Hiện nay số lượng và chất lượng thí nghiệm thực hành hóa học chưa đáp ứng được yêu cầu của việc dạy học nói chung và đặc biệt là yêu cầu việc đổi mới dạy học nói riêng. Tình trạng đó có thể có nhiều nguyên nhân, phần vì kinh phí cho khu vực này còn hạn hẹp tuy đã có nhiều cố gắng, phần vì quan điểm chưa tích cực của các cấp lãnh đạo địa phương, phần vì thiếu sự tâm huyết của giáo viên giảng dạy Hóa học,… Nên việc sử dụng các phương tiện thiết bị kỹ thuật, máy vi tính cũng như việc cải tiến sáng tạo trong thí nghiệm thực hành hóa học chưa được nâng cao hiệu quả. Như đã phân tích, hiệu quả dạy học còn tùy thuộc vào phương pháp sử dụng các thí nghiệm thực hành hóa học. Nếu một hình ảnh, một thí nghiệm chỉ được sử dụng để minh họa và củng cố những điều giáo viên đã trình bày đầy đủ sẽ hạn chế mất tư duy sáng tạo của học sinh, học sinh hầu như không tiếp thu thêm được gì về mặt kiến thức. Nhưng nếu được sử dụng theo con đường tìm tòi nghiên cứu (khám phá) để đi đến kiến thức cần lĩnh hội (kiến thức mới) sẽ có ý nghĩa khác cơ bản so với loại hình thí nghiệm trên, nó giúp học sinh có điều kiện, cơ hội phát triển tư duy sáng tạo một phẩm chất và năng lực cần có ở con người mới mà nhà trường có trách nhiệm đào tạo. Đi theo con đường này, sau khi đã hiểu được nhiệm vụ cần làm sáng tỏ (mục đích của thí nghiệm) bằng tư duy tích cực, học sinh sẽ hình thành được các giả định (trong nghiên cứu khoa học đây chính là bước xây dựng giả thuyết về vấn đề nghiên cứu) từ sự nảy sinh câu hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu…?”. Câu hỏi được hình thành từ những liên tưởng dựa trên vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của học sinh. Khi giả định được hình thành, trong đó hàm chứa con đường phải giải quyết, học sinh dự kiến kế hoạch giải quyết để chứng minh cho giả định đã nêu. Hai bước nêu giả định và dự kiến kế hoạch giải quyết chứng minh cho giả định là hai bước đòi hỏi tư duy tích cực và sáng tạo. Đây là những cơ hội rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh rất tốt, là giai đoạn tiến hành thí nghiệm tưởng tượng “thí nghiệm trong tư duy” định hướng cho hành động thí nghiệm tiếp theo dựa trên kế hoạch đã được học sinh thiết kế (kế hoạch dự kiến). Cuối cùng, căn cứ vào kết quả của thí nghiệm, học sinh tự rút ra kết luận, học sinh lĩnh hội được kiến thức từ thí nghiệm mà không phải do thầy truyền đạt. Hiện nay hầu hết các bài thực hành thí nghiệm hóa học ở trung học phổ thông trong chương trình và sách giáo khoa được bố trí ở cuối mỗi chương chỉ mang tính chất củng cố minh họa cho các kiến thức lý thuyết đã được trình bày trong các bài học của chương trình dưới hình thức phần lớn là trình bày từng bước cho học sinh. Hơn nữa số tiết thực hành quy định trong chương trình và sách giáo khoa cũng còn rất hạn chế.
Trang 1PHẦN NỘI DUNG
A THỰC TRẠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC Ở NƯỚC TA
1 THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC CỦA GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG THPT
Nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học, nhiều trường trung học phổ thông trong cả nước đã có những cố gắng nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học và đã đạt được những tiến bộ trong việc phát huy tính tích cực của học sinh, nhiều trường trung học phổ thông ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hưng Yên, Vĩnh Phúc đã có nhiều sáng kiến sử dụng thiết bị dạy học để đổi mới phương pháp dạy học
Tuy nhiên, hiện nay mặc dù hầu hết các trường trung học phổ thông đã được trang bị tương đối đầy đủ bộ thiết bị dạy học môn Hóa học tối thiểu của lớp 10, 11, 12 (theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo), nhưng còn rất nhiều trường sử dụng thiết bị dạy học để đổi mới PPGD Hóa học chưa thực sự triệt để và hiệu quả do nhiều nguyên nhân khác nhau Đa số giáo viên vẫn sử dụng nhiều các phương pháp dạy học truyền thống, đặc biệt
là thuyết trình (dạy chay), vì vậy chưa phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh, không nâng cao hiệu quả học tập và do đó không những để lãng phí một khối lượng lớn tiền bạc mua sắm thiết bị dạy và học mà mục tiêu dạy học cũng không đạt được như yêu cầu
Trên thực tế, Hóa học cũng không phải là một môn học đơn giản và dễ hiểu đối với
đa số học sinh Là một môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với sự biến đổi vật chất, gắn
bó mật thiết với đời sống liên quan đến rất nhiều ngành sản xuất mà học sinh chỉ học bằng cách tưởng tượng thông qua lời nói của giáo viên hay nhiều hơn là tranh ảnh thì quả thật
là quá trừu tượng và khó hiểu Vì thế, rất nhiều học sinh thường chưa hứng thú, say mê với Hóa học và đạt điểm tổng kết môn học không cao Thậm chí là có những học sinh học tốt các môn khoa học tự nhiên khác như toán học, vật lý, sinh học cũng có kết quả học tập môn Hóa học không tốt lắm Đây là một hiện tượng minh chứng cho PPGD Hóa học chưa đạt được mục tiêu chung cũng như phản ánh sự đổi mới PPPGD Hóa học chưa đồng bộ,
chưa toàn điện và chưa hiệu quả
2 THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM MÔN HÓA CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT
Hiện nay số lượng và chất lượng thí nghiệm thực hành hóa học chưa đáp ứng được yêu cầu của việc dạy học nói chung và đặc biệt là yêu cầu việc đổi mới dạy học nói riêng Tình trạng đó có thể có nhiều nguyên nhân, phần vì kinh phí cho khu vực này còn hạn hẹp tuy đã có nhiều cố gắng, phần vì quan điểm chưa tích cực của các cấp lãnh đạo địa phương, phần vì thiếu sự tâm huyết của giáo viên giảng dạy Hóa học,… Nên việc sử dụng các phương tiện thiết bị kỹ thuật, máy vi tính cũng như việc cải tiến sáng tạo trong thí nghiệm thực hành hóa học chưa được nâng cao hiệu quả
Như đã phân tích, hiệu quả dạy học còn tùy thuộc vào phương pháp sử dụng các thí nghiệm thực hành hóa học Nếu một hình ảnh, một thí nghiệm chỉ được sử dụng để minh họa và củng cố những điều giáo viên đã trình bày đầy đủ sẽ hạn chế mất tư duy sáng tạo của học sinh, học sinh hầu như không tiếp thu thêm được gì về mặt kiến thức
Trang 22
Nhưng nếu được sử dụng theo con đường tìm tòi nghiên cứu (khám phá) để đi đến kiến thức cần lĩnh hội (kiến thức mới) sẽ có ý nghĩa khác cơ bản so với loại hình thí nghiệm trên, nó giúp học sinh có điều kiện, cơ hội phát triển tư duy sáng tạo - một phẩm chất và năng lực cần có ở con người mới mà nhà trường có trách nhiệm đào tạo
Đi theo con đường này, sau khi đã hiểu được nhiệm vụ cần làm sáng tỏ (mục đích của thí nghiệm) bằng tư duy tích cực, học sinh sẽ hình thành được các giả định (trong nghiên cứu khoa học đây chính là bước xây dựng giả thuyết về vấn đề nghiên cứu) từ sự nảy sinh câu hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu…?” Câu hỏi được hình thành từ những liên tưởng dựa trên vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của học sinh
Khi giả định được hình thành, trong đó hàm chứa con đường phải giải quyết, học sinh dự kiến kế hoạch giải quyết để chứng minh cho giả định đã nêu
Hai bước nêu giả định và dự kiến kế hoạch giải quyết chứng minh cho giả định là hai bước đòi hỏi tư duy tích cực và sáng tạo Đây là những cơ hội rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh rất tốt, là giai đoạn tiến hành thí nghiệm tưởng tượng “thí nghiệm trong tư duy” định hướng cho hành động thí nghiệm tiếp theo dựa trên kế hoạch đã được học sinh thiết kế (kế hoạch dự kiến)
Cuối cùng, căn cứ vào kết quả của thí nghiệm, học sinh tự rút ra kết luận, học sinh lĩnh hội được kiến thức từ thí nghiệm mà không phải do thầy truyền đạt
Hiện nay hầu hết các bài thực hành thí nghiệm hóa học ở trung học phổ thông trong chương trình và sách giáo khoa được bố trí ở cuối mỗi chương chỉ mang tính chất củng cố minh họa cho các kiến thức lý thuyết đã được trình bày trong các bài học của chương trình dưới hình thức phần lớn là trình bày từng bước cho học sinh Hơn nữa số tiết thực hành quy định trong chương trình và sách giáo khoa cũng còn rất hạn chế
B HỆ THỐNG THÍ NGHIỆM Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Thí nghiệm không chỉ là phương tiện, công cụ lao động của hoạt động dạy học mà còn giúp cho quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh đạt hiệu quả cao hơn Thí nghiệm sẽ mang đến cho học sinh lòng tin vào khoa học, kích thích hứng thú học tập và là động cơ học tập đúng đắn, tích cực Đối với môn Hóa học – ngành khoa học thực nghiệm, thí nghiệm được xem là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, hình thành kĩ năng nhận thức và
tư duy kĩ thuật của học sinh
Với vai trò hết sức quan trọng như vậy, thí nghiệm ngày càng được sữ dụng rộng rãi trong các giờ Hóa học Ở trường phổ thông hiện nay sử dụng các hình thức thí nghiệm sau:
Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên
Thí nghiệm của học sinh
Mỗi loại có ưu, nhược điểm và yêu cầu riêng của nó, tuy nhiên đều có mục đích chung là: cụ thể hóa kiến thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thí nghiệm cho học sinh
1 THÍ NGHIỆM BIỂU DIỄN CỦA GIÁO VIÊN
Trong điều kiện trang thiết bị và hóa chất của phòng thí nghiệm ở các trường phổ thông còn thiếu thốn, thí nghiệm biểu diễn của giáo viên có vai trò quan trọng hơn so với các hình thức thí nghiệm khác, do có nhiều ưu điểm hơn
Ưu điểm
Trang 3 Thí nghiệm biểu diễn do giáo viên làm, các thao tác mẫu mực, có tác dụng hình thành kĩ năng thí nghiệm đầu tiên cho học sinh
Một số thí nghiệm không thể cho học sinh làm mà giáo viên phải trực tiếp tiến hành như: thí nghiệm phức tạp, đòi hỏi lượng lớn hóa chất thì mới cho kết quả, hoặc những thí nghiệm có chất độc hại, chất cháy, nổ…
Nhược điểm
Khi giáo viên thực hiện thí nghiệm biểu diễn, các thao tác do giáo viên quyết định, học sinh chỉ theo dõi quan sát quá trình, cho nên khả năng nhận thức của học sinh bị hạn chế Học sinh không được chủ động phân tích những dấu hiệu và hiện tượng cụ thể bằng kinh nghiệm của mình
Những yêu cầu về kĩ thuật
Bảo đảm an toàn cho học sinh và bản thân giáo viên: Muốn làm được điều đó
thì người giáo viên phải kiểm tra kĩ về dụng cụ, hóa chất Luôn giữ hóa chất tinh khiết, dụng cụ sạch sẽ và phù hợp cho từng thí nghiệm Tuyệt đối làm đúng kĩ thuật, bình tĩnh khi tiến hành thí nghiệm thì sẽ không có nguy hiểm gì xảy ra
Bảo đảm thành công: Muốn thí nghiệm thành công đòi hỏi người giáo viên phải
chuẩn bị cẩn thận, làm thử thí nghiệm nhiều lần Ngoài ra muốn có kết quả tốt, giáo viên phải nắm vững kĩ thuật, hơn nữa cần có kĩ năng thành thạo thông qua những kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình giảng dạy Tuyệt đối tránh tình trạng không có kết quả, như thế sẽ ảnh hưởng đến uy tín của giáo viên, lòng tin của học sinh vào khoa học Khi thí nghiệm thất bại, cần tìm hiểu nguyên nhân, đưa ra cách khắc phục, rồi tiến hành lại thí nghiệm
Thí nghiệm rõ ràng: học sinh được quan sát đầy đủ, giáo viên không đứng che
lấp thí nghiệm Kích thước dụng cụ và lượng hóa chất đủ lớn Bàn để biểu diễn phải có độ cao hợp lí, ánh sáng tốt, có phông màu thích hợp
Thí nghiệm đơn giản: dụng cụ thí nghiệm gọn gàng, mỹ thuật và đảm bảo tính
khoa học
Số lượng thí nghiệm vừa phải: Các thí nghiệm được chọn là những thí nghiệm
phục vụ trọng tâm của bài Không nên làm nhiều thí nghiệm, vừa tốn thời gian, vừa loãng
sự chú ý của học sinh
Kết hợp chặt chẽ thí nghiệm với bài giảng: không biểu diễn thí nghiệm nằm
ngoài nội dung chương trình Đồng thời, khi biểu diễn cần phối hợp với lời giảng của giáo viên, làm rõ hơn mục đích thí nghiệm
2 THÍ NGHIỆM CỦA HỌC SINH
Khi chất lượng nền giáo dục được nâng dần lên, phòng thí nghiệm ngày càng được trang bị đầy đủ hơn thì người ta chú ý và khuyến khích áp dụng rộng rãi các hình thức thí nghiệm của học sinh Thí nghiệm của học sinh chia làm ba loại:
2.1 Thí nghiệm nghiên cứu bài mới
Dạng này có ý nghĩa to lớn trong giảng dạy khi nghiên cứu bài mới Là một phương pháp dạy học sinh cách tư duy hợp lí, rèn luyện óc độc lập suy nghĩ, phát triển kĩ năng, kĩ xảo thí nghiệm của học sinh Thí nghiệm của học sinh khi nghiên cứu bài mới có hai hình thức:
Trang 44
Thí nghiệm nghiên cứu: Giáo viên đóng vai trò tổ chức, điều khiển Học sinh
thực hiện thí nghiệm cùng với kiến thức vốn có, suy nghĩ từ đó rút ra kết luận
Thí nghiệm minh họa: Giáo viên trình bày nội dung kiến thức trước, sau đó học
sinh tiến hành thí nghiệm để minh họa, cụ thể kiến thức vừa được thông báo
Loại thí nghiệm này chỉ sử dụng với điều kiện cho phép của trường phổ thông và thường dùng khi dạy học khám phá
2.2 Thí nghiệm thực hành
Đây là hình thức thí nghiệm do học sinh tự làm khi hoàn thiện kiến thức Mục đích
là minh họa, ôn tập, củng cố kiến thức đã học; rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh Thí nghiệm thực hành góp phần vào việc phát triển tư duy, tăng cường hứng thú học tập của các em đối với môn Hóa học
Để thí nghiệm thực hành đạt được những mục đích đề ra cần đảm bảo những yêu cầu sau:
Giờ thí nghiệm thực hành cần được chuẩn bị chu đáo Giáo viên có nhiệm vụ tổ chức học sinh nghiên cứu bảng hướng dẫn thực hành trước khi vào phòng thí nghiệm Giáo viên hoặc nhân viên phòng thí nghiệm chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, hóa chất cho các
em
Các thí nghiệm phải đảm bảo an toàn cho học sinh Thí nghiệm có chất nổ không cho học sinh làm và những thí nghiệm có hơi chất độc chỉ nên cho học sinh thực hành khi phòng thí nghiệm có trang bị tủ hút… Vào phòng thí nghiệm, giáo viên và học sinh đều mặc đồ bảo hộ: găng tay, khẩu trang, áo blouse… tránh độc hại khi tiếp xúc với hóa chất
Các thí nghiệm phải đơn giản nhưng cho hiện tượng rõ ràng, dụng cụ gọn nhẹ, tiết kiệm càng ít hóa chất càng tốt
Thí nghiệm được chọn phải gắn với chương trình học, quan trọng nhất là thí nghiệm có trong sách giáo khoa
Giáo viên luôn theo dõi sát công việc của học sinh, kịp thời giúp đỡ các em khi cần thiết
Học sinh phải cố gắng duy trì trật tự trong lớp, lắng nghe lời chỉ dẫn của giáo viên
2.3 Thí nghiệm ngoại khóa
Là những thí nghiệm như: thí nghiệm vui trong các câu lạc bộ Hóa học, các buổi hội vui về Hóa học và thí nghiệm thực hành ở nhà của học sinh… Loại thí nghiệm này cũng có tác dụng nâng cao hứng thú học tập và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo của học sinh, gắn liền kiến thức với thực tế cuộc sống
Tóm lại, thí nghiệm là bộ phận không thể thiếu của quá trình dạy học Hóa học ở trường phổ thông nói riêng và trong tất cả các cấp, bậc học nói chung Dạy hóa học có thí nghiệm biễu diễn của giáo viên Học hóa học có thí nghiệm của học sinh Khi người ta chú trọng việc dạy hay học sẽ có hình thức thí nghiệm phù hợp Trong giai đoạn tiến hành đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh như hiện nay thì việc tăng cường thí nghiệm của học sinh là hết sức cần thiết Đặc biệt là thí nghiệm thực hành và thí nghiệm nghiên cứu nên được phát huy tối đa, bởi đây là con đường giúp học sinh tiếp thu nhanh chóng và ghi nhớ kiến thức lâu dài nhất
Trang 5PHẦN THỰC HÀNHBÀI THỰC HÀNH SỐ 1: PHẢN ỨNG OXI HÓA – KHỬ
2.2 Lập phương trình hóa học của phản ứng oxi hóa - khử
Để lập phương trình hóa học của phản ứng oxi hóa - khử, ta cần biết công thức hóa học của các chất tham gia và tạo thành, còn việc lựa chọn hệ số thích hợp đặt trước công thức các chất trong phương trình hóa học có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau Một trong những phương pháp đó là phương pháp thăng bằng electron
2.2.1 Nguyên tắc
Tổng số electron do chất khử nhường phải đúng bằng tổng số electron mà chất oxi hóa nhận e
2.2.2 Các bước lập phương trình hóa học theo phương pháp thăng bằng electron
Bước 1 : Xác định số oxi hóa của những nguyên tố có số oxi hóa thay đổi
Bước 2 : Viết quá trình oxi hóa và quá trình khử, cân bằng mỗi quá trình
Bước 3 : Tìm hệ số thích hợp sao cho tổng số electron do chất khử nhường bằng tổng số electron mà chất oxi hóa nhận
Bước 4 : Đặt hệ số của chất oxi hóa và chất khử vào sơ đồ phản ứng Hoàn thành phương trình hóa học
2.3 Ý nghĩa của phản ứng oxi hóa – khử
Phản ứng oxi hóa – khử là một trong những quá trình quan trọng nhất của thiên nhiên Sự hô hấp, quá trình thực vật hấp thụ khí cacbonic giải phóng oxi, sự trao đổi chất
và hàng loạt quá trình sinh học khác đều có cơ sở là các phản ứng oxi hóa – khử
Trang 66
Sự đốt cháy nhiên liệu trong các động cơ, các quá trình điện phân, các phản ứng xảy
ra trong pin và trong ăcquy đều bao gồm sự oxi hóa và sự khử Hàng ngày quá trình sản xuất như luyện kim, chế tạo hóa chất, chất dẻo, dược phẩm, phân bón hóa học,…đều không thực hiện được nếu thiếu các phản ứng oxi hóa – khử
4.1 Thí nghiệm 1: Phản ứng giữa kim loại và dung dịch axit
Rót vào ống nghiệm khoảng 2 ml dung dịch axit sunfuric loãng rồi cho tiếp vào ống nghiệm một viên kẽm nhỏ Quan sát hiện tượng xảy ra
Giải thích hiện tượng Viết phương trình hóa học của phản ứng và cho biết vai trò của từng chất trong phản ứng
4.2 Thí nghiệm 2: Phản ứng giữa kim loại và dung dịch muối
Rót vào ống nghiệm khoảng 2 ml dung dịch CuSO4 loãng Cho vào ống nghiệm một đinh sắt đã được làm sạch bề mặt
Để yên ống nghiệm khoảng 10 phút
Quan sát hiện tượng xảy ra
Giải thích hiện tượng Viết phương trình hóa học của phản ứng và cho biết vai trò của từng chất trong phản ứng
Hình 2.1 Zn và H 2 SO 4
Hình 2.2 Đinh sắt và CuSO 4
Trang 7- Củng cố kiến thức về clo và hợp chất của clo
2 KIẾN THỨC GIÁO KHOA
Ở 20oC, một thể tích nước hòa tan 2,5 thể tích khí clo Dung dịch của khí clo trong nước còn gọi là nước clo có màu vàng nhạt
Khí clo tan nhiều trong dung môi hữu cơ như benzen, etanol, hexan,…
2.1.2 Tính chất hóa học
Nguyên tử clo có độ âm điện lớn (3,16), chỉ đứng sau nguyên tử flo (3,98) và nguyên
tử oxi (3,44) Vì vậy, trong các hợp chất với các nguyên tố này, clo có số oxi hóa dương (+1, +3, +5, +7), còn trong các trường hợp khác, clo có số oxi hóa âm (-1)
Khi tham gia phản ứng, nguyên tử clo dễ nhận 1 electron để thành ion clorua Cl-
Vì vậy, tính chất hóa học cơ bản của clo là tính oxi hóa mạnh, thể hiện qua các phản ứng sau:
2.1.2.1 Tác dụng với kim loại
Khí clo oxi hóa trực tiếp được hầu hết các kim loại tạo ra muối clorua, phản ứng xảy
ra ở nhiệt độ thường hoặc không cao lắm, tốc độ nhanh, tỏa nhiều nhiệt
Thí dụ: 2Na + Cl2 2NaCl
Cu + Cl2 CuCl22Fe + 3Cl2 2FeCl3
2.1.2.2 Tác dụng với hiđro
Ở nhiệt độ thường và trong bóng tối, clo oxi hóa chậm hiđro Nhưng nếu được chiếu sáng mạnh hoặc hơ nóng, phản ứng xảy ra nhanh Nếu tỉ lệ số mol H2 : Cl2 = 1 : 1thì hỗn hợp sẽ nổ mạnh:
H02 (k) + Cl02 (k) 2HCl (k)
+1 -1
2.1.2.3 Tác dụng với nước và dung dịch kiềm
Khi tan vào nước, một phần clo tác dụng chậm với nước theo phản ứng:
Cl02 + H2O HCl + HClO-1 +1Axit hipoclorơ có tính oxi hóa rất mạnh, nó phá hủy các chất màu, vì thế clo ẩm có tác dụng tẩy màu
Trang 82.1.2.4 Tác dụng với muối của các halogen khác
Clo không oxi hóa được ion F- trong các muối florua nhưng oxi hóa dễ dàng ion Br
-trong dung dịch muối bromua và ion I- trong dung dịch muối iotua:
2.1.3.2 Trong công nghiệp
Sản xuất khí clo bằng cách điện phân dung dịch bão hòa muối ăn trong nước
Thùng điện phân có màng ngăn cách 2 điện cực để khí clo không tiếp xúc với dung dịch NaOH
Phương trình điện phân có thể viết như sau:
đpdd
có màng ngăn
Trang 92.2.2 Tính chất hóa học
Axit HCl là axit mạnh, có đầy đủ tính chất hóa học chung của axit: làm quỳ tím hóa
đỏ, tác dụng với kim loại đứng trước hiđro trong dãy hoạt động hóa học, tác dụng với oxit bazơ, bazơ, muối Thí dụ:
Có thể điều chế khí HCl bằng cách cho tinh thể NaCl tác dụng với axit H2SO4 đặc
và đun nóng (phương pháp sunfat) rồi hấp thụ vào nước để thu được dung dịch HCl:
NaCl + H2SO4 NaHSO4 + HCl
NaCl + H2SO4 HCl + Na2SO4
2.2.3.2 Trong công nghiệp
Phương pháp sunfat: từ NaCl và H2SO4 đặc
Phương pháp tổng hợp: từ khí H2 và Cl2
Clo hóa các chất hữu cơ
2.3 Muối Clorua
Muối clorua là muối của axit clohiđric
Đa số muối clorua dễ tan trong nước, một vài muối clorua hầu như không tan: AgCl, PbCl2, CuCl, Hg2Cl2 (riêng PbCl2 tan khá nhiều trong nước nóng) Một số muối clorua dễ bay hơi ở nhiệt độ cao như CuCl2, FeCl3,…
Nhận biết ion clorua: Thuốc thử dùng để nhận biết ion clorua là dung dịch AgNO3 Hiện tượng: thấy xuất hiện kết tủa trắng AgCl, kết tủa này không tan trong axit mạnh
NaCl + AgNO3 AgCl + NaNO3
HCl + AgNO3 AgCl + HNO3
2.4 Nước Gia–ven
Là dung dịch thu được khi cho khí clo qua dung dịch NaOH:
Cl2 + 2NaOH NaCl + NaClO + H2O
NaClO là muối của axit yếu, trong không khí tác dụng với khí CO2 tạo dung dịch axit hipoclorơ kém bền và có tính oxi hóa mạnh:
NaClO + CO2 + H2O NaHCO3 + HClO
Vì vậy, nước Gia-ven có tính oxi hóa mạnh NaClO là chất oxi hóa mạnh, khi đun sôi dung dịch NaClO đặc:
< 2500C > 4000C
2NaClO 2NaCl + Ot 2
o
Trang 104.1 Thí nghiệm 1: Điều chế khí clo Tính tẩy màu của khí clo ẩm
Cho vào bình cầu có nhánh một ít bột MnO2
Rót vào phễu nhỏ giọt dung dịch HCl đậm đặc
Nối bình cầu có nhánh với ống dẫn khí vào bình Drexen chứa nước (khoảng nữa bình) Nối phần còn lại của bình Drexen với ống dẫn khí vào cốc chứa dung dịch NaOH
Cho vào bình Drexen chứa nước mẫu giấy màu
Mở khóa phễu nhỏ giọt cho dung dịch HCl chảy từ từ từng giọt xuống tác dụng với MnO2
Dùng đèn cồn đun nhẹ bình cầu
Quan sát, mô tả và giải thích các hiện tượng xảy ra
4.2 Thí nghiệm 2: Điều chế axit clohiđric
Cho vào ống nghiệm (1) một ít muối ăn rồi rót dung dịch H2SO4 đặc vào đủ để thấm ướt lớp muối ăn
Rót khoảng 8 ml nước cất vào ống nghiệm (2) và lắp dụng cụ như hình vẽ
Đun cẩn thận ống nghiệm (1), nếu thấy sủi bọt mạnh thì ngừng đun
Quan sát hiện tượng, viết phương trình hóa học của phản ứng điều chế axit clohiđric Nhúng mẩu giấy quỳ tím vào dung dịch trong ống (2) Quan sát hiện tượng xảy ra
Hình 2.3: Sơ đồ điều chế khí Clo
Trang 11BÀI THỰC HÀNH SỐ 3:
TÍNH CHẤT CỦA OXI, LƯU HUỲNH
1 MỤC TIÊU
- Rèn luyện các thao tác thí nghiệm an toàn, chính xác
- Tiến hành thí nghiệm để chứng minh được:
Oxi và lưu huỳnh là những đơn chất phi kim có tính oxi hóa mạnh
Ngoài tính oxi hóa, lưu huỳnh còn có tính khử
Lưu huỳnh có thể biến đổi trạng thái theo nhiệt độ
2 KIẾN THỨC GIÁO KHOA
2.1 Oxi
2.1.1 Cấu tạo phân tử Oxi
Nguyên tử oxi có cấu hình electron 1s22s22p4, lớp ngoài cùng có 2 electron độc thân Hai nguyên tử O liên kết cộng hóa trị không cực, tạo thành phân tử O2 Công thức cấu tạo của phân tử oxi có thể viết là:
Khí oxi ít tan trong nước (100 ml nước ở 20oC và 1 atm hòa tan được 3,1 ml khí oxi
tố oxi có số oxi hóa là -2
Oxi tác dụng với hầu hết các kim loại (trừ Au, Pt, ) và phi kim (trừ halogen)
Oxi tác dụng với nhiều hợp chất vô cơ và hữu cơ
Quá trình oxi hóa các chất đều tỏa nhiệt, phản ứng có thể xảy ra nhanh hay chậm khác nhau phụ thuộc vào các điều kiện: nhiệt độ, bản chất và trạng thái của chất
2.1.4.1 Tác dụng với kim loại
Na và Mg cháy sáng chói trong khí oxi, tạo ra oxit
Trang 1212
2.1.4.2 Tác dụng với phi kim
Nhiều phi kim cháy trong khí oxi tạo ra oxit, là những hợp chất liên kết cộng hóa trị
Hai dạng lưu huỳnh S và S có thể biến đổi qua lại với nhau theo nhiệt độ
Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với cấu tạo phân tử và tính chất vật lí của lưu huỳnh
Ở nhiệt độ thấp hơn 113oC, S và S là những chất rắn màu vàng Phân tử lưu huỳnh có 8 nguyên tử liên kết cộng hóa trị với nhau tạo thành mạch vòng
Ở nhiệt độ 119oC, S và S đều nóng chảy thành chất lỏng màu vàng, rất linh động
Ở nhiệt độ 187oC, lưu huỳnh lỏng trở nên quánh nhớt, có màu nâu đỏ
Ở nhiệt độ 445oC, lưu huỳnh sôi, các phân tử lưu huỳnh bị phá vỡ thành nhiều phân
tử nhỏ bay hơi
2.2.2 Tính chất hóa học
Lưu huỳnh là nguyên tố tương đối hoạt động: ở nhiệt độ thường hơi kém hoạt động nhưng khi đun nóng tương tác với hầu hết nguyên tố trừ các khí hiếm, nitơ, iot, vàng và platin
Khi tham gia phản ứng hóa học, lưu huỳnh thể hiện tính oxi hóa hoặc tính khử
2.2.2.1 Tác dụng với kim loại hoặc hiđro
Lưu huỳnh tác dụng với kim loại hoặc hiđro ở nhiệt độ cao, sản phẩm là muối sunfua hoặc hiđro sunfua:
Trang 132.2.2.2 Tác dụng với phi kim
Ở nhiệt độ thích hợp, lưu huỳnh tác dụng được với một số phi kim như oxi, flo, clo:
4.1 Thí nghiệm 1: Tính oxi hóa của oxi
Uốn một đoạn dây thép (dây thắng xe đạp) theo hình lò xo
Cột thêm đoạn than gỗ của que
diêm vào, dùng kẹp đốt que diêm trên
ngọn lửa đèn cồn
Đưa nhanh vào bình đựng khí oxi
(không để dây thép chạm vào thành bình
sẽ làm vỡ bình)
Quan sát hiện tượng, viết phương
trình hóa học và xác định vai trỏ của các
chất tham gia phản ứng
4.2 Thí nghiệm 2: Sự biến đổi trạng
thái của lưu huỳnh theo nhiệt độ
Đun nóng một ít bột lưu
huỳnh trong ống nghiệm trên ngọn lửa
đèn cồn
Nghiêng ống nghiệm để dễ quan sát
Quan sát sự biến đổi trạng thái của lưu huỳnh theo nhiệt độ
Hình 2.5: Đốt dây thép trong oxi
Trang 1414
4.3 Thí nghiệm 3: Tính oxi hóa của lưu huỳnh
Cho một ít hỗn hợp bột sắt với lưu huỳnh vào đế sứ (tỉ lệ gần bằng S:Fe=4:7), dùng đũa thủy tinh trộn đều hỗn hợp
Sau đó cho hỗn hợp vào đáy ống nghiệm, đun nóng trên ngọn lửa đèn cồn cho đến khi phản ứng xảy ra
Quan sát hiện tượng, viết phương trình hóa học và xác định vai trò các chất tham gia phản ứng
4.4 Thí nghiệm 4: Tính khử của lưu huỳnh
Lấy vào muỗng một lượng nhỏ lưu huỳnh bằng hạt đậu xanh, hơ nóng chảy trên ngọn lửa đèn cồn
Khi lưu huỳnh cháy rồi đưa nhanh vào bình đựng khí oxi.Quan sát hiện tượng, viết phương trình hóa học và xác định vai trò các chất tham gia phản ứng
Hình 2.6: Lưu huỳnh bột
Hình 2.7: Bột lưu huỳnh và bột sắt
Hình 2.8: Đốt lưu huỳnh trong oxi
Trang 15BÀI THỰC HÀNH SỐ 4:
TỐC ĐỘ PHẢN ỨNG HÓA HỌC
1 MỤC TIÊU
- Củng cố các kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng
- Rèn luyện kĩ năng quan sát, so sánh các hiện tượng thí nghiệm và rút ra kết luận
2 KIẾN THỨC GIÁO KHOA
a, b, là hệ số tỷ lượng của các chất đầu tham gia phản ứng
c, d, là hệ số tỷ lượng của các chất cuối (sản phẩm được tạo ra trong phản ứng) Phương trình phản ứng (II.1) gọi là phương trình tỷ lượng của phản ứng Để biểu diễn tốc độ phản ứng, người ta có thể chọn bất kỳ chất nào trong phản ứng (A, B, C, D,…), nhưng trong thực tế, người ta thường chọn chất nào dễ theo dõi, dễ xác định được lượng của chúng ở các thời điểm khác nhau
Giả sử, ở thời điểm t1, nồng độ của các chất là
Nếu như nồng độ các chất tham gia phản ứng càng lớn, thì sự va chạm càng lớn và
sự va chạm có hiệu quả giữa các phần tử tham gia phản ứng cũng lớn Như vậy vận tốc
phản ứng càng lớn
Trang 1616
2.2.2 Ảnh hưởng của áp suất
Đối với phản ứng trong pha khí thì ảnh hưởng của áp suất lên tốc độ phản ứng tương
tự như ảnh hưởng của nồng độ, bởi vì áp suất tỉ lệ với nồng độ Ở nhiệt độ không đổi ta có thể thay nồng độ bằng áp suất trong phương trình tốc độ và v k.P A n1P B n2
Khi áp suất tăng, nồng độ chất khí tăng theo, nên tốc độ phản ứng tăng
2.2.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ
Tốc độ của các phản ứng hóa học khác nhau phụ thuộc vào nhiệt độ theo những cách thức và những mức độ khác nhau Khi nhiệt độ phản ứng tăng thì tốc độ chuyển động của các phân tử tăng, dẫn đến tần số va chạm giữa các phân tử chất phản ứng tăng Đa số phản ứng có tốc độ tăng khi tăng nhiệt độ Những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy khi tăng nhiệt độ thêm 10 C thì tốc độ phản ứng tăng từ 2 đến 4 lần
2.2.4 Ảnh hưởng của diện tích tiếp xúc
Khi một chất rắn tác dụng với chất lỏng hay chất khí, kích thước của hạt chấ rắn có ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng Hạt chất rắn càng bé, tổng bề mặt tiếp xúc với chất lỏng hay chất khí càng lớn, tốc độ phản ứng càng lớn
2.2.5 Ảnh hưởng của chất xúc tác
Xúc tác là hiện tượng làm thay đổi tốc độ của các phản ứng hóa học được thực hiện
bởi một số chất, mà ở cuối quá trình các chất này vẫn còn nguyên vẹn
Chất gây ra sự xúc tác được gọi là chất xúc tác
Thông thường thuật ngữ “chất xúc tác” được dùng để chỉ các chất làm tăng tốc độ phản ứng (thường được gọi là chất xúc tác dương) Các chất làm giảm tốc độ phản ứng
(chất xúc tác âm) thường được gọi là chất ức chế
4.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của nồng độ đến tốc độ phản ứng
Chuẩn bị hai ống nghiệm như sau:
- Ống thứ nhất chứa 3 ml dung dịch HCl nồng độ khoảng 18%
- Ống thứ hai chứa 3 ml dung dịch HCl nồng độ khoảng 6%
Cho đồng thời vào mỗi ống một hạt kẽm có kích thước giống nhau
Quan sát hiện tượng xảy ra trong hai ống nghiệm và rút ra kết luận
Viết phương trình hóa học của phản ứng xảy ra
Trang 174.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ phản ứng
Chuẩn bị hai ống nghiệm, mỗi ống đựng 3 ml dung dịch H2SO4 nồng độ 15%
Đun dung dịch trong một ống đến gần sôi
Cho đồng thời vào mỗi ống một hạt Zn có kích thước giống nhau
Quan sát hiện tượng xảy ra trong hai ống nghiệm và rút ra kết luận
Viết phương trình hóa học của phản úng xảy ra
4.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của diện tích tiếp xúc đến tốc độ phản ứng
Chuẩn bị hai ống nghiệm, mỗi ống đựng 3 ml dung dịch H2SO4 nồng độ 15% Sau đó chuẩn bị hai mẫu Zn có khối lượng bằng nhau Một mẫu có kích thước hạt nhỏ hơn mẫu còn lại
Cho đồng thời hai mẫu kẽm đó vào hai ống nghiệm đựng H2SO4 ở trên
Quan sát hiện tượng xảy ra trong hai ống nghiệm và rút ra kết luận
Viết phương trình hóa học của phản úng xảy ra
Hình 2.10: Axit H 2 SO 4 và Zn có kích thước khác nhau
Hình 2.9: Zn viên và axit HCl nồng độ khác nhau
Trang 18 Tính oxi hóa mạnh của axit nitric
Tính oxi hóa của muối kali nitrat
2 KIẾN THỨC GIÁO KHOA
Do tạo thành NO2 nên dung dịch HNO3 có màu vàng
- Axit nitric khan, háo nước, dung dịch đặc bốc khói do kết quả hút hơi nước trong khí quyển của các phân tử axit bốc hơi
số oxi hóa của nitơ có thể đưa về: -3, 0, +1, +2, +3, +4
Với kim loại: tùy thuộc vào nồng độ HNO3 và mức độ hoạt động của kim loại ta có: Kim loại + HNO3
(Trừ Au, Pt)
Trong muối nitrat, kim loại có hóa trị cao nhất
Fe, Al, Cr bị thụ động trong HNO3 đặc, nguội
Ví dụ: Cu 4HNO 3ñ Cu NO 32 2NO 2 2H O 2
3Cu 8HNO 3(l ) 3Cu NO 32 2NO 4H O 2
Với phi kim: khi đun nóng HNO3 đặc có thể oxi hóa các phi kim C, S, P đến mức oxi hóa cao nhất
Đặc Loãng Rất loãng
Trang 19t
1
2
t o
1
2
o
t
1
2
Với hợp chất: dung dịch HNO3 khi tác dụng với các hợp chất như: H2S, HI, SO2, FeO, muối sắt (II) … oxi hóa các nguyên tố trong hợp chất lên mức oxi hóa cao hơn o
t
Nhìn chung, dung dịch HNO3 càng loãng, kim loại càng mạnh, nhiệt độ càng thấp thì N+5 trong HNO3 bị khử càng sâu (tới mức oxi hóa thấp nhất)
Có thể cho rằng, khi cho kim loại tác dụng với dung dịch HNO3 thì sản phẩm tạo thành chủ yếu là HNO2, nhưng vì không bền, HNO2 bị phân hủy tạo ra NO và NO2 theo
phản ứng:
2HNO2 NO NO2 H O2 NO2 tác dụng với nước theo phản ứng thuận nghịch 3NO2 + H2O 2HNO3 + NO Axit HNO3 càng đặc thì cân bằng càng chuyển về phía tạo ra NO2 Chính vì lí do này, khi kim loại tác dụng với HNO3 đặc tạo ra khí NO2 và với HNO3 loãng tạo khí NO 2.2 Muối nitrat Các muối nitrat kém bền với nhiệt, chúng bị phân hủy khi đun nóng Muối nitrat Ví dụ:
Nhận biết ion nitrat: trong môi trường trung tính, ion NO3 không có tính oxi hóa Khi có mặt ion H+, ion NO3 thể hiện tính oxi hóa giống như HNO3 Vì vậy để nhận ra ion 3
NO người ta đun nóng nhẹ dung dịch chứa NO3 với đồng kim loại và H2SO4 loãng tạo dung dịch màu xanh và khí màu nâu đỏ thoát ra
3Cu 8H 2NO3 3Cu2 2NO 4H O2
màu xanh không màu
2NO O2 2NO2
nâu đỏ
3 DỤNG CỤ VÀ HÓA CHẤT
3.1 Dụng cụ
to
Kim loại trước Mg
Kim loại từ Mg đến Cu
Kim loại sau Cu
Muối nitrit + O2
Oxit + NO2 + O2
Kim loại + NO2 + O2
Trang 2020
Hình 2.12: Than và tinh thể KNO 3
3.2 Hóa chất
Dung dịch HNO3 đặc 68% Dung dịch NaOH loãng
Dung dịch HNO3 loãng 15% Tinh thể KNO3
4 THỰC HÀNH
4.1 Thí nghiệm 1: Tính oxi hóa của axit nitric
Lấy vào ống nghiệm thứ nhất 0,5 ml dung dịch
HNO3 đặc (68%) và ống nghiệm thứ hai 0,5 ml dung
Đun nhẹ ống nghiệm thứ hai
Quan sát màu của khí bay ra và màu của dung
dịch trong ống nghiệm
Giải thích và viết các phương trình hóa học
4.2 Thí nghiệm 2: Tính oxi hóa của muối kali nitrat nóng chảy
Lấy một ống nghiệm chịu nhiệt khô và cặp
đứng trên giá sắt, rồi đặt giá sắt trong chậu cát
Bỏ một ít tinh thể KNO3 vào ống nghiệm và đốt
cho muối nóng chảy
Khi muối bắt đầu phân hủy (nhìn thấy các bọt
khí xuất hiện) vẫn tiếp tục đốt nóng ống nghiệm,
đồng thời dùng kẹp sắt bỏ một hòn than nhỏ đã được
đốt nóng đỏ vào ống
Quan sát sự cháy tiếp tục của hòn than
Giải thích và viết các phương trình hóa học
Hình 2.11: Cu miếng và axit HNO 3
Trang 21- Biết được mục đích, cách tiến hành, kĩ thuật tiến hành một số thí nghiệm cụ thể
- Điều chế và thử tính chất của etilen, axetilen
- Củng cố kiến thức về tính chất vật lý và hóa học của một số hợp chất hữu cơ
2 KIẾN THỨC GIÁO KHOA
2.1 Đặc điểm cấu tạo của anken – ankin
2.2 Tính chất hóa học
Trong anken, liên kết của nối đôi C = C kém bền vững nên dễ bị cắt đứt tạo thành liên kết với các nguyên tử khác Do đó, liên kết đôi C = C là trung tâm gây ra các phản ứng hóa học đặc trưng của anken: phản ứng cộng, phản ứng oxi hóa, phản ứng trùng hợp Trong ankin cũng có liên kết kém bền tương tự như anken, vì thế phản ứng nào có thể xảy ra đối với anken thì cũng có thể xảy ra đối với ankin Tuy nhiên, khác với anken, phản ứng cộng của ankin xảy ra theo hai giai đoạn
- Hai nguyên tử C mang nối đôi ở trạng
thái lai hóa sp2
- Liên kết đôi C = C gồm một liên kết
bền vững và một liên kết linh động
Ankin
- Là những hidrocacbon mạch hở có một nối ba trong phân tử
- Hai nguyên tử C mang nối ba ở trạng thái lai hóa sp
- Liên kết ba gồm một liên kết bền vững và hai liên kết linh động
Trang 222.2.4 Phản ứng cộng nước (hiđrat hóa)
Anken: tác dụng trực tiếp với nước nhờ chất xúc tác axit mạnh cho sản phẩm là ancol
Chất xúc tác thường sử dụng là H2SO4 vì sản phẩm phụ là ankyl sunfat sinh ra cũng bị thủy giải cho cùng một sản phẩm là ancol, còn nếu dùng HX làm xúc tác thì HX cũng có thể cộng vào anken cho sản phẩm phụ là RX
Cho anken tác dụng với H2SO4 đặc rồi thủy phân este vô cơ thu được:
CH2 = CH2 + HOSO3H to CH3 – CH2 – OSO3H
CH3 – CH2 – OSO3H + H2O to CH3CH2OH + H2SO4 Cho anken tác dụng trực tiếp với nước nhờ chất xúc tác axit mạnh
Ankin: có thể bị hiđrat hóa với sự hiện diện của H2SO4 và muối Hg2 cho anđehit hoặc xeton
Trang 23+ 2KMnO4 + 4 H2O CH2 CH2
OHOH
2.2.6.1 Phản ứng oxi hĩa hồn tồn
Anken và ankin khi cháy đều tỏa nhiệt mạnh và cho ngọn lửa sáng
2.2.6.2 Phản ứng oxi hĩa khơng hồn tồn
Anken và ankin đều bị KMnO4 oxi hĩa và làm mất màu dung dịch KMnO4
3C H2 2 8KMnO4 3KOOC COOK 8MnO2 2KOH2H O2
2.2.7 Phản ứng thế bằng ion kim loại (Phản ứng đặc trưng của ankin cĩ nối ba ở đầu
mạch)
Do tính linh động của H ở C mang liên kết ba hơn hẳn H ở C mang liên kết đơi,
liên kết đơn nên nĩ cĩ thể bị thay thế bằng nguyên tử kim loại
R C CH Ag NH 32OH R C CAg 2NH3 H O2
2.3 Điều chế
2.3.1 Trong cơng nghiệp
- Etylen, propylen và butylen được đều chế bằng phản ứng tách hidro từ ankan tương
ứng hoặc bằng phản ứng crackinh
- Axetylen được điều chế theo hai cách:
2CH4làm lạnh nhanh1500 C0 CHCH 3H2
Trang 2424
3.2 Hóa chất
Dung dịch H2SO4 đặc Mẩu CaC2
4 THỰC HÀNH
4.1 Thí nghiệm 1: Điều chế và thử tính chất của etilen
Cho vào ống nghiệm khô 2 ml C2H5OH và vài viên đá bọt
Vừa lắc ống nghiệm vừa cho thêm từ từ 4 ml dung dịch H2SO4 đặc
Đun nóng nhẹ hỗn hợp trong ống nghiệm
Dẫn khí thoát ra vào ống nghiệm chứa dung dịch KMnO4 loãng
Quan sát sự đổi màu của dung dịch
Đưa ống dẫn khí ra khỏi dung dịch KMnO4 loãng rồi đốt Quan sát
4.2 Thí nghiệm 2: Điều chế và thử tính chất của axetilen
Chuẩn bị:
- Ống nghiệm 1: 5 ml dung dịch KMnO4
- Ống nghiệm 2: 3 ml dung dịch AgNO3 + 2 ml dung dịch NH3
Cho vài mẩu đất đèn bằng hạt ngô vào
ống nghiệm có nhánh (nhánh được nối với
một dây cao su còn đầu kia của dây cao su gắn
với ống dẫn bằng thủy tinh)
Cho vào ống nghiệm khoảng 1 ml nước
cất Đậy ống nghiệm bằng nút cao su
Khi khí bắt đầu thoát ra, lần lượt thực
hiện các thao tác sau:
- Đưa đầu ống dẫn khí lần lượt vào các
dung dịch trong ống nghiệm 1, 2
- Đốt cháy đầu ống dẫn khí
Mô tả hiện tượng quan sát được và viết các phương trình phản ứng
Hình 2.13 : Sơ đồ điều chế etilen
Hình 14: Hóa chất điều chế axetilen
Trang 25CH
CH2
OHOHOH
CH2CH
CH2OOOH
H
CH2CH
CH2O
HO
OH
- Biết quan sát và giải thích được các kết quả thí nghiệm
2 KIẾN THỨC GIÁO KHOA
2.1 Dẫn xuất Halogen
Tính chất cơ bản của dẫn xuất halogen
2.1.1 Phản ứng thế nguyên tử halogen bằng nhóm –OH
Do các halogen (X) có độ âm điện lớn hơn cacbon nên trong phân tử dẫn xuất halogen liên kết C – X luôn luôn phân cực âm về phía X Vì vậy, nguyên tử cacbon bị thiếu hụt một phần electron (mang điện tích dương) và liên kết C-X dễ bị phân cắt ở phía nguyên tử cacbon
Chính vì thế, phản ứng đặc trưng của nhóm C-X là tác dụng với các tác nhân có khả năng nhường cặp electron dư của mình để tạo thành liên kết mới như: OH, CN, H2O,
NH3…
Tuy nhiên, một phản ứng thế xảy ra theo cơ chế nào còn tùy thuộc vào cấu trúc của hidrocacbon liên kết với X, bản chất của X, độ hoạt động của tác nhân thế và ngay cả điều kiện phản ứng (dung môi, nhiệt độ…)
Qui tắc Zaixep: “Khi tách HX khỏi dẫn xuất halogen nguyên tử halogen X ưu tiên
tách ra cùng với H ở nguyên tử C bậc cao hơn bên cạnh ”
- Tất cả các hợp chất hữu cơ mà trong phân tử có O gắn trực tiếp với H đều thế với
kim loại kiềm
- Các poliancol thường có tính axit mạnh hơn monoancol do ảnh hưởng qua lại giữa hai nhóm –OH kế cận nhau
- Khi các poliancol có hai nhóm –OH ở hai cacbon kế cận chúng có thể tác dụng với Cu(OH)2 tạo ra các phức màu xanh đặc trưng
Trang 26Sự cộng hưởng này làm tăng mật độ electron ở các vị trí o và p làm cho phản ứng thế vào nhân thơm ở phenol dễ hơn ở benzen Ở điều kiện êm dịu, phenol thế được đồng thời cả ba nguyên tử H ở các vị trí ortho và para
Ví dụ: Khi nhỏ nước brom vào dung dịch phenol, phản ứng xảy ra làm mất màu
nước brom, đồng thời xuất hiện kết tủa trắng của 2,4,6 – tribromphenol:
Mẩu Natri ngâm trong dầu hỏa Glixerol
4 THỰC HÀNH
4.1 Thí nghiệm 1: Etanol tác dụng với natri
Cho vào ống nghiệm 2 ml etanol khan
Sau đó cho một mẩu natri bằng hạt đậu xanh vào ống nghiệm
Quan sát hiện tượng và viết phương trình phản ứng xảy ra
Trang 274.2 Thí nghiệm 2: Glixerol tác dụng với đồng (II) hiđroxit
Cho vào 2 ống nghiệm mỗi ống 4 giọt CuSO4 5% và 3 giọt dung dịch NaOH 10% Lắc nhẹ, thêm tiếp:
- Ống 1: 3 giọt glixerol
- Ống 2: 3 giọt etanol
Lắc nhẹ cả 2 ống nghiệm và quan sát màu dung dịch và kết tủa tạo thành
4.3 Thí nghiệm 3: Phenol tác dụng với nước brom
Cho 1 giọt phenol vào ống nghiệm, pha loãng bằng 2 – 3 ml nước cất
Sau đó thêm từng giọt dung dịch brom, đồng thời lắc nhẹ
Quan sát hiện tượng và viết phương trình phản ứng xảy ra
Hình 2.16: Hóa chất phản ứng glixerol với đồng (II) hiđroxit
Hình 2.17: Phenol và nước brom