1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn thành phố cần thơ

85 368 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có một số đề tài khoa học liên quan đến một vài khía cạnh của lĩnh vực chăm sóc người có công với cách mạng ở các địa bàn khác như: Đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội tron

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

NGUYỄN THANH XUÂN

QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ

CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số : 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU …1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của Người có công với cách mạng 7

1.2 Khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc của quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng 14

1.3 Nội dung của quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng17 1.4 Quan điểm chính sách, pháp luật về quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng 20

1.5 Các yếu tố tác động đến quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng 35

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 39

2.1 Thực trạng Người có công với cách mạng tại thành phố cần Thơ 39

2.2 Tình hình quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng tại thành phố Cần Thơ 41

2.3 Thực trạng thực hiện nội dung của quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng 44

2.4 Thực trạng các yếu tố tác động đến quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng tại thành phố Cần Thơ 58

Chương 3: NÂNG CAO QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 64

3.1 Nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng tại thành phố Cần Thơ 64

3.2 Các định hướng nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng tại thành phố Cần Thơ 65

3.3 Các giải pháp tăng cường quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng tại thành phố Cần Thơ 69

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 77

Trang 4

NVTQ : Nghĩa vụ Tổ quốc

TB : Thương binh

TNXP : Thanh niên xung phong

TKN : Tiền khởi nghĩa

VNAH : Việt Nam anh hùng

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.1 Tình trạng sức khỏe người có công 42 Bảng 2.2 Nguồn thu nhập khác của người có công với cách mạng 43 Bảng 2.3 Vấn đề việc làm của người có công 44 Bảng 2.4 Hoàn cảnh gia đình của người có công 44 Bảng 2.5 Tình hình chi trả trợ cấp cho người có công trong từng năm 45 Bảng 2.6 Tình hình chi trả chế độ hàng tháng cho người có công 46

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện tại cả nước ta có khoảng 8,8 triệu người có công với cách mạng được hưởng chế độ ưu đãi một lần và hàng tháng, chiếm khoảng 10% dân số Trong đó, khoảng 1,47 triệu người hưởng trợ cấp hàng tháng, hàng chục nghìn con thương binh, con liệt sĩ được hưởng chế độ ưu đãi về giáo dục, đào tạo, chăm sóc y tế, hơn 1000 cán bộ lão thành cách mạng được hỗ trợ cải thiện nhà ở

Thành phố Cần Thơ là nơi số lượng dân cư tập trung tương đối đông, phân tán Trong chiến tranh, nhân dân thành phố Cần Thơ đã cùng với nhân dân

cả nước vùng lên đập tan xiềng xích nô lệ, đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ

tổ quốc Hòa bình lập lại, người dân thành phố Cần Thơ cần cù, chịu khó, đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, ra sức xây dựng quê hương giàu đẹp

Trong những năm gần đây chính quyền, đảng bộ và nhân dân thành phố

đã có nhiều cố gắng trong việc quan tâm, chăm lo mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần đối với các thương bệnh binh và gia đình của họ bằng nhiều việc làm thiết thực Do vậy, đời sống của nhiều gia đình người có công đã phần nào được

ổn định và cải thiện Song, với điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, bởi vậy việc chăm sóc, giúp đỡ mới chỉ có thể đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của họ mà chưa thể đáp ứng những nhu cầu đa dạng khác và giải quyết những vấn đề mang tính cá nhân, nhóm đối tượng đặc thù Do đó, cần thiết phải đẩy mạnh quản lý công tác xã hội với những phương pháp công tác xã hội cá nhân, nhóm, phương pháp tham vấn, hỗ trợ thông tin… nhằm hỗ trợ, nâng cao đời sống của người có công trên mọi phương diện Bên cạnh đó, quản lý công tác xã hội với người có công là lĩnh vực khoa học khá mới, nghề công tác xã hội đang được chú ý và coi trọng trong vấn đề trợ giúp các nhóm đối tượng yếu thế, gặp khó khăn trong cuộc sống Vì những lý do trên tác giả quyết định lựa chọn đề tài:

“Quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn thành phố Cần Thơ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

Trang 7

2

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thực hiện những chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với đối tượng người có công trên địa bàn thành phố Cần Thơ như phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa” hay “Uống nước nhớ nguồn”, chương trình “Giúp thương binh làm kinh tế” Tuy nhiên, các hoạt động này chưa gắn công tác xã hội trong việc trợ giúp đối tượng này

Đã có một số đề tài khoa học liên quan đến một vài khía cạnh của lĩnh

vực chăm sóc người có công với cách mạng ở các địa bàn khác như: Đề tài “Vai

trò của nhân viên công tác xã hội trong nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công với cách mạng ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa hiện nay” của sinh viên Lê Thị Hương, Trường Đại học Sư

phạm Hà Nội; đề tài: “Thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi đời sống người có

công với cách mạng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa và một số giải pháp khắc phục giai đoạn 2010 – 2015” của sinh viên Cao Thị Thuận, Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn; đề tài: “Hiệu quả của việc thực hiện chính sách ưu đãi đến đời sống thương binh, trên địa bàn phường Trường Thi năm 2010” của sinh viên

Hoàng Thị Thu Hoa, Trường Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa…

Những đề tài trên tiếp cận vấn đề ở khía cạnh tìm hiểu thực trạng công tác chăm sóc người có công hay đánh giá hiệu quả của chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công dưới góc nhìn của những người làm chính sách và đối tượng là những người có công với cách mạng Cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu sắc việc đưa công tác xã hội vào việc trợ giúp riêng cho đối tượng người có công tại thành phố Cần Thơ

Vì thế, đề tài “Quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn thành phố Cần Thơ” là đề tài tìm hiểu việc đưa quản lý

công tác xã hội vào trợ giúp cho đối tượng người có công với cách mạng tại thành phố Cần Thơ

Trang 8

hỗ trợ phù hợp để tăng cường quản lý công tác xã hội vào hoạt động trong lĩnh vực chính sách ưu đãi cho người có công ở nước ta hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý công tác

xã hội đối với người có công với cách mạng và công tác xã hội đối với người có công với cách mạng

- Phân tích, đánh giá những thực trạng về quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng

- Đề xuất những biện pháp nâng cao quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Những vấn đề lý luận và thực trạng quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn thành phố Cần Thơ

Trang 9

4

- Tiến hành phỏng vấn sâu những người là cán bộ, chuyên viên phụ trách lĩnh vực người có công ở các Trung tâm Công tác xã hội, Trung tâm Bảo trợ xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Lao động - Thương binh và

Xã hội và cán bộ Thương binh và xã hội cấp xã, phường, thị trấn

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Chính sách người có công với cách mạng có nội dung rộng, nhiều loại đối tượng thụ hưởng khác nhau, điều kiện, tiêu chuẩn xác nhận đối tượng khác nhau Tùy từng đối tượng, Nhà nước quy định mức trợ cấp, phụ cấp khác nhau; trong phạm vi của luận văn này không thể bao quát đầy đủ được, do đó, tác giả chọn một số vấn đề cơ bản lý luận để nghiên cứu, luận giải làm sáng tỏ quy định

về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở nước ta hiện nay, đó là: quan niệm về người có công với cách mạng, quản lý nhà nước về công tác chính sách người có công với cách mạng, khái quát tóm tắt chính sách người có công với cách mạng

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp phân tích tài liệu

Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu từ các văn bản pháp luật, tạp chí, các báo cáo khoa học để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu Việc xác định một số khái niệm chính của đề tài như: Người có công, ưu đãi xã hội, chính sách xã hội, công tác xã hội đối với người

có công và tìm hiểu những quy định chung về chế độ ưu đãi đối với người có công, tìm hiểu số liệu về quy mô, cơ cấu và thực trạng hỗ trợ xã hội cho người có công trên địa bàn

- Phương pháp điều tra bảng hỏi

Phương pháp này tác giả sử dụng trên khách thể là 200 người có công tại địa bàn nghiên cứu nhằm thu thập thông tin, số liệu về thực trạng đời sống của

họ, thông qua đó phân tích và nhận diện những khó khăn mà đối tượng đang gặp

Trang 10

5

phải, làm cơ sở cho tác giả đề xuất những giải pháp ở phần sau Số liệu được xử

lý sau khi điều tra và được phân tích tại chương 2 của luận văn

- Phương pháp phỏng vấn sâu

Kết hợp với điều tra bảng hỏi tác giả tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ phụ trách lĩnh vực người có công của các phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các quận, huyện của thành phố Cần Thơ, sau đó tổng hợp các câu trả lời nhằm có cái nhìn sâu hơn, cụ thể hơn về những chương trình chăm sóc, trợ giúp người có công trong thành phố

- Phương pháp thống kế

Phép thống kê được sử dụng trong nghiên cứu đó là: Phần mềm Excel sẽ được dùng để xử lý các dữ kiện thu được, phục vụ cho việc phân tích số liệu cũng

như đảm bảo tối đa tính khách quan trong quá trình nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài này thuộc nhóm đề tài nghiên cứu nhu cầu ứng dụng lý thuyết, phương pháp quản lý công tác xã hội vào việc giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể

Cụ thể là việc sử dụng hệ thống khái niệm, phạm trù, lý thuyết, phương pháp của Công tác xã hội vào việc mô tả, phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp về dịch vụ xã hội đối với người có công với cách mạng tại một địa bàn cụ thể là thành phố Cần Thơ

Trang 11

6

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ những chủ trương, chính sách hỗ trợ chế

độ ưu đãi của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công với cách mạng

Kết quả nghiên cứu cũng góp phần giúp những người quản lý có thêm cái nhìn toàn diện, tích cực trong công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách của Đảng, Nhà nước đến mọi đối tượng chính sách và cán bộ viên chức, đồng thời tổ chức thực hiện đầy đủ kịp thời chế độ chính sách đối với người có công

Giúp cho đối tượng hưởng chính sách nhận ra vấn đề và tiềm năng giải quyết vấn đề của mình Bên cạnh đó, giúp họ hiểu rõ các chế độ ưu đãi đối với

họ và các dịch vụ trợ giúp của việc quản lý công tác xã hội

Giúp cho nhân viên công tác xã hội nói riêng và các ngành khác nói chung hiểu biết thêm về các chế đội ưu đãi, các dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối với người có công và những yêu cầu cần thiết để trở thành nhân viên xã hội chuyên nghiệp trong lĩnh vực chăm sóc, trợ giúp người có công

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài Mở đầu; Kết luận; Danh mục tài liệu, các phụ lục, luận văn có 3 chương sau đây:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng

Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng tại thành phố Cần Thơ

Chương 3: Nâng cao quản lý công tác xã hội với người có công với cách mạng tại thành phố Cần Thơ

Trang 12

7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI

ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của Người có công với cách mạng

1.1.1 Khái niệm Người có công với cách mạng

“Cách mạng” được dùng trong nhiều phạm vi, góc độ khác nhau, tùy

từng trường hợp cụ thể, có thể được hiểu là cuộc biến đổi xã hội – chính trị lớn

và căn bản, thực hiện bằng việc lật đổ một chế độ xã hội lỗi thời, lập nên một chế

độ mới, tiến bộ hơn

Căn cứ các tiêu chuẩn đối với từng đối tượng là người có công mà nhà nước đã quy định, có thể nêu khái niệm “Người có công” theo 2 nghĩa sau:

Nghĩa rộng: NCC là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước Họ là người có những thành tích đóng góp hoặc cống hiến xuất sắc phục vụ vì lợi ích của đất nước, của dân tộc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật

Nghĩa hẹp: NCC là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước cách mạng tháng 8 năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật

Cho đến nay, hầu như chưa có một định nghĩa cụ thể về người có công với cách mạng Theo Pháp lệnh ưu đãi dành cho người có công với cách mạng,

“Người có công với cách mạng” là những người: “ Người hoạt động cách mạng

trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao

Trang 13

8

động; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp

đỡ cách mạng; Thân nhân của những người có công cách mạng”

Trong đó được khái niệm một cách rõ ràng về từng loại đối tượng cụ thể:

Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người

được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945

Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm

quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát

ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi

nghĩa 19 tháng Tám năm 1945

Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc,

bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch; Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục mà hy sinh; Làm nghĩa

vụ quốc tế; Đấu tranh chống tội phạm; Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; Do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng,

an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Bà mẹ Việt Nam anh hùng là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì

sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hay có thể hiểu Bà mẹ Việt Nam anh hùng là người đã sinh ra và nuôi dưỡng những đứa con liệt sĩ, theo quy định như sau:

Trang 14

9

- Có hai con trở lên là liệt sĩ

- Có hai con mà một con là liệt sĩ, một con là thương binh với thương tật từ 81% trở lên

- Chỉ có một con mà người đó là liệt sĩ;

- Có một con là liệt sĩ, chồng hoặc bản thân là liệt sĩ

Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh

Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp

“Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” thuộc một trong

các trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể; Làm nghĩa vụ quốc tế; Đấu tranh chống tội phạm; Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; Làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Trong đó được chia ra làm 4 loại: Thương binh loại 1 (trên 81%), thương binh loại 2 (từ 61% - 80%), thương binh loại 3 (từ 41% - 60%), thương binh loại 4 (từ 21% - 40%)

Người hưởng chính sách như thương binh là người không phải là quân nhân, công an nhân dân, bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thuộc một trong các trường hợp tại Điều 19 (quy định về thương binh) được

cơ quan có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như

thương binh"

Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh được gọi chung

là thương binh

Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả

năng lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan, đơn vị có

thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh" thuộc một trong các trường hợp

sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Hoạt động ở địa bàn có

Trang 15

1994

Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là người được

cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hoá học, bị mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động, sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do hậu quả của chất độc hoá học

Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù,

đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời

gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch

Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế được hưởng các chế độ ưu đãi quy định tại Điều 31 của Pháp lệnh ưu đãi người có công cách mạng (về trợ cấp, bảo hiểm) là người tham gia

kháng chiến được Nhà nước tặng “Huân chương kháng chiến”, “Huy chương

Trang 16

1.1.2 Đặc điểm tâm lý Người có công với cách mạng

Người có công với cách mạng họ luôn có ý thức tự hào về quá khứ cống hiến của mình cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, có tinh thần trách nhiệm giữ gìn những phẩm chất và truyền thống cách mạng của nhân dân ta, quân đội

ta Đại bộ phận người có công với cách mạng luôn gương mẫu trong đời sống và công tác, trung thành với chế độ xã hội chủ nghĩa mà bản thân họ đã không ngại

hy sinh, gian khổ để chiến đấu và bảo vệ

Người có công với cách mạng mong được mọi người quan tâm, chăm sóc hơn những người bình thường Do tâm trạng cảm thấy thua thiệt trong cuộc sống và công việc… Những người có công với cách mạng thuộc đối tượng là người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1954 hoặc người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến khởi nghĩa tháng Tám năm

1945 hiện nay còn sống rất ít và tuổi đã cao nên họ có nếp sống khiêm tốn, giản

dị, ít đòi hỏi quyền lợi cá nhân về đời sống vật chất nhưng về đời sống tinh thần, nhất là thông tin thời sự, chính trị khá cao, thích tìm hiểu bình luận tình hình trong nước và thế giới, muốn có bạn bè để ôn lại những kỹ niệm xưa…

Qua quá trình tiếp xúc, trò chuyện với những người có công ở thành phố Cần Thơ, đây là những người tuổi đã cao, sức khỏe đã yếu do tuổi tác, bệnh tật Khi trò chuyện, họ luôn thích kể về những năm tháng chiến đấu anh dũng họ đã trải qua, kể về những đồng đội đã cùng họ kề vai sát cách chiến đấu, những chiến tích lẫy lừng cũng như những nỗi đau mất mát trong cuộc chiến Giờ đây, khi đất nước đã hòa bình nhưng những người có công vẫn tiếp tục tham gia vào các hoạt động của ấp, khu vực để nêu cao vai trò tiên phong, làm gương cho con

Trang 17

12

cháu, họ hàng, làng xóm, họ đứng trong hàng ngũ của Đảng, tiếp tục tham gia nhiều phong trào của địa phương, hết lòng phục vụ nhân dân Có những thương binh, bệnh binh vẫn đảm nhiệm những trọng trách cao trong Đảng, chính quyền:

Bí thư xã, chủ tịch xã, Bí thư ấp, trưởng ấp…

Hầu hết đối tượng người có công ở thành phố Cần Thơ đều có cuộc sống khá giả, trung bình trở lên, một số ít do bệnh tật nặng nề tâm lý thường hay chán nản, cần có sự giúp đỡ của người thân, của cộng đồng, có tâm lý tự ti vì cho rằng mình là gánh nặng của gia đình, xã hội, có khoảng cách với con cháu… Từ những đặc điểm khác nhau của mỗi đối tượng lại có những nhu cầu khác nhau

1.1.3 Nhu cầu của Người có công với cách mạng

Qua quá trình khảo sát nghiên cứu, tìm hiểu đối tượng, người có công ở thành phố Cần Thơ đã được hưởng đầy đủ các chế độ ưu đãi của Nhà nước, với những hộ nhà ở dột nát đã được thành phố trích kinh phí của Nhà nước và quỹ đền ơn đáp nghĩa để xây mới hoặc sửa lại Vì vậy trên địa bàn thành phố không còn gia đình người có công nào phải sống trong những ngôi nhà không đảm bảo Trong mỗi gia đình người có công đã sắm sửa đủ các vật dụng tiện nghi cần thiết: tivi, tủ lạnh, bếp gas…, đảm bảo mức sống trên trung bình, cao hơn hoặc bằng với mặt bằng nhân dân trong xã

- Nhu cầu về tinh thần

Khi được hỏi, bất kỳ người có công nào trong thành phố cũng mong muốn thế hệ sau biết đến các truyền thống anh hùng của dân tộc, nhớ ơn đến những con người đã vì tổ quốc mà hy sinh xương máu Họ luôn mong mỏi được tham gia những buổi nói chuyện về truyền thống của lịch sử dân tộc trong những ngày lễ Đó cũng là những lúc để họ sống lại những năm tháng hào hùng đã trải qua Mỗi năm, Nhà nước đã rất quan tâm tặng quà nhân dịp Lễ, Tết, kỷ niệm các ngày lễ lớn Với những người có công đây cũng chính là niềm vui, niềm tự hào

mà họ nhận được Món quà tuy nhỏ nhưng mang ý nghĩa rất lớn về mặt tinh thần, làm nguôi ngoai đi nỗi đau mà họ và người thân đã trải qua

Trang 18

13

- Nhu cầu về chăm sóc sức khỏe

Hàng năm, người có công với cách mạng đều được tổ chức đi điều

dưỡng theo quy định tại gia đình hoặc tại trung tâm Điều này cũng thể hiện sự quan tâm chăm sóc của Nhà nước về vấn đề sức khỏe cho người có công với cách mạng Tuy nhiên, rất nhiều người có công với cách mạng khi đi khám sức khỏe còn ngần ngừ, tâm lý ngại đi vì mất rất nhiều thời gian, thủ tục lâu Chính

vì vậy nên mong mỏi của họ là Nhà nước có những biện pháp để khi họ đến trung tâm khám chữa bệnh và điều trị bớt các thủ tục rườm rà, tránh mất nhiều thời gian cho họ và thân nhân của họ Thêm vào đó dù đã được bảo hiểm y tế chi trả nhưng vẫn có nhiều loại thuốc không có trong danh mục được bảo hiểm nên chi phí cao, nhiều gia đình chưa đủ điều kiện để sử dụng

1.1.4 Nhu cầu về công tác xã hội đối với người có công với cách mạng

Người có công ở Việt Nam có số lượng khá lớn, người có công đã đóng góp rất lớn cho cách mạng, cho đất nước, cho dân tộc, cho cộng đồng Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và có chính sách tôn vinh, ưu đãi đối với người có công Bảo đảm cho gia đình người có công có mức sống bằng mức sống trung bình ở địa phương Không để người có công lâm vào nghèo đói Xã hội, cộng đồng kính trọng, tôn vinh và có nhiều phong trào chăm sóc, tôn vinh người có công Chính sách về người có công là bộ phận quan trọng trong chính sách an sinh xã hội của Nhà nước ta Đây là nét đặc thù trong chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam

Trong quá trình thực hiện chính sách đối với người có công vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra: có một bộ phận người có công gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống; người có công khó tiếp cận các nguồn lực kinh tế - xã hội để phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng; một số nhu cầu người có công chưa được đáp ứng tốt như nhà ở, việc làm, học tập, chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí, thăm lại chiến trường xưa, thăm lại nơi bị tù đày, tham gia góp ý kiến xây dựng Đảng

và bộ máy nhà nước; giáo dục, bồi dưỡng truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ…Công tác xã hội đối với người có công là nhu cầu rất cần thiết hiện nay

Trang 19

Quản lý công tác xã hội là một phương pháp của công tác xã hội có liên

quan tới việc cung ứng và phân phối các nguồn tài nguyên xã hội giúp con người đáp ứng nhu cầu của họ và phát huy tiềm năng bản thân Người ta cho rằng khi chuyển đổi các chính sách xã hội thành các chương trình và dịch vụ, nhà quản trị công tác xã hội áp dụng sự tổng hợp các phương pháp công tác xã hội vào tiến trình quản lý

Vận dụng lý thuyết nhu cầu vào đề tài này có thể nhận thấy những nhu cầu cơ bản mà người có công mong muốn trong việc thực hiện các hỗ trợ xã hội

là rất chính đáng và cần được đáp ứng đầy đủ, bên cạnh đó đánh giá các chế độ

ưu đãi, hỗ trợ xã hội hiện nay tại thành phố Cần Thơ và tìm hiểu những nhu cầu

cụ thể mà đối tượng còn thiếu hụt thuộc bậc thang nhu cầu nào Thông qua đó, tác giả xem xét đề xuất phương pháp tác động hiệu quả hơn bên cạnh các hỗ trợ

xã hội hiện có và đưa ra các giải pháp nhằm trợ giúp thõa mãn các nhu cầu đang thiếu hụt của đối tượng mà đề tài hướng đến

Lý thuyết hệ thống đã chỉ ra con người là một bộ phận của xã hội, chịu

sự tác động của các hệ thống xã hội Sự thay đổi ở bất kỳ mắt xích nào trong hệ thống xã hội cũng tạo ra ảnh hưởng đến hệ thống con người Với đề tài luận văn này lý thuyết hệ thống giúp tác giả xem xét việc hỗ trợ cho đối tượng có sự liên kết của các hệ thống xã hội tại địa bàn nghiên cứu ở mức độ nào và hiệu quả của

nó Trong tiến trình can thiệp giải quyết vấn đề, nhân viên công tác xã hội sẽ phải vận dụng lý thuyết hệ thống là cầu nối giữa thân chủ với gia đình, bạn bè nhất là bạn bè thời chiến đấu, với các cơ sở y tế, các tổ chức, cơ quan, đoàn thể

và toàn cộng đồng Đây cũng là lý thuyết vận dụng vào việc xã hội hóa công tác chăm sóc người có công

Trang 20

15

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Sanh: “Biến đổi xã hội là một quá trình qua

đó những khuôn mẫu của các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi qua thời gian” [19,tr 34]

Sự biến đổi, sự phát triển về tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội sẽ tác động đến việc một xã hội nào đó biến đổi theo chiều hướng tiến lên hay thụt lùi

đi Vận dụng lý thuyết này vào trong nghiên cứu ta nhận thấy rằng sự biến đổi không ngừng và liên tục của xã hội kéo theo sự thay đổi trong đời sống của người có công Khi xã hội biến đổi theo chiều hướng hiện đại hơn, đời sống người dân được nâng cao thì việc quan tâm hơn nữa đến đời sống của người có công là một tất yếu Người có công sẽ được quan tâm, chăm sóc nhiều hơn nữa

về cả thể chất lẫn tinh thần Bên cạnh các hình thức thực hiện chính sách ưu đãi thay đổi để phù hợp với tình hình phát triển của đất nước sẽ cần có những dịch

vụ cụ thể của công tác xã hội hỗ trợ hiệu quả hơn cho đối tượng nghiên cứu

1.2.2 Đặc điểm của quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

Sử dụng triết lý, mục đích và chức năng của công tác xã hội, các phương pháp chẩn đoán xã hội, phân tích và tổng hợp các nhu cầu của cá nhân, nhóm hay cộng đồng, và sử dụng việc tổng quát hóa nhằm thay đổi và phát triển các mục đích và chức năng của cơ sở

Quản lý công tác xã hội là làm việc với con người dựa vào kiến thức và hiểu biết hành vi con người, các mối quan hệ nhân sự và các tổ chức phục vụ con người

Các phương pháp công tác xã hội không chỉ được sử dụng để cung cấp dịch vụ mà còn trong tiến trình quản lý và các mối quan hệ với nhân viên

Theo Tiến sĩ Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia

Trang 21

Ở Việt Nam, những đối tượng trên còn có nhóm người có công với cách mạng, trong đó đặc biệt thương binh, bệnh binh cũng rất cần đến sự trợ giúp của công tác xã hội Người có công ở Việt Nam có số lượng khá lớn, đó là những người đã đóng góp rất lớn cho cách mạng, cho đất nước, cho dân tộc, cho cộng đồng Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và có chính sách tôn vinh, ưu đãi với người có công Xã hội, cộng đồng luôn kính trọng, biết ơn Chính sách về người

có công là bộ phận quan trọng trong chính sách an sinh xã hội của nước ta Trong quá trình thực hiện chính sách đối với người có công vẫn còn rất nhiều vấn đề đặt ra chưa đáp ứng được nhu cầu của người có công nói chung và thương bệnh binh nói riêng

1.2.3 Nguyên tắc của quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

Tiếp cận dựa trên quyền trong công tác xã hội đối với người có công, dựa trên người có công có tất cả các quyền: Quyền được chăm sóc về thể chất và tinh thần; Quyền được tạo mọi điều kiện để phát triển; Quyền được tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và các hoạt động xã hội…

Với cách tiếp cận dựa trên quyền, nhân viên công tác xã hội cần dựa trên

hệ thống quyền con người để đề ra các phương pháp và hoạt động hiệu quả với đối tượng người có công dựa trên quyền của họ Theo cách tiếp cận này, nhân viên công tác xã hội thực hiện trao quyền cho đối tượng đồng thời đảm bảo các bên có liên quan thực hiện nghĩa vụ của mình

Tiếp cận dựa trên quyền hướng đến việc cải thiện hoàn cảnh của người

có công với cách mạng tập trung vào nhu cầu, vấn đề và tiềm năng của họ, chú

Trang 22

Quản lý công tác xã hội là một tiến trình liên tục, năng động và toàn bộ nhằm tập hợp con người, nguồn tài nguyên và mục đích nhằm hoàn thành mục đích của tổ chức là cung ứng các dịch vụ xã hội Nó dựa vào kiến thức về bản chất con người và tổ chức phục vụ con người để thiết lập và duy trì một hệ thống

nỗ lực tham gia và hợp tác ở tất cả các cấp trong tổ chức

Quản lý công tác xã hội có thể xem như là hành động của nhân viên sử dụng các tiến trình xã hội để chuyển đổi các chính sách xã hội của cơ sở thành các dịch vụ xã hội cụ thể cung ứng cho thân chủ.Tiến trình quản lý bao gồm những người điều hành – những nhà lãnh đạo – và tất cả nhân viên khác – những nhân viên cấp dưới Tiến trình quản trị căn bản thường được dùng là: Hoạch định, tổ chức, nhân sự, lãnh đạo và kiểm tra

1.3 Nội dung của quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

1.3.1 Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

Phân tích tình hình hay xem xét/ phân tích nội dung quản lý công tác xã hội người có công sẽ cho thấy nhu cầu và vấn đề mà xã hội đang quan tâm Kỹ thuật thu thập dữ liệu hữu ích trong phân tích tình hình bao gồm các diễn đàn ở cộng đồng, thảo luận nhóm tiêu điểm, phỏng vấn người cung cấp thông tin chủ chốt, xem xét truyền thống và rà soát lại những dữ liệu hiện có

Trong giai đoạn thiết kế, một kế hoạch chương trình được xây dựng cho mỗi chương trình ưu tiên cao Một kế hoạch chương trình (hay kế hoạch công

Trang 23

1.3.2 Tổ chức quản lý và công tác nhân sự trong công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

Thực hiện đánh giá ban đầu về thực trạng người có công, nhu cầu và nguyện vọng của họ Giúp cho người có công xác định được vấn đề, nhu cầu của mình; xem xét việc đáp ứng nhu cầu cơ bản của người có công Cung cấp dịch

vụ tham vấn đề người có công vượt qua những khó khăn trong cuộc sống; tham vấn gia đình người có công để hỗ trợ, giúp đỡ người có công

Tìm hiểu các chính sách, các chương trình đối với người có công, kết nối

họ, giúp họ tiếp cận với các nguồn lực hỗ trợ phù hợp Giúp gia đình người có công, hỗ trợ họ và hướng dẫn cách thức chăm sóc về vật chất, tinh thần và tình cảm cho người có công; đối với một số nhóm trong người có công, nhân viên xã hội hỗ trợ về tâm lý, về các kỹ năng cần thiết Trách nhiệm nâng cao nhận thức của cộng đồng về hỗ trợ, giúp đỡ người có công Nghiên cứu thực trạng người có công, góp phần xây dựng chính sách, pháp luật về người có công Cần cập nhật văn bản quy định các chính sách ưu đãi về người có công

1.3.3 Tổ chức các hoạt động công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

- Chăm sóc người có công tại cơ sở nuôi dưỡng:

+ Thăm hỏi, động viên; Tổ chức hoạt động vui chơi tập thể; Duy trì mối liên hệ thường xuyên giữa người có công với người thân trong gia đình;

Trang 24

19

+ Chăm sóc, hướng dẫn người có công về các hoạt động cá nhân và về chăm sóc sức khỏe; Hỗ trợ tham vấn tâm lý cho người có công khó khăn về tâm

lý và tình cảm; Ghi chép, lưu giữ hồ sơ, tổ chức rút kinh nghiệm

- Chăm sóc người có công tại gia đình, cộng đồng:

+ Đến chơi, thăm hỏi, tìm hiểu nhu cầu nguyện vọng; Đánh giá xác định vấn đề của người có công; Tham vấn, điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình, trong cộng đồng với người có công Tạo môi trường gia đình, xã hội tôn vinh, kính trọng người có công

+ Tập huấn, nâng cao kiến thức, kỹ năng chăm sóc người có công cho các thành viên gia đình; Khuyến khích người có công tham gia câu lạc bộ, các chương trình văn hóa văn nghệ; Khuyến khích người có công giao lưu với thế hệ trẻ

1.3.4 Lưu trữ hồ sơ tài liệu và thực hiện chế độ báo cáo trong công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

Hồ sơ đã được định nghĩa là “một kê khai miêu tả bằng chữ viết hay một hình thức thường xuyên khác sử dụng như một chứng tích hay bằng chứng đáng tin cậy về một sự việc hay một biến cố” Mỗi nhân viên có trách nhiệm giữ gìn

hồ sơ dưới nhiều hình thức khác nhau Sự khác biệt có liên quan tới mục đích của cơ sở và vấn đề đặc thù của từng hồ sơ

Báo cáo có nghĩa “làm hoặc đưa ra một bản kê khai, thường là chính thức” Báo cáo căn cứ vào các hồ sơ, nghiên cứu và điều tra chính xác Hồ sơ là

cơ sở để làm báo cáo Việc báo cáo là một tiến trình quản trị được diễn giải như

là một tiến trình truyền thông Mục đích của nó là:

- Nhằm mục đích báo cáo lên trên và báo cáo hướng ra bên ngoài, ghi nhận sự tiến bộ, những nhu cầu và kế hoạch tương lai và miêu tả thành tích một người nào đó và chứng minh một chương trình Báo cáo lên trên còn là phương tiện cho Lãnh đạo kiểm soát và hoạch định

Trang 25

20

- Đối với mục đích hướng xuống nhân viên, báo cáo được làm để thông

tin cho nhân viên biết về các chính sách, các chương trình, nguồn lực, phương thức và những vấn đề ảnh hưởng tới hoạt động của cơ sở

1.4 Quan điểm chính sách, pháp luật về quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

1.4.1 Quan điểm chính sách của Đảng và Nhà nước

1.4.1.1 Chính sách ưu đãi thương binh, gia đình liệt sĩ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Ra đời trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp khi chính quyền cách mạng còn non trẻ, do hoàn cảnh kháng chiến khó khăn gian khổ nên các văn bản pháp luật ưu đãi thương binh, gia đình liệt sĩ còn đơn giản, nội dung còn mang tính hướng dẫn là chủ yếu, tính pháp luật chưa cao Cũng do khả năng kinh tế nên trợ cấp mới chỉ mang tính chất tượng trưng, chưa

có ý nghĩa thiết thực (trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp mới chỉ thực hiện được chế độ hưu bổng thương tật quy định tại Sắc lệnh này và Sắc lệnh số 242/SL ngày 12 tháng 10 năm 1948)

1.4.1.2 Chính sách ưu đãi thương binh, gia đình liệt sĩ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, chính sách ưu đãi người có công

đã phát triển tương đối toàn diện về các nội dung chăm sóc vật chất và tinh thần đối với người có công, động viên toàn xã hội chăm lo đến người có công, góp phần to lớn ổn định hậu phương để cán bộ, chiến sĩ và nhân dân hăng hái chiến đấu, hết lòng chi viện sức người, sức của cho miền Nam, thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Trong giai đoạn này, chính sách ưu đãi đối với thương binh, liệt sĩ đã được bổ sung, sửa đổi nhiều điểm hết sức cơ bản,

cụ thể như:

- Quy định điều kiện, tiêu chuẩn, đối tượng và chế độ phụ cấp thương tật (thay thế chế độ hưu bổng thương tật) đối với thương binh, quân nhân, du kích,

Trang 26

- Quy định về cất bốc, qui tập mộ liệt sĩ, xây dựng nghĩa trang liệt sĩ… Các văn bản pháp luật mang tính định hướng và làm nền tảng của chính sách ưu đãi người có công với cách mạng trong giai đoạn này quy định về Điều

lệ ưu đãi thương binh, bệnh binh, quân nhân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật; quy định về các chế độ đãi ngộ đối với quân nhân ốm đau, bị thương hoặc chết; chính sách về quân nhân dự bị và dân quân tự vệ ốm đau, bị thương hoặc chết trong khi làm nhiệm vụ quân sự; quy định bổ sung thêm một số chế độ đãi ngộ đối với đối tượng chính sách là cán bộ đảng viên hoạt động cách mạng trước tháng Tám năm 1945, Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, người có công giúp đỡ cách mạng; đánh dấu một bước phát triển của chính sách

ưu đãi đối với thương binh, liệt sĩ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ

1.4.1.3 Chính sách ưu đãi người có công trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc

- Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng giai đoạn 1975-1985 Mười năm sau giải phóng (1975-1985) là giai đoạn có những thay đổi to lớn trong đời sống xã hội của đất nước, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng phải có những thay đổi bổ sung cho phù hợp Trong giai đoạn này, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy định về chính sách ưu đãi người

có công với cách mạng với nội dung tập trung vào công tác xác nhận thương binh, liệt sĩ, cất bốc quy tập mộ, xây dựng nghĩa trang liệt sĩ… Tiếp theo là các quy định sửa đổi, bổ sung một số vấn đề còn chưa hợp lý trong chính sách thương binh, liệt sĩ như quy định về đối tượng, tiêu chuẩn xác nhận thương binh, liệt sĩ trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; quy

Trang 27

22

định áp dụng chế độ trợ cấp hàng tháng đối với một số trường hợp thương binh, gia đình liệt sĩ hưởng trợ cấp một lần trước đó và thống nhất chế độ trợ cấp tuất; quy định bổ sung chế độ trợ cấp đối với thân nhân của nhiều liệt sĩ…

- Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng trong thời kỳ đổi mới đất nước:

Sau năm 1985 đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường Cùng với sự đổi mới của đất nước khi thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công tác ưu đãi người có công với cách mạng được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Các mối quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật theo cơ chế mới Thực hiện đường lối, chính sách của Đảng trong giai đoạn mới, hệ thống chính sách ưu đãi người có công với cách mạng cũng có sự thay đổi phù hợp, đánh dấu một bước chuyển biến có tính quyết định đến mọi mặt đời sống của người có công Chế độ ưu đãi người có công với cách mạng được cập nhật và bổ sung đã đặt cơ sở cho chế độ trợ cấp ưu đãi đối với người có công giúp đỡ cách mạng

Đặc biệt từ đầu những năm 90 trở đi, nền kinh tế thị trường phát triển khá mạnh mẽ đã làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội hết sức bức xúc, trong đó có vấn đề người có công với cách mạng Để điều chỉnh các mâu thuẫn, các mối quan hệ xã hội, vấn đề ưu đãi đối với người và gia đình có công với mạng đã trở thành nguyên tắc Hiến định và được ghi nhận ở Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Nguyên tắc này đã được thể chế trong Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng do

Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 10 tháng 9 năm 1994 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh 1994) và được quy định cụ thể tại Nghị định số 28/CP ngày 29 tháng 4 năm 1995 của Chính phủ

Theo quy định của Pháp lệnh năm 1994 thì số người hưởng chính sách

ưu đãi được mở rộng, các nội dung ưu đãi đối với người có công với cách mạng được luật pháp hóa, trở thành một hệ thống chính sách bao gồm nhiều mặt của

Trang 28

23

đời sống (trợ cấp, phụ cấp, chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở, ưu đãi về giáo dục - đào tạo, về việc làm, ruộng đất, tín dụng, thuế…):

+ Chế độ trợ cấp ưu đãi đối với người tham gia hoạt động kháng chiến

và người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày và các chế độ ưu đãi được bổ sung, quy định cụ thể

+ Hàng loạt chính sách ưu đãi về kinh tế, xã hội đã được thực hiện Các

ưu đãi của Nhà nước về giáo dục và đào tạo, miễn giảm thuế trong sản xuất kinh doanh, ưu tiên giao đất sản xuất, cải thiện về nhà ở, đất ở, chăm sóc sức khỏe… các chương trình lồng ghép như xóa đói giảm nghèo, việc làm… đã thiết thực hỗ trợ người có công với cách mạng ổn định đời sống, nỗ lực vươn lên trong cơ chế mới

Pháp lệnh năm 1994 đã nêu rõ một nguyên tắc chung là chế độ ưu đãi phù hợp với tình hình kinh tế xã hội và được bảo đảm bằng ngân sách nhà nước Điều đáng lưu ý nhất là chế độ trợ cấp hàng tháng đã từng bước phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước Trợ cấp ưu đãi hàng tháng đối với người có công trong thực tế so với trước đây không còn đơn thuần là sự liệt kê bao cấp (định tính) mà đã mang tính định lượng cụ thể, sát thực, khách quan và linh hoạt; góp phần ổn định đời sống người

có công với cách mạng thông qua việc điều chỉnh chế độ trợ cấp ưu đãi khi chỉ

số giá sinh hoạt tăng lên, tạo điều kiện cải thiện rõ rệt đời sống một bộ phận người có công có hoàn cảnh đặc biệt như các Bà mẹ Việt Nam anh hùng… Đối với phần lớn đối tượng người có công như thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ… tuy mức trợ cấp còn thấp nhưng đã thể hiện sự cố gắng của Nhà nước trong điều kiện kinh tế và khả năng ngân sách còn khó khăn

Chính sách ưu đãi của Nhà nước giữ vai trò chủ đạo và là đòn bẩy trong việc ổn định và nâng cao đời sống của gia đình người có công với quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải chăm sóc người có công với cách mạng với tinh thần ưu đãi phù hợp với sự phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước và hài hòa với các mối quan hệ xã hội khác, đảm bảo để

Trang 29

24

đời sống người có công với cách mạng được “yên ổn về vật chất, vui vẻ về tinh thần”, mà trước hết là phải đảm bảo được nhu cầu thiết yếu của những người hầu như mất hoàn toàn khả năng lao động hoặc đã có nhiều hy sinh cống hiến đảm bảo việc phục hồi chức năng sinh hoạt, lao động, đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng thông qua việc tổ chức hiệu quả việc phục hồi chức năng, cung cấp kịp thời và thuận tiện những phương tiện chuyên dùng theo yêu cầu của thương tật và bệnh tật, tạo những tiền đề cần thiết

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định: “Chăm lo tốt hơn đối với các gia đình chính sách và những người có công với cách mạng, bảo đảm tất

cả các gia đình chính sách đều có cuộc sống bằng hoặc khá hơn mức sống trung bình so với người dân địa phương trên cơ sở kết hợp 3 nguồn lực: Nhà nước, cộng đồng và cá nhân các đối tượng chính sách tự vươn lên”

Việc chăm sóc người có công với cách mạng với trách nhiệm và lòng biết ơn là một nét đẹp, một truyền thống nhân văn lâu đời của dân tộc ta Sự đóng góp của cộng đồng là nguồn lực không thể thiếu để đạt mục tiêu của chính sách và bao giờ cũng là nguồn bổ sung phong phú để góp phần cùng Nhà nước chăm sóc tốt hơn, chu đáo hơn đời sống người có công Tiềm năng của cộng đồng là nguồn bù đắp những thiếu hụt của các gia đình chính sách và bổ sung những nội dung mà chính sách Nhà nước với tính chất là mặt bằng chung cho các đối tượng không thể đạt tới, kịp thời giải quyết những nhu cầu bức xúc trong cuộc sống của gia đình chính sách ngay tại các ấp và khu vực với những hình thức, biện pháp sáng tạo và sinh động

Bước vào thời kỳ đổi mới, phong trào toàn dân chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ đã phát triển rộng khắp cả nước và đã phát triển thành 5 chương trình hỗ trợ người có công với cách mạng (Nhà tình nghĩa; Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”; sổ tiết kiệm tình nghĩa; chăm sóc thương binh nặng, chăm sóc bố mẹ liệt

sĩ già yếu cô đơn, con liệt sĩ mồ côi; phụng dưỡng “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”) Với mục tiêu và trách nhiệm rõ ràng, nội dung cụ thể và những bảo đảm cần thiết, nguồn lực của cộng đồng đã thực sự mang lại những kết quả to lớn

Trang 30

25

Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, tiếp nhận những ưu đãi từ chính sách của Nhà nước và sự tiếp sức của cộng đồng, người có công với cách mạng đã phát huy truyền thống, năng lực, sở trường của mình trong hoàn cảnh mới để xứng đáng là những “công dân kiểu mẫu”, những “gia đình cách mạng gương mẫu” Nhiều anh chị em thương binh đã vượt lên thương tích để tìm cho mình việc làm phù hợp, vượt qua cái đói, cái nghèo Nhiều thân nhân liệt sĩ tuổi

đã cao, sức đã yếu nhưng vẫn tần tảo “một nắng hai sương” để vun đắp cho bản thân và gia đình một cuộc sống tốt đẹp, để nuôi dạy con cháu trở thành những công dân tốt của đất nước

Nhìn chung, chế độ trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng quy định tại Pháp lệnh năm 1994 đã được điều chỉnh từng bước, quán triệt và cụ thể hóa chủ trương, chính sách “Đền ơn đáp nghĩa” của Đảng và Nhà nước ta Mặc

dù đất nước ta còn khó khăn, ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp, nhưng chế độ trợ cấp ưu đãi đã trở thành một nguồn lực quan trọng để cùng với các chế độ ưu đãi

về kinh tế, xã hội và sự hỗ trợ của cộng đồng, sự vươn lên của bản thân đối tượng góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người có công với cách mạng Nhờ đó mà đến nay có trên 80% đối tượng ưu đãi không thuộc diện

hộ nghèo, phấn khởi tin tưởng vào công cuộc đổi mới của đất nước, tích cực tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội, chấp hành tốt chính sách của Đảng và Nhà nước

Để chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng phù hợp với

sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước; ngày 29 tháng 5 năm 2005, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 thay thế Pháp lệnh năm 1994 (sau đây gọi tắt

là Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11) vì Pháp lệnh năm 1994 không còn phù hợp, thiếu công bằng Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11 ra đời đã bổ sung những điểm còn thiếu trong quy định của chính sách như: đối tượng là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học chưa được hưởng chế

độ theo Pháp lệnh; điều kiện, tiêu chuẩn xác nhận người có công với cách mạng

Trang 31

Như vậy, chúng ta thấy rằng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng luôn được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với điều kiện mới và quá trình cải cách hành chính Điều đó chứng tỏ rằng Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến người có công với cách mạng, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

Trang 32

1.4.2.1 Các chế độ ưu đãi đới với người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945

- Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng; bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết; cấp báo Nhân dân; sinh hoạt văn hóa, tinh thần phù hợp; được Nhà nước hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào công lao và hoàn cảnh của từng người

- Người hoạt động cách mạng đang hưởng chế độ ưu đãi quy định tại Khoản 2 Điều 9 của Pháp lệnh mà chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí; đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp mộ lần bằng ba tháng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi Người hoạt động cách mạng chết mà chưa được hưởng chế

độ ưu đãi quy định tại Khoản 2 Điều 9 của Pháp lệnh thì đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần mức 50 triệu đồng

Trường hợp không còn thân nhân thì người thờ cúng được hưởng trợ cấp một lần mức 10 triệu đồng Thân nhân được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng

cụ thể như sau:

- Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con dưới 18 tuổi hoặc con từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ tháng liền kề khi người hoạt động cách mạng chết; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con

từ đủ 18 tuổi trở lên sống cô đơn không nơi nương tựa hoặc con dưới 18 tuổi mồ

Trang 33

- Con bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng từ nhỏ, sau khi đủ 18 tuổi nếu suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận; con bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng sau khi đủ 18 tuổi nếu suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, không có thu nhập hàng tháng hoặc thu nhập hàng tháng thấp hơn 0,6 lần mức chuẩn được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận;

1.4.2.2 Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

- Trợ cấp hàng tháng; bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khoẻ; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết; cấp báo Nhân dân; sinh hoạt văn hóa, tinh thần phù hợp; hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào công lao và hoàn cảnh của từng người, khả năng của Nhà nước và địa phương

Khi người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 chết thì người tổ chức mai táng được hưởng một khoản trợ cấp và mai táng phí; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo quy định của Chính phủ

- Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con dưới 18 tuổi hoặc con từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ tháng liền kề khi người hoạt động cách mạng chết; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con

từ đủ 18 tuổi trở lên sống cô đơn không nơi nương tựa hoặc con dưới 18 tuổi mồ côi cả cha mẹ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng bằng 0,8 lần mức chuẩn

Trang 34

29

- Trường hợp người hoạt động cách mạng đã chết nhưng sau 31 tháng 12 năm 2012 mới được công nhận thì cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ thời điểm ra quyết định công nhận;

- Con bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng từ nhỏ, sau khi đủ 18 tuổi nếu suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận; con bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng sau khi đủ 18 tuổi nếu suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, không có thu nhập hàng tháng hoặc thu nhập hàng tháng thấp hơn 0,6 lần mức chuẩn được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận; con của người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 được ưu tiên trong tuyển sinh và tạo việc làm, ưu đãi trong giáo dục và đào tạo

1.4.2.3 Các chế độ ưu đãi đối với thân nhân liệt sĩ

- Trợ cấp tiền tuất một lần khi báo tử; trợ cấp tiền tuất hàng tháng đối với cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng của liệt sĩ, người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; con liệt sĩ từ 18 tuổi trở xuống hoặc trên 18 tuổi nếu còn tiếp tục đi học; con liệt sĩ bị bệnh, tật nặng từ nhỏ khi hết thời hạn hưởng trợ cấp tiền tuất vẫn bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên; trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng đối với cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng của liệt sĩ, người có công nuôi dưỡng khi liệt

sĩ còn nhỏ đang sống cô đơn không nơi nương tựa; con liệt sĩ mồ côi từ 18 tuổi trở xuống hoặc trên 18 tuổi nếu còn tiếp tục đi học; con liệt sĩ mồ côi bị bệnh tật nặng từ nhỏ khi hết thời hạn hưởng trợ cấp nuôi dưỡng vẫn bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên; thân nhân của hai liệt sĩ trở lên;

- Khi báo tử, liệt sĩ không còn thân nhân quy định tại khoản 1 Điều này thì người thừa kế của liệt sĩ giữ Bằng "Tổ quốc ghi công" được hưởng khoản trợ cấp tiền tuất một lần như đối với thân nhân liệt sĩ; thân nhân liệt sĩ được ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi để sản xuất, miễn

Trang 35

30

hoặc giảm thuế, miễn nghĩa vụ lao động công ích theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào hoàn cảnh của từng người, khả năng của

Nhà nước và địa phương;

- Thân nhân liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng, trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng được Nhà nước mua bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khoẻ; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết căn cứ vào hoàn cảnh của từng người, khả năng của Nhà nước; khi chết thì người tổ chức mai táng được hưởng một khoản trợ cấp và mai táng phí; con liệt sĩ được ưu tiên trong tuyển sinh và tạo việc làm, ưu đãi trong giáo dục và đào tạo

1.4.2.4 Các chế độ ưu đãi đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng

- Các chế độ ưu đãi đối với thân nhân liệt sĩ quy định tại Điều 14 của Pháp lệnh;

- Phụ cấp hàng tháng; Nhà nước và nhân dân tặng nhà tình nghĩa hoặc hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào hoàn cảnh của từng người; điều dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm; Nhà nước và xã hội tặng nhà tình nghĩa hoặc hỗ trợ về nhà ở theo quy định tại Khoản 4 Điều 4 của Pháp lệnh; người phục vụ Bà mẹ Việt Nam

anh hùng sống ở gia đình được Nhà nước mua Bảo hiểm y tế

1.4.2.5 Các chế độ ưu đãi đối với Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động

- Trợ cấp hàng tháng; bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khoẻ; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết; ưu tiên trong tuyển sinh và tạo việc làm, ưu đãi trong giáo dục và đào tạo; ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi để sản xuất; hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào hoàn cảnh của từng người, khả năng của Nhà nước và địa phương; khi chết thì người tổ chức mai táng được hưởng một khoản trợ cấp và mai táng phí

- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động chết trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần; con của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động được ưu tiên trong tuyển sinh và tạo việc làm, ưu đãi trong giáo dục và đào tạo

Trang 36

31

1.4.2.6 Các chế độ ưu đãi đối với thương binh

Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng lao động và loại thương binh; bảo hiểm y tế; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào thương tật của từng người và khả năng của Nhà nước;

- Điều dưỡng phục hồi sức khỏe hai năm một lần; trường hợp thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được điều dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm; được hưởng chế độ ưu tiên, hỗ trợ quy định tại Khoản 5 Điều 4 của Pháp lệnh; căn cứ vào thương tật và trình độ nghề nghiệp được tạo điều kiện làm việc trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động; ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi để sản xuất, được miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ về nhà ở quy định tại Khoản 4 Điều 4 của Pháp lệnh;

- Thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên sống ở gia đình được trợ cấp người phục vụ; Người phục vụ thương binh quy định tại khoản này được Nhà nước mua bảo hiểm y tế Thương binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được Nhà nước mua bảo hiểm y tế cho cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng Khi thương binh chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, thân nhân được hưởng một khoản trợ cấp

- Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ

55 tuổi trở lên đối với nữ; con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng; cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ sống cô đơn không nơi nương tự; con

mồ côi cả cha mẹ dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp tiền tuất

Trang 37

32

hàng tháng và trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng; con của thương binh được ưu tiên, hỗ trợ quy định tại Khoản 5 Điều 4 của Pháp lệnh

1.4.2.7 Chế độ ưu đãi đối với bệnh binh

Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng lao động;

- Bảo hiểm y tế; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào thương tật của từng người và khả năng của Nhà nước; điều dưỡng phục hồi sức khỏe hai năm một lần; trường hợp bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được điều dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm; ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi để sản xuất, được miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ về nhà ở quy định tại Khoản 4 Điều 4 của Pháp lệnh;

- Bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên sống ở gia đình được trợ cấp người phục vụ Người phục vụ bệnh binh quy định tại khoản này được Nhà nước mua bảo hiểm y tế

Bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được Nhà nước mua bảo hiểm y tế cho cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ đủ 6 tuổi đến dưới

18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng.Khi bệnh binh chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, thân nhân được hưởng một khoản trợ cấp

Bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên chết thì thân nhân được trợ cấp tiền tuất như sau:

- Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ

55 tuổi trở lên đối với nữ; con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng; cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ sống cô đơn không nơi nương tự; con

mồ côi cả cha mẹ dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp tiền tuất

Trang 38

33

hàng tháng và trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng; con của bệnh binh được

ưu tiên, hỗ trợ quy định tại Khoản 5 Điều 4 của Pháp lệnh

1.4.2.8 Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

- Trợ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng lao động; bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khoẻ, phục hồi chức năng lao động; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào tình trạng bệnh tật của từng người và khả năng của Nhà nước; ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi để sản xuất, miễn hoặc giảm thuế, miễn hoặc giảm nghĩa vụ lao động công ích theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào hoàn cảnh của từng người, khả năng của Nhà nước và địa phương Khi người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học chết thì người tổ chức mai táng được hưởng một khoản trợ cấp và mai táng phí;

- Chính phủ quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn, chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là người được cơ quan có thẩm quyền công nhận bị dị dạng, dị tật, suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt hoặc lao động do hậu quả của chất độc hoá học

Các chế độ ưu đãi đối với con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

Trợ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt; bảo hiểm y tế; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết căn cứ vào tình trạng bệnh tật; ưu tiên trong tuyển sinh và tạo việc làm, ưu đãi trong giáo dục và đào tạo Khi con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học đang hưởng trợ cấp hàng tháng chết thì người tổ chức mai táng được hưởng một khoản trợ cấp và mai táng phí

Trang 39

1.4.2.10 Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế

- Trợ cấp một lần; bảo hiểm y tế Khi người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí

1.4.2.11 Các chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng

Người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước" và người có công giúp đỡ cách mạng trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước" được hưởng trợ cấp hàng tháng và các chế độ ưu đãi khác như đối với thân nhân liệt sĩ quy định tại Pháp lệnh

Người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến

và người có công giúp đỡ cách mạng trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến được hưởng trợ cấp hàng tháng; Nhà nước mua bảo hiểm y tế; khi chết thì người tổ chức mai táng được hưởng một khoản trợ cấp và mai táng phí

Người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Huy chương kháng chiến

và người có công giúp đỡ cách mạng trong gia đình được tặng Huy chương kháng chiến được hưởng trợ cấp một lần; Nhà nước mua bảo hiểm y tế; khi chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí

Trang 40

sự kết hợp lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc, đảm bảo cho đất nước, cho dân tộc

có sự phát triển lâu dài và bền vững

1.5.2 Yếu tố thuộc về nhân viên công tác xã hội

Việc hoạch định xây dựng, ban hành, triển khai thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố điều kiện

tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội nêu trên mà còn phụ thuộc vào trình độ năng lực của hệ thống chính trị các cấp Những nhà lãnh đạo chính trị có năng lực, có tài, có đức thường suy nghĩ và đưa ra những quyết sách sát hợp với lợi ích và nhu cầu thực tế của người thụ hưởng chính sách Thông qua quần chúng, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực thi chính sách cũng được thể hiện

rõ theo hai chiều hướng: được đề cao phát huy, hoặc bị tẩy chay, tiêu cực Để xảy ra những hiện tượng tiêu cực tại cơ sở, nhiều cán bộ, công chức, viên chức tâm huyết phải thẳng thắn thừa nhận rằng: do họ chưa thật sự bám sát địa bàn (quần chúng), chưa thật sự hiểu hết về quy định và mục tiêu của chính sách ưu đãi người có công với cách mạng

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Cán bộ được hiểu là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt Đời sống chính trị, kinh tế, xã hội được coi như một “cỗ máy”

Ngày đăng: 13/10/2016, 11:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.2:  Nguồn  thu  nhập  khác  của  người  có  công  với  cách  mạng  tại  thành phố Cần Thơ - Quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn thành phố cần thơ
ng 2.2: Nguồn thu nhập khác của người có công với cách mạng tại thành phố Cần Thơ (Trang 47)
Bảng 2.6: Tình hình chi trả chế độ hàng tháng cho người có công - Quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn thành phố cần thơ
Bảng 2.6 Tình hình chi trả chế độ hàng tháng cho người có công (Trang 50)
BẢNG HỎI KHẢO SÁT - Quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn thành phố cần thơ
BẢNG HỎI KHẢO SÁT (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w