Mô hình giáo dục “Bài học từ những câu hỏi” sẽ thay đổi vị thể và hoạt động căn bản của giáo viên và học sinh trong một giờ học: thay vì giáo viên hỏi, học sinh trả lời, ở đây học sinh sẽ hỏi, giáo viên không trả lời ngay mà định hướng học sinh thực hiện những thao tác cụ thể để tìm câu trả lời. Đây là một hành trình đi từ sự hoài nghi nội tại với nhu cầu giải tỏa cao nhất đến niềm tin được xây dựng trên nền tảng thực nghiệm, một kĩ năng tư duy và làm việc khoa học có thể tạo lập như một thói quen cho các em ngay trên ghế nhà trường.
Trang 1CHƯƠNG TRÌNH “TRI THỨC TRẺ VÌ GIÁO DỤC” 2016 – 2020
Ý tưởng giáo dục (3):
MÔ HÌNH GIÁO DỤC “BÀI HỌC TỪ NHỮNG CÂU HỎI”
Người đề xuất: Hoàng Lan Anh
Địa chỉ: Trường THPT Chuyên Bắc Giang – Đường
Hoàng Văn Thụ – TP Bắc Giang – Tỉnh Bắc Giang Điện thoại: 0979 368 369
Hoàn thành ý tưởng: Ngày 05/10/2016
TÓM TẮT: Mô hình giáo dục “Bài học từ những câu hỏi” sẽ thay đổi vị thể và hoạt động căn bản của giáo viên và học sinh trong một giờ học: thay vì giáo viên hỏi, học sinh trả lời, ở đây học sinh sẽ hỏi, giáo viên không trả lời ngay mà định hướng học sinh thực hiện những thao tác cụ thể để tìm câu trả lời Đây là một hành trình đi từ sự hoài nghi nội tại với nhu cầu giải tỏa cao nhất đến niềm tin được xây dựng trên nền tảng thực nghiệm, một
kĩ năng tư duy và làm việc khoa học có thể tạo lập như một thói quen cho các em ngay trên ghế nhà trường
Trang 2MỤC LỤC
I Cơ sở của mô hình “Bài học từ những câu hỏi” 3
1 Cơ sở lý thuyết 3
1.1 Lý thuyết giáo dục: Nền giáo dục dân chủ 3
1.2 Lý thuyết tâm lý: Hoài nghi và sự phát triển 3
2 Cơ sở thực tiễn: xã hội và giáo dục Việt Nam 4
II Đặc điểm mô hình “Bài học từ những câu hỏi” 5
1 Mục tiêu mô hình 5
2 Hình thức tổ chức mô hình 5
2.1 Chương trình đào tạo 5
2.2 Nguyên tắc thực hiện 9
2.3 Đối tượng và mức độ áp dụng chương trình 10
2.3.1 Với học sinh Mẫu giáo 10
2.3.2 Với học sinh Tiểu học và Phổ thông 11
2.4 Tiến trình tổ chức bài học: 13
3 Một số vấn đề và giải pháp về chất lượng 14
III Kết luận 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3I Cơ sở của mô hình “Bài học từ những câu hỏi”
1 Cơ sở lý thuyết
chủ”, một triết thuyết giáo dục tiến bộ nhân văn, mà Hoa Kỳ là một trong những quốc gia dẫn đầu và thành công trong việc áp dụng từ hàng chục năm nay Một trong những người tâm huyết và cụ thể hóa con đường thực hiện triết lí này là nhà triết học – tâm lí học – giáo dục học Jonh Dewey Quan niệm của ông về trường học và việc học của học sinh đã
gợi ý rất lớn cho việc hình thành “Bài học từ những câu hỏi” Ông cho rằng: Giáo dục phải đồng thời thúc đẩy tính sáng tạo và tính ổn định, tính cá nhân và ý thức xã hội Phương tiện quan trọng bậc nhất để làm được điều này phải được tìm thấy trong một môi trường của trường học nói chung và trong phương pháp giảng dạy nói riêng Học sinh liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động, và các em thực sự cộng tác để lên kế hoạch cho chương trình học, và do đó lên kế hoạch cho toàn bộ môi trường của trường học [47,1] Nhấn mạnh tính cá nhân trong nền giáo dục dân chủ, ông khẳng định: Nền giáo dục kiểu mới cấn chú trọng nhiều hơn, chứ không ít đi, tới nội dung và sự tiến
bộ về kĩ năng Nhưng khi tôi nói “nhiều hơn”, tôi không định nói tới sự nhiều hơn về lượng của cùng một kiểu loại cũ kĩ Tôi định nói tới một khả năng tưởng tượng đủ sức hiểu được rằng không có bất kỳ kế hoạch được quy định và được làm sẵn nào có thể quyết định được chính xác nội dung nào sẽ thúc đẩy tốt nhất sự tăng trưởng có tính giáo dục của mọi trẻ em với tư cách cá nhân, rằng mỗi cá nhân mới mẻ đều đặt ra một vấn đề mới mẻ, rằng cá nhân ấy đòi hỏi phải có ít nhất một sự khác biệt nào đó trong nội dung được trình bày Không điều gì vừa ngớ ngẩn lại vừa mù quáng hơn quy ước cho rằng nội dung được chứa đựng thực sự trong SGK của môn số học, lịch sử, địa lý… chính là cái sẽ thúc đẩy sự phát triển có tính giáo dục của mọi trẻ em [61,1] Những năm gần đây, Bộ
Giáo dục và Đào tạo Việt Nam nêu cao triết lí dạy học dân chủ “Lấy học sinh làm trung tâm”, song con đường hiện thực hóa triết lí này vẫn còn cần nhiều nghiên cứu thực nghiệm để tìm ra những giải pháp khả thi và hiệu quả Với J Dewey, con đường này chính là đem lại cho học sinh, đối tượng tiếp nhận hoạt động giáo dục, những cơ hội để trở thành chủ thế xây dựng chương trình giáo dục cho chính mình, dựa trên niềm tin vào năng lực và giá trị mỗi cá nhân người học Quan điểm giáo dục này được phát biểu từ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, nhưng trong những năm đầu thế kỉ XXI này, nó vẫn là một chỉ dẫn quan trọng cho các nhà giáo dục hậu bối nếu muốn thực hiện những cuộc cải cách căn bản và thực chất cho nền giáo dục quốc gia
Trang 4Sự hoài nghi, đặc biệt sự hoài nghi trí tuệ khởi nguồn cho mọi phát minh/phát kiến khoa học Hoài nghi về bầu trời, con người phát hiện ra vũ trụ Hoài nghi về gió, con người phát minh ra máy điều hòa… Khi nào chúng ta quan tâm khao khát muốn biết về một đối tượng, đối tượng ấy nằm trong sự hoài nghi của chúng ta, Như thế, hoài nghi là nguồn gốc và cũng là biểu thị của sự nhận thức Càng hoài nghi nhiều, khả năng nhận thức và sáng tạo của con người càng lớn Hoài nghi để bắt đầu hành trình học tập, nghiên cứu của nhân loại
Sự hoài nghi được thể hiện qua những câu hỏi Nhưng từ sự hoài nghi đến việc đặt câu hỏi và việc hỏi cũng có một khoảng cách nhất định Các chuyên gia đã phân tích những ích lợi của việc đặt câu hỏi, không chỉ trong nhận thức mà còn trong mối quan hệ
giao tiếp thông minh [4]) Từ những hoài nghi trong suy nghĩ đến việc chia sẻ những hoài nghi ấy, con người có một bước tiến từ nhận thức đến thái độ dũng cảm bày tỏ bản thân, xây dựng được mối liên kết bằng trí tuệ hoặc cảm xúc với những người xung quanh
Trong khi đồng ý với Dewey về lý thuyết giáo dục dân chủ: Học sinh liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động, và các em thực sự cộng tác để lên kế hoạch cho chương trình học, chúng ta có thể đặt câu hỏi: Làm thế nào đề học sinh thực sự cộng
tác? Sẽ có nhiều câu trả lời khác nhau, phụ thuộc vào giáo viên, học sinh, cũng như hoàn cảnh thực tiễn, và do đó nhiều phương pháp giáo dục mới đã ra đời Với chúng tôi, câu trả lời là: khuyến khích các em đặt câu hỏi, và tổ chức cho các em tìm câu trả lời Đó chính là cơ sở của mô hình giáo dục “Bài học từ những câu hỏi” sẽ được trình bày ở phần tiếp sau
2 Cơ sở thực tiễn: xã hội và giáo dục Việt Nam
Có một thực tiễn mà nhiều chuyên gia đã nhận ra trong xã hội Việt Nam: người Việt
không dám hỏi, Câu hỏi về “hỏi ngu”, [2],[3]) Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng công việc, học tập, giao lưu… của chúng ta Có nhiều nguyên nhân, song cơ bản xuất phát từ sự giáo dục trong gia đình và trong trường lớp: vì những lí do khác nhau, chúng ta đã vô tình bỏ rơi, từ chối, thậm chí vùi dập câu hỏi của những đứa trẻ từ khi chúng bắt đầu biết nhận thức và trở thành những đứa trẻ hay hỏi Hệ quả là, trẻ em vẫn tiếp tục lớn lên, nhưng năng lực và khát vọng được hỏi của trẻ bị mài món theo năm tháng
Chương trình giáo dục của Việt Nam hiện nay được chia thành các cấp bậc với các phân môn khác nhau, được “lên khung” bởi những nhà giáo dục, và thể hiện qua chương trình sách giáo khoa phổ thông Thêm vào đó, trong quá trình thực hiện chương trình, ở
Trang 5mỗi bài học, giáo viên thường luôn là người có quyền hỏi, HS gần như chỉ còn quyền trả lời Hệ quả là, học sinh được học những vấn đề cơ bản theo một sự sắp đặt nhận thức bài bản, song nhiều khi gò bó cứng nhắc với lứa tuổi, tính cách, thời đại… của các em Với những em hào hứng học tập, sự hào hứng của các em vẫn là một nhu cầu học tập được đến từ bền ngoài, bên trên mà không phải nhu cầu khám phá thế giới bên trong các em Học sinh đang học những thứ người khác muốn các em học, chứ không phải là những gì các em thực sự muốn học Nhiều câu hỏi của các em bị bỏ rơi, thậm chí bị cấm đoán (một cách trực tiếp hoặc gián tiếp) từ gia đình, nhà trường hoặc định kiến văn hóa xã hội Càng lớn lên, những câu hỏi thành thật cùa HS càng giảm đi, ảnh hưởng tới khả năng đặt vấn
đề và giải quyết vấn đề trong cuộc sống sau này Tuy không phải tất cả, song có một thực trạng tồn tại tại trường học của chúng ta: học sinh không thích học, sợ học (đáng lo!); nhiều nhà khoa học tiềm năng bị thui chột (đáng tiếc!); các em không được là chính mình trong việc học (đáng buồn!)
Thực trạng này đi ngược lại triết lí giáo dục dân chủ mà chúng ta đã đề cập ở trên Để giảm thiểu điều này, chúng ta cần nỗ lực tìm những giải pháp thay đổi môi trường học tập
và việc học của các em học sinh trong nhà trường
II Đặc điểm mô hình “Bài học từ những câu hỏi”
1 Mục tiêu mô hình
Mục tiêu lớn nhất của mọi nền giáo dục là tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội phát triển năng lực của bản thân theo khuynh hướng vận động của xã hội Khi thực hiện
mô hình “Bài học từ những câu hỏi”, chúng ta có thể hướng tới những mục tiêu cụ thể cho sự phát triển trước mắt và lâu dài của học sinh và nền giáo dục quốc gia như sau:
- Học sinh hứng thú với việc học như một sự thỏa mãn nhu cầu khám phá thế giới của bản thân
- HS tích cực, chủ động phát hiện, nghiên cứu và giải quyết những vấn đề nảy sinh
từ thực tiễn học tập hay giao tiếp của các em
- Hình thành kĩ năng làm việc, học tập khoa học qua sự hoài nghi và nghiên cứu thực nghiệm
- HS phát triển kĩ năng giao tiếp, được tôn trọng và học cách tôn trọng người khác
- Tổ chức dạy học qua khoa học thực nghiệm ở tất cả các cấp (nếu có thể)
2 Hình thức tổ chức mô hình
Lấy học sinh làm trung tâm, mô hình “Bài học từ những câu hỏi” là bài học thuộc
“chương trình mềm”, có thể thực hiện song song và bổ sung bên cạnh chương trình phổ
Trang 6cập được lên khung của Bộ Giáo dục Ở đây, tính chất “mềm” của chương trình được xác lập trên các khía cạnh sau:
Nếu chủ thể xây dựng chương trình khung của Bộ Giáo dục là các chuyên gia giáo dục, các nhà khoa học đầu ngành trong từng phân môn liên quan, thì chủ thể của chương trình “Bài học từ những câu hỏi” lại chính là các em học sinh Như vậy, thay vì học sinh phải học một chương trình do người khác quyết định, thì bây giờ các em được học một chương trình do chính mình xây dựng Thiết nghĩ điều này là quan trọng, nếu chúng ta thực sự muốn thực hiện một nền giáo dục: lấy học sinh làm trung tâm Việc xem các em
là trung tâm của việc học phải bắt đầu từ việc cho các em được học những gì từ nhu cầu hiểu biết và khám phá của mình Học những gì mình muốn biết, đó là nguồn gốc của cảm hứng và thành công trong học tập
Tuy nhiên, khi người học trở thành người xây dựng chương trình học tập, chương trình đó sẽ có cấu trúc mềm và thực tế là rất lỏng lẻo Vì khác với các chuyên gia và các nhà khoa học, những người “đã biết”, dựa trên vốn kiến thức sâu rộng để định hình những vấn đề cơ bản cần học trong một chương trình, người học là người “chưa biết”, nhưng “muốn biết”, các em có khát khao song hoàn toàn non nớt về kiến thức và kĩ năng trong các lĩnh vực Chương trình học của các em phát sinh từ những câu hỏi của bắt nguồn từ kinh nghiệm sống thực tế của các em Điều này sẽ quyết đinh tới toàn bộ nội dung, hình thức tổ chức của chương trình: một chương trình học vừa gần gũi thiết thực, vừa cởi mở, linh hoạt, không giới hạn, đầy hứng thú song cũng đầy thử thách Đây vừa
là một thuận lợi, song cũng là một thách thức đối với giáo viên, những người sẽ đồng hành cùng các em trong cuộc phiêu lưu không định trước này Khi người xây dựng chương trình đồng thời là đối tượng thực hiện chương trình - những “chuyên gia mềm” muốn đi những con đường không biết trước, giáo viên sẽ cần thiết phải là những
“chuyên gia cứng” đủ khả năng bao quát và định hướng cho học sinh trên con đường khám phá tri thức mênh mông Nhưng ai có đủ tự tin khẳng định mình là “chuyên gia” trong mọi lĩnh vực? Không ai cả! Tuy nhiên, để đảm đương được trọng trách giáo dục theo mô hình này, chúng ta phải xây dựng một đội ngũ giáo viên không ngừng học hỏi
để cùng với học sinh đi tìm kiếm những câu trả lời về cuộc sống cũng như về chính bản thân mình
Một vấn đề nữa khi người xây dựng chương trình là học sinh với những câu hỏi của các em, đó là tính chất cá nhân của chương trình Tất nhiên, không phải khung chương trình của bộ không có dấu vết cá nhân của mỗi chuyên gia, song dẫu sao nền tảng xây dựng chương trình cũng là cơ sở khoa học khách quan Song chương trình “Bài học từ
Trang 7những câu hỏi”, dấu ấn chủ quan rất đậm nét Vì chương trình xuất phát từ câu hỏi của học sinh, mà mỗi học sinh lại là một cá thể mang một kinh nghiệm sống khác nhau, nên các câu hỏi của các em cũng rất khác nhau Do đó ở mỗi lớp học lại có một chương trình riêng không lặp lại Thậm chí, với những học sinh mẫu giáo tiểu học, bên cạnh những câu hỏi khám phá khoa học, giáo viên còn nhận được những câu hỏi kiểu như: “Cô ơi tại sao bạn Minh lại không chơi với con?”, “Tại sao bố mẹ con lại mua áo mới cho em mà không mua cho con?”, “Tại sao con chó nhà hàng xóm lại cứ hay tè bậy trước cửa nhà con?”… Giáo viên không nên xem thường những câu hỏi này, bởi vì mỗi câu hỏi chứa đựng một mối quan tâm của các em trong đời sống thực tiễn, về đời sống tính cảm Nếu
ở trên chúng ta đã khẳng định tính chất “mềm” của chủ thể xây dựng chương trình ở sự non nớt về kiến thức và kĩ năng, thì ở đây tính chất này còn được thể hiện ở sự nhạy cảm mong manh về cảm xúc Và khi học sinh còn hỏi GV những câu hỏi như vậy, Gv cần cảm thấy hạnh phúc, vì thực chất của câu hỏi ấy là một sự tin cậy sẻ chia Vì thế cần quan niệm những câu hỏi kiểu trên đây cũng là một phần quan trọng trong chương trình, một bài học đạo đức – kĩ năng sống thiết thực, cần được trả lời nghiêm túc, chân thành Chỉ có điều trả lời như thế nào, ở mức độ và phạm vi nào phụ thuộc vào hoàn cảnh, đối tượng và sự tổ chức linh hoạt của mỗi giáo viên trong sự tách rời hay tích hợp với các môn học trong chương trình Ngoài ra, giáo viên cũng cần kết hợp với cha mẹ học sinh
để có những trao đổi về nguyên nhân, tính chất và cách thức trả lời câu hỏi dạng này một cách thỏa đàng
- “Mềm” về nội dung chương trình:
Như đã nói ở trên, chương trình “Bài học từ những câu hỏi” là chương trình phát sinh từ những băn khoăn của mỗi cá nhân học sinh về những vấn đề của đời sống Phát triển theo những câu hỏi của học sinh – các em quan tâm đến điều gì, vấn đề đó trở thành bài học, nội dung chương trình ở dạng khả thể chứ không phải ở dạng cố định Hơn nữa, do tính chất của những câu hỏi, chương trình có cấu trúc lỏng lẻo của sự hoài nghi, đối thoại và những khát vọng khám phá, chứ không phải một kết cấu bền vững của những tín điều đóng khung trong niềm tin chân lí Khác với khung chương trình của Bộ, chương trình này không có sự phân chia rạch ròi giữa các môn học, cũng như không có
sự phân cấp từ dễ đến khó theo một hệ thống nhất định Bắt nguồn từ thực tiễn đời sống, nội dung chương trình sẽ ở dạng tích hợp như tính chất nguyên hợp nguyên thủy của đời sống
Tuy không có sự phân môn và phân cấp, song dựa trên mối quan tâm thực tiễn từ kinh nghiệm sống của học sinh, vẫn có thể chia nội dung chương trình “Bài học từ những câu hỏi” thành hai phần, theo tính chất của những câu hỏi: đó là những câu hỏi
Trang 8liên quan tới khoa học (Ví dụ: Tại sao lại có đêm và ngày? Tại sao con phải đi ngủ? )
và những câu hỏi liên quan tới tâm lí, đạo đức (Tại sao mẹ lại yêu em hơn con? Sao bạn Hiền lại không hiền với con? ) Hai dạng câu hỏi này, với các em học sinh, khi đã trở thành mối bận tâm của các em, đều có tính chất quan trọng như nhau, và GV phải ý thức rằng chúng đều thuộc trọng tâm của chương trình học, đều nhằm xây dựng bồi dưỡng nhân cách của học sinh
Với tinh chất này, ưu diểm của chương trình “Bài học từ những câu hỏi” là tạo tính hứng thú cho học sinh, đặc biệt kích thích và nuôi dưỡng khả năng hỏi của học sinh, nhưng nhược điểm là chúng ta sẽ có một chương trình ngẫu nhiên, rất khó kiểm soát về nội dung, rất dễ vụn vặt và nếu không thực hành thận trọng, sẽ không đi tới tận cùng của một hệ thống nội dung và phương pháp tư duy khoa học Nắm được những ưu và nhược điểm này, hiểu được nội dung chương trình quá mềm dẻo, thì rất cần những nguyên tắc chặt chẽ trong quá trình thực hiện Điều này sẽ được trình bày cụ thể hơn ở phần tiếp theo
Nội dung chương trình “Bài học từ những câu hỏi” bắt nguồn từ chính những câu hỏi của học sinh Có nghĩa là tất cả học sinh đều có quyền hỏi và được kích thích để hỏi Bắt đầu khởi động chương trình, mỗi học sinh tối thiểu đưa ra một câu hỏi mà mình băn khoăn nhất ở thời điểm hiện tại GV cần đảm bảo tất cả các câu hỏi của các em đều được trả lời (để các em thấy được mình được bình đẳng và tôn trọng, từ đó không làm giảm hứng thú hỏi và học), tất nhiên theo trình tự thời gian khác nhau Chỉ khi nào trả lời hết các câu hỏi cũ mới bắt đầu chuyển sang trả lời những câu hỏi mới Thực tế là, sẽ có những câu hỏi giáo viên chưa thể biết được câu trả lời, vì ngay cả các nhà khoa học cũng đang trên hành trình nghiên cứu và chưa có kết luận cuối cùng Ví dụ như: “Proxima B
có đúng một hành tinh khác trong vũ trụ này cũng có sự sống như chúng ta không?”,
“Người ngoài hành tinh là thật hay là tưởng tượng?”, “Làm sao để con người chưa khỏi được bệnh ung thư?”…, do đó sẽ có những câu hỏi nằm ở trạng thái “chưa bao giờ cũ”,
và chưa thể giải quyết trong quá trình học Với những trường hợp, này, điều giáo viên có thể làm là gợi ý học sinh đưa ra những giả thuyết hoặc giải pháp các em cho là đúng nhất, sau đó khuyến khích các em tiếp tục tư duy để tìm kiếm câu trả lời trong tương lai Giáo viên cũng có thể tìm kiếm và giúp các em liên hệ với các chuyên gia trong lĩnh vực
đó (nếu được) để cùng các chuyên gia gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo cho các em Tiêu chí quan trọng là học sinh không chỉ thỏa mãn nhu cầu hiểu biết nhất thời mà còn nắm được kĩ năng tư duy khoa học để giải quyết một vấn đề nào đó đặt ra trong bài học hoặc trong đời sống Vì thế không có thời gian cố định cho hành trình đi tìm câu trả lời
Trang 9Điều này khiến chương trình giáo dục này không chỉ “mềm” về nội dung mà còn về thời gian thực hiện Tuy nhiên, như trên đã đề cập chương trình “Bài học từ những câu hỏi” được chia thành hai phần: phần khoa học và phần tâm lí Dù phân phối chương trình không cố định, song có một nguyên tắc là dạng câu hỏi liên quan tới tâm lí, đạo đức GV cần tổ chức các em đi tìm câu trả lời trước so với dạng câu hỏi khoa học, vì đó là mối bận tâm liên quan trực tiếp tới các em, nhằm giúp ổn định đời sống tình cảm, thái độ của các em ở hiện tại và tương lai
Nếu “chương trình khung” tương đối chặt chẽ, khoa học của Bộ Giáo dục ở một mức độ nhất định có thể gây căm giác gò bó cho người học thì chương trình “Bài học từ những câu hỏi” lại quá lỏng lẻo¸ nếu không có những quy tắc thực hiện sẽ khiến cho mục đích khoa học và sư phạm trong giáo dục khó có thể đạt được Vì thế, thiết nghĩ một nguyên tắc tư duy và làm việc khoa học, hệ thống là điều cần thiết để một mặt, chúng ta vừa giữ nguyên được niềm yêu thích học - hỏi của các em học sinh, mặt khác vẫn đáp ứng được yêu cầu học-tập trong nhà trường Dưới đây xin đề xuất một số nguyên tắc cơ bản:
- GV không trả lời ngay lập tức những câu hỏi của học sinh Sự đáp ứng tức thời những câu hỏi đôi khi khiến sự học tập trở nên dễ dàng song dễ quên Hơn nữa câu trả lời từ phía giáo viên sẽ trở thành một tín điều chưa được kiểm chứng, được xây dựng và
áp đặt từ bên ngoài chứ không phải từ kinh nghiệm thực hành của học sinh Do đó, mỗi câu hỏi của học sinh phải là một đề tài cho một dự án học tập ở các mức độ khác nhau phụ thuộc vào trình độ người học để học sinh tự mình dấn thân trong hành trình đi tìm câu trả lời Việc học qua dự án có thể giúp học sinh phát triển toàn diện những năng lực cần thiết cho cuộc sống của mình
- GV đồng hành cùng học sinh trong quá trình đi tìm câu trả lời Mỗi câu hỏi của học sinh là một lần đặt vấn đề Để giải quyết vấn đề, cần một hệ thống những câu hỏi triển khai và phát triển GV trong quá trình cùng tham gia với học sinh cần kết hợp sử dụng những câu hỏi định hướng phát triển nâng cao để Hs có thể càng mở rộng đi sâu vào vấn đề càng tốt Lưu ý rằng quá trình trả lời câu hỏi là quá trình đi từ kinh nghiệm đã biết đến kinh nghiệm sẽ biết, do đó việc GV định hướng HS đi tìm câu trả lời cần dựa trên việc khai thác kinh nghiệm cuộc sống của các em, tức là câu trả lời nằm trong giới hạn tri thức đời sống mà các em có thể tìm thấy và hiểu được Tuy nhiên, vẫn cần nhớ rằng đây
là quá trình học tập của học sinh chứ không phải là quá trình mày mò những bước chân đầu tiên trong công cuộc nghiên cứu của những người khai sáng Bản chất của việc học-hỏi ở đây là học tri thức/kinh nghiệm nhân loại để làm giàu cho tri thức/kinh nghiệm của
Trang 10bản thân vì thế không thể bỏ qua kinh nghiệm nhân loại đã được đúc rút thành tri thức khoa học Quá trình đi tìm câu trả lời phải là sự tổ chức định hướng Hs đi lại con đường khám phá khoa học của nhân loại, song không phải bằng đôi chân của người khác mà bằng chính đôi chân-thực nghiệm của các em
mềm của nội dung chương trình khiến chương trình có cấu trúc ngẫu hứng Song GV khi
tổ chức HS thực hiện chương trình cần có một sự kết nối chúng theo một hệ thống: kết nối về mặt nội dung, nhưng trước hết là kết nối về mặt kĩ năng, phương pháp, để càng thực hiện chương trình, HS càng nắm vững và chủ động các thao tác khoa học trong việc giải quyết các vấn đề tình cảm – tâm lí cũng như các vấn đề khoa học được đặt ra trong đời sống
chức dạy học tích hợp Mỗi câu hỏi đặt ra một vấn đề Song vì đây là vấn đề xuất phát từ đời sống của các em, nên việc tổ chức đi tìm câu trả lời nên theo hướng tích hợp giữa các môn học để vấn đề được nhìn nhận toàn diện và hệ thống
- Không có chân lí cuối cùng, nghĩa là không có câu trả lời tuyệt đối đúng Cần phải chấp nhận những câu hỏi có nhiều hướng trả lời Điều này sẽ giúp học sinh tăng khả năng đối thoại, nhìn vấn đề nhiều chiều và tiếp tục tư duy về vấn đề
Khằng định tính cần thiết và hiệu quả của mô hình “Bài học từ những câu hỏi”, nhưng nhìn vào thực tế giáo dục và phân tích đặc điểm của HS ở từng lứa tuổi, chúng ta thấy rằng không thể có một sự áp dụng phổ biến và đồng đều mô hình này ở tất cả các cấp Vì thế trong phần này chúng tôi sẽ phân nhóm đối tượng người học dựa trên một số tiêu chí
cơ bản về độ tuổi, tâm lí, thời gian tiếp thu nền giáo dục nhà trường, và cả mức độ bắt buộc thực hiện khung chương trình chung của Bộ Giáo dục, từ đó xác định một độ sâu phù hợp việc áp dụng mô hình giáo dục này
2.3.1 Với học sinh Mẫu giáo
Việc đặt ra những câu hỏi trước những vấn đề của đời sống và giải quyết nó là và nên
là câu chuyện xuyên suốt cuộc đời của mỗi con người, nhưng việc tổ chức một chương trình học tập từ những câu hỏi với tính chất mềm dẻo như ở trên đã phân tích, theo chúng tôi thích hợp nhất với đối tượng học sinh ở các lớp mẫu giáo Không phải với học sinh cấp nhỏ hơn thì câu hỏi dễ hơn, do đó khả năng định hướng tìm câu trả lời của GV là cao hơn, và mô hình này sẽ dễ thành công hơn Chúng ta không quên rằng: “Trong mỗi đứa trẻ ngỗ nghịch đều có một thiên tài, cũng như trong mỗi thiên tài đều có một đứa trẻ ngỗ nghịch”, và những câu hỏi bị cho là quái dị của cậu bé Einstein khi còn nhỏ như: Tại sao