Qua việc khảo sát thực tế, trình độ cũng như kĩ năng thực hành nói chung và kĩ năng tiến hành, tiếp thu bài Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ nói riêng của học sinh lớp 10 THPT Cò N
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ NHUNG
HƯỚNG DẪN TIẾN HÀNH GIỜ THỰC HÀNH PHÉP TU TỪ ẨN DỤ
VÀ HOÁN DỤ CHO HỌC SINH LỚP 10 TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG CÒ NÒI HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: XH2a
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Thùy Dung
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 2Lời cảm ơn
Nhân dịp khóa luận hoàn thành, em gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo trong
tổ phương pháp khoa Ngữ Văn, cùng Trung tâm thư viện Trường ĐH Tây Bắc
Em đặc biêt bày tỏ lòng biết ơn đến cô giáo, Thạc sĩ Nguyễn Thùy Dung
đã tận tình giúp đỡ trong quá trình thực hiện khóa luận
Đồng thời, em xin cảm ơn Trường THPT Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, cô giáo chủ nhiệm cùng tập thể lớp K52 ĐHSP Ngữ Văn đã tạo điều kiện giúp đỡ, để em hoàn thành khóa luận này
Sơn La, tháng 05 năm 2015
Tác giả Nguyễn Thị Nhung
Trang 3DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
SGK : Sách giáo khoa THPT : Trung học phổ thông
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích - đối tượng nghiên cứu 6
3.1 Mục đích nghiên cứu 6
3.2 Đối tượng nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ- phạm vi nghiên cứu 6
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 7
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 7
5.2 Phương pháp khảo sát thực tế 7
5.3 Phương pháp thống kê 8
5.4 Phương pháp thực nghiệm 8
6 Cấu trúc đề tài 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: CƠ SƠ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 9
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1.1 Ẩn dụ 9
1.1.2 Hoán dụ 17
1.1.3 Phân biệt ẩn dụ và hoán dụ 23
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN 25
1.3.1 Chương trình Sách giáo khoa 25
1.3.2 Thực tiễn dạy và học 25
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC GIỜ THỰC HÀNH PHÉP TU TỪ ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ CHO HỌC SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT CÒ NÒI 29
2.1 Tổ chức dạy học 29
Trang 52.1.1 Chuẩn bị thực hành 29
2.1.2 Tổ chức thực hành trên lớp 32
2.1.3 Các phương pháp tổ chức thực hành 34
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập 40
2.2.1 Bài tập nhận diện 40
2.2.2 Bài tập tái hiện 42
2.2.3 Bài tập phân loại 43
2.2.4 Bài tập phân tích 44
2.2.5 Bài tập đánh giá giá trị thẩm mĩ 46
2.2.6 Bài tập sáng tạo 48
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 50
3.1 Mục đích thực nghiệm 50
3.2 Yêu cầu thực nghiệm 50
3.3 Đối tượng thực nghiệm 50
3.4 Địa bàn thực nghiệm 51
3.5 Kế hoạch thực nghiệm 51
3.6 Cách thức thực nghiệm 51
3.7 Kiểm tra đánh giá kết quả thực nghiệm 52
3.7.1 Các tiêu chí đánh giá 52
3.7.2 Kết quả đánh giá thực nghiệm 53
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong mọi thời đại, một đất nước có giàu mạnh về kinh tế, phong phú
về văn hóa, ổn định về xã hội, thì nhất thiết giáo dục phải phát triển Và nhất là thời đại hiện nay, công nghệ thông tin, sự giao thoa giữa các nền văn hóa, sự hợp tác mọi mặt trên thế giới đang được đẩy mạnh, thì việc giáo dục càng được chú trọng Năm 1996, Unesco đã khuyến nghị là giáo dục toàn thế giới trong thế
kỉ XXI cần phải xây dựng theo hướng Học để biết, học để làm việc, học để
chung sống và học để làm người Ý thức được tầm quan trọng của giáo dục, các
quốc gia trên thế giới đã có sự quan tâm đầu tư thích đáng cho giáo dục
1.2 Việt Nam đang là đất nước tiềm ẩn một nội lực phát triển rất lớn Sức mạnh ấy được phát huy hay không, điều này phụ thuộc vào mỗi người dân Như
Bác Hồ đã nói Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy trình độ dân trí của
người dân đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp phát triển của đất nước Đảng
và nhà nước đã quan tâm, và tạo điều kiện để phát triển giáo dục, đặc biệt là những dân tộc vùng sâu vùng xa Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước
ta đã có sự quan tâm đặc biệt đến Tây Bắc trong vấn đề giáo dục Tuy nhiên, do
là giáo dục vùng cao nên còn gặp nhiều khó khăn trong cả hoạt động dạy và học
1.3 Xuất phát từ yêu cầu của việc gắn lí thuyết với thực hành của phân môn Tiếng Việt trong môn Ngữ Văn Ta thấy rằng, mục tiêu lớn nhất của việc dạy học hiện nay là nhằm phát triển tư duy độc lập, sáng tạo cho học sinh Trong
đó môn Ngữ Văn nói chung, phân môn Tiếng Việt nói riêng có một vai trò quan trọng trong việc hình thành phát triển tư duy cho cho học sinh Do đặc điểm của học sinh vùng Tây Bắc nói chung và học sinh xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn nói riêng, đa phầnhọc sinh là con em các dân tộc thiểu số, yếu tố về ngôn ngữ, ngữ bản còn in đậm trong từng học sinh Có thể vấn đề lí thuyết các em nắm rất tốt, nhưng khi thực hành còn nhiều vướng mắc Đặc biệt là cách hiểu, làm tốt, áp dụng hiệu quả vào trong giao tiếp và tạo lập văn bản của giờ thực hành, nhất là
giờ Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ, còn khá nhiều khó khăn
Trang 71.4 Qua việc khảo sát thực tế, trình độ cũng như kĩ năng thực hành nói
chung và kĩ năng tiến hành, tiếp thu bài Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ
nói riêng của học sinh lớp 10 THPT Cò Nòi, chúng tôi thấy rằng nhìn chung các
em đã nắm được những kiến thức cơ bản, còn thực hành áp dụng thì còn bộc lộ nhiều thiếu sót, hạn chế
1.5 Với sinh viên năm cuối, việc nghiên cứu khoa học sẽ mang lại nhiều lợi ích Không chỉ là tập dượt nghiên cứu khoa học quan trọng trong cuộc đời sinh viên, mà nó còn cung cấp kĩ năng, trau dồi tri thức của vấn đề tham gia nghiên cứu Hơn nữa, kết quả nghiên cứu đạt được còn giúp sinh viên sau khi ra trường làm nguồn ngữ liệu quí báu phục vụ đắc lực cho chuyên môn giảng dạy
Là sinh viên năm cuối, tôi mong muốn mình có được những hiểu biết nhất định về đặc điểm trình độ, kĩ năng, kĩ xảo nói chung và kĩ năng tổ chức giờ
thực hành và cụ thể là giờ Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ nói riêng, cho
học sinh THPT- đối tượng gắn bó với tôi trong suốt cuộc đời giáo viên sau này
Từ những lí do trên chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu và lựa chọn đề tài
nghiên cứu của mình là “Hướng dẫn tổ chức giờ Thực hành phép tu từ ẩn dụ
và hoán dụ cho học sinh lớp 10 trường Trung học phổ thông Cò Nòi, huyện Mai Sơn, Tỉnh Sơn La”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về cách thức tổ chức dạy thực hành tiếng Việt các tác giả Lê A-Nguyễn
Quang Ninh- Bùi Minh Toán đã bàn đến trong cuốn Phương pháp dạy học tiếng
Việt (NXB Giáo dục) Ở mục 2 phần IV Phương pháp dạy học lí thuyết và luyện tập từ ngữ [1-tr.111] Các tác giả đã viết: Luyện tập thực hành trong bộ môn Tiếng Việt cũng như các bộ khoa học khác, có tác dụng làm cho học sinh nắm vững khái niệm, hiểu sâu sắc khái niệm hơn Bằng thực hành, học sinh được trực tiếp hoạt động, các em có điều kiện tự mình phát hiện lại tri thức vào giải quyết các hiện tượng từ ngữ và lời nói Thông qua quá trình vận dụng và phát hiện này mà tri thức của các em được chính xác, củng cố và khắc sâu thêm
Cũng trong cuốn sách này, tại mục B – Thực hành ngữ pháp [1-tr.148], cũng đề cập đến thực hành ngữ pháp:
Trang 8Dạy thực hành ngữ pháp là khâu không thể thiếu được trong dạy học ngữ pháp Bởi vì thực hành ngữ pháp nhằm:
- Làm sáng tỏ thêm và củng cố các khái niệm, các qui tắc ngữ pháp Từ
đó có nhận thức sâu, rộng, vừa khái quát, vừa cụ thể về các khái niệm và qui tắc ngữ pháp
- Rèn luyện các năng lực phân tích, lĩnh hội có cơ sở khoa học các hiện tượng ngữ pháp, từ đó mà hiểu và cảm các sản phẩm giao tiếp ngôn ngữ một cách chính xác và tinh tế
-Nâng cao năng lực viết và nói sao cho phù hợp với các quy tắc ngữ pháp, thích hợp với hoàn cảnh giao tiếp, đạt được trình độ trong sáng và chuẩn mực Đồng thời phát hiện và sửa chữa được những lỗi thường mắc trong hoạt động giao tiếp
Như vậy các tác giả đã bàn đến vấn đề thực hành, nhưng chỉ nói đến thực hành từ ngữ và thực hành ngữ pháp nói chung chứ không bàn về vấn đề hướng
Bên cạnh đó, các tác giả viết về phong cách như: Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa, Hữu Đạt cho rằng ẩn dụ, hoán dụ là những phép
tu từ để trang trí, góp phần làm giàu hình tượng, cảm xúc tiếng Việt Song ở mỗi tác giả, ở mỗi thời điểm lại có cách gọi và phân loại khác nhau
Đỗ Hữu Châu xem ẩn dụ và hoán dụ là hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới Đồng thời định nghĩa về phương
thức ẩn dụ, hoán dụ: Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để
gọi y (biểu thị y) nếu như x và y có nét nào giống nhau Còn phương thức hoán
Trang 9dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi y, nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế khách quan Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên quan hệ tương đồng giữa x và y Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên quan hệ tiếp cận (gần gũi nhau) giữa x và y [3-tr.104]
Đinh Trọng Lạc giải thích ẩn dụ là: Phương thức chuyển nghĩa của một
đối tượng này thay cho đối tượng khác khi hai đối tượng có một nét tương đồng nào đó [9- tr.194] Đồng thời đưa ra định nghĩa về hoán dụ là: Phương thức chuyển nghĩa bằng cách dùng một đặc điểm hay một nét tiêu biểu nào đó của đối tượng để gọi chính đối tượng đó [9-tr.203]
Hữu Đạt cho rằng: Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng ra Người tiếp nhận văn bản khi tiếp nhận với phép ẩn dụ phải dùng năng lực liên tưởng để qui
chiếu giữa các yếu tố văn bản với các sự việc, hiện tượng tồn tại ngoài văn bản Như vậy thực chất của phép ẩn dụ chính là việc dùng tên gọi của sự vật này để biểu thị sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy và ngôn ngữ dân tộc [4-tr.302] Mặt
khác cũng đưa ra định nghĩa về khái niệm hoán dụ như sau: Hoán dụ là cách tạo
tên gọi cho đối tượng dựa trên mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể nhằm diễn
tả sinh động nội dung thông báo mà người nói muốn đề cập [4-tr 309]
Ngoài ra, Lê Đình Tư và Nguyễn Ngọc Cẩn coi ẩn dụ và hoán dụ là hai
phương thức biến đổi ý nghĩa của từ Đồng thời, quan niệm Hoán dụ là phương
thức làm biến đổi ý nghĩa của từ bằng cách lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này để chỉ một sự vật hiện tượng khác trên cơ sở mối quan hệ tất yếu giữa sự vật hay hiện tượng ấy [17- tr.120] Ẩn dụ cũng là phương thức chuyển đổi ý nghĩa của từ bằng cách lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này để chỉ sự vật hiện tượng khác trên cơ sở giông nhau về khía cạnh nào đấy giữa hai sự vật hay hiện tượng
ấy [17-tr.130]
Nguyễn Thái Hòa gọi ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa, có khả năng
gợi hình gợi cảm Về mặt ý nghĩa, tác giả phân ẩn dụ ra làm ba loại: Từ cụ thể
đến cụ thể, từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể [5-tr.54] Cách
phân loại này dựa vào tính cụ thể của đối tượng chọn làm ẩn dụ Với cách phân chia này, mối quan hệ tương đồng giữa hai sự vật, hiện tượng chưa được thể
Trang 10hiện rõ nét và cũng chưa thấy được tính đa dạng, phong phú của ẩn dụ tu từ Hay
Cù Đình Tú xem ẩn dụ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng
này dùng để biểu thị đối tượng kia trên cơ sở mối liên tưởng về nét tương đồng của hai tượng [16-tr.87] Dựa vào khả năng giữa hai đối tượng, tác giả chia ẩn
dụ làm năm loại: Tương đồng về mầu sắc, tương đồng về tính chất, tương đồng
về trạng thái, tương đồng về hành động và tương đồng về cơ cấu [16-tr.49]
Nhìn chung cách chia này phù hợp với chức năng biểu cảm của ẩn dụ tu từ Tuy nhiên, cách nhận định về ẩn dụ tu từ này mang nhiều tính truyền thống, chưa làm rõ được các phương tiện và biện pháp tu từ
Ngoài ra Nguyễn Lân cũng giải thích ẩn dụ là phép sử dụng từ ngữ ở
nghĩa chuyển dựa trên cơ sở tương đồng, sự giống nhau giữa các thuộc tính của cái dùng để nói và cái nói đến Ẩn dụ cũng là một cách ví, nhưng không cần dùng đến những tiếng để so sánh như: tựa, như, bằng [13-tr.92] Bên cạnh đó
Đào Thản đã giải thích khá cụ thể, rõ ràng ẩn dụ cũng theo quan niệm như vậy
trong mối quan hệ với so sánh: Ẩn dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống
nhau về hình dáng, mầu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng của hai đối tượng Nhưng khác với so sánh dùng lối song song hai thành phần đối tượng và phần so sánh bên cạnh nhau, ẩn dụ chỉ giữa lại phần để so sánh [15.tr.143]
Đặc biệt mới đây trong các bài viết trên Tạp chí Ngôn ngữ số 4 và số 7
năm 2007, Phan Thế Hưng đã trình bày quan niệm mới của mình về ẩn dụ rất đáng chú ý trên cơ sở trình bày và phân tích khá tỉ mỉ quan niệm của Aristotle và nhiều nhà ngôn ngữ học sau đó - những người đề xuất quan điểm so sánh trong
ẩn dụ cũng như quan điểm cho rằng chủ đề và phương tiện ẩn dụ có thể thuộc cùng một loại Nhiều nhà ngôn ngữ học đại cương cũng chia sẻ quan điểm này
và xem so sánh ngầm như qui trình cơ bản để hiểu về ẩn dụ Tác giả cho rằng:
Chúng ta không hiểu ẩn dụ bằng chuyển ẩn dụ thành phép so sánh Thay vì vậy, câu ẩn dụ là câu bao hàm xếp loại và do vậy hiểu ẩn dụ qua câu bao hàm xếp loại [8-tr.12]
Năm 2013 trong Khóa luận tốt nghiệp, Trần Thị Ngân Trường ĐH Tây Bắc đã bàn về ẩn dụ và hoán dụ, nhưng về khía cạnh rèn luyện cách sử dụng
Trang 11chúng trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11 Trường THPT Chiềng Sinh, Thành phố Sơn La
3 Mục đích - đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu thực tế dạy học giờ thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán
dụ ở trường THPT Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, để đưa ra các giải pháp nhằm giúp cho các em học sinh có thể nhận diện,thấy được giá trị của ẩn dụ và hoán dụ, từ đó sử dụng ẩn dụ và hoán dụ vào tạo lập văn bản cũng như trong giao tiếp hàng ngày đạt được hiệu quả cao
Đúc rút kinh nghiệm học tập và nghiên cứu, báo cáo kết quả sau 4 năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học, và chuẩn bị kiến thức, tư thế vững vàng trước khi bước vào giảng dạy môn Ngữ Văn ở trường phổ thông
Trau dồi kinh nghiệm và các kĩ năng để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu sau này
3.2 Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các giải pháp tổ chức giờ Thực hành phép tu từ ẩn dụ
và hoán dụ ở lớp 10 trường THPT Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nhằm
nâng cao kĩ năng trong giờ thực hành nói chung và giờ Thực hành phép tu từ ẩn
dụ và hoán dụ nói riêng
4 Nhiệm vụ- phạm vi nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ việc nghiên cứu với khả năng và điều kiện cho phép chúng tôi xác định đề tài có 4 nhiệm vụ sau
Thứ nhất: Xây dựng cơ sở lí thuyết làm cơ sở lí luận cho vấn đề nghiên cứu cho đề tài
Thứ hai: Tìm hiểu thực trạng về việc học Ngữ Văn của học sinh lớp 10 Trường THPT Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Trong đó trọng tâm trú trọng vào việc tìm hiểu việc hình thành các kĩ năng, kĩ xảo qua giờ thực hành của học sinh lớp 10 Trường THPT Cò Nòi Từ đó, nhận ra điểm mạnh điểm yếu
Trang 12của các em trong việc tiếp thu và vận dụng kiến thức qua giờ thực hành nói
chung và giờ Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ nói riêng
Thứ ba: Đề xuất các phương pháp thích hợp để học sinh có thể nhận thức
tốt các kiến thức, và hình thành các kĩ năng cần thiết khi học giờ Thực hành
phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ
Thứ tư: Tiến hành kiểm tra thực nghiệm để khẳng định tính khả thi của những giải pháp mà đề tài đề ra
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi của đề tài là đề xuất một số giải pháp nhằm tiến hành giờ Thực
hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ cho học sinh lớp 10 Trường THPT Cò Nòi
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Khi tiến hành đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu lí thuyết là phương pháp được tổ chức dựa trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu và thu thập những thành tựu lí luận đã có để làm tiền đề cho việc xác định giả thuyết khoa học mà mình đề ra Chúng tôi vẫn coi đây là phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài
Cụ thể, đưa ra các phương pháp tiến hành giờ Thực hành phép tu từ ẩn dụ
và hoán dụ cho học sinh lớp 10 Trường THPT Cò Nòi, chúng tôi đã nghiên cứu
để tìm hiểu thế nào là thực hành, ẩn dụ và hoán dụ là gì? Từ đó đề xuất các biện pháp tổ chức giờ thực hành ẩn dụ và hoán dụ, thích hợp nhất cho các em học sinh lớp 10 Trường THPT Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
5.2 Phương pháp khảo sát thực tế
Chúng tôi sử dụng phương pháp này,để khảo sát những tiết thực hành
chung và những tiết học Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ trên lớp, của
học sinh lớp 10 Trường THPT Cò Nòi Đây là những phương pháp đảm bảo điều kiện sư phạm tự nhiên và đối tượng thống nhất từ qui mô tiêu chuẩn đến nội dung phương pháp
Vì thế, sau khi nghiên cứu những vấn đề lí thuyết, chúng tôi tiến hành
Trang 13khảo sát thực tế Cụ thể chúng tôi đã tìm hiểu ở một số lượng nhất định các em học sinh, về ý kiến và thái độ của các em về những tiết thực hành tiếng Việt nói
chung, và giờ Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ nói riêng Cách thức tổ
chức dạy học của giáo viên
5.3 Phương pháp thống kê
Đây là phương pháp trong lĩnh vực toán học Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này để sử lí các số liệu thu nhận được trong quá trình điều tra thực nghiệm
5.4 Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp này được thực hiện ở 2 phương diện sau:
Thứ nhất: Xây dựng cơ sở thực nghiệm thông qua các bài kiểm tra thực nghiệm
Thứ hai: Thông qua quá trình thực hiện giảng dạy kiểm tra và đánh giá
nhận thức cũng như kĩ năng mà học sinh hình thành sau khi học xong giờ Thực
hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ Từ đó vận dụng những biện pháp giảng dạy
giờ Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ cho học sinh lớp 10 Trường THPT
Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, đồng thời đánh giá được mức độ thành công của đề tài
6 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Trong chương này chúng tôi trình bày hai vấn đề: cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, liên quan đến nội dung đề tài
Chương 2: Một số giải pháp tiến hành giờ thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán
dụ cho học sinh lớp 10 Trường THT Cò Nòi - Huyện Mai Sơn – Tỉnh Sơn La
Đưa ra các phương pháp cụ thể để tổ chức dạy học giờ Thực hành phép ẩn dụ
và hoán dụ nhằm củng cố các kiến thức đã học, và hình thành kĩ năng vận dụng ẩn
dụ và hoán dụ, vào tạo lập văn bản viết cũng như ngôn ngữ nói một cách hiệu quả
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Bao gồm thiết kế để kiểm tra thực nghiệm, tổ chức thực nghiệm và đánh giá kết quả thực nghiệm
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SƠ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Ẩn dụ
a Khái niệm
Theo Đỗ Hữu Châu {155}, ẩn dụ là: Phương thức lấy tên gọi A của x để
gọi tên y (để biểu thị y) nếu x và y giống nhau
Ví dụ:
Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Ở hai câu thơ trên tác giả sử dụng ẩn dụ rất đặc sắc ở hình ảnh lửa lựu
lập lòe, nói lên màu sắc rực rỡ, mạnh mẽ của màu hoa lựu giống như ánh lửa
đang cháy Việc sử dụng ẩn dụ trong câu thơ làm cho người đọc ấn tượng mạnh
về sắc hoa lựu đang chớm nở
b Phân loại
Ẩn dụ có hai loại: Ẩn dụ tu từ và ẩn dụ từ vựng
Ẩn dụ tu từ là phương thức chuyển nghĩa mang sự sáng tạo cá nhân, có tính chất lâm thời Ẩn dụ tu từ được sử dụng trong văn chương nghệ thật, và là một phương tiện đắc lực trong việc thể hiện phong cách của các nhà văn
Ví dụ: Với hồn thơ triết lí, triết luận Chế Lan Viên thường sử dụng ẩn dụ
để nói lên suy tư của mình:
Hái hòa bình xin hái giữa phong ba
Hình ảnh hòa bình và phong ba là hai hình ảnh ẩn dụ đầy biểu cảm Hòa bình là hình ảnh tượng trưng cho hạnh phúc, phong ba là hình ảnh tượng trưng
cho gian khổ, thử thách Ý nghĩa mà Chế Lan Viên muốn gửi gắm ở đây chính
là, hạnh phúc phải trải qua khó khăn gian khổ mới trọn vẹn và có ý nghĩa, cũng chính từ đó ta mới biết quí trọng nâng niu, giữ gìn hạnh phúc
Với kiệt tác Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng rất nhiều hình ảnh ẩn dụ
để nêu các dụng ý nghệ thuật của mình, ví dụ như câu thơ sau:
Trang 15Xót thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng
Hình ảnh ẩn dụ ngó và tơ, để thể hiện tình cảm tha thiết của Thúy Kiều
dành cho Từ Hải Trong thời gian Từ Hải đi chinh chiến, Thúy Kiều ở nhà chờ đợi, dẫu hai người xa nhau, nhưng tấm lòng của nàng vẫn luôn nghĩ đến chàng, giống như ngó sen bị bẻ đôi như vẫn còn vương vấn những sợi tơ Với việc sử dụng ẩn dụ, câu thơ thể hiện được sự sinh động cũng như lột tả được tình cảm sâu sắc và gắn bó của Thúy Kiều giành cho Từ Hải
Nhà thơ Thanh Hải cũng có những vần thơ đầy cảm xúc, khi sử dụng ẩn
dụ trong câu thơ sau:
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay lên hứng
(Mùa xuân nho nhỏ) Tác giả đã sử dụng ẩn dụ một cách tinh tế trong hình ảnh từng giọt long
lanh rơi Từ âm thanh cảm nhận bằng thính giác, tác giả đã chuyển những tiếng
chim hót thành những giọt mà ta có thể nhìn thấy bằng thị giác Bằng việc sử
dụng ẩn dụ, tác giả đã cho ta cảm nhận được những tiếng chim hót, trong trẻo, tinh khôi như những giọt sương đang rơi xuống phủ tràn không gian
Với quan điểm dùng ngòi bút để làm vũ khí chiến đấu, Hồ Chí Minh cũng
sử dụng ẩn dụ để làm nổi bật nên tính đấu tranh trong các tác phẩm Ví dụ như câu văn sau:
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết
những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của
ta trong bể máu
Hình ảnh ẩn dụ ở đây là tắm, bể máu Tắm theo nghĩa cụ thể là hành động
làm sạch cơ thể, bằng nhiều nước, và khi tắm con người thường có cảm giác thư
thái Bể có diện tích rộng chứa được rất nhiều nước Với những nghĩa cụ thể như
vậy, Bác Hồ đã chuyển nghĩa nhằm tố cáo những tội ác của giặc Pháp, hơn nữa
Trang 16chúng không hề thấy lo sợ hay hối hận về những tội ác đó, mà ngược lại còn thoải mái, thỏa mãn với sự giết chóc tàn bạo của mình
Ẩn dụ từ vựng là phương thức chuyển nghĩa mà tính đại chúng, có tính chất lâu dài, được sử dụng phổ biến, rộng rãi trong đời sống
Ví dụ: chân trời, tay bí, cánh đồng, bến xe, cửa sông, ruột bút
c Cơ chế chuyển đổi nghĩa
Theo Đỗ Hữu Châu ẩn dụ có các cơ chế chuyển đổi nghĩa sau:
*Tùy theo các sự vật x và y tức là sự vật chính và sự vật nhận tên gọi ẩn
dụ là các sự vật cụ thể, cảm nhận bằng giác quan hay là sự trừu tượng mà ẩn dụ được chia thành:
- Ẩn dụ cụ thể - cụ thể: Nếu x và y là sự vật cụ thể
Ví dụ: Nghĩa của từ chân, mũi,cánh trong “chân bàn”, “chân núi”,
“chân tường”, “mũi thuyền”, “mũi đất”, “mũi dao”, “mũi quân” “cánh
buồm”, “cánh đồng”, cánh quạt Những nghĩa của các từ cắt, bám, nống,
nặng, nhạt, êm Trong “cắt hộ khẩu”, “bám sản xuất”, “quân địch hòng nống
ra” “thuốc lá nặng”, “lời pha trò nhạt, “tiếng hát rất êm” “xe chạy rất
êm” là các ẩn dụ cụ thể -cụ thể
- Ẩn dụ cụ thể - trừu tượng:
Ví dụ: Khi chúng ta nói “trọng lượng của tư tưởng”, “khối kiến thức”,
“xiềng xích của những lề thói cũ” “nắm nội dung của tác phẩm”, “đập tan luận điệu xuyên tạc”, “con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội” thì chúng ta đang
dùng các từ ẩn dụ cụ thể - trừu tượng
* Phân biệt ẩn dụ theo nét nghĩa phạm trù mà có các ẩn dụ:
- Ẩn dụ hình thức: Là những ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về hình thức giữa các sự vật Ẩn dụ cách thức đã đem lại cho người đọc bao cảm xúc sâu xa
Ví dụ: Những ẩn dụ mũi, chân, cánh nói trên là ẩn dụ hình thức Có các
ẩn dụ vị trí giữa các sự vật Nói “ruột bút”, “lòng sông”, “đầu làng”, “ngọn núi”(so với ngọn cây), “gốc của vấn đề”, “nghành khoa học”, không phải là
những sự vật có hình thức giống nhau như sự vật chính mà là vì tương quan vị trí của chúng với các sự vật khác (như so với vỏ bút, so với cả làng, so với sườn
Trang 17núi, chân núi ) cũng giống nhau như tương quan vị trí của các sự vật vừa nói,
so với toàn bộ cơ thể hay so với cả cái cây
- Ẩn dụ cách thức: Là ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về cách thực hiện giữa hai hoạt động hiện tượng Con đường hình thành ẩn dụ có thể xuất phát từ nét tương đồng giữa hình thức của sự vật, hiện tượng và con người
Ví dụ: “cắt hộ khẩu”, “nắm tư tưởng”, “đừng có vặn nhau nữa” là chỉ
rõ cách thức chuyển hộ khẩu, cách thức nhận tư tưởng, cách thức truy hỏi nhau
để tìm ra chân tướng sự thực cũng giông như cách thức cắt, nắm, vặn một
sự vật cụ thể nào đó
Trong văn học các nhà thơ thường sử dụng ẩn dụ cách thức để diễn tả xúc cảm của mình như:
Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông
(Truyện Kiều- Nguyễn Du)
Ở câu thơ trên Nguyễn Du đã sử dụng ẩn dụ cách thức ở hình ảnh lửa lựu
lập lòe, để nói lên màu sắc rực rỡ, mạnh mẽ, của màu hoa lựu giống như ánh lữa
đang cháy Việc sử dụng ẩn dụ cách thức trong câu thơ làm cho người đọc ấn tượng mạnh về sắc hoa lựu đang chớm nở
- Ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về chức năng giữa các sự vật
Ví dụ: Bến trong bến xe, bến tàu không giống về hình dạng, không giống về vị trí với bến sông, bến đò nó chỉ giống nhau ở chỗ đều là đầu mối giao
thông mà thôi
Còn các ẩn dụ chức năng khác như chốt trong giữ chốt, cửa trong cửa
sông, cửa rừng, cửa mở
- Ẩn dụ phẩm chất: Có thể được dùng theo lối chuyển nghĩa lấy tên gọi chung thay thế cho tên gọi riêng hoặc lấy tên gọi riêng thay thế cho tên gọi chung
Ta có thể thấy rất rõ ẩn dụ phẩm chất trong câu ca dao sau:
Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
Trang 18Thuyền và bến là hình ảnh ẩn dụ cho người con trai và người con gái Sở
dĩ có lối ví von này, vì trong xã hội cũ người con trai thường có trí tang bồng đi
xa để xây dựng sự nghiệp tương ứng với vật hay di chuyển như thuyền, còn người con gái thường ở nhà chăm lo ruộng vườn chờ đợi người chồng, người yêu chở về tương ứng với sự vật đứng yên như bến Hình ảnh ẩn dụ phẩm chất trong câu ca dao trên, đã cho ta thấy được sự thủy chung đức hi sinh của người phụ nữ trong xã hội cũ, dù người chồng, người yêu của mình đi bao lâu và bao
xa, có khi không trở về nữa thì vẫn một lòng chờ đợi
- Ẩn dụ kết quả: Là ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về tác động của các vật đối với người
Ví dụ nói: Có một nỗi buồn không hề nhẹ Thì nhẹ ở đây thường nói về
trọng lượng được cảm nhận bằng cảm nhận qua xúc giác, nhưng ở đây nó lại
được dùng để chỉ cảm xúc, việc sử dụng từ nhẹ ở đây để chỉ một nỗi buồn không
dễ khuây khỏa
Với ví dụ trên ta thấy rằng ẩn dụ kết quả, còn có một loại đáng chú ý, đó
là những ẩn dụ dùng tên gọi của những cảm giác thuộc giác quan này để gọi tên những cảm giác của giác quan khác Ẩn dụ cảm giác được chia làm một
số loại như sau:
+ Thị giác và vị giác: Bức tranh này màu sắc đậm quá!
+ Thị giác và khứu giác: Thấy thơm rồi
+ Thính giác và vị giác: Những câu hát đậm tình quê
+ Thính giác và thị giác: Giọng hát trong veo
+ Thính giác và xúc giác: Tiếng mài dao nghe lạnh cả người
+ Khứu giác và vị giác: Một mùi đăng đắng
Trong văn chương ta bắt gặp rất nhiều những hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi
cảm giác: Trong Nhận đường Nguyễn Đình Thi đã phê phán lối văn nghệ dễ dãi
cần được sửa chữa: .Vứt đi những thứ văn nghệ ngòn ngọt, bày ra sự phè
phỡn thỏa thuê trong cay đắng chất độc của bệnh tật, quanh quẩn vài thứ tình
cảm gày gò của cá nhân co rúm lại Chúng ta muốn có những cuốn tiểu thuyết,
những câu thơ hay đổi được cả cuộc đời người đọc- làm thành người, đấy chúng
ta lên một sự sống trước kia chỉ đứng từ xa nhìn thấp thoáng
Trang 19Trong đoạn văn trên các từ ẩn dụ chuyển đỏi cảm giác thứ văn nghệ ngòn
ngọt, thứ tình cảm gày gò, việc tinh tế trong cách trọn lựa biện pháp nghệ thuật,
tác giả đã đả kích mạnh mẽ vào lối văn nghệ đáng phê phán, đồng thời kêu gọi
sự đổi mới của những nghệ sĩ chân chính
Nhà thơ Thanh Hải đã cho chúng ta những vần thơ đầy cảm xúc khi sử dụng phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ chuyển đổi cảm giác từ thị giác -thính giác – xúc giác:
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay lên hứng
(Mùa xuân nho nhỏ)
Sự phân loại ẩn dụ theo cơ chế nét nghĩa đồng nhất không phải bao giờ cũng tách bạch, dứt khoát Trong rất nhiều ẩn dụ không phải chỉ một mà thường
là một số nét nghĩa cùng tác động
Ví dụ: Trong những từ như mũi, chân, đánh cả hai nét nghĩa hình dạng
và vị trí phối hợp với nhau tạo nên các nét nghĩa ẩn dụ của chúng(trong chân
bàn thì có nét nghĩa hình dáng, nhưng trong chân núi, chân đồi thì chủ yếu là nét
nghĩa vị trí) Nói cánh đồng không chỉ vì đồng có diện tích rộng, mà còn vì đồng
ở hai bên so với trục dọc nào đó như con đường, cái làng Có như vậy chúng ta mới hiểu vì sao cùng một mặt phẳng, rộng mà các sự vật lại được gọi tên bằng
những ẩn dụ khác nhau mặt hồ,cánh đồng, cánh đồng, bàn tay
Nắm được cơ chế ẩn dụ, nhất là nắm được cơ chế các nét nghĩa là rất cần thiết để hiểu sâu sắc ý nghĩa của từ và hiểu các hàm ý đã gửi gắm vào đó Nhưng như ta thấy, đó là những yếu tố mang tinh thần văn hóa không phải ai cũng có
thể cảm nhận được, nói đòi hỏi sự tinh tế, sâu sắc của người phân tích
d Ý nghĩa sử dụng
- Trong sinh hoạt hàng ngày
Ẩn dụ được sử dụng nhiều trong cuộc sống hàng ngày làm tăng thêm tính biểu cảm, cảm xúc
Trang 20Ví dụ như: Chân trời: Hạnh phúc nay xa tận chân trời Để diễn tả tâm
trạng đau khổ trong tuyệt vọng trước cuộc sống
Khi yêu nhau mọi người thường dùng những lời âu yếm như: Mặt trời của
em ơi! Nữ hoàng của anh ơi! Để thể hiện sự cần thiết cũng như vị trí của người
yêu trong lòng mình
- Trong văn chính luận
Ẩn dụ thể hiện hình ảnh cụ thể, tránh được cách nói khô khan của lối văn chính luận, đồng thời gia tăng sức mạnh biểu cảm trong lời nói Chính vì vậy trong văn luận chiến, văn tuyên truyền, người ta dùng hình ảnh ẩn dụ khá phổ biến như một phương tiện biểu đạt để tăng cường sức mạnh bình giá và sức hấp dẫn mạnh mẽ
Ví dụ: Trong Tuyên ngôn độc lập để tố cáo tội ác của giặc Pháp, Bác Hồ
đã dùng những hình ảnh ẩn dụ đắt giá
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết
những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của
ta trong bể máu
Hình ảnh ẩn dụ tắm nhấn mạnh tội các của giặc Pháp Tắm là hành động
dùng nước làm sạch cơ thể Giặc Pháp đã tàn sát những người dân vô tộiViệt
Nam tàn bạo không dễ gì diễn tả Nhưng với chỉ một ẩn dụ tắm Bác đã lột tả hết
những tội ác của chúng
- Trong văn chương nghệ thuật
Phải nói văn chương nghệ thuật là nơi ẩn dụ có thể phát huy tác dụng
nhất Đặc biệt là thơ trữ tình, thơ trữ tình mới là mảnh đất màu mỡ của thơ trữ
tình Mảng thơ trữ tình là nơi ẩn dụ những ẩn ức, những hoang vu, sâu thẳm nhất
của mỗi tâm hồn Vì thế có thể khẳng định rằng: Ẩn dụ được sử dụng rộng rãi như một phương tiện tu từ có khả năng biểu thị đặc trưng của mỗi tác giả, phong cách dân tộc phong cách thời đại
Ví dụ: Ẩn dụ có khả năng biểu thị phong cách của tác giả:
Nhà thơ Tố Hữu mang đậm phong cách trữ tình chính trị, điều này thể hiện rõ trong thơ ông:
Trang 21Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên
(Việt Bắc) Ngày mai đang đến tưng bừng
Ngày mai lại đến từng mô đất này
(Giữa thành phố trụi)
Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài
Thơm như hương nhụy hoa nhài
(Tiếng hát sông Hương) Ngày mai trong những câu thơ trên biểu thị sự tươi sáng, hạnh phúc mang
đậm tình yêu thương, tin tưởng vào tương lai của hồn thơ giàu tình cảm –Tố Hữu
Ngược lại, với hồn thơ giàu tính triết lí, triết luận Chế Lan Viên cũng sử dụng ẩn dụ để nói lên suy tư của mình:
Không ai nhầm lẫn kẻ giết người với mùa xuân
(Tặng bạn ở gần, gửi bạn ở xa)
Kẻ đẵn gốc những mùa xuân nảy lộc
Bọn đâm lê vào những áo cà xa
(Đế quốc Mĩ- Kẻ thù của mỗi tim ta) Mùa xuân trong những vần thơ của Chế Lan Viên có tính suy luận,suy
ngẫm hơn chỉ là sự sống tươi đẹp mà mùa xuân vốn đem lại
Việc ẩn dụ thể hiện phong cách của một dân tộc, điều này rất rõ trong văn hoc Việt Nam từ xưa đến nay Cây tre luôn gắn bó với dân tộc Việt Nam, gắn với cuộc sống sinh hoạt, bữa ăn, giấc ngủ, trong những lời tỏ tình trai gái:
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
Theo thời gian sự gắn bó giữa tre và con người không hề thay đổi Nguyễn Duy đã dùng hình tượng cây tre để nói lên tình thương, sự lam lũ, đức
hi sinh của con người Việt Nam:
Lưng trần phơi nắng, phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con
(Tre Việt Nam)
Trang 22Tìm hiểu ý nghĩa sử dụng của ẩn dụ, ta thấy được phạm vi sử dụng của ẩn
dụ ẩn chứa nhưng tư tưởng, tình cảm mà mỗi người dù là nhà thơ, nhà văn, hay người bình thường muốn truyền đạt
1.1.2 Hoán dụ
a Khái niệm
Theo Giáo sư Đỗ Hữu Châu: Hoán dụ là phương thức lấy tên gọi A của x
để gọi y, nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế
Ví dụ:
Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất
Sắc vàng nghìn xưa sắc đỏ ngày nay
(Người đi tìm hình của nước- Chế Lan Viên)
Ở hai câu thơ trên, tác giả sử dụng hình ảnh hoán dụ rất hình tượng sắc
vàng và sắc đỏ để nói lên chế độ xã hội của đất nước ta Sắc vàng để gọi tên chế
độ phong kiến ngày xưa, vì các bậc vua chúa dùng màu vàng để thể hiện quyền
lực của mình như: hoàng bào, ngai vàng Còn sắc đỏ để nói lên chế độ mới, có
cách mạng, có Đảng dẫn đường, có màu cờ đỏ, có máu của quân dân ta đổ xuống để giành độc lập Xã hội mới vừa có sự hi sinh vừa có sự ấm no, hạnh phúc bình đẳng Việc tinh tế sử dụng hoán dụ đã làm cho câu thơ vừa giàu hình ảnh vừa có sức gợi sâu sắc
b Phân loại
Cũng như ẩn dụ, hoán dụ cũng chia làm hai loại: hoán dụ tu từ và hoán dụ
từ vựng
Hoán dụ tu từ là phương thức chuyển nghĩa mang sự sáng tạo cá nhân,
có tính chất lâm thời Hoán dụ tu từ thường được sử dụng trong văn chương nghệ thuật
Ví dụ:
Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
(Việt Bắc – Tố Hữu)
Trang 23Tố Hữu đã sử dụng hoán dụ trong hình ảnh rừng núi, để chỉ những người
dân Việt Bắc Với việc sử dụng hoán dụ này đã thể hiện được sâu sắc và toàn diện về tình cảm người dân Việt Bắc đối với bộ đội, trong buổi chia tay lịch sử
sau Tổng khởi nghĩa Tháng 8 – năm 1945 Hình ảnh rừng núi gợi cho ta một
cảm giác, nỗi nhớ như thấm vào từng tâm hồn con người lan tỏa, chi phối đến cảnh thiên nhiên Việt Bắc
Hoặc trong đoạn thơ sau:
Hỡi miền Nam trăm đắng ngàn cay
Ba mươi năm chẳng rời tay súng
Đi trước về sau đã dạn dày
Tố Hữu cũng sử dụng hiệu quả biện pháp tu từ hoán dụ, để thể hiện dụng
ý nghệ thuật của mình Hình ảnh miền Nam để chỉ những người dân đang sống
trên quê hương miền Nam, phải chịu đựng những gian khổ, hi sinh cho sự nghiệp cách mạng Với việc sử dụng hoán dụ trong đoạn thơ này, Tố Hữu đã thể hiện được tinh thần đoàn kết, sức mạnh đấu tranh cùng sự hi sinh của người dân miền Nam, trong sự nghiệp cách mạng của đất nước
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi
Nguyễn Du đã sử dụng rất hiệu quả phép tu từ hoán dụ trong hình ảnh đầu
xanh, má hồng Để chỉ một cô gái trẻ trung, xinh đẹp như Thúy Kiều mà phải
chịu những gian khổ tủi cực Đọc câu thơ, ta thấy được sự oan ức, ngang trái của nàng Kiều, đồng thời xót thương cho một thân phận hồng nhan mà bạc mệnh
Hoán dụ từ vựng là phương thức chuyển nghĩa mang tính phổ biến, có tính chất lâu dài Hoán dụ từ vựng được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày
Ví dụ: đất nước, con tu hú, cái thau, quì gối
c Cơ chế chuyển đổi nghĩa
Và giống như ẩn dụ, hoán dụ cũng phát triển dựa vào nét nghĩa cơ sở trong cấu trúc biểu niệm, nhưng khác với các ẩn dụ, tính đồng loạt của các hoán
dụ rõ hơn, cao hơn Tỉ số các từ chuyển nghĩa cùng hướng theo phương thức ẩn
Trang 24dụ thấp thua tỷ xuất số các từ chuyển nghĩa cùng hướng theo hoán dụ Bởi vậy, các ẩn dụ nếu không được phân tích kĩ, thường có vẻ bất ngờ hơn các hoán dụ
Trong tiếng Việt, phương thức hoán dụ có các cơ chế sau:
- Hoán dụ dựa trên quan hệ bộ phận- toàn thể: giữa hai ý nghĩa biểu vật x và y; x là bộ phận của y hoặc x là toàn thể, y là bộ phận Cơ chế này có 5 dạng nhỏ:
+ Dạng thứ nhất: Lấy tên gọi của bộ phận thay cho cả cơ thể, cho cả người hay cho cả toàn thể
Ví dụ: Chân, tay, miệng, mặt là tên gọi của các bộ phận cở thể Trong các câu sau đây: “có chân trong đội bóng đá”, “một tay cờ xuất sắc”, “đủ mặt anh tài”,
“nhà có tám miệng ăn” Thì các bộ phận này chỉ cả người cả cơ thể trọn vẹn
Trường hợp “trước nhà có mấy gốc cau”hay “làng chỉ có hai chục nóc”, thì gốc, nóc ở đây cũng là hoán dụ lấy bộ phận gọi toàn bộ
Các từ ghép hợp nghĩa chỉ loại lớn trong tiếng Việt là một dạng hoán dụ khá độc đáo Trong các từ này, để tạo nên tên gọi cho loại lớn (loại sự vật, hoạt động hay tính chất) chúng ta lấy tên gọi của hai loại nhỏ khác nằm trong loại lớn, ghép chúng với nhau
Như đất nước (sông núi) với nghĩa là “tổ quốc”, “quốc gia” Trong “tổ quốc” hay “quốc gia”, không chỉ có đất và nước mà còn nhiều loại khác nhau
Đất và nước chỉ là hai bộ phận của “tổ quốc”hay “quốc gia”mà thôi
Các từ khác như ếch nhái, cam quýt, lúa khoai (lương thực), khoai sắn (hoa màu) đi đứng (cử chỉ, hành vi của con người), ăn ở (sinh hoạt, cách cư
xử của con người) đều là những hoán dụ trên
Thứ hai: Lấy tên gọi của tiếng kêu, của đặc điểm hình, dáng gọi tên con
vật như: Con tu hú, con tắc kè, con mèo (đặc điểm tiếng kêu), con cạp
nong,con bạc má (chỉ hình dáng)
Thứ ba: Lấy đơn vị của thời gian nhỏ gọi tên đơn vị thời gian lớn:
xuân, hạ, thu, đông, chỉ bốn mùa trong năm Nhưng có thể gọi thời gian cả
năm như: ba mùa thu đi qua, tức là ba năm đã trôi qua Cũng có thể gọi thời gian cả một đời người .Kết tràng hoa dâng 79 mùa xuân thì mùa xuân ở
đây chỉ tuổi của Bác
Trang 25Thứ tư: Tên riêng được dùng thay thế cho tên gọi của loại trường hợp Ta
có thể thấy rất nhiều trong đời sống như: “thuốc lá Tam Đảo”, “thuốc lá Vina” thường được người ta gọi tắt là Tam Đảo, hay “cho một Vina”.Thì Vina hay
Tam Đảo là những tên gọi những loại thuốc lá
Thứ năm: Lấy tên gọi của một số nhỏ để chỉ một số lớn không đếm hết;
hoặc lấy tên gọi của một số cụ thể để chỉ một số không xác định đó là những:
trăm, nghìn Trong các trường hợp trăm người như một, trăm miệng một lời, nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa đều chỉ một số lớn nhiều hơn chúng rất
nhiều Còn trong các trường hợp vài ba thì những con số vài, ba, dăm, bảy đều
là những con số nói lên một số lượng không chính xác cụ thể tuy không bé không lớn hơn chúng là bao nhiêu
Ngoài ra có thể kể đến những trường hợp sau là những hoán dụ lấy tên gọi
của toàn bộ để gọi bộ phận: “Một ngày công”, “một đêm văn nghệ”, “tháng liên hoan phim” ngày, đêm, tháng là những từ chỉ thời gian lớn ngày (8 tiếng),
đêm (12 tiếng), tháng (30 ngày)
Tiếng Việt có cách nói phổ biến, lấy tên gọi của loại lớn để chỉ sự vật cá
thể thuộc loại nhỏ như: Xe có thể là xe đạp hoặc xe máy, xe ô tô Máy có thể là
máy tính, máy khoan, máy điện thoại
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa vật chứa- vật bị chứa Đây là một cơ chế rất phổ biến trong tiếng Việt và trong nhiều ngôn ngữ Tên gọi của sự vật được
dùng để chỉ những cái nằm trong đó Tính đồng loạt của cơ chế này rất cao Nhà
là công trình kiến trúc để ở, tức là vật chứa Trong câu: Một nhà sum họp trúc
mai, thì nhà để chỉ toàn bộ những người trong gia đình sống trong ngôi nhà đó,
tức là vật bị chứa trong ngôi nhà đó Tương tự như trong trường hợp: cả làng tỉnh
dậy giữa đêm khuya, cả sân vận động như vỡ òa, cả thành phố như nở hoa
- Hoán dụ dựa trên quan hệ nguyên liệu và sản phẩm được chế tạo từ
nguyên liệu: Thau vốn là chất liệu gồm hợp kim đồng và thiếc, trong trường hợp
cái thau thì nó lại là đồ vật được làm từ hợp kim đó Những trường hợp tương
tự: đồng (một đồng, hai đồng), bạc (với nghĩa là tiền)
Trang 26- Hoán dụ dựa trên quan hệ đồ dùng, dụng cụ với người sử dụng: “Một tay
Viôlông rất cừ” (với nghĩa là nhạc công giỏi), “cây bút trẻ”(với nghĩa là nhà
văn), “một cây sáo” (là một nhạc công)
- Hoán dụ dựa trên quan hệ dụng cụ - ngành nghề Theo cơ chế này, tên gọi của các dụng cụ được gọi thấy cho tên ngành nghề Sân khấu là nơi biểu diễn của các ngành nghệ thuật như: Tuồng, trèo, kịch do đó các từ này có thể
được dùng chỉ tổng hợp các ngành đó: Sân khấu thủ đô Từ màn ảnh cũng là hoán dụ Các ví dụ khác búa, súng, cày, bút có thể là các hoán dụ chỉ nghề nghiệp tay búa (chỉ công nhân) tay súng (chỉ người lính, hoặc một vân động viên
bắn súng)
- Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa và lượng chất được chứa đựng Đây
là những hoán dụ phổ biến Hầu hết tất cả các sự vật trong tiếng Việt (chủ yếu là
đồ vật) có thể chứa đựng một cái gì đó thì đều có thể dùng được để chỉ đơn vị đo
lường (thể tích) như: “Mấy thúng gạo”, “ba bồ sách”, “một tủ vải vóc”
- Hoán dụ dựa trên quan hệ cơ quan chức năng và chức năng Trong những hoán dụ này tên gọi của cơ quan được dùng để gọi cho các chức năng
như: đầu (chỉ trí tuệ), tim (chỉ tình cảm), bụng (chỉ tâm địa), mắt (chỉ thị giác),
tai (chỉ thính giác)
Trong tiếng Việt, có hai loại hoán dụ đặc biệt như: Miệng lưỡi, mồm
miệng, giọng lưỡi (cách ăn nói, cách lập luận); vai,vế, tai mắt (chỉ địa vị,
cương vị xã hội đáng kể) trong xã hội cũ: “Những bậc tai mắttrong thành phố”,
“có vai vế trong làng”
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tư thế cụ thể và nguyên nhân của tư thế
Ở đây, tên gọi các tư thế quan, sát được dùng để chỉ hành vi hoặc tình trạng sinh
lí, tâm lí đi kèm với chúng: tắt thở, nhắm mắt, xuôi cẳng sáo, xuôi tay (chỉ cái chết); khoanh tay (chỉ sự bất lực); cúi đầu (chỉ sự cam chịu); quì gối (chỉ sự khuất phục nhục nhã); ngẩng đầu (chỉ sự buất khuất)
- Hoán dụ dựa vào âm thanh để gọi tên động tác: Trong những hoán dụ
này, những tiếng động do hoạt động gây ra được dùng để gọi tên động tác như:
đét (đánh bằng roi), bịch (đấm bằng tay), bợp (tát bằng tay)
Trang 27So với các ngôn ngữ khác, do đặc trưng ngữ âm của mình, tiếng Việt rất giàu những từ tượng thanh Các từ tượng thanh chưa định hình về ngữ pháp, chưa vào một từ loại nhất định Bởi vậy, các từ tượng thanh phải đi kèm với một
tên gọi chỉ hoạt động đã sinh ra các tiếng động đó: Thổi ào ào, nói bi bô, chảy
róc rách Tuy nhiên, khá nhiều động từ chính bị lược bỏ để câu văn gọn và
sáng Trong trường hợp này, các “tiếng động”- tức là các từ tượng thanh, đã trở
thanh, đã trở thành các hoán dụ gọi tên các hoạt động: Đứa bé bi bô, gió ào ào,
sấm ùng ùng, súng đoàng đoàng
Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và sản phẩm được tạo ra do hoạt động đó Ở trường hợp này, tên gọi của các hoạt động được dùng để gọi tên các
sản phẩm: điểm, chấm, nắm, gói trong (5 điểm, những chấm li ti trên tờ giấy,
nắm cơm, gửi cái gói này cho bạn, bọc hàng) là những sản phẩm do các hoạt
động điểm (điểm vài nét), chấm (lấy ngì bút chấm vài chấm), nắm (nắm tay lại),
gói (gói bọc hàng) tạo ra Các sản phẩm này thường cũng là tên gọi của đơn vị
đo lường: một bước đi, một bó, mấy túm rau
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và dụng cụ Ở trường hợp này, tên gọi của các hoạt động được dùng để gọi tên công cụ (cũng có thể gọi tên ngược lại: Tên gọi của công cụ được dùng để gọi tên hoạt động; dù giải thích thế
nào đi nữa thì đây vẫn là các hoán dụ): Cuốc và cái cuốc, đục và cái đục, giũa
và cái giũa
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa động tác tiêu biểu và toàn bộ quá trình
sản xuất Trong trường hợp này cả hai từ đều là động từ Ví dụ: đóng bàn, đóng
là động tác “dùng búa, đục nện vào một vật cho nó gắn vào các vật khác” Ở đây
đóng có nghĩa là “làm, chể tạo ra cái bàn” Các trường hợp khác như quay, cán
sợi mì (tức chế biến mì thành mì sợi nhờ động tác quay, cán) Đẽo cày, đúc tiền, cắt áo, cũng thuộc cơ chế này
- Hoán dụ dựa trên quan hệ sự vật và màu sắc Trong các hoán dụ này, tên
gọi sự vật mang màu sắc được chuyển nghĩa gọi tên các màu sắc, như (màu) da
lươn, da cam, da trời, nước biển, rêu, nõn chuối
Trang 28- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tính chất của sự vật và bản thân sự vật Trong những trường hợp này, tên gọi của tính chất, đặc điểm được dùng gọi thay
cho sự vật như chất xám (năng lực trí tuệ, năng lực suy nghĩ, nhà tri thức); chất
khói, khói (thuốc lá), chất cay (rượu)
d Ý nghĩa sử dụng
Hoán dụ khắc sâu đặc điểm tiêu biểu cho đối tượng miêu tả Nó được sử dụng rộng rãi trong lối nói nghệ thuật và trong nhiều phong cách
1.1.3 Phân biệt ẩn dụ và hoán dụ
* Giống nhau: Cùng là biện pháp chuyển đổi tên gọi và về chức năng
- Lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này (A) để gọi sự vật hiện tượng khác
ở (B), dùng A để gọi B
- Dựa trên sự so sánh hai sự vật có nét chung (so sánh ngầm) chỉ có một
vế (vế biểu hiện), còn vế kia(vế được biểu hiện) bị che lấp đi
- Có tác dụng gợi hình gợi cảm
* Khác nhau:
- Ẩn dụ:
+ Giữa hai sự vật, hiện tượng có mối quan hệ tương đồng, tức giống nhau
về phương diện nào đó (hình thức, cách thức thực hiện, phẩm chất, cảm giác)
Ẩn dụ lâm thời biểu thị mối quan hệ giống nhau giữa hai sự vật
+ Cơ sở của ẩn dụ dựa trên sự liên tưởng giống nhau của hai đối tượng bằng cách so sánh ngầm
+ Về mặt nội dung: (cấu tạo bên trong) Ẩn dụ phải rút ra nét cá biệt giống nhau giữa hai đối tượng vốn khác loại, không cùng bản chất, nét giống nhau là
cơ sở để hình thành ẩn dụ, đồng thời cũng là hạt nhân nội dung của ẩn dụ
+ Chức năng chủ yếu của ẩn dụ là biểu cảm, hiện nay ẩn dụ được dùng rộng rãi trong nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau, không những trong văn xuôi nghệ thuật mà còn trong phong cách chính luận nhưng nhiều nhất vẫn là trong thơ ca
- Hoán dụ:
+ Giữa hai sự vật, hiện tượng có mối quan hệ tương cận, tức đi đôi gần gũi với nhau (bộ phận- toàn thể; vật chứa đựng; dấu hiệu của sự vật- sự việc; cụ thể- trừu tượng)
Trang 29+ Hoán dụ biểu thị mối quan hệ gần gũi, có thực giữa đối tượng biểu hiện
và đối tượng biểu hiện
+ Cơ sở của hoán dụ dựa trên sự liên tưởng cận kề của hai đối tượng mà không so sánh
+ Chức năng chủ yếu của hoán dụ là nhận thức, nó được dùng trong nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau nhưng thường đắc dụng trong văn xuôi nghệ thuật, vì sức mạnh của nó vừa ở tính cá thể và tính cụ thể vừa ở tính biểu cảm kín đáo và sâu sắc
Ví dụ: Tìm ẩn dụ và hoán dụ trong ví dụ sau:
Thôn Đoài lại nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào
(Tương tư- Nguyễn Bính) Hoán dụ: thôn Đoài, thôn Đông chỉ người thôn Đoài và thôn Đông Đây
là hoán dụ theo quan hệ giữa vật chứa và vật bị chứa
Ẩn dụ: cau, trầu không chỉ người con trai và người con gái
Nếu trong trường hợp mà ẩn dụ và hoán dụ cùng tồn tại trong một từ, thì
ta chấp nhận phép tu từ có giàu giá trị, sức gợi hơn
Ví dụ:
Bóng hồng nhác thấy nẻo xa
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai
(Nguyễn Du)
Trong trường hợp này, bóng hồng có thể vừa là ẩn dụ vừa là hoán dụ Nếu
là hoán dụ, thì trường hợp này là hoán dụ theo cơ chế lấy dấu hiệu để nói sự vật
Bóng hồng xuất phát từ Trung Quốc, ngày xưa các thiếu nữ đất nước này thường
mặc quần hồng, vậy nên người Trung Quốc thường sử dụng từ bóng hồng để nói
người phụ nữ Tuy nhiên xét trong câu thơ này, bóng hồng cũng là ẩn dụ, chỉ
người con gái có nhan sắc, cụ thể là chị em Thúy Kiều và Thúy Vân Trong câu
thơ này đặt bóng hồng là ẩn dụ thì câu thơ có giá trị biểu cảm hơn
Trang 301.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.3.1 Chương trình Sách giáo khoa
Từ khi cải cách giáo dục cho đến nay, các môn học được sắp xếp khoa học và phù hợp với năng lực cũng như phù hợp với thực tiễn xã hội Trong đó môn Ngữ Văn thật sự đã được trả về đúng vị trí của nó Ý thức được sự phát triển của thời đại, nhiều xu hướng phát triển trong nhiều lĩch vực, đòi hỏi ngôn ngữ Việt phải giữa gìn được bản sắc đồng thời cũng phải hay và phù hợp với những hoàn cảnh khác nhau Vì thế những tiết học thực hành được thêm vào đáng kể trong chương trình Ngữ Văn, và đặc biệt trong phân môn Tiếng Việt Ý thức được vẻ đẹp ngôn ngữ cũng như sự ứng dụng vào thực tế,
Bộ Giáo dục và đào tạo đã đưa tiết Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ
trong chương trình lớp 10
Về chương trình: Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ được phân bố
một tiết trong chương trình lớp 10 chuẩn Và trước đó cũng có một tiết về lí thuyết ẩn dụ và hoán dụ trong chương trình lớp 6 Trung học cơ sở
Về Sách giáo khoa: Để phục vụ giảng dạy và học tập cho tiết học Phép tu
từ ẩn dụ và hoán dụ là cuốn Ngữ Văn lớp 10 tập 1 Cuốn sách này đã cung cấp
đầy đủ các tài liệu cũng như kiến thức về thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ Gồm có: Mục tiêu cần đạt và các loại bài tập, cũng như phần ghi nhớ, để giáo viên và học sinh có thể định hướng được các kiến thức dạy và học
Chúng tôi lấy SGK Ngữ Văn lớp 10 tập 1 làm cơ sở tài liệu chính, và cũng lấy đó để làm cơ sở để đề xuất các phương pháp để tiến hành giờ thực hành
Phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ cho học sinh lớp 10 Trường THPT Cò Nòi – Huyện
Mai Sơn – Tỉnh Sơn La
1.3.2 Thực tiễn dạy và học
a Thực tiễn dạy học của giáo viên
Qua quá trình khảo sát thực tiễn chúng tôi thấy rằng, phần lớn đội ngũ giáo viên bộ môn Ngữ Văn của Trường THPT Cò Nòi đều được đào tạo theo chương trình chuẩn, chính qui, nắm vững các yêu cầu kiến thức và kĩ năng trong quá trình dạy bộ môn Ngữ Văn Thầy cô của trường đều có tâm huyết với
Trang 31nghề, có trách nghiệm trong công tác giảng dạy, tạo được sự yêu mến và hứng thú cho các em, khiến cho các em tiếp thu bài một cách hiệu quả, nhiều giờ giảng đạt kết quả tốt
Do tính chất và đặc điểm của giờ thực hành, đặc biệt lại là giờ thực hành
tiếng ViệtThực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ, cho nên các thầy cô giáo bộ
môn Ngữ Văn Trường THPT Cò Nòi đã vận dụng các phương pháp nhằm phát huy tối đa những kiến thức cũng như năng lực học sinh như: Nêu và giải quyết vấn đề, rèn luyện theo mẫu, phương pháp hoạt động nhóm
Các phương pháp này về cơ bản cũng đã đạt được những thành công nhất định Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng các phương pháp này chưa phát huy hết khả năng sáng tạo, cũng như tạo được sự thích thú, say mê ở các em Mà những yếu tố này là điều kiện tiên quyết để các em tạo lập được những kĩ năng,kĩ xảo,
và vận dụng những kĩ năng ấy và thực tiễn cuộc sống
Các giờ thực hành thường rất phức tạp, có nhiều tình huống có thể bất ngờ sảy ra Cho nên các giáo viên thường có tâm lí e ngại, thường tổ chức giờ học theo những công thức cơ bản với những bài tập khuôn mẫu trong sách giáo khoa, khi giảng dạy ngại trao đổi với học sinh, nên giáo viên thường sử dụng phương pháp diễn giảng trên bảng Vì thế nên tâm lí chán nản, không tập trung của học sinh là không tránh khỏi Đặc biệt là một giờ thực hành với những
phương thức chuyển nghĩa đầy phức tạp như giờ Thực hành phép ẩn dụ và hoán
dụ, nếu vẫn cách dạy đó thì chắc chắn hiệu quả giờ học không cao
b Thực tiễn học của học sinh
Qua khảo sát thực tiễn, chúng tôi nhận thấy các em học sinh không thích
thú đối với giờ Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ Việc ngồi học giờ thực
hành là một điều bắt buộc Và như thế thì hiệu quả sẽ không đạt mục tiêu mà giáo dục đề ra Khi tiến hành khảo sát về thái độ của các em học sinh về tiết học
Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Trang 32Kết quả cho thấy số lượng các em học sinh thích giờ Thực hành phép tu
từ ẩn dụ và hoán dụ không nhiều Và số lượng học sinh không thích giờ Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ chiểm một số lượng khá lớn Được hỏi vì sao
không thích giờ Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ thì các em đều trả lời là
bài học rất khó Thêm nữa các em phần nhiều là dân tộc thiểu số, nên các em không có được những cảm nhận tinh tế, và lĩnh hội được những cơ chế linh hoạt
và phức tạp của ẩn dụ và hoán dụ Vậy nên kết quả khảo sát ở trên không có gì
là khó hiểu
Để làm rõ kết quả kháo sát trên, đồng thời để nắm rõ thực trạng học tập
bộ môn Ngữ Văn nói chung và những tiết thực hành cũng như tiết học Thực
hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ, chúng tôi đã mạnh dạn tiến hành ra đề, yêu
cầu học sinh làm bài và thu lại để chấm điểm, kết quả như sau:
Thực tế trên đã cho thấy: Học sinh lớp 10 Trường THPT Cò Nòi cần có
những phương pháp thích hợp, và đổi mới hơn nữa trong tiết học Thực hành
phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ Hy vọng những phương pháp mà chúng tôi đề xuất
trong đề tài sẽ góp được một phần nào đó cho việc dạy và học cho các tiết thực
hành nói chung và tiết Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ nói riêng
Tiểu kết
Ở chương 1, chúng tôi đã nêu lên một cách tổng quát nhất về cơ sở lí luận
và cơ sở thực tiễn Với những kiến thức lí luận, chúng tôi đã xây dựng nền tảng
Trang 33vững chắc cho đề tài Với cơ sở thực tiễn đã mở ra cho chúng tôi những hướng phát triển cho đề tài Bất kì một giải pháp dạy học nào được đưa ra cũng đều xuất phát từ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của quá trình dạy học Chính vì vậy,
để có những giả pháp thiết thực nhằm thực hiện một giờ Thực hành phép tu từ
ẩn dụ và hoán dụ cho các em, chúng tôi tìm hiểu cơ sở lí luận cũng như cơ sở
thực tiễn của quá trình dạy và học của giáo viên và học sinh trường THPT Cò Nòi, huyện Mai Sơn là những tiền đề đầu tiên để chúng tôi có thể đưa ra những
giải pháp nhằm thực hiện một giờ Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ đạt
kết quả cao
Trang 34CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC GIỜ
THỰC HÀNH PHÉP TU TỪ ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ CHO HỌC SINH
LỚP 10 TRƯỜNG THPT CÒ NÒI 2.1 Tổ chức dạy học
2.1.1 Chuẩn bị thực hành
Tổ chức cho học sinh luyện tập thực hành là một việc khó Khó vì thực tiễn muôn màu so với lí thuyết, khó vì có thể gặp nhiều tình huống bất ngờ, khó
vì sách giáo khoa không có lời giải (dạy học lí thuyết cũng khó, nhưng ít nhiều
đã có sẵn trong sách) Bởi vậy, trước khi lên lớp, giáo viên phải chuẩn bị cẩn thận Tối thiểu giáo viên phải hoàn thành một số việc như sau:
Thứ nhất: Xác định được các dạng bài tập, mục đích yêu cầu của chúng Việc xác định này giúp cho giáo viên có được cơ sở vững chắc cho các hướng dẫn dễ hiểu khoa học khi đến với học sinh
Ví dụ: Bài tập 2 (phần ẩn dụ, sgk 135) Tìm và phân tích ẩn dụ trong các đoạn trích sau
Như vậy đây là dạng bài tập nhận diện, phân tích Bài tập này có mục đích làm sáng tỏ và củng cố, phát triển và một khái niệm ngữ pháp hoặc một đặc điểm từ ngữ tiếp thu từ bài học lí thuyết Loại bài tập này có hai yêu cầu:
1 Nhận diện được các đặc điểm hoặc các yếu tố từ ngữ, ngữ pháp được cho sẵn trong các bài tập Có thể các đặc điểm yếu tố này được biểu hiện trong nhiều dáng vẻ khác nhau
2 Sau khi xác định được các yếu tố, và đặc điểm từ ngữ, ngữ pháp học sinh phải đi phân tích, giải thích và chỉ ra được các đặc trưng để đáp ứng được các khái niệm của từ ngữ, ngữ pháp đó Cụ thể nếu hướng dẫn học sinh làm phần (a) của bài tập này như sau:
Dưới quyên trăng đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông
(Nguyến Du) Trước hết phải căn cứ vào đặc trưng của khái niệm ẩn dụ
Trang 35Sau đó, vận dụng đặc trưng khái niệm vào ngữ liệu bài tập để xác định đối
tượng cần nhận diện, phân tích Đó là hình ảnh ẩn dụ lửa lựu
Cuối cùng là phân tích đối tượng tìm được để xác định đặc điểm của nó,
xem đã đáp ứng đặc trưng của khái niệm ẩn dụ chưa Trong cuộc sống lửa đại
diện cho sự mãnh liệt, màu sắc rực rỡ, cảm giác thu hút nóng bỏng Với tất cả
những đặc trưng của lửa này, Nguyễn Du muốn chuyển tải qua sắc hoa lựu trong
ngưỡng cửa mùa hè Đây là ẩn dụ theo cơ chế giống nhau về hình thức Từ đó có thể củng cố thêm khái niệm
Khi giáo viên muốn phát huy khả năng nhận biết cũng như khả năng cảm thụ văn chương, có thể ra loại bài tập như sau:
Phân tích những hình ảnh ẩn dụ trong câu thơ sau thấy được giá trị của biện pháp tu từ được sử dụng?
Mũ tai bèo khẽ nghiêng nghiêng
Nghe lăn lăn những tiếng chim xuống hầm
(Hoàng Nhuận Cầm) Bài tập này thuộc loại bài tập đánh giá giá trị thẩm mĩ Bài tập này có mục đích: củng cố khái niệm, cho học sinh thấy được tác dụng của các khái niệm từ ngữ hay ngữ pháp khi sử dụng để tạo lập văn bản hay xây dựng lời nói Yêu cầu của loại bài tập này là phát hiện và đánh giá vẻ đẹp sinh động mà các khía niệm
từ ngữ, ngữ pháp đem lại mà cụ thể ở đây là,phép tu từ ẩn dụ
Khi hướng dẫn học sinh làm bài tập này, chuẩn bị qua các bước như sau:
- Bước 1: Cần nắm vững về biện pháp tu từ ẩn dụ, sau đó đọc kĩ văn bản
đẻ chỉ ra các biện pháp tu từ cần được sử dụng
- Bước 2: Tìm ra những từ ngữ thể hiện giá trị đó Mà cụ thể trong câu thơ
trên là từ lăn lăn
- Bước 3: Nêu tác dụng, hiệu quả sử dụng của phép tu từ mang lại trong văn bản
+ Nêu những giá trị biểu cảm mà phép tu từ mang lại trong văn bản + Vận dụng vốn sống, cảm thụ của bản thân về những rung cảm thẩm
mĩ liên quan đến nội dung văn bản và kiến thức về biện pháp tu từ, để phân