Trang chủSản phẩmPhương pháp họcPhương pháp học141 Nghiên cứu, xây dựng hệ thống các bài thực hành Hóa học ở trường THPT theo mô hình định hướng sản phẩmTên sản phẩm: 141 Nghiên cứu, xây dựng hệ thống các bài thực hành Hóa học ở trường THPT theo mô hình định hướng sản phẩmTác giả: Đặng Thị Minh ThuTên đơn vị: Bắc GiangSố lượt bình chọn: 6Giới thiệu về sản phẩm:BÌNH CHỌNMã xác nhận: Đổi mãChia sẻ với bạn bè qua: Chi tiết sản phẩmGiải pháp mà đề tài mang lại: Định hướng vào thực tiễn. Gắn liền với hoàn cảnh: các sản phẩm được tạo ra xuất phát từ tình huống của thực tiễn nghề nghiệp, đời sống xã hội, phù hợp trình độ người học. Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các mô hình định hướng sản phẩm gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống xã hội, địa phương, gắn với môi trường, mang lại tác động xã hội tích cực. Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành: Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học. Mang nội dung tích hợp: Kết hợp tri thức của nhiều môn học hay lĩnh vực khác nhau để giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp. Định hướng vào người học Chú ý đến hứng thú của người học, tính tự lực cao: học sinh được trực tiếp tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp khả năng và hứng thú của cá nhân, khuyến khích tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. Giáo viên đóng vai trò là người tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ. Người học được cộng tác làm việc, lựa chọn nhiệm vụ phù hợp: Các dự án được thực hiện theo nhóm, có sự cộng tác và phân công công việc giữa các thànhviên trong nhóm, rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa giảng viên và học sinh cũng như các lực lượng xã hội tham gia vào dự án..
Trang 1BCH ĐOÀN TỈNH BẮC GIANG
***
Số: KH/TĐTN - TNTH&CTTN
ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH
Bắc Giang, ngày tháng 6 năm 2016
HỒ SƠ XÉT CHỌN CHƯƠNG TRÌNH “ TRI THỨC TRẺ VÌ
GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN 2016-2020”
Kính gửi:Tổ chức Chuơng trình “Tri thức trẻ vì giáo dục” giai đoạn
2016 – 2020
Thực hiện Kế hoạch số 475 KH/TWĐTN - TNTH ngày 28/4/2016 của Ban
Chấp hành Trung ương Đoàn về việc “tổ chức chương trình tri thức trẻ vì giáo dục giai đoạn 2016 – 2020”, Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn Bắc Giang triển khai Kế
hoạch tổ chức Chương trình “Tri thức trẻ vì giáo dục” giai đoạn 2016 – 2020 cụ
18.10.1984 Giáo viên giảng dạy
Hóa học tại trường THPT Ngô Sĩ Liên
0983 018 105
II NỘI DUNG CÔNG TRÌNH
1 Tên công trình, sáng kiến:
“NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC BÀI THỰC HÀNH HÓA HỌC
Ở TRƯỜNG THPT THEO MÔ HÌNH ĐỊNH HƯỚNG SẢN PHẨM”
2 Lĩnh vực dự thi: Đổi mới phương pháp dạy học sáng tạo và hiệu quả
có khẳng định rõ: Một trong những mục tiêu của giáo dục đào tạo hiện nay là “Lý thuyết phải gắn liền với thực tiễn - Học phải đi đôi với hành” biết vận dụng một cách chính
xác khoa học, làm thế nào để người học thực hiện một quá trình tự giác, tích cực, tự lực
Trang 2chiếm lĩnh kiến thức dưới sự điều khiển của giáo viên Quá trình này thành công sẽ đạt được 3 mục tiêu dạy học: Trí dục, phát triển tư duy, giáo dục
Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm và lí thuyết, yếu tố đặc trưng này chính là kim chỉ nam cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn hóa học Do
đó, phương pháp nhận thức đúng đắn về hóa học là phải dựa trên những kết quả nghiên cứu kết hợp chặt chẽ với các lí thuyết cơ bản như các định luật, những học thuyết Chính
vì vậy việc sử dụng thí nghiệm trong giảng dạy là một phần không thể thiếu trong dạy học hóa học Nhưng hiện nay lại tồn tại một thực tế tổng số tiết thực hành hóa học đối ở
cả ba khối lớp 10,11, 12 đều là: 6 tiết /70 tiết chỉ chiếm 8,6% tổng số tiết thực học, là quá
ít Mặt khác giáo viên thường áp dụng các hình thức tổ chức một giờ thực hành hóa học theo kiểu: Nghiên cứu nội dung thí nghiệm trong sách giáo khoa để trả lời câu hỏi ; Quan sát hình ảnh, tranh vẽ, mô hình, sơ đồ…; Quan sát thí nghiệm do giáo viên biểu diễn… Giờ thực hành hóa học bị xem nhẹ, kết quả thu được chỉ là một tờ giấy tường trình đơn giản và xáo rỗng 5
Tục ngữ có câu “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm/ một sờ”, đủ nói lên vai trò của quan sát thí nghiệm Người Ấn Độ và người Trung Hoa cũng đã nói: “Nghe thì quen, nhìn thì nhớ, làm thì hiểu” Đối với quá trình dạy học các
môn khoa học tự nhiên, khoa học thực nghiệm, quan sát và thí nghiệm cũng là phương
pháp làm việc của học sinh Nhưng những bài thực hành hóa học được thiết kế theo mô hình định hướng sản phẩm, do chính các em tiến hành một cách độc lập theo cách tự
thực hành quan sát, tự thí nghiệm, chủ động thời gian thực hành để tạo ra một sản phẩm chung dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên là còn quá mới Xã hội ngày nay đang
“Thừa thầy, thiếu thợ” mẫu chốt của sự phát triển và tăng trưởng của xã hội đó là anh tạo
ra sản phẩm thực tiễn gì cho nhân loại “Mô hình định hướng sản phẩm” là mô hình
dạy học hướng người học đến việc phải tự tạo ra sản phẩm vật chất bằng tất cả vốn kiến thức, kỹ năng và những tiềm lực vốn có của bản thân Giáo viên sẽ là người cung cấp các kiến thức cơ bản, cung cấp nguồn hóa chất và định hướng, giám sát hoạt động của học sinh còn học sinh phải chủ động làm việc để có thể tạo ra được một sản phẩm cụ thể Tiêu chí đánh giá kết quả học tập sinh không chỉ giới hạn là một tờ báo cáo trên giấy mà
có thể là các sản phẩm công nghệ mô tả quá trình hoạt động nhóm, các sản phẩm hóa học là kết quả làm việc hoặc có thể là các cuốn tạp san, album… Tất cả đều là các sản
Trang 3phẩm cụ thể có thể cầm nắm, quan sát và đinh lượng được Kết quả của cả quá trình hoạt động học sinh sẽ thấu hiểu được các vấn đề lí thuyết liên quan
Những kết quả phân tích trên đây không chỉ cho chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của thí nghiệm thực hành hóa học mà còn nhấn mạnh đến phương pháp sử dụng các thí nghiệm thực hành hóa học đó như thế nào để có thể đạt được hiệu quả cao, đáp ứng mục tiêu dạy học hiện nay của sự nghiệp giáo dục Nhận thấy tính cấp thiết của xu thế giáo
dục mới, tôi quyết định chọn đề tài: “NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC BÀI THỰC HÀNH HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT THEO MÔ HÌNH ĐỊNH HƯỚNG SẢN PHẨM
4 Trình bày tính mới, tính sáng tạo của công trình, sáng kiến
4.1 Tính mới của giải pháp
* Định hướng vào thực tiễn
- Gắn liền với hoàn cảnh: các sản phẩm được tạo ra xuất phát từ tình huống của
thực tiễn nghề nghiệp, đời sống xã hội, phù hợp trình độ người học
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các mô hình định hướng sản phẩm gắn việc học
tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống xã hội, địa phương, gắn với môi trường, mang lại tác động xã hội tích cực
- Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành: Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở
rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực
tiễn của người học
- Mang nội dung tích hợp: Kết hợp tri thức của nhiều môn học hay lĩnh vực
khác nhau để giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp
* Định hướng vào người học
- Chú ý đến hứng thú của người học, tính tự lực cao: học sinh được trực tiếp
tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp khả năng và hứng thú của cá nhân, khuyến khích tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học Giáo viên đóng vai trò là người tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ
- Người học được cộng tác làm việc, lựa chọn nhiệm vụ phù hợp: Các dự án
được thực hiện theo nhóm, có sự cộng tác và phân công công việc giữa các thành
Trang 4viên trong nhóm, rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa giảng viên và học sinh cũng như các lực lượng xã hội tham gia vào dự án
4.2 Tính sáng tạo của giải pháp
Phương pháp dạy học sáng tạo tích cực, các bài thực hành định hướng sản phẩm sẽ giao việc cho học sinh cụ thể, sau đó học sinh sẽ chủ động lao động trí óc
và chân tay để tạo ra sản phẩm có thể nhìn được, cầm nắm và ứng dụng được vào thực tế cuộc sống hàng ngày Phương pháp dạy học này giúp cho các em thấy giá trị thực tiễn của của các bài học, gắn liền lí thuyết- thực hành- vận dụng Các sản phẩm được tạo ra, không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà còn tạo ra sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể
sử dụng, công bố, giới thiệu
5 Phương pháp triển khai thực hiện ý tưởng:
5.1 Phương pháp điều tra và phân tích số liệu: khảo sát chất lượng dạy- học
các giờ thực hành Đánh giá nhu cầu và mong muốn của học sinh về một giờ học thực hành Khảo sát cách thức và phương pháp dạy- học một giờ dạy
5.2 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Nghiên cứu cấu trúc của các bài thực
hành hóa học ở trường THPT Xác định chuẩn mục tiêu, chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng- thái độ
5.3 Phương pháp khoa học thực nghiệm: Tiến hành xây dựng các bài thực hành
hóa học theo mô hình định hướng sản phẩm bao gồm mô tả chi tiết về nguyên vật liêu, cách thức tiến hành, tiêu chí đánh giá sản phẩm Xây dựng hệ thống bộ học liệu hỗ trợ cho học sinh về các vấn đề liên quan Tiến hành áp dụng triển khai vào dạy- học ở một
số trường trên địa bàn thành phố Bắc giang
5.4 Phương phám thẩm định: Khảo sát lại chất lượng dạy và học các tiết thực
hành theo mô hình định hướng sản phẩm dựa trên các tiêu chí về chuẩn kiến thức, chuẩn
kỹ năng và thái độ
6 Tính khả thi, khả năng áp dụng và nhân rộng của ý tưởng
- Tài liệu được áp dụng trong toàn Tỉnh
- Đề tài có khả năng duy trì lâu dài và có thể nhân rộng phạm vi áp dụng toàn quốc
Trang 57 Dự kiến hiệu quả (về khoa học, về kinh tế và hiệu quả xã hội) của ý tưởng khi triển khai:
Giải pháp có tính thực tiễn cao nên có khả năng áp dụng rộng rãi cho nhiều đối tượng, hiệu quả kinh tế xã hội cao, nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học ở các trường phổ thông Góp phẩn đẩy mạnh phong trào đổi mới phương pháp dạy và học trong thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa Góp phần lớn trong việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh
8 Nội dung ý tưởng:
Đề tài sẽ gồm ba phần
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1 Khảo sát và đánh giá thực trạng dạy- học các tiết thực hành hóa học tại các trường 2.2 Nghiên cứu cấu trúc của các bài thực hành hóa học ở trường THPT
2.3 Xây dựng các bài thực hành hóa học theo mô hình định hướng sản phẩm
2.4 Tiến hành áp dụng triển khai vào dạy- học ở một số trường trên địa bàn thành phố Bắc giang
2.5 Khảo sát và thẩm định lại chất lượng dạy và học các tiết thực hành theo mô hình PHẦN III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trang 6III- BẢN THUYẾT MINH CHI TIẾT CỦA CÔNG TRÌNH
1 Khảo sát và đánh giá thực trạng dạy- học các tiết thực hành hóa học
Hiện nay số lượng và chất lượng TNTHHH chưa đáp ứng được yêu cầu của việc dạy học nói chung và đặc biệt là yêu cầu việc đổi mới dạy học nói riêng Tình trạng đó có thể
có nhiều nguyên nhân, phần vì kinh phí cho khu vực này còn hạn hẹp tuy đã có nhiều cố gắng, phần vì trách nhiệm của nhà sản xuất (còn mà không dùng được, dùng được thì cũng chóng hỏng), phần vì thiếu một sự quản lí chỉ đạo, động viên những người tốt, việc tốt trong sử dụng và cải tiến sáng tạo thí nghiệm thực hành hóa học hiện có…
Như đã phân tích, hiệu quả dạy học còn tùy thuộc vào phương pháp sử dụng các thí nghiệm thực hành hóa học Nếu một bức tranh, một thí nghiệm chỉ được sử dụng để minh họa và củng cố những điều GV đã trình bày đầy đủ về phương diện lý thuyết sẽ hạn chế mất tư duy sáng tạo của HS, HS hầu như không thu lượm được thêm gì về mặt kiến thức, nếu không phải chỉ là để rèn luyện kĩ năng quan sát, thí nghiệm
Nhưng nếu được sử dụng theo con đường tìm tòi nghiên cứu (khám phá) để đi đến kiến thức cần lĩnh hội (kiến thức mới) sẽ có ý nghĩa khác cơ bản so với loại hình thí nghiệm trên, nó giúp HS có điều kiện, cơ hội phát triển tư duy sáng tạo - một phẩm chất và năng lực cần có ở con người mới mà nhà trường có trách nhiệm đào tạo
Đi theo con đường này, sau khi đã hiểu được nhiệm vụ cần làm sáng tỏ (mục đích của thí nghiệm) bằng tư duy tích cực, HS sẽ hình thành được các giải định (trong nghiên cứu khoa học đây chính là bước xây dựng giả thuyết về vấn đề nghiên cứu (từ sự nảy sinh câu hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu…?” Câu hỏi được hình thành từ những liên tưởng dựa trên vốn kiến thức và kinh nghiệm có của HS
Khi giả định được hình thành, trong đó hàm chứa con đường phải giải quyết, HS
dự kiến kế hoạch giải quyết để chứng minh cho giả định đã nêu
Hai bước nêu giả định và dự kiến kế hoạch giải quyết chứng minh cho giả định là hai bước đòi hỏi tư duy tích cực và sáng tạo Đây là những cơ hội rèn luyện tu duy sáng tạo cho HS rất tốt, là giai đoạn tiến hành thí nghiệm tưởng tượng (“thí nghiệm trong tư duy”) định hướng cho hành động thí nghiệm tiếp theo dựa trên kế hoạch đã được HS thiết kế (kế hoạch dự kiến) Cuối cùng, căn cứ vào kết quả của thí nghiệm, HS rút ra kết luận, nghĩa là HS lĩnh hội được kiến thức từ thí nghiệm mà không phải do thày truyền đạt và
HS tiếp thu một cách thụ động
Trang 7Hiện nay hầu hết các bài thực hành thí nghiệm sinh học ở THPT trong chương trình và SGK được bố trí ở cuối mỗi chương chỉ mang tính chất củng cố minh họa cho các kiến thức lý thuyết đã được trình bày trong các bài học của chương trình dưới hình thức phần lớn là “bày sẵn” từng bước cho HS Hơn nữa số tiết thực hành quy định trong chương trình và SGK cũng còn rất hạn chế Rồi đây, chắc chắn số tiết này có thể sẽ được nâng lên cho phù hợp với xu thế chung của giáo dục thế giới và tương ứng với tính chất của các môn khoa học thực nghiệm
Trước mắt trong khi chờ đợi, đòi hỏi lòng nhiệt tâm vì sự nghiệp giáo dục của các thầy cô đang tiến hành các bài thực hành hiện có theo phương thức mới ở những nội dung phù hợp và cũng có thể bổ sung thêm các thí nghiệm vào các tiết dạy khi có thể và
có điều kiện thích hợp
2 Nghiên cứu cấu trúc của các bài thực hành hóa học ở trường THPT
Căn cứ vào nội dung, chuẩn kiến thức và kỹ năng của các bài thực hành chúng tôi xây dựng bảng danh mục các bài thực hành và định hướng sản phẩm cụ thể cho mỗi bài thực hành đó
Chế tạo dung dịch thuốc tẩy
Trang 8Vận dụng kiến thức về tốc độ phản ứng sản xuất tỏi đen bằng nồi cơm điện
Đã thực hiện
Đã thực hiện
Xây dựng một vườn rau thủy canh bằng dung dịch thủy canh tự pha chế
Đã thực hiện
Đã thực hiện
đo nồng độ cồn
Trang 9ancol-
phenol
trong máu người tham gia giao thông
Đã thực hiện
Xây dựng bảng vật liệu bằng polime
Đã thực hiện
tính chất, điều chế kim loại, sự
ăn mòn kim loại
Tìm hiểu sự ăn mòn kim loại ở
Thương Đề xuất giải pháp khắc phục và tuyên truyền
Đã thực hiện
Trang 10Bảng 2.1 Danh mục các bài thực hành trong chương trình hóa THPT
3 Xây dựng các bài thực hành hóa học theo mô hình định hướng sản phẩm
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ hóa mo hình dạy học bài thực hành theo định hướng sản phẩm
Kế hoạch hoạt động của học sinh
Đề ra tiêu chí đánh giá (tự đánh giá, đánh giá của
sinh
Trang 114 Tiến hành áp dụng triển khai vào dạy- học ở trường THPT Ngô Sĩ Liên 4.1 Bài thực hành minh chứng số 1
Tạo bộ chỉ thị từ rau hoa quả Ứng dụng nhận diện môi trường axit bazo
- Đũa thủy tinh
- Đĩa thủy tinh
Trang 1212
Cách thức tiến hành
Chuẩn bị nguyên liệu Các nguyên liệu rau, củ quả,vỏ quả được đi xin, thu
mua ở chợ Thương, đem về loại bỏ tạp chất, phần hỏng, phần giập nát Rửa sạch các nguyên liệu, để ráo nước
Sơ chế: Các nguyên liệu khi đã khô ráo thì đem cắt nhỏ thành các hạt lựu, sau đó giữ đông ở nhiệt độ từ-20OC đến -15OC, nhằm phá vỡ cấu trúc tế bào nguyên liệu tạo điều kiện để tiếp xúc giữa dung môi với anthocyamin Sau 24 h bỏ ra giã đông
và đem đi sấy khô ở 850C, xay nhỏ và lưu trữ Với các mẫu lưu trữ thì có thể đem
đi sấy khô, còn nếu dùng trực tiếp thì sau khi giã đông sẽ ngâm ngay nguyên liệu vào dung môi
Lấy 1000 gam nguyên liệu tươi mỗi loại, đem sấy ở khoảng 600C -850C, sau đó lấy mẫu đem cân lại để tìm ra tỷ lệ nguyên liệu giữa dạng tươi và dạng đã làm khô được biểu thị qua bảng số liệu sau
STT
Nguyên liệu
Trọng lượng tươi (gam)
Trọng lượng khô (gam)
3 Lá bắp cải tím 1000 gam 100 gam
5 Thài lài tía 1000 gam 111,1 gam
8 Vỏ chanh leo tím 1000 gam 125 gam
9 Hoa bằng lăng 1000 gam 76,2 gam Bảng 6.2: Tỷ lệ nguyên liệu giữa dạng tươi và dạng đã làm khô
Chuẩn bị dung môi: dung môi dùng để chiết là dung dịch hỗn hợp gồm
Etanol-nước- HCl với tỷ lệ Etanol : H2O bổ sung HCl là 1:1 và 1% HCl
Lấy bình định mức 100ml, dùng pipet lấy chính xác một 50ml Etanol cho vào bình định mức, thêm nước cất vào bình cho đến đúng vạch 100ml Dùng pipet 5ml lấy 1ml HCl cho bổ sung vào bình dung môi ở trên, lắc
đều dung dịch, nút kín
Chuẩn bị tỷ lệ nguyên liệu/dung môi:
Với các nguyên liệu là hoa Dâm Bụt, hoa Hồng, lá Huyết dụ, bắp Cải tím,
vỏ Chanh leo thì có thể chiết dịch cả ở dạng khô và tươi cho màu sắc và độ đặc của dịch chiết là như nhau, vẫn giữ nguyên được hàm lượng Anthocyamin Nhưng với lá rau Rền tía, hoa Bằng Lăng, lá Tía Tô thì chúng em lưạ chọn chiết nguyên liệu tươi vì khi chiết nguyên liệu tươi thì
Trang 13độ trong bình giảm thì lại bật đèn cồn Nếu có đầy đủ điều kiện cơ sở vật chất thì đặt trong máy gia nhiệt để duy trì nhiệt độ trên
Lọc dịch chiết: dùng giấy lọc bỏ cặn bã nguyên liệu lấy dịch trong hoặc có
thể sử dụng máy lọc hút chân không khi đó sẽ được lượng dịch chiết tối đa
Bố trí thí nghiệm chiết: hệ thống chiết dịch được bố trí như hình ảnh ở
dưới
Hình 4.1: Hệ thống bố trí chiết dịch màu các nguyên liệu
Bảo quản: Các dịch chiết có thể lưu mẫu trong bình thủy tinh nút kín và để dùng trong khoảng thời gian 3-5 tháng Các nguyên liệu thô có theo mùa thì
có thể lưu trữ ở dạng sấy khô, nghiền nhỏ, để trong túi nilon, dán kín
Sản phẩm
Trang 1414
Thài lài tía
Trang 1515
Thử nghiệm tính axit- bazo
* Nhận biết môi trường axit- bazo bằng chỉ thị từ dịch chiết hoa Dâm bụt
STT Hóa chất cần nhận biết Màu sắc dung
dịch ban đầu Màu sắc sau khi nhỏ chất
chỉ thị
Độ bền màu theo thời gian
thời gian bền màu là 30 phút, 60 phút,
8 giờ và sau
24 giờ
Bảng 1: Nhận biết môi trường axit- bazo bằng dịch chiết màu hoa dâm bụt
Trang 1616
* Nhận biết môi trường axit- bazo bằng chỉ thị từ dịch chiết hoa hồng
STT Hóa chất cần nhận biết Màu sắc dung
dịch ban đầu Màu sắc sau khi nhỏ chất
chỉ thị
Độ bền màu theo thời gian
thời gian bền màu là 30 phút, 60 phút,
8 giờ và sau
24 giờ
Bảng 2: Nhận biết môi trường axit- bazo bằng dịch chiết màu hoa hoa hồng
* Nhận biết môi trường axit- bazo bằng chỉ thị từ dịch chiết huyết dụ
STT Hóa chất cần nhận biết Màu sắc dung
dịch ban đầu
Màu sắc sau khi nhỏ chất chỉ thị
Độ bền màu theo thời gian
thời gian bền màu là 30 phút, 60 phút,
8 giờ và sau
24 giờ
Bảng 3: Nhận biết môi trường axit- bazo bằng dịch chiết màu hoa lá huyết dụ
* Nhận biết môi trường axit- bazo bằng chỉ thị từ dịch chiết bắp cải tím
STT Hóa chất cần nhận biết Màu sắc dung
dịch ban đầu Màu sắc sau khi nhỏ chất
chỉ thị
Độ bền màu theo thời gian
thời gian bền màu là 30 phút, 60 phút,
8 giờ và sau
24 giờ
Bảng 3.6: Nhận biết môi trường axit- bazo bằng dịch chiết màu bắp cải tím
* Nhận biết môi trường axit- bazo bằng chỉ thị từ dịch chiết vỏ chanh leo
STT Hóa chất cần nhận biết Màu sắc dung
dịch ban đầu
Màu sắc sau khi nhỏ chất chỉ thị
Độ bền màu theo thời gian
thời gian bền màu là 30 phút, 60 phút,
8 giờ và sau
24 giờ
Bảng 4: Nhận biết môi trường axit- bazo bằng dịch chiết màu vỏ chanh leo
Trang 1717
* Nhận biết môi trường axit- bazo bằng chỉ thị từ dịch chiết lá rau rền tía
STT Hóa chất cần nhận biết Màu sắc dung
dịch ban đầu
Màu sắc sau khi nhỏ chất chỉ thị
Độ bền màu theo thời gian
thời gian bền màu là 30 phút, 60 phút,
Bảng 5: Nhận biết môi trường axit- bazo bằng dịch chiết màu lá rau rền tía
* Nhận biết môi trường axit- bazo bằng chỉ thị từ dịch chiết hoa bằng lăng
STT Hóa chất cần nhận biết Màu sắc dung
dịch ban đầu
Màu sắc sau khi nhỏ chất chỉ thị
Độ bền màu theo thời gian
thời gian bền màu là 30 phút, 60 phút,
8 giờ và sau
24 giờ
Bảng 6: Nhận biết môi trường axit- bazo bằng dịch chiết màu hoa bằng lăng
* Nhận biết môi trường axit- bazo bằng chỉ thị từ dịch chiết lá tía tô
STT Hóa chất cần nhận biết Màu sắc dung
dịch ban đầu Màu sắc sau khi nhỏ chất
chỉ thị
Độ bền màu theo thời gian
thời gian bền màu là 30 phút, 60 phút
Bảng 7: Nhận biết môi trường axit- bazo bằng dịch chiết màu lá tía tô
* Nhận biết môi trường axit- bazo bằng chỉ thị từ dịch chiết thài lài tía
STT Hóa chất cần nhận biết Màu sắc dung
dịch ban đầu Màu sắc sau khi nhỏ chất
chỉ thị
Độ bền màu theo thời gian
thời gian bền màu là 30 phút, 60 phút,
8 giờ và sau
24 giờ
Bảng 8: Nhận biết môi trường axit- bazo bằng dịch chiết màu thài lài tía
Trang 18Đã thực hiện
Dụng cụ hóa chất, thiết bị: Các vật liệu làm từ polime
Cách thức tiến hành
Phương pháp
- Làm việc theo nhóm
- Phương pháp tự nghiên cứu, khảo sát tình hình thực tế
- Phương pháp thu thập thông tin và xủ lý thông tin
- Phương pháp trình bày
Định hướng sản phẩm: Xây dựng bảng vật liệu polime và vật liệu
Để hoàn thiện đầy được sản phẩm thì học sinh phải trả lời được câu hỏi sau:
1 Thế nào là polime? Đặc điểm chung về polime?
2 Đặc điểm của vật liệu polime? Lấy ví dụ?
3 Vai trò của vật liệu polime với đời sống ?
4, So sánh vật liệu polime và các vật liệu khác?
5 Các loại vật liệu mới?
6 Ảnh hưởng của vật liệu polime với đời sống, với môi trường tự nhiên?
7 Đề ra giải pháp giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường do sử dụng vật liệu polime gây ra?
Chia nhóm: 6 nhóm Tùy theo số lượng học sinh trong một lớp từ đó quy
định số nhóm trong một lớp Do đặc điểm sĩ số học sinh tại trường Ngô Sĩ
Trang 1919
Liên trung bình từ 45-55 học sinh nên tôi thường chia làm 6 nhóm Việc chia nhóm có thể do học sinh tự chia hoặc do chia nhóm ngẫu nhiên
Lựa chọn tên dự án: tìm hiểu về polime, vật liệu polime và vật liệu
Nhiệm vụ của giáo viên
Nhiệm vụ của Giáo viên
- Gợi ý cho từng nhóm cách làm việc:
- Nói rõ cho HS về nhiệm vụ của từng chuyên gia
- Gợi ý cho HS cách phân công công việc có thể theo các chủ đề nhỏ hoặc theo vai trò của từng chuyên gia
- Gợi ý cách hoạt động ví dụ như nhóm truyên truyền và nhóm nghiên cứu có thể cùng hoạt động, nhóm trình bày và nhom giải pháp
Giáo viên phải thường xuyên kiểm tra công việc của học sinh trong thời gian học sinh xay dựng dự án
Giáo viên có thể hỗ trợ, cung cấp cho học sinh các mã nguồn tài liệu
Nhiệm vụ của học sinh
Phân vai và nhiệm vụ cho từng thành viên của nhóm
Bảng : Phân vai và nhiệm vụ cho từng thành viên của nhóm
- tìm hiểu thông tin qua nhiều nguồn: sách báo, internet, thư viện…
- Sách giáo khoa: hoá học, công