Xuất phát từ thực trạng giáo dục của Việt Nam hiện nay và các mục tiêu cải cách giáo dục đã được đề cập ở trên. Với triết lý giáo dục: học để làm, đề cao tính sáng tạo và tôn trọng sự đa dạng trong giáo dục. Nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình cải cách giáo dục theo hướng khoa học và từng bước, những cải cách được đề cập trước sẽ làm tiền đề và định hướng cho những cải cách được đề cập sau.
Trang 1Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 2Lời mở đầu
Bước vào xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức rất lớn từ việc tiếp nhận, đón đầu những thành tựu công nghệ mới của nhân loại Tuy nhiên bên cạnh những mặt thuận lợi như: chúng ta có lực lao động dồi dào, dân số đang trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ cao so với các nước khác trong khu vực, vị trí địa lý thuận lợi, nguồn lực tự nhiên phong phú,… thì đất nước cũng phải đối mặt với những thách thức lớn khác như ô nhiễm môi trường, trình độ dân trí chưa cao,… Để thực hiện đổi mới toàn diện, hiệu quả nhằm khác phục những vấn đề trên thì chúng ta phải có những cải cách thật sự quyết liệt trên lĩnh vực giáo dục để đào tạo ra được thế hệ mới tài năng không chỉ có tài mà còn có tâm, nhiệt huyết, đạo đức Trong bài viết này, nhóm tác giả hy vọng
sẽ góp một phần tiếng nói của mình để giải quyết những vấn
đề đang gây bức xúc nhức nhối trong dư luận ngày nay giáo dục cũng như đưa ra những giải pháp thực tế nhằm giải quyết vấn đề trên
Trang 3MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
2.MÔ HÌNH CẢI CÁCH: 10
2 Cải cách giáo dục ở bậc mẫu giáo và tiểu học là trọng tâm 10
2.1 Cải cách giáo dục ở bậc mẫu giáo và tiểu học là trọng tâm của mô hình cải cách giáo dục: 10
2.2 Cải cách giáo dục ở mẫu giáo, tiểu học để trẻ được phát triển một cách tự nhiên và phát triển nhân cách của bản thân: 11
“Cách người Nhật giáo dục trẻ em” 12
Học không chỉ là trên sách vở 12
Chơi… là chính 12
c Cải cách về môi trường học tập ở bậc giáo dục mầm non và tiểu học: 20
2.3 Cải cách giáo dục ở mầm non, tiểu học hướng đến học sinh, theo dõi và nắm bắt sự phát triển của học sinh Đánh giá học sinh thông qua sự phát triển của cá nhân chứ không thông qua thành tích: 20
2.4 Cải cách giáo dục ở mầm non và tiểu học cần phải đồng thời với việc bãi bỏ tình trạng dạy thêm, học thêm ở cấp tiểu học: 24
2.5 Tổng kết và những vấn đề của cải cách giáo dục ở bậc mẫu giáo và tiểu học: 25
3 Cải cách ở bậc Trung học cơ sở và Trung học phổ thông: 26
3.1 Cải cách ở bậc Trung học cơ sở: 26
a Về chương trình học: 26
3.2 Về các yếu tố khác trong môi trường giáo dục THCS: 31
3.3 Cải cách giáo dục ở bậc THPT: 32
4 Những cải cách đón đầu ở giáo dục sư phạm: 33
5 Thi cử trong cải cách giáo dục 36
5.1 Thực trạng thi cử ở nuớc ta bắt nguồn từ thời phong kiến 36
5.2 Tiếp thu kinh nghiệm từ các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới 37
1 Giáo dục ở Nhật Bản 37
2 Giáo dục ở Mỹ: Tự do và tôn trọng tự do của người khác 39
3 Giáo dục ở Đức 39
4 Giáo dục ở Pháp: Mỗi học viên ứng với một vị trí trong xã hội 40
5.3 Đề xuất giải pháp thi cử mới 41
5.3.1 Ở bậc mẫu giáo, cấp 1, cấp 2, cấp 3 41
5.3.2 Ở bậc đại học 45
6 Cơ sở vật chất phục vụ cho cải cách giáo dục 47
6.1 Cơ sở vật chất giáo dục phục vụ cho bậc tiểu học và mẫu giáo 47
6.2 Cơ sở vật chất phục vụ cho cấp 2, cấp 3, đại học 49
7 Các nhân tố khác 50
Vai trò của Nhà nước 51
Vai trò của nhà trường 52
Vai trò của học sinh và phụ huynh 53
Lời kết 59
Trang 41 THỰC TRẠNG NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM
Hơn nửa thế kỷ qua nền giáo dục Việt nam đã đạt được nhiều thành tích to lớn trong sự nghiệp giải phóng, xây dựng và phát triển đất nước Sau 30 năm chiến tranh, đất nước hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối Ngày 11/01/1979, Bộ Chính trị khóa 14 đã ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục trong điều kiện đất nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội Cuộc cải cách giáo dục lần này với nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý thuyết gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội; thống nhất giáo dục trong cả nước, đánh dấu một bước phát triển mới của Giáo dục Trong giai đoạn đổi mới, nhất là từ sau triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
XI và Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT, với quan điểm “đầu tư cho giáo dục là quốc sách”, giáo dục đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước Hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh và thống nhất; mạng lưới cơ
sở giáo dục các cấp học và trình độ đào tạo rộng khắp cả nước với 23,5 triệu người đi học Đến tháng 12/2014, có 63/63 tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn, các đối tượng chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn, bình đẳng giới được bảo đảm Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầu nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Các trường học và giáo viên ở các cơ sở giáo dục phổ thông được chủ động xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tinh giản nội dung dạy học, xây dựng các chủ đề dạy học tích hợp, liên môn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích cực phù hợp với đối tượng và điều kiện dạy học nhằm phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh, tăng cường hoạt động giáo dục giúp học sinh vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết các vấn đề thực tiễn, tiếp tục đổi mới nội dung và hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý được chú trọng phát triển cả về số lượng, đặc biệt lưu ý đến chất lượng để đáp ứng yêu cầu mới Cơ sở vật chất - kỹ thuật của hệ thống GD&ĐT được tăng thêm và từng bước hiện đại hóa Xã hội hóa giáo dục
và hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng.Tuy nhiên bên cạnh
Trang 5những thành tựu trong công cuộc đổi mới giáo dục và xây dựng đất nước trong suốt chặng đường phát triển của đất nước Nền giáo dục Việt Nam còn tồn tại thực trạng
đáng buồn, cụ thể như sau:
Đầu tiên bậc giáo dục Đại học hiện nay có khuynh hướng đề cao khái niệm “đại học quốc tế chất lượng cao”, cơ bản xây dựng đại học tốt là điều kiện“cần có”, nhưng điều kiện “đủ” là chúng ta phải có bản thân sinh viên là những hạt giống tốt, nhân tố tốt Rõ ràng lâu nay giáo dục Việt Nam cũng chỉ lo đào tạo số lượng sinh viên đầu ra
mà quên đi vấn đề quan trọng là thế hệ thanh niên thật sự đóng góp như thế nào vào sự nghiệp phát triển đất nước Hàng loạt kỹ sư, cử nhân Việt Nam ra trường nhưng không
có việc làm Bao nhiêu người làm việc theo đúng ngành nghề mình đã học, đó là một
sự lãng phí lớn Hiện nay chúng ta cũng không có một ngành thống kê thực tế phục vụ nghiên cứu chính sách Xây dựng trường đại học mang tầm quốc tế chỉ là điều kiện“cần” nhưng chưa “đủ” Trên thế giới người ta rất quan tâm đến những thợ giỏi, chuyên viên kỹ thuật cao Đất nước đang trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa mà sinh viên không chịu học kỹ thuật, chỉ tập trung không cân bằng vào các ngành
dễ được xã hội “chấp nhận” thì khó có thể phát triển công nghiệp, hiện đại hóa đất nước Việt Nam muốn phát triển nền khoa học kỹ thuật thì phải đào tạo khoa học kỹ thuật trên bình diện rộng Giáo dục đại học ở nước ta là một trong những quốc gia còn sót lại của nền giáo dục đại học dưới sự quản lý chặt chẽ từ trung ương, thiếu sự tự quản Sự bất cập này không những ảnh hưởng đến chất lượng chuyên môn của đội ngũ giảng dạy mà còn cả các tiêu chuẩn xây dựng cơ sở vật chất
Nền giáo dục chúng ta mang nặng tính hình thức, đua nhau nhồi nhét học thuộc lòng theo sách vở để có điểm cao mà sách chưa chuẩn, năm nào thi cử cũng gian lận Giáo dục Việt Nam muốn phát triển phải giải phẫu đúng bệnh Bệnh chẩn đoán đúng nhưng không chịu giải phẫu làm sao chữa trị? Thực tế, các cơ quan chức năng đều nhận thấy hết căn bệnh giáo dục nước nhà Trong các cuộc hội thảo, hầu như mỗi vấn
đề đều đã được phân tích, đã chỉ ra cái đúng cái sai nhưng điều lạ lùng là nó không được đúc kết để đưa vào thực hiện thực tế Tình trạng “nói” nhưng không “làm” là căn bệnh nan giải nhất của hầu hết nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội chứ không phải của riêng ngành giáo dục Việt Nam
Trang 6Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập:
Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục; chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng;
so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách hàng đầu
Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên
Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy “nghề” vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc, tư duy sáng tạo,
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và năng lực của một bộ phận còn thấp
Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác định rõ phương châm
Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất cập
Trang 7Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành cơ chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu những quyết sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một số chính sách
về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội
Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể giải quyết khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt nhất thời, thiếu chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chưa đạt tới chiều sâu bản chất của vấn đề Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những người lãnh đạo – quản lý, những nhà khoa học, những người làm giáo dục phải có cách nhìn toàn diện, đầy đủ, khách quan, như các văn kiện của Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn những gì nêu trên báo chí và những báo cáo tổng kết thành tích
Hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 376 trường đại học, với khoảng 6600 giáo
sư và phó giáo sư Tuy nhiên theo ông tổng thư ký hội đồng chức danh giáo sư, nếu đánh giá đúng theo tiêu chuẩn quốc tế, Việt nam chỉ có khoảng từ 15 đến 20% có trình
độ tương ứng với chức danh đó Còn lại không chỉ thấp mà hơn dưới 1/3 rất thấp Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ thi trượt đại học nhiều nhất thế giới Hiện nay chỉ
có 1/10 người ở độ tuổi học đại học được tuyển sinh Tuy nhiên, quốc gia này đang được xếp vào những nước có tỷ lệ dân số đạt trình độ đại học trở lên thấp nhất của khu vực và trên thế giới Ngay các nước láng giềng cũng đang phấn đấu để đạt được tỷ lệ tuyển sinh đại học là 60 – 80% hoặc cao hơn nữa, trong khi chúng ta mới chỉ đạt được khoảng 10 – 15%
Mỗi năm có khoảng 20000 sinh viên ra trường và chỉ 50% được đáp ứng việc làm, trong đó chỉ 30% đúng nghành nghề Trong một cuộc sát hạch, đánh giá của Intel
để tuyển dụng 2000 sinh viên công nghệ thông tin, chỉ có 90 ứng sinh, nghĩa là 5% vượt qua kiểm tra, và trong số đó chỉ có 40 người đủ khả năng tiếng anh theo yêu cầu tuyển dụng Intel xác nhận, đây là kết quả tệ nhất mà họ từng gặp ở những nước mà họ đầu tư
Trong 10 năm từ 1996 đến 2005 chỉ có 3456 công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp san quốc tế Nếu đem so sánh với con số giáo sư và phó giáo sư thì trung bình mỗi vị chỉ có 0,58 bài báo cáo trong vòng 10 năm Không những ít so với quốc tế và
Trang 8so với các nước trong khu vực, Việt Nam cũng đứng vào loại thấp nhất : chỉ bằng 1/5
so với Thái lan ; 1/3 Malaysia ; 1/14 Singapore ; thậm chí thấp hơn cả Indonésia và Philippines.1
Chất lượng sinh viên tốt nghiệp ở Việt nam thấp hơn một bậc so với nước ngoài Theo một giảng trình viên của cuộc hội thảo về toán lý hóa : « trình độ của sinh viên tốt nghiệp ở Việt nam chỉ bằng chương trình đại cương của đại học nước ngoài, cao học bằng đại học và tiến sĩ bằng cao học »
Có thể nói giáo dục Việt Nam đang thực sự khủng hoảng, mà nói như các chuyên gia của đại học Harvard thì nó đã đến mức trầm trọng Người ta vẫn thường mượn đến cái danh của những cá nhân kiệt xuất để che đậy cho một thực trạng yếu kém đến mức báo động Người Việt Nam nên vui khi có những con người làm rạng danh đất nước như nghệ sĩ Piano Đặng Thái Sơn, như bộ trưởng bộ y tế Đức Philipp Roesler, như giáo sư Ngô Bảo Châu…Tuy nhiên, chúng ta không nên đánh đồng họ với nền giáo dục Việt Nam, vì những con người này đều trưởng thành từ một nền giáo dục hiện đại
ở nước ngoài
Giáo dục Việt Nam chưa sát với thực tế “Học không đi đôi với hành”, sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường đại học chưa hẳn đã có việc làm, dường như Giáo Dục chưa đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội Sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp các trường đại học ra thường phải học thêm một số chương trình mà bên tuyển dụng yêu cầu, vì họ cho rằng cái mà sinh viên học được ở trường lớp chỉ đa phần là lý thuyết suông, chưa thể áp dụng vào thực tế
Những con số “đáng sợ” sau là minh chứng cho những bất cập của Giáo dục Đào
tạo Việt Nam:
Hơn 50% SV được khảo sát không thật tự tin vào các năng lực/ khả năng học của mình
Hơn 40% cho rằng mình không có năng lực tự học;Gần 70% SV cho rằng mình không có năng lực tự nghiên cứu;Gần 55% SV được hỏi cho rằng mình không thực sự hứng thú học tập
1http://luanvanaz.com/thuc-trang-chat-luong-giao-duc-viet-nam-hien-nay.html
Trang 9Như vậy, các trường đại học ở Việt Nam muốn nâng cao chất lượng thì phải chú trọng thay đổi 3 vấn đề chính được đề cập ở trên Những thay đổi này cần sự nỗ lực từ nhiều phía: Bộ Giáo dục, nhà trường, giảng viên và sinh viên Biết rằng việc thực hiện rất khó khăn và phải mất một khoảng thời gian dài nhưng phải làm ngay vì nhà nước
đã mở cửa cho nước ngoài đầu tư vào giáo dục và khuyến khích các cơ sở giáo dục đào tạo theo nhu cầu xã hội Điều này tạo ra sự cạnh tranh trong Giáo dục-Đào tạo, các trường đại học phải tự đổi mới nâng cao chất lượng để tạo uy tín và thương hiệu cho mình
Về “bệnh thành tích”, căn bệnh trầm kha trong giáo dục mà xã hội lên án, “thủ phạm chính” là nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục nhưng bên cạnh đó còn có một thủ phạm khác - đó là phụ huynh và xã hội Nhiều học sinh phổ thông hư hỏng, lười học, thiếu lễ độ với thầy cô giáo, lười vận động tư duy, hời hợt trong nhận thức và hành động nhưng ít phụ huynh chấp nhận sự thật này, lại muốn con mình được lên lớp, được tốt nghiệp, được khen thưởng
Phụ huynh và xã hội lên án gay gắt một kỳ thi thiếu nghiêm túc, nhưng nếu ngành giáo dục “siết chặt”, tỷ lệ tốt nghiệp thấp, phản ánh đúng thực chất thì liệu phụ huynh và xã hội có chấp nhận sự thật đó, hay lại lên án ngành giáo dục
Vậy khi nào nhà trường, gia đình và xã hội không “nhìn thẳng vào sự thật”, không “đánh giá đúng sự thật”, không “chấp nhận sự thật” - thì bệnh thành tích vẫn còn đó, dù có lên án hay hô hào thay đổi đến mức nào đi nữa
“Bệnh thành tích”, căn bệnh không có trong y văn nhưng tồn tại trầm kha không chỉ riêng gì ngành giáo dục Số liệu thống kê năm 2013 cho thấy Bộ GD&ĐT chỉ quản
lý 12,86% số trường cao đẳng, đại học cả nước trong khi đó Ủy ban nhân dân các tỉnh quản lý 42,77%; Bộ Công thương 9,97%; Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch 6,11% ; (chưa kể Bộ Công an và Quốc phòng).Theo số liệu của Bộ Kế hoạch Đầu tư, giai đoạn 2004-2014, trong tổng số 2,2 tỉ USD đầu tư vào các dự án ODA ngành Giáo dục, Bộ GD&ĐT quản lý 26 dự án với số vốn 1,8 tỉ, Bộ Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quản lí 12 dự án với số vốn 232 triệu USD Việc “chia lô” như thế khiến cho ngân sách đầu tư cho giáo dục bị dàn trải, chỉ đạo chồng chéo,… Mỗi đơn vị “chủ quản” tự quyết định những gì có lợi cho đơn vị mình chứ không phải vì lợi ích chung, có thể nêu một vài dẫn chứng.Bộ Lao động Thương binh và Xã hội khi nắm mảng dạy nghề đã cụ thể
Trang 10hóa “quyền chủ quản” của mình qua việc đề nghị Quốc hội ban hành Luật Giáo dục Nghề nghiệp Bằng Luật này, có lẽ Việt Nam là nước đi tiên phong trong việc tách các trường cao đẳng khỏi bậc đại học và cấp bằng “Kỹ sư” cho người theo học trình độ cao đẳng (3 năm)
Nội dung chương trình nặng về lý thuyết suông, xa rời thực tế Đây là vấn đề
muôn thuở của hệ thống giáo dục Việt Nam đã tồn tại cả chục năm về trước, nguyên
nhân của vấn đề này là do thiếu sự liên kết chặt chẽ của nhà trường đối với doanh nghiệp, chưa nắm bắt được nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp thành ra nội dung đào tạo cứ lẩn quẩn bao nhiêu năm cũng chỉ có bấy nhiêu đó, dần dà trở nên lạc hậu vì thế không nắm bắt đúng nhu cầu của doanh nghiệp Hệ lụy này dẫn đến nạn thất nghiệp tràn lan của sinh viên mới tốt nghiệp, thống kê năm 2013 cho thấy có tới 101.000 sinh viên thất nghiệp có bằng đại học Việc đào tạo nguồn nhân lực cho các trường đại học ở Việt Nam hầu hết là bồi dưỡng những sinh viên tốt nghiệp loại giỏi trở thành giảng viên, cái tư duy sai lầm vẫn cứ tồn tại suốt hàng chục năm nay, một sinh viên mới ra trường chỉ có lý thuyết suông, thiếu thực tế và do trường đào tạo thì chỉ có cái tư duy "nội bộ" của trường đó mà thôi, thiếu cái nhìn toàn diện thì khó phát
triển, việc này cứ quay đi quẩn lại mà dần dần dẫn đến hệ lụy là “tư duy lối mòn” Bên cạnh đó nền giáo dục còn mang nặng tính thương mại, khác với nền giáo dục
tiên tiến ở một số nước phương Tây xem giáo dục như nghĩa vụ của Chính phủ đối với cộng đồng, ở Việt Nam giáo dục lại đặt nặng vào tính thương mại, thậm chí còn được coi là "ngành kinh doanh béo bở” Có nhiều trường “sáng tạo” ra rất nhiều môn học tạp nham, không liên quan gì đến ngành học nhằm mục đích thu tiền học phí của sinh
viên
Theo Báo Cáo Chỉ số phát triển giáo dục (EDI) năm 2008 do UNESCO công bố, Việt Nam đứng thứ 79/129 nước, tức là tụt 9 bậc so với năm 2004 dù đầu tư của Chính phủ cho giáo dục không ngừng tăng lên Kết quả này khiến chúng ta phải “giật mình”
về chất lượng của nền giáo dục Theo số liệu của Tổng cục Thống kê số lượng học sinh liên tục giảm, năm 2001-2002 có gần 18 triệu, năm học 2013-2014 còn khoảng 14,8 triệu trong khi đó lượng giáo viên năm học 1995-1996 là 492.000 người đến năm học 2013-2014 là 855.000 người Số liệu thống kê của Bộ GD&ĐT cho biết, đến thời điểm hiện nay, cả nước đang thừa khoảng 35.000 giáo viên bậc THCS và THPT
Trang 11Không thể dự báo nhu cầu nhân lực của nền kinh tế chưa hẳn là lỗi của riêng ngành Giáo dục, tuy nhiên trong nội bộ ngành cũng không dự báo được nhu cầu giáo viên thì
đó chỉ có thể là sự yếu kém của đội ngũ chuyên viên nghiên cứu Từ những phân tích trên đây, có thể thấy nguyên nhân của các nguyên nhân nằm ở con người, ở đội ngũ lãnh đạo, chuyên viên ngành Giáo dục Không ít cán bộ có vấn đề cả về chuyên môn, nghiệp vụ lẫn tâm đức đang khiến Giáo dục trở thành nỗi bức xúc của toàn xã hội Có thể vấn đề của ngành Giáo dục cũng là vấn đề của các ngành khác, dù tồn tại “một bộ phận không nhỏ cán bộ thoái hóa, biến chất, cục bộ, tham nhũng…” nhưng vẫn không biết “nằm ở đâu” Như vậy, nếu không thay đổi cách thức chỉ đạo, điều hành, không thay đổi các cá nhân chịu trách nhiệm, khó mà có thể đưa giáo dục thoát khỏi tình trạng tụt hậu
2 Cải cách giáo dục ở bậc mẫu giáo và tiểu học là trọng tâm
2.1 Cải cách giáo dục ở bậc mẫu giáo và tiểu học là trọng tâm của mô hình cải cách giáo dục:
Để lý giải cho việc này xin tạm so sánh hình ảnh giáo dục với hình ảnh của một cái cây và việc xây dựng một cây nhà Một cái cây khỏe mạnh và vươn cao thì cần một cái gốc to lớn với bộ rễ dài bám sâu vào lòng đất để hút lấy nước và chất dinh dưỡng, muốn xây một một căn nhà vững chải thì người ta cần xây dựng một bộ móng vững chắc Một nền giao dục bền vững và khỏe mạnh cũng như vậy, giáo dục mẫu giáo và tiểu học là cái gốc, cái nền tảng cho sự phát triển của toàn bộ nền giáo dục bởi một con người được tiếp xúc đầu tiên với nền giáo dục là ở hai bậc giáo dục này
Mặt khác trong tình hình giáo dục ở đất nước ta hiện nay, việc cải cách ở hai bậc này là khả thi nhất bởi nó không chịu quá nhiều sự ảnh hưởng từ hệ thống giáo dục cũ,
Trang 12không dẫn đến tình trạng một học sinh chịu sự ảnh hưởng của cả hai hệ thống giáo dục
cũ và mới và làm cho việc tiếp nhận hệ thống giáo dục mới trở nên dễ dàng hơn Bên cạnh đó, việc lựa chọn cải cách từ hai bậc này giúp cho việc áp dụng hệ thống giáo dục mới trở nên dễ dàng và hoàn thiện hơn, theo đúng quy trình của tự nhiên là thay đổi, phát triển từ thấp lên cao, từ gốc đến ngọn Như vậy việc cải cách giáo dục mới thực
sự khoa học, hợp lý và toàn diện
2.2 Cải cách giáo dục ở mẫu giáo, tiểu học để trẻ được phát triển một cách tự nhiên và phát triển nhân cách của bản thân:
Mục đích của giáo dục là để đào tạo những con người cho xã hội Một con người muốn có ích cho xã hội thì người đó phải có một nhân cách tốt và phải làm được việc cho xã hội Và cả hai yêu cầu trên muốn thực hiện được thì phải phụ thuộc vào nền giáo dục
a Những cải cách ở mẫu giáo:
- Nhân cách của con người được hình thành từ rất sớm, trẻ em học mọi thứ thông qua những người mà các em tiếp xúc trong cuộc sống thường ngày Đây là một hành
vi hoàn toàn bình thường ở trẻ em, và đối với trẻ em trong thời đại hiện nay thì môi trường các em được tiếp xúc nhiều nhất ở độ tuổi của các em là trường học và trường mẫu giáo là sự tiếp xúc đầu tiên của các em với giáo dục Sự tác động của giáo dục ở môi trường mẫu giáo lên các em là rất lớn, vì vậy việc chú trọng hình thành và phát triển nhân cách cho các em là rất quan trọng Và quan trọng hơn khi nền giáo dục hiện nay của chúng ta vẫn còn quá chú trọng vào kiến thức mà lơ là việc giáo dục nhân cách cho trẻ em Hay nói cách khác chúng ta đã đi sai một phần trong việc giáo dục nhân cách một cách quá hình thức, thông qua sách đạo đức.v.v
- Khoa học đã chứng minh được ở độ tuổi của trẻ em việc hình thành nhân cách không chỉ bởi lời nói đơn thuần của người lớn mà còn thông qua việc bắt chước các hành vi của những người xung quanh Vậy phải giáo dục nhân cách một cách thế nào mới hiệu quả? Cách giáo dục nhân cách cho trẻ của nước Nhật, một nước với nền văn hóa có nhiều điểm chung với nước ta là một ví dụ đáng học hỏi:
Trang 13“Cách người Nhật giáo dục trẻ em” 2
Qua quá trình các bé ngày ngày chăm sóc thú cưng của mình, chơi đùa, trò chuyện, cho ăn, dọn chuồng… đặc biệt những khi thú bị ốm, tình cảm của các bé với các loài động vật sẽ dần được hình thành Sau đó, cô giáo chỉ cần nói rất ít về tình yêu thương động vật mà trẻ vẫn hiểu được một cách sâu sắc
Để giúp trẻ hiểu rằng không nên lãng phí đồ ăn, cô giáo không giảng “một hạt thóc vàng chín hạt mồ hôi, nên các em không được lãng phí…” Các bé được trực tiếp trồng lúa hoặc các loại rau củ trong vườn cây hoặc bồn hoa của trường Các bé sẽ tự reo hạt, chăm sóc, cho tới thu hoạch, tất nhiên là vẫn dưới có giáo viên hướng dẫn nhưng chủ yếu là các bé tự làm
Qua đó, trẻ hiểu được để làm ra được một củ cải hoặc một củ khoai cho các bé
ăn, các bác nông dân đã vất vả như thế nào
Chơi… là chính
Hàng ngày, các bé đến trường học từ 9h sáng cho tới 2h chiều, và hầu hết thời gian của trẻ ở trường là để… chơi Chỉ có 30 phút trước khi ra về là giờ hát tập thể và nghe cô giáo kể chuyện
Toàn bộ thời gian còn lại, các bé có thể chơi bất cứ trò gì mình thích trong khuôn viên nhà trường Trong trường, có rất nhiều thứ để chơi, từ trong nhà ra đến ngoài sân, ở ngoài sân có bãi cát, xích đu, cầu trượt, dây leo… còn trong nhà có các loại nhạc cụ, đồ chơi, gỗ, gối, gấu bông, búp bê, chăn, chiếu, băng dính, giấy màu…
2 co-diem-gi-khac-voi-chung-ta.html - Bài viết: Cùng tìm hiểu xem phương pháp giáo
Trang 14http://mecuti.vn/cung-tim-hieu-xem-phuong-phap-giao-duc-tre-em-cua-nguoi-nhat-Rất nhiều thứ để chơi, và những loại đồ chơi này đều có đặc điểm chung là giúp trẻ phát triển trí thông minh và khả năng sáng tạo Trẻ sẽ phải suy nghĩ, tìm tòi cách chơi, cách kết hợp những thứ có sẵn trong lớp học hoặc ngoài sân để có được những trò chơi thú vị
Các bé được tự do chơi và làm thứ mình thích Các cô giáo hoàn toàn không can thiệp vào quá trình vui chơi của trẻ, chỉ đứng từ xa quan sát và hỗ trợ khi cần thiết Một nhóm đi đào đất, xây hầm, xây nhà Một nhóm khác bày biện các dụng cụ và chạy nhảy ngoài sân
Có bé chơi xích đu, nhào lộn hoặc đu xà… Có bé chơi với búp bê… Có bé chơi đàn, đánh trống… Nhờ đó, trẻ được phát triển một cách tự nhiên, sở thích, năng khiếu, đam mê và khả năng tiềm ẩn của từng bé sẽ dần bộc lộ và phát triển Cô giáo sẽ ghi chép lại những điều này và trao đổi với phụ huynh, từ đó giúp cho việc định hướng nghề nghiệp của trẻ sau này.”
- Từ cách làm của người Nhật ta có thể thấy việc giáo dục nhân cách cho trẻ em phải theo một hướng đi phù hợp với sự phát triển tự nhiên của các em, việc phát triển
về nhân cách của các em bên cạnh sự tác động của giáo viên còn thông qua từng hoạt động cụ thể mà các em được trải nghiệm, được tiếp xúc Qua đó nhân cách của các em được hình thành một cách tự nhiên nhất Trường học trở thành một sân chơi để đáp ứng được nhu cầu tự nhiên của các em ở lứa tuổi này là chơi và thông qua việc chơi
mà các em tiếp thu một cách nhanh chóng nhất
- Như vậy, để thay cải cách giáo dục về ở bậc mẫu giáo ở nước ta cần thực hiện những công việc sau:
+ Thay đổi tính chất của trường mẫu giáo vốn được hiểu theo cách hiện nay là một nơi giữ trẻ thay cho phụ huynh khi đi làm
+ Đồng thời bãi bỏ ngay việc bắt các em phải học trước các môn học ở tiểu học như toán, tiếng việt bởi đây là nhiệm vụ của bậc tiểu học, việc dạy trước cho các em sẽ khiến việc đào tạo ở bậc tiểu học trở nên thừa Một điều quan trọng nửa là việc dạy trước khi vào tiểu học đôi khi không phù hợp đối với mức độ nhận thức của các em lúc này khi não bộ của một số trẻ chưa phát triển đến mức phù hợp để học những kiến thức này, điều đó dễ dẫn đến tình trạng không tiếp thu được kiến thức và dần trở nên
sợ việc học
Trang 15+ Môi trường mẫu giáo cần phải là môi trường giúp cho các em trên con đường hoàn thiện về nhân cách, rèn cho các em tính kỷ luật và trách nhiệm Bên cạnh đó môi trường mẫu giáo còn là nơi dạy cho các em cách chăm sóc chính bản thân mình như các kỹ năng gấp áo quần, sắp xếp đồ vật, dọn dẹp v.v Đồng thời đây phải là môi trường tạo điều kiện cho các em được tham gia các hoạt động ngoại khóa, thể thao, văn nghệ nhằm tạo cho các em có được thật nhiều trải nghiệm khác nhau
b Về những cải cách ở bậc Tiểu học:
- Tiểu học là nơi các em học sinh thực sự được tiếp xúc với những kiến thức cơ bản đầu tiên Đây cũng là khoảng thời gian thông thường các em sẽ bộc lộ được những khả năng của bản thân mình
- Vậy muốn cải cách thì trước tiên hệ thống giáo dục ở bậc tiểu học cần phải có
sự định hình lại triết lý giáo dục của mình và xác định lại nhiệm vụ của mình trong giai đoạn này Đó là phải tôn trọng sự đa dạng trong khả năng của con người và giáo dục là để phát triển khả năng của mỗi người thêm vào đó phải mang tính truyền cảm hứng cho người học chứ không phải quy tất cả về một tiêu chuẩn chung để đánh giá như trong hệ thống giáo dục hiện tại của Việt Nam Ở khía cạnh này hãy tham khảo triết lý tiến bộ của nền giáo dục Phần Lan:
người Những người làm chính sách giáo dục của Phần Lan tin rằng bất kỳ ai cũng mang trong mình những giá trị có thể đóng góp cho xã hội Mục đích của giáo dục, không phải là đưa con người vào một khung khổ, mà là giúp học viên phát hiện và phát huy tố chất vốn có của bản thân Do đó trường học là nơi rất bình đẳng, mọi học sinh đều hưởng những cơ hội ngang nhau, để trẻ tự do phát triển cá tính, nguyện vọng
và tài năng.”
- Bên cạnh việc cải cách trong triết lí giáo dục, mục đích giáo dục thì việc thay đổi chương trình giảng dạy là vô cùng cần thiết bởi sự đổi mới về tư duy giáo dục mà
3 http://content.time.com/time/magazine/article/0,9171,2062465,00.html – Bài viết:
Finnishing School - How an anti Tiger Mother approach to education helps Finland
turn out a better-than-average workforce – Tác giả: Joshua Levine - Tờ Time ngày 11/4/2011
Trang 16không đi kèm với chương trình giáo dục sẽ thật vô nghĩa Chương trình giáo dục cải cách sẽ bao gồm 3 nội dung chính đó là:
+ Những kiến thức nền tảng cơ bản nhất về tự nhiên và xã hội;
+ Các kỹ năng sống cần thiết và các kỹ năng để phát triển bản thân;
Tuy nhiên cần chú ý tới việc để học sinh tiếp cận những vấn đề này ở mức độ tìm hiểu sơ lược về vấn đề Tuyệt đối không được bắt học sinh tìm hiểu chuyên sâu hay phải học thuộc những định nghĩa, khái niệm khô khan Việc cho học sinh biết được những kiến thức này nhằm khơi gợi sự tò mò, yêu thích tìm hiểu về những gì diễn ra xung quanh mình Những kiến thức được đưa vào quá trình giảng dạy nên là những kiến thức gần gũi nhất và diễn ra hàng ngày trong cuộc sống của học sinh
Về vấn đề giáo dục đạo đức và văn hóa, cần cho học sinh tiếp cận những vấn đề này một cách nhẹ nhàng thông qua các câu chuyện cổ tích, câu chuyện dân gian trong
và ngoài nước Từ những câu chuyện này giáo viên sẽ gợi mở cho học sinh chia làm các nhóm thảo luận với nhau , sau đó các nhóm sẽ nêu ra ý kiến, cảm nhận của mình
và nhiệm vụ của giáo viên là tổng kết lại ý kiến và giảng giải các vấn đề Tiếp theo,
Trang 17học sinh sẽ được giáo viên hướng dẫn cách viết ra những suy nghĩ của mình về vấn đề được nêu ra và trình bày nó
Trong chương trình cải cách này cũng nhận thấy việc cần thiết đối với việc bỏ môn đạo đức hay giáo dục công dân vì việc giáo dục về đạo đức và giáo dục công dân
đã được lồng ghép trong kiến thức của các môn học khác và trong quá trình học tập hàng ngày của trẻ
Ở độ tuổi này cũng là độ tuổi cần cho trẻ được tiếp xúc với ngoại ngữ, nhưng cần tạo điều kiện cho trẻ được tiếp xúc với các ngoại ngữ khác nhau thông qua việc mỗi tuần dành ra một tiết để giới thiệu cho trẻ về các nền văn hóa khác nhau Từ đó khi trẻ được bắt đầu tiếp xúc với các nền văn hóa khác nhau sẽ dần khiến trẻ có đam mê về văn hóa và đồng thời là ngôn ngữ của nền văn hóa đó Một khi đã yêu thích thì thúc đẩy các em tìm hiểu và sinh ra nhu cầu muốn học ngôn ngữ của nền văn hóa mà các
em yêu thích Tuy nhiên muốn làm được điều này cần một quá trình lâu dài và cần một đội ngũ giáo viên có kiến thức về từng loại ngôn ngữ hùng hậu Như vậy trong tình hình hiện nay cần giới hạn lại và cho các em tiếp xúc, tìm hiểu về các nền văn hóa và ngôn ngữ phổ biến Kết hợp với đó là việc giảng dạy những ngoại ngữ này Việc dạy các ngôn ngữ này nên kết hợp với các trung tâm giáo dục bên ngoài để giảm tải cho giáo viên
- Về việc dạy các kỹ năng sống và kỹ năng phát triển bản thân:
Với mục đích đào tạo để trẻ có những kỹ năng cần thiết trong quá trình hoàn thiện bản thân mình đồng thời áp dụng những kỹ năng này vào đời sống, công việc hàng ngày thì việc dạy kỹ năng sống cần:
Việc dạy về những kỹ năng này cần nói không với việc dạy lý thuyết mà không
có thực hành Đồng thời là sự kết hợp giữa việc học các kỹ năng này là các hoạt động ngoại khóa và có sự ứng dụng vào các tình huống trên thực tế Tuy nhiên, các kỹ năng này phải phù hợp với từng đối tượng khác nhau Điều quan trọng nhất là việc dạy các
kỹ năng này phải đảm bảo được sự an toàn cho học sinh
Các kỹ năng để phát triển bản thân như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng xử lý các vấn đề v.v không những được áp dụng trong các buổi ngoại khóa mà còn cần tạo điều kiện cho các em có thể lồng ghép trong các môn học về kiến thức cơ bản ví dụ như: khi trẻ được yêu cầu làm việc theo nhóm, nói lên quan điểm của mình
Trang 18- Về việc giáo dục thể chất và nghệ thuật:
Đối với việc giáo dục thể chất là bắt buộc đối với toàn bộ học sinh nhưng phải để các em tự lựa chọn môn thể thao mà mình cảm thấy ưa thích, thú vị và phù hợp với các
em Không được ép buộc các em phải học những môn thể thao mà các em không thích Đối với những em chưa có sự lựa chọn thì giáo viên căn cứ vào hồ sơ của những em học sinh đó từ mẫu giáo mà có sự định hướng phù hợp nhất cho các em rèn luyện Tương tự đối với hoạt động nghệ thuật, cần phát huy tính sáng tạo tự do của các
em trong lĩnh vực này và giáo viên phụ trách hoạt động này không được quyền phán xét các em mà chỉ có quyền đưa ra các gợi ý Mặt khác việc làm phong phú nội dung các bộ môn nghệ thuật là hết sức cần thiết, bên cạnh âm nhạc và mỹ thuật, cần phải thêm các bộ môn khác như múa, diễn kịch, thơ.v.v Tạo điều kiện tối đa cho học sinh được phát huy tài năng của mình
Một vấn đề quan trọng khác là học sinh được quyền đổi môn khi cảm thấy không phù hợp hoặc muốn trải nghiệm nhiều hơn
- Thông qua giáo dục thay đổi quan điểm về cách nhìn nhận các công việc trong
xã hội:
Bên cạnh 3 nội dung chính của hệ thống giáo dục ở tiểu học thì giáo dục tiểu học cần phải cho học sinh được tiếp xúc với các ngành nghề khác nhau trong xã hội, tạo ra các chương trình cho học sinh vừa có cơ hội tiếp cận các ngành nghề này một cách phù hợp với các em theo xu hướng vừa chơi, vừa học
Đồng thời giáo viên phải thông qua các hoạt động này giúp cho học sinh hiểu rõ tầm quan trọng của từng công việc đối với xã hội và nêu cao tinh thần: Mọi công việc
có ích cho xã hội đều cao quý và xứng đáng nhận được sự kính trọng Không có công việc nào là thấp hèn
- Cải cách về phương pháp giảng dạy: Triết lí đúng, chương trình hay nhưng phương pháp dạy không đúng thì công cuộc cải cách cũng sẽ không đem lại kết quả Giáo dục phải có những phương pháp giảng dạy đúng đắn thì mới đem lại hiệu quả
Mà trước tiên giáo dục tiểu học nói chung và giáo dục nói riêng phải có sự thay đổi đó
là chuyển từ phương pháp dạy để thi sang phương pháp dạy để học, dạy cách học và gợi mở cho học sinh cảm hứng học
Dưới đây là một ví dụ về phương pháp giảng dạy của Phần Lan:
Trang 19"It's a different way of conceptualizing math when you do it this way instead of
teaches the same group of children straight through from third to sixth grade Educators in Sweden, not Finland, came up with the concept of "outside math," but Harjula didn't have to get anybody's approval to borrow it He can pretty much do whatever he wants, provided that his students meet the very general objectives of the core curriculum set by Finland's National Board of Education For math, the latest national core curriculum runs just under 10 pages (up from 3½ pages for the previous core curriculum)
(4) Lấy một tiết học Toán ở trường Kallahti ngoại ô Helsinki làm ví dụ Những đứa trẻ 9 tuổi ngồi tựa lưng vào nhau trên sân trường dùng những que củi nhỏ, quả thông, hòn đá và trái cây để xếp thành các dạng hình học mà giáo viên yêu cầu
“Tác giả” của những “tác phẩm sắp đặt” này sẽ mô tả trước lớp bằng những thuật ngữ toán hình học để các bạn trong lớp cùng hiểu rõ Veli-Matti Harjula, giáo viên của Trường, cho biết chương trình học rất nhẹ, giáo án môn Toán mà Bộ Giáo dục Phần Lan áp dụng cho cả nước chỉ dài chưa đến 10 trang giấy A4
Bên cạnh đó cần nhìn nhận rằng không có một phương pháp giảng dạy nào là phù hợp hết đối với tất cả học sinh Một phương pháp giảng dạy có thể hay đối với học sinh này nhưng hoàn toàn có thể trở nên dở đối với học sinh kia Vì vậy cần trao cho giáo viên được quyền tự do lựa chọn phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp nhất với từng học sinh của mình Giống như ở Phần Lan:
pháp phù hợp riêng và mỗi giáo viên cũng có cách riêng để dạy học trò của mình một
4http://content.time.com/time/magazine/article/0,9171,2062465,00.html – Bài viết:
Finnishing School - How an anti Tiger Mother approach to education helps Finland
turn out a better-than-average workforce – Tác giả: Joshua Levine - Tờ Time ngày 11/4/2011
5 http://www.tritri.org/day-tre-sang-tao-theo-phuong-phap-giao-duc-cua-phan-lan - Bài viết:
Dạy trẻ sáng tạo theo phương pháp giáo dục của Phần Lan
Trang 20cách tốt nhất Thế nên chính sách giáo dục không khắt khe về mặt quy định nội dung, phương pháp hay áp đặt yêu cầu ngặt nghèo với thầy, cô giáo Thay vào đó, Quốc hội thiết lập những nguyên tắc cơ bản của chính sách giáo dục Nhiệm vụ của chính phủ
là cung cấp kinh phí cho các trường học và thông qua Bộ Giáo dục ban hành những chính sách về giáo dục Ban Giáo dục Quốc gia tổ chức vạch ra chương trình giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cung cấp các dịch vụ liên quan Nhìn chung, cũng như vai trò của giáo viên đối với học sinh, vai trò của nhà nước đối với ngành giáo dục là hướng dẫn và hỗ trợ hơn là cai quản.”
Mục tiêu của mô hình cải cách này còn hướng tới việc gợi mở cho các em niềm đam mê học hỏi và sáng tạo nên cần phải tạo điều kiện hết sức cho các em được học kiến thức một cách gián tiếp thông qua các hoạt động bên ngoài, kích thích sự tò mò của các em để các em có thể tự đi tìm hiểu các vấn đề mà các em yêu thích Việc gợi
mở ở đây không chỉ dừng lại ở các hoạt động ngoại khóa như đi dã ngoại, đi căm trại hay thăm quan bảo tàng như cách hiểu thông thường Việc gợi mở cho các em còn phải mở rộng ra như cho các em được trải nghiệm mô phỏng một số công việc ngoài
xã hội như cho các em một ngày làm một người nông dân, bác sĩ, kỹ sư, đầu bếp, giáo viên.v.v Cho các em tiếp xúc với những công việc này sẽ làm cho các em dần tự định hình được xu hướng phát triển bản thân và niềm yêu thích nghề nghiệp tương lai cho chính bản thân mình
Ngoài ra, những giáo viên còn có thể áp dụng các phương pháp hiện đại cho những môn học vốn bị coi là khô khan nhàm chán như lịch sử Một dân tộc không thể phát triển đúng đắn được nếu không biết được lịch sử của dân tộc mình, quên đi mình
là ai Hay nói cách khác, một nhiệm vụ nửa của nền giáo dục tiểu học là cần định hình trong các em tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước thông qua lịch sử
Nhưng không có nghĩa là bắt các em phải ngồi trong những lớp học truyền thống, nhồi nhét trong đầu các em hàng đống kiến thức sách vở vô hồn hay những con số dài
vô tận và đôi khi là vô nghĩa đói với các em Ở độ tuổi các em không thể tiếp nhận nổi những kiến thức mang tính hàn lâm như vậy Muốn cho các em hiểu được lịch sử thì cần cho các em tiếp cận với lịch sử thông qua những câu chuyện lịch sử hấp dẫn, thông qua những tranh ảnh sinh động hay những đoạn video hoạt hình về lịch sử Lịch
sử phải đến với các em một cách gần gũi và thân thiện nhất và mỗi giờ học lịch sử đem
Trang 21đến cho các em những bài học không chỉ về kiến thức thông thường mà còn là những bài học đạo đức Nghĩa là việc giáo dục về lịch sử trong thời kỳ này sẽ mang tính chất cho các em những hiểu biết chung, đơn giản và kích thích trí tò mò tự tìm hiểu của các
em
c Cải cách về môi trường học tập ở bậc giáo dục mầm non và tiểu học:
Việc tổ chức môi trường học tập theo kiểu quân đội hay hành chính, hoặc công ty
là việc tổ chức môi trường không hợp lý ở độ tuổi các em Cần tạo ra một môi trường giáo dục thực sự bình đẳng, nghĩa là phải bãi bỏ cách tổ chức theo kiểu lớp trưởng, lớp phó, tổ trưởng như ở các lớp học của chúng ta hiện nay Bởi chỉ khi trong một môi trường giáo dục bình đẳng, các em học sinh cảm thấy được mình đều có vai trò quan trọng trong lớp, không hơn, không thua ai thì các em mới có đủ tự tin để phát huy tối
đa tiềm lực của mình Đồng thời tạo cho các em tính trách nhiệm trong việc quản lý lớp, nghĩa là các em ai cũng có trách nhiệm quản lý và phát triển tập thể của mình, có quyền tự do đề xuất ý kiến chứ không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ ai
Vì vậy cần hướng tới một mô hình dân chủ trong lớp học, không có lớp trưởng – lớp phó, mà trách nhiệm quản lý chung sẽ thuộc về toàn bộ học sinh trong lớp Và khi
có công việc, hoạt động trong lớp thì giáo viên sẽ là người hướng dẫn cho học sinh thảo luận các vấn đề chung với nhau, trong quá trình thảo luận là lúc áp dụng các kỹ năng được đề cập ở trên Sau khi thảo luận xong, học sinh sẽ thống nhất với nhau cùng bầu chọn ra một bạn làm Phát ngôn viên đề xuất các ý kiến của mình lên cho giáo viên Phát ngôn viên của mỗi lần phải là một người khác nhau và không được lặp lại Giáo viên có nhiệm vụ xem xét và cho ý kiến, quan điểm của mình, còn việc quyết định thực hiện vẫn ở học sinh
2.3 Cải cách giáo dục ở mầm non, tiểu học hướng đến học sinh, theo dõi và nắm bắt
sự phát triển của học sinh Đánh giá học sinh thông qua sự phát triển của cá nhân chứ không thông qua thành tích:
- Để giáo dục một học sinh và giúp cho học sinh phát triển tối đa năng lực của mình thì cần phải có sự theo dõi, nắm bắt sự phát triển qua từng giai đoạn của các em thông qua các số liệu để dựa vào đó có chiến lược phát triển các em một cách phù hợp
Để làm được điều này cần phải hội tụ hai điều kiện sau:
Trang 22a Thay đổi trong cách đánh giá học sinh:
Trước đây cũng như hiện nay việc đi theo hệ thống đánh giá học sinh theo điểm
số vô tình dẫn đến tình trạng chạy theo thành tích, cạnh tranh một cách vô cùng gay gắt với nhau Làm động lực cho sự so bì giữa học sinh, phụ huynh và giáo viên, tạo ra những tiêu cực cho xã hội Tuy nhiên đây không phải đây là tình trạng riêng của nước
ta mà là còn là tình trạng chung của các nền giáo dục trong khu vực
thua kém ngay từ vạch xuất phát, chỉ lo đưa con vào học trường nổi tiếng, bắt con học kiểu nhồi vịt khi chúng còn bé tẹo Người ta quá say sưa với những cuộc thi kiến thức, buộc tâm hồn trong trắng thơ ngây của lũ trẻ phải nhồi nhét bao nhiêu kiến thức thế gian người lớn từ cổ Hy Lạp tới hậu hiện đại mà chẳng biết có trau dồi được chút đầu
óc sáng tạo nào cho chúng hay không Cha mẹ đua nhau dạy con từ khi còn là bào thai, đưa con vào lớp năng khiếu từ tuổi mẫu giáo, thi HS giỏi, thi Olympic, học thêm, học hè Tư duy ấy làm họ hao tổn công của, chỉ làm mồi cho bao kẻ cơ hội vớ bẫm bằng cách mở các trường lớp nhắm vào nhu cầu của họ Cả xã hội lao vào thi cử, học
để mà thi, cho nên học vẹt chứ không phải học để có năng lực sáng tạo HS chấp nhận mọi kiến thức được dạy mà không dám nghi ngờ, phản biện
Cần phải thấy quan niệm không để con em thua kém ngay từ vạch xuất phát là có hại cho sự trưởng thành của trẻ em Mục đích của giáo dục phổ thông là trau dồi luân lý đạo đức, gợi mở tri thức Một nền giáo dục quá chú trọng điểm số và cạnh tranh sẽ chỉ làm tổn thương trí tuệ và tâm hồn thuần khiết của trẻ em Thật đáng thương những đứa trẻ thơ ngây hết cặm cụi học ở trường lại vùi đầu làm bài tập ở nhà, không còn thời gian rảnh rỗi, lúc nào cũng sống trong sức ép căng thẳng do người lớn tạo ra Học tập đáng lẽ là niềm vui lại trở thành gánh nặng, thành nỗi lo âu, thâm chí sợ hãi của chúng Điều đó không thể không ảnh hưởng tới sự phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ.”
6
http://petrotimes.vn/giao-duc-chau-a-van-nang-ne-voi-cai-cap-qua-kho-308276.html - Bài viết: Giáo dục châu Á vẫn nặng nề với cái cặp quá khổ - Tác giả: M Kim – Theo nguồn: Năng lượng mới – Báo Petro ngày 28/7/2015
Trang 23Chính vì thực trạng nêu trên mà muốn cuộc cải cách có hiệu quả, nền giáo dục của chúng ta phải thay đổi cách đánh giá học sinh Mà trước tiên là cần bãi bỏ cách đánh giá học sinh theo xếp hạng, thang điểm Giáo dục là để dạy cho học sinh cách học và phát triển bản thân học sinh chứ không phải là một cuộc thi thố mà cần phải có
sự xếp hạng
Thay đổi cách đánh giá học sinh cần theo hướng đánh giá sự phát triển của học sinh qua từng giai đoạn Quan sát và ghi nhận những sự tiến bộ theo thời gian của học sinh Theo dõi những thay đổi trong suy nghĩ và hành vi của các em Từ đó tổng hợp thành một cơ sở dữ liệu để giáo viên, gia đình và nhà trường có những giải pháp phù hợp để phát triển ưu điểm và khắc phục nhược điểm của em
Vẫn sẽ có thang điểm để đánh giá theo chữ số nhưng thang điểm này là thang điểm đánh giá độ tiến bộ của các em chứ không phải thang điểm đánh giá khả năng học sinh như trong hệ thống giáo dục hiện tại Thang điểm này sẽ dựa theo bảng chữ cái alphabet, từ A- F tương ứng với độ phát triển của các em Và thang điểm này sẽ được giáo viên giữ kín và lưu vào hồ sơ học sinh để báo cáo với gia đình nhằm hợp tác với gia đình trong việc giáo dục học sinh
Bên cạnh thang điểm đánh giá độ phát triển của học sinh cần thêm một bảng đánh giá sự thay đổi trong tâm sinh lý của các em Đây là một đề xuất phù hợp để bổ trợ thêm cho việc giáo dục các em vì trong độ tuổi này nhất là từ lớp 4 lên lớp 5, lớp 6
là độ tuổi có những thay đổi trong tâm lý của các em rất lớn
Đồng thời, để việc đánh giá học sinh được chính xác thì việc đánh giá học sinh phải thông qua cả quá trình học tập chứ không phải chỉ thông qua kết quả thi cử như trong hệ thống giáo dục hiện tại Để thực hiện được điều này cần phải cải cách lại toàn
bộ hệ thống thi cử cho phù hợp với mô hình này Việc thi cử quá nhiều như hiện nay khiến cho học sinh thì cảm thấy quá áp lực còn giáo viên thì không đủ thời gian để truyền tải kiến thức cho học sinh vì phải liên tục bắt học sinh ôn thi Với hệ thống thi
cử như vậy sẽ không thể đánh giá đúng năng lực học sinh Những cải cách về hệ thống thi cử như thế nào sẽ được đề cập ở phần …
b Thay đổi trong cách tổ chức lớp học:
Một lớp học quá ít học sinh thì sẽ không tạo cho các em được tính cộng đồng, nhưng một lớp học quá đông lại khiến cho công tác quản lý, quan tâm, theo dõi học
Trang 24sinh trở nên vô cùng khó khăn và không đạt được hiệu quả Đồng thời với việc thay đổi liên tục giáo viên chủ nhiệm qua từng năm như hiện nay cũng gây khó khăn cho việc đánh giá đúng đắn sự phát triển của học sinh qua các giai đoạn khác nhau, từ đó không thể giúp các em phát huy được tiềm năng của mình hiệu quả đồng thời khó nắm bắt được những sự thay đổi trong tâm sinh lý của các em
Chính vì vậy việc thay đổi lại cách tổ chức lớp học là hết sức cần thiết để phù hợp với quá trình cải cách giáo dục
Trước tiên là ở số lượng học sinh trong một lớp học nên giới hạn ở con số từ 18 đến 20 em học sinh một lớp để các em có sự tương tác với nhau một cách đa dạng và giáo viên có thể theo dõi, quan sát và chăm sóc được các em
Đồng thời về mặt giáo viên, trong một lớp nên có 2 giáo viên để có thể có sự tương tác, quản lý, theo dõi và định hướng chung một cách hiệu quả đối với học sinh Những giáo viên này sẽ đồng hành cùng các em từ lớp 1 đến lớp 5, như vậy giáo viên
sẽ có nhiều thời gian hơn trong việc tiếp xúc với các học sinh của mình, nắm bắt được tâm lý, sở thích, nguyện vọng của học sinh Việc gắn kết với học sinh trong suốt 5 năm tiểu học cũng tạo mối liên kết giữa giáo viên và học sinh và giảm khoảng cách Giáo viên sẽ có cơ hội trở thành người thân và làm bạn được với học sinh Tất cả những điều đó tạo ra cơ sở, điều kiện tốt nhất cho việc tìm ra phương án phù hợp nhằm phát huy tiềm năng của từng học sinh
Bên cạnh đó việc phân bố giờ giấc trong một ngày cho phù hợp với việc đào tạo cũng rất quan trọng Nên sắp xếp, phân bố thời gian biểu xen kẽ giữa học văn hóa, kiến thức với các tiết học kỹ năng sống Cần phân bố thời gian cho việc học các tiết học văn hóa, kiến thức và kỹ năng sống vào buổi sang và các tiết học về các hoạt động thể thao, nghệ thuật sẽ được phân bố vào buổi chiều Sau khi lịch học kết thúc trong ngày, thời gian còn lại học sinh được về lớp và tham gia các hoạt động vui chơi với bạn bè trong lớp
Đồng thời căn cứ vào tình hình ở Việt Nam hiện tại, các bậc phụ huynh trong xã hội Việt Nam, đang chịu áp lực của công việc, không có thời gian cho việc chăm sóc, đưa đón con cái Nên mô hình cũng đề xuất việc thay đổi về giờ giấc, thời gian biểu học tập dời giờ tan trường từ 16h lên 17h Sau 17h những phụ huynh có nhu cầu sẽ
Trang 25đăng ký cho con mình ở lại trường vui chơi với bạn bè, giáo viên cho đến khi phụ huynh đến đón
c Thay đổi trong cách đánh giá hiệu quả của giáo viên, của các trường học:
Trong mô hình cải cách này việc so sánh giữa các trường là không cần thiết, tương tự đối với việc so sánh hiệu quả giữa các giáo viên Trong hệ thống này, việc đặt lòng tin vào giáo viên và trường học là hết sức quan trọng Dĩ nhiên niềm tin này là niềm tin hoàn toàn có cơ sở khi dựa trên những cải cách về việc đào tạo giáo viên, nâng cao chất lượng cơ sở vật chất.v.v
“ Ngành giáo dục không làm cái việc đánh giá, xếp hạng chất lượng các trường
Nhờ thế tất cả giáo viên đều rất tự tin, ai cũng tự hào về trường mình Họ giải thích: Nếu thầy cô còn coi thường trường mình thì HS sao có thể tin vào nhà trường?
GS Sahlberg nói: “Rất nhiều quốc gia tiến hành cải cách giáo dục xuất phát từ mặt hành chính, thậm chí tham khảo giới kinh doanh, đưa phương thức vận hành công ty vào áp dụng trong trường học, lập chế độ thưởng phạt Cách làm như thế là không đúng Chúng ta đều biết, trừ khi nhà trường có giáo viên giỏi, trừ khi chúng ta luôn đào tạo chuyên môn cho giáo viên và giúp đỡ họ, trừ khi xã hội biết tôn trọng giáo viên, nếu không thì cải cách giáo dục sẽ không thể thành công”
Tuy nhiên việc không đánh giá hiệu quả giữa các giáo viên, các trường không đồng nghĩa với việc xóa đi tính cạnh tranh để phát triển trong giáo dục Mỗi năm các trường học trong hệ thống cải cách này sẽ có những cuộc thi về văn hóa, văn nghê, thể dục thể thao, kỹ năng và kiến thức với nhau Những cuộc thi này bên cạnh việc tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các trường với nhau còn là nơi để các trường giao lưu, trao đổi và học tập cách giảng dạy của nhau Tương tự là các cuộc thi giữa các lớp trong một trường với nhau
2.4 Cải cách giáo dục ở mầm non và tiểu học cần phải đồng thời với việc bãi bỏ tình trạng dạy thêm, học thêm ở cấp tiểu học:
Một nền giáo dục với những cải cách như trên sẽ không thực sự đạt được những kết quả mong muốn nếu không có sự hợp tác, chung tay của các cơ quan nhà nước và gia đình trong việc chống lại tình trạng dạy thêm, học thêm ở mẫu giáo và tiểu học
Trang 26Theo mô hình cải cách giáo dục này, học sinh đã có thời gian học tập, rèn luyện
và tham gia vào các hoạt đông văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trong môi trường mẫu giáo, tiểu học rồi thì việc bắt học sinh phải học thêm sau giờ học là một sự bóc lột chất xám và sức khỏe của các em dưới danh nghĩa giáo dục Học sinh sau giờ học cần
có thời gian nghỉ ngơi và vui chơi một cách hợp lý Mọi hành vi dạy thêm sau giờ học dưới bất kỳ hình thức hay môn học nào đều cần phải bị nghiêm cấm kể cả việc dạy anh văn hay dạy các môn văn nghệ Bởi như đã nhấn mạnh ở trên, học sinh đã được tiếp cận và rèn luyện ở trong trường học rồi
Bên cạnh đó, việc bãi bỏ bài tập về nhà cũng rất cần thiết, điều đó nhằm giảm áp lực đến mức tối đa cho học sinh, giúp cho học sinh có tâm lý thoải mái khi đến trường
và được dành toàn bộ thời gian sau khi học cho các hoạt động vui chơi lành mạnh Học sinh cần có thời gian nghỉ ngơi và vui chơi bên gia đình, bạn bè và qua đó có thời gian để chiêm nghiệm lại những bài học đã được học trên trường, lớp Giáo dục cần phải đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các em
2.5 Tổng kết và những vấn đề của cải cách giáo dục ở bậc mẫu giáo và tiểu học:
Một nền giáo dục muốn phát triển một cách đúng đắn thì việc coi trọng người học, coi người học là hạt nhân chính của sự nghiệp giáo dục là hết sức quan trọng
(8) “Sự ưu ái HS thể hiện ở chỗ ngành giáo dục phải làm cho nhà trường trở thành thiên đường của trẻ em! Muốn thế người Phần Lan đã hủy bỏ mọi chuyện khiến
lũ trẻ đau đầu nhức óc như cạnh tranh (hoặc dưới mỹ từ “thi đua”), xếp hạng giỏi kém trong học tập và các kỳ sát hạch thi cử Ở cấp tiểu học hoàn toàn không có kiểm tra kiến thức Nhiệm vụ của giáo viên là làm cho HS hào hứng học tập, say mê hiểu biết, quan tâm tập thể và xã hội Tóm lại, HS không phải chịu bất cứ một sức ép nào
Trang 27thành tích trong giáo dục, sự ganh đua vì danh tiếng giữa phụ huynh, giáo viên và nhà trường vẫn rất lớn
Vậy tính khả thi của mô hình cải cách nằm ở đâu trong khi như đã đề cập ở trên
nó liên quan đến rất nhiều yếu tố về gia đình, nhà trường và xã hội?
Tính khả thi của mô hình cải cách nằm ở việc thay đổi trong triết lý giáo dục và thay đổi trong cách đánh giá học sinh Việc đưa triết lí giáo dục là nhằm để phát triển con người, thay đổi trong cách đánh giá từ đánh giá khả năng chuyển sang đánh giá mức độ phát triển và bãi bỏ đi việc xếp hạng sẽ làm giảm đi tính cạnh tranh Đồng thời việc thay đổi ở trên sẽ triệt tiêu đi nhu cầu so sánh giữa người này với người kia khi các bậc phụ huynh chỉ biết được tình hình phát triển của con em mình mà không cần quan tâm đến con cái của hàng xóm, con cái của đồng nghiệp.v.v
Mô hình cải cách bên cạnh đó còn tập trung vào việc phát triển năng lực, tiềm năng của người học mà tiền năng, năng lực của mỗi người thì có sự khác biết rất lớn Dẫn đến việc mất đi các tiêu chí thông thường để so sánh Ví dụ một bà mẹ có con gái giỏi múa và đang tập trung phát triển năng lực múa không thể so sánh gì với một bà
mẹ có con trai giỏi võ và đang phát triển năng lực về võ
Với mô hình này sự thay đổi không chỉ làm thay đổi về phương thức, cách học tập, cách giảng dạy mà mô hình cải cách này còn nhắm đến sự thay đổi trong ý thức của một thế hệ mới Mô hình cải cách này giúp xây dựng một thế hệ có ý thức tốt hơn
và qua đó chúng ta đặt niềm tin vào một thế hệ vàng trong tương lai
Với sự thay đổi trong hệ thống giáo dục ở mẫu giáo và tiểu học, sự thay đổi trong
hệ thống giáo dục ở cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông hay thậm chí là đại học
là điều tất yếu để phù hợp đối với quy luật phát triển chung
3 Cải cách ở bậc Trung học cơ sở và Trung học phổ thông:
3.1 Cải cách ở bậc Trung học cơ sở:
- Triết lý giáo dục đối với bậc giáo dục Trung học cơ sở cần đề cao sự tự do trong việc lựa chọn các môn học
a Về chương trình học:
Trang 28- Chương trình học ở bậc Trung học cơ sở phải dựa trên nền tảng cải cách của hệ thống giáo dục mẫu giáo và tiểu học Nghĩa là việc cải cách Trung học cơ sở phải dựa trên những kết quả của hệ thống giáo dục mẫu giáo và tiểu học Hay nói cách khác hệ thống giáo dục ở bậc THCS là sự kế thừa và tiếp nối của hệ thống giáo dục ở bậc mẫu giáo và tiểu học
- Khác với chương trình giáo dục ở bậc mẫu giáo và tiểu học, chương trình học ở bậc THCS sẽ mang tính phân hóa theo sở thích của học sinh hơn bởi trong quá trình học tiểu học, học sinh đã được trải nghiệm, tiếp xúc với nhiều kiến thức của các lãnh vực khác nhau, có nhiều trải nghiệm Từ đó từ mỗi học sinh sẽ tự hình thành niềm yêu thích, đam mê cho riêng mình và hình thành nên cơ sở để lựa chọn những ngành phù hợp nhất với mình
- Chương trình giáo dục ở bậc THCS sẽ chia làm 3 khối chính bao gồm: Khối khoa học tự nhiên, Khối khoa học xã hội và khối năng khiếu
- Ở các khối này học sinh được tập trung vào khối mà học sinh đã chọn, học sinh
sẽ được học chuyên sâu hơn về kiến thức khối mà mình chọn nhưng đồng thời vẫn đảm bảo được những kiến thức phổ thông của các khối còn lại (trừ khối năng khiếu)
- Một điểm đặc biệt ở hệ thống giáo dục này là đó là việc học sinh có thể nộp đơn xin chuyển đổi từ khối này sang khối kia nếu đáp ứng đủ các yêu cầu đặt ra và hoàn thành bài kiểm tra xem có đủ kiến thức để chuyển khối học Đối với trường hợp học sinh có nguyện vọng chuyển khối học mà không vượt qua các điều kiện nói trên, nhà trường sẽ tạo điều kiện cho học sinh đó học lại từ đầu kiến thức ở khối mà học sinh muốn chuyển nếu được sự chấp nhận của học sinh và phụ huynh
- Đối với khối khoa học tự nhiên: Chương trình giáo dục đối với khối này cần
có sự phân chia thành hai giai đoạn là giai đoạn lớp 6 – lớp 7 và giai đoạn lớp 8 - lớp
9
Bên cạnh đó học sinh học trong khối này được lựa chọn các môn trong khối mà mình yêu thích hơn nhưng phải bắt buộc đi kèm với môn toán, và các lớp học được thành lập dựa trên sự lựa chọn của học sinh Các môn học ở khối này bao gồm: Toán,
Lý, Hóa, Sinh và Tin học Học sinh có quyền lựa chọn vào lớp Toán + một trong 4 môn còn lại Và học sinh sẽ được học chuyên sâu về Toán và môn mình chọn mà không phải học kiến thức của những môn khác