Từ năm 1995 trở về trước ở nước ta, trong lý luận về kế toán, cũng như trong các văn bản pháp quy của Nhà nước ban hành và cả trong thực tiễn chỉ sử dụng duy nhất một khái niệm Kế toán để nói về hệ thống kế toán của doanh nghiệp. Khái niệm duy nhất này là do đặc trưng riêng có đối với một số nước có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Từ năm 1995 trở về trước ở nước ta, trong lý luận về kế toán, cũngnhư trong các văn bản pháp quy của Nhà nước ban hành và cả trong thực tiễnchỉ sử dụng duy nhất một khái niệm "Kế toán" để nói về hệ thống kế toán củadoanh nghiệp Khái niệm duy nhất này là do đặc trưng riêng có đối với một sốnước có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung Trong cơ chế mới hiện nay ởnước ta việc thay đổi cơ chế quản lý sang cơ chế thị trường thì việc cung cấpthông tin giữa doanh nghiệp với Nhà nước với các tổ chức, doanh nghiệpkhác và các trung tâm tài chính, các nhà cung cấp, các nhà đầu tư, khách hàng
và người lao động đòi hỏi kế toán không những phải cung cấp thông tin tổngquát tình hình sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhânbên ngoài doanh nghiệp mà còn phải cung cấp thông tin về chi phí, giá thành,doanh thu và kết quả trong doanh nghiệp hàng ngày về quản lý để lãnh đạodoanh nghiệp có thể kiểm tra, xác định và ra quyết định về giá cả, về đầu tư
và lựa chọn phương án sản xuất, quan hệ mua bán đảm bảo thế mạnh trong cơchế thị trường Vì vậy việc chia kế toán thành hai bộ phận: Kế toán tài chính
và Kế toán quản trị là một tất yếu khách quan
Kế toán quản trị là một tất yếu trong cơ chế thị trường.Việc xác địnhnội dung, phạm vi của nó ở nước ta đang được nhiều người quan tâm nghiêncứu xây dựng và hoàn thiện trên cả giác độ lý luận và thực tiễn
Kế toán quản trị nói chung, kế toán quản trị chi phí và giá thành trongcác doanh nghiệp sản xuất nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt đối với việcthiết lập hệ thống thông tin một cách chi tiết, tỷ mỷ, phục vụ cho việc điềuhành và quản lý trong nội bộ doanh nghiệp với nhiều nội dung và ứng dụngquan trọng đã được áp dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế thị trường pháttriển.Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, mà kế toán
Trang 2quản trị chi phí đặc biệt là KTQT chi phí sản xuất và giá thành vẫn còn lànhững vấn đề mới mẻ đối với các DNSX nước ta Chính vì vậy việc nghiêncứu nhằm xây dựng, thiết kế mô hình kế toán quản trị chi phí và giá thànhtrong các doanh nghiệp sản xuất là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn, tôi đã chọn đề tài "Tổ chức kế toán quản trị chi phí và giá thành trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Giới thiệu một số mô hình kế toán quản trị chi phí và giá thành tiêubiểu của một số nước trên thế giới
Về mặt thực tiễn
+ Thông qua nghiên cứu thực tiễn, đánh giá thực trạng nguyên nhânnhững vấn đề tồn tại trong việc tổ chức kế toán quản trị chi phí và giá thành ởcác doanh nghiệp sản xuất ở nước ta
+ Đề xuất các giải pháp chủ yếu để xây dựng, hoàn thiện kế toán quảntrị chi phí (chủ yếu là CPSX) và giá thành ở doanh nghiệp sản xuất hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất thuộc sở hữu nhà nước, từ đórút ra sự cần thiết cung cấp thông tin của kế toán quản trị
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung của kế toán quản trị và kế toánquản trị chi phí (chủ yếu là CPSX) và giá thành của doanh nghiệp sản xuất
Trang 3- Nghiên cứu thực trạng của kế toán quản trị chi phí (chủ yếu làCPSX) và giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất.
- Xây dựng, hoàn thiện tổ chức hệ thống kế toán quản trị chi phí (chủyếu là CPSX) và giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất
4 Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,nghiên cứu các vấn đề một cách toàn diện, cụ thể, các mối quan hệ chung -riêng một cách lô gíc
- Dựa vào cơ sở lý luận của kinh tế chính trị học mácxít khi nghiêncứu tính quy luật của các hiện tượng, quá trình kinh tế trong quá trình tái sảnxuất xã hội và đặc điểm riêng của từng đối tượng
- Vận dụng các phương pháp cụ thể trong nghiên cứu như: Phân tổ,tổng hợp, phân tích, kiểm chứng
- Từ những vấn đề chung của kế toán quản trị, kế toán quản trị chi phí
và giá thành tiến hành phân tích so sánh, lựa chọn và rút ra những vấn đề tồn tại
- Thông qua khảo sát thực tế để đánh giá thực trạng và rút ra nhữngvấn đề tồn tại để đưa ra các giải pháp giải quyết
5 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận án chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị chi phí và
giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng về tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí và
giá thành ở các doanh nghiệp sản xuất hiện nay.
Chương 3: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí và giá thành trong các
doanh nghiệp sản xuất hiện nay.
Trang 4Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH
TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
Kế toán, trước hết và chủ yếu là một công cụ quản lý kinh tế tài chính
là "ngôn ngữ của kinh doanh" Các khái niệm, nguyên tắc, chuẩn mực vàphương pháp kế toán phát triển nhất và hoàn thiện nhất trong lĩnh vực sảnxuất và kinh doanh ở các doanh nghiệp Kế toán là công cụ để thu nhận, xử lý
và cung cấp thông tin kinh tế tài chính của doanh nghiệp, thông tin này cungcấp cho tất cả các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Kế toángiám sát các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị bằng những phương phápriêng
Kế toán doanh nghiệp là công cụ quản lý, điều hành và quản lý sảnxuất kinh doanh Căn cứ vào nội dung, phạm vi tính chất, mục đích cung cấpthông tin nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của các đối tượng, kế toán doanhnghiệp được chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị
1.1.1 Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị
Hiện nay, có nhiều quan điểm và quan niệm khác nhau về kế toánquản trị:
- Theo định nghĩa của Hiệp hội kế toán viên Hoa Kỳ thì kế toán quảntrị là: "Quy trình định dạng, đo lường, tổng hợp phân tích, lập báo biểu, giải trình
và thông đạt các số liệu tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá theodõi việc thực hiện trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp và để đảm bảo việc
sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này" [55, tr 261]
Trang 5Theo cuốn Từ điển thuật ngữ kế toán Mỹ thì kế toán quản trị đượcđịnh nghĩa như sau: "Kế toán quản trị là lĩnh vực kế toán liên quan đến việcthu thập và xử lý các thông tin kinh tế nhằm hỗ trợ những nhà quản lý trongviệc đưa ra các quyết định tài chính, đặc biệt trong việc hoạch định kế hoạch
và quản lý giá thành" [53, tr 98]
Hiện nay giữa các nước trên thế giới hai lĩnh vực kế toán tài chính và
kế toán quản trị có những cách gọi khác nhau như: Kế toán đại cương (Kếtoán tổng quát) và kế toán phân tích; kế toán cơ bản và kế toán nội bộ Nhưvậy có nhiều quan điểm khác nhau về kế toán quản trị, nhưng theo chúng tôiđứng trên góc độ tiếp cận về sử dụng thông tin của kế toán cho hoạt độngquản trị để ra các quyết định trong quản lý doanh nghiệp có thể định nghĩa kếtoán quản trị như sau:
Kế toán quản trị là hệ thống ghi chép, đo lường, thu thập, tổng hợp xử
lý và cung cấp thông tin về hoạt động của doanh nghiệp một cách cụ thể, phục vụ cho các nhà quản lý trong việc quản trị tài sản, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp.
Như vậy, có thể nói: Kế toán quản trị là loại kế toán dành cho nhữngngười làm công tác quản lý, nó được coi như một hệ thống trợ giúp cho cácnhà quản lý ra quyết định, là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trongdoanh nghiệp
Từ khái niệm trên có thể rút ra bản chất của kế toán quản trị:
- Kế toán quản trị chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tếtài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của doanh nghiệp Mục đíchcủa kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp
- Kế toán quản trị phục vụ chủ yếu cho việc quản trị tài sản, ra cácquyết định quản trị Kế toán quản trị không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấpthông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính thực sự phát sinh và hoàn thành
Trang 6mà còn cung cấp các thông tin phục vụ cho việc ra các quyết định tương laitrong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Kế toán quản trị là một bộ phận của kế toán doanh nghiệp nói chung
là công cụ quan trọng trong công tác quản lý nội bộ của doanh nghiệp
1.1.2 Chức năng của kế toán quản trị
Trách nhiệm của các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp là điềuhành và quản lý các mặt hoạt động của doanh nghiệp Các chức năng cơ bảncủa kế toán quản trị theo chúng tôi, đó là:
Chức năng quản trị tài sản:
Đối tượng của kế toán nói chung là tài sản và sự vận động của tài sản
đó trong doanh nghiệp Kế toán quản trị cũng phản ánh tài sản nhưng ở dạngchi tiết, tỷ mỷ từng loại tài sản, nhằm cung cấp thông tin hàng ngày về số hiện
có và tình hình biến động của từng chi tiết tài sản để điều hành và quản lýSXKD
Chức năng hoạch định:
Hoạch định là việc lập các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn của doanhnghiệp, là việc xây dựng các mục tiêu và vạch ra các bước thực hiện để đạtđược những mục tiêu đó Kế hoạch mà người quản lý đưa ra thường có dạng
dự toán để liên kết các mục tiêu và chỉ rõ cách huy động, sử dụng nguồn lực
để đạt được các mục tiêu đề ra
Chức năng tổ chức điều hành và quản lý doanh nghiệp:
Nhà quản trị trong quá trình điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạchphải biết liên kết tốt nhất giữa các yếu tố, tổ chức, con người và các nguồn lựcsao cho kế hoạch thực hiện tốt nhất Để thực hiện chức năng này nhà quản trị
có nhu cầu rất lớn về thông tin KTQT Chẳng hạn, nhà quản trị doanh nghiệpcần được kế toán cung cấp thông tin để ra quyết định trong quá trình điều
Trang 7hành, chỉ đạo hàng ngày các quyết định ngắn hạn (quyết định loại bỏ hoặctiếp tục duy trì kinh doanh một bộ phận nào đó; quyết định tự sản xuất haymua ngoài) Ngoài ra các quyết định dài hạn trong quá trình thực hiện các kếhoạch đầu tư dài hạn cũng cần phải có các thông tin cần thiết và đầy đủ
Chức năng kiểm tra, đánh giá:
Nhà quản lý sau khi lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện
kế hoạch, đòi hỏi phải kiểm tra và đánh giá thực hiện kế hoạch Phương phápthường dùng là so sánh số liệu thực hiện với số liệu của kế hoạch và dự toán,xác định những sai biệt giữa kết quả đạt được với các mục tiêu đã đề ra nhằmnhận diện những vấn đề còn tồn tại và cần có tác động của quản lý
1.1.3 Nội dung cơ bản của kế toán quản trị
Kế toán quản trị có nội dung và phạm vi khác với KTTC Xác địnhnội dung và phạm vi của KTQT cần xuất phát từ mục tiêu nhiệm vụ củaKTQT ở từng doanh nghiệp, yêu cầu kiểm soát, quản lý hoạt động SXKD vàchức năng của KTQT Theo chúng tôi có thể xác định nội dung cơ bản của kếtoán quản trị
- Theo nội dung các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp có thể khái quát kế toán quản trị doanh nghiệp, bao gồm:
+ Kế toán quản trị các yếu tố sản xuất kinh doanh (bao gồm: Hàng tồnkho, tài sản cố định, lao động tiền lương)
+ Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm dưới góc độkiểm soát chi phí, tìm các biện pháp quản lý chi phí có hiệu quả
+ Kế toán quản trị thu nhập, chi phí kinh doanh và xác định kết quảgắn liền với trách nhiệm của các bộ phận cá nhân trong nội bộ doanh nghiệp
+ Kế toán quản trị các hoạt động khác
Trang 8Trong các nội dung nêu trên thì trọng tâm của kế toán quản trị ở cácdoanh nghiệp là kế toán quản trị chi phí Vì vậy một số tác giả cho rằng kếtoán quản trị là kế toán chi phí.
- Theo quá trình kế toán quản trị trong mối quan hệ với chức năng quản lý kế toán doanh nghiệp bao gồm các khâu:
+ Chính thức hóa các mục tiêu của doanh nghiệp thành các chỉ tiêukinh tế
+ Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết
+ Thu thập, cung cấp thông tin về kết quả thực hiện các mục tiêu + Lập và phân tích các báo cáo KTQT, cung cấp các thông tin phục
vụ cho việc lập kế hoạch, dự toán chi phí, doanh thu theo yêu cầu quản trị của doanh nghiệp Như vậy thông tin của kế toán quản trị không chỉ là thôngtin quá khứ, thông tin thực hiện mà còn bao gồm các thông tin dự đoántương lai
- Nội dung cơ bản của kế toán quản trị chi phí và giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất
Kế toán quản trị CPSX và giá thành là một nội dung chủ yếu và quantrọng nhất trong KTQT doanh nghiệp Những nội dung cơ bản của nó là:
- Xác định các chỉ tiêu kinh tế trong quản lý CPSX và giá thành sảnphẩm, thực chất là xác định các loại chi phí và giá thành cần quản lý
- Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo nhiều tiêu thứckhác nhau để phục vụ cho yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
- Xác định đối tượng tập hợp CPSX và đối tượng tính giá thành phùhợp với đặc điểm tổ chức sản xuất và quản lý của doanh nghiệp Tổ chức cácphương pháp tập hợp và phân bổ chi phí vận dụng các phương pháp tính giáthành sản phẩm
Trang 9- Tổ chức thu thập thông tin: Bao gồm thu thập thông tin thực hiện vàthông tin tương lai.
+ Thông tin thực hiện: Tổ chức công tác hạch toán ban đầu, vận dụng
hệ thống chứng từ, vận dụng hệ thống tài khoản kế toán, tổ chức tập hợp vàphân bổ chi phí theo từng đối tượng cần tính giá đã xác định và vận dụng cácphương pháp tính giá thành sản phẩm thông qua tổ chức kế toán chi tiết chiphí sản xuất và giá thành
+ Tổ chức dự đoán thông tin tương lai: Lập dự toán chi phí (dự toánchi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuấtchung), cung cấp thông tin để lập kế hoạch về chi phí sản xuất và giá thành
- Tổ chức phân tích, cung cấp thông tin và tư vấn cho nhà quản trịtrong việc quản lý, kiểm soát chi phí và ra quyết định quản lý
- Tổ chức lập các báo cáo về CPSX và giá thành của doanh nghiệp
1.1.4 Phương pháp của kế toán quản trị
1.1.4.1 Đặc điểm vận dụng các phương pháp kế toán trong KTQT
Về nguyên tắc kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống kế toáncho nên nó cũng phải sử dụng các phương pháp kế toán nói chung như:Phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tài khoản kế toán, phương pháptính giá, phương pháp tổng hợp cân đối kế toán Tuy nhiên việc vận dụng cácphương pháp này có đặc điểm khác so với kế toán tài chính
Trang 10theo yêu cầu quản lý cụ thể theo các chỉ tiêu phục vụ trực tiếp cho việc thuthập, xử lý, và cung cấp thông tin nội bộ ở doanh nghiệp Việc kiểm tra, xử
lý, và luân chuyển chứng từ được xác lập theo cách riêng nhằm đảm bảo cungcấp các thông tin cụ thể nhanh chóng kịp thời và thích hợp với việc ra cácquyết định quản lý
Phương pháp tài khoản kế toán
Để có số liệu một cách chi tiết tỷ mỷ phục vụ quản trị nội bộ, kế toánquản trị phải sử dụng những tài khoản chi tiết đáp ứng yêu cầu quản lý từngchỉ tiêu cụ thể để mở các tài khoản cấp 2, cấp 3, cấp 4 và chi tiết các tài khoảntheo từng địa điểm phát sinh chi phí, từng loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụhoặc từng đơn đặt hàng
Phương pháp tính giá
Trong KTTC tính giá phải tuân thủ nguyên tắc, chuẩn mực quy địnhthống nhất của mỗi quốc gia Đối với KTQT việc tính giá tài sản mang tínhlinh hoạt cao hơn và gắn với mục đích sử dụng thông tin về giá theo yêu cầuquản trị doanh nghiệp Các dữ liệu để tính giá không chỉ căn cứ vào chi phíthực tế mà còn dựa vào các thông tin về chi phí thích hợp cho từng quyếtđịnh
Phương pháp tổng hợp cân đối kế toán
Các báo cáo kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp này.Trong kế toán quản trị là các bảng báo cáo bộ phận được lập ngắn hạn theocác chỉ tiêu tiền tệ, hiện vật và thời gian lao động, không những lập cho quákhứ mà còn lập cho tương lai (kế hoạch dự toán)
Các phương pháp khác sử dụng trong kế toán quản trị
Ngoài các phương pháp kế toán, KTQT còn sử dụng các phương phápkhác như: Phương pháp thống kê, phương pháp tổ chức sản xuất kinh doanh,
Trang 11phương pháp hạch toán nghiệp vụ kinh tế kỹ thuật và các phương pháp toán
để thu nhận được các thông tin chi tiết, cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý
1.1.4.2 Thiết kế các mẫu biểu cung cấp thông tin KTQT
Thông tin của kế toán quản trị chủ yếu nhằm phục vụ cho quá trình raquyết định của các nhà quản trị, các thông tin này thường không có sẵn dovậy kế toán quản trị phải vận dụng một số phương pháp nghiệp vụ để xử lýchúng thành dạng phù hợp Các phương pháp thường được sử dụng là:
Thiết kế thông tin thành dạng so sánh được
Thông tin sẽ vô dụng nếu thiếu các tiêu chuẩn so sánh với nó Từ các
số liệu thu thập được, KTQT sẽ phân tích và thiết kế chúng thành dạng có thể
so sánh được Chẳng hạn KTQT phải cung cấp các thông tin thực hiện để sosánh với kế hoạch, định mức hoặc dự toán chi phí, các giá phí, giá thành, mứclợi nhuận của các phương án đang được lựa chọn Quá trình quyết định của nhàquản trị phải dựa trên sự phân tích, so sánh này để đánh giá và ra quyết định
Thiết kế mẫu biểu phân loại chi phí theo các tiêu thức phân loại khác nhau nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho các yêu cầu quản trị kinh doanh ở doanh nghiệp
Các thông tin chi phí thích hợp cho từng loại quyết định là căn cứ đểphân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận, một trong những nộidung quan trọng khi xem xét quyết định về sản xuất kinh doanh
Trình bày mối quan hệ giữa các thông tin kế toán theo dạng phương trình
Dạng phương trình rất tiện dụng cho việc tính và dự đoán một số quátrình chưa xảy ra, căn cứ vào các dữ kiện đã có và mối quan hệ ràng buộcgiữa các biến số trong phương trình Phương pháp này là căn cứ để tính toánlập kế hoạch và phân tích dự báo trong kế toán quản trị
Trình bày các thông tin dưới dạng đồ thị
Trang 12Phương pháp này cũng được KTQT sử dụng khá thông dụng Đồ thị làcách thể hiện dễ thấy và rõ ràng nhất mối quan hệ và xu hướng biến thiênmang tính quy luật của các thông tin do kế toán quản trị cung cấp và xử lý.
1.1.5 Phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị
Kế toán tài chính và kế toán quản trị đều là những bộ phận của hệthống kế toán doanh nghiệp, giữa chúng có quan hệ mật thiết và có những sựgiống nhau và khác nhau cơ bản sau:
1.1.5.1 Những điểm giống nhau giữa KTTC và KTQT
Kế toán tài chính và kế toán quản trị đều nhằm vào việc phản ánh cáckết quả hoạt động kinh tế của doanh nghiệp và đều quan tâm đến tài sản, nợphải trả, chi phí, thu nhập, kết quả và quá trình lưu chuyển tiền tệ của doanhnghiệp Một bên phản ánh tổng quát, một bên phản ánh chi tiết tỷ mỷ của cácvấn đề đó
- Kế toán tài chính và kế toán quản trị đều dựa trên hệ thống ghi chépban đầu của kế toán Từ hệ thống ban đầu này là cơ sở để kế toán tài chínhsoạn thảo các báo cáo tài chính định kỳ cung cấp cho các đối tượng ở bênngoài Kế toán quản trị cũng dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu để vận dụng,
xử lý nhằm cung cấp các thông tin thích hợp cho việc ra quyết định của cácnhà quản trị Kế toán quản trị sử dụng rộng rãi số liệu ghi chép hàng ngày của
kế toán tài chính có khai triển nhằm tăng thêm nội dung của các thông tin đó
- Kế toán tài chính và kế toán quản trị đều biểu hiện trách nhiệm quản
lý, kế toán tài chính biểu hiện trách nhiệm của người quản lý cấp cao toàndoanh nghiệp Còn kế toán quản trị biểu hiện trách nhiệm của các nhà quản lýcác cấp bên trong nội bộ doanh nghiệp
1.1.5.2 Sự khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
Hai loại kế toán này có rất nhiều sự khác nhau dựa trên các căn cứphân biệt sau đây:
Trang 13Một là: Đối tượng sử dụng thông tin
Đối tượng sử dụng thông tin của kế toán tài chính chủ yếu là nhữngngười ở bên ngoài doanh nghiệp như các nhà đầu tư, cho vay, khách hàng,nhà cung cấp, các cơ quan chính phủ như: thuế, cơ quan quản lý tài chính.Còn kế toán quản trị cung cấp thông tin cho các nhà quản trị bên trong doanhnghiệp như các chủ sở hữu, ban giám đốc, quản lý viên, giám sát viên, cácquản đốc Các nhà quản trị cần phải có được thông tin phục vụ việc ra cácquyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hai là: Nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin
Thông tin của kế toán tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩnmực và chế độ hiện hành về kế toán của từng quốc gia, kể cả các nguyên tắcchuẩn mực quốc tế về kế toán được các quốc gia công nhận Trái lại, trongnền kinh tế thị trường do yêu cầu phải nhạy bén và nắm bắt nhanh các cơ hộikinh doanh đa dạng nên thông tin của kế toán quản trị cần linh hoạt, nhanhchóng và thích hợp với từng quyết định cụ thể của người quản lý, không buộcphải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán chung, các quy định của nhànước về kế toán quản trị (nếu có) cũng chỉ mang tính chất hướng dẫn
Ba là: Tính pháp lý của kế toán
Kế toán tài chính có tính pháp lệnh phải tuân thủ theo các nguyên tắc
và chuẩn mực kế toán được thừa nhận Các sổ kế toán, các báo cáo tài chínhphải được lập theo chế độ thống nhất bắt buộc Kế toán quản trị mang tính nội
bộ, thuộc thẩm quyền của từng doanh nghiệp tùy theo yêu cầu quản lý, điềukiện và khả năng, đặc thù quản lý cụ thể từng doanh nghiệp
Bốn là: Đặc điểm thông tin
+ Thông tin của kế toán tài chính chủ yếu dưới hình thái giá trị Cònthông tin của kế toán quản trị được biểu hiện cả hình thái giá trị, hiện vật và
cả thời gian lao động
Trang 14+ Thông tin của KTTC là những thông tin quá khứ, đã được thực hiện.Trong khi đó thông tin của kế toán quản trị chủ yếu đặt trọng tâm cho tươnglai trong việc lựa chọn các phương án, đề án hoặc sự kiện chưa xảy ra.
+ Thông tin của kế toán tài chính chủ yếu là thông tin kế toán thuầntúy được thu thập từ các chứng từ ban đầu của kế toán Trong kế toán quản trịthông tin được thu thập nhằm phục vụ cho chức năng ra quyết định quản lýthường không có sẵn cho nên ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầucòn phải kết hợp với nhiều ngành khoa học khác để tổng hợp phân tích và xử
lý thông tin thành dạng có thể sử dụng được
Năm là: Phạm vi và kỳ báo cáo
Báo cáo của KTTC phản ánh tình hình chung của doanh nghiệp đượcsoạn thảo theo định kỳ thường là quý, năm (Bảng CĐKT, Báo cáo KQHĐKD,Báo cáo LCTT và TMBCTC) Còn báo cáo của kế toán quản trị phản ánhtừng mặt cụ thể, từng bộ phận, từng khâu hoạt động của doanh nghiệp vàđược soạn thảo một cách thường xuyên theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp(Báo cáo CPSX và giá thành, Báo cáo chi phí theo các khoản mục cụ thể, Báocáo tình thực hiện các định mức kinh tế kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh)
1.1.6 Kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết trong mối quan hệ với kế toán tài chính và kế toán quản trị
Tùy thuộc vào mức độ tổng hợp hay chi tiết của việc ghi chép phảnánh các đối tượng kế toán vào các tài khoản kế toán cũng như yêu cầu quản lý
cụ thể, kế toán được chia thành kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết
Trang 15nguyên vật liệu, tình hình tăng giảm tài sản cố định, tình hình thanh toán vớingười mua và người bán.
Kế toán chi tiết
Là việc ghi chép, phản ánh một cách chi tiết tỷ mỷ, cụ thể các đốitượng, các nghiệp vụ cần quản lý đối với các đối tượng của kế toán đã được
kế toán tổng hợp phản ánh Kế toán chi tiết sử dụng cả 3 loại thước đo: hiệnvật, lao động và giá trị, sử dụng chi tiết các tài khoản cấp 3, cấp 4, và các sổchi tiết Hai loại kế toán tổng hợp và chi tiết phải tiến hành đồng thời với nhau
và theo nguyên tắc là tổng số phát sinh ở kế toán tổng hợp phải bằng tổng sốphát sinh ở kế toán chi tiết
Kế toán tổng hợp và kế toán tài chính
Kế toán tổng hợp là một bộ phận của kế toán tài chính, nhằm trình bàycác số liệu báo cáo mang tính tổng hợp về tình hình tài sản, vốn, nợ, doanhthu, chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh trong một kỳ kế toán vào một thờiđiểm nhất định
Kế toán chi tiết và kế toán tài chính
Kế toán chi tiết cũng là một bộ phận của kế toán tài chính, nhằmchứng minh các số liệu ghi trong các tài khoản tổng hợp, các sổ kế toán tổnghợp là đúng trong quá trình ghi chép và lập báo cáo tài chính Thuật ngữthông thường gọi là đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết
Mối quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán chi tiết
Tính đồng nhất và khả năng liên hệ, so sánh giữa kế toán quản trị và
kế toán chi tiết Nhìn chung kế toán quản trị sử dụng phổ biến số liệu của kếtoán chi tiết trên các báo cáo, ngoài ra còn phải sử dụng các phương phápkhác để thu thập, xử lý và cung cấp thông tin trong quá trình ra quyết địnhnhư phương pháp thống kê, toán, phân tích
Trang 161.2 KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.2.1 Bản chất của chi phí sản xuất
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp cóthể khái quát bằng các giai đoạn cơ bản, có mối quan hệ mật thiết sau đây:
- Quá trình mua sắm, chuẩn bị, dự trữ các yếu tố đầu vào của quá trìnhsản xuất kinh doanh như đối tượng lao động, tư liệu lao động và lao động
- Quá trình vận động, biến đổi nội tại các yếu tố đầu vào một cách có
Để tiến hành hoạt động sản xuất cần thiết phải có ba yếu tố cơ bản, đólà: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động của con người Sựtham gia của từng yếu tố vào quá trình hoạt động sản xuất có sự khác nhauhình thành nên các hao phí tương ứng: Hao phí về đối tượng lao động, hao phí
về khấu hao tư liệu lao động hình thành nên hao phí về lao động vật hóa, chiphí về tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động và những khoản chiphí khác gắn liền với người lao động hình thành nên chi phí về lao động sống.Trong nền sản xuất hàng hóa các hao phí trên được biểu hiện bằng tiền gọi làchi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.
Trang 17Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp liên quan đến việc sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm.Vì vậy, chỉ những chi phí có liên quan đến việc sảnxuất chế tạo sản phẩm (hoặc lao vụ, dịch vụ) mới được gọi là chi phí sản xuất
Vì vậy: Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ dịch vụ trong thời kỳ nhất định
Chi phí sản xuất luôn biểu hiện ở hai mặt định tính và định lượng
- Mặt định tính của chi phí sản xuất được biểu hiện là các chi phí màdoanh nghiệp đã chi ra để sản xuất bằng tiền hay hiện vật
- Mặt định lượng của chi phí sản xuất thể hiện ở mức độ tiêu hao cụthể của từng loại chi phí tham gia vào quá trình sản xuất để cấu tạo nên sảnphẩm (lao vụ dịch vụ) của doanh nghiệp và được biểu hiện bằng tiền Độ lớncủa chi phí phụ thuộc vào hai nhân tố: khối lượng lao động, tư liệu lao độngđối tượng lao động tiêu hao và giá cả của tư liệu lao động, đối tương lao động,tiền lương của một đơn vị
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp kinh doanh với mụcđích là lợi nhuận Xác định đúng đắn và khách quan bản chất kinh tế của chiphí và chi phí sản xuất giúp cho các doanh nghiệp có cơ sở lý luận vững vàngtrong quản lý và sử dụng chi phí Kế toán là công cụ quản lý kinh tế, được cácdoanh nghiệp sử dụng theo các yêu cầu khác nhau Kế toán quản trị giúp chocác doanh nghiệp: Phân tích, đánh giá và xác định chi phí theo nhiều phươngpháp, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dưới góc độ kiểmsoát chi phí, tìm biện pháp quản lý chi phí có hiệu quả, tính toán được kết quảcủa từng sản phẩm, kiểm soát được toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất
Trang 18Chi phí sản xuất của các doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dungkinh tế, công dụng kinh tế và yêu cầu quản lý khác nhau Để phục vụ chocông tác quản trị, chi phí cần phải phân loại theo các tiêu thức khác nhau.
1.2.2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế
- Đặc điểm của cách phân loại này là căn cứ vào tính chất, nội dungkinh tế và hình thái nguyên thủy ban đầu của chi phí để tập hợp sắp xếpnhững chi phí có cùng tính chất, nội dung vào một yếu tố chi phí mà khôngphân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu và nơi nào chịu chi phí
- Theo cách phân này toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp đượcchia thành năm yếu tố sau:
+ Chi phí vật liệu: Đó là toàn bộ chi phí về: Vật liệu chính (kể cả nửathành phẩm) mua ngoài; chi phí vật liệu phụ mua ngoài; phụ tùng thay thếmua ngoài; công cụ dụng cụ mua ngoài xuất dùng cho sản xuất chế tạo sảnphẩm trong doanh nghiệp
+ Chi phí nhân công: Bao gồm chi phí về tiền lương phải trả cho côngnhân sản xuất, nhân viên quản lý phân xưởng, các khoản trích theo tiền lương
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Đó là chi phí khấu hao TSCĐ trong lĩnhvực sản xuất như máy móc thiết bị sản xuất, các tài sản cố định khác dùngchung ở phân xưởng, bộ phận khác của toàn doanh nghiệp
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Đó là những chi phí trả cho các đơn vịbên ngoài về các lao vụ, dịch vụ mà các đơn vị này cung cấp cho doanhnghiệp phục vụ cho sản xuất
+ Chi phí bằng tiền khác: Là các chi phí ngoài các khoản chi phí đãghi ở các yếu tố trên
- Tác dụng: Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế có tácdụng cho biết những chi phí nào đã dùng vào quá trình sản xuất sản phẩm và
tỷ trọng của từng loại đó chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong tổng số chi phí sản xuất
Trang 19Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xây dựng định mức vốnlưu động, nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp, trong việc lập các dự toánchi phí sản xuất và kiểm tra các dự toán đó trong quá trình sản xuất Phân loạichi phí theo tính chất kinh tế còn là tài liệu quan trọng dùng làm căn cứ để xácđịnh định mức tiêu hao vật chất và tính thu nhập quốc dân theo từng ngành.Ngoài ra còn là căn cứ để lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố.
1.2.2.2 Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế
Đặc điểm của cách phân loại này là căn cứ vào công dụng kinh tế củachi phí, mục đích sử dụng của chi phí, nơi phát sinh và nơi chịu chi phí để sắpxếp những chi phí có cùng công dụng vào một khoản mục Theo chế độ kếtoán tài chính hiện hành thì toàn bộ chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm đượcchia làm ba khoản mục sau đây:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: đó là toàn bộ chi phí về nguyên vậtliệu chính (kể cả nửa thành phẩm), vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thếxuất dùng trực tiếp để sản xuất sản phẩm
- Chi phí nhân công trực tiếp: Đó là các chi phí về tiền lương, tiềncông phải trả, các khoản bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tếtrích theo tiền lương, tiền công của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm
- Chi phí sản xuất chung: Đó là các chi phí liên quan đến việc tổ chứcsản xuất và quản lý sản xuất trong phạm vi một phân xưởng (đội, bộ phận).Chi phí sản xuất chung theo qui định hiện nay bao gồm các nội dung:
+ Chi phí nhân viên: Phản ánh các chi phí trả cho các nhân viên phânxưởng về tiền lương, tiền công các khoản phụ cấp, trích BHXH, BHYT, kinhphí công đoàn như quản đốc, nhân viên kế toán thống kê, thủ kho, công nhânvận chuyển, sửa chữa tại phân xưởng
Trang 20+ Chi phí vật liệu: Phản ánh chi phí vật liệu sử dụng chung như vậtliệu để sửa chữa, bảo quản TSCĐ, vật liệu sử dụng ở văn phòng và vật liệudùng chung ở phân xưởng khác.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: Phản ánh chi phí công cụ dụng cụ dùngchung ở phân xưởng: như khuôn mẫu, dụng cụ gá lắp, dụng cụ cầm tay, bảo
hộ lao động, ván khuôn
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh toàn bộ số tiền trích khấu haoTSCĐ hữu hình, vô hình, thuê tài chính sử dụng ở phân xưởng như: khấu haomáy móc thiết bị sản xuất phương tiện vận tải, truyền dẫn, nhà xưởng, cây lâunăm, súc vật cơ bản, súc vật làm việc và nhà làm việc tại phân xưởng
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh những lao vụ dịch vụ mua từbên ngoài như điện, nước, chi phí sửa chữa tài sản cố định
+ Chi phí khác bằng tiền phản ánh những chi phí bằng tiền ngoàinhững chi phí đã nêu ở trên
Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế có tác dụng phục vụcho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức; Cung cấp số liệu chocông tác tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giáthành sản phẩm dịch vụ; Làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sảnxuất và lập kế hoạch giá thành sản phẩm kỳ sau
1.2.2.3 Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất vào các đối tượng chịu chi phí
- Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệpđược chia thành: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
+ Chi phí trực tiếp: là những chi phí sản xuất có liên quan trực tiếp vớimột đối tượng chịu chi phí (như một loại sản phẩm, một đơn đặt hàng, một
Trang 21giai đoạn công nghệ, một phân xưởng) Những chi phí này có thể căn cứ vào
số liệu từ các chứng từ gốc để ghi trực tiếp
+ Chi phí phân bổ gián tiếp: là những CPSX có liên quan đến nhiềuđối tượng chịu chi phí, do vậy cần phải tiến hành phân bổ các chi phí đó chocác đối tượng bằng phương pháp gián tiếp thông qua các tiêu chuẩn phân bổhợp lý Những chi phí này về phương diện kế toán chi phí gián tiếp không thểcăn cứ vào chứng từ gốc để ghi vào từng đối tượng mà phải tập hợp riêng sau
đó tính toán phân bổ
- Cách phân loại này có tác dụng trong việc xử lý các nghiệp vụ, kỹthuật hạch toán để xác định được phương pháp tập hợp CPSX vào các đối tượngcần tính giá phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
1.2.2.4 Phân loại chi phí sản xuất theo phương diện đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh
Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí của doanh nghiệp được chiathành: Chi phí ban đầu và chi phí luân chuyển nội bộ
- Chi phí ban đầu: Là những chi phí mà doanh nghiệp phải tự lo liệu
mua sắm chuẩn bị từ lúc đầu để tiến hành sản xuất kinh doanh, các chi phínày được chia làm các yếu tố:
+ Chi phí nguyên vật liệu
+ Chi phí nhân công
+ Chi phí khấu hao TSCĐ
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ Chi phí khác bằng tiền
Trang 22- Chi phí luân chuyển nội bộ: là các chi phí phát sinh trong quá trình
hợp tác và phân công lao động trong nội bộ doanh nghiệp, những chi phí này
- Chi phí sản phẩm: Là những chi phí gắn liền với quá trình sản xuất
sản phẩm (đối với doanh nghiệp sản xuất) hay quá trình mua hàng hóa về đểbán ra (đối với doanh nghiệp thương mại) Trong doanh nghiệp sản xuất chiphí sản phẩm bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân côngtrực tiếp và chi phí sản xuất chung Đây là những chi phí cấu thành nên giáthành sản xuất của sản phẩm
Nếu sản phẩm, hàng hóa chưa được bán ra thì chi phí sản phẩm sẽnằm trong giá thành (trị giá vốn) của hàng tồn kho trên Bảng cân đối kế toán.Nếu sản phẩm, hàng hóa được bán ra thì chi phí sản phẩm sẽ trở thành chi phícủa "giá vốn hàng bán" trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Chi phí thời kỳ: Là các chi phí để hoạt động kinh doanh trong kỳ,
những chi phí này gắn liền với doanh thu bán ra trong kỳ kế toán Nó khôngtạo nên giá trị của hàng tồn kho mà nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của
kỳ mà nó phát sinh Đây cũng là những chi phí cấu thành nên giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ Theo hệ thống kế toán hiện hành chi phí thời
kỳ bao gồm: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Như vậy: Chi phí thời kỳ của kỳ nào thì kết chuyển hết cho kỳ đó vàảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ mà chúng phát sinh (xem sơ đồ 1.1)
Trang 23Loại chi phí Bảng cân đối kế toán BC KQHĐKD
Nhập kho
Bán
Sơ đồ 1.1: Mô hình vận động của chi phí trong doanh nghiệp sản xuất 1.2.2.6 Phân loại chi phí sản xuất căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm và quá trình kinh doanh
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất kinh doanh bao gồm:
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất
dở dang
Th nh ành phẩm
Doanh thu thuần của
Lãi thuần
Trang 24- Chi phí cơ bản: Là các chi phí có liên quan trực tiếp đến quy trình
công nghệ sản xuất sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp; chi phínhân công trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm
- Chi phí quản lý và phục vụ: Là các chi phí dùng vào tổ chức, quản lý
và phục vụ sản xuất có tính chất chung Thuộc loại này có chi phí quản lý ởcác phân xưởng (đội, trại) sản xuất và chi phí quản lý doanh nghiệp
Cách phân loại này giúp các nhà quản trị doanh nghiệp xác định đượcphương hướng và các biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm Đốivới chi phí cơ bản là các chi phí liên quan trực tiếp đến quá trình công nghệsản xuất sản phẩm, thiếu chúng thì không thể sản xuất, chế tạo được sảnphẩm, vì vậy không thể cắt bỏ một loại chi phí cơ bản nào mà phải phấn đấugiảm thấp các định mức tiêu hao vật liệu, lao động, khấu hao hoặc cải tiếncông nghệ, hợp lý hoá sản xuất, tìm kiếm vật liệu thay thế v.v Ngược lại,đối với chi phí quản lý và phục vụ sản xuất cần phải triệt để tiết kiệm, hạn chế
và thậm chí loại trừ các chi phí không cần thiết, tăng cường quản lý chi phíquản lý và phục vụ sản xuất theo dự toán tiêu chuẩn và chế độ chi tiêu
1.2.2.7 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ của chi phí với khối lượng hoạt động
Trường hợp này chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành: Chi phíbiến đổi, chi phí cố định và chi phí hỗn hợp
Chi phí biến đổi (biến phí)
Biến phí là các chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ thuận với sự thay đổicủa khối lượng hoạt động (mức độ hoạt động, số lượng sản phẩm hoàn thành,
số giờ máy hoạt động )
Về phương diện lý thuyết, sự biến động của chi phí trong mối quan hệvới khối lượng hoạt động có thể xẩy ra ba trường hợp, tương ứng sẽ có có baloại chi phí biến đổi sau đây:
Trang 25+ Tổng biến phí tỷ lệ thuận trực tiếp với khối lượng hoạt động thựchiện, còn biến phí trung bình của một đơn vị khối lượng hoạt động thì khôngthay đổi Biến phí trong trường hợp này gọi là biến phí tỷ lệ Thuộc loại này
có chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí khấuhao tài sản cố định theo sản lượng
+ Tổng biến phí tăng nhanh hơn tốc độ tăng khối lượng hoạt độngthực hiện, vì vậy biến phí trung bình một đơn vị khối lượng hoạt động cũngtăng lên Trường hợp này có thể được lý giải là khi cường độ lao động vượtquá giới hạn bình thường, hiệu lực của các yếu tố sản xuất sẽ giảm sút; hoặc
có sự gia tăng khối lượng sản xuất, đòi hỏi phải tăng nhiều hơn các CPSX
+ Tổng biến phí tăng chậm hơn khối lượng hoạt động và biến phítrung bình cho 1 đơn vị khối lượng hoạt động giảm xuống Hiện tượng nàyxảy ra khi khối lượng hoạt động gia tăng tạo nên các điều kiện để sử dụng cóhiệu quả hơn các yếu tố của quá trình sản xuất
Chi phí cố định (định phí)
Định phí là các chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi
về khối lượng hoạt động thực hiện Có 4 loại định phí sau:
+ Định phí tuyệt đối: là các chi phí mà tổng số không thay đổi khi có
sự thay đổi khối lượng hoạt động, còn định phí trung bình thì giảm đi
+ Định phí tương đối (còn gọi là định phí cấp bậc): Trong trường hợpkhả năng của các yếu tố sản xuất tiềm năng đã khai thác tối đa, muốn tăngđược khối lượng hoạt động cần phải bổ sung đầu tư các khả năng sản xuấttiềm tàng mới Trong trường hợp này, khối lượng sản xuất sản phẩm khôngphải là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến độ lớn của định phí mà quy mô sảnxuất cần thiết phải thay đổi khả năng, trữ lượng và năng lực sản xuất
+ Định phí bắt buộc: Là định phí không thể thay đổi được một cáchnhanh chóng vì chúng thường xuyên liên quan đến TSCĐ và cấu trúc tổ chức
cơ bản của một doanh nghiệp Định phí bắt buộc có bản chất sử dụng lâu dài,
Trang 26nên khi quyết định đầu tư vào tài sản cố định, các nhà quản trị cần cân nhắc
kỹ lưỡng vì khi đã quyết định thì doanh nghiệp buộc phải gắn chặt với quyếtđịnh đó trong một thời gian dài Mặt khác định phí bắt buộc không thể tùytiện cắt giảm, dù chỉ là một thời gian ngắn vì nó sẽ ảnh hưởng đến quá trìnhsinh lợi và mục đích lâu dài của doanh nghiệp
+ Định phí tùy ý (định phí không bắt buộc): là các định phí có thểđược thay đổi nhanh chóng bằng các quyết định của nhà quản trị doanhnghiệp (Ví dụ: chi phí quảng cáo, ) Các nhà quản trị quyết định mức độ và
số lượng định phí này trong các quyết định của mình
Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả yếu tố của địnhphí và biến phí (như chi phí điện thoại, fax, chi phí sửa chữa thường xuyên tàisản cố định) Nhằm phục vụ cho việc lập kế hoạch kiểm soát và chủ độngđiều tiết chi phí, các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải phân tích chi phí hỗnhợp thành định phí và biến phí Các phương pháp dùng để phân tích chi phíhỗn hợp là phương pháp cực đại, cực tiểu và phương pháp bình phương bénhất
Đây là cách phân loại đặc biệt quan trọng trong việc phục vụ cho cácnhà quản trị doanh nghiệp hoạch định, kiểm tra và ra quyết định.Cách phânloại này quan tâm tới cách ứng xử của chi phí mà dựa vào đó để nghiên cứumối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận Điều này có ý nghĩa trongviệc khai thác khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp, là cơ sở để ra các quyếtđịnh ngắn hạn nhằm tối đa hoá lợi nhuận Việc phân biệt định phí và biến phígiúp cho nhà quản trị xác định đúng phương hướng để nâng cao hiệu quả:
+ Đối với biến phí: Phương hướng chính là tiết kiệm tổng biến phí vàbiến phí đơn vị
Trang 27+ Đối với định phí: Cần phấn đấu để nâng cao hiệu lực của định phítrong sản xuất kinh doanh
1.2.2.8 Phân loại chi phí sản xuất theo thẩm quyền ra quyết định
Căn cứ vào thẩm quyền các cấp ra quyết định các chi phí sản xuấtđược chia thành chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
+ Chi phí kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là chi phí thuộcphạm vi, quyền hạn mà lãnh đạo cấp đó có thẩm quyền ra quyết định
+ Chi phí không kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là chi phí
mà cấp đó không có thẩm quyền chi phối ra quyết định
Việc phân biệt chi phí thành chi phí kiểm soát được và chi phí khôngkiểm soát được có ý nghĩa quan trọng trong việc báo cáo kết quả (lãi, lỗ) bộphận Về nguyên tắc, khi xác định kết quả từng bộ phận cá biệt trong doanhnghiệp chỉ tính đến các chi phí mà bộ phận đó có thể kiểm soát được
1.2.2.9 Các chi phí được sử dụng trong việc lựa chọn các phương án
Chi phí chênh lệch
Là những khoản chi phí có ở phương án này nhưng không có hoặc chỉ
có một phần ở phương án khác Chi phí chênh lệch là một trong các căn cứquan trọng để lựa chọn phương án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh
Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội là chi phí mà lợi ích bị mất đi do lựa chọn phương án(hoặc hành động) này thay vì chọn phương án (hoặc hành động) khác
Như vậy, ngoài các chi phí sản xuất đã được tập hợp, phản ảnh bằng
số liệu kế toán trước khi lựa chọn một phương án, các nhà quản trị còn phảixem xét chi phí cơ hội phát sinh do những yếu tố kinh doanh đó có thể sửdụng theo cách khác nhưng vẫn mang lại lợi nhuận cho họ
Trang 28 Chi phí chìm
Là loại chi phí mà doanh nghiệp sẽ và phải gánh chịu, bất kể đã lựachọn phương án (hoặc hành động) nào Chẳng hạn như chi phí khấu hao máymóc thiết bị là một chi phí chìm vì nó luôn tồn tại trong mọi phương án cóliên quan tới sản phẩm mà chiếc máy đó sản xuất ra
Như vậy chi phí này tồn tại ở mọi phương án nên không có tính chênhlệch và không phải xem xét đến khi so sánh, lựa chọn phương án tối ưu
Tóm lại: Tuy có nhiều cách phân loại chi phí đáp ứng yêu cầu sử dụngthông tin chi phí trong quản trị kinh doanh, song về mặt ghi chép kế toán chỉ
có thể ghi chép hệ thống hoá thông tin về chi phí theo một cách phân loại màthôi Vì vậy cần phải phân loại chi phí sản xuất để ghi chép kế toán, sao cho
từ số liệu kế toán có thể đáp ứng được các cách phân loại khác khi sử dụngthông tin của kế toán
1.2.3 Bản chất kinh tế của giá thành
Nói đến bản chất của giá thành tức là nói đến nội dung kinh tế chứađựng bên trong của chỉ tiêu giá thành Giá thành được cấu tạo bởi những gì vàvới cấu tạo đó thì giá thành chứa đựng những thông tin gì về hoạt động sảnxuất kinh doanh Hiện nay có một số quan điểm về giá thành sau đây:
- Theo quan điểm truyền thống: Giá thành là toàn bộ hao phí lao độngsống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra để sản xuất và tiêu thụmột đơn vị hoặc một khối lượng sản phẩm nhất định
Đây là quan điểm có tính chất cơ bản, phổ biến và mang tính chấtquan trọng suốt một thời gian dài trong lý luận về giá thành ở nước ta và đượccoi là quan điểm thống nhất về bản chất giá thành sản phẩm
- Quan điểm thứ hai cho rằng: Giá thành sản phẩm là toàn bộ các chiphí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bất kể nó nằm ở
bộ phận nào trong các bộ phận cấu thành giá trị sản phẩm Theo quan điểm
Trang 29này để tiếp cận với bản chất giá thành trước hết cần xem xét và giải quyết sựhình thành và phát sinh của các loại chi phí đó là: tổng chi phí cố định và tổngchi phí biến đổi Từ hai loại chi phí trên đưa ra khái niệm giá thành là tổng chiphí bất biến và chi phí khả biến tương ứng với mỗi mức sản lượng và được bùđắp bằng thu nhập bán hàng Nói cách khác là toàn bộ đầu vào của các yếu tốvật chất nhằm mục đích tạo ra những đầu ra tương ứng, không phân biệt nónằm trong bộ phận nào của các bộ phận thuộc giá trị sản phẩm.
- Quan điểm thứ ba cho rằng: Giá thành là biểu hiện mối quan hệtương quan giữa một bên là chi phí sản xuất và một bên là kết quả đạt đượctrong từng giai đoạn nhất định
Đây là quan điểm gắn liền với yêu cầu đánh giá chất lượng sản xuất ởtừng giai đoạn sản xuất hoặc bộ phận sản xuất mà ở đó có thể xác định lượngchi phí tiêu hao và kết quả sản xuất đạt được Quan điểm này không đi vàophân tích nội dung bên trong cấu thành nên giá thành sản phẩm mà đi tìm mộtđại lượng tương quan phục vụ kịp thời cho việc kiểm tra, phân tích và đánhgiá hiệu quả hoạt động theo yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ
Từ sự phân tích trên ta rút ra kết luận về mặt bản chất của giá thành như sau:
+ Bản chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố vật chất vào giá trị sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ.
+ Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường giá thành sản phẩm bao gồm các khoản hao phí vật chất thực tế cần được bù đắp ở từng công đoạn hình thành giá, biểu thị bằng chi phí cấu thành giá
+ Hạch toán giá thành chính là công việc tính toán, xác định sự chuyển dịch của các yếu tố vật chất tham gia vào khối lượng sản phẩm vừa thoát ra khỏi quá trình sản xuất và tiêu thụ nhằm thực hiện các chức năng của giá thành sản phẩm (chức năng bù đắp chi phí, chức năng lập giá và chức năng đòn bẩy kinh tế).
Trang 301.2.4 Các loại giá thành được sử dụng trong kế toán quản trị
1.2.4.1 Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán chi phí
Để phục vụ cho việc ra một quyết định cụ thể, chỉ tiêu giá thành có thểđược tính toán theo các phạm vi khác nhau và có các loại giá thành sau đây:
a) Giá thành sản xuất toàn bộ của sản phẩm
Là giá thành sản xuất của sản phẩm bao gồm các chi phí cố định vàchi phí biến đổi thuộc các khoản mục: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chiphí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung
Mô hình giá th nh s n xu t to n b ành ản xuất toàn bộ được mô tả theo sơ đồ 1.2 ất toàn bộ được mô tả theo sơ đồ 1.2 ành ộ được mô tả theo sơ đồ 1.2 được mô tả theo sơ đồ 1.2 c mô t theo s ản xuất toàn bộ được mô tả theo sơ đồ 1.2 ơ đồ 1.2 đồ 1.2 1.2
Biến phí gián tiếp Biến phí gián tiếp trong giá thành
Định phí
sản xuất
Định phí trực tiếp Định phí trực tiếp trong giá thành Định phí gián tiếp Định phí gián tiếp trong giá thành
Sơ đồ 1.2: Giá thành sản xuất toàn bộ của sản phẩm
Dựa vào giá thành sản xuất toàn bộ, doanh nghiệp có thể xác định đượckết quả của quá trình sản xuất sản phẩm Do bản chất của nó, giá thành sảnxuất đóng vai trò chủ yếu trong các quyết định mang tính chất chiến lược dàihạn: quyết định ngừng sản xuất hay tiếp tục sản xuất một loại sản phẩm nào
đó Vì vậy chỉ tiêu giá thành sản xuất có ý nghĩa quan trọng trong quản trịdoanh nghiệp Tuy nhiên nếu doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm khácnhau thì việc tính giá thành toàn bộ cho từng loại sản phẩm một cách thườngxuyên là khó thực hiện và mang lại ít lợi ích Trong giá thành sản xuất của sản
Trang 31phẩm, toàn bộ định phí tính hết vào giá thành sản xuất nên phương pháp xácđịnh giá thành toàn bộ được gọi là phương pháp định phí toàn bộ.
b) Giá thành sản xuất theo biến phí
Giá thành sản xuất theo biến phí là giá thành chỉ có toàn bộ biến phísản xuất bao gồm biến phí trực tiếp và gián tiếp Như vậy theo phương phápnày các chi phí sản xuất cố định (định phí) không tính vào giá thành mà đượctính ngay vào báo cáo kết quả kinh doanh như các chi phí thời kỳ Mô hìnhgiá thành sản xuất theo biến phí được mô tả theo sơ đồ 1.3
Sơ đồ 1.3: Giá thành sản xuất theo biến phí
Do giá thành sản xuất chỉ có biến phí sản xuất nên gọi là giá thành sảnxuất theo bộ phận Doanh nghiệp sẽ xác định lãi gộp trên biến phí (hay còngọi là phần đóng góp) và cho phép mô hình hoá một cách đơn giản mối quan
hệ giá thành, khối lượng, lợi nhuận
Sản phẩm được sản xuất
Sản phẩm tồn kho
Biến phí của sản phẩm
Lãi trên biến phí
Định phí sản xuất Chi phí thời kỳ
Kết quả
Trang 32+ Ưu điểm: Tính toán đơn giản nhanh chóng; là cơ sở để xác địnhđiểm hoà vốn; cung cấp số liệu cho các nhà quản trị ra quyết định ngắn hạn.
+ Nhược điểm: Những quyết định thường xuyên có thể ảnh hưởng dàihạn đến định phí; việc phân biệt định phí và biến phí chỉ là tương đối
c) Giá thành sản phẩm có phân bổ hợp lý chi phí cố định
Nội dung của giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý chi phí cố địnhbao gồm:
+ Toàn bộ biến phí sản xuất (trực tiếp, gián tiếp)
+ Phần định phí được phân bổ trên cơ sở mức hoạt động thực tế so vớimức hoạt động chuẩn (theo công suất thiết kế và định mức) Phần định phícòn lại gọi là chi phí hoạt động dưới công suất và được coi như chi phí thời
kỳ Có thể biểu diễn bằng sơ đồ 1.4
Tổng
định
mức
Sản phẩm chế tạo
Sản phẩm tồn kho
Giá th nh ành
sản phẩm
có phân bổ hợp lý chi phí
cố định
Định phí (CPTK)
Lợi nhuận
Mức độ hoạt động thực tế
Mức dưới công suất
Trang 33Sơ đồ 1.4: Giá thành có phân bổ hợp lý chi phí cố định
Chỉ tiêu giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý chi phí cố định khắcphục được nhược điểm của chỉ tiêu giá thành theo biến phí và được sử dụngtrong kiểm soát quản lý ở doanh nghiệp
d) Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ
Giá th nh to n b s n ph m tiêu th bao g m giá th nh s n xu tành ành ộ được mô tả theo sơ đồ 1.2 ản xuất toàn bộ được mô tả theo sơ đồ 1.2 ẩm tiêu thụ bao gồm giá thành sản xuất ụ bao gồm giá thành sản xuất ồ 1.2 ành ản xuất toàn bộ được mô tả theo sơ đồ 1.2 ất toàn bộ được mô tả theo sơ đồ 1.2
c ng v i chi phí bán h ng v chi phí qu n lý doanh nghi p, ộ được mô tả theo sơ đồ 1.2 ới chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, được phản ành ành ản xuất toàn bộ được mô tả theo sơ đồ 1.2 ệp, được phản được mô tả theo sơ đồ 1.2 c ph nản xuất toàn bộ được mô tả theo sơ đồ 1.2 ánh theo s ơ đồ 1.2 đồ 1.2 1.5
+
Chi phí quản
lý doanh nghiệp
Giá thành sản xuất theo biến phí + Định phí sản xuất Giá thành sản xuất có
phân bổ hợp lý chi phí
cố định
+ hoạt động Định phí dưới công suất
Sơ đồ 1.5: Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ
Chỉ tiêu giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ chỉ xác định khi sảnphẩm đã được tiêu thụ và được sử dụng để xác định kết quả tiêu thụ
1.2.4.2 Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành
Giá thành kế hoạch
Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch
và sản lượng kế hoạch.Việc tính toán giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạchcủa doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu quá trình sảnxuất, chế tạo sản phẩm Giá thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn
Trang 34đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích tình hình thực hiện kếhoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp.
Giá thành định mức
Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiệnhành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm, nó được tính trước khi tiến hành quátrình sản xuất, chế tạo sản phẩm Đây là một công cụ để doanh nghiệp có thểquản lý được định mức chi phí, xác định được kết quả sử dụng tài sản, vật tư,tiền vốn, đánh giá đúng những giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp
đã thực hiện
Giá thành thực tế
Giá thành thực tế của sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi phísản xuất và sản lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất trong kỳ Chỉ tiêu này chỉxác định được khi kết thúc quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm Giá thànhthực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu, là cơ sở để xácđịnh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.5 Đối tượng kế toán tập hợp CPSX và đối tượng tính giá thành
1.2.5.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
- Đối tượng kế toán tập hợp CPSX là phạm vi, giới hạn để tập hợp chiphí nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm
- Phạm vi, giới hạn để tập hợp chi phí sản xuất sản xuất có thể là:+ Nơi phát sinh chi phí: phân xưởng, đội trại sản xuất, bộ phận chứcnăng
+ Đối tượng chịu chi phí để tính giá: sản phẩm, công việc hoặc lao vụ
do doanh nghiệp đang sản xuất, công trình, hạng mục công trình, đơn đặt hàng
Trang 35Như vậy, thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
là xác định nơi các chi phí đã phát sinh và các đối tượng gánh chịu chi phí
- Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiênrất quan trọng trong toàn bộ tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phảidựa vào và cân nhắc hàng loạt các nhân tố sau:
+ Đặc điểm và công dụng của chi phí trong quá trình sản xuất
+ Đặc điểm cơ cấu tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
+ Quy trình công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm
+ Đặc điểm của sản phẩm (đặc tính kỹ thuật, đặc điểm sử dụng, đặcđiểm thương phẩm )
+ Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát chi phí và yêu cầu hạch toán kinh tế nội
bộ của doanh nghiệp
+ Yêu cầu tính giá thành theo các đối tượng tính giá thành
+ Khả năng, trình độ quản lý nói chung và hạch toán nói riêng
- Tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình của doanh nghiệp ở các ngành màđối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất có thể là:
Đối với ngành công nghiệp: Từng loại sản phẩm, công việc, nhóm sản
phẩm cùng loại, từng chi tiết, bộ phận sản phẩm, từng phân xưởng, bộ phận,giai đoạn công nghệ, từng đơn đặt hàng
Đối với ngành nông nghiệp: Từng loại cây trồng, con gia súc, từng
loại sản phẩm chế biến; từng nhóm cây trồng, nhóm gia súc chăn nuôi hoặcnhóm sản phẩm chế biến cùng loại
Đối với ngành xây dựng cơ bản: Từng công trình, hạng mục công trình,
từng phân xưởng sản xuất hay đội xây dựng
Trang 36- Xác định đúng đắn đối tượng kế toán tập hợp CPSX và tập hợpCPSX một cách kịp thời, chính xác theo đúng đối tượng đã xác định là cơ sở,tiền đề quan trọng để kiểm tra, kiểm soát quá trình chi phí, tăng cường tráchnhiệm vật chất đối với các bộ phận, đồng thời cung cấp số liệu cần thiết choviệc tính các chỉ tiêu giá thành theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp.
1.2.5.2 Đối tượng tính giá thành
- Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ dodoanh nghiệp sản xuất, chế tạo và thực hiện, cần tính được tổng giá thành vàgiá thành đơn vị
- Việc xác định đối tượng tính giá thành ở từng doanh nghiệp cụ thểcũng phải dựa vào rất nhiều nhân tố cụ thể:
+ Đặc điểm tổ chức sản xuất và cơ cấu sản xuất
+ Qui trình công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm
+ Đặc điểm sử dụng sản phẩm, nửa thành phẩm
+ Các yêu cầu quản lý, yêu cầu cung cấp thông tin cho việc ra cácquyết định trong doanh nghiệp
+ Khả năng và trình độ quản lý, hạch toán
1.2.5.3 Mối quan hệ giữa đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành
là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ rất mật thiết
Việc xác định hợp lý đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất làtiền đề, điều kiện để tính giá thành theo các đối tượng tính giá thành trongdoanh nghiệp Trong thực tế, một đối tượng kế toán tập hợp CPSX có thểtrùng với một đối tượng tính giá thành.Trong nhiều trường hợp khác, một đốitượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất lại bao gồm nhiều đối tượng tính giá
Trang 37thành sản phẩm Ngược lại, một đối tượng tính giá thành cũng có thể bao gồmnhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
Mối quan hệ giữa đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đốitượng tính giá thành ở một doanh nghiệp cụ thể sẽ quyết định việc lựa chọnphương pháp tính giá thành và kỹ thuật tính giá thành ở doanh nghiệp đó
1.2.6 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp CPSX là phương pháp hoặc hệ thống cácphương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các CPSX theo yếu tố vàkhoản mục trong phạm vi giới hạn của đối tượng tập hợp chi phí
1.2.6.1 Phương pháp tập hợp trực tiếp
Phương pháp tập hợp trực tiếp áp dụng với các chi phí có liên quantrực tiếp đến đối tượng kế toán tập hợp chi phí đã xác định và công tác hạchtoán, ghi chép ban đầu cho phép qui nạp trực tiếp các chi phí này vào từng đốitượng kế toán tập hợp chi phí có liên quan
1.2.6.2 Phương pháp phân bổ gián tiếp
Phương pháp phân bổ gián tiếp được áp dụng khi một loại chi phí cóliên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng cầntính giá, không thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng được Trường hợpnày phải lựa chọn tiêu chuẩn hợp lý để tiến hành phân bổ chi phí cho các đốitượng liên quan theo công thức sau:
xTi Ti
C
Ci n
1 i
Trang 38Ti: Tổng số đơn vị tiêu thức của các đối tượng để phân bổ
Ti: Số đơn vị tiêu thức phân bổ của đối tượng i
Đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ được lựa chọn tuỳ thuộcvào từng trường hợp cụ thể Độ tin cậy của thông tin về chi phí phụ thuộc vàotính hợp lý của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn
1.2.7 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.2.7.1 Kế toán chi phí vật liệu trực tiếp
- Trong kế toán quản trị, tài khoản 621 "Chi phí nguyên vật liệu trựctiếp" được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp CPSX đã xác định
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng để sản xuất sản phẩm phầnlớn là chi phí trực tiếp nên được tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng liênquan căn cứ vào các chứng từ xuất kho vật liệu và báo cáo sử dụng vật liệu ởtừng phân xưởng (đội, trại, địa điểm) sản xuất
- Trường hợp cần phải phân bổ gián tiếp, tiêu chuẩn phân bổ thường
sử dụng là:
+ Đối với chi phí nguyên liệu, vật liệu chính, nửa thành phẩm, có thểchọn tiêu chuẩn phân bổ là: chi phí định mức, chi phí kế hoạch, khối lượngsản phẩm sản xuất
+ Đối với chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu có thể chọn tiêu chuẩn phân
bổ là: chi phí định mức, chi phí kế hoạch, chi phí thực tế của nguyên liệu, vậtliệu chính, khối lượng sản phẩm sản xuất
1.2.7.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
- Trong KTQT, tài khoản 622 "Chi phí nhân công trực tiếp" được mởchi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã được xác định
- Chi phí nhân công trực tiếp thường được tính trực tiếp vào từng đốitượng chịu chi phí liên quan Trường hợp chi phí nhân công trực tiếp có liên
Trang 39quan đến nhiều đối tượng mà không hạch toán trực tiếp được (như tiền lươngphụ, các khoản phụ cấp, hoặc tiền lương theo thời gian của công nhân sản xuấtthực hiện nhiều công tác khác nhau trong ngày) thì được tập hợp chung, sau đóchọn tiêu thức thích hợp để tính toán phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí cóliên quan.
- Tiêu thức để phân bổ chi phí nhân công trực tiếp có thể là:
+ Chi phí tiền công định mức (hoặc kế hoạch)
+ Giờ công định mức
+ Giờ công thực tế
+ Khối lượng sản phẩm sản xuất
- Các khoản trích Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, kinh phí công đoànđược tính cho từng đối tượng căn cứ vào tỷ lệ tính theo quy định hiện hành và
số chi phí tiền lương đã tập hợp (hoặc trực tiếp, hoặc phân bổ gián tiếp) củatừng đối tượng
1.2.7.3 Kế toán chi phí sản xuất chung
Trong kế toán quản trị, tài khoản 627 "Chi phí sản xuất chung" được
mở và tập hợp theo từng địa điểm phát sinh chi phí (phân xưởng, đội, trại sảnxuất) và được mở theo nội dung của chi phí sản xuất chung
Trường hợp mỗi đơn vị, bộ phận sản xuất chỉ tiến hành sản xuất mộtloại sản phẩm, một loại công việc hay lao vụ nhất định, chi phí sản xuấtchung của bộ phận, đơn vị đó là chi phí trực tiếp và được kết chuyển trực tiếpcho loại sản phẩm, công việc hoặc lao vụ đó
- Nếu có nhiều loại sản phẩm, công việc hoặc lao vụ, chi phí sản xuấtchung của từng bộ phận, đơn vị được phân bổ cho các đối tượng liên quantheo tiêu thức phân bổ nhất định Có thể phân bổ chung theo tổng số chi phísản xuất chung phát sinh, cũng có thể phân bổ riêng theo từng khoản mục của
Trang 40chi phí sản xuất chung đã tập hợp trên các tài khoản cấp 2 của tài khoản 627 Chi phí sản xuất chung Tiêu thức sử dụng để phân bổ CPSX chung có thể là:
-+ Chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Tổng chi phí sản xuất cơ bản (bao gồm chi phí nhân công trực tiếp
và chi phí nguyên vật liệu trực tiếp)
+ Dự toán (hoặc định mức) chi phí sản xuất chung
Trong một hệ thống tính giá thành linh hoạt hơn, chi phí sản xuấtchung có thể được tính cho các đối tượng liên quan theo định mức, hay dựtoán Phần chênh lệch giữa mức thực tế và dự toán được điều chỉnh vào cuối
kỳ kế toán theo một phương pháp nhất định
1.2.8 Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang là khối lượng sản phẩm, công việc còn đang trongquá trình sản xuất, gia công, chế biến trên các giai đoạn của qui trình công nghệ
- Sản phẩm dở dang trong nông nghiệp là những sản phẩm chưa đến
kỳ thu hoạch, chưa đến thời điểm hoàn thành
- Sản phẩm dở dang trong ngành XDCB là những khối lượng xây lắp
dở dang chưa hoàn thành, chưa tính vào khối lượng bàn giao thanh toán
- Đánh giá sản phẩm dở dang là việc tính toán xác định phần chi phísản xuất mà sản phẩm dở dang cuối kỳ phải chịu
- Nghiệp vụ đánh giá SPDD mang nặng tính chất chủ quan Mức độchính xác của chỉ tiêu CPSX dở dang phụ thuộc vào hai vấn đề cơ bản là:
+ Việc kiểm kê số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ và đánh giá mức
độ hoàn thành của sản phẩm làm dở dang cuối kỳ