Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào) là một nước nông nghiệp kém phát triển, 80% dân số và 85% lao động xã hội sống và lao động bằng sản xuất nông nghiệp (NN), NN chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Trong quá trình phát triển kinh tế, việc chuyển nền NN độc canh mang tính chất tự cấp, tự túc sang kinh tế hàng hóa (HH) là quá trình có tính tất yếu. Việc thực hiện quá trình này không thể chỉ dựa vào sự nỗ lực chủ quan của NN
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào) là một nướcnông nghiệp kém phát triển, 80% dân số và 85% lao động xã hội sống vàlao động bằng sản xuất nông nghiệp (NN), NN chiếm vị trí đặc biệt quantrọng trong cơ cấu kinh tế quốc dân Trong quá trình phát triển kinh tế, việcchuyển nền NN độc canh mang tính chất tự cấp, tự túc sang kinh tế hànghóa (HH) là quá trình có tính tất yếu Việc thực hiện quá trình này khôngthể chỉ dựa vào sự nỗ lực chủ quan của NN, mà luôn đòi hỏi có sự trợ giúpcủa công nghiệp (CN) và dịch vụ (DV), trong đó trực tiếp nhất là côngnghiệp chế biến nông sản (CNCBNS) và các hoạt động DV NN Ngược lại,
sự phát triển của NNHH lại là điều kiện quan trọng để phát triển CNCBNS
và các hoạt động DV liên quan Thấy được vai trò quan trọng của mối quan
hệ ấy, Đảng nhân dân cách mạng Lào (ĐNDCM Lào) đã xác định: "Đểchuyển kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên sang kinh tế hàng hóa, ngay từ đầuhướng đi là phải phát triển nông - lâm nghiệp toàn diện gắn với phát triểncông nghiệp và dịch vụ Coi nông nghiệp là cơ bản và lấy việc xây dựngcông nghiệp chủ yếu làm trọng điểm; khuyến khích và phát triển mạnhngành dịch vụ théo hướng từng bước hiện đại hóa Đẩy mạnh và khuyếnkhích phát triển công nghiệp nhẹ, tiểu công nghiệp và thủ công nhằm chếbiến sản phẩm nông - lâm nghiệp" [106, tr 32; 37]
Song, trong những năm qua, tuy ngành CNCBNS và DV ở Lào đãtừng bước phát triển và góp phần khá nhiều vào việc thúc đẩy phát triển
NN, nhưng so với yêu cầu mới của phát triển sản xuất NNHH thì quả thực
là còn ít ỏi Chính vì vậy, vấn đề đặt ra đối với CHDCND Lào là việc nângcao vai trò của CNCBNS và DV trong quá trình phát triển nền NNHH là
Trang 2vấn đề mang tính cấp thiết bức bách Cho nên để góp phần làm rõ về mặt lýluận, thực tiễn và tìm cách giải quyết trong vấn đề này, tác giả chọn đề tài:
"Vai trò của công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ đối với sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào".
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xung quanh vấn đề phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, pháttriển công nghiệp và dịch vụ, cũng như vấn đề chuyển kinh tế tự nhiên, tựcung, tự cấp lên kinh tế hàng hóa đã có một số công trình khoa học đề cậpđến Nhưng việc nghiên cứu vai trò, sự tác động của công nghiệp chế biếnnông sản và dịch vụ đối với phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở Lào thìchưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống
Liên quan đến vấn đề này ở Việt Nam có một số công trình nghiêncứu đã được công bố trên sách báo, tạp chí như:
- GS.TS Ngô Đình Giao: Công nghiệp chế biến thực phẩm ở Việt Nam [17];
- PTS Phạm Thị Cần: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa với việc giải quyết mối quan hệ giữa nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ [2];
- Lê Đoãn Hợp: Công nghiệp dịch vụ gia đình - tiềm năng và triển vọng [20];
- Nguyễn Văn Tuấn: Dịch vụ sản xuất nông nghiệp cho hộ tự chủ sản xuất, kinh doanh để phát triển sản xuất hàng hóa ở đồng bằng Bắc Bộ [55].
Ở CHDCND Lào những vấn đề trên, đặc biệt là những nghiên cứutrực tiếp giải quyết những vấn đề thực tiễn của Lào trong lĩnh vực này còn
ít và chỉ bắt gặp nhân khi đề cập đến trên một số khía cạnh nào đó, như:
- Khăm Phơi Tha Chọn: Quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của CHDCND Lào [24];
Trang 3- Công Chắc No Kẹo: Đổi mới quản lý nhà nước nhằm phát triển ngành công nghiệp trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên luận án đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Phân tích vai trò của công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụđối với sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa
- Phân tích thực trạng vai trò của công nghiệp chế biến nông sản vàdịch vụ trong việc thúc đẩy nền nông nghiệp ở Lào những năm vừa qua
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nângcao vai trò công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ đối với sự phát triểnnền nông nghiệp hàng hóa ở Lào trong những năm tới
Trang 44 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở luận điểm cơ bản của chủ nghĩaMác - Lênin và quan điểm của Đảng, Nhà nước Lào về công nghiệp chếbiến nông sản và dịch vụ trong quá trình chuyển kinh tế tự nhiên tự cấp tựtúc sang kinh tế hàng hóa, đặc biệt là quan điểm về sự tác động của côngnghiệp chế biến và dịch vụ đối với sự phát triển nên nông nghiệp hàng hóa
Luận án sử dụng phương pháp: Phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch
sử, các phương pháp thống kê so sánh, tổng kết từ thực tiễn để nghiên cứu,
cố gắng rút ra những vấn đề mang tính khái quát có ý nghĩa thực tiễn và lýluận nhằm định hướng cho việc thực hiện vai trò công nghiệp chế biến vàdịch vụ đối với vấn đề phát triển nông nghiệp hàng hóa
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Luận án chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản về vai trò tác độngcủa công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ nông nghiệp đối với sự pháttriển nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở Lào trong khoảng thời gian từkhi bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới (năm 1986) đến nay
6 Những đóng góp về mặt khoa học của luận án
- Lần đầu tiên có một công trình nghiên cứu một cách cơ bản vàtương đối có hệ thống về vai trò của NCBNS và DV đối với sự phát triểnnền NNHH ở Lào
- Làm rõ khái niệm, vai trò của CNCBNS và DVNN đối với sự pháttriển nền NN HH, đồng thời nêu lên những điều kiện cần thiết để phát huyvai trò của CNCBNS và DVNN đối với nền NNHH
- Luận án đã khái quát một số bài học kinh nghiệm thành công vàkhông thành công của một số nước ASEAN, nhất là Việt Nam và Thái Lan
về tác động của CNCBNS và DVNN đối với nền NNHH có thể vận dụngmột cách sáng tạo vào Lào
Trang 5- Phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến việcthực hiện vai trò của CNCBNS và DVNN ở Lào; tình hình thực hiện vai tròcủa CNCBNS và DV; đối với sản xuất NNHH ở Lào trong những năm vừaqua Từ đó đã nêu lên một số vấn đề bức xúc đặt ra để nâng cao vai trò củaCNCBNS và DV đối với sự phát triển nền NNHH ở Lào.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao vaitrò của CNCBNS và DVNN đối với sự phát triển nền NNHH ở Lào trongnhững năm tới
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệutham khảo cho việc nghiên cứu và tổ chức thực tiễn góp thêm những căn cứkhoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển CNCBNS, DV và sản xuất NNHH nói riêng ởCHDCND Lào
8 Kết cấu của luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận án gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 6Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VÀ DỊCH VỤ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NỀN NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA
1.1 CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN, DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP
VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NỀN NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA
1.1.1 Quan niệm về công nghiệp chế biến nông sản và vai trò của nó đối với sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa
1.1.1.1 Quan niệm về công nghiệp chế biến nông sản
Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất - một
bộ phận cấu thành nên sản xuất vật chất của xã hội CN bao gồm ba loạihoạt động chủ yếu: khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyênliệu; sản xuất và chế biến sản phẩm của CN khai thác và của NN thànhnhiều loại sản phẩm nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội;khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sảnxuất và trong sinh hoạt Để thực hiện ba loại hoạt động cơ bản đó, dưới sựphân công lao động xã hội trên cơ sở tiến bộ của khoa học và công nghệ,trong nền sản xuất kinh tế quốc dân hình thành hệ thống các ngành CN:khai thác tài nguyên khoáng sản; sản xuất và chế biến sản phẩm và cácngành CNDV sửa chữa Hoạt động khai thác là hoạt động khởi đầu củatoàn bộ quá trình sản xuất CN Tính chất tác động của hoạt động này là cắtđứt các đối tượng lao động ra khỏi môi trường tự nhiên Chế biến là hoạtđộng làm thay đổi hoàn toàn về chất của các nguyên liệu nguyên thủy, tạo
ra các sản phẩm trung gian và các sản phẩm cuối cùng đưa vào tiêu dùngtrong sản xuất và trong sinh hoạt Sản phẩm trung gian là các sản phẩm
Trang 7được coi là nguyên liệu cho quá trình sản xuất CN tiếp theo Sản phẩm cuốicùng là các sản phẩm đã ra khỏi quá trình sản xuất CN để đưa vào sử dụngtrong sản xuất hoặc tiêu dùng trong sinh hoạt Sửa chữa là một hoạt độngkhông thể thiếu được nhằm khôi phục, kéo dài tuổi thọ của các tư liệu laođộng trong các ngành sản xuất và kéo dài trong thời gian sử dụng của cácsản phẩm dùng trong sinh hoạt CN sửa chữa là hình thức có sau so với CNkhai thác và chế biến Lúc đầu các hoạt động này được thực hiện ngaytrong các ngành CN khai thác, chế biến và trong đời sống sinh hoạt của dân
cư, do lực lượng lao động trong các ngành và lĩnh vực đó thực hiện Sau
đó, do sự phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật trong các ngành sản xuất,dịch vụ, do sự phát triển đa dạng hóa của sản phẩm tiêu dùng trong sinhhoạt, hoạt động sửa chữa được tách thành một ngành chuyên môn hóa DVsửa chữa có tính chất xã hội
Từ những nội dung trình bày ở trên, có thể hiểu CN là một ngànhkinh tế to lớn thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, bao gồm một hệ thống cácngành sản xuất chuyên môn hóa hẹp đó lại bao gồm nhiều đơn vị sản xuấtkinh doanh thuộc nhiều loại hình khác nhau Trên góc độ trình độ kỹ thuật
và hình thức tổ chức sản xuất, CN còn được cụ thể hóa bằng các khái niệmkhác nhau như: CN và tiểu thủ công nghiệp; CN lớn; CN vừa và nhỏ; CNnằm trong NN; CN nông thôn; CN quốc doanh và CN ngoài quốc doanh
Sự hình thành CN chế biến cho đến thời đại ngày nay là cả một quátrình diễn biến lâu dài của sự phát triển lịch sử xã hội loài người Từ xã hộinguyên thủy đến chủ nghĩa tư bản hiện đại trải qua ba lần phân công laođộng xã hội Xét trong mối quan hệ phân công lao động xã hội giữa haingành CN và NN, thường trải qua một chu trình bao gồm ba giai đoạn cơbản: sản xuất CN ra đời trong NN - một hoạt động nằm trong NN; tách rakhỏi NN thành ngành độc lập; quay trở lại kết hợp với NN bằng nhiều hìnhthức tổ chức, mối liên hệ sản xuất đa dạng ở trình độ hoàn thiện và tiên tiến
Trang 8hơn Sự phân công lao động xã hội mang lại kết quả công cụ lao động ngàycàng cải tiến, năng suất lao động ngày càng cao, giá trị thặng dư ngày càngnhiều và sự phát triển các ngành sản xuất kinh doanh, DV ngày càng phongphú đa dạng như nông lâm hải sản, CN xây dựng, giao thông vận tải,thương mại du lịch v.v Sự phân công trong nội bộ ngành CN đã hình
thành và phát triển ngành CN chế biến Trong tác phẩm về Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nga, Lênin đã nêu:
Sự phân công xã hội là cơ sở của kinh tế hàng hóa Côngnghiệp chế biến tách khỏi công nghiệp khai thác và mỗi ngànhcông nghiệp đó lại chia ra thành nhiều loại nhỏ và phân loại nhỏ,chúng sản xuất ra dưới hình thức hàng hóa, những sản phẩm đặcbiệt và đem trao đổi với tất cả các ngành sản xuất khác Như vậykinh tế hàng hóa phát triển đưa đến chỗ làm tăng thêm số lượngcác ngành công nghiệp riêng biệt và độc lập; xu hướng của sựphát triển này là nhằm biến việc sản xuất không những từng sảnphẩm riêng mà cả việc sản xuất từng bộ phận riêng của sảnphẩm; và không những việc sản xuất sản phẩm thậm chí cả từngthao tác trong việc chế biến sản phẩm thành sản phẩm tiêu dùng,thành một ngành riêng biệt [31, tr 21]
Như vậy, do phân công lao động xã hội đã hình thành nên nhữngngành riêng biệt trong nền kinh tế, trong đó có ngành CN và do kinh tếhàng hóa phát triển, số lượng các ngành CN ngày càng tăng và chia thànhnhiều ngành CN nhỏ riêng biệt hơn trong đó có CN chế biến
Công nghiệp chế biến nông sản là một nhóm ngành chế biến tiếnhành chế biến những nguyên liệu từ NN Trong nền kinh tế tiểu nông tựcấp tự túc, việc chế biến nông sản chủ yếu được thực hiện trong phạm vi các
hộ gia đình Khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa việc chế biến nông sảntrở thành DV kỹ thuật và được thực hiện cả trong và ngoài các hộ gia đình
Trang 9nông dân và trở thành ngành CNCBNS ở nông thôn Nguyên liệu và sảnphẩm chế biến rất đa dạng, do đó CNCBNS có nhiều ngành nghề: chế biếnlương thực, cụ thể là lúa, gạo, ngô, khoai, sắn; chế biến thực phẩm như cá,tôm, thịt, sữa, đường, rượu, dầu thực vật; chế biến rau quả v.v trong đóchế biến lương thực chiếm vị trí quan trọng nhất vì chiếm khối lượng lớn,địa bàn rộng.
Công nghiệp chế biến nông sản là một bộ phận hợp thành của CNchế biến, thực hiện các hoạt động bảo quản, gìn giữ, cải biến và nâng caogiá trị sử dụng của nguyên liệu từ NN thông qua quá trình cơ nhiệt - hóa,nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm NN vàđưa lại hiệu quả kinh tế cao
Qua khái niệm nêu trên, CNCBNS gồm hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Sơ chế và bảo quản Giai đoạn này được tiến hành
ngay sau khi thu hoạch, nằm ngoài xí nghiệp chế biến, chủ yếu sử dụng laođộng thủ công với phương tiện bảo quản và vận chuyển chuyên dùng Nóquyết định mức độ tổn thất sau thu hoạch và chất lượng nguyên liệu đưađến xí nghiệp chế biến Đây là giai đoạn quan trọng có ý nghĩa xác định thứhạng sản phẩm ở giai đoạn sau
- Giai đoạn 2: Chế biến công nghiệp Giai đoạn này diễn ra trong
các xí nghiệp CN chế biến Nó sử dụng lao động kỹ thuật cùng với máymóc thiết bị công nghệ cần thiết Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định mức
độ chất lượng sản phẩm chế biến và mức độ tăng giá trị của sản phẩm
1.1.1.2 Vai trò của CNCBNS đối với nền NNHH
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quốc dân, một trong những bộphận chủ yếu của sản xuất vật chất, sản xuất lương thực thực phẩm cho xãhội và nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến NN theo nghĩa hẹpbao gồm hai ngành: trồng trọt và chăn nuôi, song theo nghĩa rộng bao gồm
Trang 10cả ngành lâm nghiệp và ngư nghiệp Trong nền kinh tế tự nhiên NN chiếm
vị trí thống trị, sản xuất phụ thuộc vào tự nhiên, sản xuất chủ yếu là để tiêudùng Đặc trưng cơ bản của kinh tế tự nhiên là lực lượng sản xuất hết sứcthấp kém, lạc hậu, công cụ lao động thủ công Nói chung làm không đủ ăn.Nền NNHH là nền sản xuất NN mà sản phẩm được sản xuất ra không chỉ
để người sản xuất ra nó tiêu dùng mà trao đổi mua bán là chính Trong NN,việc sản xuất sản phẩm không những gắn liền với các quá trình kinh tế màcũng gắn liền với các quá trình tự nhiên của tái sản xuất
CN và NN có quan hệ với nhau rất khăng khít CN có nhiệm vụ của
CN, NN có nhiệm vụ của NN, mỗi ngành sản xuất ra những sản phẩm khácnhau và đáp ứng những yêu cầu khác nhau của nền kinh tế song hai ngànhphát triển không tách rời nhau mà có quan hệ với nhau rất hữu cơ, ngànhnày phát triển sẽ tạo điều kiện thúc đẩy ngành kia phát triển và ngược lại.Chủ tịch Hồ Chí Minh thường ví CN và NN như "hai chân của con người",
"hai chân của nền kinh tế", "hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽnhanh và nhanh chóng đi đến mục đích" [40, tr 215]
NN là cơ sở của CN, NN phát triển không những giải quyết nhu cầulương thực, thực phẩm cho toàn xã hội, tạo nguồn cung cấp nguyên liệucho CN mà còn tạo ra hàng nông sản xuất khẩu để tích lũy ngoại tệ, nhưngNNHH không thể phát triển mạnh nếu không có sự tác động của CN vàtrực tiếp nhất là CNCBNS Trong nền kinh tế tự cung tự cấp sản xuất đểtiêu dùng là chủ yếu Khi chuyển sang nền NNHH sản xuất ra sản phẩm là
để bán mà muốn bán được sản phẩm và bán được giá cao thì phải thôngqua chế biến Sự phát triển các ngành CNCBNS sẽ tạo thị trường tiêu thụcác sản phẩm NN, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho ngườilao động, chuyển đổi cơ cấu NN theo hướng công nghiệp hóa NN nôngthôn, làm tăng kim ngạch xuất khẩu Chính sự phát triển của CN chế biến,
sự tác động của CNCBNS vào nên NNHH tạo cơ sở giải quyết những vấn
Trang 11đề xã hội, nâng cao trình độ dân trí là mục tiêu của quá trình phát triển,song cũng là cơ sở xã hội của quá trình phát triển CN Vai trò củaCNCBNS đối với nền NNHH thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, CNCBNS là nhân tố có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển nền NNHH có hiệu quả
Tính chất tự nhiên của nông sản là những sản phẩm tươi sống rất dễ bị
hư hỏng Nông sản thường đạt khối lượng lớn vào mùa thu hoạch Muốn bảođảm và giữ được chất lượng cần phải chế biến hoặc tiêu thụ ngay Lúa phảilàm khô ngay, nếu không sẽ bị nẩy mầm hoặc ảnh hưởng đến chất lượng gạokhi xay xát Tôm cá nếu không ướp, làm đông lạnh, chế biến sẽ bị ươn thối.Vật nuôi đến thời kỳ phải thu hoạch để bán, nếu ế đọng, chi phí đầu vào sẽtăng lên, dẫn tới kém hiệu quả kinh tế Theo FAO (Tổ chức Nông nghiệp vàThực phẩm của Liên Hợp Quốc) đánh giá tỷ lệ hao hụt lương thực ở các nướcđang phát triển sau khi thu hoạch thường là từ 15-30% [45, tr 36] Ở Việt Nam
"nếu tính mức hao hụt đối với lúa là 13-15%, rau quả 25 - 30%" [38, tr 24] ỞCHDCND Lào, từ sản xuất đến tiêu dùng hao hụt rất lớn, vì địa hình cáchtrở, kỹ thuật thấp kém Với đặc tính như vậy, vào mùa thu hoạch giá cả cácloại nông sản thường dễ bị ép giá khi bán, người nông dân phải gánh chịunhiều thiệt thòi Sau sự thiệt thòi đó, dễ làm cho người nông dân chuyểnsang trồng loại cây khác hoặc lĩnh vực sản xuất khác do sự điều tiết củaquy luật kinh tế hàng hóa, và điều đó chính là một trong những nguyên nhângây mất ổn định trong sản xuất nông sản hàng hóa
CNCBNS có mối quan hệ gắn bó và tác động qua lại với sản xuất
NN, hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển Sản xuất NN phát triển khốilượng, chủng loại nông sản nhiều, đa dạng tạo điều kiện cho CNCBNS hoạtđộng thường xuyên Ngược lại, CNCBNS góp phần nâng cao hiệu quả củasản xuất NN, tạo điều kiện thúc đẩy NNHH phát triển CNCBNS được coi
Trang 12như bà đỡ cho phát triển nền NNHH trong thời kỳ công nghiệp hóa, làhướng quan trọng để nâng cao hiệu quả khai thác thế mạnh tài nguyên.
Vai trò có ý nghĩa quan trọng của CNCBNS đối với sự phát triểnnền NNHH thể hiện như sau:
1- CNCBNS tiêu thụ nguyên liệu chủ yếu từ NN Những nguyên liệu
đó là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng của CN chế biến nông sản
CNCBNS rất đa dạng về ngành nghề, sản phẩm, về trình độ kỹthuật công nghệ, mức độ chế biến, về sở hữu Sản phẩm của CNCBNSđược nhiều người sử dụng, ngày càng trở thành sản phẩm thiết yếu của conngười CNCBNS gắn bó rất mật thiết với NN, nguyên liệu chính chiếm tỷtrọng cao trong giá trị sản phẩm của CNCBNS (thường từ 70-80% giáthành sản phẩm) là những sản phẩm của ngành NN và hầu hết được sảnxuất trong nước Vì vậy, quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu của CNCBNSphụ thuộc rất lớn vào quy mô tính chất và trình độ phát triển của sản xuất
NN Nhưng mặt khác, do việc chế biến các sản phẩm của NN nênCNCBNS lại là ngành đảm bảo đầu ra cho sản xuất NN, tạo động lực chosản xuất NN phát triển Vì sản phẩm NN khó bảo quản, dễ bị thối nát, hưhỏng nên sự phát triển của nó chỉ có thể được đảm bảo vững chắc nếu tổchức được cả hệ thống các cơ sở CN sơ chế và tinh chế
Một khi đầu ra cho hàng hóa nông sản được bảo đảm ổn định sẽ làchất kích thích mạnh đối với người sản xuất, nông dân tìm cách tháo gỡ cáckhó khăn tăng cường sản xuất CNCBNS càng phát triển đòi hỏi nhữngnguyên liệu càng nhiều và có chất lượng cao Sự chuẩn hóa nguyên liệu đểchế biến sản phẩm chất lượng cao trở thành yêu cầu đòi hỏi phải ứng dụngcông nghệ mới vào sản xuất NN, đồng thời nó cũng đòi hỏi người sản xuấtmạnh dạn chuyển sang nuôi trồng chuyên canh, chuyên con trên cơ sở đónâng cao năng suất, chất lượng sản lượng hàng hóa trong NN tạo điều kiệnthúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế hàng hóa phát triển
Trang 13Chính sự tác động nêu trên của CNCBNS sẽ thúc đẩy nền NNHHphát triển mạnh hơn.
2- Công nghiệp chế biến nông sản làm cho nông sản hàng hóa tăng giá trị và đa dạng hóa giá trị sử dụng
Đặc trưng chủ yếu của nền NN tự nhiên, tự cấp tự túc là hầu hếtnhững sản phẩm do NN sản xuất ra được tiêu dùng dưới dạng thô trongtừng hộ gia đình Số còn lại được sơ chế bằng phương pháp thủ công lạchậu nên giá trị thấp và chủng loại giá trị sử dụng cũng rất ít Do đó để nângcao hiệu quả sản xuất NN, phát triển NNHH, cần phải phát triển CNCBNSnhằm làm tăng giá trị và đa dạng hóa giá trị sử dụng các sản phẩm NN
CNCBNS tạo điều kiện để NN phát triển thuận lợi qua việc nângcao hiệu quả kinh tế của sản xuất NN, từ đó tăng khả năng tích lũy, tăngkhả năng đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, hiện đại hóa quá trình sản xuất
NN Tác động này trước hết thể hiện ở chỗ: "Sau khi đưa vào chế biến, giá trị của nông sản tăng lên rất nhiều Theo tính toán của các chuyên gia trong ngành, sau khi tinh chế giá trị của nông sản có thể tăng từ 4 - 10 lần so với giá trị lúc chưa chế biến" [17, tr 18] "Tính ra một tấn cà phê hòa tan trên thị trường quốc tế có giá trị bằng 10 tấn cà phê hạt, trong khi đó chỉ cần 3 đến 4 tấn cà phê hạt đã chế biến được 1 tấn cà phê hòa tan Một tấn hạt điều thô bán được khoảng 800 USD, nhưng qua chế biến bán tới 4.800 USD" [45, tr 136].
Sự tăng thêm số lượng và giá trị của nông sản đã góp phần làm tăngthêm GDP trên đầu người, làm cho cuộc sống của người dân có cải thiện hơn
Qua chế biến, từ một sản phẩm nông nghiệp, có thể tạo ra nhiều loạisản phẩm có những giá trị sử dụng rất khác nhau, thậm chí tạo ra nhữngđặc tính mới, những giá trị sử dụng mới cho sản phẩm của NN, từ đó nâng
Trang 14cao mức độ và mở rộng thêm khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêudùng Cây mía qua chế biến, ngoài sản phẩm chính là đường, còn tạo ranhững sản phẩm sau đường như: sử dụng mật rỉ vào công nghiệp lên menlàm mì chính, cồn, sử dụng bã mía đốt lò sản xuất điện, giấy, ván ép ,bánh kẹo các loại Cao su qua chế biến tạo ra sản phẩm đa dạng như vỏ vàruột bánh xe, găng tay y tế, rôn chịu nhiệt
Chính CNCBNS tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, làmgiảm sự phụ thuộc vào yếu tố thời gian và khoảng cách đối với tiêu dùngcác sản phẩm NN Sự phát triển của CNCBNS còn làm tăng cầu về sảnphẩm của NN Việc đó cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi để NNHH phát triểnmạnh mẽ hơn
Sự tác động của CNCBNS đã làm tăng giá trị và giá trị sử dụng củasản phẩm NN thúc đẩy nâng cao hiệu quả kinh tế NN
Thứ hai, CNCBNS góp phần giải quyết lao động dư thừa trong NN
Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những mụctiêu cơ bản của nhiều nước Việc phát triển CNCBNS sẽ góp phần rất quantrọng vào việc giải quyết vấn đề việc làm cho lực lượng lao động ở nôngthôn, đặc biệt là qua việc phát triển hệ thống các cơ sở chế biến ở ngaynông thôn Ý nghĩa của điều này bắt nguồn từ sức ép giải quyết việc làmcho lao động nông nhàn ở nông thôn (đặc biệt là trong các thời gian saumùa vụ và giữa hai mùa vụ)
CNCBNS được trang bị kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đạithì số lao động trực tiếp cần sử dụng trong các cơ sở chế biến ngày cànggiảm Nhưng sự tăng lên năng lực sản xuất của chế biến lại đòi hỏi sốlượng lao động ngày càng nhiều hơn ở các khâu sản xuất và khai thácnguyên liệu, cung ứng vật tư, thiết bị và các lĩnh vực DV khác kể cả lưuthông tiếp thị
Trang 15Mặt khác, quá trình phát triển CNCBNS là quá trình phân công lạilao động giữa NN và CN Số lao động dôi ra trong NN sẽ chuyển sang lĩnhvực chế biến, bảo quản, vận chuyển và các DV khác Các ngành CNCBNSkhông đòi hỏi vốn đầu tư lớn, không đòi hỏi công nghệ phức tạp, nhưng nó
có khả năng thu hút được nhiều lao động và tạo ra tích lũy lớn
Yêu cầu giải quyết việc làm cho một đội ngũ lao động khá đông đảođang được đặt ra một cách cấp bách Trong bối cảnh đó, nếu phát triểnmạnh được CNCBNS với quy mô, tốc độ, cơ cấu, trình độ, tính chất thíchhợp thì có thể tạo nhiều việc làm cho người lao động, huy động được cácnguồn vốn trong nền kinh tế quốc dân, vừa phát huy được truyền thống, taynghề của người lao động, vừa tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, vừa khaithác được lợi thế của tất cả các vùng, vừa phục vụ tốt nhu cầu nội địa, vừatăng cường được lượng hàng xuất khẩu và nâng cao thêm khả năng cạnhtranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế
Sự tác động của CNCBNS tạo ra nhiều việc làm cho người lao động
từ lĩnh vực sản xuất nguyên liệu, vận chuyển, chế biến, bảo quản, tiêu thụ
đã làm giảm bớt sức ép về lao động dư thừa ở nông thôn Trong bối cảnh ởnước Lào hiện nay, việc phát triển CNCBNS không chỉ đơn thuần là vấn đềkinh tế mà còn là vấn đề an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội
Thứ ba, CNCBNS góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn
Do tính đồng bộ và liên ngành cao, việc phát triển CNCBNS khôngchỉ đem lại hiệu quả cao cho bản thân ngành này mà còn tạo ra phản ứngdây chuyền trong nền kinh tế quốc dân Nó thúc đẩy và tạo điều kiện cho
sự phát triển của các ngành có liên quan, từ NN cho tới các ngành CN cơkhí, CN bao bì
Trang 16Các nước NN trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung
và cơ cấu ngành kinh tế nói riêng bước đầu tiên có ý nghĩa rất quan trọng là
sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế NN, nông thôn Công nghiệp hóa NN
và nông thôn đang đặt ra vấn đề kết hợp giữa sản xuất và chế biến, giữatrồng trọt chăn nuôi và ngành nghề; giữa thâm canh và mở rộng kinh doanhtổng hợp Trong đó gắn sản xuất với chế biến đa dạng ngành nghề là conđường tốt nhất để thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển
Kinh nghiệm thế giới cũng như trong khu vực cho thấy nếu chỉ cóthuần nông, không gắn NN với CN, nhất là công nghiệp chế biến và pháttriển mạnh ngành nghề ở nông thôn thì nông dân không thể giàu có Như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế NN cũng bao hàm việc pháttriển NN gắn với CN chế biến trong nông thôn mà trước hết là chế biếnnông sản
Công nghiệp chế biến trong đó có CNCBNS tác động đến sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế NN không chỉ là sự chuyển dịch trong cácngành
nông, lâm, ngư nghiệp mà còn bao hàm việc mở rộng ngành CN và dịch
vụ, đồng thời kéo theo sự phát triển các ngành kết cấu hạ tầng như: giaothông vận tải, bưu điện, điện lực dẫn đến hình thành cơ cấu kinh tế mới là
DV - CN - NN
Sự tác động của CNCBNS vào lĩnh vực NN gắn với quá trình tổchức và phân công lại lao động tạo nên nhiều ngành nghề ở nông thôn Sựphân công lao động xã hội ngày càng tiến bộ làm cho ngành nghề trongnông, công nghiệp ngày càng phong phú đa dạng, tất yếu đòi hỏi ngànhthương mại và DV phát triển để phục vụ nhu cầu sản xuất của nông, côngnghiệp, đồng thời phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của người laođộng
Thứ tư, CNCBNS góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu
Trang 17Trong nền kinh tế mở, sự phát triển của công nghiệp chế biến là conđường có hiệu quả làm tăng kim ngạch xuất khẩu Vai trò này của côngnghiệp chế biến lại càng quan trọng đối với các nước kém phát triển mànguồn thu nhập ngoại tệ vẫn chủ yếu dựa vào xuất khẩu nguyên liệu thô.Thực tế ở một số nước đã cho thấy xuất khẩu thô là thua thiệt Người sảnxuất chuối ở Ma-lai-xia cách đây hơn 10 năm chỉ nhận được khoảng 12%giá chuối bán ở thị trường I-ta-lia.
Trên thị trường quốc tế, xuất khẩu sản phẩm thô nguyên dạng chỉ làgiải pháp tạm thời, bởi vì giá bán thấp và không ổn định, điều kiện thươngmại bất lợi, thế mạnh thuộc về người có vốn, tài nguyên bị cạn kiệt dần,môi trường bị ô nhiễm và hệ sinh thái bị mất cân bằng Trên thế giới chothấy không một nước nào giàu có và tăng trưởng bền vững chỉ nhờ xuấtkhẩu thô mà không xây dựng công nghiệp chế biến
Sản phẩm của CNCBNS đã được xuất khẩu ra nước ngoài, mang lạimột nguồn ngoại tệ khá lớn, góp phần giảm bớt sự mất cân đối giữa xuấtkhẩu và nhập khẩu, gián tiếp góp phần ổn định tỷ giá hối đoái, giữ và ổnđịnh thị trường truyền thống và khai thác các thị trường mới Mặt khác, dotác động của chính sách kinh tế mở cửa, người nước ngoài vào ngày càngnhiều, nhu cầu tiêu dùng của nhóm khách hàng này và một bộ phận dân cư
có liên quan trực tiếp với họ ngày một tăng lên và đa dạng hơn NếuCNCBNS phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao và đa dạngđáp ứng tốt nhu cầu của họ thì có thể tăng lượng sản phẩm CNCBNS xuấtkhẩu tại chỗ một cách đáng kể và có hiệu quả
Sự phát triển CNCBNS góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu đểtích tụ vốn nhằm nhanh chóng mở rộng quy mô và nâng cao trình độ sảnxuất trong nước, tạo nhiều việc làm và tăng thu nhập, tăng khả năng nhậpvật tư, thiết bị để tạo ra hàng hóa, dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, chất lượng
Trang 18cao, có sức cạnh tranh mạnh cả thị trường nội địa và thị trường thế giới,nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân Chính CNCBNS tạokhả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, làm giảm sự phụ thuộc vào yếu tốthời gian và khoảng cách đối với tiêu dùng các sản phẩm NN, sự phát triểncủa CNCBNS còn làm tăng cầu về sản phẩm của NN.
Như vậy, CNCBNS vừa có vai trò trực tiếp và vừa có vai trò giántiếp tới sự phát triển NNHH, tạo ra cầu nối giữa CN và NN, là khâu đột phá
để công nghiệp hóa hiện đại hóa NN và nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi
để nền NNHH phát triển mạnh mẽ hơn
1.1.2 Quan niệm về dịch vụ nông nghiệp và vai trò của nó đối với sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa
1.1.2.1 Quan niệm về dịch vụ sản xuất nông nghiệp
Xét theo nghĩa hẹp và nguồn gốc của từ thì DV là một công việc màhiệu quả của nó đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người, như vậnchuyển, cung cấp nước, khí đốt, điện, bảo dưỡng và sửa chữa xe cộ, máy
móc v.v Theo C Mác, DV là hàng hóa, "cũng như các hàng hóa khác, có giá trị sử dụng, đồng thời có giá trị trao đổi" [37, tr 533] Theo nghĩa rộng
và hiện đại, DV là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả củachúng không tồn tại dưới hình thái vật thể Đó là các hoạt động thươngnghiệp, vận tải, bưu điện, tài chính, tín dụng, ngân hàng, cung ứng vật tư, y
tế, giáo dục, tư vấn thông tin v.v Các hoạt động này đã phát triển thànhnhững ngành độc lập, có vai trò và chức năng riêng trong nền kinh tế vàtrong đời sống xã hội Như vậy, DV xét từ góc độ cơ cấu tổ chức của nềnkinh tế là một lĩnh vực bao gồm nhiều ngành, nhiều bộ phận trong nền kinh
tế quốc dân Dịch vụ giúp cho các chủ thể sản xuất thực hiện quá trình sản
Trang 19xuất và tái sản xuất một cách thuận lợi hơn, đạt hiệu quả kinh tế cao hơn vàđáp ứng tốt hơn những nhu cầu sinh hoạt ngày càng phong phú của con người.
Do vậy, có thể định nghĩa một cách chung nhất: DV là những hoạtđộng lao động mang tính chất xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa khôngtồn tại dưới hình thái vật thể nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quảhơn các nhu cầu sản xuất và đời sống của con người DV là lĩnh vực "mở",
nó thay đổi, phát triển tùy thuộc vào sự phát triển sâu rộng của phân cônglao động xã hội, của những tiến bộ khoa học, công nghệ phục vụ cho sảnxuất, đời sống con người DV không bao gồm những hoạt động lao độngnhằm mục đích tự phục vụ cho quá trình sản xuất của chủ thể sản xuất tựphục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt của một người nào đó
Dịch vụ có những đặc điểm sau đây khác với hàng hóa thông thường:
- Là sản phẩm vô hình có thể cảm nhận, nhưng không tách riêng
ra được
- Việc sản xuất và tiêu dùng DV diễn ra đồng thời, sản xuất đến đâutiêu dùng đến đấy, không tiêu dùng sẽ bỏ phí vì sản phẩm DV không cókhả năng lưu kho, để dành, tích trữ làm phần đệm để điều chỉnh sự thay đổithất thường của nhu cầu thị trường như các hàng hóa thông thường DVthường không mang hình thái độc lập, kể cả trong trường hợp nó có tínhchất sản xuất vật chất, nó hòa nhập hay gắn liền với một sản phẩm hay mộtgiai đoạn nào đó Tất cả các DV có ích đều được thực hiện đồng thời vớiquá trình sản sinh ra nó Cho nên lao động DV mang tính xã hội hóa cao
- Dịch vụ bị giới hạn bởi công suất cho phép nên phải điều tiết đểthường xuyên tận dụng tối đa công suất một cách có hiệu quả nhất
- Có nhiều DV không đòi hỏi nhiều vốn, vốn lớn, không cần có tổchức cồng kềnh nhưng lại có nhiều DV lại gắn liền với sự phát triển đồng
Trang 20bộ nhiều ngành kinh tế, đòi hỏi kết cấu hạ tầng đồng bộ về giao thông,thông tin liên lạc, điện, nhà ở phải đi trước một bước.
Ngoài những đặc điểm chung nói trên, DV sản xuất NN còn mangnhững nét riêng do đặc trưng của sản xuất NN chi phối Đối tượng của sảnxuất NN là cây trồng, vật nuôi Sản xuất NN là hoạt động nhằm khai thácsức sản xuất của cây trồng và vật nuôi thông qua việc tạo ra những điềukiện thuận lợi cho chúng phát triển ở một địa bàn rộng Trong môi trườngthiên nhiên phức tạp và thường xuyên thay đổi
Trong trồng trọt những DV chủ yếu là: làm đất, cung ứng giống câytrồng, tưới, tiêu nước, cung ứng vật tư, phân bón, phòng trừ sâu bệnh, tiêuthụ nông sản, cho vay vốn các DV này trước hết mang những nét chungcủa dịch vụ, đồng thời còn mang những đặc điểm riêng sau đây:
Một là, DV sản xuất NN vốn là những khâu của quá trình sản xuất
được tách riêng ra Người trồng lúa tự túc, tự cấp bản thân họ vừa sản xuấtvừa tự phục vụ quá trình sản xuất của mình Hợp tác xã NN với tư cách làmột đơn vị sản xuất theo kiểu tập trung - trước đây cũng tự đảm bảo cáckhâu phục vụ cho sản xuất ít cần đến DV Nhưng để sản xuất hàng hóa, hộvới tư cách là đơn vị tự chủ sản xuất, kinh doanh, có những hạn chế về vốn,vật tư kỹ thuật, khả năng ứng phó với diễn biến phức tạp của thời tiết, sâubệnh, nên nhu cầu về DV tăng lên Tuy vậy người nông dân chỉ sử dụng
DV chừng nào họ không thể tự đảm nhiệm được, hoặc DV đưa lại hiệu quảkinh tế cao hơn
Hai là, DVNN gắn với sự khai thác và sử dụng tiềm năng sinh vật.
Do đó, tính thời vụ rất khắt khe Đối với cây lúa, trong một chu kỳ sinhtrưởng nhu cầu dinh dưỡng rất khác nhau Mỗi giống lúa cũng có nhu cầu
về các điều kiện nước tưới, tiêu, phân bón, thời vụ gieo cấy không hoàn
Trang 21toàn giống nhau Vì thế DV tốt là một yếu tố quan trọng làm tăng năng suấtcây trồng.
Ba là, thời tiết khí hậu có tác động mạnh mẽ tới hoạt động DV Sản
xuất NN chịu ảnh hưởng sâu sắc của thời tiết và khí hậu Vì vậy nhu cầu sửdụng DV của người sản xuất NN cũng thay đổi tùy theo diễn biến của thờitiết, khí hậu
Dịch vụ NN là những điều kiện, những yếu tố cần thiết, hoặc cần cócho một quá trình sản xuất, kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trong NN
mà người sản xuất không có sẵn, không thể làm được hoặc nếu tự làm thìkhông có hiệu quả, vì vậy họ phải tiếp nhận các điều kiện, các yếu tố đó từbên ngoài bằng những cách thức khác nhau như: mua, bán, trao đổi, thuê,nhờ
Hoạt động DVNN: là hoạt động nhằm cung ứng, trao đổi, tiếp nhận
và sử dụng các DV người sản xuất NN và người cung cấp DV theo mộtphương thức nhất định nào đó Hoạt động DV có tính chất sản xuất hoặcliên quan đến quá trình sản xuất trong NN như: các loại công việc làm đất,cung ứng giống, nước tưới, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc thú y, thu hoạch,chế biến, thông tin, thị trường, tiêu thụ sản phẩm
1.1.2.2 Vai trò của DVNN đối với sự phát triển nền NNHH
Trong nền kinh tế NN tự cấp tự túc, người nông dân sản xuất ra sảnphẩm là nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của họ Hầu hết nhu cầu cho sảnxuất và tiêu dùng cá nhân được tính toán và thỏa mãn chỉ trong phạm vikinh tế gia đình: chọn giống cho vụ sau ngay từ sản phẩm đã được thuhoạch vụ này; phân bón là phân chuồng do chăn nuôi gia đình đem lại hoặc
là do phân xanh tự trồng hay tự kiếm; trừ sâu bằng giăng đèn bắt bướm;làm đất bằng sức kéo trâu bò tự nuôi, lợi dụng mưa nắng của thiên nhiên đểtưới, tiêu Người nông dân ít nghĩ đến sử dụng các điều kiện sản xuất ngoài
Trang 22gia đình mình Sản xuất và tái sản xuất gần như khép kín trong phạm vi giađình nên người nông dân không có các điều kiện để tiếp thu khoa học kỹthuật, dựa vào kinh nghiệm và sự thuận hòa của thời tiết là chính Hiệu quả và năng suất lao động rất thấp, nông sản hàng hóa rất ít, sức mua hạnhẹp Như vậy, trong nền NN tự cấp tự túc người nông dân ít hoặc không biết đến những thành tựu khoa học và công nghệ, hầu như không tiếp xúcvới thị trường, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng hạn hẹp, kết quả sản xuất chủyếu trông chờ vào thiên nhiên nên hầu như không có nhu cầu DV sản xuất NN.
Trong nền NNHH, người nông dân sản xuất ra sản phẩm không chỉ
để tự tiêu dùng mà chủ yếu là để trao đổi mua bán Sản xuất kinh tế hànghóa hình thành và phát triển theo những quy luật vốn có của nó như quyluật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ và các phạm trùkinh tế: giá cả, hàng hóa, tiền tệ, giá trị, cạnh tranh, lợi nhuận và các phạmtrù kinh tế đòi hỏi chủ thể tham gia nền kinh tế phải năng động, linh hoạttìm mọi cách để giảm hao phí lao động xã hội cá biệt so với lao động xã hộicần thiết có thể bù đắp được chi phí và có lãi Mặt khác, để không bị phásản, để đứng vững và chiến thắng trong cạnh tranh, mỗi người sản xuấtluôn tìm cách tiết kiệm lao động (cả lao động sống và lao động quá khứ).Muốn vậy họ phải tìm cách cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học - kỹ thuật,công nghệ tiên tiến vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, cải tiếnchất lượng, mẫu mã, chủng loại hàng hóa, nhanh chóng đưa ra thị trườngnhững hàng hóa thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng Do đặc điểm củasản xuất NN mang tính thời vụ, diễn ra trong một không gian rộng lớn, đốitượng của nó chịu sự tác động trực tiếp của khí hậu thời tiết Cho nên đểcó
nhiều sản phẩm NN với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của thị trườngphải có sự tác động của dịch vụ Dịch vụ đầu vào, đầu ra và DV quá trình
Trang 23sản xuất sẽ làm cho quy mô sản xuất được mở rộng, năng suất lao độngđược nâng cao
Dịch vụ NN có vai trò rất quan trọng thúc đẩy nền NNHH pháttriển, nó thể hiện như sau:
Thứ nhất, góp phần mở rộng quy mô sản xuất, làm tăng năng suất lao động
Dịch vụ đầu vào và DV quá trình sản xuất là nhân tố rất quan trọngkhông thể thiếu được đối với sự phát triển nền NNHH Dịch vụ đầu vào và
DV quá trình sản xuất gồm có: DV vốn, giống, làm đất, thuốc trừ sâu, thú
y, thủy lợi, bảo vệ thực vật Giống, phân hóa học, thuốc trừ sâu là nhữngyếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng cây trồng Dịch vụ bảo
vệ thực vật là một trong những DV rất quyết định đến năng suất cây trồng,
nó vừa mang tính chất tự nguyện, vừa có tính chất bắt buộc cần thiết trongquá trình sản xuất
Đối tượng sản xuất NN là những sinh vật sống, chúng sinh trưởng
và phát triển theo quy luật riêng, đồng thời chịu tác động ảnh hưởng lớncủa môi trường thiên nhiên Nếu có sự tác động từ phía con người giúp chochúng sinh trưởng và phát triển tốt Đặc biệt trong trồng trọt, năng suất câytrồng phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố vật chất như: giống, phân bón, nước,thuốc trừ sâu năng suất cây trồng cũng phụ thuộc nhiều vào việc đảm bảo
cung ứng đầy đủ, kịp thời các yếu tố "đầu vào" đó cho sản xuất.
Trong những biện pháp sinh học và hóa học nhằm nâng cao năngsuất cây trồng và vật nuôi hiện nay ngoài việc bón phân hữu cơ và hóa học,bảo vệ cây trồng, việc chọn giống cây trồng có hiệu quả sinh vật cao đóngmột vai trò quan trọng Theo các chuyên gia lương thực của Liên HợpQuốc, hạt giống là sinh vật có thể bị biến hóa về di truyền và những biếnđổi khác Do đó việc duy trì các đặc tính di truyền và phẩm chất hình thể
tự nhiên đòi hỏi những thủ tục được xác định rõ ràng và được kiểm tra
Trang 24từ khâu lai tạo đến gieo trồng Do NN phát triển, do nhu cầu tăng sản lượng
và ổn định năng suất cây trồng nên người sản xuất NN thường xuyên có nhu cầu sử dụng các giống mới có khả năng thâm canh cao, có ưu thế trongviệc khắc phục các tác động tiêu cực của thời tiết, sâu bệnh Chính vì vậysản xuất giống trên quy mô rộng lớn, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật là hếtsức cần thiết Điều này từng người sản xuất NN không thể tự thực hiệnđược, phải có DV giống có năng suất cao mới đáp ứng được nhu cầu đó
Sử dụng phân bón nhất là phân hóa học cùng với các yếu tố khácnhư giống, tưới tiêu là một trong những biện pháp kỹ thuật có hiệu quả đểtăng năng suất cây trồng Viện nghiên cứu Lúa quốc tế (1983) đã tính phầnđóng góp của các yếu tố vào việc tăng sản lượng lúa từ 1965 đến 1980 ởcác nước Đông Nam Á như phân bón đóng góp vào tăng sản lượng lúa từ10,6% đến 30,8%, giống mới từ 7,6% đến 34,9% [53, tr 39] Trên thế giớiphân bón được sử dụng rộng rãi Mặt khác, với yêu cầu kỹ thuật thâm canh,chủng loại phân, số lượng từng chủng loại, thời gian bón không thể tùy tiện
mà phải phù hợp với từng loại đất, từng thời vụ, từng loại giống Kinhnghiệm thực tiễn đã chỉ rõ rằng, người sản xuất tự lo việc cung ứng phânbón không có hiệu quả bằng việc sử dụng DV cung ứng phân bón, hơn nữangười sản xuất không đủ khả năng để làm việc đó Dịch vụ phân bón tốt sẽlàm cho năng suất lao động tăng lên
Trong sản xuất NN, cây trồng vật nuôi còn mang tính cộng đồng,sống theo quần thể lớn, chịu sự tác động qua lại lẫn nhau kìm hãm hoặcthúc đẩy nhau cùng phát triển Một thửa ruộng bị sâu, rầy nếu không đượcphát hiện và trừ kịp thời, nhất định sẽ lây lan sang ruộng xung quanh, cókhi thành dịch lớn, làm hư hại cả một vùng, một cánh đồng, nhất là đối vớicây lúa Một con trâu bị bệnh dịch, không được điều trị kịp thời, chắc chắn
sẽ lây lan ra cả làng, cả khu vực trở thành dịch lớn Vì thế nếu làm DV thú
y, DV bảo vệ thực vật tốt sẽ giải quyết được những vấn đề trên Bảo vệ
Trang 25thực vật là một khâu yêu cầu kỹ thuật cao, không phải ai cũng có khả nănglàm việc này và giao cho nông dân tự làm sẽ có nhiều điều bất lợi: nhiềunông dân không đủ trình độ xác định được bệnh và loại sâu hại lúa; khôngphân biệt được thuốc thật, thuốc giả; có thuốc rồi không biết pha chế đúngliều lượng Để từng hộ làm không thể phòng trừ sâu bệnh đồng loạt, nhất làkhi có bệnh tràn lan Có nhiều hộ không đủ tiền mua thuốc, thuê bình bơm.Khi lo được tiền thì sâu đã hại hết lúa Vì vậy cần có người làm dịch vụ.
Sản xuất NN còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, thời vụ gieotrồng, vào việc tổ chức thu hoạch nhanh hay chậm Mặc dù có được đầy
đủ các yếu tố vật chất, nhưng thời tiết không thuận, gieo trồng không kịp
vụ sẽ gây ảnh hưởng xấu đến năng suất cây trồng, thậm chí làm mất mùa
trắng Việt Nam đã có câu: "Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống" hay nói về thời vụ là "nhất thì, nhì thục", hoặc "mùa hơn đêm, chiêm hơn sương"
Qua sự phân tích trên cho thấy, việc DV nghiên cứu nắm bắt đượccác quy luật của từng loại cây trồng, vật nuôi, việc lai tạo chọn giống cóthời gian sinh trưởng và phát triển ngắn phù hợp với từng vụ, từng vùng.Việc cung cấp nước, phân bón, thuốc trừ sâu, thú y; việc DV thu hoạch kịpthời là những yếu tố cơ bản không thể thiếu được để nâng cao năng suấtlao động trong sản xuất NNHH
Thứ hai, dịch vụ "đầu ra" cho sản xuất NNHH góp phần thúc đẩy nền NNHH phát triển mạnh mẽ và ổn định
"Đầu ra" của quá trình sản xuất có thể tính từ khâu thu hoạch, vận chuyển, bảo quản, chế biến, phân phối lưu thông đến tiêu thụ Dịch vụ "đầu ra" cho sản xuất hiện nay giữ vai trò nâng cao hiệu quả của sản xuất Sản
phẩm có tiêu thụ được mới phát triển được sản xuất
Sản xuất NN khi chuyển sang sản xuất hàng hóa phụ thuộc nhiềuvào thị trường tiêu thụ sản phẩm (đầu ra) Thị trường tiêu thụ sản phẩm vừa
Trang 26là điều kiện, vừa là phương tiện tiến hành quá trình sản xuất, là đầu mối tậptrung và phản hồi mọi quan hệ kinh tế giữa sản xuất và tiêu dùng Sản xuấttạo ra và cung cấp những sản phẩm cho tiêu dùng, thông qua lưu thông traođổi hàng hóa Thị trường tiêu thụ hàng tiêu dùng tác động trở lại sản xuất
"buộc" người sản xuất phải ngày càng đa dạng hóa, hoàn thiện các sảnphẩm với chất lượng ngày càng cao, giá bán hợp lý mới tồn tại và pháttriển Sản xuất ra nhiều sản phẩm, nhưng không bán được, sản phẩm bị ứđọng, điều đó sẽ tác động ngược lại kìm hãm phát triển sản xuất Khi đầu racủa sản xuất NNHH được bảo đảm sẽ trở thành chất kích thích mạnh đốivới phát triển sản xuất Tuy nhiên khi đã có thị trường thì việc tiêu thụ sảnphẩm lại còn phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, về bao bì đóng gói, vềhình thức, quy cách mẫu mã, về cách tổ chức tiêu thụ, về thị trường xa haygần Đối với sản phẩm xuất khẩu lại càng đòi hỏi nghiêm khắc về chấtlượng, quy cách tiêu chuẩn quy định và phải có khối lượng sản phẩm lớn
Vì thế DV "đầu ra" cho sản xuất NN là một khâu không thể thiếu
được trong sự phát triển nền NNHH Khi DV đầu ra cho sản xuất NNHHđược bảo đảm, tổ chức thực hiện tốt sẽ trở thành chất kích thích nền NNHHphát triển mạnh mẽ hơn
Từ sự phân tích trên đây đã cho thấy rằng để tiến hành sản xuất cóhiệu quả, từng hộ không thể tự làm được tất cả các khâu công việc trongquá trình sản xuất, trao đổi lưu thông tiêu thụ sản phẩm, mà đòi hỏi có sựphục vụ từ bên ngoài (từ các doanh nghiệp nhà nước, tập thể, tư nhân) thìsản xuất của các hộ mới tiến hành thuận lợi và thu được kết quả Điều đóchứng tỏ tổ chức hoạt động DVNN là một tất yếu khách quan vừa là yêucầu của người sản xuất NNHH, vừa có vai trò thúc đẩy nền NNHH pháttriển mạnh mẽ hơn
1.1.3 Vai trò có tính liên kết giữa CNCBNS và DVNN đối với nền NNHH
Trang 27Công nghiệp chế biến nông sản và DVNN có vai trò rất quan trọngđối với nền sản xuất NNHH CNCBNS và DVNN phát triển sẽ tác độngvào sản xuất NN, thúc đẩy sản xuất NNHH phát triển ổn định và bền vững.Trong quá trình tác động vào sản xuất NN, hai lĩnh vực chế biến nông sản
và DVNN cũng có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhau, làm chỗ dựa chonhau, tính liên kết đó thể hiện như sau:
Liên kết trong việc cung cấp đầu vào cho sản xuất NN như: cungcấp vốn, cung ứng về thông tin, về thị trường, khoa học kỹ thuật để mởrộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng và năng suất cây trồng, vậtnuôi Liên kết trong việc thu mua và tiêu thụ sản phẩm NN Liên kết trongviệc bồi dưỡng kiến thức về trồng trọt và chăn nuôi cho hộ nông dân
Công nghiệp chế biến nông sản dựa vào DV thông tin về thị trường
mà xác định được cần sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, chất lượng như thếnào, thời gian cung cấp ra sao Từ việc xác định đó các cơ sở chế biến nôngsản có kế hoạch cần nguyên liệu từ NN cung cấp cho nhà máy bao nhiêu, chấtlượng nguyên liệu như thế nào, thời gian cung cấp ra sao Để thực hiện đượcnhững điều đó các cơ sở chế biến nông sản đã phối hợp với các cơ sở làmDVNN để cung ứng vốn cho hộ nông dân mở rộng quy mô sản xuất, thayđổi công cụ lao động, cung cấp giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suấtcao, cung cấp thuốc trừ sâu, phân bón, thu mua nguyên liệu cung cấp chonhà máy chế biến v.v Từ sự liên kết trong việc tác động vào sản xuất NN đó
đã làm cho cả CNCBNS, DVNN và sản xuất HHNN phát triển có hiệu quả
Ngoài sự liên kết với nhau như đã trình bày trên, CNCBNS vàDVNN còn có sự liên kết với nhau trong việc mở rộng kết cấu hạ tầng cầnthiết phục vụ cho sản xuất NNHH, chế biến nông sản và DVNN
1.2 ĐIỀU KIỆN PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VÀ DỊCH VỤ ĐỐI VỚI NỀN NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA
Trang 28CNCBNS và DVNN có vai trò rất quan trọng, thúc đẩy nền NNHHphát triển mạnh mẽ hơn Nhưng CNCBNS và DVNN muốn phát huy đượcvai trò của mình cần phải có những điều kiện chủ yếu sau:
1.2.1 Ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào sản xuất chế biến nông sản và DVNN
Ngày nay, khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã phát triển như vũ bãotrở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tác động vào mọi mặt đời sống kinh
tế - xã hội của mọi quốc gia Nhờ tiến bộ của khoa học công nghệ mà conngười đã nâng cao được năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hiệuquả kinh tế Việc hiện đại hóa cơ sở vật chất - kỹ thuật và đưa các tiến bộkhoa học và công nghệ vào sản xuất chế biến nông sản và DVNN có ýnghĩa trực tiếp và to lớn trong việc nâng cao năng suất cây trồng, năng suấtvật nuôi, nâng cao giá trị sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao năngsuất lao động, thúc đẩy quá trình phân công lại lao động trong nội bộ ngànhcũng như trên phạm vi toàn xã hội
Trong điều kiện phát triển nền NNHH thì việc hiện đại hóa cơ sởvật chất kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vàosản xuất sẽ tạo khả năng cho các đơn vị sản xuất ra những nông sản có chấtlượng cao, giá thành hạ, có sức cạnh tranh trên thị trường Tiến hành xâydựng trang bị cơ sở vật chất - kỹ thuật và ứng dụng các tiến bộ khoa học vàcông nghệ vào sản xuất là nhân tố quyết định tới việc thực hiện chuyênmôn hóa, tập trung hóa và thâm canh hóa sản xuất NN Đồng thời cũng làđiều kiện để phát huy vai trò của CNCBNS và DVNN đối với nền NNHH
Ứng dụng khoa học - kỹ thuật và công nghệ vào DVNN như: DVthủy lợi hóa NN; DV hóa học hóa NN; DV cơ giới hóa NN
- Dịch vụ thủy lợi hóa NN: thủy lợi hóa NN là cuộc cách mạng
chinh phục và sử dụng nguồn nước phục vụ sản xuất NN và đời sống Thực
Trang 29chất thủy lợi hóa là quá trình chinh phục và cải tạo thiên nhiên trên cơ sởnhận thức các quy luật tự nhiên, là quá trình áp dụng tổng hợp các biệnpháp sử dụng nước bề mặt và nước ngầm phục vụ sản xuất NN và đời sốngđồng thời là quá trình xây dựng mạng lưới thủy lợi hoàn chỉnh Thực hiệnthủy lợi hóa chủ động tưới tiêu khoa học có tác động to lớn trong việc cảitạo đất, phát huy hiệu quả các biện pháp kỹ thuật khác như giống, phânbón đảm bảo làm kịp thời vụ, thực hiện thâm canh tăng vụ, mở rộng diệntích, đảm bảo nâng cao năng suất trồng trọt một cách vững chắc và ổn định.
- Dịch vụ hóa học hóa NN: hóa học hóa NN là sử dụng vào sản xuất
NN các loại tư liệu hóa học do ngành công nghiệp hóa chất làm ra Đó làmột trong những nội dung quan trọng của cách mạng khoa học kỹ thuật NN
có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến việc nâng cao năng suất cây trồng, vậtnuôi, năng suất đất đai Hướng chủ yếu được thực hiện hóa học hóa NNhiện nay là sử dụng vào sản xuất các loại phân bón hóa học, các chất kíchthích sinh trưởng, sinh dục đối với cây trồng, vật nuôi nhằm nâng cao năngsuất sinh học Một hướng quan trọng khác là sử dụng các loại hóa chất đểbảo quản sản phẩm Thực hiện hóa học hóa NN theo các hướng trên đềunhằm mục đích khai thác tối đa tiềm năng sinh vật - một tiềm năng hết sứcquan trọng của sản xuất NN để tăng nhanh sản lượng NN
- Áp dụng công nghệ và biện pháp sinh học trong các khâu DVgiống DV giống được nhiều nước rất quan tâm và có ý nghĩa quan trọngnhất để tạo ra năng suất cây trồng, vật nuôi cao, chất lượng sản phẩm tốt.Công tác giống đã trở thành cuộc cách mạng trên thế giới và nhiều nướccoi là quốc sách lớn Giống là tiền đề để phát triển NN theo con đườngthâm canh Thông qua công tác tạo giống NN mới có khả năng phá vỡ giớihạn năng suất của các giống cũ và mới cho phép đầu tư vốn đạt hiệu quả
Trang 30- Dịch vụ cơ giới hóa NN: cơ giới hóa NN là thực hiện cuộc cách
mạng về công cụ sản xuất nhằm chuyển lao động thủ công lên lao động cơgiới, thay thế phương pháp sản xuất thô sơ bằng phương pháp sản xuấtkhoa học Cơ giới hóa NN thực hiện chức năng thay thế sức lao động, cảithiện điều kiện lao động Trong đó chức năng cơ bản nhất và kinh tế nhất làthay thế sức lao động con người làm giảm lao động NN Như vậy, DV cơgiới hóa có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao năng suất lao động NN,đưa NN lên trình độ phát triển cao của sản xuất xã hội Trên cơ sở đó nóthúc đẩy nhanh quá trình giải phóng lao động NN, tạo tiền đề cho quá trìnhphân công lại lao động trong nội bộ NN cũng như trên phạm vi toàn xã hội
Tóm lại, khoa học - công nghệ là một động lực, một yếu tố có tính
chất quyết định đối với sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung, phát huy vaitrò của CNCBNS và DVNN nói riêng Nó làm cho lực lượng sản xuất pháttriển ngày càng tăng lên, của cải xã hội ngày càng dồi dào, chất lượng sảnphẩm ngày càng cao, giá thành hạ, có sức cạnh tranh trên thị trường Nhưvậy, khoa học - công nghệ là một điều kiện không thể thiếu được để pháthuy vai trò của CNCBNS và DVNN
1.2.2 Phát triển thị trường và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Sản xuất chế biến nông sản và DVNN là nhằm sản xuất ra HH cho
xã hội ngày càng dồi dào Sản xuất HH là sản xuất ra sản phẩm để trao đổimua bán trên thị trường Khi nói đến sản xuất HH là phải quan tâm đến thịtrường vì sản xuất HH gắn liền với thị trường Thị trường là lĩnh vực traođổi mà ở đó các chủ thể kinh tế cạnh tranh với nhau để xác định giá cả HH
và sản lượng Thị trường đồng nghĩa với tự do kinh tế, tự do trao đổi, tự doxác định giá cả Quan hệ giữa các chủ thể kinh tế là quan hệ bình đẳng,thuận mua vừa bán Với những đặc trưng như vậy, thị trường là điều kiện
Trang 31và môi trường của sản xuất HH Không có thị trường thì sản xuất và traođổi HH không thể tiến hành được.
Căn cứ vào chủng loại HH đưa ra trao đổi, có thể chia thành hai loạithị trường:
Một là, thị trường hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ Ở đây, người ta
mua bán những tư liệu sinh hoạt và DV như: lương thực, thực phẩm, quần
áo, các phương tiện phục vụ học tập Các đối tượng mua bán này ngàycàng nhiều theo đà phát triển của kinh tế HH Ngoài những HH vật chất đểtiêu dùng cá nhân, ngày nay trên thị trường còn mua bán loại HH phi vậtchất, được gọi là HH dịch vụ, ví dụ sửa chữa máy móc, tủ lạnh Nhìnchung, thị trường hàng tiêu dùng và DV bán những sản phẩm được sảnxuất ra nên gọi là thị trường "đầu ra"
Hai là, thị trường các yếu tố sản xuất Trên thị trường này, người ta
bán các hàng hóa như máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, nhà máy,đất đai, sức lao động
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất HH đã xuất hiệnthêm nhiều loại thị trường mới như thị trường vốn, thị trường tài chính vàtiền tệ Nhìn chung, thị trường này bán các HH "đầu vào" của quá trình sảnxuất, nên gọi là thị trường "đầu vào" Hai thị trường này biệt lập với nhau,song lại có mối liên hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau thôngqua sự biến động của giá cả các loại HH trên thị trường, tác động đến hoạtđộng của người bán và người mua HH
Thị trường của CNCBNS và DVNN trước hết là thị trường đầu ra,thị trường đầu ra giúp cho người kinh doanh chế biến nông sản và DVNNxác định được nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế cần sản xuấtcái gì, sản xuất bao nhiêu? Chất lượng như thế nào? Thời gian cung cấp ra
Trang 32sao? Nhu cầu của thị trường đầu ra sẽ quyết định quy mô, tốc độ, bước đicủa CNCBNS và DVNN.
Thị trường đầu vào tạo điều kiện cho người kinh doanh chế biếnnông sản và DVNN mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi thiết bị máy móc,đưa khoa học công nghệ vào sản xuất
Trong cơ chế thị trường, giữa phát triển CNCBNS và DVNN với thịtrường có mối quan hệ tương hỗ với nhau Tác động của thị trường tới pháttriển CNCBNS và DVNN thể hiện nó chỉ xu thế phát triển của CNCBNS
và DVNN, chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu sản phẩm, nâng cao hiệuquả kinh tế xã hội của sản xuất kinh doanh Tác động trở lại của phát triểnCNCBNS và DVNN tới thị trường thể hiện: tạo nguồn hàng hóa cho lưuthông trên thị trường giải quyết quan hệ cung cầu (quan hệ cơ bản nhất củathị trường) mở rộng và quyết định khả năng tham gia thương mại quốc tế củamột quốc gia
Trong điều kiện của tiến bộ khoa học - công nghệ và của phân cônglao động quốc tế hiện nay, không thể có một nước nào muốn phát triển bìnhthường mà không cần sự giao lưu, phân công hợp tác Do tác động của tiến
bộ khoa học - công nghệ và trong xu thế khu vực hóa, quốc tế hóa đời sốngkinh tế thế giới, các nước phải gắn sự phát triển CNCBNS và DVNN củamình với sự phát triển quan hệ quốc tế Một mặt, quan hệ kinh tế quốc tế lànhân tố, là biện pháp để thúc đẩy phát triển CNCBNS và DVNN nhanh,bền vững, có hiệu quả Mặt khác, phát triển CNCBNS và DVNN sẽ gópphần thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế, làm cho đất nước có thể hội nhậpvào nền kinh tế thế giới Quan hệ kinh tế quốc tế trong phát triển CNCBNS
và DVNN bao gồm các hình thức sau:
Trang 33- Quan hệ thương mại quốc tế, đó là các hoạt động: nhập khẩu (máy
móc, thiết bị, vật tư, phụ tùng, công nghệ, phân hóa học, thuốc trừ sâu ) vàxuất khẩu (nguyên liệu thô, sản phẩm qua chế biến )
- Quan hệ hợp tác đầu tư, bao gồm các hoạt động phong phú đa
dạng như: đầu tư trực tiếp nước ngoài, thành lập và phát triển các loại hìnhdoanh nghiệp (xí nghiệp liên doanh với nước ngoài, xí nghiệp 100% vốnnước ngoài và phát triển các hợp đồng kinh doanh với nước ngoài); đầu tưgián tiếp của nước ngoài: các tổ chức quốc tế, quốc gia, từ thiện, cá nhâncho vay hoặc viện trợ
- Quan hệ trao đổi, hợp tác, nghiên cứu khoa học và công nghệ.
Trong xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế ngày càng cao, sự hợp tácquốc tế trong sản xuất, lưu thông là một nhân tố thúc đẩy sản xuất pháttriển, tạo ra quá trình phân công lao động quốc tế trên cơ sở lợi thế so sánhcủa mỗi nước, sự tác động của quốc tế đang tạo cơ hội cho các nước, đặcbiệt là những nước kém phát triển và đang phát triển du nhập những tiến bộkhoa học kỹ thuật và công nghệ mới năng suất cao để thay thế kỹ thuậttruyền thống năng suất thấp Quan hệ quốc tế còn thu hút một khối lượngvốn đầu tư nước ngoài vào phát triển CNCBNS và DVNN, học tập đượckinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài, nâng cao khả năng cạnhtranh các sản phẩm của nước mình trên thị trường quốc tế
Như vậy, phát triển thị trường và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế
sẽ tác động mạnh mẽ và phát huy được vai trò của CNCBNS và DVNN đốivới NNHH
1.2.3 Kết cấu hạ tầng đầy đủ, đồng bộ và có chất lượng cao
Để phát triển kinh tế nói chung, phát triển CNCBNS và DVNN nóiriêng phải có kết cấu hạ tầng đầy đủ, đồng bộ, có chất lượng cao Bởi vì,đây là điều kiện cực kỳ quan trọng không thể thiếu được Một trong những
Trang 34vấn đề mà bất cứ Nhà nước nào cũng đều quan tâm Kết cấu hạ tầng để tạođiều kiện cho việc nâng cao vai trò của CNCBNS và DVNN trước hết phảinói đến giao thông vận tải và điện.
Hệ thống giao thông vận tải thông suốt và điện lực phát triển khôngnhững liên kết các ngành kinh tế với nhau, liên kết giữa các vùng, các địaphương với nhau mà còn liên kết giữa nước này với nước khác, thúc đẩysản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, đảm bảo hiệu quả kinh tếcao Trong Đại hội IX các Xô viết toàn Nga ngày 23-28 tháng chạp năm
1921, khi bàn về chính sách đối nội và đối ngoại của nước Cộng hòa, Lênin
đã nêu vai trò của giao thông vận tải trong việc phát triển kinh tế: "Năm
1921 - năm đầu tiên trao đổi buôn bán với nước ngoài, chúng ta đã tiến mộtbước hết sức lớn Kết quả đó một phần là do vấn đề vận tải, có lẽ vận tải là
cơ sở chủ yếu hay là một trong những cơ sở chủ yếu nhất của toàn bộ nềnkinh tế của ta" [32, tr 171]
Giao thông vận tải là một bộ phận không thể thiếu được trong kếtcấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân Thế giới coi đây là một trong nhữngtiêu chuẩn để đánh giá trình độ văn minh của mỗi quốc gia Trong điềukiện sản xuất HH kém phát triển, sản xuất nguyên liệu cung cấp choCNCBNS cũng như sản xuất NNHH còn phân tán, thị trường còn hạn hẹp
và chia cắt, cước phí hàng hóa cao, thậm chí có một số nơi sản xuất rấtnhiều hàng nông sản nhưng do giao thông vận tải khó khăn làm cho hàngnông sản không lưu thông được bị ứ đọng và hư hỏng thì việc phát triểngiao thông vận tải sẽ giải quyết được những vấn đề trên và tạo điều kiệncho CNCBNS và DVNN phát triển, gắn chặt và tác động vào sản xuất nôngnghiệp một cách tốt hơn
Điện là yếu tố không thể thiếu được để cung cấp năng lượng chocác nhà máy chế biến nông sản, trạm bơm nước, thắp sáng để bảo vệ vậtnuôi
Trang 35Có thể khẳng định rằng, hệ thống vận tải và điện là điều kiện cực kỳquan trọng để phát triển, nâng cao vai trò của CNCBNS và DVNN Pháttriển giao thông vận tải và điện sẽ kéo theo sự mọc lên nhanh chóng củacác thành phố, đô thị mới, các trung tâm sản xuất HH, các trung tâm buônbán, thị trấn, thị tứ tập trung dân cư làm phát triển các hệ thống DVNN,làm nảy sinh các cơ sở chế biến nông sản.
1.2.4 Đảm bảo và sử dụng có hiệu quả vốn cho phát triển CNCBNS và DVNN
Công nghiệp chế biến nông sản và DVNN muốn phát huy được vaitrò của mình, trước tiên CNCBNS và DVNN phải phát triển rộng rãi vàhiện đại Muốn phát triển CNCBNS và DVNN rộng rãi và hiện đại cần phải
có một khối lượng vốn rất lớn bao gồm:
- Vốn đầu tư xây dựng mới một số doanh nghiệp chế biến nông sản
để sản xuất những mặt hàng mà thị trường có nhu cầu lớn và xây dựng một
số cơ sở làm DVNN cần thiết
- Vốn đầu tư chiều sâu để đổi mới công nghệ, hiện đại hóa và đổimới thiết bị để có thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, có khảnăng cạnh tranh tốt trên thị trường quốc tế
- Vốn cho nghiên cứu phát triển bao gồm cả vốn cho xây dựng cơ
sở hạ tầng và cho vùng nguyên liệu
- Vốn lưu động để tiến hành sản xuất, kinh doanh Lượng vốn lưuđộng cần dùng cho CNCBNS và DVNN rất lớn do sản xuất NNHH mangtính mùa vụ, đòi hỏi phải tập trung thu hoạch, thu mua trong một thời gianngắn để tiêu thụ và cất giữ, chế biến dần trong khoảng thời gian dài
Lượng vốn đầu tư cho CNCBNS và DVNN huy động được nhiều hay
ít là tùy thuộc vào cơ chế huy động và sử dụng Trong quá trình huy động vốncần đa dạng hóa các nguồn vốn để đảm bảm vừa khai thác được đủ số vốncần thiết, vừa tạo được động lực bền vững cho sự phát triển của toàn ngành
Trang 36CNCBNS và DVNN nói chung cũng như từng đơn vị làm DVNN và chế biếnnông sản nói riêng khi có vốn phải biết quản lý và sử dụng cho có hiệu quả.
Khi vốn cho phát triển CNCBNS và DVNN được đảm bảo và sửdụng có hiệu quả sẽ làm cho CNCBNS và DVNN phát triển rộng rãi và tácđộng mạnh vào sản xuất NNHH phát triển
1.2.5 Phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng các vùng nguyên liệu ổn định, gắn chặt với CNCBNS và DVNN
Sản xuất NNHH muốn phát triển mạnh mẽ và lâu bền, trước tiên bảnthân NN phải phát huy nội lực bên trong của mình, tạo mầm mống cho cácngành khác dễ dàng tác động vào nhất là đối với sự tác động của CNCBNS
và DVNN, trước hết sản xuất NN phải là sản xuất HH, phải có nhu cầu lớn
về DV và có nguyên liệu cung cấp tương đối ổn định cho CNCBNS.Nguyên liệu là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình sản xuất của cơ
sở chế biến nông sản Đối với việc xây dựng và phát triển CNCBNS trướctiên phải căn cứ vào nguồn nguyên liệu để cung cấp cho nhà máy, nếu sảnxuất NN tự cung tự cấp, sản xuất nguyên liệu phân tán và không đảm bảo
về số lượng và chất lượng cũng không thể tiến hành xây dựng các nhà máyđược
Để CNCBNS và DVNN phát huy được vai trò của mình, CNCBNS
và DVNN phải phát triển theo hướng đa dạng hóa, hiện đại hóa, cần cónhiều cơ sở nguyên liệu trong nước có khả năng cung cấp với số lượng lớn,chủng loại phong phú, chất lượng cao Để đáp ứng yêu cầu của phát triểnCNCBNS và DVNN, việc phát triển cơ sở nguyên liệu đòi hỏi phải giảiquyết các vấn đề sau:
- Hình thành và phát triển vùng sản xuất NNHH, vùng sản xuấtnguyên liệu cho CNCBNS theo hướng tạo lập, củng cố và phát triển cácvùng nguyên liệu tập trung, chuyên canh với quy mô lớn, chất lượng cao
Trang 37Dựa vào vùng nguyên liệu nông sản HH đó để xây dựng các nhà máy chếbiến nông sản với quy mô thích hợp.
- Dựa trên cơ sở các vùng sản xuất NNHH, vùng sản xuất nguyênliệu tập trung mà xây dựng các cơ sở DVNN như: DV vốn, khoa học - kỹthuật, DV tiêu thụ sản phẩm, DV thông tin đồng thời phải xây dựng các
cơ sở hạ tầng cần thiết
- Việc xây dựng các vùng nguyên liệu phải đi đôi với việc xây dựngcác cơ sở chế biến nông sản và cơ sở làm DVNN, đồng thời phải đảm bảolợi ích hài hòa giữa ba lĩnh vực này
Khi sản xuất NN phát triển trở thành sản xuất NNHH và có vùngnguyên liệu tập trung sẽ làm cho CNCBNS và DVNN dễ dàng tác độngvào và sự tác động đó có hiệu quả hơn
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN VỀ VAI TRÒ CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VÀ DỊCH VỤ ĐỐI VỚI NỀN NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA
Sự tác động của CNCBNS và DVNN đối với sự phát triển nềnNNHH của các nước đã tiến hành từ lâu và bên cạnh những nét đặc thù thìvẫn theo những xu hướng chung nhất định Đồng thời cũng có nhiều kinhnghiệm đáng tham khảo Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước sẽ giúpcho chúng ta rút ra những bài học cần thiết để vận dụng vào việc nâng caovai trò của CNCBNS và DVNN một cách có hiệu quả
1.3.1 Kinh nghiệm của Việt Nam
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những nướcASEAN có nền NNHH khá phát triển, là một nước thiếu lương thực triềnmiên đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai của thế giới(sau Thái Lan)
Trang 38Việt Nam với hơn 70 triệu dân, có diện tích 330.363 km2, là mộtnước NN, với 80% dân số và khoảng 75% lực lượng lao động xã hội trựctiếp hoặc gián tiếp sống bằng sản xuất NN Việt Nam nằm trong khu vựcnhiệt đới gió mùa, đất đai và địa hình đa dạng nên sản xuất NN rất thuậnlợi có thể sản xuất quanh năm Ngoài những thuận lợi trên khí hậu nhiệt đớiViệt Nam cũng gây ra không ít những khó khăn như: lũ lụt, khô hạn, gióbão, sâu bệnh đã phát sinh làm thiệt hại không ít mùa màng Cộng vớinhững hậu quả của thời kỳ chiến tranh tàn phá nặng nề và do ảnh hưởngcủa cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kéo dài khá lâu đã làm cho nền kinh
tế Việt Nam phát triển trì trệ
Đến năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện công cuộcđổi mới toàn diện và sâu sắc, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấpchuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Do cuộcđổi mới đã làm cho nền kinh tế của Việt Nam phát triển nhanh chóng.Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Ban chấp hành Trungương Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định:
Tình hình lương thực - thực phẩm có chuyển biến tốt Từchỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988 còn nhập hơn 45 vạn tấn gạo,nay chúng ta đã vươn lên đáp ứng nhu cầu trong nước, có dự trữ
và xuất khẩu, góp phần quan trọng ổn định đời sống của nhândân và cải thiện cán cân xuất nhập khẩu Đó là kết quả tổng hợpcủa việc phát triển sản xuất, thực hiện chính sách khoán trongnông nghiệp, xóa bỏ chế độ bao cấp, tự do lưu thông và điều hòacung cấp lương thực - thực phẩm trên phạm vi cả nước [12, tr 18] Nền kinh tế Việt Nam đã tiếp tục tăng trưởng bền vững:
Trong thời kỳ 1991 - 1995 nhịp độ tăng trưởng GDP củaViệt Nam bình quân là 8,2%, một bước tăng trưởng khá ngoạn
Trang 39mục, khu vực công nghiệp tăng bình quân hàng năm 13, 3% khu vực nông nghiệp có tăng trưởng bình quân hàng năm 4,5%.Riêng sản lượng lương thực tăng 26% trong 5 năm tạo điều kiện
cơ bản để ổn định đời sống nhân dân, phát triển ngành nghề,chuyển dịch cơ cấu NN và kinh tế nông thôn Các ngành nuôitrồng và đánh bắt thủy, hải sản tăng khá mạnh, do đó kim ngạchxuất khẩu các sản phẩm của ngành này tăng gấp 3 lần trong thờigian từ 1990-1995 Sự tăng trưởng mạnh mẽ diễn ra trong khuvực dịch vụ, năm 1995 tăng 80% so với năm 1990 [28, tr 266].Sản xuất NN đã phát triển vượt bậc, trong hơn 10 năm từ năm
1989 đến 1999, sản xuất NN đã tăng trưởng liên tục với tốc độ khá cao, đạt4,3%/ năm và ngày càng đi vào thế tăng trưởng ổn định Sản xuất lươngthực tăng 4,8%/ năm từ 21,5 triệu tấn năm 1989 lên 33,8 triệu tấn năm
1999 Sản lượng thủy sản tăng 5%/ năm Sản lương các loại cây CN, câythực phẩm, cây ăn quả và sản phẩm chăn nuôi cũng tăng ở mức cao, chẳnghạn như cà phê tăng 11,5 lần, từ 40,8 ngàn tấn năm 1989 lên 470 ngàn tấnnăm 1999; cao su mủ khô tăng gấp 4 lần từ 50,6 ngàn tấn lên 205 ngàn tấn;sản lượng mía tăng gấp 3 lần, từ 5,4 triệu tấn năm 1990 lên 17 triệu tấnnăm 1999 [39, tr 21] Sự phát triển của sản xuất NN đã góp phần biếnViệt Nam từ một nước thiếu lương thực triền miên quanh năm (mỗi nămtrước 1989 phải nhập khẩu trên 1 triệu tấn lương thực quy gạo, an ninhlương thực phụ thuộc vào nước ngoài), trở thành cường quốc xuất khẩu gạothứ hai trên thế giới và nhiều mặt hàng nông sản đã trở thành hàng xuấtkhẩu với số lượng ngày càng tăng, thể hiện cụ thể trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Các s n ph m ch y u xu t kh u c a Vi t Nam ản phẩm chủ yếu xuất khẩu của Việt Nam ẩm chủ yếu xuất khẩu của Việt Nam ủ yếu xuất khẩu của Việt Nam ếu xuất khẩu của Việt Nam ất khẩu của Việt Nam ẩm chủ yếu xuất khẩu của Việt Nam ủ yếu xuất khẩu của Việt Nam ệt Nam
Trang 40- Việt Nam đã chuyển mạnh từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấpsang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhànước Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý kinh tế - xãhội Mở rộng dân chủ, đẩy mạnh phân cấp quản lý kinh tế Phát huy mọitiềm lực của các thành phần kinh tế vào trong việc nâng cao vai trò củaCNCBNS và DVNN đối với sản xuất NNHH, mọi thành phần kinh tế cóquyền bình đẳng trước pháp luật Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho cácthành phần kinh tế phát huy tính năng động sáng tạo của mình trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh Chuyển mạnh sang quản lý kinh tế - xã hội bằng
tổ chức; luật pháp; chính sách; chế độ; quy hoạch - kế hoạch; giáo dụcthuyết phục, thanh tra, kiểm tra và rất quan trọng là bằng cách công cụquản lý vĩ mô và sức mạnh kinh tế của Nhà nước
- Việt Nam coi phát triển CNCBNS và DV là một nội dung củacông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn
Công nghiệp hóa - quy luật của mọi quốc gia trong quá trìnhchuyển nền kinh tế từ sản xuất nhỏ, NN lạc hậu, kỹ thuật thủ công lên sảnxuất lớn CN hiện đại, kỹ thuật tiên tiến Hầu hết các nước trên thế giới đềubắt đầu công nghiệp hóa bằng phát triển CN chế biến trên nền tảng cácdoanh nghiệp chế biến cơ sở chế biến