` TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐỖ THẾ MẠNH NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH VE CHÓ Ở HUYỆN ĐẦM HÀ VÀ HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH, THỬ NGHIỆM CHIẾT XUẤT THUỐC LÀO VÀ BÁCH BỘ TRỊ VE CHO CH
Trang 1` TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ THẾ MẠNH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH VE CHÓ Ở HUYỆN ĐẦM HÀ VÀ HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH, THỬ NGHIỆM CHIẾT XUẤT THUỐC LÀO VÀ BÁCH BỘ TRỊ VE CHO CHÓ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ THẾ MẠNH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH VE CHÓ Ở HUYỆN ĐẦM HÀ VÀ HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH, THỬ NGHIỆM CHIẾT XUẤT THUỐC LÀO VÀ BÁCH BỘ TRỊ VE CHO CHÓ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Đỗ Thế Mạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè và sự động viên khích lệ của gia đình Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Cô giáo GS TS Nguyễn Thị Kim Lan đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo
tôi hết sức tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm Khoa và các thầy, cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các hộ gia đình nuôi chó tại một số xã, thị trấn thuộc huyện Đầm Hà và Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh và các đồng nghiệp trong ngành đã giúp tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn này
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả
Đỗ Thế Mạnh
Trang 5fl
pg
Rhipicephalus sanguineus
Phần trăm Cộng sự Trung bình Gam/lít Femtolit Picogam
Trang 6Bảng 3.8 Công thức bạch cầu của chó khỏe và chó bị ve ký sinh 58 Bảng 3.9 Kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết Thuốc lào 10%
và củ Bách bộ 10% sau 24 giờ trong các loại dung môi 60 Bảng 3.10 Kết quả kiểm tra độc tính của dịch chiết Thuốc lào 10% và củ
Bách bộ 10% trong NaOH 5% tại các thời điểm chiết xuất 64 Bảng 3.11 Kết quả kiểm tra độc tính của dịch chiết Thuốc lào và Bách bộ ở
các nồng độ khác nhau được ngâm 24 giờ trong NaOH 5% 66 Bảng 3.12 Kết quả điều trị thử nghiệm cho chó nhiễm ve bằng dịch chiết
Thuốc lào ngâm trong NaOH 5% (thời gian ngâm 24 giờ) 68 Bảng 3.13 Kết quả điều trị thử nghiệm chó nhiễm ve bằng dịch chiết củ
Bách bộ ngâm trong NaOH 5% (thời gian ngâm 24 giờ) 69 Bảng 3.14 Kết quả sử dụng dịch chiết Thuốc lào 20% để trị ve cho chó
Bảng 3.15 Kết quả sử dụng dịch chiết củ Bách bộ để trị ve cho chó tại
Trang 7DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Ve ký sinh trên chó (Rhipicephalus sanguineus) 8
Hình 3.1 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm ve ở chó tại một số xã của huyện Đầm Hà
Hình 3.2 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm ve ở chó theo tuổi 48 Hình 3.3 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm ve ở chó theo tính biệt 50 Hình 3.4 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm ve ở chó theo giống 51 Hình 3.5 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm ve ở chó theo mùa 54 Hình 3.6 Biểu đồ về công thức bạch cầu của chó khỏe
Hình 3.7a Biểu đồ về kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết Thuốc lào 10%
Hình 3.7b Biểu đồ về kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết Bách bộ
Hình 3.8a Biểu đồ về kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết Thuốc lào 10%
Hình 3.8b Biểu đồ về kết quả kiểm tra độc tính dịch chiết Bách bộ 5% tại
Hình 3.9 Biểu đồ so sánh hiệu lực điều trị của Dịch chiết Thuốc lào 20% và
dịch chiết Bách bộ 20% trong điều trị ve cho chó ngoài thực địa 73
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Một số đặc điểm sinh học của chó 4
1.1.2 Một số đặc điểm sinh học của chó 4
1.1.2 Ve Rhipicephalus sanguineus ký sinh ở chó 5
1.1.3 Cơ sở khoa học của việc dùng thuốc thảo dược phòng trừ ngoại ký sinh trùng 14 1.1.4 Những cây thuốc được nghiên cứu 20
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 25
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 25
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 26
Chương 2.ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 29
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.2.1 Địa điểm 29
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 29
2.3 Nội dung nghiên cứu 30
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh ve chó tại huyện Đầm Hà và Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 30
Trang 92.3.2 Nghiên cứu về triệu chứng lâm sàng của chó bị ve ký sinh 30
2.3.3 Bào chế và thử nghiệm dịch chiết xuất từ lá cây Thuốc lào và củ Bách bộ để diệt ve chó thí nghiệm 30
2.3.4 Sử dụng dịch chiết xuất từ Thuốc lào và Bách bộ để trị ve cho chó 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1 Phương pháp thu thập mẫu 30
2.4.2 Phương pháp định loài ve ký sinh ở chó 31
2.4.3 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm ve 31
2.4.4 Quy định một số yếu tố liên quan đến các chỉ tiêu nghiên cứu dịch tễ bệnh ve ở chó 31
2.4.5 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chó bị ve ký sinh 32
2.4.6 Phương pháp xác định sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý máu của chó bị ve ký sinh 32
2.4.7 Phương pháp thử nghiệm chiết xuất hoạt chất từ Thuốc lào và củ Bách bộ để trị ve cho chó 32
2.4.8 Chuẩn bị dược liệu 34
2.4.9 Chuẩn bị động vật thí nghiệm 35
2.4.10 Bố trí và tiến hành thí nghiệm 35
2.4.11 Phương pháp xử lý số liệu 39
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh ve chó tại huyện Đầm Hà và Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 40
3.1.1 Xác định loài ve ký sinh ở chó tại Đầm Hà và Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 40
3.1.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó tại một số xã của huyện Đầm Hà và Hải Hà 40
3.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo tuổi 43
3.1.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo tính biệt 45
3.1.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo giống 46
3.1.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo mùa 48
Trang 103.2 Nghiên cứu về triệu chứng lâm sàng ở chó bị ve ký sinh 51
3.2.1 Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng chủ yếu ở chó bị ve ký sinh 51
3.2.2 Sự thay đổi một số chỉ số máu của chó bị ve ký sinh 52
3.2.3 Công thức bạch cầu của chó khỏe và chó bị ve ký sinh 54
3.3 Bào chế và thử nghiệm dịch chiết xuất từ lá cây Thuốc lào tươi và củ Bách bộ tươi để diệt ve chó thí nghiệm 55
3.3.1 Xác định dung môi chiết xuất thích hợp với lá Thuốc lào và củ Bách bộ 55
3.3.2 Xác định thời gian ngâm chiết thích hợp của lá cây Thuốc lào và củ Bách bộ trong dung môi thích hợp 58
3.3.3 Xác định nồng độ chiết xuất thích hợp của Thuốc lào và Bách bộ trên ve chó thí nghiệm 61
3.4 Sử dụng dịch chiết xuất từ Thuốc lào và Bách bộ để trị ve cho chó 63
3.4.1 Thử nghiệm dịch chiết xuất từ lá Thuốc lào và củ Bách bộ ngâm trong NaOH 5% để trị ve cho chó thí nghiệm 63
3.4.2 Sử dụng chiết xuất từ lá Thuốc lào và củ Bách bộ để trị ve cho chó tại huyện Đầm Hà và Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 65
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69
1 Kết luận 69
2 Đề nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, đời sống con người càng được nâng cao thì nhu cầu về tinh thần càng được nhiều người quan tâm Người ta nuôi chó nhằm phục vụ nhiều mục đích khác nhau Chó không chỉ để làm cảnh, bảo vệ tài sản, mà đối với nhiều người chó còn là người bạn rất trung thành Chính vì vậy số lượng chó đã tăng lên đáng kể và ngày càng có nhiều giống chó ngoại được nhập vào Việt Nam như: Berger, Boxer, Rottweiler, Doberman
Chó được nuôi nhiều thì vấn đề dịch bệnh xảy ra trên chó ngày càng phức tạp hơn, khó kiểm soát, không những gây ảnh hưởng trực tiếp tới chó nuôi mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người Vì vậy, các bệnh thường gặp ở chó đang là vấn
đề được người nuôi chó và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Ngoài những bệnh truyền nhiễm thường gặp như bệnh dại, bệnh viêm dạ dày và ruột truyền nhiễm, bệnh Carê, bệnh do Parvovirus… thì phải kể đến bệnh do ký sinh trùng gây
ra Bệnh ký sinh trùng nói chung, bệnh do ngoại ký sinh trùng nói riêng (còn gọi là động vật tiết túc kí sinh, thuộc ngành Arthropoda) tuy ít gây chết cho vật nuôi nhưng lại gây tổn thất nhiều về kinh tế và khó kiểm soát vì người chăn nuôi ít quan tâm đến Bệnh ve ở chó là một trong những bệnh ngoại ký sinh trùng phổ biến nhất, không những gây tổn thương thực thể tổ chức da mà còn làm giảm sức đề kháng, giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của chó Latrofa M S và cs (2014) [66] cho biết, các loài ve đóng vai trò là vật môi giới truyền bệnh của một số bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm ở chó như: Anaplasma platys, Cercopithifilaria spp., Ehrlichia canis và Hepatozoon canis Chính vì vậy, ve ký sinh là nhân tố trung gian nguy
hiểm truyền bệnh cho gia súc, gia cầm, vật nuôi và từ đó truyền bệnh sang người Điều trị ve cho chó, hiện nay trên thị trường thuốc thú y có các hóa trị liệu hiện đang lưu hành như: bivermectin, kill - lice, ivermectin, fronline, lindane, coumaphos, amitraz, SG sivermectin 0,25%, pimetylpyrolan, demetyl, sevin… Nhìn chung, các hóa dược nói trên có hiệu lực điều trị cao nhưng lại gây độc hại
Trang 12cho vật chủ, đồng thời tồn dư trong sản phẩm động vật, làm ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng, gây ô nhiễm môi trường sinh thái Ngoài ra, chúng còn gây hiện tượng kháng thuốc, nhờn thuốc, làm giảm hiệu quả điều trị Vì vậy, cần có những biện pháp diệt ve ký sinh trên chó nhưng không gây độc cho vật nuôi, không gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo sức khỏe con người Người ta đã chứng minh rằng, một hợp chất thiên nhiên tồn tại nhiều năm trong tế bào sống khi tinh chế để sử dụng điều trị bệnh (tức là lại chuyển vào tế bào sống) thì nó được dung nạp tốt, ít có tác dụng phụ hơn so với những hợp chất được tổng hợp bằng phương pháp hóa học Luận giải trên cho thấy: có thể bào chế và sử dụng dược liệu tự nhiên để làm thuốc trị bệnh ve trên chó
Từ xa xưa, ông cha ta đã biết sử dụng nguồn thảo dược nhiên nhiên sẵn có để chữa bệnh và truyền lại cho các thế hệ sau Đất nước ta lại có ưu thế là một quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có thảm thực vật hết sức phong phú, tiềm năng về các loại cây thuốc rất lớn Theo kết quả điều tra của Viện Dược Liệu (Bộ
Y tế), tính đến năm 2005 đã ghi nhận được 3948 loài thực vật và nấm lớn; 52 loài tảo biển, 408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc (Nguyễn Thị Thanh Nga, 2012 [32]) Đây là thuận lợi để ngành thú y nghiên cứu các chế phẩm thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc trị ngoại ký sinh trùng, vừa có tác dụng trị bệnh tốt, giá thành rẻ, dễ kiếm, an toàn, dễ sử dụng, vừa khắc phục được nhược điểm của các loại hóa dược tổng hợp bằng con đường hóa học
Trong những năm gần đây, số lượng chó nuôi ở tỉnh Quảng Ninh tăng cao; tuy nhiên, việc phòng trị bệnh ngoại ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh do ve ký sinh ở chó
còn ít được chú ý Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh ve chó ở huyện Đầm Hà và Hải Hà - tỉnh Quảng Ninh, thử nghiệm chiết xuất Thuốc lào và Bách bộ trị ve cho chó”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng bệnh ve chó ở huyện Hải
Hà và Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
Trang 13- Nghiên cứu tác dụng dược lý của hai loại dược liệu Việt Nam: Thuốc lào và Bách bộ, từ đó xác định nồng độ thích hợp để diệt ve cho chó
- Điều trị thử nghiệm diệt ve ký sinh trên chó tại huyện Hải Hà và Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh bằng chiết xuất Thuốc lào và Bách bộ
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm các nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và triệu chứng lâm sàng bệnh ve ở chó, đề xuất biện pháp điều trị hiệu quả bệnh do ve ký sinh ở chó bằng chiết xuất Thuốc lào và củ Bách bộ
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo những hộ gia đình nuôi chó tại tỉnh Quảng Ninh và các địa phương khác trong việc phòng trị bệnh ve ở chó, góp phần hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm, hạn chế thiệt hại do ve chó gây ra
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Một số đặc điểm sinh học của chó
* Nguồn gốc chó nhà
Chó nhà hiện nay có nhiều nguồn gốc khác nhau, đã được con người nuôi và thuần hóa sớm nhất, cách đây khoảng 13.000 - 15.000 năm Đông Nam Á là trung tâm thuần hóa chó cổ nhất Từ đó, chó nhà xâm nhập sang Châu Úc, các nước phương Đông, rồi du nhập vào Châu Mỹ
Nhóm tác giả (2003) [33] cho biết, qua thuần dưỡng chọn lọc, lai tạo liên tục, người ta đã tạo ra hơn 400 nòi chó khác nhau Từ nòi chó chăn cừu Châu Âu có tầm vóc lớn khoảng 50 - 60 kg đến loài chó xù mini chỉ nặng 200 - 300g
1.1.2 Một số đặc điểm sinh học của chó
Chó cỏ hay chó ta, chó nội (để phân biệt với các giống chó ngoại) chó mực, chó vện hay còn gọi chung là chó Việt Nam là các giống chó thuần chủng có nguồn gốc tại Việt Nam Hiện ở Việt Nam có bốn giống chó nội có giá trị và được gọi là tứ đại quốc khuyển gồm: Chó Bắc Hà, chó Lài (Dingo Đông Dương, tên khoa học:
Canis lupus dingo), H’mông cộc đuôi và đặc biệt là chó Phú Quốc
Những giống chó nội địa này đã tồn tại từ lâu trên bán đảo Đông Dương và ở Việt Nam từ hơn 6.000 năm nay với quá trình gắn bó cùng con người Trong các giống chó thì chó Lài khá phổ biến, đây là giống chó nguyên thủy đặc trưng tại các vùng trung du và miền núi của Việt Nam Giống này đang được người dân vùng cao tại Việt Nam nuôi dải rác khắp các vùng lãnh thổ Chó chủ yếu được người dân nuôi trông nhà và các hoặt động săn bắn hay đi rừng, chúng có bản năng trung thành với chủ Ngoài ra giống chó Phú Quốc là giống chó duy nhất đến nay của Việt Nam được công nhận trên thế giới
Các giống chó Việt Nam nhìn chung có tầm vóc trung bình và nhỏ, nặng khoảng 10 - 12 kg khi trưởng thành Chó Lài thì có tầm vóc trung bình, cân nặng từ
Trang 1515 - 30 kg, chiều cao 45 cm - 65 cm Cơ thể hơi dài hơn so với chiều cao, thông thường chó đực to hơn chó cái Đặc điểm dễ nhận biết với loài này nếu là thuần chủng phải có bốn chân có màu bít tất trắng và chóp đuôi trắng (đuôi bông lau), đuôi dài vừa phải, bình thường buông thõng (cụp đuôi), lúc hoạt động dựng hướng lên trên, hoặc cuộn trên lưng (cong đuôi) Chiều cao tới vai so với chiều dài cơ thể
là 1: 1,2 trong đó phần thân nằm trong hình chữ nhật nằm ngang, lưng thẳng, bụng thon gọn
Chiều dài toàn đầu so với chiều dài mõm là 2: 1, đầu chúng thon, dài vừa phải và cân đối, mặt có hình tam giác theo kiểu chó sói, mõm chó hình chữ V và ngắn, đầu mõm hơi nhọn, gốc mõm khá rộng Mõm dài gần bằng nửa chiều dài toàn đầu mũi có màu đen, lưỡi màu hồng hoặc có đốm màu đen Tai nằm hai bên hộp
sọ, dựng đứng như hình vỏ sò và hướng về phía trước Tai to vừa phải, cân đối, không nhọn, phía trong tai ít lông; nếu nhìn thẳng trực diện thì hai tai dựng đứng, vuông góc với đỉnh sọ Các màu lông phổ biến là màu lông đỏ lửa, đen 4 mắt, trắng, đen tuyền, xám, đốm (khoang), nâu, vện Chó Việt Nam hay còn gọi là chó ta có khả năng kháng bệnh rất cao
Độ tuổi thành thục về tính của chó nội đực khoảng 15 - 18 tháng tuổi, chó cái
là 12 - 14 tháng tuổi Chó cái mang thai 60 ± 2 ngày rồi đẻ.Sự hoạt động rụng trứng của chó có chu kỳ 180 ngày, tức là 2 lần/năm (Nhóm tác giả, 2003 [33])
Theo Nhóm tác giả (2003) [33], chó nội khỏe mạnh trưởng thành có các chỉ tiêu sinh lý như sau:
1.1.2 Ve Rhipicephalus sanguineus ký sinh ở chó
Dantas-Torres F., Otranto D (2015) [57] cho biết: Rhipicephalus sanguineus
là một loài ve được mô tả bởi Latreille vào năm 1806 dựa trên mẫu vật thu thập được từ Pháp
Trang 161.1.2.1 Vị trí của ve R sanguineus trong hệ thống phân loại động vật học
Theo tác giả Trịnh Văn Thịnh (1963) [43], Phan Trọng Cung (1977) [5], Phan Trọng Cung và cs (1977) [6], Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [18], vị trí của
ve Rhipicephalus sanguineus trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Phân họ Ixodoidea Leach, 1815
Giống Rhipicephalus Latreille, 1806
Loài Rhipicephalus sanguineus Latreille, 1806 Theo nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, ve R sanguineus là loài thường
gặp và ký sinh nhiều nhất ở chó
Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [24] cho biết: nhiều loài ve là môi giới truyền bệnh dịch hạch của loài gặm nhấm, bệnh viêm não của người, bệnh sốt phát ban, các bệnh nguyên trùng, đặc biệt là bệnh lê dạng trùng của trâu, bò, dê, cừu, ngựa, chó, lợn…
1.1.2.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của ve R sanguineus
Ve R sanguineus là động vật tiết túc có thân hình quả lê Ve đực màu nâu
đen, có kích thước khoảng 3,5 x 1,5 mm Ve cái to hơn nhiều (kích thước 11 x 7 mm), màu nâu xẫm, vàng hay xám bẩn
Cơ thể ve phân đốt nhưng không rõ, được phân thành hai phần chính: đầu giả
(Capililum) và thân (Idiosoma)
* Đầu giả (Capililum)
Đầu giả ngắn gồm 2 phần chính: gốc đầu giả hay gốc đầu (Basiscapituli) và vòi (Gnathosoma)
- Gốc đầu: là một bao kitin đầu chắc, nơi gắn những cơ vận động xúc biện và các phụ miệng Gốc đầu hình sáu cạnh, hai góc bên nhọn và nhô ra ngoài Trên lưng gốc đầu ve cái có một đôi hõm đầu - cơ quan cảm giác có liên hệ với ống sản trứng
Trang 17- Vòi: gồm có một đôi kìm (Chelicera), tấm dưới miệng (Hypostoma) có nhiều hàng gai nhọn hướng về phía sau và một đôi xúc biện
+ Xúc biện ngắn và không lồi cạnh, có bốn đốt có cấu tạo khác nhau, đánh số
từ I đến IV bắt đầu từ đốt gốc, ba đốt nhìn rõ mặt lưng, đốt IV nằm ở mặt bụng của đốt III Xúc biện của ve là cơ quan cảm giác giúp phát hiện ra những nơi có da mỏng, nơi có mạch máu
+ Đôi kìm hay hàm miệng: nằm giữa hai xúc biện được bao bọc bên ngoài bởi bao kìm Đôi kìm này có tác dụng rạch da vật chủ
+ Tấm dưới miệng: ngắn và không lồi cạnh, là một tấm lẻ, hình thoi gắn vào gốc vòi giữa hai xúc biện, trên đó phủ kín răng hướng về sau Răng trên tấm dưới miệng thường phân bố theo hàng dọc, công thức răng 3/3 Tấm dưới miệng có tác dụng móc vào da vật chủ Đầu cuối của tấm này nhọn, sắc, cũng tham gia vào động tác dùi vào da vật chủ
* Thân (Idiosoma)
Thân gồm có mặt lưng và mặt bụng
- Mặt lưng: có mai lưng bằng kitin cứng rắn nên khi hút máu vật chủ, mai này vẫn không thay đổi, chỉ có những phần da mềm thì mới phình rộng ra Mai lưng của ve đực phủ toàn lưng Mai lưng của ve cái, thiếu trùng, ấu trùng chỉ phủ một phần ba phía trước lưng, phần còn lại là miền lưng Trên mai lưng có mắt, rãnh cổ, rãnh cạnh, rãnh giữa sau và mấu đuôi Ve cái có mai lưng hình bầu dục dài hơn rộng
+ Mắt: nằm ở hai bên bờ trước mai Mắt có cấu tạo đơn giản
+ Hai rãnh cổ bắt đầu từ hai hõm bờ trước chạy song song với trục giữa xuống phía sau
+ Rãnh cạnh: nằm giới hạn giữa miền vai và hõm cổ
+ Rãnh giữa sau: nằm ở miền giữa theo trục thân
+ Mấu đuôi ngắn và tầy (khi ve hút no máu)
+ Rua (feston): là những ô viền ở bờ sau thân
- Mặt bụng gồm có:
Lỗ sinh dục nằm ở 1/3 phía trước mặt bụng, chỉ có ở ve trưởng thành Ở ve đực thường có hình móng ngựa, ở ve cái thường có hình bầu dục
Trang 18Lỗ hậu môn nằm ở 1/3 phía sau thân Lỗ này gồm những tấm van trên bề mặt
có nhiều tơ gọi là tơ hậu môn
Rãnh sinh dục thường có hình parabol vòng trước lỗ sinh dục xuống phía đuôi đến tận cùng rua III và rua IV
Ve R sanguineus có rãnh hậu môn vòng sau, rãnh hậu môn vòng quanh lỗ
hậu môn Rãnh sau hậu môn bắt đầu từ giữa sau hậu môn đến bờ sau thân
Tấm thở nằm hai bên hông, sau gốc háng IV, là tấm kitin hẹp, dày Tấm thở hình dấu phẩy, ở ve đực dài, ở ve cái ngắn Trên tấm thở có lỗ thở
Tấm bụng là tấm hóa kitin còn gọi là tấm cạnh hậu môn, ở ve đực tấm cạnh hậu môn có hình tam giác
Chân ve đực, ve cái và thiếu trùng có bốn đôi chân, đánh số thứ tự từ I-IV, từ đôi chân trước đến đôi chân sau cùng, còn ấu trùng thỉ chỉ có ba đôi chân Mỗi đôi chân gồm có sáu đốt: háng, chuyển, đùi, ống, chày và bàn chân Chân có cựa hay gai dùng để áp chặt vào lông của vật chủ Trên mặt lưng bàn chân I, ở phía cuối có
cơ quan cảm giác Haller với nhiều chức năng khác nhau: thính giác, định hướng hoặc thăng bằng
Hình 1.1 Các giai đoạn phát triển của ve Rhipicephalus sanguineus
ký sinh trên chó (Barbieri A R và cs., 2014 [51])
Ấu trùng có 3 đôi chân, trĩ trùng (thiếu trùng) có 4 đôi chân, đều chưa có lỗ sinh dục (Phan Lục, 2006 [30])
Ấu trùng
Thiếu trùng R sanguineus đực R sanguineus cái
Trang 191.1.2.3 Vòng đời phát triển của ve R sanguineus
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [24], (2012) [25], vòng đời phát triển của
ve R sanguineus như sau: ve đực và cái ký sinh ở ký chủ và giao phối, sau khi hút
no máu rơi xuống đất Ve cái đẻ trứng thành ổ trên mặt đất, có màng nhầy bảo vệ Trứng ve nhỏ, hình cầu, màu vàng nâu hay nâu sẫm Sau một thời gian, trứng nở ra
ấu trùng, Ấu trùng bò lên cây cỏ, ẩn dưới lá cây (nhất là cây có lông như sim, mua,
cỏ tranh) Khi ký chủ đi qua, ấu trùng nhanh chóng bám vào ký chủ, hút no máu rồi biến thái ngay trên ký chủ đó hoặc rơi xuống đất thành thiếu trùng Thiếu trùng vào
ký chủ mới, lại hút no máu, phát triển thành ve trưởng thành và tiếp tục chu kỳ trên Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [18] cho biết: vòng đời phát triển của ve
R sanguineus trải qua ba giai đoạn: ấu trùng, thiếu trùng và trưởng thành Đây là loài ve 3 ký chủ, mỗi giai đoạn phát triển của ve R sanguineus sau khi hút no máu
đều rơi xuống đất, biến thái rồi lại bám vào ký chủ mới
- Ấu trùng: Ve đực và ve cái ký sinh ở ký chủ, giao cấu, sau khi hút máu no rơi xuống đất, đẻ trứng có lớp màng nhầy bảo vệ Sau quá trình phát triển của phôi, trứng nở thành ấu trùng Theo Lê Quốc Thái (1981) [40], Trịnh Văn Thịnh và cs
(1982) [44], ve R sanguineus có thời gian ủ trứng 17 - 25 ngày trong điều kiện
210C - 350C, độ ẩm là 60 - 90% Sau khoảng thời gian này trứng nở ra ấu trùng Sau khi trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng bò lên cây cỏ Ở những vị trí này ấu trùng thuận lợi tiếp xúc với vật chủ, đồng thời tránh gió và ánh sáng mặt trời Thời gian nhịn đói của ấu trùng có thể lên đến trên 8 tháng rưỡi
Khi bám được vào vật chủ ấu trùng sẽ đi tìm nơi ký sinh thích hợp và thực hiện quá trình hút máu Thời gian bám và hút máu no gọi là bữa ăn Thời gian này ở
ấu trùng R sanguineus là 2 - 6 ngày
Theo Phan Trọng Cung và cs (1977) [5], Phan Trọng Cung và Lê Quốc Thái (1979) [7], sau khi no máu, ấu trùng rời vật chủ xuống dưới đất rồi mới lột xác
thành thiếu trùng Thời gian lột xác của ấu trùng R sanguineus là 6 - 12 ngày ở điều
kiện nhiệt độ 21 - 330C, độ ẩm 60 - 90%
Trang 20- Thiếu trùng:
Thiếu trùng vừa lột xác không cử động, sau một thời gian nó hoạt động, bám vào vật chủ hút máu Thiếu trùng có thể nhịn đói trên 6 tháng đến khi có thể bám vào vật chủ thì hút no máu Theo Lê Quốc Thái (1981) [40], Trịnh Văn Thịnh và Dương Công Thuận (1996) [45], sau khi no máu thiếu trùng biến thái và lột xác thành ve trưởng thành ở môi trường ngoài Thời gian của quá trình này kéo dài khoảng 12 - 17 ngày
kỳ có chửa của ve R sanguineus là 4 - 7 ngày
Ve cái đẻ trứng thành ổ trên mặt đất và có màng nhày bảo vệ Thời gian đẻ trứng của ve cái là 10 ngày, mỗi lần đẻ 1301 - 2433 trứng (trung bình 1387 trứng) (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996 [18])
1.1.2.4 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh ve ở chó
Khi ve ký sinh trên ký chủ, chúng gây ra những tổn thương thực thể cho ký chủ Những tác động cơ giới của ve làm cho da bị hình thành sẹo hay thủng da làm giảm chất lượng sản phẩm, giảm tăng trưởng, còi cọc, chậm lớn… Song tác hại to
lớn nhất của ve R sanguineus là trung gian truyền bệnh nguy hiểm cho người và vật
nuôi Ký chủ chính là chó và một số gia súc khác như mèo, cừu, bò, trâu, ngựa, lạc
đà một bướu, R sanguineus ký sinh trên cả động vật hoang dại như nhím, cầy bạc
má và ký sinh cả ở người
Latrofa M S và cs (2014) [66] đã thu thập 204 mẫu ve từ chó để định loại
Kết quả cho thấy có 81/204 mẫu là loài R sanguineus, 17/204 mẫu là R turanicus
và 106 mẫu Rhipicephalus spp
Trang 21Trong tháng 1 năm 2011, Barbieri A R và cs (2014) [51] đã xác định tỷ lệ nhiễm ve ở chó tại các hộ gia đình tại của bang Santa Catarina, miền nam Brazil
Kết quả cho thấy có 34% nhiễm Amblyomma ovale, 18,9% nhiễm Amblyomma aureolatum, chỉ có 3,8% nhiễm Rhipicephalus sanguineus
Cicuttin G L và cs (2014) [55] đã thu thập 207 mẫu ve Rhipicephalus sanguineus ký sinh ở chó tại thành phố Buenos Aires (Argentina) để xác định khả năng lây truyền anaplasmosis Các tác giả đã phát hiện 13,5% số ve Rhipicephalus sanguineus mang đơn bào Anaplasma platys Điều đó chứng tỏ ve Rhipicephalus sanguineus là vecto truyền anaplasmosis
Ionică A M và cs (2014) [63] nghiên cứu và cho biết, chó ở Châu Âu bị
bệnh microfilariae, mầm bệnh cư trú ở lớp hạ bì và lây truyền qua ve Rhipicephalus sanguineus
Adamu M và cs (2014) [50] thu thập 146 ve và xác định: 73% là loài
Rhipicephalus sanguineus, 18% là loài Haemaphysalis leachi, 2% là loài R turanicus và Amblyomma variegatum; các loài H elliptica, R lunulatus, R muhsamae và R senegalensis chiếm khoảng 1%
1.1.2.5 Đặc điểm bệnh lý của bệnh ve chó
Ve đói hút máu làm chó thiếu máu, gày yếu, sinh trưởng và phát triển chậm, gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi Những nơi ve đốt thường để lại sẹo hay lỗ thủng làm giảm chất lượng da
Hoepple R và Feny L C (1933) [61] khi nghiên cứu vết đốt của ve trên các súc vật thí nghiệm đã nhận thấy, tất cả các vị trí của cơ thể bị các loài ve đốt đều bị viêm, thâm Những nơi ve bám đều có hiện tượng tăng bạch cầu eosin cục bộ
Inokuma và cs (1998) [62] cho biết, nước bọt của ve R sanguineus pha loãng
20 lần làm vẫn ức chế yếu tố phân bào lectin (83%) và hạn chế tăng trưởng của tế bào limpho T cảm ứng (69%), dẫn đến giảm sản xuất interleukin 2 (IL 2) làm giảm quá trình đáp ứng miễn dịch
1.1.2.6 Biện pháp phòng, trị ve R sanguineus
Áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp để diệt tận gốc ve R sanguineus:
Trang 22* Diệt ve trên cơ thể vật nuôi
Tùy theo số lượng vật nuôi mà áp dụng các biện pháp phù hợp sau:
- Biện pháp cơ học:
Áp dụng với trường hợp số lượng gia súc ít Lấy que quấn bông tẩm dầu hỏa bôi vào nơi có nhiều ve (háng, nách, kẽ chân, vú, tai) Dầu hỏa có tác dụng bịt lỗ thở của ve (ở vị trí sau đốt háng của đôi chân thứ IV) làm ve nhả kìm ra Sau đó dùng kẹp bắt ve ra, điều này giúp làm giảm tổn thương cơ giới cho da của gia súc
- Biện pháp hóa học:
Áp dụng cho những đàn chó có số lượng lớn, có thể dùng bình xịt, dùng thuốc bôi hoặc sát lên da, xây bể tắm cho chó … Theo Nguyễn Thị Nguyệt (1999) [34], bôi và sát thuốc tập trung cả vào những nơi ấu trùng và thiếu trùng tập trung ký sinh, không nên chỉ chú trọng vào chỗ bám của ve trưởng thành Vì diệt ve vào giai đoạn ấu trùng và thiếu trùng sẽ làm giảm lượng máu vật chủ bị mất do ve hút Hơn
nữa, một số mầm bệnh truyền được từ giai đoạn ấu trùng như loài Ablyomma variegatum, nếu ve cái mang mầm bệnh, mầm bệnh được di truyền qua trứng Ấu
trùng đói chứa mầm bệnh đã trưởng thành Khi ấu trùng bám và hút máu vật chủ thứ nhất, đồng thời lan truyền mầm bệnh đó cho vật chủ Sau lần lột xác thứ nhất do thiếu trùng đói đã chứa mầm bệnh thành thục nên khi hút máu vật chủ thứ hai sẽ truyền mầm bệnh cho vật chủ thứ hai Sau lần lột xác thứ hai ve trưởng thành đói cũng đã chứa mầm bệnh thành thục, khi hút máu cũng lan truyền mầm bệnh cho vật chủ thứ ba
Theo Phạm Khắc Hiếu và Lê Thị Ngọc Diệp (1997) [15], những thuốc trị ngoại ký sinh trùng gồm 3 nhóm:
+ Nhóm dẫn xuất chứa clo
+ Nhóm các estephospho hữu cơ
Trang 23+ Rễ cây Thuốc cá 3 phần, 100 phần nước, 4 phần xà phòng dùng xát cho chó, mèo, bê, nghé
+ Nấu nước sắc Bách bộ tắm cho gia súc
+ Dùng Thuốc lào khô, Thuốc lá ngâm trong axit acetic 5% để phun hoặc bôi trị ve, ghẻ
+ Dùng hạt Củ đậu giã nát, dùng dầu sở để diệt ve
- Biện pháp sinh học:
Đây là biện pháp lợi dụng các thiên địch của ve (như gà, sáo sậu, những loài nấm gây bệnh cho ve…) tạo điều kiện thuận lợi cho chúng phát triển để diệt ve
Estrada - Pena A và cs (1990) [60] đã phân lập được nấm Aspergillus ocharceus từ
ve Rhipicephalus sanguineus, là tác nhân gây bệnh làm cho ve không đẻ trứng, cơ
thể khô lại và chết Cũng có thể trồng cây làm ve sợ để xua ve trên đồng cỏ (cây Thuốc cá, Mần tưới, Hương nhu…)
* Diệt ve ở chuồng vật nuôi
Sau khi ve hút máu no trên vật chủ sẽ rơi xuống đất, chúng tìm đến khe tường, vách tường, nơi nham nhở của tường chuồng để sống và đẻ trứng Mặt khác, ấu trùng và thiếu trùng sẽ theo cỏ cây vào chuồng Vì vậy, phải làm nhẵn tường chuồng, định kỳ phun thuốc diệt ve ở chuồng trại, không dùng lá cây, cỏ tươi làm chất độn chuồng, cỏ tươi khi thu về phải phơi tái Khi gia súc mới nhập đàn cần phải nuôi cách ly và diệt ve xong mới cho nhập đàn
* Diệt ve ngoài thiên nhiên
Cần thực hiện các biện pháp sau:
- Làm thay đổi môi trường, điều kiện sống của ve: phát quang các bụi rậm quanh chuồng trại, bãi chăn, đồng cỏ Dùng biện pháp canh tác như cày, bừa, làm khô bãi chăn ẩm ướt
- Chăn dắt luân phiên đồng cỏ để ve chết đói
- Dùng thuốc hóa học phun diệt ve trên đồng cỏ, bãi chăn
* Tạo ra các giống gia súc có sức đề kháng tự nhiên với ve
Theo Phạm Gia Ninh, Nguyễn Đức Tâm (2000) [35], một số giống bò có sức
đề kháng tự nhiên đối với ve bò và các bệnh do ve truyền, ví dụ bò Zebu (Bos
Trang 24indicus) Một số công trình gần đây ở Australia cho thấy chi phí có hiệu quả hơn khi nuôi bò Zebu, mặc dù sức sinh sản kém bò Bos taurus của Châu Âu, nhưng đòi hỏi mức khống chế thấp hơn nhiều với ve Boophilus và các bệnh do ve truyền
1.1.3 Cơ sở khoa học của việc dùng thuốc thảo dược phòng trừ ngoại ký sinh trùng
Từ thuở sơ khai loài người đã biết tìm kiếm các loại cây cỏ trong thiên nhiên dùng làm thức ăn để chữa bệnh Những hiểu biết về các loại cây cỏ chỉ được truyền miệng, ghi chép đúc kết thành kinh nghiệm chứ chưa được nghiên cứu một cách tỉ
mỉ, khoa học
Ngày nay, nhiều loại cây thuốc đã được sử dụng, mang lại hiệu quả kinh tế
rõ rệt trong phòng trị bệnh cho người, vật nuôi và gia súc Có nhiều bài thuốc gia truyền vẫn chưa được giải thích về cơ chế Xu thế chung hiện nay là kết hợp giữa Đông y và Tây y với phương châm áp dụng những kinh nghiệm của ông cha ta bằng thuốc Nam, vừa nghiên cứu khảo sát tính năng, tác dụng cây thuốc bằng cơ sở khoa học hiện đại (Đỗ Tất Lợi và Ngô Xuân Thu, 1970 [26])
Có thể nói lịch sử của quá trình sử dụng thuốc thảo mộc trong Thú y trước đây còn do kinh nghiệm, mang tính truyền miệng hoặc áp dụng tương tự như người (Lê Thị Ngọc Diệp, 1999 [9])
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thuốc Đông dược để phòng chữa bệnh cho vật nuôi Thuốc có nguồn gốc thảo mộc có giá thành
rẻ, dễ kiếm, dễ sử dụng tránh được các quy trình bào chế phức tạp, ít gây độc mà hiệu quả lại cao Thêm nữa các loại thuốc này hoặc không có hoặc tồn tại dư lượng rất nhỏ Chính vì vậy thảo dược ngày càng trở nên quan trọng trong phòng trị bệnh cho vật nuôi và gia súc, gia cầm
Trong đề tài này chúng tôi nghiên cứu về chiết xuất của cây Thuốc lào và Bách bộ trong phòng, trị bệnh ve cho chó
1.1.3.1 Tình hình sử dụng thuốc điều trị ký sinh trùng hiện nay
* Yêu cầu của thuốc trị ngoại ký sinh trùng
Mỗi loại ký sinh trùng đều có đặc điểm sinh trưởng, phát triển và đặc điểm ký sinh riêng, vì vậy thuốc dùng để phòng trị ngoại ký sinh trùng ngoài những yêu cầu
Trang 25chung như những loại thuốc khác còn có những yêu cầu riêng Theo Bùi Thị Tho (2003) [47], thuốc trị ngoại ký sinh trùng lý tưởng cần đạt các yêu cầu sau:
- Thuốc có khả năng tiêu diệt ngoại ký sinh trùng trong tất cả các chu kỳ phát triển, cả vòng đời biến thái của chúng (từ trưởng thành - trứng - ấu trùng - các biến thái của ấu trùng - dạng trưởng thành)
- Thuốc có tác dụng nhanh, không độc hoặc ít độc với vật chủ và người khi sử dụng
- Thuốc có tác dụng hiệp đồng hay được phân bố đồng đều trong dung dịch lỏng phù hợp với yêu cầu sử dụng
- Thuốc dễ sử dụng, tùy theo loại ký sinh có thể sử dụng dưới các dạng như trộn vào thức ăn, pha nước tắm, bơm xịt, bôi trên da hoặc tiêm dưới da…
- Không hoặc ít để lại tồn dư trong tế bào, tổ chức vật chủ
- Không gây ô nhiễm môi trường
Để có được một loại thuốc đáp ứng được các yêu cầu trên là hết sức khó khăn Những nghiên cứu về các loại thuốc trước đây và hiện nay vẫn đang sử dụng (phần lớn là các loại hóa dược) cho thấy chúng chỉ đáp ứng được mặt nào đó trong điều trị Các thuốc này độc với ký sinh trùng song chúng cũng độc với ký chủ và người, gây ô nhiễm môi trường vì khó phân hủy trong tự nhiên, đồng thời tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi Do đó nhiều các thuốc trước kia sử dụng phổ biến như: dipterex, DDT, 666… đã bị Nhà nước cấm sử dụng Trong những năm gần đây, các nhà khoa học trên thế giới, đặc biệt là các nhà khoa học vùng Đông Nam Á đã sử dụng các loại dược liệu (cây Thuốc cá, Cúc trừ trùng, cây Bách bộ…) có các hoạt chất: rotenon, pyrethroids, stemonin… để diệt ngoại ký sinh trùng Những loại dược liệu
đó gần như đã đáp ứng được yêu cầu của thuốc diệt ngoại ký sinh trùng lý tưởng
*Những dược liệu có thể sử dụng trị ngoại ký sinh trùng
Hạt Củ đậu, cây Hột mát, cây Thàn mát, hạt Na, Bách bộ, Thuốc lào, Lưu hoàng, cây Thuốc cá, Mần tưới
- Cây Thàn mát: hạt Thàn mát chứa 38 - 40% dầu rotenone, sapotoxin, gôm
và albumin Rotenone là hoạt chất chính
- Cây Thuốc cá: gồm nhiều gluxit, tanin, chất nhựa Hoạt chất chính tạp trung trong rễ là rotenone (lượng rotenone không ổn định, giao động từ 4 - 15%)
Trang 26* Một số thành tựu nghiên cứu khoa học về cây thuốc
Nằm trong khu vực Đông Nam Á, gần các trung tâm lớn về y dược truyền thống như Trung Quốc, Ấn Độ… Việt Nam cũng có nền y học cổ truyền xuất hiện
từ rất sớm, có nhiều bài thuốc hay chữa bệnh cho người và vật nuôi Riêng để trị ngoại ký sinh trùng, từ xa xưa nhân dân ta đã biết sử dụng một số thảo dược có hiệu quả như: Thuốc lá, Thuốc lào chữa ghẻ, hạt Thàn mát trị ve, ghẻ… Ngày nay, bằng việc ứng dụng thành tựu của khoa học người ta đã chứng minh được thuốc có nguồn gốc thiên nhiên dễ được cơ thể chấp nhận, ít có tác dụng phụ Trong khi đó các thuốc tổng hợp hóa học hay gây tác dụng phụ, đôi khi gây đột biến gen, quái thai hay các hậu quả khác như điếc, tăng nguy cơ ung thư… Các kết quả nghiên cứu đã thu được càng khẳng định rõ mối quan hệ giữa dược liệu và sức khỏe cộng đồng Nhiều bệnh nan y được chữa trị nhờ dược liệu Đã có nhiều công trình khoa học phát hiện được những đặc tính quý mới của các thảo dược truyền thống và những cây thuốc mới
Nhiều tác giả đã nghiên cứu về tác dụng kháng khuẩn của Bách bộ như: Phạm Kim Mãn (1970) [31]; Lê Khả Kế (1975) [19], (1991) [20]; Trần Công Khánh
và Phạm Quang Hải (1992) [21], (2004) [22]; Đỗ Tất Lợi (1991) [27], (2000) [28], (2006) [29] …
Trong lá cây Chè (Thea cinensis) có hoạt chất như cafein, glucozid, men oxy
hóa theaza, ngoài những tác dụng thông thường như giải cảm, giải độc, lợi tiểu người ta còn mới phát hiện ra một giá trị đặc biệt đó là khả năng làm tăng sức đề kháng của trẻ em đối với virus gây bệnh Viêm não B Nhật Bản (Bùi Ngân Tâm,
2003 [39])
Cây Atiso (Cynara Scolymus) chứa nhiều hoạt chất có tác dụng chống viêm,
lợi tiểu, thông mật, bổ gan… (Lê Thị Ngọc Diệp,1999 [9])
Theo Vũ Xuân Quang (1993) [37], từ cây Đại (Phumeria rubra linn var acutifolia baill) chiết được chất fulvoplumierin có tác dụng ức chế vi khuẩn lao ở
nồng độ 1 - 5 µg/ml
Trang 27Vừa qua, các nhà khoa học trên thế giới đã phát hiện thêm nhiều đặc tính quý của nấm Linh chi (Ganoderrma lucidum) trong việc chữa các chứng bệnh gan, mật, ung thư… Thậm chí cả hiệu ứng ngăn ngừa và chống căn bệnh thế kỷ AIDS
Đối với ngành thú y, Đông dược thú y đã có những nghiên cứu và thu được một số kết quả rất khả quan
Trần Minh Hùng (1978) [16] đã nghiên cứu sử dụng kháng sinh thực vật trong nuôi dưỡng và phòng bệnh cho lợn, đặc biệt bệnh lợn con phân trắng đạt hiệu quả cao Theo tác giả Bùi Thị Tho (1996) [46], qua theo dõi tính kháng thuốc của hai
loại vi khuẩn E coli và Salmonella đã cho biết:
+ Các vi khuẩn này kháng lại thuốc hóa học trị liệu (streptomycin, neomycin, tetracyclin…) rất nhanh, đồng thời giữa chúng lại có hiện tượng kháng chéo Trong
khi đó hiện nay chưa thấy E coli và Salmonella kháng lại phytoncyd của tỏi, hẹ
mặc dù ông cha ta đã sử dụng hai loại dược liệu này từ xa xưa và rất thường xuyên + Trong phòng thí nghiệm, thời gian để tạo được các chủng vi khuẩn kháng lại phytoncid của tỏi, hẹ phải lâu hơn 3 - 5 lần so với thuốc hóa học trị liệu Khi tăng nồng độ phytoncid lên 5 lần so với nồng độ tạo kháng vi khuẩn đã bị tiêu diệt Nhưng đối với thuốc hóa học trị liệu, mặc dù đã tăng nồng độ lên 120 lần (thậm chí cao hơn) so với nồng độ tạo kháng vi khuẩn mà vi khuẩn vẫn sống
Riêng đối với ngoại ký sinh trùng thú y, Đông dược đã đạt được một số thành tựu nhất định
Theo Trần Quang Hùng (1995) [17], trong Thuốc lá và Thuốc lào có chứa kiềm thực vật nicotin và nornicotin, chế phẩm nicotin trừ được ngoại ký sinh trùng
và côn trùng hại rau màu và cây công nghiệp Nicotin nhanh chóng phân giải trong môi trường
Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1994) [14] cho biết, dùng cao Hạt mát: Hạt mát giã nhỏ (3 phần), hạt Dầu trẩu giã nhỏ (1 phần), lưu huỳnh phi (1 phần), nước (8 phần) Trộn đều tất cả 4 thứ trên, cô cách thủy trong vòng 30 phút thành cao đặc sền sệt, để nguội 37 - 400C dùng bôi lên chỗ ghẻ cho gia súc Hoặc dùng hạt mát ngâm vào nước nóng, giã nát rồi ngâm vào nước ấm 370C tắm cho gia súc có thể diệt được cả ve cứng lẫn ve mềm
Trang 28Theo Bùi Thị Tho (2003) [47], dùng củ bách bộ nồng độ 5% ngâm trong môi trường HCl 5%, thời gian ngâm 12 - 24 giờ diệt 91,04% ve chó
Kết quả nghiên cứu về chế phẩm thuốc mỡ chế từ cây thuốc cá của Nguyễn Thanh Hải (2007) [13] cho thấy:
Thuốc mỡ 10% sau 2 lần bôi thuốc, sau 48 giờ chó và bò sạch ve
Thuốc mỡ 20% sau 2 lần bôi thuốc, sau 36 giờ chó và bò sạch ve
Thuốc mỡ 30% chỉ cần 1 lần bôi thuốc, sau 24 giờ chó và bò sạch ve
Khi sử dụng các chế phẩm thuốc mỡ trên bôi cho chó và bò không thấy động vật thí nghiệm nào có biểu hiện trúng độc, không dị ứng hay nổi mẩn trên da
Trần Quang Hùng (1995) [17] cho biết, từ hai thập niên của cuối thế kỷ 20 các nhà khoa học vùng Đông Nam Á đã sử dụng hoạt chất của hoa Cúc trừ trùng để chế những chế phẩm có hiệu lực cao đối với ngoại ký sinh trùng và côn trùng hại rau màu (chế phẩm dilatian chứa khoảng 1% pyrethrin) Người ta phát hiện trong hoa Cúc trừ trùng có 6 este của axit xiclopropan cacboxylic, độc đối với sâu đó là pyrethrin I và II, cinerin I và II, jasmolin I và II Trong bột hoa Cúc trừ trùng các este pyrethrin chiếm 75% Cũng theo tác giả này các pyrethrin có hiệu lực trừ sâu, ngoại ký sinh trùng cao hơn và có nhiều ưu điểm hơn các este tổng hợp Đồng thời kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy Pyrethroit dưới tác động của men và ánh sáng mặt trời thì quá trình chuyển hóa và phân giải xảy ra nhanh, các hợp chất chuyển hóa trung gian ít độc hơn dạng hợp chất ban đầu hoặc không độc Mặt khác sau khi sử dụng trên cơ thể, thuốc chỉ có tác dụng diệt ngoại ký sinh trùng trên bề mặt da mà không gây tồn lưu ít có nguy cơ tích lũy trong sản phẩm động vật
Theo Brander G C và cs (1991) [53] các hoạt chất trong hoa Cúc trừ trùng có hiệu quả tốt trên ngoại ký sinh trùng và côn trùng, ít độc đối với động vật có vú
1.1.3.2 Thu hái, bảo quản và chế biến dược liệu
* Thu hái:
Theo các tác giả Lê Trần Đức (1977) [12], Đỗ Tất Lợi (1991) [27], Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho (1994) [14], thu hái dược liệu phải tuân theo 2 nguyên tắc: đúng thời vụ và đúng bộ phận dùng làm thuốc Tiến hành thu vào lúc cây chứa
Trang 29nhiều hoạt chất nhất Tỉ lệ hoạt chất chứa trong dược liệu liên quan mật thiết với thời kỳ phát triển của cây thuốc Sự thay đổi hoạt chất còn khác nhau qua từng năm với cây lưu niên, có khi qua từng giờ trong ngày Do đó lịch thu hái dược liệu chỉ có tính chất hướng dẫn chung Tuỳ theo từng vùng, thời tiết, khí hậu, từng cây thuốc
mà thu hái vào thời gian thích hợp
* Bảo quản dược liệu
Là khâu rất quan trọng sau khi thu hái, bảo quản không tốt sẽ làm thuốc bị giảm hoạt lực, do bị hư hỏng, dần dần tác dụng chữa bệnh của vị thuốc sẽ bị giảm,
có khi bị mất Kho bảo quản dược liệu phải khô ráo, thoáng, không được nóng quá
để đảm bảo về hình thức cũng như chất lượng thuốc
* Chế biến dược liệu
- Chế biến dược liệu nhằm mục đích:
+ Làm cho tác dụng dược lý của vị thuốc tốt hơn bằng cách loại bỏ những bộ phận không có tác dụng đi
+ Làm giảm bớt độc tính của thuốc hay những chất không cần thiết đối với một loại bệnh nhất định
+ Giúp cho việc bảo quản dễ dàng hơn
- Các phương pháp chế biến dược liệu: Có thể chế biến dược liệu theo 3 phương pháp: dùng lửa, dùng nước hoặc phối hợp cả nước và lửa
+ Phương pháp bào chế chỉ dùng lửa:
Nung: cho trực tiếp vị thuốc vào lửa hồng hoặc cho vào chảo đất hay chảo gang để nung, thường dùng với các loại khoáng vật: lộ cam, thạch, vỏ sò
Vùi hay lùi: bọc thuốc vào giấy ẩm hay bột hồ ẩm rồi vùi tất cả vào tro nóng hay lửa nhẹ cho đến khi giấy hoặc bột hồ khô và cháy đen Sau khi để nguội, bóc lớp giấy hoặc bột hồ khô, dùng vị thuốc bên trong Mục đích đắp bột hồ hay giấy
ẩm để hút bớt một phần chất dầu của vị thuốc như: bào chế nhục đậu khấu
Sao: cho vị thuốc vào nồi đất hay chảo gang dầy đun nóng, đảo đều, tuỳ mục đích và tính năng của vị thuốc, có khi sao vàng hoặc sao đen, chú ý khi sao phải giữ cho lửa đều
Trang 30Trích: sao tẩm vào vị thuốc một chất khác rồi đem sao hay nướng
Nướng: hơ vị thuốc lên lửa cho đến khi khô, vàng, giòn
+ Phương pháp bào chế chỉ dùng nước: Phương pháp này dùng nước để làm cho thuốc mềm mại, dễ thái hoặc làm cho thuốc tinh khiết, bớt độc tính, bao gồm:
Rửa (tẩy): làm cho vị thuốc hết đất cát, bụi bẩn
Ngâm (phiêu): cũng giống như rửa nhưng kéo dài hơn, cách bào chế cũng phức tạp làm cho vị thuốc hết mùi tanh, vị mặn Ví dụ: ngâm hải sâm
Dội (bào): cho vị thuốc vào trong nước lá hay nước sôi trong một thời gian rồi bóc vỏ hay chờ cho vị thuốc mềm rồi đem bào thái như: ngâm hạnh nhân, đào nhân
Thuỷ phi: thêm nước vào vị thuốc rồi cùng tán hoặc tán rồi cho vào nước khuấy lên để lắng
+ Phương pháp kết hợp cả lửa và nước:
Chưng (hay đồ): đun cách thuỷ như chưng sinh địa để chế thục địa
Đun: cho thuốc vào nước lã hoặc nước ép của một vị thuốc nào đó rồi đun nhẹ đến khi chín hoặc đến khi chất của vị thuốc khác ngấm vào vị thuốc bào chế
Tôi: nung đỏ vị thuốc rồi nhúng ngay vào nước lã hoặc nước sắc của một vị thuốc khác
Sắc: cho thuốc vào nước nấu kỹ, cô đặc bỏ bã
Cất: đun sôi dược liệu, lấy hơi nước bốc lên qua lạnh để ngưng lại như trưng cất tinh dầu bạc hà, long não
1.1.4 Những cây thuốc được nghiên cứu
1.1.4.1 Cây thuốc lào (Nicotiana rustica)
Giới: Plantae
Bộ: Solanales
Họ: Solanaceae
Chi: Nicotiana Loài: Nicotiana rustica
* Mô tả cây, phân bố và thu hái
- Mô tả cây: cây thảo mọc hàng năm, cao chừng 1 m, thấp hơn cây thuốc lá Toàn cây có lông dính Lá mọc so le, có cuống dầy, phiến lá hình trứng, đầu nhọn;
Trang 31to và dày hơn lá cây Thuốc lá Cụm hoa là một cờ ở ngọn thân hay cành Cánh hoa màu vàng hay lục sẫm dính liền nhau thành ống ở dưới; phía trên chia 5 thùy, tròn, ngắn Quả nang hình trứng hoặc gần hình cầu, có đài còn lại bọc ở ngoài, chứa nhiều hạt nhỏ màu đen (Trần Công Khánh, Phạm Quang Hải, 1992 [21])
- Phân bố: cây thuốc lào thường trồng tập trung ở một số huyện như Vĩnh Bảo, Tiên Lãng Cây Thuốc lào không kén đất, đất cát pha hay đất thịt đều trồng được nhưng không ưa úng và rợp bóng
- Thu hái: thuốc lào thường được trồng vào tháng 12, bắt đầu thu hái lá vào tháng 4 - 5 Thu hái lá từ dưới lên, bỏ qua những phần lá lan, hái những lá bánh tẻ
có màu vàng vào lúc trời chiều trước khi mặt trời lặn Lá được tước bỏ cuống, lấy phiến lá thái nhỏ, phơi hoặc sấy khô
- Bảo quản: bảo quản thuốc bằng cách đựng trong các túi nilon to hoặc trong các chum sành lớn có nắp đậy bằng nilon, tránh để chỗ ẩm ướt, thuốc lào hỏng mất hoạt chất
* Thành phần hoá học
Đỗ Tất Lợi (1991) [27] cho biết:
Thuốc lào đã phơi sấy khô 20% nước, hàm lượng chất vô cơ rất cao chừng
15 - 20%, trong đó chủ yếu là canxi, kali, photphat
Trong Thuốc lào còn xanh, hàm lượng gluxit cao tới 40%, chủ yếu là tinh bột (8 - 12%), đường tan được (2 - 4%) rồi đến pectin, cellucoza, nhưng khi ngả màu vàng, lượng đường, tinh bột giảm xuống rất nhanh
Các chất protein chiếm 1,2 - 5% khối lượng khô Tỷ lệ albumin tăng dần từ dưới lên ngọn cho đến khi ra hoa
- Các axit béo chiếm 2,39% (olein, butyrin, panmitin)
- Các hydrocarbua chiếm 0,77%: sterol 0,4%, sap 0,15%
- Bareterozid 0,25 - 1,7%: tabacin, tabacilin và indoquexitrin
- Hàm lượng axit hữu cơ cao 15 - 20%, trong đó chủ yếu là axit malic, axit citric, phenol, đặc biệt là axit nicotinic
- Thuốc lào còn chứa một ít tinh dầu (0,1 - 0,4%)
Trang 32Các ancaloid: nicotin, nicotellin, nicotinin, trong đó hoạt chất chính là nicotin C10H14N2 Nicotin là một ancaloid chứa vòng pyrydin và một nhân là N - metyl pyonidin
Hình 1.2 Công thức cấu tạo nicotin Theo Đỗ Tất Lợi và Ngô Xuân Thu (1970) [26], nicotin trong cây ở dưới dạng marat, citrat Tỉ lệ thay đổi tuỳ theo tuổi, khí hậu và khoảng cách trồng tỉa
Tỉ lệ nicotin trong lá từ 2 - 16% (Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho, 1994 [14]) Nicotin là một ancaloid mang tính kiềm không chứa oxi trong thành phần Ở nhiệt độ thường nicotin ở thể lỏng, không màu, sánh, tỉ trọng 1,027, vị nóng cay, mùi hắc Dạng tinh khiết không có màu, khi ra ánh sáng ngả màu nâu, dễ bị hỏng Tan trong nước, rượu, ete Sôi ở nhiệt độ 2470C và bị phá huỷ Có thể cất nicotin dưới áp lực giảm Nicotin ở dạng muối tan nhiều trong nước Nó là một ancaloid bay hơi mạnh, khi tiếp xúc với axit chlohydric cho khói trắng
* Tác dụng dược lý
- Độc tính: toàn cây chứa chất độc, đặc biệt là lá vàng úa do có các loại ancaloid Trong đó, độc nhất là nicotin (hàm lượng thay đổi từ 2 - 10%, có thể lên tới 16%) (Đỗ Tất Lợi, 2000 [28]), ngoài ra còn có nicotirin, nornicotin, anbasis Nếu động vật ăn Thuốc lào với khối lượng lớn sẽ bị ngộ độc, các triệu chứng xuất hiện sau vài giờ như: nôn, mửa, chảy nước dãi, ỉa chảy, co giật, run toàn thân, giãn đồng tử, thở khó, rối loạn nhịp tim Nếu ngộ độc nặng chết rất nhanh, khi bị ngộ độc nhẹ ở dạng mãn tính cũng ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ Con vật thường xuyên ở trạng thái suy nhược thần kinh
Trang 33- Nicotin làm tăng tỉ lệ đường trong máu, liều nhỏ tăng tiết nước dãi, giãn đồng tử mắt, kích thích các trung khu hô hấp, giảm phản xạ
- Đối với ruột, nó kích thích sự co bóp (giúp cho đại tiện), ngược lại nó làm chậm bài tiết dịch mật, dịch tuỵ (Đỗ Tất Lợi, Ngô Xuân Thu, 1970 [26])
* Mô tả cây, phân bố
- Mô tả cây: Dây leo có thân mảnh, nhẵn, dài 6 - 8 m, ở gốc có nhiều rễ củ mọc thành chùm, 10 - 20 hoặc 30 củ (củ ba mươi), có khi tới gần một trăm củ, dài
15 - 20 cm, rộng 1,5 - 2 cm Lá mọc đối hay so le, hình tim, nhưng đặc biệt có hệ gân ngang dày song song với các gân chính hình cung, dài 10 - 15 cm, rộng 4 mm, mặt ngoài màu vàng lục, mặt trong màu đỏ tươi, có mùi thối; 4 nhị dài 4 - 5 cm Quả nang chứa nhiều hạt (Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho, 1994 [14], Đỗ Tất Lợi,
2000 [28])
Đỗ Tất Lợi (2006) [29] cho biết: rễ củ gồm 10 đến 20 hoặc 30 củ, có khi tới 100
củ dài 15 - 20 cm, đường kính 1,5 - 2 cm Màu trắng vàng, vị ngọt, sau rất đắng
Trang 34- Phân bố: Cây mọc hoang ở các vùng núi nước ta và nhiều nước khác Cây Bách bộ mọc hoang ở khắp các tỉnh nước ta: Hà Tây, Hòa Bình, Bắc Cạn, Thái Nguyên (Đỗ Tất Lợi, 2000 [28])
* Thu hái chế biến
Có thể thu hoạch củ vào mùa xuân hoặc mùa thu Cắt bỏ rễ con, rửa sạch, nhúng trong nước sôi, hoặc đồ vừa chín Loại nhỏ để nguyên, loại to bổ dọc dài, phơi nắng hoặc sấy khô
Dược điển Việt Nam 4 (Bộ Y tế - 2010) [2] quy định việc chế biến Bách bộ như sau: Đào củ khi trời khô ráo, rửa sạch đất cát, cắt bỏ đầu rễ đem đồ vừa chín hoặc nhúng nước sôi, rễ nhỏ để nguyên, loại to bổ đôi hay 3, 4 tuỳ kích thước theo chiều dọc rồi phơi nắng hoặc sấy ở nhiệt độ 50 - 600C
Đỗ Tất Lợi (1991) [27] cho biết: củ Bách bộ muốn để được lâu phải rửa với rượu rồi sao vàng cho khô hoặc phải bổ dọc thành miếng hình thoi dài 15 - 30 cm dày 1,5 - 2 cm phơi nắng
Trang 35Theo Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương 1980 [1]: bộ rễ Bách bộ có thể trị được gián
Đốt rễ hoặc củ cây Bách bộ hơ lấy khói để trị muỗi, bọ chó, rận (Đỗ Tất Lợi,
1991 [27])
+ Tác dụng kháng khuẩn:
Theo Vũ Ngọc Kim (1996) [23], nước sắc Bách bộ có tính kháng khuẩn với nhiều loại vi khuẩn như vi khuẩn tả, phó thương hàn, trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu vàng, vi khuẩn lao
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Tô Du và Xuân Giao (2006) [10], có một số loài côn trùng ký sinh ở da
và lông của chó, chúng hút màu và truyền một số bệnh cho chó như bệnh lê dạng
trùng, bệnh xuất huyết do Rickettsia, bệnh sán hạt dưa trong đó có loài Rhipicephalus sanguineus
Nguyễn Thanh Hải (2007) [13], đã nghiên cứu và bào chế được 12 chế phẩm dạng thuốc mỡ từ cây Thuốc cá sử dụng để điều trị bệnh ve cho chó và bò đạt hiệu quả cao
Trang 36Bùi Thị Tho (2003) [47] đã dùng hạt cây Củ đậu chế thành dạng thuốc bột và thuốc mỡ ở các nồng độ khác nhau trị ve ký sinh trên bò ở Gia Lâm (Hà Nội), kết quả cho thấy: thuốc bột nồng độ 20% trong bột CaCO3, bôi 2 lần đạt tỷ lệ chết ve là 100% Thuốc mỡ nồng độ 20% chỉ cần bôi 1 lần đã sạch ve ký sinh trên cơ thể bò
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [25] cho biết, ở nước ta gặp 2 loài thuộc giống
ve Rhipicephalus có đặc điểm: thường không có màu sắc, có mắt và tua Tấm dưới
miệng và xúc biện ngắn Ve đực có mai bụng
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Beck S và cs (2014) [52] cho biết, ve chó có khả năng lây truyền một số bệnh quan trọng ở người và động vật Từ tháng 3/2010 - 4/2011, các tác giả đã kiểm tra 441 chó nuôi tại 392 gia đình thuộc Berlin - Brandenburg thấy có 251 chó nhiễm
ve, chiếm 57% Các tác giả cũng đã thu thập được 1728 ve bao gồm 46,0% là
Ixodes ricinus, 45,1% là Dermacentor reticulatus, 8,8% là Ixodes hexagonus và 0,1% Rhipicephalus sanguineus
Rojas A và cs (2014) [70] đã điều tra tỷ lệ nhiễm các bệnh truyền nhiễm ở
chó tại Costa Rica và cho biết: Ehrlichia canis được phát hiện trong 34%, Anaplasma platys trong 10% và Babesia vogeli trong 8% số mẫu máu xét nghiệm (146 mẫu) Tỷ lệ nhiễm A platys, B vogeli hoặc E canis đều có liên quan đáng kể với tỷ lệ nhiễm R sanguineus ở chó (p <0,029)
Iwakami S và cs (2014) [64] đã tiến hành một cuộc khảo sát về các loài ve
ký sinh ở chó và mèo trên diện rộng tại Nhật bản Các tác giả đã thu thập được
4.237 con ve từ 1.162 chó để định loại và cho biết: Haemaphysalis longicornis là loài ve thường gặp nhất (trên 739 con chó), tiếp theo là H flava (166 chó), Ixodes ovatus (139 chó) và Rhipicephalus sanguineus (70 chó) Ngoài ra còn phát hiện các loài ve khác như: H hystricis, H japonica, H megaspinosa, H formosensis, H campanulata, H IAS, I nipponensis, I persulcatus và Amblyomma testudinarium
Theo Latrofa M S và cs (2014) [66], ve R sanguineus có vai trò là vật môi giới truyền một số mầm bệnh nguy hiểm ở chó như: A platys, H canis và Cercopithifilaria spp
Trang 37Cicuttin G L và cs (2014) [55] cho biết: bằng phương pháp PCR phát hiện
Rickettsia massiliae trong 3,4% số mẫu ve R sanguineus (207 mẫu) và Anaplasma platys trong 13,5% số mẫu máu chó (52 mẫu) thu thập từ thành phố Buenos Aires,
Argentina
Trong một cuộc thám hiểm khảo cổ học tại El Deir, Otranto D và cs (2014)
[69] đã xác định được loài R sanguineus ký sinh ở xác ướp chó từ Ai Cập cổ đại
(khoảng thế kỷ 1 - thế kỷ thứ 4)
Theo Maia C và cs (2014) [68] đã thu thập 925 cá thể ve ở các giai đoạn phát triển (ấu trùng, thiếu trùng và trưởng thành) từ chó, mèo và thảm thực vật tại 4 địa phương thuộc Bồ Đào Nha Kết quả cho thấy, tất cả ve thu thập từ chó và thảm
thực vật là R sanguineus; chỉ có 6 cá thể ve thu thập từ mèo là loài Ixodes rcinus
Một cuộc điều tra tỷ lệ nhiễm ve ở chó theo mùa đã được tiến hành tại khu vực đông nam Romania từ 01/12/2012 - 30/11/2013 Dumitrache M O và cs (2014) [59] đã tiến hành kiểm tra 8 chó/ lần và 4 lần/ tháng, tổng cộng đã kiểm tra
384 chó trong thời gian nghiên cứu Kết quả cho thấy, tỷ lệ và cường độ nhiễm ve cao vào tháng 5, 6 và 7; thấp hơn ở các tháng khác và không thấy ve ký sinh ở chó
vào tháng 9, 12 và tháng 1 trong năm Thu thập được 893 cá thể ve thuộc 6 loài: R rossicus (95,6%), Dermacentor reticulatus (3,2%), Ixodes ricinus (0,5%), Hyalomma marginatum (0,3%), Rhipicephalus sanguineus (0,2%) và Ixodes crenulatus (0,1%)
Otranto D và cs (2014) [69] cho biết, ve Rhipicephalus sanguineus là một
trong những động vật môi giới làm lây truyền các bệnh do vi sinh vật nguy nhất cho chó và cả ở người
Dhivya B và cs (2014) [58] đã kết hợp pheromone với deltamethrin thành hỗn hợp (Chitosan) để thử nghiệm khả năng diệt các giai đoạn phát triển của
Rhipicephalus sanguineus Kết quả cho thấy, có 79% ấu trùng, 88% thiếu trùng và
61% ve trưởng thành chết trong vòng 24h sau khi sử dụng thuốc
Khi nghiên cứu về hình thái học của loài R sanguineus, Otranto D và cs (2014) [69] cho biết: có ít nhất 4 hình thái khác nhau của loài ve R sanguineus ký
sinh ở chó đã được xác định tại châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và châu Đại Dương
Trang 38Cafarchia C và cs (2015) [54] cho biết: nấm Beauveria bassiana có độc lực rất cao và ảnh hưởng đến tất cả các giai đoạn phát triển của ve R sanguineus; đây
có thể là một phương pháp sinh học tiềm năng dùng để kiểm soát tốc độ phát triển
của ve R sanguineus
Từ 5/2010 - 5/2013, Koc S và cs (2015) [65] đã nghiên cứu về thành phần loài ve thu thập từ vật nuôi, động vật hoang dã và môi trường tại 5 huyện thuộc Antalya Metropolitan, Thổ Nhĩ Kỳ Các tác giả cho biết, thành phần các loài ve thu
thập được gồm 8 loài: Argas persicus, Rhipicephalus annulatus, R sanguineus, R turanicus, Hyalomma aegyptium, H marginatum, Haemaphysalis parva và Dermacentor niveus Trong đó R sanguineus và R turanicus là 2 loài ve ký sinh
phổ biến ở chó nuôi tại các địa phương nghiên cứu
Rotondano T E và cs (2015) [71] đã thu thập được 1.151 con ve ký sinh ở
100 chó nuôi tại Paraíba, Đông bắc Brazil Các tác giả cho biết, tất cả số ve thu thập
đều thuộc loài Rhipicephalus sanguineus
Costa A P và cs (2015) [56] đã tiến hành thu thập ve ở 172 chó nuôi ở vùng nông thôn và 150 chó nuôi ở các khu đô thị của Chapadinha, bang Maranhão, đông bắc Brazil Các tác giả cho biết, tất cả số ve thu thập từ chó nuôi ở các khu đô thị đều
là loài Rhipicephalus sanguineus; trong khi ve thu thập từ chó nuôi ở các vùng nông thôn thuộc các loài R sanguineus, Amblyomma cajennense và Amblyomma ovale
Lee G K và cs (2015) [67] đã kiểm tra 78 chó nuôi trên các quần đảo Ấn
Độ Dương của Mauritius, thấy có 52 chó nhiễm ve Rhipicephalus sanguineus Tiến hành thu thập ve từ 52 chó để định loài, thấy có 175/178 ve là loài Rhipicephalus sanguineus và 3/178 ve là loài Amblyomma variegatum
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chó nuôi ở huyện Hải Hà và Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
- Bệnh ve Rhipicephalus sanguineus ở chó
- Tác dụng điều trị ve chó của lá Thuốc Lào tươi và củ Bách Bộ tươi
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
2.1.2.1 Động vật thí nghiệm
- Ve ký sinh trên chó
- Chó bị bệnh ve
2.1.2.2 Dược liệu nghiên cứu
- Lá cây Thuốc lào tươi
- Củ Bách bộ tươi
2.1.2.3 Dụng cụ, hóa chất
- Dụng cụ: Kính lúp, các loại bình tam giác, đĩa petri, cốc đong có vạch chia
ml, pipet, đũa thủy tinh, cân tiểu li, bình xịt, cối và chày sứ, xi lanh, kim tiêm
- Hóa chất: Dung dịch NaOH 5%, HCl 5%, cồn 400, nước cất
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm
- Địa điểm lấy mẫu và thử nghiệm thuốc điều trị: Xã Quảng Tân, xã Dực Yên
và TT Đầm Hà thuộc huyện Đầm Hà; xã Cái Chiên, xã Đường Hoa và TT Quảng
Hà thuộc huyện Hải Hà
- Địa điểm xét nghiệm mẫu:
+ Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
+ Trạm Chẩn đoán và xét nghiệm - Chi cục Thú y tỉnh Quảng Ninh
+ Bệnh viện Đa khoa Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9/2014 đến tháng 8/2015
Trang 402.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh ve chó tại huyện Đầm Hà và Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
- Xác định loài ve ký sinh ở chó tại 2 huyện nghiên cứu
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó tại một số xã, thịt trấn thuộc huyện Đầm
Hà và Hải Hà
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo tuổi
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo tính biệt
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve theo giống chó
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo mùa
2.3.2 Nghiên cứu về triệu chứng lâm sàng của chó bị ve ký sinh
- Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chó bị ve ký sinh
- Sự thay đổi một số chỉ số máu của chó bị ve ký sinh
- Công thức bạch cầu của chó khỏe và chó bị ve ký sinh
2.3.3 Bào chế và thử nghiệm dịch chiết xuất từ lá cây Thuốc lào và củ Bách bộ
để diệt ve chó thí nghiệm
- Xác định dung môi chiết xuất thích hợp với lá cây Thuốc lào và củ Bách bộ
- Xác định thời gian ngâm chiết thích hợp của lá cây Thuốc lào và củ Bách bộ trong dung môi thích hợp
- Xác định nồng độ chiết xuất thích hợp của lá cây Thuốc lào và củ Bách bộ trên ve chó thí nghiệm
2.3.4 Sử dụng dịch chiết xuất từ Thuốc lào và Bách bộ để trị ve cho chó
- Thử nghiệm dịch chiết xuất từ lá cây Thuốc lào và củ Bách bộ ngâm trong NaOH 5% để trị ve cho chó thí nghiệm
- Sử dụng chiết xuất từ lá cây Thuốc lào và củ Bách bộ để trị ve cho chó tại huyện Đầm Hà và Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập mẫu
Việc thu thập mẫu được tiến hành theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc Tại mỗi huyện lấy mẫu ở 4 xã và thị trấn, tại mỗi xã và thị trấn lấy ở 3 thôn (xóm)
Số mẫu ở thôn, xóm được lấy một cách ngẫu nhiên