mại hàng hóa Thực tế phức tạp của thương mại quốc tế hiện đại làm nảy sinh rất nhiều “lỗ hổng” trong các lý thuyết thương mại “cũ” và cũng là tiền đề cho

sự ra đời của các lý thuyết thương mại mới

a Lý thuyết về khoảng cách công nghệ và lý thuyết về chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế

Lý thuyết thương mại cổ điển chủ yếu tập trung giải thích nguyên nhân của thương mại quốc tế thông qua vai trò của các nhân tố (vốn và lao động) nhưng lại bỏ qua yếu tố công nghệ khi không đề cập hoặc đưa ra giả định công nghệ là như nhau giữa các quốc gia Tuy nhiên, trên thực tế công nghệ là nhân tố đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thương mại hiện đại

Lý thuyết về khoảng cách công nghệ là một trong những lý thuyết

thương mại mới đầu tiên nhấn mạnh tới vai trò của công nghệ trong thương mại quốc tế

Lý thuyết này cho rằng, xét trên khía cạnh công nghệ giữa hai quốc gia

sẽ xảy ra hai trường hợp: (i) hai quốc gia có trình độ công nghệ tương đương

và (ii) giữa hai quốc gia có một khoảng cách nhất định về trình độ công nghệ

Và trong bất kỳ trường hợp nào trong hai trường hợp trên thương mại đều có thể xảy ra

Trường hợp thứ nhất, hai quốc gia A và B có trình độ công nghệ tương đương Do các phát mình thường có tính ngẫu nhiên nên quốc gia A có thể mạnh về một lĩnh vực này còn quốc gia B lại phát triển trong một lĩnh vực khác nên hai nước A và B sẽ tiến hành thương mại để trao đổi các hàng hóa có tính ưu việt về công nghệ

Trường hợp thứ hai, quốc gia A có sự vượt trội về công nghệ so với quốc gia B Quốc gia B với lợi thế về trình độ công nghệ sẽ tập trung nghiên cứu các công nghệ mới để cải tiến quá trình sản xuất (nâng cao hiệu quả sản xuất các sản phẩm cũ) hoặc các công nghệ sản xuất ra các sản phẩm mới, sau

đó sẽ xuất khẩu các công nghệ hoặc sản phẩm mới đó sang quốc gia B (vì

Trang 23

18

quốc gia B có nhu cầu về sản phẩm mới và công nghệ mới để nâng cao trình

độ sản xuất) Ở chiều ngược lại, quốc gia B mặc dù không có lợi thế về công nghệ nhưng lại có lợi thế tương đối trong việc sản xuất các sản phẩm đã chuẩn hóa (quy trình sản xuất) do lợi thế về chi phí sản xuất Nước A sẽ nhập khẩu các sản phẩm do nước B sản xuất vì như vậy sẽ hiệu quả hơn sản xuất trong nước

Lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế được đưa ra bởi Ramond

Vernon (1966) là sự phát triển mở rộng cho lý thuyết khoảng cách công nghệ

Lý thuyết này tập trung nghiên cứu quá trình phát triển của một sản phẩm mới

từ giai đoạn xâm nhập, tăng trưởng, chín muồi đến lúc suy tàn Theo đó, khi một sản phẩm mới được đưa ra thị trường (ở giai đoạn xâm nhập và tăng trưởng), quá trình sản xuất ra nó đòi hỏi lực lượng công nhân có trình độ tay nghề cao Khi sản phẩm bước sang giai đoạn chín muồi, đã được tiêu chuẩn hóa và được sự chấp nhận rộng rãi của thị trường thì sản phẩm có thể được sản xuất bằng nhiều phương pháp và có thể sử dụng lao động ở trình độ sản xuất thấp hơn Trong quá trình này, lợi thế tương đối sẽ chuyển từ nước phát triển (nơi đưa ra sản phẩm/công nghệ ra thị trường) sang các nước kém phát triển hơn (thường là nơi có chi phí nhân công thấp hơn) Theo Vernon, chi phí

cơ hội để tạo ra sản phẩm là rất lớn, việc phát triển sản phẩm đòi hỏi có thị trường có thu nhập cao để hỗ trợ lại nhằm phát triển thị trường mới và khả năng cung cấp dịch vụ cho các sản phẩm ở các nước phát triển tốt và đồng bộ hơn chính là những lý do của việc các sản phẩm quốc tế thường được tạo ra ở các nước phát triển và được chuyển giao sang các nước kém phát triển hơn khi

đã đạt tới trạng thái chín muồi

Lý thuyết lợi thế so sánh động

Lý thuyết thương mại “mới” của Paul Krugman cho rằng, một số quốc gia chuyên môn hóa trong việc sản xuất và xuất khẩu một số sản phẩm, do đó trong một số ngành công nghiệp, thị trường thế giới chỉ đủ để nuôi sống và

Trang 24

có cường độ thương mại nội ngành cao

1.3 Thương mại song phương và các nhân tố tác động

Để nâng cao cường độ thương mại song phương thì xác định các nhân

tố tác động và mức độ tác động của các nhân tố đó tới quan hệ thương mại giữa hai nước là tối quan trọng Việc xác định được các nhân tố tác động, chiều tác động (tích cực hay tiêu cực) và cường độ tác động (lớn hay nhỏ) sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có các can thiệt về thể chế phù hợp để có thể cải thiện tình trạng quan hệ thương mại song phương giữa các bên Do các vấn đề kinh tế và chính trị có mối quan hệ mật thiết với nhau nên ngoài các lý

do kinh tế thuần túy còn có các lý do chính trị ảnh hưởng tới quan hệ thương mại giữa hai nước Ví dụ, các nước có quan hệ thù địch, hoặc đang trong tình trạng chiến tranh thì sẽ ít có quan hệ thương mại với nhau và ngược lại các nước có quan hệ đồng minh thì thường có cường độ thương mại lớn hơn bình thường do các bên thường dành cho nhau những ưu đãi tốt hơn đối với bên thứ ba Tuy nhiên, phạm vi của luận văn chỉ tập trung vào các nguyên nhân kinh tế xã hội

1.3.1 Nhóm các nhân tố “hấp dẫn” (Gravity factors)

Vận dụng nguyên lý của định luật Vạn vật hấp dẫn, lực hút giữa các vật

có khối lượng tỷ lệ thuận với khối lượng và tỷ lệ nghịch với khoảng cách giữa

Trang 25

20

chúng, một số nhà kinh tế cho rằng: nguyên nhân xảy ra trao đổi thương mại giữa các quốc gia vì các quốc gia này có “sức hút” với nhau và sức hút này cũng tuân theo định luật vật lý của Newton Theo đó, Cường độ thương mại giữa hai quốc gia bị ảnh hưởng bởi các nhân tố sau:

- Khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia Khoảng cách giữa hai nước mà

lớn đồng nghĩa với chi phí giao dịch hàng hóa cao, lợi ích từ thương mại giảm dẫn tới quan hệ thương mại giảm theo

- Đường biên giới chung Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng ảnh hưởng

của khoảng cách địa lý lên thương mại giữa hai quốc gia không phải là quan

hệ tuyến tính Có chung đường biên giới sẽ có tác động làm tăng cường độ thương mại giữa hai nước hơn so với các quốc gia có cùng khoảng cách

- Khoảng cách về văn hóa Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, nếu giữa

các quốc gia có sở hữu chung nhưng đặc điểm về văn hóa (ví dụ như sử dụng

chung ngôn ngữ) thì mức độ giao thương sẽ lớn hơn mức bình thường

- Quan hệ thuộc địa – thực dân Việc các quốc gia thức dân khai thác

các tài nguyên, sản vật ở các thuộc địa trong quá khứ đã tạo nên các nhận thức

và sở thích tiêu dùng các sản phẩm đó ở chính quốc Bên cạnh đó, việc các nước thực dân mang văn hóa (ẩm thực, cách sống,…) của mình sang các nước thuộc địa dần dần sẽ tạo nên một sự đồng hóa, lai tạp giữa hai nền văn hóa

Do đó, thương mại giữa nước thực dân và thuộc địa có phần “khăng khít” hơn

so với thông thường

- Quy mô kinh tế Cường độ thương mại chịu tác động từ quy mô kinh

tế của hai bên Điều này rất dễ hiểu, với hai nền kinh tế càng phát triển, có quy

mô càng lớn, các hoạt động sản xuất, kinh doanh càng phong phú thì xác suất xảy ra giao thương giữa hai bên càng lớn

1.3.2 Các nhân tố nguồn lực

Nguồn lực các nhân tố (vốn, lao động, đất đai) từ lâu đã được xem là yếu tố ảnh hưởng lớn tới quan hệ thương mại song phương với nền tảng là lý

Trang 26

21

thuyết về tương quan các nhân tố của Heckchers – Ohlin (lý thuyết H-O) Theo lý thuyết này, các quốc gia sẽ có xu hướng xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều nguồn lực mà trong nước dồi dào đồng thời nhập khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều nhân tố mà trong nước khan hiếm Như vậy, các quốc gia

có sự khác nhau càng lớn về nguồn lực các nhân tố thì tiềm năng thương mại càng lớn

1.3.3 Trình độ phát triển kinh tế

Mức độ tương quan trong trình độ phát triển có ảnh hưởng lớn tới quan

hệ thương mại giữa hai quốc gia Tuy nhiên, không có một chiều tác động cố định trong mối quan hệ giữa trình độ phát triển kinh tế và quan hệ thương mại giữa hai nước Lý thuyết thương mại tân cổ điển lập luận rằng, quan hệ thương mại xảy ra “tự nhiên” giữa một nước phát triển với một nước “kém phát triển” theo chiều hướng, các nước phát triển nhập khẩu tài nguyên, nhiên liệu từ đối tác để làm đầu vào cho sản xuất trong nước và ngược lại các quốc gia kém phát triển sẽ nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất từ các nước phát triển để nâng cao trình độ sản xuất trong nước Tuy nhiên, lý thuyết thương mại “mới” của Helpman và Krugman đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy quan hệ thương mại giữa các nước có trình độ phát triển kinh tế tương đồng cũng không kém phần sôi động

1.3.4 Mức độ tương đồng trong cấu trúc ngành

Cấu trúc ngành sản xuất là nguồn gốc của cấu trúc hàng hóa xuất khẩu

do đó cấu trúc ngành có mức độ tương đồng cao hàm ý rằng cấu trúc sản phẩm cũng tương đồng Điều này dẫn tới mức độ cạnh tranh xuất khẩu cao hơn mức độ bổ trợ thương mại do đó hoạt động thương mại giữa hai bên sẽ xảy ra ít hơn

1.3.5 Các rào cản đối với dòng hàng hóa và nguồn vốn

Các rào cản đối với sự lưu thông của dòng hàng hóa trong thương mại quốc tế được chia làm hai nhóm: hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế

Trang 27

22

quan Các quốc gia thường xây dựng hàng rào thuế quan theo xu hướng bảo

vệ các ngành sản xuất trong nước, đặc biệt là các nhóm hàng nhạy cảm và đặc biệt nhạy cảm có liên quan tới vấn đề an ninh quốc gia, các ngành non trẻ mà quốc gia đó muốn xây dựng Tuy nhiên, ngày nay với sự bùng nổ của các FTA đặc biệt là sự ra đời của WTO việc sử dụng thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước đang bị hạn chế tối đa, do đó các quốc gia có xu hướng sử dụng biện pháp phi thuế quan để đạt được mục đích của mình Biện pháp phi thuế thường được sử dụng trong giai đoạn trước là các biện pháp hạn chế định lượng như quota; hạn chế xuất khẩu tự nguyện,… Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của thương mại quốc tế các rào cản phi thuế ngày càng tinh

vi Ngày nay, các biện pháp phi thuế thường hướng tới các tiêu chuẩn an toàn với người sử dụng và môi trường Các biện pháp này vừa có thể bảo vệ các ngành sản xuất vừa bảo vệ người tiêu dùng trong nước

Các rào cản đối với dòng lưu chuyển vốn cũng là một trong những tác nhân cản trở sự lưu thông của dòng hàng hóa Chính sách kiểm soát dòng vốn vào-ra nền kinh tế khiến việc thanh toán giao dịch trở nên khó khăn (làm tăng chi phí giao dịch), trong khi chính sách tỷ giá cố định (nhằm hỗ trợ xuất khẩu)

là rào cản đối với hàng nhập khẩu

1.4 Lý thuyết về Hiệp định thương mại tự do

1.4.1 Khái niệm

Xu hướng hình thành các Hiệp định thương mại tự do khu vực và song phương trong nền kinh tế thế giới xuất hiện từ những năm 80 của thế kỷ trước, phát triển nhanh chóng khi Tổ chức Thương mại Thế giới được thành lập (1995) và “bùng nổ” trong giai đoạn hiện nay do vòng đàm phán của WTO lâm vào bế tắc trong thời gian dài và các quốc gia cần tìm giải pháp thúc đẩy tăng trưởng thương mại để vực dậy nền kinh tế sau cơn bão khủng hoảng kinh

tế tài chính toàn cầu 2008-2009

Trang 28

23

Tuy nhiên, các nghiên cứu về các Hiệp định thương mại tự do đã xuất hiện trước đó rất lâu từ những năm 50, 60 của thế kỷ 20 với người khởi xướng

là Jacob Viner trong tác phẩm “Các vấn đề của Liên minh thuế quan” năm

1950 Trong tác phẩm này Viner đã đưa ra các hình thức và cấp độ hội nhập kinh tế khu vực, những khái niệm này tiếp tục được phát triển bởi J.E Meade (1955) [9] và được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về hội nhập kinh tế

sau khi Béla Balassa (1961) [10] xuất bản công trình “Lý thuyết về hội nhập

kinh tế” Theo đó, hội nhập kinh tế khu vực được phân chia theo năm hình

thức dựa trên mức độ “nông-sâu” của các cam kết tự do hóa thương mại và

liên kết kinh tế, bao gồm: (i) Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA) Với loại liên kết này các nước tham gia đàm phán để đạt được thỏa thuận hạ thấp một

phần hàng rào thương mại hàng hóa cho nhau và vẫn duy trì hàng rào đó với

các nước không tham gia thỏa thuận; (ii) Khu vực Thương mại tự do (FTA)

Thành viên của một FTA xóa bỏ hầu hết hàng rào thương mại (hàng rào thuế quan và Philippines thuế quan) cho các thành viên còn lại, nhưng vẫn duy trì

chính sách thương mại của mình đối với các nước ngoài FTA; (iii) Liên minh

thuế quan (CU) Các nước tham gia liên minh thuế quan sẽ cũng nhau xây

dựng một chính sách thuế quan (ưu đãi) cho các thành viên, đồng thời các thành viên này cũng có chung chính sách thuế quan với các quốc gia ngoài

liên minh (iv) Thị trường chung (CM) Thị trường chung là một Liên minh

thuế quan mở rộng khi cho phép sự dịch chuyển tự do của các nhân tố sản

xuất (vốn, lao động) (v) Liên minh Kinh tế (EU) Các nước tham gia hình

thành một thị trường chung đồng thời xây dựng chính sách kinh tế chung cho liên minh bằng cách hài hòa hóa các chính sách tài chính và tiền tệ của các thành viên

Hiệp định thương mại tự do ban đầu được WTO sử dụng dưới cái tên là

Hiệp định Thương mại Khu vực (RTA), được dùng để chỉ các thỏa thuận tự

do hóa thương mại giữa các thành viên của GATT/WTO trên nguyên tắc có đi

Trang 29

24

có lại Khái niệm RTA của GATT/WTO dùng để chỉ hai hình thức hội nhập kinh

tế và Khu vực thương mại tự do (FTA) và Liên minh Thuế quan (CU) [6]

Với khái niệm trên, “bản chất của FTA là một hiệp định có đi có lại

trong đó các hàng rào thương mại giữa các thành viên được xóa bỏ Song mỗi thành viên của hiệp định có quyền duy trì các hàng rào thương mại riêng đối với các nước không phải là thành viên hiệp định”[5]

Ngoài khái niệm của WTO, có nhiều học giả cũng đưa ra khái niệm Hiệp định/Khu vực mậu dịch tự do trong đó nổi bật có khái niệm của nhà kinh

tế học Nhật Bản Shibata Shibata (1967) dựa trên cách tiếp cận xuất xứ của

hàng hóa đã đưa ra khái niệm: “Một Khu vực thương mại tự do là một nhóm

nước với nhau, trong đó mỗi nước đồng ý miễn thuế quan và hạn chế định lượng thường được áp dụng với các sản phẩm nhập khẩu hay bộ phận cấu thành của các sản phẩm này, có xuất xứ hoặc được sản xuất tại vùng lãnh thổ của các thành viên khác trong nhóm nước hình thành nên FTA đó”

Các khái niệm trên về Hiệp định thương mại tự do có điểm chung là chỉ

đề cập tới vấn đề thương mại với trọng tâm chính là loại bỏ các hàng rào thuế quan ở đường biên giới để thúc đẩy giao thương Vấn đề loại bỏ các rào cản thương mại được các quốc gia Châu Âu đề cập lần đầu tiên sau Thế chiến II Sau chiến tranh, các quốc gia Châu Âu lâm vào tình trạng kiệt quệ về kinh tế bởi sự tàn phá của chiến tranh, do đó mục tiêu hàng đầu là cải thiện nền sản xuất trong nước, thúc đẩy ngoại thương để nhanh chóng khôi phục nền kinh

tế Tuy nhiên, thái độ thận trọng của các quốc gia sau chiến tranh khiến các rào cản được dựng lên khắp nơi nhằm bảo vệ lãnh thổ, điều này khiến việc giao thương trở nên khó khăn, hàng hóa khó lưu thông nên hoạt động xuất nhập khẩu bị đình trệ Do vậy, nên mối quan tâm chính của các quốc gia Châu

Âu và các nhà kinh tế học thời bấy giờ là xây dựng các hình thức hợp tác để loại bỏ các hàng rào (chủ yếu là hàng rào thuế quan và hạn ngạch) để tạo các điều kiện tốt hơn cho hoạt động thương mại

Trang 30

25

Tuy nhiên, với sự bùng nổ của các hiệp định thương mại tự do trong những thập kỷ gần đây các hàng rào thuế quan đã không còn là một rào cản đáng kể đối với thương mại quốc tế Hàng rào thuế bị cắt giảm đáng kể ban đầu mang tới những lợi ích rất lớn cho các quốc gia tham gia các hiệp định thương mại tự do Tuy nhiên, về dài hạn những lợi ích mà nó mang lại là

không cao và thiếu ổn định do hai nguyên nhân: Thứ nhất, việc các quốc gia

ký kết quá nhiều các FTA với quá nhiều nước vô hình chung khiến việc cắt giảm thuế quan mất đi giá trị do có quá nhiều đối thủ cạnh tranh được hưởng

mức thuế ưu đãi Thứ hai, mặc dù hàng rào thuế được cắt giảm nhưng các vấn

đề đằng sau đường biên giới như vấn đề bảo hộ, vấn đề bản quyền, vấn đề doanh nghiệp nhà nước,… vẫn là những rào cản lớn cho thương mại Do vậy, các FTA ngày càng có xu hướng đi xa hơn vấn đề thuế quan và các vấn đề trên đường biên giới để giải quyết các vấn đề trong đường biên giới Các FTA hiện nay bên cạnh các vấn đề về cắt giảm hàng rào thuế quan và các hàng rào phi thuế quan còn bao gồm một loạt vấn đề mới như thuận lợi hóa thương mại, hoạt động đầu tư, mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế giải quyết tranh chấp, quy chuẩn về lao động, môi trường,… Các hiệp định FTA này thường được biết đến với cái tên

”Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” Với khái niệm này, các hiệp định

thương mại tự do thực sự là một hình thức hội nhập “sâu” chứ không “nông” như theo cách hiểu của WTO trước đây hay trong các định nghĩa của các nhà kinh tế học trước đây

Theo cách định nghĩa như trên thì Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA), là một hiệp định thương mại tự do thế hệ cũ do hiệp định này chủ yếu hướng tới việc cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các thành viên ASEAN để tăng cường thương mại nội khối Tuy nhiên, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vừa chính thức được thành lập năm 2015 với sự tham gia của 10 quốc gia ASEAN lại là một hiệp định thương mại tự do thế hệ

Trang 31

26

mới do cộng đồng có các điều khoản can thiệt vào các vấn đề bên trong đường biên giới, tư liệu sản xuất và thể nhân được phép tự do dịch chuyển giữa các nước thành viên

1.4.2 Phân loại hiệp định thương mại tự do

Dựa trên các cách tiếp cận khác nhau, hiệp định thương mại tự do có nhiều cách phân loại khác nhau

Cách phân loại đầu tiên dựa trên phạm vi điều chỉnh của các hiệp định Theo cách phân loại này, hiệp định thương mại tự do được chia làm hai loại là: (i) Hiệp định thương mại truyền thống và (ii) Hiệp định thương mại “thế hệ mới”

Hiệp định thương mại tự do truyền thống được sử dụng để nói về các

hiệp định thương mại trong giai đoạn trước những năm 90 của thế kỷ hai mươi Các hiệp định này có phạm vi điều chỉnh chủ yếu tập trung vào các vấn

đề trên đường biên giới như vấn đề cắt giảm và loại bỏ hàng rào thuế quan, các hàng rào phi thuế, các hạn chế định lượng xuất nhập khẩu

Hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới” là dạng cấp tiến của các hiệp

định thương mại với phạm vi điều tác động lớn hơn, không chỉ tác động tới các vấn đề thương mại truyền thống mà còn bao gồm các vấn đề sau đường biên giới như thuận lợi hóa thương mại, hoạt động đầu tư, mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế giải quyết tranh chấp, quy chuẩn về lao động, môi trường,… Các hiệp định này xuất hiện vào những năm 90 của thế kỷ trước và đang rất phổ biến hiện nay TPP, AEC, là những FTA thế hệ mới

Cách phân loại thứ hai dựa trên trình độ phát triển của các thành viên tham gia hiệp định Theo đó, các FTA được phân thành hai loại: (i) FTA kiểu Bắc – Nam Được sử dụng để nói về các hiệp định thương mại tự do giữa các thành viên thuộc nhóm quốc gia phát triển với các quốc gia đang phát triển

Trang 32

27

(ii) FTA kiểu Nam – Nam Là hiệp định thương mại tự do giữa các quốc gia đang phát triển với nhau

Các FTA Bắc – Nam là loại hình nguyên bản của các hiệp định thương

mại tự do Với hình thức hội nhập này luồng thương mại diễn ra theo chiều hướng sau các quốc gia phát triển nhập nguyên vật liệu, sản phẩm thô và tài nguyên từ các đối tác là các nước đang phát triển để làm đầu vào cho nền sản xuất hiện đại của mình, ở chiều ngược lại, các nước đang phát triển (chủ yếu

là các quốc gia giàu tài nguyên, lao động nhưng nghèo về vốn) sử dụng nguồn ngoại tệ có được từ hoạt động xuất khẩu để mua máy móc thiết bị tân tiến của các quốc gia phát triển để đổi mới công nghệ sản xuất lạc hầu trong nước cũng như tích lũy tư bản phục vụ cho tăng trưởng kinh tế Với hình thức hợp tác này, phúc lợi của các thành viên được nâng cao nhờ phát huy hiệu quả lợi thế

so sánh quốc gia, tổ chức sản xuất và sử dụng các nguồn lực hiệu quả hơn

Các FTA Nam – Nam là hiệp định giữa các nước đang phát triển với

nhau Nguyên nhân khởi phát của loại hình hợp tác này là do một số quốc gia đang phát triển có nền sản xuất phát triển, công suất trở nên dư thừa, nên muốn thúc đẩy quan hệ thương mại với các nước đang phát triển khác với mục đích đa dạng hóa thị trường đầu ra để giảm thiểu sự phụ thuộc vào các quốc gia nhập khẩu giàu có nhưng khó tính, bên cạnh đó các quốc gia đang phát triển có vị thế thấp hơn, rất muốn gia tăng xuất khẩu nhưng khó tiếp cận tới các thị trường khó tính (thường là các quốc gia phát triển) do trình độ sản xuất thấp kém không đáp ứng được các yêu cầu của bên nhập khẩu nên tìm đến thị trường các quốc gia đang phát triển khác với các yêu cầu thấp hơn Một lý do khác thúc đẩy các FTA Nam – Nam là sự chuyển giao công nghệ Các quốc gia đang phát triển rất muốn nhập khẩu các máy móc, trang thiết bị công nghệ cao và các công nghệ nguồn từ các quốc gia phát triển, tuy nhiên điều này gặp phải rào cản lớn là hạn chế về tài chính do các công nghệ nguồn thường rất đắt đỏ Một khó khăn khác khiến việc nhập khẩu các công nghệ nguồn ít hiệu

Trang 33

28

quả với các quốc gia đang phát triển có nền sản xuất lạc hậu là chất lượng nguồn nhân lực, trong khi các nước này rất dồi dào nguồn lao động giá rẻ và thiếu hụt nguồn lao động chất lượng cao thì việc tiếp thu, vận hành, cải tiến và phát triển các công nghệ sản xuất tiên tiến lại đòi hỏi nguồn lào động chất lượng cao, được đào tạo bài bản Do đó, giải pháp thay thế được các quốc gia này ưa thích là nhập khẩu các công nghệ thấp (nhưng cao hơn công nghệ trong nước), công nghệ trung bình từ các nước đang phát triển có trình độ sản xuất cao hơn (đây cũng là một trong những lý do chính yếu của việc các doanh nghiệp Việt Nam rất hay nhập khẩu các hàng hóa tư liệu sản xuất từ Trung Quốc) Ở chiều ngược lại các nước đang phát triển có trình độ sản xuất cao hơn cũng muốn chuyển giao các công nghệ sẵn có cho các nước khác để

có chể chuyển đổi lên công nghệ cao hơn

Ngoài ra, trong một số nhỏ trường hợp các nước phát triển cũng tiến hành đàm phán để ký kết các hiệp định thương mại tự do Điển hình cho hiệp định loại này là Hiệp định thương mại tự do Mỹ - EU Nếu được ký kết thì đây sẽ là một “siêu FTA”

Theo cách phân loại này thì có thể xem AFTA là một FTA Nam – Nam

Do các thành viên của ASEAN chủ yếu là các quốc gia đang phát triển với trình độ phát triển khác nhau

1.4.3 Tác động của hiệp định thương mại tự do tới tăng trưởng kinh tế

Sự bùng nổ của các hiệp định thương mại tự do hàm ý rằng các quốc gia kỳ vọng việc tham gia quá trình này sẽ thúc đẩy thương mại và từ đó sẽ tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế Thực tế đã chứng minh rằng, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc ký kết các hiệp định thương mại khu vực và song phương là một trò chơi có “tổng dương” đối với các nước tham gia Và lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế cũng đã đưa ra những luận giải cho tác động của các hiệp định thương mại tự do lên tăng trưởng kinh tế, theo

Trang 34

là hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất, những thỏa thuận hội nhập khu vực

không nhất thiết mang lại những hiệu ứng phúc lợi tích cực, ngay cả với

những nước thành viên Quan điểm thứ hai, cho rằng trong môi trường thương

mại tự do toàn cầu, các nước sẽ tái phân bổ nhân tố sản xuất để có được cơ cấu thương mại, sản xuất và việc làm phù hợp với lợi thế so sánh của mình Quan điểm thứ nhất được đưa ra bởi những nhà kinh tế học lỗi lạc như: Viner, Meade, Lipsey,… trong khi quan điểm thứ hai được kế thừa và phát triển từ những tư tưởng của quan điểm thứ nhất bởi Johnson, Cooper, Massell,… Các quan điểm này được xây dựng trên cơ sở lý thuyết về lợi thế so sánh được đưa

ra bởi Heckscher-Ohlin

Hai quan điểm trên tập trung giải thích tác động của một FTA tới phúc lợi kinh tế thông qua những thay đổi trong dòng thương mại, giá cả, cơ cấu sản xuất và phân bổ tư liệu sản xuất Để mô hình hóa các tác động của FTA, Viner đã đưa ra những khái niệm hết sức kinh điển trong thương mại đó là các hiệu ứng “tạo lập thương mại” và hiệu ứng “chệch hướng thương mại” Hai hiệu ứng này là những khái niệm nền tảng khi phân tích “Hiệu ứng tĩnh” của một FTA

Hiệu ứng tạo lập thương mại, xuất hiện khi một thành viên FTA gia

tăng nhập khẩu một mặt hàng từ một thành viên khác trong FTA có mức giá cung ứng thấp hơn mức giá sản xuất trong nước (của nước nhập khẩu) và cũng thấp hơn mức giá của bên thứ ba ngoài FTA Hiệu ứng này có lợi cho người tiêu dùng của nước nhập khẩu do được sử dụng hàng hóa với mức chi phí thấp hơn so với trước khi có FTA Hiệu ứng này làm tăng thu nhập thực tế của người tiêu dùng, kích cầu và làm tăng nhu cầu đối với hàng nhập khẩu

Trang 35

30

Hiệu ứng chệch hướng thương mại, xảy ra khi một thành viên FTA

nhập khẩu hàng hóa từ một thành viên khác (thuộc FTA) có mức giá cung ứng thấp hơn mức giá sản xuất trong nước nhưng cao hơn bên thứ ba không thuộc FTA Điều này xảy ra do các thành viên FTA đưa ra các mức thuế đối với thành viên thấp hơn nhiều so với các đối tác không phải thành viên, do đó các thành viên FTA sẽ có mức giá rẻ hơn tương đối so với các đối thủ nằm ngoài FTA do được hưởng mức chênh lệch thuế Hiệu ứng này gây ra những tổn hại

về phúc lợi không chỉ đối với quốc gia nhập khẩu do chuyển sang nhập khẩu

từ một đối tác kém hiệu quả hơn mà còn gây ra những mất mát cho các nước xuất khẩu hiệu quả hơn nhưng nằm ngoài FTA

Theo Viner và Meade, một hiệp định thương mại tự do mang lại sự cải thiện về phúc lợi và hiệu quả kinh tế khi hiệu ứng “tạo lập thương mại” lấn át hiệu ứng “chệch hướng thương mại” và ngược lại khi “tạo lập thương mại” bé hơn “chệch hướng thương mại” thì hiệu quả và phúc lợi kinh tế của quốc gia nhập khẩu bị giảm đi Từ đó hai ông cho rằng một hiệp định thương mại tự do không nhất thiết tạo ra kết cục cải thiện phúc lợi

Điểm hạn chế của những phân tích về “hiệu ứng tĩnh” của Hiệp định thương mại tự do là nó chỉ phù hợp trong việc phân tích các hiệp định thương mại truyền thống với các cam kết chủ yếu về vấn đề thuế quan

1.4.5 Hiệu ứng động

Thực tiễn phát triển của các hiệp định thương mại tự do cho thấy rằng, các hiệp định thương mại gần đây hay còn được gọi là các hiệp định thương mại “thế hệ mới”, thuế quan không còn là vấn đề bao trùm lên các cam kết của hiệp định nữa thay vào đó là các vấn đề như tính kinh tế theo quy mô, thúc đẩy cạnh tranh, thúc đẩy đầu tư, chuyển giao công nghệ, các vấn đề về môi trường, mua sắm chính phủ,… Nhóm các hiệu ứng trên được gọi là các

“hiệu ứng động”

Trang 36

31

Trong một FTA rất lớn gần đây mà Việt Nam tham gia là Hiệp đinh Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), thì chỉ có 1/3 các điều khoản là liên quan tới các “hiệu ứng tĩnh” khi đề cập trực tiếp tới các vấn đề thương mại truyền thống (cắt giảm thuế quan, giảm thiểu hàng rào kỹ thuật), còn phần lớn các điều khoản tập trung vào các “hiệu ứng động” của FTA khi tập trung vào các vấn đề sau đường biên giới như vấn đề quyền sở hữu trí tuệ, vấn đề môi trường, tiêu chuẩn lao động, mua sắm công, cải thiện tính minh bạch,…

Lý luận nền tảng cho các phân tích về “hiệu ứng động” là quan điểm cho rằng: có những FTA có thể không tạo ra những hiệu ứng phúc lợi tích cực

như tạo lập thương mại thậm chí còn tạo nên những hiệu ứng phúc lợi tiêu cực như chệch hướng thương mại trong ngắn hạn song về mặt dài hạn các FTA này có thể tạo nên những hiệu ứng “động” tích cưc như thúc đẩy cạnh tranh, chuyên môn hóa trong các hoạt động kinh tế, hay đạt được hiệu quả theo quy mô nhờ tiếp cận thị trường rộng lớn hơn Từ đó tạo nên những chuyển dịch tích cực về cơ cấu kinh tế Và các tác động dài hạn này lớn hơn rất nhiều các tác động ngắn hạn do hiệu ứng tĩnh mang lại.[2]

Mặc dù, các hiệu ứng động đang ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc phân tích các FTA nhưng trong khuôn khổ phạm vi của luận văn là tập trung phân tích quan hệ thương mại Việt Nam-ASEAN trong giai đoạn 2001-2014 dưới tác động chủ yếu của Hiệp định Thương mại tự do ASEAN (AFTA) – một FTA truyền thống nên tác giả sẽ không đi sâu phân tích nhóm hiệu ứng động mà tập trung phân tích các hiệu ứng tĩnh của FTA này

Trang 37

32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG VIỆT NAM – ASEAN 2.1 Khung khổ pháp lý cho quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN

2.1.1 Tiến trình hội nhập ASEAN của Việt Nam

Năm 1992, đánh dấu quá trình hội nhập khu vực của Việt Nam khi tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), và trở thành Quan sát viên, tham dự các Hội nghị Bộ trưởng ASEAN (AMM) hàng năm Ngày 28/7/1995, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 28 (AMM-28) tại Bru-nây Đa-rút-xa-lam, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN

và trở thành thành viên thứ 7 của tổ chức này Kể từ đó đến nay, Việt Nam đã nhanh chóng hội nhập, tham gia sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN và có những đóng góp tích cực trong việc duy trì đoàn kết nội khối, tăng cường hợp tác giữa các nước thành viên cũng như giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài, góp phần không nhỏ vào sự phát triển và thành công của ASEAN ngày hôm nay

Với sự hội nhập ngày càng sâu, rộng của Việt Nam vào ASEAN mang lại sự phát triển nhanh chóng cho quan hệ kinh tế và thương mại giữa hai bên

Mà nền tảng cho những thành công đó đến từ những giải pháp kinh tế lớn của ASEAN với mục tiêu thúc đẩy và nâng cao hợp tác kinh tế giữa các thành viên

Hiệp định ưu đãi thương mại (PTA) được ký kết năm 1977 là giải pháp thúc đẩy thương mại nội khối với việc đưa ra những ưu đãi thuế quan trọng trong thương mại trên cơi sở tự nguyện và từng mặt hàng cụ thể cho các thành viên Tuy nhiên, hiệp định này không mang lại nhiều hiệu quả do các cam kết quả lỏng lẻo, và mức độ ưu đãi thuế quan còn quá thấp Tính tới năm 1986, khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu nội bộ của ASEAN không quá 5% tổng thương mại nội khối [8]

Trang 38

33

Năm 1980, ASEAN đưa ra sáng kiến về các dự án công nghiệp (ASEAN Industrial Projects - AIP) Tuy nhiên, cũng giống PTA sáng kiến này cũng không đạt được các kỳ vọng đưa ra ban đầu

Năm 1981, các Chương trình trình hỗ trợ công nghiệp (ASEAN Industrial Complementation – AIC) và hợp tác cùng nhãn hiệu thương mại (Brand to brand Complementation – BBC) được ASEAN đưa ra BBC đạt được một số kết quả nhất định nhờ sự quan tâm của các nhà sản xuất ô tô

Năm 1983, liên doanh công nghiệp ASEAN (ASEAN Industrial Joint Venture – AIJV) được khuyến khích Biên độ ưu đãi (Margin of Preference – MOP) cho các AIJV theo cam kết ở mức 90% Mức ưu đãi quá hấp dẫn đưa ra trong thời điểm đó đã thu hút được sự quan tâm của nhiều công ty đa quốc gia Tuy nhiên, các điều kiện kèm theo mức ưu đãi quá khó để đạt được khiến các dự án đầu tư thuộc chương trình trên rơi vào bế tắc

Năm 1987, ASEAN tỏ rõ quyết tâm trong việc thúc đẩy quan hệ thương mại nội khối với mục tiêu tới năm 1992 phải đạt được các điều sau:

 90% các hạng mục thuế quan của mỗi thành viên phải áp dụng PTA

 Các giao dịch đối với các nhóm hàng hóa áp dụng thuế suất ưu đãi phải chiếm ít nhất 50% tổng giá trị giao dịch thương mại nội khối

 Biên độ ưu đãi thuế tối thiểu phải đạt 25% thuế suất

Những thành quả đạt được từ sự quyết tâm trong các cam kết đưa ra năm năm trước là tiền đề để ASEAN ký Hiệp định thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) vào năm 1992 Đây được xem là bước ngoặt quan trọng nhất trong việc thúc đẩy hợp tác kinh tế - thương mại của ASEAN kể từ khi thành lập

Mục tiêu của AFTA là giảm dần thuế quan với hầu hết các mặt hàng trao đổi nội khối trong giai đoạn 1992-2002 để từ 1993 trở đi hàng hóa xuất nhập khẩu giữa các thành viên được hưởng thuế suất ưu đãi với mức thuế tối

đa 5% AFTA hoạt động dựa trên Hiệp định về cơ chế ưu đãi thuế quan có

Trang 39

34

hiệu lực chung (CEPT) CEPT là một công cụ để cắt giảm thuế theo lộ trình Hiệp định này chia sản phẩm thành các nhóm khác nhau dựa trên mức độ nhạy cảm của từng sản phẩm để cho Chính phủ dư địa về chính sách CEPT chia hàng hóa xuất nhập khẩu thành ba nhóm: (i) danh mục cắt giảm chung; (ii) danh mục loại trừ tạm thời; và (iii) danh mục nhạy cảm Từ năm 2010, tất

cả thuế quan áp dụng cho ASEAN-6 [11] được giảm xuống 0%, còn đối với các nước CLMV (Cam-pu-chia, Lào, My-an-ma và Việt Nam) mục tiêu này được đẩy lùi đến năm 2015 [12]

AFTA có những đặc điểm được cho là một cơ chế mở và ưu đãi Quy tắc xuất xứ của CEPT/AFTA quy định mức tối thiểu để một sản phẩm được xem là có nguồn gốc ASEAN chỉ là 40% tổng giá trị nguyên liệu có xuất xứ

từ ASEAN Hay như lô trình cắt giảm thuế linh hoạt dành cho các nước kém phát triển hơn trong khối (bao gồm Cam-pu-chia, Lào, Myanmar, và Việt Nam) Và AFTA loại bỏ các sản phẩm nông nghiệp (vốn là nhóm mặt hàng nhạy cảm đối với nhiều quốc gia) ra khỏi phạm vi điều chỉnh

Năm 2009, Hiệp định thương mại hàng hóa (ATIGA) được lãnh đạo các nước ký kết tại Hội nghị thượng đỉnh của ASEAN lần thứ 14 ATIGA kết hợp tất cả những sáng kiến của ASEAN liên quan đến thương mại hàng hóa thành một khung toàn diện Khung này gồm một số đặc điểm chính nhằm tăng cường tính minh bạch, tính chắc chắn và dễ dự báo của khuôn khổ pháp lý ASEAN (ví dụ như giải quyết tranh chấp), cải thiện hệ thống khu vực mậu dịch tự do ASEAN dựa trên luật Điều này là rất quan trọng đối với cộng đồng doanh nghiệp ASEAN Sau khi đã giảm mạnh mẽ tất cả các hàng rào thuế quan, ATIGA chuyển sang tất cả những cản trở khác đối với luồng hàng hóa,

ví dụ như các hàng rào phi thuế, thuận lợi hóa thương mại và các rào cản khác đối với việc hội nhập kinh tế sâu rộng hơn Để đạt được điều này, bên cạnh Chương tự do hóa thuế quan (Chương 2 với các quy tắc xuất xứ liên quan

Trang 40

35

trong Chương 3 và các phụ lục tương ứng), ATIGA có cả các chương về các biện pháp phi thuế (Chương 4), thuận lợi hóa thương mại (Chương 5), hải quan (Chương 7), tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật và các quy trình đánh giá sự phù hợp và các biện pháp phòng vệ thương mại (Chương 8) Không giống như CEPT, ATIGA bao gồm cả nông nghiệp và có rủi ro mang tính đóng hơn so với CEPT [7]

Theo lộ trình cắt giảm thuế quan trong ATIGA, các nước ASEAN-6 (gồm Singapore, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Brunei, Philippines) đã xóa

bỏ gần 100% dòng thuế từ năm 2010, trừ một số sản phẩm được miễn trừ vĩnh viễn vì lý do an ninh quốc gia, đạo đức và sức khỏe Từ năm 2015, Việt Nam

và các quốc gia còn lại phải tiến hành giảm 93% dòng thuế về 0%, chỉ giữ lại 7% số dòng thuế đến năm 2018, bao gồm các mặt hàng ôtô và linh kiện, sắt thép, linh kiện và phụ tùng xe máy, máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng, xe đạp và phụ tùng, rượu bia, sản phẩm chất dẻo, giấy các loại

Từ năm 2018, Việt Nam chỉ còn được duy trì thuế nhập khẩu với mức thuế suất tối đa là 5% đối với khoảng 3% số dòng thuế, bao gồm phần lớn là các mặt hàng nông nghiệp nhạy cảm (gia cầm sống, thịt già, trứng gia cầm, quả có múi, thóc, gạo lứt, thịt chế biến, đường)

Như vậy, theo nếu việc thực hiện các cam kết trên được tuân thủ thì năm 2018 hàng hóa sẽ lưu thông tự do trong nội khối ASEAN

Năm 2015, Cộng đồng Kinh tế ASEAN được chính thức thành lập Đây

là một bước tiến lớn trong tiến trình hình thành Cộng đồng ASEAN

Nói chung, với quyết tâm thực hiện mục tiêu xây dựng ASEAN thành một thị trường và cơ sở sản xuất đơn nhất, mức độ điều chỉnh của các hiệp định của ASEAN ngày càng trở nên chặt chẽ hơn với phạm vi điều chỉnh cũng ngày càng lớn Điều này tạo ra những tiền đề rất lớn cho việc thúc đẩy quan

hệ thương mại nội khối

Ngày đăng: 13/10/2016, 14:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Quan hệ thương mại Việt Nam - ASEAN - Quan hệ thương mại việt nam   ASEAN, những vấn đề đặt ra trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN
Bảng 1 Quan hệ thương mại Việt Nam - ASEAN (Trang 48)
Hình 2: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN (%) - Quan hệ thương mại việt nam   ASEAN, những vấn đề đặt ra trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN
Hình 2 Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN (%) (Trang 50)
Hình 1: Tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam với các đối tác thương mại chính - Quan hệ thương mại việt nam   ASEAN, những vấn đề đặt ra trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN
Hình 1 Tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam với các đối tác thương mại chính (Trang 50)
Bảng 2: Số lượng mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường  ASEAN - Quan hệ thương mại việt nam   ASEAN, những vấn đề đặt ra trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN
Bảng 2 Số lượng mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN (Trang 51)
Bảng 3: Nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang ASEAN - Quan hệ thương mại việt nam   ASEAN, những vấn đề đặt ra trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN
Bảng 3 Nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang ASEAN (Trang 53)
Hình 3: Xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN phân theo trình độ công nghệ của sản phẩm - Quan hệ thương mại việt nam   ASEAN, những vấn đề đặt ra trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN
Hình 3 Xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN phân theo trình độ công nghệ của sản phẩm (Trang 54)
Hình 4: Xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN, 2001-2014 - Quan hệ thương mại việt nam   ASEAN, những vấn đề đặt ra trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN
Hình 4 Xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN, 2001-2014 (Trang 57)
Hình 5: Cơ cấu nhập khẩu hàng hóa theo trình độ công nghệ của Việt Nam từ ASEAN - Quan hệ thương mại việt nam   ASEAN, những vấn đề đặt ra trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN
Hình 5 Cơ cấu nhập khẩu hàng hóa theo trình độ công nghệ của Việt Nam từ ASEAN (Trang 61)
Hình 6: Cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam từ ASEAN phân theo mục đích sử dụng, 2001-2014 - Quan hệ thương mại việt nam   ASEAN, những vấn đề đặt ra trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN
Hình 6 Cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam từ ASEAN phân theo mục đích sử dụng, 2001-2014 (Trang 62)
Hình 7: Quan hệ thương mại Việt Nam - ASEAN, 2001-2014 - Quan hệ thương mại việt nam   ASEAN, những vấn đề đặt ra trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN
Hình 7 Quan hệ thương mại Việt Nam - ASEAN, 2001-2014 (Trang 64)
Hình 8: Chỉ số tương đồng xuất khẩu giữa Việt Nam và một số nước ASEAN - Quan hệ thương mại việt nam   ASEAN, những vấn đề đặt ra trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN
Hình 8 Chỉ số tương đồng xuất khẩu giữa Việt Nam và một số nước ASEAN (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w