1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế tác ĐỘNG của NHÀ nước TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN KINH tế hộ NÔNG dân lên sản XUẤT HÀNG hóa ở TỈNH THÁI NGUYÊN

204 619 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian vừa qua, dưới tác động của cơ chế quản lý kinh tế mới sản xuất nông nghiệp nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc. Kinh tế hộ nông dân (KTHND) đang ngày càng giữ vai trò chính trong việc phát triển kinh tế xã hội (KTXH) nông thôn và là một trong những tiền đề quan trọng đưa đất nước ta chuyển sang một thời kỳ phát triển mới thời kỳ đẩy tới một bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời gian vừa qua, dưới tác động của cơ chế quản lý kinh tếmới sản xuất nông nghiệp nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc Kinh tế hộnông dân (KTHND) đang ngày càng giữ vai trò chính trong việc phát triểnkinh tế - xã hội (KT-XH) nông thôn và là một trong những tiền đề quantrọng đưa đất nước ta chuyển sang một thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩytới một bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước Quátrình phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng đi lên chủ nghĩa xãhội (CNXH) ở nước ta đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mới rất khác so vớicác quan niệm và cách làm cũ trong quản lý nhà nước đối với KTHND

Thái Nguyên là tỉnh miền núi, có nhiều tiểu vùng sinh thái khác nhau,

có đặc điểm riêng về lịch sử hình thành và quá trình vận động của KTHND, làmột trong những tỉnh có nhiều dân tộc của nước ta Cùng với sự phát triểnchung của cả nước, sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên đã có bướctiến bộ đáng kể, KTHND từng bước được khôi phục và đạt được nhữngthành tựu bước đầu trong quá trình chuyển lên sản xuất hàng hóa (SXHH)

Tuy nhiên, trong vấn đề này cũng đang đặt ra nhiều yêu cầu phứctạp và cấp bách Tình trạng kinh tế hộ manh mún, sản xuất mang tính tựcấp, tự túc là phổ biến; nông dân thiếu kiến thức, thiếu vốn; kết cấu hạ tầngvừa thiếu vừa lạc hậu, chính sách xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số

ở vùng cao, vùng sâu còn bất cập đang là những lực cản đối với việc pháttriển lên SXHH của KTHND ở nước ta cũng như tỉnh Thái Nguyên Vai tròcủa Nhà nước, chính quyền địa phương trong việc phát triển KTHND phảitiếp tục đổi mới và cần được nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống để tìm

ra những giải pháp thích hợp

Trang 2

Với mong muốn góp phần nghiên cứu để tìm ra các lời giải nhằm

phát triển KTHND ở Thái Nguyên, tác giả chọn đề tài: "Tác động của Nhà

nước trong quá trình chuyển kinh tế hộ nông dân lên sản xuất hàng hóa

ở tỉnh Thái Nguyên" làm đề tài nghiên cứu và viết luận án tiến sĩ chuyên

ngành kinh tế, quản lý và kế hoạch hóa kinh tế quốc dân

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về KTHND, vaitrò, vị trí của KTHND đối với nền kinh tế và những yếu tố ảnh hưởng cũngnhư xu hướng vận động của hình thức KTHND Chính phủ nhiều nước trênthế giới đã đề ra chính sách phù hợp, tạo môi trường cho KTHND pháttriển nhằm tạo tiền đề cho CNH, HĐH đất nước

Ngày nay, nhiều nhà khoa học trên thế giới nhất là ở các nước đangphát triển đã và đang tiếp tục nghiên cứu về KTHND trong nông nghiệp,nông thôn Ở nước ta, trong những năm gần đây có nhiều tác giả nghiêncứu và đã có công trình được công bố dưới hình thức in sách, đăng trên tạpchí, báo như:

- Tập thể các tác giả: "Phát triển kinh tế nông hộ theo hướng sản xuất hàng hóa", Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1993.

- PTS Nguyễn Hữu Đạt: "Đầu tư hỗ trợ của nhà nước cho nông dân phát triển kinh tế hộ gia đình", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995.

- PTS Chu Văn Vũ (chủ biên): "Kinh tế hộ trong nông thôn Việt Nam", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995.

- PTS Nguyễn Xuân Nguyên (chủ biên): "Khuynh hướng phân hóa

hộ nông dân trong phát triển sản xuất hàng hóa", Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 1995

- GS,VS Đào Thế Tuấn: "Kinh tế hộ gia đình nông dân", Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997

Trang 3

- PTS Vũ Tuấn Anh và PTS Trần Thị Vân Anh: "Kinh tế hộ - Lịch

sử và triển vọng phát triển", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997.

Nhiều luận văn thạc sĩ, luận án PTS, tiến sĩ nghiên cứu đề tài thuộclĩnh vực KTHND như: Luận án PTS Kinh tế của tác giả Vũ Văn Yên về

"Kinh tế hộ nông dân trong sự phát triển nền kinh tế hàng hóa ở nước ta"

hoàn thành năm 1993; Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Văn

Chiển về "Xu hướng phát triển kinh tế nông hộ trong kinh tế thị trường ở đồng bằng sông Cửu Long" bảo vệ năm 2000.

Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu ở các bộ, ngành và cấpnhà nước về nông nghiệp, nông thôn và KTHND

Các công trình nghiên cứu đã công bố đi sâu nghiên cứu vềKTHND ở nhiều vùng với các nội dung khác nhau Nhưng, trên địa bàntỉnh Thái Nguyên, đề tài về tác động của Nhà nước đối với KTHND vẫnđang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu Vì vậy, nghiêncứu, làm rõ vai trò của Nhà nước đối với sự vận động và phát triển củaKTHND ở địa bàn một tỉnh miền núi như Thái Nguyên nhằm tìm ra giảipháp thích hợp của Nhà nước để tác động phát triển KTHND lên SXHH là

cần thiết và có ích Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài: Tác động của Nhà nước trong quá trình chuyển kinh tế hộ nông dân lên sản xuất hàng hóa ở tỉnh Thái Nguyên, tác giả có tiếp thu, kế thừa các công trình khoa học

nêu trên và các công trình khoa học khác nhưng có nội dung độc lập

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Mục đích của luận án: góp phần hệ thống hóa về lý luận vai trò và

tác động của Nhà nước đối với KTHND trong quá trình chuyển lên SXHH.Trên cơ sở đó, nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới, hoànthiện các chính sách, biện pháp tác động của Nhà nước nhằm phát triểnKTHND ở tỉnh Thái Nguyên theo hướng SXHH

Trang 4

Nhiệm vụ của luận án:

- Nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề mới của lý luận về vai tròcủa các hộ nông dân (gọi tắt là nông hộ) trong lĩnh vực nông nghiệp, nềnkinh tế quốc dân và vai trò của Nhà nước trong quá trình phát triển KTHND

- Phân tích thực trạng và quá trình phát triển KTHND của tỉnhThái Nguyên

- Phân tích những tác động của Nhà nước và chính quyền địaphương trong quá trình phát triển KTHND ở tỉnh Thái Nguyên

- Trên cơ sở những phân tích trên, tác giả đề xuất phương hướng,giải pháp trên góc độ tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước nhằm tácđộng, hỗ trợ KTHND ở Thái Nguyên phát triển lên SXHH

4 Giới hạn của luận án

Do nhiều lý do như: tháng 1-1997, Quốc hội quyết định chia táchtỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn; năng lực nghiêncứu, điều kiện công tác còn hạn chế, vì vậy tác giả luận án xin phép nghiên

cứu đề tài trong giới hạn: Tác động của nhà nước trong quá trình chuyển kinh tế hộ nông dân lên sản xuất hàng hóa ở tỉnh Thái Nguyên.

Về thời gian: Tác giả luận án khảo sát, nghiên cứu sự vận động,

phát triển của KTHND của tỉnh Thái Nguyên chủ yếu trong giai đoạn đổimới, từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị tới nay, vì đây là khoảngthời gian Đảng và Nhà nước ta có nhiều chính sách làm cho KTHND đượcthừa nhận và phát triển; để làm rõ những vấn đề KTHND hiện nay ở TháiNguyên tác giả có đề cập đến những giai đoạn trước để so sánh và làm đốichứng

Về định hướng hoàn thiện tác động của Nhà nước đối với KTHND

ở tỉnh Thái Nguyên, thời gian chủ yếu xem xét đến năm 2010, phù hợp với

Trang 5

định hướng chiến lược và chính sách phát triển KT-XH của nước ta vàNghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVI (năm 2000).

Về không gian: Tác giả luận án tập trung khảo sát, nghiên cứu

KTHND và vai trò của Nhà nước ở địa bàn tỉnh Thái Nguyên; để làm rõKTHND của tỉnh, tác giả có tham khảo và đề cập đến KTHND trong khuvực và một số nội dung trên phạm vi toàn quốc

Về vấn đề nghiên cứu: Chủ đề của luận án chỉ nghiên cứu vai trò và

tác động của Nhà nước đối với sự phát triển của KTHND lên SXHH trênđịa bàn tỉnh Thái Nguyên trong tổng thể quá trình chuyển sang nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nướcta

5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Luận án được tác giả trình bày trên cơ sở của lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, đường lối củaĐảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết vàcác chủ trương, chính sách của Nhà nước; đồng thời tác giả tham khảo lýluận về KTHND và vai trò quản lý của Nhà nước đối với KTHND của một

số nhà khoa học trong nước và quốc tế

Tư liệu dùng nghiên cứu bao gồm: Những công trình nghiên cứu

của các nhà khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến KTHND và vaitrò của Nhà nước đối với kinh tế và KTHND Các báo cáo và niên giámthống kê của Chính phủ, các bộ, ngành, liên quan đến vấn đề nghiên cứu.Các báo cáo và tổng kết thực tiễn của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân(HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) và các sở, ban, ngành thuộc tỉnh TháiNguyên

Trang 6

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp luận trong tiếp cận các vấn

đề nghiên cứu là vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đườnglối của Đảng, chính sách của Nhà nước, kiến thức khoa học kinh tế hiệnđại, kinh nghiệm thực tiễn Các phương pháp cụ thể được tác giả sử dụngtrong quá trình nghiên cứu: Phân tích và tổng hợp, trừu tượng hóa, kết hợplôgíc và lịch sử, thống kê, tổng kết thực tiễn, đối chiếu so sánh để làm sáng

tỏ những vấn đề cần nghiên cứu

6 Đóng góp mới về khoa học của tác giả luận án

- Hệ thống hóa các quan điểm của các nhà khoa học về vị trí củanông hộ và KTHND trong quá trình phát triển KT-XH, vai trò của Nhànước đối với quá trình vận động, phát triển của KTHND

- Phân tích, làm rõ thực trạng của KTHND và vai trò của Nhà nước,chính quyền địa phương trong quá trình vận động phát triển của KTHND ởtỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất những giải pháp trong chính sách vĩ mô của Nhà nước vàcác giải pháp của chính quyền địa phương có tính khả thi nhằm đẩy mạnhphát triển KTHND theo hướng SXHH

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Phần mở đầu, ba chương, bảy tiết (mục), kết luận,danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 7

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC

TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN 1.1.1 Khái niệm về hộ và kinh tế hộ nông dân

Kinh tế hộ nói chung và KTHND nói riêng đã xuất hiện rất sớmtrong lịch sử và tồn tại qua nhiều phương thức sản xuất, nhiều chế độ xãhội Tuy nhiên, các khái niệm "gia đình", "hộ", "kinh tế hộ gia đình", vẫncòn những cách hiểu khác nhau Việc xác định đúng ranh giới của nhữngkhái niệm này sẽ là điều kiện để phân định phạm vi, nội dung nghiên cứu

và cách tiếp cận vấn đề Gia đình với tư cách là tế bào của xã hội đã tồn tạirất sớm trong lịch sử Cơ sở của gia đình là các mối quan hệ hôn nhân,huyết thống và thân tộc Hộ là một khái niệm đã tồn tại từ lâu và cũng đượccoi là một tế bào của xã hội nhưng không phải bao giờ cũng trùng khớp với

gia đình Khái niệm hộ thường tồn tại trong hệ thống hành chính - pháp lý, dùng để chỉ những người cùng sống chung dưới một mái nhà, có kinh tế chung Người ta thường đưa ra ba tiêu thức để phân biệt hộ và gia đình: 1-

Quan hệ hôn nhân, huyết thống và thân tộc 2- Cư trú chung 3- Có chung

cơ sở kinh tế Khái niệm gia đình được dựa trên tiêu thức thứ nhất, hai tiêuthức sau không bắt buộc phải có vì các thành viên trong gia đình khi đãtrưởng thành có thể sinh sống ở nhiều địa điểm khác nhau và họ thành lậpnhững gia đình mới độc lập về kinh tế nhưng vẫn được coi là người trongmột gia đình Khái niệm hộ có rất nhiều cách hiểu khác nhau Có người chorằng hộ bao gồm những người cùng sống dưới một mái nhà Khái niệm nàythường được dùng trong quản lý nhân khẩu Một số người khác lại cho

Trang 8

rằng, hộ là một đơn vị gồm những người sống chung và ăn chung Tổngcục Thống kê đã đưa ra khái niệm hộ làm căn cứ tiến hành cuộc tổng điều

tra dân số năm 1989 như sau: "Hộ gồm những người có quan hệ hôn nhân hoặc ruột thịt, hoặc nuôi dưỡng, có quỹ thu chi chung và cùng chung sống lâu dài" [2, tr 17] Đồng thời còn đưa ra khái niệm "hộ tập thể" gồm những

thành viên cùng làm việc ở một cơ quan, sống xa gia đình hoặc sống độcthân, không có quỹ thu chi chung Viện Kinh tế học thuộc Trung tâm Khoahọc xã hội và Nhân văn Quốc gia đã đưa ra bốn tiêu chí của một hộ là: 1-

Hộ là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc 2- Họcùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà 3- Có chungmột nguồn thu nhập và ăn chung 4- Cùng tiến hành sản xuất chung [83, tr.11] Như vậy có thể nói vẫn còn những cách hiểu khác nhau về hộ Thực tếcho thấy khái niệm hộ có những đặc điểm thay đổi theo thời gian Khi trình

độ phát triển của xã hội còn thấp, gia đình với kinh tế tự túc, tự cấp là nhân

tố cơ bản tạo nên hộ, việc cùng sống chung một mái nhà, cùng làm chung,

ăn chung là tất yếu Khi xã hội đã phát triển, các thành viên của hộ có thểkhông làm chung, ăn chung nữa nhưng vẫn cùng sống chung và chỉ gópmột phần thu nhập vào hoạt động chung của hộ Xã hội càng phát triển,tính độc lập của mỗi thành viên trong hộ càng cao, cho nên tiêu thức cơ bảnnhất để xác định hộ là sự cư trú chung

Ở Việt Nam có tới 54 dân tộc cư trú đan xen với nhau và có sự khácnhau giữa hộ ở một số dân tộc hoặc nhóm dân tộc Người Kinh chiếm 80%dân cư, sống chủ yếu ở vùng đồng bằng, ven biển, trung du với mô hình giađình truyền thống gồm ba thế hệ: ông bà, vợ chồng và con cái Khi con cáitrưởng thành, lập gia đình thì tùy theo điều kiện và khả năng kinh tế mà cóthể tách ra ở riêng thành một hộ độc lập Hầu hết các hộ người Kinh đềuchỉ gồm những người cùng huyết thống, có quan hệ thân tộc Vì vậy, tronglịch sử khái niệm hộ ở Việt Nam thường được hiểu đồng nghĩa với gia

Trang 9

đình, bao gồm những người trong gia đình cùng ăn chung, ở chung, cùnggóp chung những nguồn thu nhập và chi tiêu chung Tuy nhiên, trường hợpnhững gia đình giàu có trước đây có nuôi người làm công, những ngườinày cùng ăn, ở trong nhà chủ có khi suốt đời, thậm chí sang cả đời concháu họ, về thực chất họ là những nô lệ của gia đình giàu có Ngoài ra ởmột số hộ làm nghề thủ công có nuôi thợ học việc, trong một chừng mựcnhất định họ có kinh tế riêng, nhưng về cơ bản vẫn phụ thuộc vào "nồi cơmchung" của nhà chủ Trong quan niệm dân gian thì tất cả những người cùng

ở chung, ăn chung như vậy đều là người trong một nhà, đều là thành viêncủa gia đình Một số dân tộc sống ở miền núi phía Bắc như Thái, Mường,Mông quan hệ gia đình, dòng họ có những sắc thái riêng Dòng họ là mộtthiết chế xã hội nhưng lại có vai trò quyết định về kinh tế như: Đất đaithuộc sở hữu của dòng họ, trưởng họ đứng tên và phân chia cho các hộtrong dòng họ, các hộ có quyền sử dụng nhưng không có quyền sở hữu đấtđai, kinh tế gia đình phụ thuộc dòng họ Một số dân tộc sống ở TâyNguyên còn tồn dư chế độ mẫu hệ, hộ được hình thành theo huyết thốnglấy theo người phụ nữ cho nên khái niệm gia đình và hộ cũng có nhữngđiểm khác biệt Gia đình mẫu hệ ở Tây Nguyên mang đậm nét của phươngthức tổ chức KT-XH theo dạng công xã nguyên thủy Tuy nhiên, những

trường hợp trên chỉ là cá biệt, về cơ bản hộ ở Việt Nam được hiểu là một đơn vị mà trong đó các thành viên "ở chung, làm chung, ăn chung" Do sự

gắn bó và gần như đồng nhất giữa hộ và gia đình ở Việt Nam, nên kháiniệm hộ thường được dùng theo khái niệm kép "hộ - gia đình"

Kinh tế hộ gia đình cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Nhà nông

học A.V.Traianốp đã nói "Khái niệm hộ, đặc biệt trong đời sống nông thôn không phải bao giờ cũng tương đương với khái niệm sinh học làm chỗ dựa cho nó, mà nội dung còn có cả một loạt những phức tạp về đời sống kinh tế và đời sống gia đình" [60] Hộ và gia đình có những tiêu

Trang 10

thức chung để nghiên cứu như cơ sở kinh tế, quan hệ huyết thống và hônnhân, tình trạng cư trú Song, gia đình được xem xét trong mối tươngquan về xã hội, còn hộ là những đơn vị kinh tế nhỏ trong nền kinh tế Vìvậy, gia đình được coi là hộ khi các thành viên của nó có chung một cơ

sở kinh tế Ngược lại, hộ được coi là gia đình khi các thành viên của nó

có quan hệ huyết thống và hôn nhân Khi nói kinh tế hộ gia đình thì đó làkhái niệm biểu thị các thành viên của nó có chung huyết tộc và quan hệ

hôn nhân và có chung một cơ sở kinh tế Như vậy, kinh tế hộ gia đình

là mô hình kinh tế lấy gia đình làm đơn vị và tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu trên quy mô gia đình Kinh tế hộ gia đình bao gồm

nhiều loại hình như KTHND, kinh tế hộ tiểu thủ công nghiệp, kinh tế hộthương mại v.v Luận án tập trung vào nghiên cứu chủ yếu là KTHND.Kinh tế hộ nông dân đã xuất hiện và tồn tại từ lâu, song đến nay vẫn cònnhững cách hiểu khác nhau Có quan điểm cho rằng, KTHND là mộthình thức kinh tế phức tạp, xét từ các góc độ kinh tế - tổ chức, là sự kếthợp những ngành, những công việc khác nhau trong quy mô hộ gia đìnhnông dân Có ý kiến cho rằng KTHND bao gồm toàn bộ các khâu củaquá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng.Kinh tế hộ thể hiện ra thành các loại hộ hoạt động kinh tế trong nôngthôn như hộ nông nghiệp, hộ nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp, dịch vụ, thương mại Từ những phân tích trên, có thể nêu lên

quan niệm: Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế trong lĩnh

vực sản xuất nông nghiệp, dựa trên cơ sở sức lao động của gia đình là chính và quyền sử dụng hoặc sở hữu lâu dài phần ruộng đất mà hộ canh tác và các tư liệu sản xuất khác.

Trong các phương thức sản xuất trước tư bản chủ nghĩa (TBCN),KTHND đồng nghĩa với kinh tế nông dân cá thể của nền sản xuất tiểunông Nghiên cứu lịch sử phát triển kinh tế tiểu nông từ thấp đến cao, từ đơn

giản đến đa dạng, C Mác đã nhận xét về đặc điểm chung của nó: "Mỗi gia

Trang 11

đình nông dân (nông hộ) riêng lẻ, gần như tự túc hoàn toàn, tự mình sản xuất ra đại bộ phận những cái mình tiêu dùng Do đó họ kiếm cho mình những tư liệu sản xuất bằng cách trao đổi với thiên nhiên nhiều hơn là trao đổi với xã hội" [41, tr 207-208] Ph.Ăngghen lại cho rằng tiểu nông là:

Người chủ ruộng đất hoặc người tá điền và nhất là người chủ một mảnh ruộng không lớn hơn mảnh ruộng mà họ thường

có thể cày cấy với gia đình họ, cũng không bé hơn mảnh ruộng cần thiết để nuôi gia đình họ Cũng như người tiểu thủ công, người tiểu nông này là người lao động, anh ta khác người vô sản hiện đại ở chỗ anh ta sở hữu những tư liệu sản xuất [3, tr 11].

Trong những xã hội dựa trên sản xuất nhỏ bảo thủ, trì trệ như xã hộiphong kiến thì KTHND bị kìm hãm, vai trò của nó cũng bị giới hạn trongnhững bức tường tự cấp, tự túc đơn điệu Nhưng về bản chất, bản thânKTHND luôn năng động, có khả năng tiết kiệm, khai thác các tiềm năngmột cách có hiệu quả Vì vậy, bước đi tất yếu và tự phát của hộ tự cấp, tựtúc là tiến lên hộ hàng hóa giản đơn mà biểu hiện trước tiên của nó là từngbước đi vào chuyên môn hóa phát triển chăn nuôi, trồng trọt và ngànhnghề Nghiên cứu lịch sử phát triển KTHND, có thể thấy nó đã trải qua cáchình thái cơ bản sau:

- Nhóm kinh tế hộ sinh tồn: Đây là dạng phát triển rất thấp của kinh

tế hộ Họ sản xuất một vài nông sản chủ yếu để duy trì sự sống còn của giađình, còn lại phần chính là khai thác từ tự nhiên, họ có ít vốn, công cụ sảnxuất thô sơ, phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất lao động thấp Hiện nay, ởnước ta nhóm này vẫn còn tồn tại ở một số vùng dân tộc ít người, xa xôi,hẻo lánh, các vùng núi cao biệt lập với xã hội Thiếu lương thực, thựcphẩm, bệnh tật là nỗi lo lắng thường xuyên của họ

- Nhóm kinh tế hộ tự cấp, tự túc: Nhóm này gắn với nền nông nghiệp

sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán Đặc điểm của nhóm này là sản xuất để tự

Trang 12

cung cấp lương thực, thực phẩm và một số loại nông sản cần thiết khác đápứng yêu cầu tiêu dùng cho gia đình, ít tiếp xúc với thị trường Trong quátrình phát triển, nhóm hộ tự cấp, tự túc là bước phát triển cao hơn so vớinhóm hộ sinh tồn Hiện nay ở nước ta nhóm hộ này đang tồn tại ở rất nhiềunơi, đặc biệt là các tỉnh trung du, miền núi, với đặc điểm chung là bảo thủ,chậm phát triển.

- Nhóm hộ sản xuất hàng hóa nhỏ: Trong quá trình phát triển sản xuất,

nông hộ luôn muốn sản xuất hướng ra ngoài, một bộ phận nông dân làm ănkhá giả, ngoài phần tiêu dùng cho gia đình, còn để ra một ít sản phẩm đưa

ra thị trường Khi sản xuất cung đã vượt cầu, họ đem những sản phẩm thừatrao đổi trên thị trường và họ trở thành những hộ SXHH nhỏ Nếu các yếu tốkhách quan và chủ quan thuận lợi như: ruộng đất nhiều, giá nông sản cao, thờitiết thuận lợi, vốn nhiều, giao thông, tiêu thụ thuận lợi những hộ này có cơ hội

để trở thành những hộ SXHH lớn Ngược lại, nếu gặp rủi ro lại không cómột sự trợ giúp nào trong sản xuất, họ có thể trở lại nhóm hộ tự cấp, tự túc

- Nhóm hộ sản xuất hàng hóa lớn: Như trên đã đề cập, nếu gặp

thuận lợi nhóm hộ SXHH nhỏ sẽ phát triển thành nhóm hộ SXHH lớn,thành các trang trại gia đình Đây là trình độ phát triển cao của KTHND,song mỗi hộ vẫn độc lập, sử dụng chủ yếu lao động gia đình, thuê mướnnhân công ít hoặc thuê lao động thời vụ

Như vậy, sự vận động của kinh tế hộ nông dân đã trải qua các giaiđoạn từ thấp lên cao, từ sinh tồn đến tự cấp tự túc rồi tiến lên SXHH Xu

thế tiến lên SXHH là xu thế tất yếu của phát triển kinh tế hộ Nhưng dù ở

mức độ nào, KTHND cũng có những đặc điểm cơ bản sau:

- KTHND là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên

có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như về huyết thống

- Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất(TLSX) của nông hộ Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất Giải quyết

Trang 13

mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản củaKTHND.

- KTHND chủ yếu sử dụng lao động gia đình, việc thuê mướn laođộng mang tính chất thời vụ, không thường xuyên hoặc là thuê mướn chỉ là

để đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình

- Sản xuất của nông hộ là tập hợp các mục đích kinh tế của cácthành viên, các nhóm thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệthống sản xuất lớn hơn của cộng đồng KTHND là tế bào kinh tế của sảnxuất nông nghiệp, KTHND tất yếu có quan hệ với thị trường, song có thể ởnhững mức độ cao thấp khác nhau, không gắn chặt với thị trường, nếu tách

họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại

- KTHND vận động qua các giai đoạn từ thấp đến cao: từ sinhtồn đến tự cấp, tự túc lên SXHH Nhưng ngược lại nó cũng có thể tụthậu trở lại từ cao xuống thấp như từ hộ SXHH có thể thành hộ tự cấp tựtúc Đây là một nét rất đặc thù trong phát triển KTHND

Thực tế của sản xuất hiện nay vô cùng phong phú và vận động hếtsức mau lẹ, KTHND đang được nghiên cứu để định hướng phát triển, vấn

đề này sẽ còn gây nhiều tranh luận về mặt lý luận và thực tiễn ở nước ta

1.1.2 Vai trò của kinh tế hộ nông dân

1.1.2.1 Nhận thức về vai trò kinh tế hộ nông dân

Cơ sở kinh tế của KTHND là chế độ tư hữu nhỏ Thủ tiêu chế độ tưhữu là thủ tiêu KTHND và vai trò của nó Những năm 50 của thế kỷ XIX,người ta vẫn tưởng rằng, con đường phát triển nông nghiệp sẽ diễn ra nhưtrong công nghiệp Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp có hiệu quảđược xem là các điền trang theo kiểu TBCN, có thuê mướn công nhân.Cũng như sau này, các nước đi lên CNXH cũng chủ trương đưa ngay nông

Trang 14

nghiệp lên sản xuất lớn dựa trên chế độ công hữu, bỏ qua hình thức KTHND.Nghiên cứu sự ra đời của chủ nghĩa tư bản (CNTB) ở nước Anh thế kỷ XIX -một nước đã tiến hành cuộc cách mạng "đã dọn sạch" nông dân, địa chủ,quý tộc khỏi mặt đất để nhanh chóng hình thành các điền trang đại kỹ nghệ

TBCN C.Mác khi đó đã dự đoán rằng con đường phát triển của CNTB trong nông nghiệp sẽ diễn ra cùng kiểu như sự phát triển CNTB trong công nghiệp Nhưng, thực tiễn ở một số nước TBCN và ở ngay nước Anh, nơi đã

biến họ thành người vô sản làm thuê trong các đồn điền trang trại kinhdoanh theo lối TBCN, đã không diễn ra như dự đoán ban đầu của C.Mác.Các hình thức kinh tế hộ gia đình vẫn tồn tại và phát triển ngay bên cạnhcác xí nghiệp kinh doanh nông nghiệp theo phương thức TBCN Nông hộkhông sử dụng lao động làm thuê, chỉ sử dụng lao động gia đình vẫn tồn tạiphổ biến ở các nước TBCN và cung cấp đại bộ phận nông phẩm cho thịtrường với giá rẻ, có lãi hơn hẳn các đồn điền sử dụng lao động làm thuêtheo kiểu kinh doanh TBCN Trước thực tế đó, C.Mác thấy cần phải nhậnthức lại vai trò của nông hộ mà dự đoán ban đầu của ông tỏ ra không thíchhợp Vì vậy trong quyển III, bộ Tư bản, C.Mác đã viết:

Ngay cả nước Anh siêu công nghiệp cho đến nay đã khẳng định hình thức lãi nhất không phải là nông trại công nghiệp hóa mà là nông trại gia đình thực tế không sử dụng lao động làm thuê Ở những nước còn giữ hình thức tư hữu, chia đất thành khoảnh nhỏ, giá lúa mì rẻ hơn ở những nước có phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa [42, tr 190-635].

C.Mác còn cho rằng nông nghiệp hợp lý mâu thuẫn với phương thức kinh doanh TBCN

Đến những thập niên cuối thế kỷ XIX, khi bàn về nông dân châu

Âu, C.Mác, Ph.Ăngghen đã đề cập đến "nông hộ châu Âu", coi đó là mầm

Trang 15

mống phát triển các quan hệ kinh tế tư bản và hai ông cũng cho rằng nhờ tự

do khai thác nguồn lao động gia đình mà hộ có sức sống bền vững Tuynhiên, trong quá trình phát triển giữa các nông hộ có sự phân hóa làm xuấthiện những người làm công và người thuê lao động

Kế thừa và phát triển sâu sắc các quan điểm của C.Mác vàPh.Ăngghen, khi nghiên cứu CNTB ở nước Nga, V.I.Lênin đã chỉ ra rằng:

"Không thể phát triển nông nghiệp nước Nga theo con đường "đại điền trang kiểu Phổ" vì đó là kiểu phát triển kém hiệu quả mà phải là kiểu một chủ trại tự

do - nghĩa là mảnh đất được dọn sạch những tàn tích thời trung cổ Đó là kiểu Mỹ" [37, tr 182] Khi phân tích kết cấu xã hội nông dân nước Nga,

V.I.Lênin đã lưu ý rằng, hộ khai thác triệt để năng lực sản xuất để đáp ứngnhững nhu cầu đa dạng của gia đình và xã hội Dựa trên cơ sở tư liệu kinh tế

ở một số vùng, V.I.Lênin đã chứng minh, xu thế phát triển TBCN của nôngdân nước Nga và chỉ ra năng lực tự quyết định quá trình sản xuất của các

hộ trong nền kinh tế tự cung, tự cấp là mầm mống của những chiều hướngphát triển sản xuất hàng hóa khác nhau Chính nó sẽ tự phá vỡ các quan hệkinh tế khép kín của hộ dẫn đến phá vỡ kết cấu kinh tế công xã nông thôn.Song, nếu để tự nó sẽ là quá trình lâu dài, do vậy cần phải có sự tác động từbên ngoài Trong những năm đầu của chính quyền Xô viết, V.I.Lênin đãphác thảo những định hướng về cải tạo, phát triển sản xuất nông nghiệp ởnước Nga Xô viết V.I.Lênin rất coi trọng KTHND thể hiện trong "Cươnglĩnh ruộng đất" (lần thứ 2) "Bàn về chế độ hợp tác" đặc biệt là trong "Chínhsách kinh tế mới" Tuy nhiên, để đi đến những nhận thức khoa học đó, bảnthân Người đã từng trải qua thử nghiệm không thành công trong thời kỳ

"chính sách cộng sản thời chiến" với chủ trương nhanh chóng xóa bỏ hoàntoàn KTHND để tiến thẳng lên sản xuất lớn XHCN Chính sách đó đã làmcho tình hình KT-XH trở nên rối ren, bi đát Sản lượng nông nghiệp chỉbằng 50% trước chiến tranh, nông sản hàng hóa giảm 2,5 lần, khả năng

Trang 16

cung cấp nguyên vật liệu, việc ứng dụng các thành tựu khoa học mới vàosản xuất của các tổ chức kinh tế rất chậm trễ, kém hiệu quả Nhận thứcđược thực trạng đó, V.I Lênin khẳng định không thể một sớm một chiều cóthể nhanh chóng cải tạo nền nông nghiệp sản xuất nhỏ tiến thẳng lên

CNXH bằng con đường xã hội hóa trực tiếp, bằng lối "đánh trực diện" mà

phải bằng những bước đi trung gian, quá độ, gián tiếp, phù hợp với nông

dân, nông thôn, nông nghiệp nước Nga Người chỉ rõ: "Chúng ta có nhiệm

vụ phải làm tất cả những gì có thể làm được cho việc khuyến khích nền sản xuất tiểu nông" [38, tr 424] Trên cơ sở nhận thức đúng sự tồn tại và vai trò

của KTHND trong việc ổn định và phát triển KT-XH, V.I.Lênin cho rằng

"chưa nên xây dựng trực tiếp chủ nghĩa xã hội" mà cần phải chuyển sang chính sách kinh tế mới V.I.Lênin đã viết: "Chúng ta đang sửa chữa cả một chuỗi những sai lầm của chúng ta, chúng ta đang học tập xem nên tiếp tục công cuộc xây dựng cái tòa nhà xã hội chủ nghĩa trong một nước tiểu nông như thế nào mà không phạm những sai lầm ấy nữa" [39, tr 188] V.I.Lênin

nghiêm khắc phê phán việc cưỡng bức nông dân vào hợp tác xã (HTX),xóa bỏ triệt để tư hữu nhỏ bất chấp hiệu quả và nguyện vọng của nông dân

Người rất coi trọng lời căn dặn của Ph.Ăngghen: Cần phải để cho nông dân suy nghĩ trên mảnh đất của mình phải làm gương, giáo dục, thuyết phục chứ không thể bằng tước đoạt và bạo lực V.I.Lênin cho rằng, ý định dùng sắc lệnh, luật lệ để thiết lập chế độ canh tác tập thể, tước mất vai trò KTHND trong đời sống hiện thực là ngu xuẩn, ở đâu mà dùng bạo lực thì

có nghĩa là nguy hại đến toàn bộ sự nghiệp, điều cần phải làm là công tác giáo dục lâu dài và không bao giờ được dùng mệnh lệnh [40, tr 421-423].

Nhưng tiếc thay, những tư tưởng cơ bản của V.I.Lênin về con đường cải tạonông dân, nông thôn, sau khi Người qua đời đã không được những người

kế tục thực hiện một cách nghiêm chỉnh Nhân danh CNXH, họ đã tiếnhành cải tạo nông nghiệp một cách nóng vội, chủ quan bằng con đường hợp

Trang 17

tác hóa (HTH) cưỡng bức, quá độ trực tiếp điều mà lúc sinh thời V.I.Lênin đã chứng minh là không thể được và phản đối quyết liệt Chế độHTH trái với tinh thần của V.I.Lênin là một bước thụt lùi vì nó đã xóa bỏvai trò của kinh tế hộ, thủ tiêu sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, thựchiện chế độ phân phối bình quân chủ nghĩa Thực tế ở Việt Nam, trong

thời kỳ HTX kiểu cũ, KTHND được quan niệm là "kinh tế phụ gia đình" hay "kinh tế phụ xã viên" Nhưng chính kinh tế phụ chủ yếu trên đất 5% ấy

cũng đã chiếm 48% giá trị sản lượng nông nghiệp, 95% sản lượng chănnuôi, 93% sản lượng rau quả Trong cơ cấu thu nhập, "kinh tế phụ gia đình"chiếm từ 50%-60% tổng thu nhập của hộ Như vậy, trong thời kỳ đó chínhKTHND (được gọi là kinh tế phụ gia đình) lại là cơ sở bảo đảm cho kinh tếtập thể tồn tại [48, tr 130]

Trong quá trình nghiên cứu, V.I.Lênin đã đánh giá cao nhà nông học

A.V.Traianốp khi ông coi "kinh tế nông dân là một phương thức sản xuất tồn tại trong mọi chế độ xã hội, từ nô lệ qua phong kiến đến tư bản chủ nghĩa Phương thức sản xuất này có những quy luật phát triển riêng của nó và trong mỗi chế độ xã hội nó tìm cách thích ứng với cơ chế kinh tế hiện hành" [72, tr.

12] Tư tưởng về KTHND của A.V.Traianốp được dư luận xã hội đánh giá

là "Các Mác của nông dân" A.V.Traianốp cho rằng: Trong mỗi nông hộ, sau khi một cặp vợ chồng cưới nhau và ra ở riêng, đẻ con thì số người tiêu dùng tăng lên, gia đình gặp khó khăn, nhưng dần dần con cái lớn lên, số lao động tăng thêm, gia đình trở nên khá hơn Con cái lớn lên lập gia đình mới thì chu kỳ bắt đầu lại từ đầu A.V Traianốp là người đầu tiên rút ra kết luận: hình thức KTHND có khả năng thích ứng và tồn tại trong mọi phương thức sản xuất, có vai trò quan trọng trong phát triển KT-XH [81, tr 34] Ông thừa nhận hình thái gia đình nông dân không có bóc lột lao động làm thuê, chỉ sử dụng sức lao động của gia đình là một hình thức mang lại hiệu quả kinh tế cao, một phát hiện vượt xa tầm nhận thức lúc đó [69, tr 68].

Trang 18

Sau này, trong nền kinh tế hiện đại, các công trình nghiên cứu của

Vergopoulos (1978), Tuossig (1978) đã khẳng định ở các nước TBCN nông trại nhỏ gia đình sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn nông trại lớn TBCN, khai thác được cao nhất thặng dư lao động ở nông thôn, giữ được giá nông sản thấp và kết luận: KTHND vẫn tồn tại phát triển ngay trong lòng CNTB [30, tr 15].

Hiện nay KTHND được thừa nhận là hình thức kinh tế có hiệu quảnhất trong sản xuất nông nghiệp Sự tồn tại của nó trong suốt lịch sử pháttriển ngành nông nghiệp là tất yếu khách quan do những nguyên nhân chủyếu sau đây:

- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật, các cơ thểsống, quá trình chuyển hóa về vật chất và năng lượng thông qua quá trìnhsinh trưởng của cây trồng, con gia súc, đây là quá trình liên tục khôngngừng đòi hỏi phải có sự chăm sóc thường xuyên của con người Quá trìnhnày khác hoàn toàn với các công đoạn, các sản phẩm có thể phân chia rõràng trong sản xuất công nghiệp Đặc thù của sản xuất nông nghiệp rấtthích hợp với trách nhiệm và chất lượng lao động của gia đình, nó cũng phùhợp với kiểu tổ chức sản xuất gia đình, sản xuất trang trại Nhà nông học

nổi tiếng của Liên Xô trước đây, A.V.Traianốp đã rút ra kết luận: "Càng gần, càng gắn với quá trình sinh học thì sản xuất càng mang tính hộ gia đình, càng xa quá trình sinh học, càng có nhu cầu liên kết lại, tập trung hóa và chuyên môn hóa" [67].

- Về tổ chức sản xuất, nông hộ là một tế bào bền vững của xã hội, làđơn vị tổ chức sản xuất cơ bản của nông nghiệp Tính đa dạng, tính phântán, phức tạp của nghề nông, sự phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và lao động,đặc điểm này làm cho sản xuất nông nghiệp phù hợp với sản xuất của hộgia đình hơn bất kỳ tổ chức sản xuất nào khác Sự phát triển của công cụ

Trang 19

lao động từ thô sơ thủ công như chiếc gậy chọc lỗ gieo hạt đến máy móc cơkhí ngày nay vẫn không làm mất đi vai trò của KTHND Bởi đối tượng sửdụng các công cụ sản xuất ấy là lao động gia đình Thực tiễn ở nước ta chothấy, KTHND có sức sống riêng của nó, tuy trong một thời gian dài ít đượcquan tâm, thậm chí còn hạn chế và ngăn cản sự phát triển nhưng nó vẫn tồntại khách quan và có sức sống rất mạnh mẽ thể hiện rõ nét ở tính hiệu quảcủa việc sản xuất trên đất 5% của gia đình Đối với nông nghiệp, không ởđâu, không một tổ chức nào sản xuất có hiệu quả như ở khu vực gia đình.

Sự thay đổi công cụ lao động chỉ nhằm trợ giúp cho các quá trình biến đổisinh học diễn ra trong sản xuất chứ không làm thay đổi bản chất của quátrình, nhằm khai thác tốt hơn các điều kiện tự nhiên phục vụ cho con người.Chính đặc điểm này quy định sự tồn tại khách quan của KTHND

- Về mặt xã hội, hộ không chỉ là một đơn vị kinh tế mà còn là một

tế bào của xã hội Do đời sống xã hội ngày càng trở nên phức tạp và đa dạng,các thành viên trong gia đình cư trú theo một hay nhiều đơn vị hộ và có thểxen với một số người không thuộc gia đình Vì vậy về thực chất gia đìnhmới là tế bào của xã hội, nhưng trên thực tế thì hộ lại trở thành những đơn

vị tế bào của xã hội Trên các hộ gia đình là các cộng đồng lớn hơn như dòng

họ (lấy quan hệ huyết thống làm cốt lõi), làng xã (lấy quan hệ cùng chungnơi cư trú làm cốt lõi) Những cộng đồng này có những thiết chế chặt chẽ

Ưu điểm nổi trội của cộng đồng dòng họ, làng xã là đã phát huy được tínhtích cực của nó trong đấu tranh với thiên nhiên để duy trì sự sống còn, trongchống ngoại xâm để bảo tồn cộng đồng và truyền thống văn hóa Những ưuđiểm đó được chính các hộ gia đình kiến tạo nên và nhờ đó mà tạo nên cácquan hệ thân thuộc theo kiểu "trong họ ngoài làng", "tình làng nghĩa xóm".Đây chính là cơ sở tạo địa vị xã hội của hộ trong cộng đồng, tạo sức mạnhcủa cộng đồng, khẳng định sự tồn tại tất yếu về mặt xã hội của hộ gia đình

Trang 20

- Trong sản xuất nông nghiệp cũng diễn ra quá trình xã hội hóa sảnxuất mạnh mẽ Nhưng do đặc điểm của ngành nông nghiệp với đối tượngcủa nó là các cơ thể sống, kết quả sản xuất là các sản phẩm nông nghiệp đòihỏi quá trình sản xuất liên tục không thể phân chia dứt khoát thành các bánthành phẩm Vì vậy, người bắt đầu quy trình sản xuất và cho đến sản phẩmcuối cùng tốt nhất vẫn là do các nông hộ đảm nhận Hơn ai hết họ gắn liềncuộc sống của gia đình họ với đất đai, với sản phẩm cuối cùng mà họ sản

xuất ra Điều này có thể cho phép rút ra kết luận, do đặc thù của quá trình sản xuất nông nghiệp đã quyết định sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ nông dân.

Mặt khác, sự tồn tại khách quan của KTHND còn thể hiện ở tính tựchủ của nó trong nền kinh tế Nội dung tính tự chủ của KTHND thể hiệntrên các mặt sau đây:

- Quan hệ sở hữu về TLSX: Nông hộ phải có quyền sử dụng về

ruộng đất và sở hữu các TLSX khác Ở nước ta, chỉ từ khi giao quyền sửdụng đất ổn định và lâu dài cho các nông hộ thì lúc đó nông hộ mới cóquyền tự chủ trong sản xuất Việc giao quyền sử dụng ruộng đất chonông hộ còn bao gồm quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thếchấp và thừa kế Đây là những quyền cơ bản bảo đảm cho nông hộ được

tự chủ thực sự theo quy định của pháp luật

- Quan hệ về quản lý: từ chỗ làm chủ về TLSX dẫn đến nông hộ

cũng làm chủ trong quản lý sản xuất Hộ là người đề ra các chỉ tiêu, địnhhướng sản xuất, định kế hoạch và thực hiện kế hoạch sản xuất Về mặtpháp lý, nông hộ là đơn vị kinh tế độc lập do chủ hộ hoặc một người cónăng lực, uy tín trong gia đình đứng ra quản lý Trong thực tế, về hình thứcquản lý cũng có những hộ liên doanh theo kiểu 2, 3 hộ tự nguyện hợp nhấttrong một hộ lớn hơn với tư cách pháp nhân mới để có thêm năng lực vềvốn, đất đai, kỹ thuật từ đó có thêm sức mạnh trong cạnh tranh, dạng hộ

Trang 21

này thường xuất hiện ở một số ngành sản xuất tương đối đặc biệt như nuôitôm, cá ở ven biển, sản xuất tiểu thủ công nghiệp các ngành cần nhiềuvốn và kỹ thuật hơn các ngành sản xuất truyền thống.

- Quan hệ về phân phối: Nông hộ có toàn quyền quyết định phân

phối các sản phẩm đầu ra, các chi phí đều được tính từ đầu vụ, người nôngdân được kích thích sản xuất bằng vật chất do chính họ làm ra không bị lãngphí hoặc bị chiếm đoạt sản phẩm trong khâu phân phối Sau khi dành chotiêu dùng họ có thể tự do mang ra trao đổi sản phẩm của mình trên thị trường

Nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ cho nên họ chịu trách nhiệm vềnhững rủi ro trong sản xuất, buộc họ phải tính toán trước khi quyết định sảnxuất cái gì, tiêu thụ sản phẩm ra sao Điều này đã làm cho các hộ năngđộng hơn trong kinh doanh, TLSX, sức lao động được sử dụng hiệu quảhơn, từ đó làm tăng thêm vị trí, vai trò của KTHND trong nền kinh tế

Thừa nhận và khẳng định sự tồn tại khách quan của KTHND tự nó

đã nói lên vai trò to lớn của KTHND trong nền kinh tế

1.1.2.2 Vai trò của kinh tế hộ nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn

KTHND là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phù hợp, phổbiến trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, có khả năng chuyểnnền nông nghiệp tự túc, tự cấp sang SXHH theo cơ chế thị trường và giữvai trò quan trọng trong việc cung cấp sản phẩm nông nghiệp cho nền kinh

tế Vai trò của KTHND được thể hiện trên một số nội dung sau đây:

Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở trong nền kinh tế

Để là một đơn vị kinh tế cơ sở trong nền kinh tế, đòi hỏi phải có

hai điều kiện: Một là, phải được pháp luật thừa nhận Hai là, phải trực tiếp

hoạt động kinh doanh, tồn tại trong sự phân công lao động xã hội Trước

Trang 22

đây, ở nước ta kinh tế hộ cá thể đã từng tồn tại và bị coi là mảnh đất hằngngày, hằng giờ đẻ ra CNTB nên không được pháp luật thừa nhận và là đốitượng cải tạo Vì vậy KTHND không thể khẳng định vị trí, vai trò của mình

và không được xem là đơn vị kinh tế cơ sở Thực tế những năm qua chothấy, từ khi thừa nhận nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở thì sức sống của kinh tế hộ trỗi dậy và khởi sắc, đã có những đóng góp quan trọng trong nềnkinh tế Vai trò đơn vị kinh tế cơ sở của hộ gia đình là xu hướng đượckhẳng định

Hộ gia đình nông dân là một đơn vị tích tụ vốn

Quá trình chuyển từ nền kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp sang nềnkinh tế hàng hóa chỉ có thể diễn ra khi có sự tích tụ vốn trong từng hộgia đình ở những mức độ nhất định Sự tích tụ này sẽ làm cho nhữngkhoản tiền dư thừa do hoạt động kinh tế của hộ tạo nên được sử dụngđúng mục đích, hạn chế việc tích trữ của cải hoặc lãng phí vào các côngviệc khác nhằm mục đích sản xuất tăng sản phẩm cho xã hội Trong chế

độ kinh tế tập thể, các HTX trước đây không trở thành đơn vị tích tụ vốn

có hiệu quả, không huy động được các nguồn vốn trong các hộ gia đìnhvào sản xuất kinh doanh, với tính cách là một đơn vị tự hạch toán, tự trangtrải, có khả năng thích ứng cao với môi trường để phát triển sản xuấtkinh doanh Điều đó mặc nhiên đã dẫn đến KTHND trở thành một đơn

vị tích tụ vốn Cùng với sự phát triển sản xuất mức độ tích lũy vốn càngcao, kinh tế hộ càng có điều kiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, pháttriển ngành nghề, mở rộng sản xuất kinh doanh, đóng góp ngày càngnhiều cho xã hội

Nông hộ là một đơn vị để thực hiện phân công lao động xã hội

Trong nền kinh tế tự nhiên, sản xuất của các hộ gia đình chủ yếu là

để thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của gia đình, chỉ có sản phẩm dư thừa mới

Trang 23

trở thành hàng hóa nhưng mang tính ngẫu nhiên Do vậy, lao động của từng

hộ gia đình chưa trở thành lao động xã hội Với tư cách là một đơn vị tích

tụ vốn, KTHND có điều kiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịchlao động và trở thành đơn vị kinh tế cơ sở thực hiện sự phân công lao động

xã hội Thực tế cho thấy, nhờ có tích tụ vốn nhiều hộ gia đình đã phát triểncác hình thức sản xuất kinh doanh rất đa dạng: Kinh doanh nông - lâm -ngư nghiệp, mở mang ngành nghề, kinh doanh tổng hợp Trên cơ sở đó đãxuất hiện những hộ chuyên sản xuất một loại sản phẩm hàng hóa cung cấpcho thị trường Đó chính là biểu hiện cụ thể của phân công lao động xã hộidiễn ra từ các hộ gia đình - một đơn vị kinh tế cơ sở

Kinh tế hộ nông dân tham gia vào giải quyết quan hệ cung - cầu của thị trường và là đơn vị tiêu dùng xã hội

Với tư cách là một đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất kinh doanh hànghóa, hộ gia đình phải căn cứ vào nhu cầu thị trường để có phương án sảnxuất kinh doanh loại sản phẩm gì, khối lượng, chất lượng ra sao, giá cả thếnào, tiêu thụ ở đâu và cần phải mua những vật tư gì cho sản xuất kinhdoanh Ở góc độ đó, mỗi hộ gia đình đã mặc nhiên trở thành một đơn vịcân đối cung - cầu theo yêu cầu của thị trường và là một đơn vị tiêu dùngcủa xã hội Nhờ ưu thế của một đơn vị sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, tựtích lũy vốn, chủ động lựa chọn và ứng dụng KH-CN nên KTHND rấtnăng động trong việc nhanh chóng đáp ứng nhu cầu thị trường và thích ứngđược với mọi sự biến đổi của thị trường Việc tiến hành tổ chức lại sản xuấtmột cách dễ dàng, chủ động, việc nhanh chóng chuyển hướng sản xuất kinhdoanh mặt hàng mà thị trường đang cần chứng minh khả năng thích ứngcao của kinh tế hộ gia đình với mọi nhu cầu của thị trường mà ít có hìnhthức tổ chức kinh doanh nào có ưu thế hơn Ngày nay, ở hầu khắp các quốcgia trên thế giới, KTHND bảo đảm phần lớn lương thực, thực phẩm, rauquả tươi sống, nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Thực

Trang 24

tế đó càng khẳng định vai trò quan trọng của KTHND trong việc đáp ứngnhanh nhạy nhu cầu thị trường, đồng thời lại tiêu thụ ngày càng nhiều cácmặt hàng công nghệ phẩm và dịch vụ của công nghiệp, khu vực thành thị;

do đó trở thành hàng triệu đơn vị tiêu dùng xã hội trải rộng trên địa bànnông thôn rộng lớn, là nhân tố thúc đẩy sự phát triển chung của toàn bộ nềnkinh tế

Kinh tế hộ nông dân không chỉ có vai trò to lớn về kinh tế mà còn

có vai trò rất to lớn về mặt xã hội

KTHND phát triển sẽ làm gia tăng sản phẩm hàng hóa và hiệu quảkinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, cảithiện và nâng cao đời sống Đó là cơ sở kinh tế vững chắc để giải quyết cácvấn đề xã hội, xây dựng nông thôn mới văn minh, giàu mạnh Từ thực tiễnphát triển của nông thôn cho thấy, ở đâu kinh tế phát triển thì đời sống vănhóa, xã hội nông thôn cũng phát triển Từ sản xuất đi lên, từ sự phồn thịnh

về kinh tế ngay trong từng hộ gia đình sẽ là điều kiện đảm bảo cho xã hộiphát triển bền vững cả về kinh tế và văn hóa, xã hội

Những vấn đề trình bày trên cho thấy vị trí, vai trò quan trọngcủa KTHND trong sự nghiệp phát triển chung của toàn xã hội

1.1.2.3 Những ưu thế và hạn chế của kinh tế hộ nông dân

a) Ưu thế của kinh tế hộ nông dân

Ngoài vai trò của KTHND đã được trình bày trên, thực tiễn pháttriển nông nghiệp, nông thôn cho thấy, KTHND còn có những ưu thế nổibật sau đây:

Kinh tế hộ nông dân là đơn vị sản xuất quy mô nhỏ nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả

Trang 25

Thông thường, người ta quan niệm đơn vị sản xuất có quy mô nhỏđồng nhất với trình độ sản xuất thấp kém, lạc hậu, phân tán, manh mún, tựphát, vô chính phủ, dẫn đến sự phá sản bần cùng Vì vậy, cần phải cải tạosản xuất nhỏ thành sản xuất lớn bằng con đường HTH Thực tế đã chứngminh việc nóng vội đưa nông dân vào HTX đã không mang lại kết quảmong muốn Trong thực tiễn, sản xuất nhỏ hay lớn không phải được đánhgiá chủ yếu ở quy mô sản xuất kinh doanh mà chủ yếu phải nhìn nhận,đánh giá ở trình độ công nghệ, tính chất xã hội hóa của sản xuất và hiệuquả kinh tế của nó Đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp do đặc thùcủa đối tượng sản xuất và lại phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, môitrường Thực tế đã chứng minh sản xuất quy mô lớn đại trà thuê mướn laođộng làm thuê hay lao động tập thể ồ ạt không phải bao giờ cũng mang lạihiệu quả mà nhiều khi còn gây ra những thiệt hại to lớn Tổ chức sản xuấtkinh doanh quy mô hộ gia đình và do gia đình chủ động là rất thích hợp vìcác thành viên có sự thống nhất cao về lợi ích, trong định hướng phát triển

và có trách nhiệm cao trong thực hiện nên năng suất lao động cao hơn, tiếtkiệm hơn Vì vậy, KTHND có hiệu quả ngay cả trong điều kiện khoa học

và công nghệ sinh học hiện đại được áp dụng và phổ cập đến từng hộ giađình thì sản xuất nông nghiệp sẽ đạt năng suất cao, hiệu quả lớn ngay trênquy mô nhỏ

Kinh tế hộ nông dân có quy mô nhỏ nên hoạt động năng động có khả năng thích ứng nhanh nhạy với thị trường

KTHND được tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu trên quy mô giađình cho nên việc tổ chức điều hành quá trình sản xuất kinh doanh đượcthực hiện rất năng động Chủ hộ vừa là người tổ chức điều hành vừa làngười trực tiếp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy, từ ý

đồ chỉ đạo đến việc thực thi trên thực tế diễn ra rất nhanh chóng không phảithông qua nhiều tầng nấc trung gian Khi cần điều chỉnh hoặc thay đổi

Trang 26

trong sản xuất kinh doanh, chủ hộ và những người trong gia đình rất dễdàng thực hiện và thực hiện một cách nhất quán Trong mô hình KTHND,chủ hộ có một vai trò đặc biệt, vừa là người quản lý điều hành, vừa làngười nắm giữ kinh tế gia đình, vừa là người có quyền uy, có trọng trách vàgiữ vai trò quyết định trên nhiều mặt Vì vậy, hoạt động của KTHND phụthuộc chủ yếu vào chủ hộ và hết sức năng động Chính sự năng động củaKTHND đã tạo khả năng để thích ứng nhanh nhạy với thị trường Nhữngbiến động của thị trường thường tác động ngay, trực tiếp đến hoạt động củaKTHND, tạo phản ứng rất linh hoạt trước những biến động đó Thực tế chothấy, mô hình kinh tế HTX theo kiểu cũ thường trì trệ và có sức ỳ lớn hơnKTHND Sự chuyển hướng trong sản xuất kinh doanh của từng nông hộthường diễn ra nhanh hơn, nhạy bén hơn so với các HTX trước đây Đặcbiệt, trước những yêu cầu, đòi hỏi của thị trường, sự chuyển hướng củaKTHND nhanh và hiệu quả hơn nhiều so với kinh tế HTX.

Kinh tế hộ nông dân có điều kiện để chuyển sang sản xuất hàng hóa

Lịch sử phát triển kinh tế hàng hóa đã trải qua từ kinh tế tự nhiênsang kinh tế hàng hóa nhỏ trên quy mô hộ gia đình rồi chuyển lên kinh tếhàng hóa TBCN Kinh tế hàng hóa TBCN ra đời và phát triển gắn liền với

sự phát triển của thị trường, hệ thống thị trường càng phát triển càng thúcđẩy hơn nữa sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa Kinh tế hộ nông dânđược coi là khâu trung gian có vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạnchuyển từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa nhỏ và tạo đà cho bướcchuyển từ kinh tế hàng hóa nhỏ sang kinh tế thị trường (dù là TBCN hayXHCN) Bước chuyển biến từ nền kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp sang nềnkinh tế hàng hóa nhỏ trên quy mô hộ gia đình là một giai đoạn lịch sử, nếuchưa trải qua thì không thể phát triển SXHH quy mô lớn, giải thoát khỏitình trạng kinh tế kém phát triển

Trang 27

Kinh tế hộ nông dân có khả năng tiếp nhận khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ nhanh, nâng cao năng suất, thực hiện tiết kiệm và hiệu quả

Cùng với sự phát triển và tiến bộ chung của xã hội, từng hộ gia đìnhphải tìm mọi biện pháp để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh

tế Các chủ hộ, một mặt phải sử dụng có hiệu quả những kinh nghiệm sảnxuất lâu đời được truyền lại, mặt khác phải áp dụng những tiến bộ khoa học

kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất Đây là một quá trình tự giác gắnvới lợi ích thiết thân của từng hộ, đồng thời với việc áp dụng tiến bộKHCN là quá trình sàng lọc kỹ thuật công nghệ mới và cải tiến kỹ thuậttruyền thống làm cho nó thực sự thích ứng và mang lại hiệu quả kinh tếcao Có thể nói KTHND vừa là nơi lưu giữ những kinh nghiệm truyềnthống, vừa là nơi tiếp nhận, hoàn thiện và phát triển thêm những công nghệmới, bảo đảm vững chắc cho việc nâng cao năng suất lao động và hiệu quảsản xuất kinh doanh Đây là khả năng riêng có của KTHND do đặc thù củasản xuất nông nghiệp cho phép, do kỹ thuật hay công nghệ mới đều thôngqua quá trình sinh trưởng và phát triển của từng cây trồng, vật nuôi cụ thể,phù hợp với từng điều kiện, môi trường riêng Đây là những vấn đề màtrong phạm vi từng hộ gia đình có thể giải quyết được một cách hiệu quả

Trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn,sức lao động và các yếu tố đầu vào khác là của từng hộ gia đình, từng hộ tựchịu trách nhiệm cho nên việc sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả là một đòihỏi tất yếu Người nông dân là những người rất thực tiễn "có lợi thì làm",

họ phải cân nhắc, tính toán chi li từng đồng vốn bỏ ra để sao cho có hiệuquả Trong kinh tế tập thể còn có quan niệm "của tập thể" không phải củamình, nhưng trong KTHND thì tất cả là "của mình, do mình và vì mình".Chính vì vậy tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh là một yêu cầu thiết thân củaKTHND

Trang 28

Những ưu thế trên của KTHND chỉ có thể phát huy tác dụng khiđược các chủ hộ nhận thức một cách đầy đủ và tạo điều kiện để các ưu thế

đó bộc lộ Chúng ta cũng cần phải thấy rằng, ưu thế mới chỉ là dạng tiềmnăng, hoặc những năng lực tiềm ẩn, muốn trở thành hiện thực nó phải đượcchính các hộ gia đình khai thác tận dụng, KTHND phải được vận độngtrong môi trường thể chế thuận lợi

b) Những hạn chế của kinh tế hộ nông dân

Bên cạnh những ưu thế nổi bật của KTHND, sự vận động và pháttriển của KTHND còn bộc lộ một số khó khăn hạn chế sau đây:

- Năng lực nội tại của KTHND nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường Ruộng

đất là TLSX chủ yếu có vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triểnKTHND, xu hướng chung là đất nông nghiệp sẽ giảm dần dẫn đến bìnhquân đất cho một hộ cũng như một lao động nông nghiệp sẽ giảm Ở ViệtNam hiện nay có tới 65% số hộ chỉ có dưới 1 ha đất nông nghiệp Số lượng

và chất lượng lao động biến động theo những chiều hướng phức tạp Laođộng trẻ có trình độ được đào tạo thì chuyển dần ra khỏi khu vực nôngthôn, những người về hưu, mất sức lao động thì lại dồn về nông thôn.Thực tế đó làm cho cơ cấu lao động trong từng hộ gia đình nông dân, nôngthôn biến động bất lợi cho phát triển KTHND Nguồn vốn của KTHNDngày càng hạn hẹp và bất cập trước yêu cầu phát triển nông nghiệp hànghóa theo hướng hiện đại Ngày nay, yêu cầu tích tụ vốn để tái sản xuất mởrộng trong từng hộ lớn gấp nhiều lần so với vài ba thập niên trước Mặtkhác, từ hộ độc canh chuyển sang hộ kinh doanh tổng hợp là một xu thếphát triển tất yếu đặt ra yêu cầu bức xúc, gay gắt hơn về vốn đối với mỗinông hộ Kỹ thuật canh tác, các công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp,việc làm chủ tự nhiên đang vượt khỏi tầm tay giải quyết ở từng hộ gia

Trang 29

đình Những vấn đề trên đang là thách thức đối với KTHND trên conđường phát triển.

- Kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển KTHND không thể tự giải quyết ở từng hộ gia đình, đòi hỏi phải có sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước

và sự chủ động nỗ lực của các hộ gia đình Vấn đề giao thông, thủy lợi,điện, dịch vụ khoa học kỹ thuật là những vấn đề tự bản thân từng hộkhông thể giải quyết được Vì vậy, sẽ là khó khăn trong quá trình phát triểncủa KTHND, khi những vấn đề trên không được sự quan tâm giúp đỡ củaNhà nước

- Những khó khăn về thị trường và phát triển của hệ thống thị trường phục vụ phát triển KTHND Trong sản xuất hàng hóa, thị trường có

vai trò đặc biệt quan trọng Thực tế sản xuất nông nghiệp cho thấy, vấn đềsản xuất ra nông sản hàng hóa tuy khó mà khó hơn là tìm thị trường chongười sản xuất Ngay đối với Việt Nam, ở nhiều nơi các hộ gia đình khôngbiết tổ chức tiêu thụ sản phẩm ở đâu, dẫn đến ứ đọng, hư hỏng sản phẩm,gây thiệt hại cho các hộ sản xuất Trong hệ thống thị trường, có những thịtrường mà từng nông hộ không thể tự mình tham gia được như thị trườngxuất, nhập khẩu Trở ngại về thị trường phải được xem xét giải quyết trênphạm vi của toàn bộ nền kinh tế

- KTHND quy mô nhỏ, nên sản lượng hàng hóa nhỏ Đây là mặt

hạn chế của KTHND Trong phạm vi từng hộ gia đình do giới hạn nhiềumặt không thể tạo ra giá trị sản lượng hàng hóa lớn, đồng thời cũng tronggiới hạn đó không thể triển khai ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại đòihỏi chi phí lớn nhưng lại có năng suất lao động cao

- Cùng với việc phát triển KTHND theo thị trường thì những vấn đề

xã hội ở nông thôn cũng nổi lên gây cản trở cho sự phát triển Sự phân hóa

Trang 30

giàu nghèo, các tệ nạn, tiêu cực xã hội, vấn đề đạo đức lối sống nông thônbiến động phức tạp là những khó khăn trở ngại cho KTHND phát triển.

Những hạn chế trên cũng đồng thời là những trở ngại thách thứctrên con đường phát triển của KTHND Trên thực tế, việc giải quyết nhữngtrở ngại trên vượt qua khả năng của từng hộ gia đình và cũng không thểgiải quyết được trong phạm vi từng hộ Vì vậy, để vạch đường đi cho mình,KTHND phải một mặt khắc phục những trở ngại trên, mặt khác phải tìmkiếm một mô hình mới phù hợp và hiệu quả hơn

1.1.2.4 Xu hướng chuyển nông hộ lên sản xuất hàng hóa

a) Từ nông hộ tự túc, tự cấp lên hộ sản xuất hàng hóa là một quá trình có tính quy luật

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, KTHND phát triển vàtrở thành các hộ SXHH là một tất yếu Mặc dù các cơ hội và điều kiện sảnxuất ban đầu có nhiều khó khăn nhưng khi đã được bảo đảm quyền tự chủtrong sản xuất kinh doanh, quá trình phát triển sản xuất, kinh tế của các hộgia đình không tránh khỏi sự phân hóa Một bộ phận nông hộ do điều kiệnsản xuất gặp khó khăn, ít kinh nghiệm, thiếu vốn, sản xuất không hiệu quả,mức sống thấp, họ có thể thoát ly sản xuất nông nghiệp chuyển sang làmdịch vụ, làm thuê hoặc sản xuất tiểu thủ công nghiệp tùy theo khả năng vàđiều kiện, hoàn cảnh cụ thể của họ, thậm chí có thể rời nơi sinh sống cũ để

ra thành thị hoặc lập nghiệp ở nơi mới Thu nhập từ nguồn do chuyểnnhượng quyền sử dụng đất với các thu nhập khác có thể đem lại cho họcuộc sống tốt hơn là trực tiếp làm nông nghiệp Như vậy ruộng đất từngbước sẽ được tích tụ trong tay những hộ làm ăn giỏi Khi đã đạt tới một quy

mô nhất định, các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa sẽ xuất hiện trên thịtrường, hình thành các nông hộ SXHH Đó là xu hướng vận động phát triểntất yếu của KTHND, với xu hướng này các nông hộ SXHH sẽ không ngừngtăng cả về số lượng cũng như về quy mô nông hộ Chính những hộ SXHH

Trang 31

này đã góp phần to lớn vào việc phát triển nhanh chóng sản xuất nôngnghiệp Ở nước ta, từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng4/1988) nông hộ được giao quyền sử dụng đất lâu dài và ổn định đã tạo ranhững điều kiện và môi trường cho kinh tế hàng hóa phát triển trong nôngnghiệp, nông thôn.

Lịch sử phát triển nông nghiệp là lịch sử vận động và phát triển củaKTHND theo quá trình từ thấp đến cao, từ sản xuất tự túc tự cấp đếnSXHH Thực tiễn lịch sử cho thấy, từ nhóm kinh tế hộ sinh tồn đến nhómkinh tế hộ tự túc tự cấp đến hộ SXHH nhỏ, đến hộ SXHH lớn là xu thế pháttriển tất yếu của kinh tế hộ Như trên đã phân tích, KTHND có vai trò đặcbiệt quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp Vai trò của KTHNDcàng được đề cao hơn khi nó trở thành các hộ SXHH Một số nhà khoa họccủa lý thuyết phát triển coi kinh tế hộ là; "hệ thống các nguồn lực" có nghĩa

hộ là đơn vị để duy trì và phát triển nguồn lao động, nguồn vốn bảo đảmcho quá trình phát triển của ngành nông nghiệp cũng như của toàn xã hội

Do hệ thống nguồn lực được mỗi hộ sử dụng theo một phương thức khácnhau nên đã đem lại hiệu quả khác nhau Trong điều kiện hộ SXHH thì "hệthống nguồn lực" sẽ được sử dụng triệt để, tiết kiệm và hiệu quả nhất Vìvậy, quy luật tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất đặt ra yêu cầu tất yếuchuyển từ hộ tự túc, tự cấp lên hộ SXHH Từ đó các tác giả của lý thuyếtnày đã đưa ra ý kiến về chiến lược sử dụng nguồn lực của nông hộ trong xãhội nông thôn [7, tr 125]

Về phương diện lịch sử thì một trong những con đường tích lũy tưbản cũng bắt đầu từ quá trình kinh doanh của các hộ gia đình Xã hội càngphát triển thì sự phân công lao động xã hội diễn ra càng sâu sắc, càng tạonhiều cơ hội để các cá nhân, các hộ tự nguyện tham gia vào sự phân cônglao động của xã hội Sự tích lũy của mỗi hộ, khả năng tham gia vào phân

Trang 32

công lao động xã hội chỉ có thể thực hiện có hiệu quả khi các hộ trở thành

hộ SXHH

Phương thức sản xuất tự túc, tự cấp, gắn liền với nền kinh tế lạc hậubảo thủ, đóng cửa giao lưu với bên ngoài Những hộ tự túc, tự cấp trước hếttập trung vào sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất gần như tách biệtvới thị trường Kết quả phổ biến của phương thức này là nông dân có đờisống thấp Xu thế vận động từ hộ tự túc, tự cấp lên hộ SXHH là phù hợpquy luật nhằm tạo ra LLSX mới ở nông thôn, tạo ra nhiều sản phẩm hànghóa, cải thiện đời sống của nông dân Thực tế cho thấy, hoạt động kinh tếcủa các hộ tự túc tự cấp gắn liền với các điều kiện tự nhiên, nhằm khai thácnhững cái có sẵn trong tự nhiên Một tất yếu không tránh khỏi là trong quátrình phát triển các nguồn lực sẵn có trong tự nhiên sẽ bị suy kiệt dầnkhông đủ để con người khai thác, sử dụng Hơn nữa, nhu cầu của con ngườingày càng đa dạng, phong phú, mỗi người không thể tự thỏa mãn mọi nhucầu của mình bằng chính lao động trực tiếp của mình được Nhu cầu giaolưu, trao đổi với bên ngoài là một đòi hỏi tất yếu Các hộ tự túc tự cấp, tấtyếu sẽ từng bước tự phá bỏ khuôn khổ chật hẹp của mình để vươn ra xãhội SXHH sẽ là cầu nối giữa các hộ gia đình với xã hội

Quá trình chuyển từ hộ tự túc, tự cấp lên SXHH diễn ra dưới nhiềudạng thức khác nhau tùy thuộc vào từng loại hộ và tính chất sản xuất củatừng hộ:

- Loại hộ tự túc, tự cấp sản xuất lương thực, thực phẩm, ngoài tựtúc phần tất yếu cho chính nhu cầu của hộ, phần thặng dư được chuyểnsang hàng hóa, được đem ra thị trường tiêu thụ Thông qua tiếp xúc với thịtrường mà các hộ này từng bước mở rộng quy mô sản xuất, tăng khối lượnghàng hóa, đa dạng hóa sản phẩm và chuyển hẳn sang SXHH

Trang 33

- Loại hộ tự túc một phần, phần còn lại đem trao đổi trên thị trường

để đáp ứng nhu cầu của gia đình Đây là những loại hộ phát triển trồng cây

ăn quả, chăn nuôi gia đình, trồng rau, đánh bắt hải sản Sản phẩm do các

hộ tạo ra thường vượt quá nhu cầu nội tại của từng hộ gia đình, trong khi

đó họ lại có những nhu cầu sản phẩm khác mà họ không tự tạo ra được Vìvậy phần còn lại sau khi đã thỏa mãn nhu cầu của bản thân mỗi hộ, đượcđem ra trao đổi trên thị trường để qua đó thỏa mãn nhu cầu khác Vớinhững lợi thế và kinh nghiệm sản xuất sẵn có cộng với thực tế tiếp xúc vớithị trường, những hộ này có thể phát triển sản xuất theo hướng chuyên, đivào từng loại sản phẩm (tùy theo điều kiện và khả năng cụ thể), phần đem

ra trao đổi trên thị trường ngày càng lớn và là chủ yếu Qua đó các hộ này

sẽ chuyển hẳn lên SXHH Tuy nhiên, giữa hộ nông dân tự túc, tự cấp và hộnông dân XSHH có sự khác nhau về chất Tiêu chuẩn cơ bản để phân biệtgiữa hai loại hộ này là sản xuất cho mình, vì mình và sản xuất cho ngườinhà Chừng nào nông hộ còn sản xuất cho chính mình và gia đình mình thìvẫn chưa thoát khỏi tự cấp, tự túc Hộ SXHH có sự khác biệt cơ bản là sảnxuất để bán cho người khác, họ quan tâm đến giá trị thông qua việc tạo giátrị và sản phẩm có giá trị sử dụng cho xã hội Vì vậy, tiêu chuẩn cụ thể trựctiếp nhất để phân biệt nông hộ SXHH là tỷ suất sản phẩm hàng hóa trongtoàn bộ khối lượng sản phẩm mà họ tạo ra Dựa vào tỷ suất hàng hóa người

ta có thể chia ra hộ SXHH nhỏ, giản đơn và hộ SXHH lớn Một trongnhững đặc điểm cần quan tâm là tính đặc thù của nông hộ SXHH Nếu nhưcác hộ tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp tỷ suất hàng hóa trong tổng sảnphẩm của mỗi hộ sản xuất thường rất cao, thì với nông hộ SXHH tỷ suấtnày có thể thấp hơn, vì ngoài số sản phẩm hàng hóa, họ còn phải tự tạo ranhững sản phẩm cần thiết cho chính mình Như vậy sẽ có các loại nông hộSXHH ở những mức độ khác nhau: các hộ thuần nông thường trở thành hộSXHH khi có sự dư thừa về một số nông sản thiết yếu, sự dư thừa tùy thuộc

Trang 34

vào quy mô và trình độ sản xuất của mỗi hộ; nông hộ thực hiện SXHHngay từ đầu (ngành nghề, chăn nuôi, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp )loại nông hộ này thường có tỷ suất hàng hóa rất cao so với hộ thuần nông.

- Trên thực tế cũng có một nhóm hộ có thể chuyển ngay từ sản xuất

tự túc, tự cấp lên SXHH hoàn toàn, tất cả sản phẩm sản xuất ra đều đưa ratrao đổi trên thị trường Ví dụ: trường hợp các hộ sản xuất nguyên liệu chocông nghiệp, trồng cây ăn quả, cây dược liệu trường hợp này thường diễn

ra gắn với những điều kiện nhất định Hay các hộ rời nơi ở cũ đến nơi mới

có điều kiện sản xuất hoàn toàn khác trước, các hộ di dân đi vùng kinh tếmới được hỗ trợ để SXHH ngay từ đầu

Tuy nhiên, muốn chuyển từ hộ tự túc, tự cấp lên hộ SXHH phải cónhững tiền đề và điều kiện nhất định Thực tế cho thấy có những tiền đề cóthể do từng hộ tạo ra được nhưng cũng có những tiền đề mà bản thân các

hộ tự túc tự cấp không thể tạo ra, cần phải có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước.Hơn nữa, các hộ SXHH là một pháp nhân của nền kinh tế, một đơn vị cấuthành của nền sản xuất xã hội, hoạt động sản xuất kinh doanh trong mộtmôi trường thể chế xã hội với những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hộinhất định Những yếu tố này luôn đặt trong quan hệ giữa Nhà nước với cácnông hộ và nó chi phối, tác động trong từng nội dung của mối quan hệ ấy.Nếu không gắn với những điều kiện môi trường trên, không thể chuyển từ

hộ tự túc tự cấp lên hộ SXHH được

Chuyển KTHND lên SXHH sẽ thực hiện sự phân công lại lao động,sản xuất có hiệu quả hơn vì TLSX, vốn sẽ tập trung chủ yếu vào tay nhữngnông hộ giỏi, tạo sự cạnh tranh giữa các hộ, nhóm hộ nên chất lượng hànghóa tốt hơn, giá rẻ hơn Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp hàng hóa sẽdẫn đến một bộ phận nông hộ làm nông nghiệp chuyển sang làm các ngànhnghề khác như tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ làm cho cơ cấu kinh tế nông

Trang 35

thôn thay đổi nhanh chóng, tạo thêm nhiều ngành nghề mới và nhiều việclàm ở nông thôn.

Trong quá trình phát triển nông nghiệp hàng hóa, nhờ đa dạng hóasản xuất mà các nguồn tài nguyên, lao động, vốn của hộ gia đình và của xãhội được sử dụng có hiệu quả vào SXHH Nếu như trước đây, đối với hộsản xuất tự túc, tự cấp thì vốn tích lũy không sinh lời mà thường chuyểnthành hiện vật, thì trong hộ SXHH, vốn tích lũy và mọi tiềm năng khác đềuđược huy động tối đa để sinh lời Đây là một lợi thế hơn hẳn của hộ SXHH

và cũng là xu thế phát triển tất yếu trong đời sống kinh tế của mỗi hộ giađình nông dân

Với vai trò đặc biệt quan trọng của KTHND, từ thực tiễn lịch sửphát triển kinh tế hộ cho phép khẳng định, từ KTHND tự túc, tự cấp lênnông hộ SXHH là một quá trình phát triển có tính quy luật

b) Từ kinh tế hộ nông dân phát triển thành kinh tế trang trại là một

xu hướng phổ biến

Trong điều kiện kinh tế thị trường, các nông hộ đang phải đối mặtvới cơ chế thị trường chứa đựng rất nhiều rủi ro, đòi hỏi phải có sự hỗ trợcần thiết Các nông hộ rất thiếu vốn, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật vàquản lý, đặc biệt thiếu hiểu biết về marketing Các hoạt động hỗ trợ pháttriển như cung cấp tín dụng và các dịch vụ kỹ thuật đòi hỏi phải được mởrộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các nông hộ Tình trạng "đấtchật, người đông" và tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt; tìnhtrạng sản xuất nhỏ manh mún thiếu khả năng tiếp cận với thị trường vàđịnh hướng sản xuất theo thị trường đang là những trở ngại lớn đối vớiphát triển kinh tế hộ nông dân Mặc dù về quy mô và tính chất của kinh tế

hộ nông dân đã có những thay đổi nhất định, song về cơ bản kinh tế hộnông dân ở nông thôn vẫn là sản xuất nhỏ của người tiểu nông Loại hình tổ

Trang 36

chức sản xuất này có những ưu thế nhất định, song nó chỉ thích hợp trongđiều kiện trình độ sản xuất còn thấp Để phát triển hơn nữa kinh tế nôngthôn hiện nay cần phải có mô hình tổ chức thích hợp Tổ chức sản xuất vàkinh doanh ở quy mô hộ gia đình còn thích hợp trong thời gian dài nữa haykhông? KTHND sẽ thay đổi như thế nào và chuyển thành cái gì? Đây lànhững câu hỏi lớn cần phải có sự nghiên cứu đầy đủ và kỹ lưỡng Vấn đề

có thể khẳng định là sự hạn hẹp về đất đai của từng hộ, những trở ngạitrong mở mang ngành nghề phi nông nghiệp của từng hộ cho thấy cầnphải có những định hướng mới về mô hình tổ chức kinh tế ở nông thôn.Một số nhà kinh tế như John Ston, Killby, John Harriss, F.Ellis [32] đã kháiquát thực tiễn phát triển nông nghiệp ở các nước đang phát triển và chia ra haikiểu mô hình, được gọi là phát triển nông nghiệp theo "mô hình đơn nhất"(unimodal) và "mô hình nhị nguyên" (bimodal) Sự phát triển theo mô hìnhđơn nhất dựa trên kiểu tổ chức nông trại quy mô nhỏ, còn theo mô hình nhịnguyên thì dựa trên một cơ cấu hai tầng: các hộ gia đình được tập hợp lạitrong các nông trại lớn Cả hai loại mô hình tổ chức sản xuất đều có những

ưu và nhược điểm riêng Kinh tế trang trại gia đình thích hợp với tâm lý,truyền thống và tập quán của những người tiểu nông, vì vậy nó huy độngđược không những tất cả các yếu tố vật chất của hộ gia đình, mà cả nhữngyếu tố văn hóa - xã hội Mặt khác, kinh tế trang trại có những ưu thế hơn hẳnKTHND về vốn, quy mô sản xuất kinh doanh, khả năng thuê mướn laođộng, ứng dụng kỹ thuật công nghệ, tập trung chuyên môn hóa với khốilượng hàng hóa lớn, tỷ suất hàng hóa cao, kinh tế trang trại có hiệu quả hơnhẳn KTHND, vì vậy nó đang là mô hình tổ chức sản xuất phổ biến hiệnnay Ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều trang trại gia đình làm ăn giỏi ở khắpcác địa phương trong cả nước Phát triển trang trại gia đình đang chứng tỏnhững ưu thế mới, nhất là về quy mô sản xuất, khối lượng nông sản, tỷ suấthàng hóa so với KTHND và đang là chủ trương lớn của Đảng và Nhànước ta hiện nay

Trang 37

c) Xu thế hợp tác của kinh tế hộ nông dân

Kinh tế hộ nông dân và kinh tế hợp tác trong sản xuất nông nghiệp

ở nông thôn luôn có quan hệ với nhau bởi mỗi hình thức kinh tế đều cónhững mặt mạnh, mặt yếu nhất định Quá trình phát triển KTHND khôngmang tính độc lập tuyệt đối mà rất cần có sự hợp tác, bởi từng hộ không thểlàm tất cả mọi việc, không thể sản xuất mọi thứ cho nhu cầu tiêu dùng củamình Mặt khác, trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa ngày càng phát triểnthì sản xuất kinh doanh của từng hộ phải có sự hợp tác với nhau

Hợp tác là quá trình xã hội hóa lao động trong các giai đoạn pháttriển khác nhau của nền sản xuất xã hội Kinh tế hợp tác được hình thànhtrong các lĩnh vực: sản xuất, lưu thông, tiêu thụ sản phẩm với nhiều hìnhthức phong phú nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Sản xuất ngàycàng phát triển thì kinh tế hợp tác cũng ngày càng phát triển và hoàn thiện

cả về quy mô, tính chất và trình độ hợp tác Có thể nói quan hệ giữa KTHND

và kinh tế hợp tác là mối quan hệ kinh tế cơ bản trong sản xuất nông nghiệp

ở nông thôn Giải quyết hợp lý mối quan hệ này sẽ tạo điều kiện hình thành

và phát triển những tổ chức kinh tế hợp tác theo nguyên tắc tự nguyện, bìnhđẳng, cùng có lợi, quản lý dân chủ, không thủ tiêu các chủ thể kinh tế, đồngthời thúc đẩy sản xuất phát triển Cần phải khẳng định rằng: KTHND pháttriển là cơ sở để hình thành và phát triển những hình thức hợp tác, kinh tếhợp tác phát triển lại tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy KTHND phát triển.Như vậy KTHND và kinh tế hợp tác không mâu thuẫn nhau mà là điềukiện thuận lợi cho nhau, hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển Trên thực tếrất nhiều hình thức hợp tác trong sản xuất và kinh doanh giữa các nông hộ

đã xuất hiện Các hộ có thể hợp tác với nhau theo từng công việc trên từnglĩnh vực cụ thể Có những hình thức hợp tác "lỏng" bên cạnh các hình thứchợp tác mang tính toàn diện, chặt chẽ hơn Sự phát triển các hình thức hợp

Trang 38

tác là một đòi hỏi tất yếu trong quá trình phát triển SXHH của các nông hộ.

Trước hết, sự hợp tác được bắt nguồn từ việc khắc phục các trở ngại trong

sản xuất kinh doanh mà bản thân từng hộ không thể tự mình khắc phục

được Hai là, do yêu cầu mở rộng sản xuất và trao đổi hàng hóa giữa các nông hộ mà cần phải có sự hợp tác với nhau Ba là, do yêu cầu của việc

khai thác các lợi thế tự nhiên sẵn có mà bản thân từng hộ không thể khai

thác hiệu quả triệt để được Bốn là, do yêu cầu của việc phát triển LLSX,

phân công lao động xã hội đòi hỏi các nông hộ phải hợp tác với nhau.Trong quá trình phát triển các hình thức hợp tác rất đa dạng, phong phú,một hộ có thể cùng một lúc tham gia vào nhiều tổ chức hợp tác ở nhiều lĩnhvực trên nhiều phạm vi khác nhau không lệ thuộc vào không gian địa lý.Trong quá trình tham gia vào các tổ chức hợp tác, từng hộ vẫn giữ đượctính độc lập tương đối của mình, hộ không hòa tan vào các hợp tác như môhình HTX kiểu cũ

Tuy nhiên, giải quyết mối quan hệ này phải tuân thủ theo cácnguyên tắc và yêu cầu đòi hỏi của các quy luật khách quan, đặc biệt là quyluật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX Cầnphải thấy rằng lợi ích kinh tế là điểm mấu chốt tạo sự bền vững trong mốiquan hệ giữa KTHND và kinh tế hợp tác Những thập niên trước đây ở ViệtNam, kinh tế tập thể được xây dựng như một hình thái KT-XH giữ vai tròthống trị trong kinh tế nông thôn, biến kinh tế hộ gia đình thành kinh tếphụ, thực hiện sở hữu tập thể hóa triệt để, phân phối mang nặng tính bìnhquân đã dẫn tới sự khủng hoảng của kinh tế tập thể vào cuối thập niên 70

và đầu thập niên 80 Đây là một bài học đối với chúng ta trong phát triểnkinh tế hợp tác hiện nay Từ KTHND phát triển lên những hình thức kinh

tế hợp tác là một xu hướng tất yếu, là đòi hỏi của chính sự phát triển hơnnữa của KTHND Song con đường và cách thức phát triển như thế nào là

Trang 39

vấn đề đang đặt ra rất cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn đối với nước tahiện nay.

1.1.2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến nông hộ sản xuất hàng hóa

Mỗi nông hộ là một bộ phận của hệ thống kinh tế rộng lớn, với tưcách là một chủ thể SXHH, quá trình sản xuất của họ chịu ảnh hưởng củanhiều nhân tố khác nhau:

- Các nhân tố về điều kiện tự nhiên

Những nhân tố về điều kiện tự nhiên trước hết phải kể đến sự tácđộng của tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh đất mà người nông dâncanh tác như thời tiết, khí hậu, quá trình hình thành đất và độ phì tự nhiêncủa đất, vị trí đặc điểm của mảnh đất hay còn gọi là địa tô chênh lệch I củamảnh đất mang lại Đất đai là TLSX chủ yếu trong nông nghiệp, quỹ ruộngđất nhiều hay ít, tốt hay xấu đều có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng vàkết quả sản xuất hàng hóa của mỗi hộ gia đình Trong điều kiện của nước

ta, bình quân ruộng đất đầu người thấp (dưới 1.000m2/người) cho nên quy

mô hộ nhỏ, sản xuất hàng hóa chưa phát triển, đại bộ phận nông hộ chỉ đủ

ăn Với thực tế đó, nếu điều kiện thời tiết thuận lợi, lại biết khai thác tậndụng những ưu đãi của tự nhiên, chủ động hạn chế và tránh những bất lợi

do thiên nhiên gây ra, cũng có thể có nhiều cơ hội để phát triển nôngnghiệp hàng hóa, tăng tỷ suất hàng hóa của các nông hộ

- Các nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội

Cũng như mọi ngành sản xuất khác của xã hội, SXHH của nông hộ

bị chi phối bởi quan hệ giữa cung và cầu của xã hội Ngoài ra, trong mỗichế độ KT-XH nhất định còn có nhiều nhân tố khác nhau ảnh hưởng đếnSXHH của nông hộ Trong phạm vi của luận án này xin được đề cập đến

hai nhân tố cơ bản, đó là thị trường và chính sách đối với sản xuất hàng hóa.

Trang 40

Nói đến thị trường là nói đến nhu cầu của xã hội đối với nông phẩmhàng hóa Trong cơ chế thị trường các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hànghóa mà thị trường cần, đồng thời họ có khả năng sản xuất Nhu cầu thị trường

sẽ quyết định sản xuất với số lượng bao nhiêu và theo quy trình công nghệnào, sản xuất ở đâu, khi nào? Có thể nói nhu cầu thị trường vừa là tín hiệu,vừa là mệnh lệnh đối với các hộ SXHH Sự tồn tại và phát triển của các hộsản xuất hàng hóa gắn rất chặt với thị trường, đó là một nhân tố hết sứcquan trọng

Cùng với thị trường, các chính sách kinh tế có ảnh hưởng rất lớnđến SXHH của nông hộ Các chính sách kinh tế là công cụ đắc lực để Nhànước can thiệp vào sản xuất, nhằm khuyến khích hoặc hạn chế việc sảnxuất một loại nông sản hàng hóa nào đó Ở Việt Nam, từ năm 1988 trở lạiđây, với chính sách khoán 10 giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và ổnđịnh cho nông hộ cùng với hàng loạt các chính sách khác được ban hànhnhư chính sách thị trường đồng bộ, thống nhất và thông suốt trong cả nước,chính sách một giá, chính sách cho nông dân vay vốn, chính sách thuế đất sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp đã phát triển nhanh chóng Từ chỗtrước đây phải nhập khẩu lương thực thì nay đã có lương thực xuất khẩuvới khối lượng ngày càng tăng, đứng thứ hai thế giới Đời sống của nôngdân, xã hội nông thôn đã có sự thay đổi căn bản Thực tế cho thấy, từ mộtnông hộ sản xuất tự túc, tự cấp muốn phát triển thành hộ SXHH cần phảiphá vỡ kết cấu kinh tế khép kín của hộ để chuyển sang SXHH Các chínhsách kinh tế là tiền đề, là môi trường để hộ SXHH hoạt động có hiệu quả

- Những nhân tố về tổ chức sản xuất - kỹ thuật

Như đã phân tích, nông hộ là một đơn vị kinh tế tự chủ và tương đốiđộc lập với các tổ chức hoặc đơn vị kinh tế khác Tổ chức sản xuất và kỹthuật tác động đến SXHH của nông hộ thông qua các khâu: tổ chức làmdịch vụ tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ vật tư kỹ thuật, vốn và các yếu tố đầu

Ngày đăng: 13/10/2016, 09:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1994), Vai trò Nhà nước trong phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Tuấn Anh (1994), "Vai trò Nhà nước trong phát triển
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa họcxã hội
Năm: 1994
2. Vũ Tuấn Anh - Trần Thị Vân Anh (1997), Kinh tế hộ lịch sử và triển vọng phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Tuấn Anh - Trần Thị Vân Anh (1997), "Kinh tế hộ lịch sử và triểnvọng phát triển
Tác giả: Vũ Tuấn Anh - Trần Thị Vân Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
3. Ph.Ăngghen (1973), Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và Nhà nước, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph.Ăngghen (1973), "Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và Nhànước
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1973
4. Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên (4-2000), Báo cáo tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo năm 1999 và kế hoạch năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên (4-2000)
5. Ban Kinh tế Tỉnh ủy Thái Nguyên (10/1998), Báo cáo điều tra, đánh giá các loại hình kinh tế HTX sau chuyển đổi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Kinh tế Tỉnh ủy Thái Nguyên (10/1998)
6. Ban Kinh tế Tỉnh ủy Thái Nguyên (7/1998), Báo cáo chuyên đề chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông, lâm nghiệp và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Kinh tế Tỉnh ủy Thái Nguyên (7/1998)
7. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (1993), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình chuyển sang kinh tế thị trường ở nước ta , tập I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (1993), "Một số vấn đề lý luận vàthực tiễn của quá trình chuyển sang kinh tế thị trường ở nước ta
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Năm: 1993
8. R.Barker (1991), Ảnh hưởng của chính sách nông nghiệp; kinh nghiệm các nước châu Á và Đông Âu, những gợi ý đối với Việt Nam, Nxb Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: R.Barker (1991), "Ảnh hưởng của chính sách nông nghiệp; kinh nghiệmcác nước châu Á và Đông" Âu", những gợi ý đối với Việt Nam
Tác giả: R.Barker
Nhà XB: Nxb Ủy ban Kế hoạch Nhà nước
Năm: 1991
9. Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (1999), Phát triển nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn CNH, HĐH ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (1999), "Phát triển nông nghiệpnông thôn trong giai đoạn CNH, HĐH ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang
Nhà XB: Nxb Nôngnghiệp
Năm: 1999
10.Bộ Chính trị BCH T.Ư Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết số 06-NQ/TW (ngày 10/11/1998) về một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị BCH T.Ư Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), "Nghị quyết số06-NQ/TW (ngày 10/11/1998) về một số vấn đề phát triển nôngnghiệp, nông thôn
Tác giả: Bộ Chính trị BCH T.Ư Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
11.Bộ Kế hoạch và Đầu tư (4/2000), Báo cáo tại Hội nghị quốc gia về xóa đói giảm nghèo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (4/2000), "Báo cáo tại Hội nghị quốc gia về xóađói giảm nghèo
12.Bộ Kế hoạch và Đầu tư (8/1999), Chỉ tiêu kinh tế - xã hội 10 năm (1990-1999), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (8/1999), "Chỉ tiêu kinh tế - xã hội 10 năm(1990-1999)
13.Bộ Nông nghiệp và PTNT (4/2000), Báo cáo tình hình kinh tế trang trại nước ta trong những năm vừa qua và tổ chức triển khai nghị quyết của Chính phủ về kinh tế trang trại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Nông nghiệp và PTNT (4/2000)," Báo cáo tình hình kinh tế trang trạinước ta trong những năm vừa qua và tổ chức triển khai nghịquyết của Chính phủ về kinh tế trang trại
14.Bộ Nông nghiệp và PTNT (2000), Một số văn bản về pháp lệnh hiện hành về phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Nông nghiệp và PTNT (2000), "Một số văn bản về pháp lệnh hiện hànhvề phát triển nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2000
15.Bộ Nông nghiệp và PTNT, chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Nông nghiệp và PTNT
16.Chi cục định canh, định cư kinh tế mới tỉnh Thái Nguyên (1/2000), Báo cáo kết quả 4 năm thực hiện công tác định canh, định cư, kinh tế mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi cục định canh, định cư kinh tế mới tỉnh Thái Nguyên (1/2000)
17.Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên (1/2000), Báo cáo 25 năm hoạt động của lực lượng kiểm lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên (1/2000)
18.Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (15/3/2000), "Nghị quyết 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại", Báo Thái Nguyên, (437) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại
19.Đỗ Kim Chung (12/1999), "Thị trường đất đai trong nông nghiệp ở Việt Nam thực trạng và các định hướng chính sách", Báo cáo tại Hội nghị thường niên của Hiệp hội kinh tế Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường đất đai trong nông nghiệp ở ViệtNam thực trạng và các định hướng chính sách
20.Nguyễn Sinh Cúc (2000), "Những thành tựu nổi bật của nông nghiệp nước ta sau 15 năm đổi mới", Nghiên cứu kinh tế, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu nổi bật của nông nghiệpnước ta sau 15 năm đổi mới
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w