1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về tiếp công dân từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

87 826 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, những quy định của pháp luật về công tác tiếp công dân ngày càng đầy đủ, hoàn thiện, các quy định này đóng vai trò rất quan trọng, là cơ sở pháp lý giúp công dân thực hiện được

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HUỆ

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CÔNG DÂN

TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG HÀ

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu,

ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ HUỆ

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA THỰC HIỆN PHÁP

1.2 Khái niệm, đặc điểm, hình thức và nội dung thực hiện pháp luật về tiếp

1.3 Điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân 28

Chương 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ TIẾP CÔNG DÂN TỪ THỰC TIẾN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

33

2.1 Thực trạng pháp luật về tiếp công dân của Uỷ ban nhân dân các cấp từ

2.2 Thực hiện pháp luật về tiếp công dân từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, tỉnh

2.3 Ưu điểm và hạn chế trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân của Uỷ

ban nhân dân các cấp huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương 49

2.4 Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế trong thực hiện pháp luật về tiếp

công dân từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương 60 Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CÔNG DÂN TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

66

3.1 Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân 66

3.2 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân 67 3.3.Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân 71

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân, điều này khẳng định mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, là nhà nước do dân lập nên, dân làm chủ, dân ủng hộ, mọi hoạt động của nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân Vì vậy, Nhà nước luôn phải lắng nghe, tiếp nhận những ý kiến, nguyện vọng của nhân dân thông qua việc tiếp nhận, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, hoạt động này được gọi là hoạt động tiếp công dân

Trong một xã hội dân chủ, hoạt động tiếp công dân là sự phản ánh, biểu hiện ra bên ngoài của việc thực thi quyền lực nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân Mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân là mối quan hệ hai chiều, công dân vừa là đối tượng chịu sự quản lý của nhà nước, khi tiếp công dân là nhà nước tiếp nhận sự phản ánh lại những tác động từ hoạt động quản lý của nhà nước, đồng thời công dân cũng là chủ thể của quyền lực nhà nước khi công dân có quyền đề xuất, kiến nghị với nhà nước về những nội dung liên quan đền quyền và lợi ích hợp pháp của mình Theo đó, nhà nước có trách nhiệm tiếp công dân để lắng nghe, tiếp nhận, xử lý, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và cung cấp cho người dân những thông tin liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đó

Tiếp công dân có vai trò rất quan trọng, thời gian qua, Đảng và Nhà nước

đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản pháp luật về tiếp công dân; Ngay

từ ngày đầu xây dựng nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Đảng, Chính phủ

và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm đến việc thể chế hoá và hiện thực hoá các quyền tự do, dân chủ trong đó có quyền khiếu nại, tố cáo của công dân Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, Điều 2 của Sắc lệnh này quy định một trong những nhiệm vụ

Trang 6

2

của Ban thanh tra là “Tiếp nhận các đơn khiếu nại của nhân dân” Đây là văn

bản pháp lý quan trọng đầu tiên xác định quyền khiếu nại của công dân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, cán bộ, nhân viên làm việc trong cơ quan đó và trách nhiệm của cơ quan thanh tra trong việc giải quyết các khiếu nại của nhân dân

Tại Hội nghị cán bộ Thanh tra toàn miền Bắc năm 1957, Chủ tịch Hồ

Chí Minh huấn thị: “Về công tác xét và giải quyết các việc khiếu nại, tố giác,

nhiệm vụ của các Ban Thanh tra là phải làm cho nghiêm chỉnh, kịp thời, làm sớm chừng nào hay chừng ấy Đồng bào có oan ức mới khiếu nại, hoặc chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại Ta giải quyết nhanh, tốt chừng nào thì đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm đến quyền lợi của họ, do đó mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ cũng được củng cố tốt hơn”

Đến Hiến pháp năm 1992 tại Điều 8 có quy định: “Các cơ quan nhà

nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân”

Ngày 07/8/1997 Chính phủ ban hành Nghị định số 89/CP về ban hành quy chế tiếp công dân đã nêu rõ các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm tiếp công dân đến trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh

Ngày 06/3/2002 Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 09/CT-TW về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

trong đó quy định “các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp phải quan tâm

đến việc tiếp dân, giải quyết đúng đắn, kịp thời khiếu nại, tố cáo của công dân, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ cương, ngăn ngừa, khắc phục tình trạng công dân khiếu tố vượt cấp ”

Quốc hội ban hành Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004 và năm 2005; Chính Phủ ban hành Nghị

Trang 7

cơ quan, tổ chức, đơn vị và điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân

Đến Hiến pháp năm 2013 đã khảng định Khiếu nại, tố cáo là quyền của công dân, tại Điều 30 của Hiến pháp ghi nhận: “1 Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân 2 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật ”[17]

Tiếp theo đó, ngày 26 tháng 6 năm 2014 Chính Phủ ban hành Nghị định

số 64/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tiếp công dân năm 2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư số 06/2014/TT-TTCP ngày

31 tháng 10 năm 2014 quy định về quy trình tiếp công dân

Như vậy, những quy định của pháp luật về công tác tiếp công dân ngày càng đầy đủ, hoàn thiện, các quy định này đóng vai trò rất quan trọng, là cơ sở pháp lý giúp công dân thực hiện được các quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của mình, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong hoạt động tiếp công dân, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị chính đáng của người dân, thông qua công tác tiếp dân mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân ngày càng được tăng cường, củng cố, tiếp công dân là cầu nối trực tiếp, hữu hiệu nhất để người lãnh đạo chính quyền,

Trang 8

4

cán bộ nhà nước gần và sát dân hơn, cán bộ lãnh đạo sẽ có cơ hội nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng và những băn khoăn, trăn trở của nhân dân, giải quyết kịp thời những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân, tạo được niềm tin trong nhân dân, góp phần nâng cao trách nhiệm của chính quyền, ổn định tình hình chính trị địa phương nói riêng và trong cả nước nói chung, tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân

Tiếp công dân là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước nói chung nhưng đặc biệt quan trọng là trách nhiệm của UBND các cấp, bởi lẽ UBND các cấp là

cơ quan có thẩm quyền chung, quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội tại địa phương, thường xuyên có quyết định, hành vi tác động đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trách nhiệm, hiệu quả, tính chất của hoạt động tiếp công dân phụ thuộc rất lớn vào tình hình kinh tế, xã hội, trình độ nhận thức của cán bộ và nhân dân ở mỗi địa phương

Tứ Kỳ là một huyện của tỉnh Hải Dương, dân số toàn huyện tại thời điểm điều tra dân số và nhà ở ngày 31/12/2015 là 158.992 người Nhân dân sản xuất nông nghiệp là chính, những năm gần đây công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ bước đầu phát triển, đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn Trong những năm qua các cấp chính quyền huyện đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm thu hút các dự án đầu tư vào huyện để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Cùng với việc thu hút trên hàng chục

dự án lớn, nhỏ vào huyện, được sự quan tâm của UBND tỉnh và Bộ Giao thông vận tải, huyện Tứ Kỳ đã được đầu tư nâng cấp tỉnh lộ 391, 392, đường ôtô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, Cầu Bía, đường 191D và một số dự án khác Chính vì vậy UBND huyện và UBND các xã, thị trấn phải liên tục tổ chức thực hiện công tác giải phóng mặt bằng để tiếp nhận các dự án giao thông, dự án thuê đất sản xuất công nghiệp, dịch vụ Do việc thu hồi đất có tác động trực tiếp đến sản xuất

và đời sống của một bộ phận nhân dân có đất bị thu hồi Mặt khác, do tác động

Trang 9

5

mặt trái của cơ chế thị trường và thực hiện các chính sách an sinh xã hội ở một

số địa phương thiếu công khai, dân chủ, cá biệt có nơi vi phạm chế độ chính sách Đó là những yếu tố tác động trực tiếp đến công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư những năm gần đây Song với sự tập trung chỉ đạo, làm tốt công tác tiếp dân, thực hiện nghiêm quy trình trong giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, công tác tiếp dân đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định tình hình nhân dân, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội

Bên cạnh đó, công tác tiếp dân tại UBND các cấp trên địa bàn huyện Tứ Kỳ cũng còn nhiều hạn chế, khó khăn chủ yếu đó là:

Thứ nhất, nhận thức pháp luật của một bộ phận nhân dân về các lĩnh vực chưa cao, đặc biệt là về đất đai, giải phóng mặt bằng

Thứ hai, còn tình trạng cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước chưa nhận thức đúng về trách nhiệm, vai trò của mình trong công tác tiếp công dân, coi nhẹ các đề nghị của công dân, tình trạng đùn đẩy, né tránh vẫn xảy ra

Thứ ba, tình hình kinh tế, xã hội ngày càng phát triển cùng với nó là các quan hệ xã hội diễn ra sôi động trên các phương diện, các tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân về quyền và nghĩa vụ ngày càng nhiều và phức tạp đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước, bên cạnh đó có cả xung đột giữa nhà nước và nhân dân liên quan đến lợi ích của người dân Vấn đề đó dẫn đến các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trở nên phức tạp

Để khắc phục những hạn chế, khó khăn trong công tác tiếp dân trên địa bàn huyện Tứ Kỳ hiện nay, góp phần ổn định trật tự xã hội trên địa bàn huyện, cùng với điều kiện của bản thân có nhiều năm trực tiếp làm công tác tiếp công dân nên học

viên chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về tiếp công dân từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ,

tỉnh Hải Dương” làm đề tài luận văn thạc sỹ Luật học chuyên ngành Luật Hiến

pháp và luật Hành chính Với mong muốn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về tiếp công dân trong hoạt động quản lý Nhà nước, đánh giá đúng đắn thực trạng địa

Trang 10

6

phương và đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tiếp công dân của UBND các cấp tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật tiếp công dân, về thực tiễn hoạt động công tác tiếp công dân nói chung trên cả nước, làm cơ sở lý luận và nguồn tham khảo cho đề tài, cụ thể:

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Ts Bùi Mạnh Cường và Ts Nguyễn Thị Tố Uyên sưu tầm và tuyển chọn, Nxb Chính trị quốc gia, 2013 Đây là cuốn sách bao gồm các bài viết, bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh được sắp xếp theo trình tự thời gian về công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo;

- Quy trình tiếp công dân và xử lý đơn thư của Tạp chí Thanh tra, Thanh tra Chính phủ, Nxb Thanh niên, 2013 Cuốn sách đã nêu bật được những vấn đề chung của công tác tiếp công dân và những quy định của pháp luật hiện nay về công tác này;

- Nghiệp vụ tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của Viện Khoa học Thanh tra và Trường Cán bộ Thanh tra, Tài liệu phục vụ bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra, Hà Nội 2005;

- Tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tình hình mới, Thanh tra Chính phủ, Nxb Hà Nội, 2006 Cuốn sách trình bày một số vấn

đề đặt ra đối với công tác tiếp dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tình hình mới; Kinh nghiệm thực tiễn của các ngành, các địa phương trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo;

- Thực hiện pháp luật về tiếp công dân của Ủy ban nhân dân các cấp từ thực tiễn thành phố Hà Nội của thạc sỹ Nguyễn Thị Hằng, 2015, làm rõ cơ sở lý luận về tiếp công dân trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung và thực hiện pháp luật

về tiếp công dân của UBND thành phố Hà Nội;

- Đề tài khoa học cấp Bộ của Thạc sỹ Bùi Mạnh Cường, 2013, Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tiếp công dân Đề tài nêu rõ thực trạng về tiếp

Trang 11

7

công dân và ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tiếp công dân trong những năm vừa qua và đưa ra những giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tiếp công dân trong thời gian tới ở nước ta;

- “Quy trình tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo trong các cơ quan của

Quốc hội ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Tuyết Trinh

- “Cải cách thủ tục hành chính trong tiếp dân, giải quyết KN, tố cáo”

(Chủ nhiệm- đồng chí Lê Đình Đấu- Vụ trưởng vụ xét khiếu tố), mục đích là

nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục

hành chính trong công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo

- “Giải quyết khiếu tố của nhân dân - thực trạng và những bài học kinh

nghiệm’’ (Khoa Nhà nước và Pháp luật- Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí

Minh, 2001) được các tác giả bàn luận theo phương thức trên cơ sở lý luận về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo để rút ra một số bài học kinh nghiệm, kiến nghị các giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân

- “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại,

tố cáo trong tình hình hiện nay”, Tham luận tại hội thảo Thanh tra 7 tỉnh miền

Bắc năm 2014 Các tham luận tập trung vào các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

Các công trình nghiên cứu trên ở các mức độ khác nhau đều có đề cập vấn

đề tiếp công dân nói chung nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể và trực tiếp đến vấn đề tiếp công dân từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Các đề tài, bài biết, tham luận mới chỉ đề cập đến những vấn đề riêng hoặc ở một số khía cạnh nhất định, rời rạc đến pháp luật về tiếp công dân và bất cập, khó khăn trong quá trình thực hiện pháp luật về tiếp công dân của các cơ quan, đơn vị

Vì vậy, vấn đề “Thực hiện pháp luật về tiếp công dân từ thực tiễn huyện Tứ

Kỳ, tỉnh Hải Dương” là vấn đề cần được nghiên cứu Đó cũng chính là một trong những lý do tác giả chọn vấn đề này làm đề tài luận văn cao học Luật của mình

Trang 12

8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học về tiếp công dân tại huyện

Tứ Kỳ, đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về tiếp công dân nói chung và nâng cao hiệu quả của hoạt động tiếp công dân Ủy ban nhân dân các cấp tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương hiện nay Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về tiếp công dân, kết quả hoạt động tiếp công dân, điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa chính trị ảnh hưởng đến hoạt động tiếp công dân; ưu điểm, khó khăn, hạn chế và tìm nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế trong công tác tiếp công dân; Quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về tiếp công dân tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Phân tích, làm rõ khái niệm, ý nghĩa, mục đích, đặc điểm của hoạt động tiếp công dân nói chung và hoạt động tiếp công dân của huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương nói riêng

- Làm rõ những đặc thù và thực tiễn hoạt động tiếp công dân của UBND các cấp trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, đánh giá đúng đắn những kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế

- Đưa ra quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp Luật tiếp công dân của UBND các cấp trên địa bàn huyện từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, Hải dương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện pháp luật về tiếp công dân của UBND huyện Tứ

Kỳ và UBND 27 xã, thị trấn thuộc huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Trang 13

9

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động tiếp công dân của UBND huyện

Tứ Kỳ, UBND các xã, thị trấn thuộc huyện Tứ Kỳ gắn liền với việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước của các cấp chính quyền địa phương trong giai đoạn từ năm

2011 đến năm 2015 Hoạt động tiếp công dân được nghiên cứu trong luận văn này được giới hạn trong việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với UBND huyện, UBND cấp xã trong việc thực hiện chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tổ chức và hoạt động tiếp công dân nói chung và tiếp công dân của UBND cấp huyện, cấp xã nói riêng Các phương pháp nghiên cứu cụ thể đó là: duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, khảo sát, đánh giá thực tiễn, phân tích, tổng hợp, logic, chứng minh, so sánh, hệ thống hóa

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Là công trình nghiên cứu tổng quát về pháp luật và việc thực hiện pháp luật

về tiếp công dân của UBND các cấp huyện Tứ Kỳ, luận văn có những đóng góp mới sau:

- Góp phần làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của hoạt động tiếp công dân trong quản lý nhà nước, từ đó nêu bật vị trí, vai trò và trách nhiệm của cán bộ, công chức trong tiếp công dân

- Đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về tiếp công dân tại UBND các cấp huyện Tứ Kỳ, làm rõ những kết quả đạt được, ưu điểm, những hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân của những

ưu điểm, hạn chế trong quá trình thực hiện những quy định của pháp luật về tiếp công dân của UBND các cấp huyện Tứ Kỳ

Trang 14

10

- Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân nói chung và tiếp công dân trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương nói riêng Trong đó, tập trung vào giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật và tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức thực hiện hoạt động tiếp công dân

Với những nội dung đạt được, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là cơ sở,

là tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu trong việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật

về tiếp công dân cũng như nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của thực hiện pháp luật về tiếp công dân

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về tiếp công dân từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Trang 15

11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CÔNG DÂN

1.1 Khái niệm, đặc điểm tiếp công dân

1.1.1 Khái niệm tiếp công dân

Tiếp công dân là một hiện tượng khách quan phát sinh trong đời sống xã hội, một hoạt động mang tính xã hội, gắn liền với sự tồn tại của nhà nước, nhà nước thực hiện chức năng quản lý, hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu do các

cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành

để thực hiện những mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, đây là hoạt động thực thi quyền hành pháp Bằng quyền lực nhà nước trên cơ sở quy định của pháp luật, nhà nước tác động và điều chỉnh hành vi, hoạt động của con người và các quá trình xã hội, các cơ quan, tổ chức, cá nhân thường xuyên là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp từ những quyết định hành chính hay hành vi hành chính Chính vì vậy, trong quản lý nhà nước luôn ẩn chứa nguy cơ phát sinh những xung đột về lợi ích giữa một bên là các cơ quan nhà nước-chủ thể của quản lý nhà nước với một bên là cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý- đối tượng của quản lý nhà nước Trong một xã hội dân chủ, nhà nước không chỉ ban hành quy định buộc các đối tượng quản lý phải tuân theo mà trong quá trình quản lý nhà nước cũng luôn cần sự đóng góp ý kiến từ phía tổ chức, người dân

để khắc phục những hạn chế, hoàn thiện về cơ cấu tổ chức cũng như chính sách, pháp luật Việc quản lý đạt hiệu quả hay không được đánh giá vào mức độ đồng thuận giữa nhà nước và nhân dân, do đó, việc tiếp xúc giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các cơ quan, tổ chức, cá nhân là yêu cầu khách quan

Nhà nước thực hiện việc tiếp nhận những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh từ phía nhân dân về những quyết định, hành vi của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức nhà nước, đó là một sự phản ứng tự nhiên của con người

Trang 16

12

khi quyết định, hành vi quản lý của nhà nước đã được ban hành hoặc thực hiện

mà người dân thấy rằng nó không phù hợp, hoặc không đúng, xâm phạm đến

quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của xã hội Nhà nước có trách nhiệm tổ

chức gặp gỡ, tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân Đây chính là hoạt động tiếp công dân của cơ quan nhà nước, đặc biệt là cơ quan hành chính nhà nước

Hoạt động tiếp công dân là một trong những hoạt động thường xuyên của các cơ quan nhà nước Thông qua việc tiếp công dân, Nhà nước kịp thời tiếp nhận và xử lý những vấn đề phát sinh trong quản lý nhà nước, lắng nghe được những ý kiến của dân, nhận được những thông tin kịp thời phản ánh về quá trình thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Trên

cơ sở đó Đảng và Nhà nước có thể điều chỉnh sửa đổi, bổ sung kịp thời các chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tế phát triển vận động của xã hội

Trước khi có Luật tiếp công dân năm 2013, thuật ngữ tiếp công dân đã thường xuyên xuất hiện trong đời sống hàng ngày, trong hoạt động quản lý của nhà nước và trong các văn bản pháp luật, được hiểu rằng đó là một hoạt động của quản lý nhà nước, xác định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong tiếp công dân, trình tự, thủ tục tiến hành tiếp công dân Tuy nhiên chưa có một khái niệm chính thức về tiếp công dân trong bất kỳ văn bản nào

Luật tiếp công dân năm 2013 khái niệm:“Tiếp công dân là việc cơ quan,

tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật” [21]

Như vậy, tiếp công dân là hoạt động cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận thông tin từ người dân thông qua ba hoạt động đó là: khiếu nại; tố cáo; kiến nghị, phản ánh

Trang 17

13

1.1.2 Đặc điểm của tiếp công dân

Là một hoạt động trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước nhằm đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật, hoạt động tiếp công dân có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, tiếp công dân là hoạt động được thực hiện bởi chủ thể mang

quyền lực nhà nước, theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Chủ thể mang quyền lực nhà nước ở đây cụ thể đó là các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận những thông tin từ công dân để lắng nghe, giải quyết các yêu cầu của công dân, việc giải quyết phải theo một quy trình cụ thể do luật định Đặc điểm này nhằm xác định trách nhiệm của nhà nước, cụ thể là trách nhiệm của người có thẩm quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, đồng thời cũng nhằm hạn chế sự né tránh, đùn đẩy hay lạm quyền, tùy tiện trong công tác tiếp dân

Thứ hai, tiếp công dân là hoạt động có mục đích thể hiện bản chất của nhà

nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Nhà nước thực hiện việc tiếp công dân nhằm phát huy dân chủ và đảm bảo quyền công dân được thực hiện trên thực tế đó là các quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đồng thời chính từ hoạt động đó nhà nước tiếp nhận và thấy được hiệu quả của việc quản lý, là kênh thông tin quan trọng để nhà nước kiểm tra, giám sát bộ máy quản lý, phát hiện và báo động về những khiếm khuyết, trục trặc của hệ thống quản

lý ở các tầng nấc, qua đó xem xét, điều chỉnh kịp thời, phản ánh sự đồng thuận của

xã hội, thái độ của công dân đối với nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, chính

là thước đo thái độ của công dân với chế độ chính trị

Thứ ba, tiếp công dân là hoạt động đa dạng, phức tạp: Khác với hoạt động

tiếp xúc giữa công dân với cơ quan nhà nước để giải quyết các công việc cụ thể thông thường diễn ra liên tục hàng ngày liên quan đến quản lý nhà nước trên các lĩnh vực theo thủ tục nhất định Đối với quản lý hành chính nhà nước, nhà nước và

Trang 18

14

công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trên cơ sở các quy định về thủ tục hành chính trong từng lĩnh vực, khi công dân đáp ứng đầy đủ các yêu cầu liên quan đến hồ sơ, thủ tục thì nhà nước có nghĩa vụ thực hiện để giải quyết một công việc cụ thể cho công dân, kết quả của việc thực hiện này là người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính

Đối với hoạt động tiếp công dân, việc tiếp xúc giữa nhà nước và công dân

là để nhà nước tiếp nhận, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân Các khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị xuất phát từ chính hoạt động quản lý nhà nước nêu trên khi công dân cho rằng quyết định hay hành vi của người

có thẩm quyền, của cán bộ, công chức nhà nước là trái quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích của công dân, của xã hội Hoạt động tiếp công dân bao gồm tiếp công dân khiếu nại, tiếp công dân tố cáo, tiếp công dân kiến nghị, phản ánh, trong mỗi trường hợp thì việc tiếp xúc giữa nhà nước và công dân cũng được thực hiện một cách linh hoạt, đa dạng, phong phú tùy theo tính chất phức tạp của từng vụ việc, theo từng nội dung, cụ thể đó là:

- Đối với khiếu nại: Khi công dân khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì công dân thực hiện quyền khiếu nại, tức là quyền đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính [20] Do vậy, việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại của công dân được thực hiện theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, xác định về nội dung, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn khiếu nại, đối với khiếu nại không đúng quy định thì hướng dẫn, giải thích cho công dân về các quy định của pháp luật liên quan

- Đối với tố cáo: Khi công dân nhận thấy có hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì

Trang 19

15

công dân có quyền tố cáo, tức là báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết Việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo của công dân được thực hiện theo quy định của Luật Tố cáo năm 2011 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tố cáo, trường hợp tố cáo thuộc thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiến hành xác minh, giải quyết kịp thời nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật, trường hợp khẩn cấp thì cán bộ tiếp công dân phải có trách nhiệm báo cáo với cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn kịp thời hành vi nguy hiểm và có biện pháp bảo vệ người tố cáo Trường hợp tố cáo không thuộc thẩm quyền thì cán

bộ tiếp công dân hướng dẫn công dân hoặc chuyển tố cáo đến cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết [19]

- Đối với kiến nghị, phản ánh của dân: Ngoài việc công dân thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo nêu trên, công dân còn được thực hiện quyền cung cấp các thông tin, trình bày ý kiến, nguyện vọng, đề xuất giải pháp với cơ quan,

tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, công tác quản lý trong các lĩnh vực đời sống xã hội thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân

đó Những kiến nghị, phản ánh của công dân không phải là nhằm bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm trước quyết định hành chính hay hành vi hành chính của cơ quan nhà nước và không phải là việc thông báo về hành vi vi phạm pháp luật Việc kiến nghị, phản ánh của công dân chính là việc công dân trình bày nguyện vọng, tâm tư của mình hoặc phản ánh những vấn đề

có liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, công tác quản lý trong các lĩnh vực đời sống xã hội, nội dung kiến nghị, phản ánh của công dân đa dạng về các lĩnh vực

Trang 20

16

1.2 Khái niệm, đặc điểm, hình thức và nội dung thực hiện pháp luật

về tiếp công dân

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về tiếp công dân

1.2.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về tiếp công dân

Về phương diện lý luận, thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại những quan điểm sau: Theo quan điểm của Trường Đại học luật Hà Nội:

“Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hoá các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” Quan điểm của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội: “Thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình có mục đích làm cho những quy định pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật”

Như vậy, pháp luật có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội, nhưng vai trò đó chỉ trở thành hiện thực khi pháp luật được mọi chủ thể tuân thủ, chấp hành, sử dụng có hiệu quả và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các chủ thể được Nhà nước trao quyền áp dụng một cách đúng đắn pháp luật Hay nói cách khác pháp luật đó phải được thực hiện nghiêm chỉnh trong cuộc sống Nghiên cứu thực hiện pháp luật cho thấy, nó được thể hiện dưới các hình

thức như tuân thủ, chấp hành, sử dụng và áp dụng pháp luật Như vậy, thực hiện

pháp luật tuy được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng cuối cùng nó đều là những hoạt động có mục đích, có định hướng để đưa các quy phạm pháp luật đi vào cuộc sống Với cách tiếp cận này, có thể hiểu khái niệm thực hiện pháp

luật như sau: Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích, có chủ

định để làm cho các quy phạm pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hoạt động thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật

Từ khái niệm thực hiện pháp luật cũng như khái niệm và các đặc điểm của tiếp công dân như đã nêu trên làm cơ sở để tác giả nghiên cứu khái niệm thực hiện pháp luật về tiếp công dân như sau:

Trang 21

17

Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta, để thực hiện tốt mối quan hệ hai chiều giữa nhà nước và công dân, giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, tạo sự đồng thuận giữa nhà nước và công dân, nhà nước có trách nhiệm tiếp công dân, việc ban hành pháp luật về tiếp công dân làm cơ sở pháp lý cho hoạt động tiếp công dân được thực hiện trên thực tế Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện, tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân, nhà nước quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các cá nhân, tổ chức trong việc tổ chức tiếp công dân; trách nhiệm quản lý công tác tiếp công dân; các hành vi bị nghiêm cấm; quyền

và nghĩa vụ của công dân

Từ sự phân tích trên có thể đi tới khái niệm: Thực hiện pháp luật về tiếp

công dân là quá trình hoạt động có mục đích, có chủ định của các cơ quan Nhà nước, các cá nhân, tổ chức, nhằm làm cho các quy phạm pháp luật về tiếp công dân được thực hiện trong thực tế, đảm bảo cho các cá nhân có thẩm quyền lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

1.2.1.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về tiếp công dân

Thực hiện pháp luật về tiếp công dân ngoài những đặc điểm của thực hiện pháp luật nói chung, còn có những đặc điểm riêng được qui định bởi vị trí, vai trò của nó trong đời sống xã hội Phân tích khái niệm thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở Việt Nam cho thấy thực hiện pháp luật về tiếp công dân có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, chủ thể thực hiện pháp luật về tiếp công dân là các cơ quan

hành chính nhà nước, thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập và công dân

Trang 22

18

Đặc điểm này xuất phát từ vị trí, vai trò hết sức quan trọng của pháp luật

về tiếp công dân, đó là việc thông qua thực hiện pháp luật về tiếp công dân góp phần lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật

Thứ hai, địa điểm thực hiện pháp luật về tiếp công dân là trụ sở làm việc

của cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm tiếp công dân Điều đó được hiểu là việc tiếp công dân được tiến hành tại nơi quy định được gọi là Trụ sở tiếp công dân, nơi để công dân trực tiếp đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với lãnh đạo Đảng, Nhà nước ở trung ương hoặc lãnh đạo Đảng, chính quyền ở địa phương hoặc là nơi để lãnh đạo Đảng, Nhà nước ở Trung ương hoặc địa phương trực tiếp tiếp công dân trong những trường hợp cần thiết

Thứ ba, người được hưởng lợi từ thực hiện pháp luật về tiếp công dân là

người có khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh được giải thích, hướng dẫn về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật, được giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, đồng thời cũng góp phần nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho người dân

Thứ tư, kết quả của thực hiện pháp luật về tiếp công dân là việc ban hành

những văn bản hành chính cá biệt theo quy định, tùy theo từng nội dung tiếp công dân, theo từng trường hợp cụ thể bộ phận tiếp công dân ban hành một trong các loại văn bản sau: phiếu đề xuất thụ lý đơn, phiếu hẹn, báo cáo, hướng dẫn, công văn đôn đốc, thông báo, phiếu chuyển

Thứ năm, thực hiện pháp luật về tiếp công dân có vai trò rất quan trọng

trong các hoạt động của Đảng, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta Thông qua việc tiếp công dân, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức tiếp nhận được các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật để có các biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời Làm tốt công tác tiếp công dân là thể hiện

Trang 23

19

bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tăng cường mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước Mặt khác, thông qua công tác tiếp công dân giúp cho Đảng và Nhà nước tiếp nhận được những thông tin phản hồi từ thực tế, những vấn đề nảy sinh từ cuộc sống, từ đó đề ra những chủ trương, quyết sách đúng đắn, hợp lòng dân

1.2.2 Hình thức thực hiện pháp luật về tiếp công dân

Hình thức thực hiện pháp luật được hiểu là cách thức, biện pháp mà chủ thể sử dụng để đưa pháp luật vào đời sống Nghiên cứu thực hiện pháp luật về tiếp công dân, cho thấy các hình thức thực hiện pháp luật bao gồm tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật về tiếp công dân Cụ thể là:

Tuân thủ pháp luật về tiếp công dân là một hình thức thực hiện pháp luật

về tiếp công dân, trong đó các chủ thể thực hiện pháp luật về tiếp công dân kiềm chế không thực hiện những hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật:

- Đối với cán bộ tiếp công dân không được: Gây phiền hà, sách nhiễu hoặc cản trở người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; Thiếu trách nhiệm trong việc tiếp công dân; làm mất hoặc làm sai lệch thông tin, tài liệu do người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cung cấp; Phân biệt đối xử trong khi tiếp công dân [21]

- Đối với công dân, pháp luật nghiêm cấm: Lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh để gây rối trật tự công cộng; Xuyên tạc, vụ khống, gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; Đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức, đơn vị, người tiếp công dân, người thi hành công vụ; Kích động, cưỡng

ép, dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc người khác tập trung đông người tại nơi tiếp công dân; Vi phạm các quy định trong nội quy, quy chế tiếp công dân [21]

Chấp hành pháp luật về tiếp công dân là một hình thức thực hiện pháp

luật về tiếp công dân, trong đó các chủ thể thực hiện pháp luật về tiếp công dân thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Pháp luật về tiếp

Trang 24

20

công dân có nhiều quy định cho các chủ thể và các đối tượng khác tham gia vào quá trình thực hiện pháp luật về tiếp công dân có những nghĩa vụ nhất định trong hoạt động của mình Đối với công dân khi đến nơi tiếp công dân có các nghĩa vụ sau đây: Nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có); Có thái độ đúng mực, tôn trọng đối với người tiếp công dân; Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại,

tố cáo, kiến nghị, phản ánh; ký hoặc điểm chỉ xác nhận những nội dung trình bày đã được người tiếp công dân ghi chép lại; Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy tiếp công dân và hướng dẫn của người tiếp công dân; Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung thì phải cử người đại diện để trình bày nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung khiếu nại, tố cáo của mình Đối với người tiếp công dân, khi tiếp công dân phải bảo đảm trang phục chỉnh tề, có đeo thẻ công chức, viên chức hoặc phù hiệu theo quy định; Có thái độ đứng mực, tôn trọng công dân, lắng nghe, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh hoặc ghi chép đầy đủ, chính xác nội dung mà công dân trình bày; Giải thích, hướng dẫn cho công dân chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, kết luận, quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền; hướng dẫn công dân đến đúng cơ quan hoặc người có thẩm quyền giải quyết; Trực tiếp xử lý hoặc phân loại, chuyển đơn, trình người có thẩm quyền

xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; thông báo kết quả xử lý khiếu nại,

tố cáo, kiến nghị, phản ánh cho công dân [21]

Sử dụng pháp luật về tiếp công dân cũng là một hình thức thực hiện pháp

luật về tiếp công dân, trong đó các chủ thể tích cực thực hiện các quyền của mình theo quy định của pháp luật Pháp luật về tiếp công dân quy định nhiều quyền cho các chủ thể tham gia vào quá trình thực hiện pháp luật về tiếp công dân Chẳng hạn: Công dân có các quyền sau đây: Trình bày về nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; Được hướng dẫn, giải thích về nội dung liên quan đến

Trang 25

21

khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của mình; Khiếu nại, tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của người tiếp công dân; Nhận thông báo về việc tiếp nhận, kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh không sử dụng thông thạo tiếng Việt thì có quyền sử dụng người phiên dịch Người tiếp công dân có quyền được từ chối tiếp công dân trong các trường hợp công dân trong tình trạng say do dùng chất kích thích, người mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; Người có hành vi đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức, đơn vị, người tiếp công dân, người thi hành công vụ hoặc có hành

vi khác vi phạm nội quy nơi tiếp công dân; Người khiếu nại, tố cáo về vụ việc đã giải quyết đúng chính sách, pháp luật, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, rà soát, thông báo bằng văn bản và đã được tiếp, giải thích, hướng dẫn nhưng vẫn cố tình khiếu nại, tố cáo kéo dài; Những trường hợp khác theo quy định của pháp luật [21]

Áp dụng pháp luật về tiếp công dân là một hình thức thực hiện pháp luật

về tiếp công dân, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các cá nhân được Nhà nước trao quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật về tiếp công dân để ra các văn bản áp dụng pháp luật cá biệt làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật trong hoạt động tiếp công dân Chẳng hạn, Điều 28 Luật tiếp công dân năm 2013 quy định về thông báo kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh: “Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, người tiếp công dân có trách nhiệm trả lời trực tiếp hoặc thông báo bằng văn bản đến người đã đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một trong các nội dung sau đây: Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đã được thụ lý để giải quyết; Việc xem xét khiếu nại, tố cáo để thụ lý cần kéo dài thời gian do cần xác minh thêm theo quy định của Luật khiếu nại, Luật tố cáo; Từ chối thụ lý đối với khiếu nại, tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc

Trang 26

là áp dụng pháp luật về tiếp công dân

Tất cả bốn hình thức nêu trên đều nhằm đưa pháp luật về tiếp công dân

đi vào cuộc sống, làm cho các quy định pháp luật trở nên thực tế và những hoạt động đó gọi là thực hiện pháp luật về tiếp công dân

1.2.3 Nội dung thực hiện pháp luật về tiếp công dân

Thực hiện pháp luật về tiếp công dân là hoạt động có mục đích nhằm làm cho các quy định của pháp luật về tiếp công dân đi vào thực tiễn cuộc sống, biến

nó thành những hành vi xử sự thực tế của các chủ thể, góp phần phát huy tính tích cực, chủ động trong hoạt động tiếp công dân Pháp luật về tiếp công dân được thực hiện trong đời sống xã hội thông qua các hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Các quy phạm pháp luật về tiếp công dân của nước ta hiện nay ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, với nội dung rộng, liên quan đến tất cả các mặt của hoạt động tiếp công dân Tuy vậy, có thể khái quát nội dung của thực hiện pháp luật về tiếp công dân gồm 4 vấn đề cơ bản như sau:

Thứ nhất, thực hiện pháp luật trong trách nhiệm tiếp công dân

Trách nhiệm tiếp công dân là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có thể phân thành 2 loại cơ quan

có trách nhiệm tiếp công dân gồm:

- Cơ quan quản lý có thẩm quyền chung: Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã;

Trang 27

23

- Cơ quan quản lý theo ngành, lĩnh vực: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các

Sở, cơ quan ngang Sở và các đơn vị trực thuộc

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan hành chính nhà nước

có trách nhiệm tổ chức việc tiếp công dân theo quy định của pháp luật

Thứ hai, thực hiện pháp luật theo mô hình tiếp công dân

Ngày 14/6/2010 Thủ tướng Chính Phủ ban hành Quyết định TTg Phê duyệt Đề án Đổi mới công tác tiếp công dân, quy định về mô hình tổ chức và hoạt động của cơ quan tiếp công dân các cấp: Ở Trung ương tổ chức tiếp công dân chung tại Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, làm nhiệm vụ tiếp công dân cho Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ Ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức tiếp công dân tại Văn phòng Bộ Ở cấp tỉnh tổ chức tiếp công dân chung tại Trụ sở tiếp công dân của tỉnh, làm nhiệm vụ tiếp công dân cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND và Đoàn Đại biểu Quốc hội Văn phòng UBND tỉnh thành lập Phòng tiếp công dân để chủ trì, điều hòa, phối hợp việc tiếp công dân giữa các cơ quan tham gia tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân của tỉnh Ở cấp huyện tổ chức tiếp công dân tại Văn phòng Ủy ban nhân dân huyện, làm nhiệm vụ tiếp công dân cho Huyện ủy, HĐND và UBND Ở cấp xã, việc tiếp công dân do Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn phân công, không có cán bộ chuyên trách làm công tác tiếp công dân [30]

858/QĐ-Luật tiếp công dân năm 2013 quy định về mô hình tổ chức tiếp công dân của các cơ quan, tổ chức, đơn vị Việc tiếp công dân được thực hiện tại Trụ sở tiếp công dân Trụ sở tiếp công dân là nơi để công dân trực tiếp đến phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo với lãnh đạo Đảng, Nhà nước ở Trung ương hoặc lãnh đạo Đảng, chính quyền ở địa phương; có đại diện của một số cơ quan, tổ chức tại Trung ương hoặc địa phương tham gia tiếp công dân thường xuyên và

là nơi để lãnh đạo Đảng, Nhà nước ở Trung ương hoặc địa phương trực tiếp tiếp công dân trong những trường hợp cần thiết Trụ sở tiếp công dân bao gồm:

Trang 28

24

- Trụ sở tiếp công dân ở Trung ương, được đặt tại Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh, là nơi tiếp công dân đến phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo với các cơ quan Trung ương của Đảng, Chủ tịch nước, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ Ban tiếp công dân Trung ương thuộc Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm quản lý Trụ sở này Văn phòng Trung ương Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Ban Dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội cử đại diện phối hợp cùng Ban tiếp công dân Trung ương thực hiện việc tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân ở Trung ương [21]

- Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh, đây là nơi tiếp công dân đến phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo với Tỉnh ủy, Đoàn đại biểu Quốc hội, HĐND, UBND cấp tỉnh Để quản lý Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh, Ban tiếp công dân cấp tỉnh được thành lập trực thuộc Văn phòng UBND cấp tỉnh, do một Phó Chánh Văn phòng phụ trách Văn phòng Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Ban Nội chính Tỉnh ủy, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh cử đại diện phối hợp cùng Ban tiếp công dân cấp tỉnh thực hiện việc tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh [21]

- Trụ sở tiếp công dân cấp huyện là nơi tiếp công dân đến phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo với Huyện ủy, HĐND, UBND cấp huyện Để quản lý Trụ

sở tiếp công dân cấp huyện, Ban tiếp công dân cấp huyện được thành lập trực thuộc Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện, do một Phó Chánh Văn phòng phụ trách, chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý Trụ sở tiếp công dân cấp huyện Văn phòng Huyện ủy, Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy cử đại diện phối hợp cùng Ban tiếp công dân cấp huyện thực hiện việc tiếp công dân thường xuyên tại Trụ

sở tiếp công dân cấp huyện[21]

- Ở cấp xã, việc tiếp công dân của cấp ủy, HĐND, UBND cấp xã được thực hiện tại trụ sở UBND Chủ tịch UBND cấp xã trực tiếp phụ trách công tác tiếp công dân [21]

Trang 29

25

Như vậy, trên cơ sở quy định của pháp luật, mô hình tiếp công dân được quy định cụ thể, Ban tiếp công dân được thành lập ở mỗi cấp và việc phụ trách Ban tiếp công dân ở Trung ương và địa phương có sự khác nhau, đối với Trung ương thuộc Thanh tra tra Chính phủ, đối với địa phương như cấp tỉnh và cấp huyện: Ban tiếp công dân thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân; đối với cấp xã thì không thành lập Ban tiếp công dân, việc tiếp công dân do Chủ tịch UBND cấp

xã trực tiếp phụ trách

Thứ ba, thực hiện pháp luật về quy trình tiếp công dân

Là một trong những hoạt động của quản lý hành chính nhà nước, việc tiếp công dân được thực hiện với một quy trình do luật định Các chủ thể thực hiện pháp luật về tiếp công dân có trách nhiệm thực hiện theo trình tự, thủ tục bắt buộc Trình tự, thủ tục này thể hiện trong mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước với công dân, đối với cơ quan nhà nước khi tiếp công dân thực hiện các quy trình có sự khác nhau giữa tiếp người tố cáo, tiếp người khiếu nại, tiếp người kiến nghị, phản ánh; đối với công dân tùy thuộc vào yêu cầu nội dung vụ việc mà thực hiện các thủ tục bắt buộc theo quy định

Thông tư số 06/2014/TT-TTCP ngày 31 tháng 10 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định về quy trình tiếp công dân bao gồm quy trình tiếp người khiếu nại, quy trình tiếp người tố cáo, quy trình tiếp người kiến nghị, phản ánh Theo đó, mỗi quy trình tiếp công dân được thực hiện có những nội dung khác nhau phụ thuộc vào tính chất của nội dung vụ việc nhưng điểm chung của tiếp công dân ở các quy trình gồm các bước cơ bản đó là: [28]

Bước 1: Xác định nhân thân của công dân

Bước 2: Nghe, ghi chép, tiếp nhận thông tin, tài liệu

Bước 3: Phân loại, xử lý đơn thư

Trình tự, thủ tục tiếp công dân được quy định phù hợp với mục tiêu của quản lý hành chính nhà nước, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất,

Trang 30

Thứ tư, thực hiện pháp luật về các biện pháp bảo đảm cho hoạt động tiếp

công dân

Các biện pháp bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân là các biện pháp pháp lý do pháp luật quy định nhằm đảm bảo cho việc thực hiện hiệu quả của hoạt động tiếp công dân, các biện pháp bảo đảm trong hoạt động tiếp công dân bao gồm:

- Bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, bao gồm: Nơi tiếp công dân,

sổ sách, thiết bị máy móc như máy tính, điện thoại, máy ghi âm, máy ghi hình

Trong các điều kiện về cơ sở vật chất trên thì điều kiện đảm bảo về nơi tiếp công dân là quan trọng nhất, đó chính là trụ sở tiếp công dân, là địa điểm tiếp công dân hoặc nơi làm việc nhất định, nơi để công dân trực tiếp đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với lãnh đạo Đảng, Nhà nước và là nơi để lãnh đạo Đảng, Nhà nước trực tiếp tiếp công dân trong những trường hợp cần thiết Tuy nhiên không thể coi nhẹ các điều kiện về cơ sở vật chất khác còn lại, các điều kiện này là rất cần thiết, có tác dụng hỗ trợ, phục vụ cho hoạt động tiếp công dân, để hoạt động tiếp công dân được thực hiện một cách thuận lợi, đúng trình tự, thủ tục, thể hiện tính trang nghiêm, chuyên nghiệp trong công tác tiếp công dân

Nhà nước thực hiện chú trọng trong việc bố trí địa điểm tiếp công dân ở nơi thuận lợi cho việc đến của công dân, bố trí các điều kiện cơ sở vật chất khác được trang bị đầy đủ phục vụ hiệu quả cho hoạt động tiếp công dân

Trang 31

27

- Bảo đảm về yếu tố cán bộ làm công tác tiếp dân: [21]

Cán bộ làm công tác tiếp công dân phải là người có năng lực, được đào tạo cơ bản, am hiểu về chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nắm rõ các quy định của địa phương; là người có phẩm chất đạo đức tốt, lắng nghe và tôn trọng công dân, có trách nhiệm trong công việc, hướng dẫn, giải thích, xử lý kịp thời các đơn thư của công dân, phối hợp trong hoạt động tiếp công dân

Có thể nói rằng, khi công dân có khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh là khi đó bản thân họ đang là người có tâm lý bức xúc, có yêu cầu cần được giải thích, cần được hiểu rõ, cần được giải quyết về một vấn đề nào đó nên họ đến cơ quan nhà nước, do vậy không thể gặp gỡ cán bộ tiếp công dân là người đại diện cho cơ quan công quyền mà lại không hiểu được điều công dân yêu cầu, không giải thích được các quy định của pháp luật về điều công dân cần giải quyết điều đó có nghĩa là tâm tư, nguyện vọng, bức xúc của công dân không được giải quyết mà còn làm cho uy tín của người cán bộ, của chính quyền trong dân bị giảm đi

Như vậy, yếu tố cán bộ có vai trò rất quan trọng và có tính quyết định hiệu quả của hoạt động tiếp công dân Để điều kiện này được bảo đảm thì nhà nước cần có cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm, bố trí cán bộ phù hợp về trình độ đào tạo, về năng lực công tác, về phẩm chất đạo đức, đồng thời thường xuyên thực hiện việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ tiếp công dân cho cán bộ làm công tác tiếp công dân

- Các điều kiện bảo đảm khác:

Để thực hiện pháp luật về tiếp công dân được hiệu quả thì bên cạnh các điều kiện bảo đảm nêu trên, nhà nước cần bảo đảm về các điều kiện khác như: kinh phí cho hoạt động tiếp công dân, chính sách đãi ngộ về chế độ phụ cấp, trang phục cho cán bộ làm công tác tiếp công dân, bảo đảm về an ninh, trật tự trong hoạt động tiếp công dân bảo vệ trụ sở tiếp công dân, bảo vệ cán bộ tiếp công dân

Trang 32

28

Xuất phát từ đặc thù của công việc tiếp công dân trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, công dân đi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh bản thân họ đang là người có tâm trạng bức xúc, họ đến với cơ quan nhà nước như muốn để “xả” cái bức xúc đó, đặc biệt là những người đi khiếu nại và tố cáo thì tính chất, mức độ của nỗi bức xúc có phần gay gắt hơn, có những công dân có khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đúng đắn nhưng bên cạnh đó còn có cả những công dân lợi dụng quyền dân chủ cố tình không hiểu các quy định của Đảng và Nhà nước với mục đích quấy rối, bè phái, tụ tập Do đó cán bộ tiếp công dân thường là nơi bị dân trút hết tức giận uất ức, thậm chí còn lăng mạ Đó chính là áp lực về tâm lý tác động đến người cán bộ tiếp công dân, có những người muốn chuyển công tác khác, có những người bị ảnh hưởng đến tinh thần

và sức khỏe Do vậy nhà nước có chính sách thích đáng đảm bảo về kinh phí chi cho các hoạt động tiếp dân, khen thưởng, chính sách đãi ngộ về phụ cấp, về trang phục hỗ trợ cán bộ làm công tác tiếp dân là cần thiết góp phần khuyến khích, động viên cán bộ tiếp công dân yên tâm công tác, hoàn thành nhiệm vụ Bên cạnh đó cần có sự phối hợp với cơ quan công an để đảm bảo về an ninh, trật

tự, bảo vệ trụ sở tiếp công dân, bảo vệ người tiếp công dân

1.3 Điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về tiếp công dân

1.3.1 Điều kiện về pháp luật

Hệ thống pháp luật về tiếp công dân tác động trực tiếp đến việc thực hiện pháp luật, nếu các quy định của pháp luật phù hợp với đường lối chính sách, rõ ràng, dễ hiểu, các văn bản không chống chéo, mâu thuẫn thì việc thực hiện pháp luật sẽ đạt được hiệu quả cao, tính khả thi của pháp luật không bị hạn chế, ngược lại nếu quy định pháp luật không rõ ràng, chồng chéo, mâu thuẫn, có nhiều kẽ

hở thì dễ bị lợi dụng và khó khăn cho việc thực hiện pháp luật và pháp luật không có tính khả thi

Hệ thống pháp luật về tiếp công dân hiện nay nhìn chung đã được ban hành đầy đủ, thống nhất, các văn bản quy định cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm tiếp công

Trang 33

29

dân, quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; việc

tổ chức tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân của cơ quan,

tổ chức, đơn vị và điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân

1.3.2 Điều kiện về kinh tế

Điều kiện về kinh tế hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế xã hội, hệ thống chính sách kinh tế, chính sách xã hội

và việc triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong lĩnh vực xã hội Nền kinh tế xã hội phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp luật, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của tầng lớp xã hội Ngược lại, nền kinh tế xã hội chậm phát triển, kém năng động và kém hiệu quả sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật Yếu tố kinh tế là nền tảng của sự nhận thức hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật Điều này được thể hiện đó là: điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất quan trọng đến lợi ích và do đó, tác động đến tư tưởng, quan điểm, thái độ, niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với pháp luật Khi nền kinh tế - xã hội phát triển, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, các cán bộ, công chức nhà nước, các tầng lớp nhân dân có điều kiện mua sắm các phương tiện nghe, nhìn, có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng và cập nhật Các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ dễ dàng đến được với đông đảo cán bộ và nhân dân; nhu cầu tìm hiểu, trang bị thông tin, kiến thức pháp luật trở thành nhu cầu thị giác, thường trực trong suy nghĩ và hành động của họ Điều đó giúp cho hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể mang tính tích cực, tự giác Còn khi kinh thế chậm phát triển, thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp gia tăng, lợi ích kinh tế không được đảm bảo, đời sống của cán bộ nhân dân gặp khó khăn thì tư tưởng sẽ diễn biến phức tạp, cái xấu có cơ hội nảy sinh, tác động tiêu cực tới việc thực hiện

Trang 34

Điều kiện chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể, đặc biệt là các cá nhân, cơ quan nhà nước

có thẩm quyền áp dụng pháp luật Môi trường chính trị - xã hội của đất nước ta trong những năm qua luôn ổn định, phát triển bền vững chính là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện pháp luật vì nó củng cố ý thức và niềm tin chính trị của cán bộ, đảng viên, và quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của đảng, việc thực hiện và áp dụng pháp luật luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Trong hoạt động thực hiện pháp luật, ý thức pháp luật thể hiện ở việc các chủ thể có chức năng áp dụng pháp luật quán triệt, thấm nhuần nhiệm vụ chính trị của mình, lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sát quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật, điều đó sẽ giúp cho hoạt động thực tiễn pháp luật thật sự đạt chất lượng, hiệu quả cao, khơi dậy ý thức, trách nhiệm chính trị của các chủ thể khác trong thực hiện pháp luật Tính chất, mức độ của nền dân chủ

xã hội cũng ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động thực hiện pháp luật trong điều kiện xã hội có nền dân chủ rộng rãi, thông tin đa dạng, phong phú nhiều chiều, người dân có thể thẳng thắn công khai, cởi mở bày tỏ chính kiến, quan điểm của mình đối với vấn đề pháp luật và các cơ quan pháp luật, sẵn sàng sử dụng quyền chủ thể của mình trong thực hiện pháp luật hoặc yêu cầu các cơ quan pháp luật trợ giúp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình

Trang 35

31

Ngược lại, trong trường hợp xã hội thiếu dân chủ, thông tin nghèo nàn, thậm chí bị bưng bít thì bầu không khí chính trị xã hội bị ngột ngạt, gò bó; như thế các công dân không dám nói thật suy nghĩ của mình

1.3.4 Điều kiện về văn hóa

Các phong tục tập quán, lối sống trong cộng đồng xã hội có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động thực hiện pháp luật của các tầng lớp nhân dân, phong tục tập quán lạc hậu, lỗi thời, trình độ dân trí thấp, tính tích cực chính trị xã hội của mỗi người dân hạn chế, gây khó khăn cho việc thực hiện pháp luật một cách đúng đắn, đồng thời dễ dẫn tới các hành vi vi phạm pháp luật Ngược lại nền văn hóa văn minh, tiến bộ, nó giúp cho các cán bộ pháp luật dễ dàng hơn trong việc phổ biến, tuyên truyền và thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến đông đảo người dân Ở đâu có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và mang dấu ấn của văn hoá pháp lý sẽ giúp cho các cơ quan hành chính, tư pháp hoàn thành tốt việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân, tâm tư nguyện vọng của nhân dân được các cán bộ, công chức lắng nghe và giải quyết triệt để Vì vậy, điều kiện về văn hóa là điều kiện đảm bảo việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở các địa phương trên cả nước

1.3.5 Điều kiện về tổ chức- kỹ thuật

Điều kiện về tổ chức - kỹ thuật đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân Cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở hạ tầng hiện đại đầy đủ gồm bàn ghế, sổ sách, máy móc như máy vi tính, máy ghi âm, ghi hình và việc tổ chức tiếp công dân được thực hiện một cách chuyên nghiệp, khoa học sẽ đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân được thực hiện thuận lợi Việc áp dụng công nghệ thông tin, tiếp nhận đơn thư của công dân qua hòm thư điện tử, đặt lịch hẹn công dân công khai, xếp lịch tiếp dân của cơ quan có thẩm quyền là điều kiện để việc thực hiện pháp luật tiếp dân được rõ ràng, minh bạch Hơn nữa, nếu tổ chức tiếp dân không chu đáo, không đúng người có thẩm quyền, không đúng đối tượng, nơi tiếp dân không

Trang 36

32

được bày trí trang trọng dễ dẫn đến việc bất đồng ý kiến giữa người dân và cán

bộ tiếp dân, ảnh hưởng đến kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo Do đó, yếu tố kỹ thuật, cách thức tổ chức là điều kiện đảm bảo cho pháp luật về tiếp dân được thực hiện có hiệu quả

tự, thủ tục do pháp luật quy định, là hoạt động có mục đích thể hiện bản chất của nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Nhà nước thực hiện việc tiếp công dân nhằm phát huy dân chủ và bảo đảm quyền công dân được thực hiện trên thực tế bao gồm quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh

Việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân là thực hiện các nội dung về trách nhiệm tiếp công dân, mô hình tổ chức tiếp công dân, trình tự, thủ tục và thực hiện các biện pháp bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân Thực hiện pháp luật về tiếp công dân được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau bao gồm tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật Thông qua thực hiện pháp luật về tiếp công dân Nhà nước và các cơ quan, tổ chức tiếp nhận được các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật để có các biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời, từ đó đề ra những chủ trương, quyết sách đúng đắn, hợp lòng dân

Trang 37

33

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CÔNG DÂN TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

2.1 Thực trạng pháp luật về tiếp công dân của Ủy ban nhân dân các cấp từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

2.1.1 Quy định của pháp luật về trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp và cán bộ, công chức từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

2.1.1.1.Quy định của pháp luật về trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Tiếp công dân được gắn liền với trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này được nói đến đó là trách nhiệm tiếp công dân của Chủ tịch UBND cấp huyện và cấp xã Luật tiếp công dân năm 2013 quy định cụ thể trách nhiệm này như sau:

Thứ nhất, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức công tác tiếp công dân của cơ quan mình

Với trách nhiệm này, Chủ tịch UBND các cấp thực hiện các công việc sau: Ban hành nội quy, quy chế tiếp công dân; Bố trí địa điểm thuận lợi cho việc tiếp công dân; bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ việc tiếp công dân; Phân công cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân thường xuyên; Phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan tiếp công dân và xử lý vụ việc nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung; Kiểm tra, đôn đốc cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có trách nhiệm thuộc quyền quản lý của mình thực hiện các quy định của pháp luật trong việc tiếp công dân; Có trách nhiệm bảo đảm an toàn, trật tự cho hoạt động tiếp công dân; Báo cáo tình hình, kết quả công tác tiếp công dân với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan Thanh tra thực hiện thanh tra trách nhiệm về thực hiện các quy định của pháp luật về tiếp

Trang 38

34

công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị, phản ánh của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, của Chủ tịch UBND cấp xã thuộc quyền quản lý Thông qua hoạt động thanh tra sẽ góp phần kịp thời chấn chỉnh, xử lý các vi phạm trong công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư của công dân Việc thanh tra trách nhiệm trong thực hiện các quy định của pháp luật về tiếp công dân bao gồm:

* Thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về Trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân và tổ chức tiếp công dân; Việc bố trí cán bộ tiếp công dân; Việc thực hiện tiếp công dân thường xuyên, định kỳ, đột xuất của cán bộ tiếp công dân, của thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước; Việc phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong tiếp công dân; Việc thực hiện quy trình tiếp công dân; Việc thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh trật tự, an toàn tại Trụ

sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân; sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc bảo đảm trật tự, an toàn nơi tiếp công dân [26]

* Thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan, tổ chức: Việc thực hiện quy định về trực tiếp tiếp công dân định kỳ và khi có yêu cầu cấp thiết của người đứng đầu cơ quan, tổ chức: Thời gian tiếp, số lượt người được tiếp; số người, số vụ việc do người đứng đầu trực tiếp tiếp; số người, số vụ việc do người đứng đầu ủy quyền cho người khác tiếp; Việc chuẩn bị của cơ quan, tổ chức phục vụ cho việc tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan, tổ chức; Việc thực hiện quy trình tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan, tổ chức; Hiệu quả tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan, tổ chức [26]

* Thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về theo dõi, tổng hợp tình hình khiếu nại, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân: Việc tổng hợp tình hình công dân đến khiếu nại, kiến nghị, phản ánh; tình hình an ninh, trật tự tại Trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân;

Trang 39

Thứ ba, trách nhiệm thực hiện việc tiếp công dân đột xuất

Ngoài trách nhiệm tiếp công dân định kỳ, Chủ tịch UBND các cấp thực hiện việc tiếp công dân đột xuất trong các trường hợp sau đây: Vụ việc gay gắt, phức tạp, có nhiều người tham gia, liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan,

tổ chức, đơn vị hoặc ý kiến của các cơ quan, tổ chức, đơn vị còn khác nhau; Vụ việc nếu không chỉ đạo, xem xét kịp thời có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc có thể dẫn đến hủy hoại tài sản của Nhà nước, của tập thể, xâm hại đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội (Điều 18, Luật tiếp công dân năm 2013)

Pháp luật quy định trách nhiệm của Chủ tịch UBND các cấp trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức công tác tiếp công dân; trực tiếp thực hiện việc tiếp công dân định kỳ và tiếp đột xuất Đây là một trong những chức năng nhiệm vụ của Chủ tịch UBND các cấp, không chỉ là lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức mà còn trực tiếp thực hiện tiếp công dân, thông qua hoạt động này người quản lý được tiếp xúc trực tiếp với công dân, trực tiếp lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của công dân, trực tiếp xem xét, chỉ đạo, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị thuộc thẩm quyền, cũng qua đó nắm bắt được tình hình thực hiện trách nhiệm trong công tác tiếp công dân của cán bộ, công chức giúp mình trong hoạt động tiếp công dân, nắm bắt được thực tiễn việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân của các cơ quan chuyên môn giúp việc và của chính quyền cấp dưới để

Trang 40

Khi thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân có những trách nhiệm sau: Phải bảo đảm trang phục chỉnh tề, có đeo thẻ công chức, viên chức hoặc phù hiệu theo quy định; Có thái độ đúng mực, tôn trọng công dân, lắng nghe, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh hoặc ghi chép đầy đủ, chính xác nội dung mà người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình bày; Giải thích, hướng dẫn cho người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, kết luận, quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền; hướng dẫn người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến đúng cơ quan hoặc người có thẩm quyền giải quyết; Trực tiếp xử lý hoặc phân loại, chuyển đơn, trình người có thẩm quyền xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; thông báo kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cho công dân; Yêu cầu người vi phạm nội quy nơi tiếp công dân chấm dứt hành vi vi phạm; trong trường hợp cần thiết, lập biên bản về việc vi phạm và yêu cầu cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật (Điều 8, Luật tiếp công dân năm 2013)

2.1.2 Quy định của pháp luật về mô hình tiếp công dân

Trước khi có Luật tiếp công dân năm 2013, tùy thuộc vào đặc thù từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị khác nhau trong hệ thống hành chính mà việc tiếp công dân được cơ quan Thanh tra phụ trách, có nơi tổ chức tiếp công dân do

Ngày đăng: 13/10/2016, 11:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bùi Mạnh Cường ( 2013) , “Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tiếp công dân”, Đề tài khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tiếp công dân”
12. Lê Đình Đấu - Vụ trưởng vụ xét khiếu tố, “Cải cách thủ tục hành chính trong tiếp dân, giải quyết KN, tố cáo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Đình Đấu - Vụ trưởng vụ xét khiếu tố, “"Cải cách thủ tục hành chính trong tiếp dân, giải quyết KN, tố cáo
13. Nguyễn Thị Hằng ( 2015), “Thực hiện pháp luật về tiếp công dân của Ủy ban nhân dân các cấp từ thực tiễn thành phố Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực hiện pháp luật về tiếp công dân của Ủy ban nhân dân các cấp từ thực tiễn thành phố Hà Nội
14. Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ( 2001), “Giải quyết khiếu tố của nhân dân - thực trạng và những bài học kinh nghiệm’’ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết khiếu tố của nhân dân - thực trạng và những bài học kinh nghiệm
23. Nguyễn Tuyết Trinh, “Quy trình tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo trong các cơ quan của Quốc hội ở nước ta hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo trong các cơ quan của Quốc hội ở nước ta hiện nay
24. Thanh tra Chính phủ ( 2006), “Tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tình hình mới”, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tình hình mới”
Nhà XB: Nxb Hà Nội
29. Thanh tra 7 tỉnh miền Bắc (2014), “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tình hình hiện nay”, Tham luận tại hội thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tình hình hiện nay
Tác giả: Thanh tra 7 tỉnh miền Bắc
Năm: 2014
43. Viện Khoa học Thanh tra và Trường Cán bộ Thanh tra, “Nghiệp vụ tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo”, Tài liệu phục vụ bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra, Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiệp vụ tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo”
1. Bộ Tài chính và Thanh tra Chính phủ (2012), Thông tư liên tịch số 46/2012/TTLT-BTC-TTCP ngày 16/3/2012 quy định về chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ công chức làm công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo Khác
2. Bộ Chính trị (2008), Thông báo kết luận số 130-TB/TW ngày 10/01/2008 về tình hình, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2006 đến nay Khác
3. TS.Bùi Mạnh Cường, TS. Nguyễn Thị Tố Uyên (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, Nxb Chính trị Quốc gia Khác
5. Chính phủ (1997), Nghị định số 89/CP ngày 07/8/1997 ban hành quy chế tổ chức tiếp công dân Khác
6. Chính phủ (2006), Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo Khác
7. Chính phủ (2012), Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại Khác
8. Chính phủ (2012), Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Tố cáo Khác
9. Chính phủ (2014), Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 quy định chi tiết một số điều của Luật tiếp công dân năm 2013 Khác
10. Chính phủ lâm thời (1945), Sắc lệnh số 64 ngày 23/11/1945 về thành lập Ban Thanh tra đặc biệt Khác
11. Chỉ thị số 09/CT/TW của Ban Bí thư về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay Khác
15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp năm 1992 Khác
16. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w