1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế đầu tư TRỰC TIẾP nước NGOÀI TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH tế CỘNG hòa dân CHỦ NHÂN dân lào

152 530 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 802 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức chủ yếu của quan hệ kinh tế thế giới, là một nhân tố quan trọng hàng đầu của nhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia để phát triển. Nhu cầu đầu tư càng trở nên bức thiết trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật và phân công lao động quốc tế ngày nay. Sẽ không có sự phát triển hoàn chỉnh, nếu không có sự đầu tư tư bản và kỹ thuật giữa các nước và khu vực trên thế giới.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức chủ yếucủa quan hệ kinh tế thế giới, là một nhân tố quan trọng hàng đầu củanhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia để pháttriển Nhu cầu đầu tư càng trở nên bức thiết trong điều kiện tiến bộ khoahọc kỹ thuật và phân công lao động quốc tế ngày nay Sẽ không có sựphát triển hoàn chỉnh, nếu không có sự đầu tư tư bản và kỹ thuật giữa cácnước và khu vực trên thế giới Đối với các nước đang phát triển thì đầu

tư của nước ngoài là một trong những nhân tố chủ yếu cho sự tăngtrưởng kinh tế CHDCND Lào tiến hành xây dựng đất nước từ điểm xuấtphát rất thấp, nền kinh tế lạc hậu, tự cung tự cấp, khoa học kỹ thuật, kếtcấu hạ tầng chưa phát triển, năng suất lao động thấp, thu nhập quốc dântrên đầu người xếp vào loại thấp nhất thế giới Nhưng CHDCND Lào làmột nước có nhiều tiềm năng kinh tế còn chưa được khai thác một cách

có hiệu quả vì trình độ phát triển kinh tế thấp và thiếu thốn về nhiều mặt,

từ nguồn vốn đầu tư đến nguồn nhân lực, từ cơ sở vật chất - kỹ thuật đếnkinh nghiệm trong tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh theo cơ chế thịtrường và mở rộng hợp tác quốc tế Vấn đề đặt ra là phải giải quyết mộttrong những khó khăn, thiếu thốn đó Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài đáp ứng yêu cầu tích lũy để phát triển kinh tế là phù hợp với xuhướng thời đại hiện nay và cũng là một trong những vấn đề cấp bách

hiện nay ở CHDCND Lào Do đó đề tài nghiên cứu vấn đề "Đầu tư trực

tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh tế Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào", là có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và mang tính cấp thiết đối với

CHDCND Lào hiện nay

Trang 2

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Vì tính thiết yếu và quan trọng của vấn đề đầu tư nước ngoài, và vaitrò của nó trong nền kinh tế ngày càng tăng, cho nên ngày càng có nhiềutác giả ngoài nước quan tâm nghiên cứu chủ đề này dưới các khía cạnh:vấn đề di chuyển vốn và chuyển giao công nghệ, các chính sách biện phápnhằm thu hút đầu tư quốc tế, vai trò, tính hai mặt của đầu tư trực tiếp nướcngoài, mối quan hệ giữa các công ty đa quốc gia với quá trình phát triểnkinh tế của các nước đang phát triển ở Việt Nam đã có các công trình

nghiên cứu: Những giải pháp chính trị, kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả

ĐTTNN vào Việt Nam, của Chu Văn Cấp - Nguyễn Khắc Thân (chủ biên); ĐTTNN trong việc phát triển kinh tế Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ của Mai

Đức Lộc, 1994; ĐTTNN một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, của Võ Thanh Thu; ĐTTNN thực trạng và giải pháp, của Nguyễn Mai; và

nhiều công trình nghiên cứu khác

Ở CHDCND Lào, Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ

4 khóa VI năm 1997 đã khẳng định tiếp tục lấy chủ trương chính sách mở rộngquan hệ kinh tế với nước ngoài, nhất là với CHXHCN Việt Nam, khai thác sửdụng tốt nguồn tài nguyên, thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào sự pháttriển kinh tế, dưới sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.Nhưng ở Lào, đối với việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài hiệnnay về mặt lý luận và thực tiễn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống vàtoàn diện

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Trang 3

NICs, ASEAN và của Lào trong thời gian qua Từ đó, xác định những điềukiện và những giải pháp chủ yếu để thúc đẩy việc thu hút nguồn FDI trongviệc phát triển kinh tế CHDCND Lào.

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt những mục đích trên nhiệm vụ của luận án là:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài.Tìm ra mối liên hệ khách quan giữa việc phát triển kinh tế và thu hút vốnđầu tư nước ngoài

- Phân tích tác động của FDI trong việc phát triển kinh tế CHDCNDLào, khái quát những thành tựu cũng như những tồn tại của thu hút đầu tưnước ngoài, xuất phát từ những phân tích tình hình thực tiễn luận án đềxuất các phương hướng và những biện pháp chủ yếu nhằm thu hút có hiệuquả nguồn vốn FDI tại CHDCND Lào

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Đầu tư nước ngoài có nhiều loại, nhiều hình thức khác nhau, songluận án chỉ tập trung nghiên cứu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trongviệc phát triển kinh tế ở Lào

- Thời gian nghiên cứu từ năm 1988 đến nay trong phạm vi cảnước

- Luận án trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đầu tư trựctiếp nước ngoài dưới góc độ kinh tế - chính trị với những giải pháp mangtính định hướng

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác trong KTCT và triết học Các quan điểm về phát triển kinh tế ởCHDCND Lào được thể hiện ở các Văn kiện Đại hội IV, V, VI của ĐảngNDCM Lào và sử dụng lý luận kinh tế học một cách chọn lọc Nghiên cứu

Trang 4

tiếp thu kinh nghiệm thực tế của một số nước, nhất là của Việt Nam tronglĩnh vực thu hút FDI.

Để giải quyết tốt nhiệm vụ của luận án, tác giả sử dụng phươngpháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp khảo sát, phântích tổng hợp, khái quát hoạt động thực tiễn đầu tư được sử dụng nhiềutrong nghiên cứu

6 Những điểm mới về mặt khoa học của luận án

- Phân tích những đặc điểm vận động của dòng đầu tư trực tiếp ởcác nước ASEAN

- Phân tích sự tác động qua lại của đầu tư trực tiếp nước ngoài với

sự phát triển kinh tế của nước CHDCND Lào

- Phân tích những bài học kinh nghiệm trong việc thu hút vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài của các nước ASEAN và thực trạng đầu tư trực tiếp

ở Lào trong đó trình bày quan điểm phương hướng và những biện pháp cơbản nhằm đẩy mạnh việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài để thực hiệntốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội CHDCND Lào

7 Ý nghĩa thực tiễn của luận án

Với những phân tích và kết quả mà luận án đạt được, tác giả hy vọngqua công trình này góp phần vào việc nhận thức về vai trò, tác dụng và ýnghĩa của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đề xuất các hướng triểnkhai và những giải pháp chủ yếu để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm thuhút có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài ở CHDCND Lào hiện nay

Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiêncứu và giảng dạy cũng như có thể sử dụng vào việc hoạch định chủ trương,chính sách thuộc lĩnh vực hợp tác và đầu tư nước ngoài ở CHDCND Lào

8 Kết cấu luận án

Trang 5

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và cácphụ lục, luận án gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 6

Chương 1

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI - MỘT NGUỒN LỰC QUỐC TẾ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ

CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

1.1 ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI; MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN

1.1.1 Đầu tư (Investment): Khái niệm và phân loại

* Khái niệm đầu tư

- Đầu tư là việc sử dụng vốn vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằmtạo ra năng lực vốn lớn hơn Vốn đầu tư là phần tích lũy xã hội của cácngành, các cơ sở sản xuất kinh doanh, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huyđộng từ các nguồn khác được đưa vào tái sản xuất xã hội Trên bình diệndoanh nghiệp, đầu tư là việc di chuyển vốn vào một hoạt động nào đó nhằmmục đích thu lại một khoản tiền lớn hơn [19, tr 6]

- Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong một thờigian tương đối dài nhằm thu lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội "Đặc điểmcủa đầu tư là nó xảy ra trong một thời gian tương đối dài, thường từ 2 nămtrở lên đến 50, 70 năm hoặc lâu hơn nữa Những hoạt động kinh tế ngắnhạn thường trong vòng một năm không nên gọi là đầu tư" [10, tr 11-12]

- Đầu tư kinh tế, là việc bỏ vốn vào một doanh nghiệp, vào mộtcông trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngânsách, vốn tự do, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây dựngmới, hoặc thực hiện việc hiện đại hóa, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanhlợi hay phát triển phúc lợi công cộng [28, tr 761]

Dù cách diễn đạt các khái niệm như đã nêu trên có khác nhau songkhông có sự khác biệt lớn, theo đó, để xác định một hoạt động được coi làđầu tư căn cứ vào mấy đặc điểm sau:

Trang 7

- Đầu tư là một hoạt động tài chính (bỏ vốn thu lợi nhuận) vốn đầu

tư có thể là tiền hoặc các loại tài nguyên nói chung

- Đầu tư là hoạt động trong một thời gian tương đối dài

- Hoạt động đầu tư có tính rủi ro cao và độ rủi ro càng cao khi nhàđầu tư đưa vốn ra nước ngoài để hoạt động đầu tư ở nước ngoài

Vậy: "Đầu tư là hoạt động bỏ vốn trong một thời gian tương đối dàinhằm thu lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế - xã hội Vốn đó từ nhiềunguồn khác nhau như quỹ tích lũy của tái sản xuất xã hội hoặc thu hút từnước ngoài dưới nhiều hình thức"

* Phân loại đầu tư

Đầu tư hay hoạt động đầu tư được phân loại theo những tiêu thứckhác nhau tùy theo mục đích của việc phân loại Chẳng hạn:

 Phân loại theo tính chất của đầu tư thì có:

- Hoạt động đầu tư phát triển

- Hoạt động đầu tư chuyển dịch mà không làm thay đổi giá trị của

nó (ví dụ chuyển nhượng cổ phần từ người này sang người khác chẳng hạn)

 Phân loại theo hình thức sở hữu vốn: có thể là đầu tư nhà nước,

đầu tư tư nhân hoặc đầu tư của các tổ chức tài chính

 Phân loại theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư: có đầu tư trực tiếp

và đầu tư gián tiếp Như vậy có nhiều cách phân loại khác nhau, tùy theomục đích nghiên cứu mà sử dụng cách phân loại cho thích hợp Tuy nhiên,người ta thường phân biệt hai loại đầu tư chính Đó là đầu tư trực tiếp vàđầu tư gián tiếp Việc phân loại này có ảnh hưởng đến cách tiếp nhận, cáchquản lý và sử dụng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài

Đầu tư trực tiếp là đầu tư mà người bỏ vốn - chủ sở hữu - đồng thời

là người sử dụng vốn (tức là cùng một chủ thể)

Người đầu tư có thể là nhà nước, có thể là tư nhân hoặc sở hữu hỗnhợp, như thông qua các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (người

Trang 8

đầu tư có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý) Nếu đầu tư trực tiếp bằngvốn nước ngoài thì phải tuân theo quy định của luật đầu tư nước ngoài.

Đầu tư gián tiếp: là đầu tư mà người bỏ vốn (chủ sở hữu) khôngphải là người sử dụng vốn (cơ sở là không cùng một chủ thể)

1.1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Khái niệm, đặc điểm và xu hướng vận động

1.1.2.1 Khái niệm

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) - một hình thức hợp tác kinhdoanh quốc tế với những đặc thù riêng về sự can thiệp của chủ đầu tư nướcngoài vào quá trình kinh doanh, sản xuất, về tính chất lâu dài của dự án; về

sự gắn liền với quá trình chuyển giao công nghệ đòi hỏi được điều chỉnhbằng một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, rõ ràng Tuy nhiên, có thể địnhnghĩa một cách khái quát như sau:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình kinh doanh củanhà đầu tư nước ngoài bỏ một lượng vốn đủ lớn để thiết lập các cơ

sở sản xuất, kinh doanh; nhờ đó cho phép họ trực tiếp tham giaquản lý, điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư nhằm mụcđích thu được lợi nhuận từ những hoạt động đầu tư đó [12, tr.12-13]

Theo luật đầu tư nước ngoài của Lào (1994) thì:

Chính phủ CHDCND Lào khuyến khích cho tư nhân

và pháp nhân nước ngoài đầu tư tại CHDCND Lào dựa trênnguyên tắc hai bên cùng có lợi và hoạt động theo pháp luật củaCHDCND Lào

- Người đầu tư nước ngoài được phép thực hiện sự sảnxuất kinh doanh trong các lĩnh vực của nền kinh tế, như: nông

Trang 9

nghiệp, công nghiệp, khai thác mỏ than, giao thông vận tải, xâydựng, du lịch, dịch vụ, thương mại.

- Mọi của cải tài sản trong sự đầu tư của nhà đầu tư nướcngoài ở CHDCND Lào sẽ được giữ gìn và bảo vệ theo nguyêntắc và pháp luật của CHDCND Lào như: không được trưng thu,không được giữ lại hay nhường cho nhà nước Nhưng nếu có việc

sử dụng dưới mọi hình thức vì lợi ích công cộng thì người đầu tưnước ngoài sẽ được nhận bồi thường lại một cách hợp tình, hợp

lý và theo thực trạng hiện hành [49, tr 22]

1.1.2.2 Đặc điểm của FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có một số đặc điểm sau:

Một là: về vốn góp của chủ ĐTNN, phải đóng góp một lượng vốn

tối thiểu theo quy định của từng nước, qua đó để họ có quyền được trựctiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư:

Các nước phương Tây nói chung, quy định lượng vốn nàyphải chiếm trên 10% cổ phần của xí nghiệp nước ngoài thì mớiđược xem là đầu tư trực tiếp Có nước quy định là 25%, hoặc cónước quy định có cổ phần tuy dưới 25% nhưng nếu có một trongnhững điều kiện sau đây đều được xem là đầu tư trực tiếp: cửnhân viên quản lý hoặc nhân viên kỹ thuật đến xí nghiệp đầu tư,cung cấp kỹ thuật; cung cấp nguyên liệu; mua sản phẩm của xínghiệp, giúp đỡ tiền vốn, cho vay hoặc đầu tư theo hình thứcthương mại có hoàn trả [6, tr 200]

Ở Lào, Luật đầu tư nước ngoài cũng đã đưa ra điều kiện quy định

về vốn tối thiểu của nước ngoài phải chiếm ít nhất 30% tổng số vốn phápđịnh, đối với phần đóng góp USD phải thanh toán bằng tiền kíp theo tỷ giáhối đoái của ngân hàng CHDCND Lào (Điều 6 Luật đầu tư nước ngoài tạiLào - 1994) [49, tr 21]

Trang 10

Hai là: về quyền điều hành, quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài phụ thuộc vào mức góp vốn Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư100% vốn thì xí nghiệp đó hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành,

có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý

Ba là: chia lợi nhuận: Nhà ĐTNN thu được lợi nhuận đầu tư phụ

thuộc vào kết quả sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp Lãi, lỗ được phânchia theo tỷ lệ góp trong vốn pháp định, sau khi đã trừ đi thuế lợi tức và cáckhoản đóng góp cho nước chủ nhà

Bốn là: về hình thức đầu tư: cơ bản thường được áp dụng dưới các

hình thức sau:

- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh(Contractual business Co-Operation) Hình thức này không thành lập phápnhân mới

- Doanh nghiệp liên doanh (Joint Venture enterprise) do một bênhay các bên nước ngoài góp vốn với một bên hay các bên nước nhận đầu tư

để thành lập nên doanh nghiệp mới

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu

tư nước ngoài đầu tư 100% vốn (100% Foreign canterise)

Hợp đồng "xây dựng kinh doanh chuyển giao" (Building opeate - transfer viết tắt là BOT) Đây là các văn bản ký kết giữa chính phủnước nhận đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh cáccông trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định đủ để thu hồi vốn

-và lãi; hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàncông trình đó cho nhà nước sở tại Những loại hình kinh doanh tương tựnhư hình thức BOT còn có hợp đồng "xây dựng - chuyển giao kinh doanh"BOT; hợp đồng "xây dựng - chuyển giao" (BT) Cùng với sự gia tăng củadòng FDI ngày càng xuất hiện nhiều hình thức đầu tư mới đưa lại hiệu quả

Trang 11

cho nhà đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư, như đặc khu kinh tế, khu côngnghiệp tập trung hoặc những loại hình kinh tế đặc biệt khác.

1.1.2.3 Bản chất và xu hướng vận động của FDI trên thế giới

* Bản chất của đầu tư nước ngoài

Hoạt động đầu tư nước ngoài, theo quan niệm của V.I.Lênin là xuấtkhẩu "tư bản thừa", là hoạt động kinh tế chịu tác động và chi phối của cácquy luật kinh tế Đầu tư nước ngoài là hoạt động kinh tế mang tính kháchquan, khi quá trình tích tụ và tập trung sản xuất đã đạt đến một trình độnhất định, khi lực lượng sản xuất đã phát triển vượt khỏi biên giới quốc gia.V.I.Lênin đề cập vấn đề xuất khẩu tư bản như một đặc điểm kinh tế cơ bảncủa chủ nghĩa tư bản độc quyền Người cho rằng đến giai đoạn chủ nghĩa tưbản độc quyền, xuất khẩu tư bản trở thành cần thiết đối với chủ nghĩa tưbản, bởi vì quá trình tích tụ và tập trung tư bản là điều kiện quan trọng cho

sự lớn lên của tư bản và sự "thừa tư bản" như là một tất yếu "Tư bản thừa"

ở đây có tính chất tương đối, tức là thừa so với lợi nhuận thấp nếu phải đầu

tư trong nước, còn nếu đầu tư ra nước ngoài thì tỷ suất lợi nhuận sẽ caohơn V.I.Lênin cho rằng: "Nếu CNTB chú ý đến phát triển nông nghiệp,đến việc nâng cao mức sống của nhân dân thì không thể có hiện tượng

"tư bản thừa" "Chừng nào chủ nghĩa tư bản vẫn còn là CNTB, thì số tư bảnthừa vẫn còn chuyên dùng không phải để nâng cao mức sống của quầnchúng trong một nước nhất định, vì như thế sẽ đi đến kết quả làm giảm bớtlợi nhuận của bọn tư bản, - mà là để tăng thêm lợi nhuận đó bằng cách xuấtkhẩu tư bản ra nước ngoài, vào những nước lạc hậu Tuy các nước này, lợinhuận thường cao, vì tư bản còn ít, giá đất đai tương đối không là bao, tiềncông hạ, nguyên liệu rẻ" [29, tr 456] V.I.Lênin cũng đã đề cập đến haihình thức xuất khẩu tư bản là: xuất khẩu tư bản cho vay (là hình thức chochính phủ hay tư nhân vay nhằm thu lợi tức) và xuất khẩu tư bản hoạt động(là hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những xí nghiệp mới, hoặc mua

Trang 12

lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư để tiến hành sảnxuất ra hàng hóa nhằm mục đích thu lợi nhuận cao).

Từ đó, V.I.Lênin cho rằng: xuất khẩu tư bản có tác dụng tích cực vàtiêu cực đối với cả nước xuất khẩu và nhập khẩu tư bản, đồng thời nó cùngvới buôn bán là một trong những đặc điểm của thương mại quốc tế trongthời đại tư bản độc quyền Trong thời đại tư bản tài chính thống trị, xuấtkhẩu tư bản trở thành công cụ bành trướng và thực hiện sự phân chia thịtrường thế giới giữa các tổ chức độc quyền

Khi đề ra chính sách kinh tế mới (1921), V.I.Lênin đặt vấn đề làphải sử dụng kinh tế tư bản nhà nước, vì kinh tế tư bản nhà nước đã đạt đếntrình độ phát triển cao, làm xuất hiện các nhân tố với tư cách là tiền đề choviệc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì nếu không có kỹ thuật của tư bản đượcxây dựng trên những phát minh của khoa học hiện đại, không có một tổchức nhà nước mạnh có năng lực quản lý nền kinh tế vĩ mô thì không thểnói đến CNXH được V.I.Lênin chỉ ra một số hình thức của kinh tế tư bảnnhà nước, như: Tô nhượng, cho tư bản thuê tài sản của nhà nước Xô Viết,Công ty hợp doanh Thông qua những hình thức này để thu hút vốn, kỹthuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài để xây dựng CNXH.Người Viết: Khi du nhập chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức tônhượng, chính quyền Xô viết tăng cường được nền đại sản xuất đối lập vớinền tiểu sản xuất, nền sản xuất tiên tiến đối lập nền sản xuất lạc hậu vàlực lượng sản xuất phát triển, số lượng sản phẩm tăng lên ngay hoặc trongmột thời gian ngắn Tuy nhiên, trong đó (nhà tư bản), họ kinh doanh theophương thức tư bản để lấy lợi nhuận cao hoặc để có được nguyên liệu mà

họ không thể tìm được hoặc khó tìm được bằng cách khác Như vậy ngaytrong điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới lúc bấy giờ (nhữngnăm 20 của thế kỷ XX), Lênin cho rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã là

Trang 13

nhân tố có khả năng đóng vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển nói chung

và phát triển nền sản xuất xã hội nói riêng của các bên liên quan đến hoạtđộng đầu tư nước ngoài:

Cần nhấn mạnh và lưu ý rằng, trước chiến tranh thế giới thứ 2, đầu

tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu từ các nước tư bản phát triển sang các nướckinh tế lạc hậu và thuộc địa, thì sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhất là vàonhững năm cuối thập niên 80 đến nay (cách mạng khoa học và công nghệphát triển như vũ bão, xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế )luồng đầu tư nước ngoài đã có sự thay đổi Đã xuất hiện sự đầu tư lẫn nhaugiữa các nước tư bản phát triển, xuất hiện những nước vừa là nơi cung cấpnguồn vốn đầu tư ra nước ngoài, vừa là nơi tiếp nhận đầu tư nước ngoài.Đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phân công lao động

và quốc tế hóa đời sống kinh tế của nhiều nước; là một trong những nhân tốquan trọng tác động từ bên ngoài vào làm cho quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa ở các nước nhận đầu tư phát triển nhanh chóng Song cũngphải nhận thấy rằng đầu tư nước ngoài (xuất khẩu tư bản) vẫn để lại chocác quốc gia nhập khẩu tư bản, nhất là các nước đang phát triển, những hậuquả nặng nề Nhưng điều này tùy thuộc một phần rất lớn vào vai trò quản lýcủa Nhà nước ở nước nhận đầu tư Tranh thủ mặt tích cực của đầu tư nướcngoài nhiều nước đã mở rộng việc tiếp nhận đầu tư để đẩy nhanh quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước mình.Vấn đề đặt ra là phải biết vậndụng mềm dẻo, linh hoạt nguyên tắc cùng có lợi, lựa chọn phương án thiếtthực để khai thác có hiệu quả nguồn lực quốc tế này

Tóm lại, có thể khái quát bản chất (thực chất bên trong) của đầu tưtrực tiếp nước ngoài là sự gặp gỡ nhau về nhu cầu và lợi ích của một bên lànhà đầu tư và một bên là nước nhận đầu tư

* Xu hướng vận động của FDI trên thế giới

Trang 14

Dòng FDI trên thế giới đã xuất hiện và được xác định vào nhữngnăm cuối thế kỷ 19, trước hết dưới hình thức thiết lập các nhà máy, xínghiệp ở nước ngoài gần nơi tiêu thụ với mục đích tránh chi phí vậnchuyển hàng hóa Hình thức này được phát triển mạnh mẽ nhất là từ sauchiến tranh thế giới thứ II đến nay.

Sự xuất hiện và gia tăng dòng FDI trên thế giới là một tất yếu kinh

tế gắn liền với sự phát triển lực lượng sản xuất trên thế giới Trong quátrình phát triển của CNTB, khi mà lực lượng sản xuất phát triển hết sứcmạnh mẽ cùng với sự ra đời của các tổ chức độc quyền thì hoạt động đầu tư

ra nước ngoài (xuất khẩu tư bản) đã ra đời và có xu hướng phát triển mạnh.Trong tác phẩm nổi tiếng "Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủnghĩa tư bản" [29, tr 383; 541], Lênin cũng đã chỉ rõ việc xuất khẩu giá trịnhằm thu được giá trị thặng dư ở ngoài biên giới quốc gia (xuất khẩu tưbản) đã trở thành một đặc trưng kinh tế của CNTB khi bước sang giai đoạnCNTB độc quyền Hoạt động ĐTNN đã trở nên sôi động và đóng vai tròngày càng quan trọng hơn đối với nền kinh tế thế giới nói chung cùng vớingười chuyên chở" nó là các công ty xuyên quốc gia (TNCs) hoạt động ởhầu khắp các nước trên thế giới

Sự hình thành FDI là do các nguyên nhân dưới đây:

Thứ nhất: sự phát triển không đều về lực lượng sản xuất trên thế giới

khiến cho chi phí sản xuất ra cùng một loại sản phẩm hàng hóa ở các nướckhác nhau, do đó việc đầu tư để sản xuất hàng hóa ở các nước có chi phí thấp

do gần nguồn nguyên liệu và nguồn sức lao động rẻ càng trở nên bức thiết.Chẳng hạn tiền lương của các công nhân Mỹ làm việc tại ngành công nghiệplắp ráp máy tính ở Hoa Kỳ từ 2.000-2.500 USD/tháng thì với công việctương tự ở các công ty con của chúng ở Thailand và Malaysia chỉ bằng 1/5con số trên [1, tr 35] Cho đến nay, chi phí lao động rẻ vẫn là yếu tố hấpdẫn các nhà đầu tư; điều đó giải thích vì sao đầu tư của Mỹ vào Trung

Trang 15

Quốc, vào ASEAN tăng nhanh trong vài năm qua Nói cách khác các nhàđầu tư tìm kiếm sự đầu tư ở bên ngoài do lợi dụng sự chênh lệch về chi phígiữa các nước, qua đó kiếm được lợi nhuận cao hơn nhờ "tối thiểu hóa chiphí".

Thứ hai: Tỷ suất lợi nhuận ở các nước công nghiệp TBPT có xu

hướng giảm xuống, bởi quá trình tăng tích lũy tư bản đi liền với sự tăng cấutạo hữu cơ của tư bản Cấu tạo hữu cơ trong CNTB ngày càng tăng là xuhướng không thể thay đổi, nhưng nhà đầu tư tư bản có thể thay đổi tỷ lệ vềlượng trong công thức P = m: c + v nhờ giảm v bằng cách thuê lao động rẻhơn ở các nước đang phát triển khác Mặt khác, do các ngành, các lĩnh vực

"béo bở" trong các nước TBPT đã được đầu tư hết nhưng các nhà tư bảnkhông muốn đầu tư vào các lĩnh vực cần vốn lớn, lợi nhuận thấp mà tìmcách đầu tư ra nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn của

họ Đó chính là hiện tượng "thừa tương đối" tư bản các nước TBPT trongkhi các nước đang phát triển lại rất cần vốn đầu tư để thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Kết quả khơi thông dòng chảy vốnFDI là nhờ nhà đầu tư đã "tối đa hóa" được lợi nhuận

Thứ ba: do xu thướng bảo hộ mậu dịch ở các nước ngày càng gia

tăng với những hàng rào thuế và phi quan thuế Chẳng hạn, Mỹ đánh thuếtới 40% đối với xe ô tô nguyên chiếc nhập từ Nhật nhưng sẽ chỉ đánh thuếVAT đối với xe cùng loại nếu nó được lắp ráp tại Mỹ với mức thuế này chỉbằng 25% giá trị xe mà thôi Chính vì thế mà các nước gia tăng đầu tư ranước ngoài sản xuất để tránh hàng rào thuế quan, tiếp cận thị trường rộnglớn bên ngoài

Thứ tư: sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và

công nghệ trên thế giới, cũng như sự lên giá của đồng tiền trong nước, cùngvới giá đất đai và chi phí bảo vệ môi trường tăng cao cũng được coi lànhững nguyên nhân thúc đẩy dòng FDI trên thế giới gia tăng nhanh trong

Trang 16

những năm gần đây, kể cả đầu tư ra nước ngoài để sản xuất rồi nhập trở lạicái mình cần cũng trở nên khá phổ biến vì nó có lợi cho chủ đầu tư; tăngsức mạnh cạnh tranh do giảm giá bán ở thị trường trong nước [12, tr 35].

* Sự vận động của dòng FDI trên thế giới

Cho đến nay, sự vận động của FDI trên thế giới có thể phân ra haigiai đoạn [11, tr 8] trước và sau chiến tranh thế giới thứ II - 1945

+ Giai đoạn I (trước năm 1945): Cho thấy dòng chảy chính của FDI

từ các nước TBPT nhất (Anh, Pháp, Mỹ, Đức) sang các nước đang phát triển

Đặc trưng của giai đoạn này là sự xuất hiện "tư bản thừa" do quy

mô tích lũy tư bản ở các nước TBPT đã đạt được một trình độ nhất định.Cũng trong thời điểm đó, ở các nước chậm phát triển, do giá đất đai tươngđối thấp, nhân công hạ, nguyên liệu dồi dào và giá rẻ nhưng lại rất thiếuvốn Mặt khác, không loại trừ việc xuất khẩu tư bản tới các nước chậm pháttriển còn được coi là ưu tiên chiến lược của các cường quốc đế quốc, đểkhống chế về kinh tế, chính trị lâu dài các nước này; thực hiện sự phân chiathế giới về mặt kinh tế - chính trị, giữa các nước TBCN

+ Giai đoạn II (từ sau 1945 đến nay): Xu hướng vận động FDI trênthế giới đã có sự thay đổi Về cơ bản đó là sự chuyển hướng của dòng FDItrở về các nước TBPT; sự xuất hiện các lĩnh vực mới thu hút mạnh mẽdòng đầu tư, sự xuất hiện nhiều trung tâm đầu tư mới và đặc biệt là cáccông ty xuyên quốc gia trở thành những chủ đầu tư thực sự chiếm vị tríngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới

Sự thay đổi của dòng FDI trên thế giới trong mấy thập kỷ vừa qua

bị chi phối bởi các xu hướng sau đây:

Một là: dòng FDI tập trung vào các nước TBPT.

Theo thống kê, nếu vào những thập kỷ 50, 60; tỷ lệ FDI đầu tư vàocác nước ĐPT chiếm 70% tổng số FDI toàn thế giới, thì sang đầu thập kỷ

90, tỷ lệ này chỉ còn chiếm khoảng dưới 30% thậm chí chỉ còn 16,8% [13]

Trang 17

Theo "Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế" (OECD) tổng số FDItoàn thế giới năm 1994 là 196 tỷ USD tăng 11% so với năm 1993, trong đó

Mỹ là nước đầu tư trực tiếp lớn nhất, chiếm 58,4 tỷ so với 57,9 tỷ USD vàonăm 1993 Nếu như Nhật chủ yếu đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì Mỹ lạinhận FDI từ bên ngoài vào lớn hơn dòng chảy ra: con số này năm 1994 là60,1 tỷ USD với 10 tỷ vào năm 1992 Do dòng FDI có xu hướng đổ vàocác nước TBPT khiến tình trạng "đói vốn" ở các nước đang phát triển càngtrở nên trầm trọng

Sở dĩ dòng FDI tập trung đầu tư lẫn nhau giữa các nước TBPT là domấy nguyên nhân sau:

Do sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - côngnghệ dẫn đến sự ra đời của các ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao,tiêu tốn ít năng lượng và nguyên liệu, sử dụng ít nhân công nhưng có giá trịgia tăng cao, hứa hẹn một tỷ suất lợi nhuận hấp dẫn Những công ty "hồihương" trở về chính quốc thuộc dạng này

Do chính sách bảo hộ mậu dịch ở các nước gia tăng, bằng các hàngrào thuế và phí quan thuế nên đầu tư trực tiếp vào các nước để sản xuất làcách hữu hiệu nhất xâm nhập thị trường ở các nước TBPT Chỉ tính riêng năm

1996, nước Anh đã thu hút được 23,8 tỷ USD vốn FDI từ EU, còn tronggiai đoạn 1991 - 1995 Anh cũng đã thu hút được 81 tỷ USD vốn FDI vàđầu tư nước ngoài lớn thứ hai sau Mỹ (với số vốn là 43,7 tỷ USD cùng kỳ[30, tr 3]

Do chính sách cắm nhánh của công ty XQG để sản xuất tiêu thụ ởbên ngoài, (như trường hợp các TNC của Nhật, EU đầu tư mạnh mẽ vào

Mỹ từ nửa cuối thế kỷ 60 đến nay, còn trước đó trong kế hoạch Mácsan,các TNC của Mỹ đã cắm nhánh khá sâu rộng ở các nước này rồi

Xét trên bình diện kỹ thuật, do hạn chế riêng của các nước nghèo,kém phát triển, nên dù muốn, các nước này cũng khó có thể đáp ứng các yếu

tố về kết cấu hạ tầng phụ trợ cho các hoạt động trên của các nước TBPT, nhất

Trang 18

là ở các lĩnh vực mà các nước TBPT muốn xuất khẩu tư bản để thu được lợiích dưới hình thức chuyển giao công nghệ, như sản xuất xe hơi, hàng không,dầu lửa Đồng thời chính trong thời gian này, tính ổn định tương đối của môitrường kinh tế - chính trị - xã hội ở các nước TBPT cao hơn ở các nước ĐPTcũng là yếu tố thu hút các nước TBPT đầu tư lẫn nhau nhiều hơn vào cácnước ĐPT.

Hai là: lĩnh vực công nghiệp chế biến và dịch vụ thu hút đầu tư

mạnh nhất Đây cũng là hệ quả của sự phát triển kinh tế thế giới dưới tácđộng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, theo đó tạo ra các ngành vàphân ngành để liên kết, hợp tác trên các lĩnh vực mũi nhọn của nền kinh tế.Dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ sản xuất và dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầucon người) phát triển ngày càng trở thành tất yếu đối với các cuộc sốnghiện đại, đồng thời là ngành "công nghiệp không khói" cho lợi nhuận caokhiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành này tăng rất nhanh

Ba là: sự xuất hiện thêm nhiều trung tâm đầu tư mới, như Nhật,

Tây Âu và gần đây là sự xuất hiện các nhà đầu tư mới của các NIEs châu

Á Ngoài ra hiện tượng nhiều chủ đầu tư cùng đầu tư vào một dự án cũng

có xu hướng tăng nhanh Sở dĩ có xu hướng trên là do sự phát triển nhanhchóng của các trung tâm kinh tế mới sau chiến tranh thế giới thứ II Theobáo cáo của chính quyền Hồng Kông, tính đến tháng 3/1997 trong số 10quốc gia, khu vực lãnh thổ có số dự trữ ngoại tệ lớn nhất thì Nhật đứngthứ nhất đạt 219,4 tỷ USD; Đài Loan đứng thứ 3: 88,6 tỷ USD vàSingapore đứng thứ 5: 71,4 tỷ USD Hai nước đứng thứ 2 và thứ 4 làTrung Quốc và Đức với sự dự trữ ngoại tệ là 110,3 tỷ và 85,2 tỷ HồngKông đứng thứ 7 với dự trữ ngoại tệ 63,4 tỷ USD [48, tr 13], tỷ lệ tiếtkiệm và dự trữ ngoại tệ lớn hơn so với nhu cầu đầu tư trong nước lànguyên nhân thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra bên ngoài Do sự phân công, hợptác quốc tế trong điều kiện mới và do sự phân tán rủi ro đầu tư giữa các

Trang 19

nhà đầu tư cũng được coi là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến gia tăng cácnhà đầu tư nước ngoài.

Bốn là: các công ty xuyên quốc gia (TNC) trở thành chủ đầu tư

thực sự

Sự xuất hiện các công ty xuyên quốc gia phổ biến vào những năm

50, 60 trở thành xu hướng vận động mới của các tổ chức độc quyền và chủnghĩa tư bản độc quyền nhà nước Theo thống kê, các công ty xuyên quốcgia đang nắm giữ 40% sản xuất công nghiệp, 60% ngoại thương 80% kỹthuật mới của thế giới tư bản và từ thập kỷ 80 đến nay các công ty xuyênquốc gia đã kiểm soát 90% đầu tư trực tiếp trên thế giới Do vậy, vấn đề đặt

ra đối với các nước muốn thu hút FDI là cần chú trọng vào các công tyxuyên quốc gia Trong số các nước ASEAN, Singapo là nơi có số lượngcông ty xuyên quốc gia tới hơn 3000 công ty trong đó có 700 tham gia vàolĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, số còn lại hoạt động trong các lĩnhvực tài chính, ngân hàng, thông tin, tư vấn quản lý [31, tr 17]

Vào những năm cuối thế kỷ XX, đứng trước sức ép cạnh tranh, lànsóng tự do hóa và sự mở ngỏ lĩnh vực đầu tư mới Các Công ty xuyên quốcgia đang bắt đầu hình thành các "liên minh chiến lược kiểu mới" thông quanhiều hình thức liên kết Chẳng hạn thông qua việc thôn tính và mua lại đểthuế lập ở nước ngoài các cơ sở sản xuất nhằm bảo vệ, củng cố và tăng cườngnăng lực cạnh tranh của mình Theo báo cáo tham luận tại tọa đàm bàn tròn vềtác động của toàn cầu hóa đối với các nước đang phát triển và chuyển đổi, HàNội 20/8/1999 thì trong năm 1997 và nửa đầu 1998 đã diễn ra nhiều cuộc sápnhập hoặc liên kết giữa các công ty lớn ở châu Âu và châu Mỹ thành nhữngđại công ty có vốn khổng lồ Công ty liên doanh giữa Anh và Hà Lan "RoyalDuteh Shell" 191,7 tỷ USD NOVOTIS của Thụy Sĩ 109,9 tỷ USD Trongngành dầu lửa, gần đây cũng diễn ra một làn sóng sáp nhập giữa các Công tyhoạt động trong lĩnh vực này Công ty BP ký liên minh với Mobil và sau đó

Trang 20

với Amoco để hình thành một tập đoàn có số vốn 48 tỷ USD Tập đoàn Exxonmua Mobil với số tiền 75 tỷ USD và trở thành tập đoàn dầu lửa lớn nhất thếgiới Tập đoàn dầu lửa Total của Pháp cũng mua tập đoàn Petrofina của Bỉ.

Làn sóng sáp nhập và mua bán các Công ty hiện nay không chỉ làmột biểu hiện đặc trưng của xu thế toàn cầu hóa mà còn là một yếu tố tácđộng làm tăng thêm sức mạnh của các Công ty Xuyên quốc gia

Ngoài mấy xu hướng vận động của dòng FDI trên thế giới như đãtrình bày, cùng với quá trình toàn cầu hóa dòng FDI ngày càng gia tăngmạnh mẽ Thể hiện:

Thứ nhất: tốc độ gia tăng dòng FDI khá cao.

Theo thống kê, nếu như trong thập kỷ 70, lượng FDI bình quân toàn thế giới hàng năm khoảng 25 tỷ USD thì ở giai đoạn 1980 - 1985 con

số tương ứng là 50 tỷ USD Từ năm 1986 lượng FDI của toàn thế giớihàng năm lần lượt là: 73 tỷ USD (1986); 133 tỷ USD (1987); 159 tỷ USD(1988); 195 tỷ USD (1989); 184 tỷ USD (1990); 149 tỷ USD (1991); 168 tỷUSD (1992); 195 tỷ USD (1993) [14, 91] Riêng sang năm 1995 đến nay con

số tăng vượt lên 325 tỷ USD (hơn năm 1994 tới 103 tỷ USD); còn năm

1996 là xấp xỉ 400 tỷ USD [15, tr 48], đạt trên 400 tỷ vào năm 1997.Trong hai năm 1998 - 1999, mặc dù nền kinh tế thế giới chịu những tácđộng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, song dòng vốn FDIvẫn tăng cao Theo báo cáo của UNCTAD: FDI của thế giới năm 1998 tăng40% so với năm 1997 và năm 1999 tăng 25% so với năm trước, đạt gần

800 tỷ USD Luồng vốn quốc tế đã ngày càng mở rộng, FDI đã trở thànhhiện tượng quan trọng trên thế giới Theo đó tỷ lệ tăng giảm được tính theobảng sau:

Bảng 1.1: Tình hình gia tăng FDI trên thế giới (1986-1999)

Năm 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999

Trang 21

Ghi chú: Tỷ lệ % năm trước coi là 100

Từ đây cho ta nhận xét: chỉ trừ 3 năm 1990 đến 1992 có giảm sútcòn nhìn chung FDI của thế giới đều tăng cả về tỷ lệ lẫn giá trị tuyệt đối.Theo thống kê, 10 năm qua (1986-1996) thương mại thế giới tăng từ 575 tỷUSD lên 5000 tỷ USD/năm: tăng 9 lần, còn chu chuyển vốn FDI tăng từ 25

tỷ USD lên 325 tỷ USD/năm: tăng 13 lần, nghĩa là vượt xa mức tăng trưởngtrung bình hàng năm của thương mại thế giới trong cùng thời kỳ (chỉ tínhxuất khẩu) [3] Điều đáng chú ý là sự gia tăng trở lại của FDI vào các nướcĐPT trong thời kỳ gần đây Theo thống kê kinh tế, luồng FDI đều vào cácnước ĐPT lại có chiều hướng gia tăng mạnh từ 12,6 tỷ USD trung bìnhhàng năm giai đoạn 1980 - 1985 lên đến 51,8 tỷ USD trong các năm 1992 -

1993 Con số năm 1994 là 70 tỷ còn năm 1995 tăng thêm 15% so với 1994;năm 1996 là 135 tỷ, 1997 là 172, 1998 là 166 và 1999 là 178 tỷ USD, vàtrong đó 2/3 tổng số vốn đầu tư trên vẫn là vào các nước ĐPT châu Á Năm

1996, FDI vào các nước ĐPT đạt tới 129 tỷ USD, tăng gần 30 tỷ USD sovới năm 1995 Trong đó FDI vào các nước châu Á là 81 tỷ, riêng TrungQuốc thu hút được 42 tỷ USD [5] Nếu tính tỷ lệ thì FDI mà các nước ĐPTnhận được trong các năm 1992 - 1993 đã chiếm tới 32% tổng số FDI toànthế giới so với con số tương ứng khoảng 20% vào thời điểm nửa đầu nhữngnăm 80 thì sự tăng lên cả về con số tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng sốĐTNN được coi là sự tổng hợp của nhiều nguyên nhân như:

- Kinh tế thế giới TBCN đã qua khỏi giai đoạn suy thoái: đi vàophục hồi và phát triển

Trang 22

- Nhiều nước có nền kinh tế ĐPT có bước tăng trưởng nhanh vàlành mạnh trong nhiều năm liền.

- Môi trường đầu tư ở các nước ĐPT ngày càng hoàn thiện, khiếnFDI tăng vọt, trong khi các hình thức khác của ĐTNN giảm xuống (viện trợchỉ còn chiếm 1/4 tổng số, tín dụng thương mại gần như biến mất các đầu

tư chứng khoán tăng nhanh, nhưng không ổn định) [32, tr 51]

Thứ hai, các nước đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thị đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thịc ang phát tri n v n chi ph i ch y u thển vẫn chi phối chủ yếu thị ẫn chi phối chủ yếu thị ối chủ yếu thị ủ yếu thị ếu thị ị

trư ng FDI th gi i v s vếu thị ớc đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thị à sự vượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc ự vượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc ượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộct lên m nh m c a các nh ạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc ẽ của các nhà đầu tư thuộc ủ yếu thị à sự vượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thịầu tư thuộc ưu t thu cộccác n n kinh t m i công nghi p hóa châu Á (NIES) Theo s li uền kinh tế mới công nghiệp hóa ở châu Á (NIES) Theo số liệu ếu thị ớc đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thị ệp hóa ở châu Á (NIES) Theo số liệu ở châu Á (NIES) Theo số liệu ối chủ yếu thị ệp hóa ở châu Á (NIES) Theo số liệu

th ng kê, s t ng trối chủ yếu thị ự vượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc ăng trưởng nhanh của FDI vào cuối thập kỷ 80 và đầu ưở châu Á (NIES) Theo số liệung nhanh c a FDI v o cu i th p k 80 v ủ yếu thị à sự vượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc ối chủ yếu thị ập kỷ 80 và đầu ỷ 80 và đầu à sự vượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thịầu tư thuộcu

th p k 90, t p trung ch y u v o các nập kỷ 80 và đầu ỷ 80 và đầu ập kỷ 80 và đầu ủ yếu thị ếu thị à sự vượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc ước đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thịc phát tri n (chi m kho ngển vẫn chi phối chủ yếu thị ếu thị ảng75%, t ng s v n ối chủ yếu thị ối chủ yếu thị đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thịầu tư thuộc ư ếu thị ớc đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thịu t th gi i) Theo th i báo kinh t Vi t Nam, kinhếu thị ệp hóa ở châu Á (NIES) Theo số liệu

t 2000 -2001 Vi t Nam v th gi i, tr 78 thì 10 nếu thị ệp hóa ở châu Á (NIES) Theo số liệu à sự vượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc ếu thị ớc đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thị ước đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thịc ti p nh n v nếu thị ập kỷ 80 và đầu ối chủ yếu thị

u t tr c ti p n c ngo i nhi u nh t trong 2 n m 1998 - 1999 ( n vđang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thịầu tư thuộc ư ự vượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc ếu thị ước đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thị à sự vượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc ền kinh tế mới công nghiệp hóa ở châu Á (NIES) Theo số liệu ất trong 2 năm 1998 - 1999 (đơn vị ăng trưởng nhanh của FDI vào cuối thập kỷ 80 và đầu đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thịơn vị ịtính: t USD) nh sau:ỷ 80 và đầu ư

Trang 23

còn là hệ quả của những tiến bộ kinh tế đã đạt được của các nước và cácvùng lãnh thổ từ những năm 80 lại đây Đối tượng đầu tư của "các con rồngchâu Á" khi đưa vốn ra đầu tư trực tiếp ở nước ngoài thời gian qua tậptrung chủ yếu vào Mỹ, EU và các nước ĐPT ở khu vực Đông Á, như TrungQuốc, ASEAN, Việt Nam mặc dù chính họ đang rất cần thu hút vốnĐTNN Theo nhận xét của Toshio Wantanabe - giáo sư kinh tế Học việnCông nghệ Tokyô thì kể từ năm 1990, các con hổ châu Á "đã thực hiệnkhối lượng đầu tư vào các nước châu Á lớn hơn khối lượng do Nhật Bảnhoặc Mỹ thực hiện" [33, tr 1].

Cũng theo nguồn trên, Hồng Kông là nhà đầu tư lớn nhất ở TrungQuốc, Indonesia; Đài Loan là nhà đầu tư lớn nhất Malaysia và đầu tư vàoTrung Quốc còn lớn hơn cả Mỹ rất nhiều Ở Việt Nam, sau 8 năm liền dẫnđầu thì đến hết năm 1996 Đài Loan vẫn là nhà đầu tư lớn thứ hai nhường vịtrí thứ nhất cho Singapore với hơn 4 tỷ USD đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.Đối với Lào từ năm (1988-1997) trong 10 năm, Thái Lan là nhà đầu tư số 1với 2,622,879,931 USD, thứ hai là Mỹ với 1.483.382.717 USD đầu tư trựctiếp vào Lào Theo báo cáo về tình hình đầu tư thế giới của liên hiệp quốc

1994 cho biết kim ngạch đầu tư của Hồng Kông và nước ngoài đạt 29,6 tỷUSD, đứng thứ 4 thế giới sau Mỹ, Anh, Pháp Lĩnh vực đầu tư chủ yếu củaHồng Kông là sản xuất, xây dựng nhà xưởng Nguồn vốn chủ yếu lấy từ lãitrong kinh doanh bất động sản và vay ngân hàng

Thứ ba: Đông Á và Đông Nam Á trở thành khu vực hấp dẫn FDI.

Mặc dù dòng FDI trên thế giới phần lớn vẫn tập trung vào các nước TBPT;song trong số các nước ĐPT khu vực Đông Nam Á lại trở nên hấp dẫn FDI

từ các nhà ĐTNN Đó là do mấy nguyên nhân:

- Sự ra đời các khối liên kết kinh tế trên thế giới, làm cho lưu lượnghàng hóa trao đổi và hoạt động đầu tư sôi động thêm

Trang 24

- Yếu tố sức lao động rẻ mạt và nguồn cung cấp nguyên liệu ổnđịnh từ các nước trong khu vực, trở thành những thuận lợi cho việc hạ giáthành sản phẩm, đặc biệt là tiềm năng thị trường rộng lớn cùng với cơ sởvật chất, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội trong khu vực ngày càng được cảithiện phù hợp để phát huy các tố chất, nhân tài kinh doanh và áp dụng cácngành nghề, ở lĩnh vực các hàm lượng khoa học công nghệ cao cũng khiếnFDI vào khu vực này tăng lên nhanh chóng.

- Do nền kinh tế Mỹ phục hồi đã gia tăng đầu tư, giành lại ảnhhưởng ở Đông Nam Á Chỉ tính nguồn FDI của Mỹ với những đặc điểm,tính chất và trình độ của công nghệ cao cũng đã tạo nên sự quan tâm khôngchỉ của các nước TBPT mà còn là "niềm mơ ước" của các nước ĐPT trongkhu vực Đông Á và Đông Nam Á; đương nhiên các nước có công nghệ của

Mỹ thì cũng phải đáp ứng tốt hơn lợi ích của tư bản Mỹ Riêng khu vựcASEAN trong những năm 80, đầu tư của Mỹ tăng gấp đôi từ 4.700 triệuUSD tăng lên đến 9.968 triệu USD Đầu tư của Mỹ và NIEs cùng kỳ còncao hơn: vào Đài Loan tăng 4 lần, vào Hàn Quốc và Hồng Kông mỗi nơităng khoảng 3 lần Sang thập kỷ 90 đầu tư của Mỹ vào khu vực này vẫntăng lên nhanh chóng: năm 1991; 1993 tăng 16% so 1992 chỉ riêng 8nước khu vực bao gồm Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và 5 nước ASEAN

đã nhận tới 83% tổng đầu tư của Mỹ vào các nước ĐPT ở khu vực châu Á Thái Bình Dương [22, tr 22; 25] Tuy nhiên, ngay trong số 8 nước nêu trênthì các NIEs được quan tâm đầu tư nhiều hơn ASEAN, cũng không ngoàinguyên nhân lợi ích kinh tế của tư bản Mỹ Trong điều kiện mới, với tầmvóc ngày càng lớn và sự năng động của châu Á đang phát triển, sự xuấthiện của các quốc gia hấp dẫn đầu tư như Trung Quốc, Việt Nam, Lào thực

-sự khiến khu vực này ngày càng trở nên quan trọng đối với các công tyxuyên quốc gia, bởi tiềm năng cho phép khai thác tốt hơn các nguồn tàinguyên hữu hình và vô hình cần thiết cho sự phát triển của các nước thếgiới TBCN

Trang 25

Ngoài các nguyên nhân như đã phân tích ở trên như đa dạng hóanguồn đầu tư của các nhà ĐTNN, sự nỗ lực của chính các nước tiếp nhậnđầu tư thì nhân tố Hồng Kông trở về Trung Quốc, nhân tố các TNC châu

Á, gia tăng đầu tư vào châu Á, các công ty xuyên quốc gia châu Á sau mộtthời gian gián đoạn, nay đang quay trở lại thị trường năng động ở châu Á,hay các NIEs châu Á và cả các nước ASEAN đang trở thành những nhàđầu tư quan trọng cũng góp phần tạo nên sự năng động kinh tế nói chung

và sự hấp dẫn đầu tư nói riêng trong toàn khu vực

Tóm lại: Trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều thay đổi nhất

là từ sau thời kỳ "chiến tranh lạnh" đến nay, nền kinh tế quốc tế đã xuấthiện những xu hướng mới: đẩy mạnh quá trình tự do thương mại, gia tăngmạnh mẽ đầu tư quốc tế, thúc đẩy cạnh tranh - hợp tác trên phạm vi toàncầu Chính xu hướng vận động mới đó của nền kinh tế thế giới lại quyếtđịnh sự tùy thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc, chưa từng có trong lịch sử

Sự gia tăng của dòng FDI một cách nhanh chóng, mạnh mẽ với ngườichuyển tải khổng lồ là công ty xuyên quốc gia trên khắp thế giới đã đem lạinhững cơ hội mới, cho cả những nước đầu tư và những nước tiếp nhận đầu

tư Mặc dù hình thức vận động, xu hướng vận động của FDI trong hai thập

kỷ qua vẫn bị chi phối chủ yếu bởi các nước TBPT trên cả hai phương diện,song sự xuất hiện các nhà đầu tư mới ở các NIEs châu Á, và các nướcASEAN cũng là những nhân tố quan trọng, đánh dấu sự vươn lên trong thuhút đầu tư và đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển này

Chính sự vận động của dòng FDI trên thế giới đã trình bày ở trêncàng chứng minh cho một "chân lý trong CNTB: "Tư bản là làm giàu, lànhân giá trị lên " Điều đó cũng có nghĩa là đồng vốn chỉ đổ về nơi nào

mà ở đó nó có khả năng sinh lợi nhuận FDI và vốn ĐTNN nói chung phảitìm cách thỏa mãn nhu cầu làm giàu của tư bản; nó đứng với tất cả các

Trang 26

nước Thực tế cũng chứng minh rằng trong điều kiện hiện nay, không mộtquốc gia nào lại từ chối tiếp nhận FDI dù rằng đó là những nước giàu vàđầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhiều nhất, đó là minh chứng sống động chovai trò của FDI đối với nền kinh tế thế giới [12, tr 27-28].

1.2 VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN TRONG KHU VỰC

1.2.1 Vai trò "tích cực" FDI đối với các nước ĐPT trong khu vực

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn lực hết sức quan trọngđối với sự phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển.Một trong những nhân tố để các nước đang phát triển đạt được tốc độ tăngtrưởng kinh tế nhanh là các nước này đã có chính sách thu hút và sử dụngFDI một cách hợp lý Thực tế chỉ ra rằng, đi cùng với FDI thường là kỹthuật, là công nghệ, là kinh nghiệm quản lý, là thị trường Những nhân tố

đó thực sự trở thành lực lượng đối phó những bế tắc, cản trở, để mở rahướng đi lên của các nền kinh tế chậm phát triển, góp phần khởi động choquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Có nhiều cách tiếp cận và nhiều hướng đánh giá khác nhau, songvai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc công nghiệphóa của NIEs là điều khẳng định phổ biến Nhưng nếu quá nhấn mạnh đếnFDI, xem đây là nguồn vốn có vai trò "vạn năng", là nhân tố duy nhấtquyết định đến toàn bộ quá trình phát triển, thì lại là không đúng đắn Vaitrò của nguồn FDI đối với quá trình phát triển kinh tế được phản ánh ởnhiều mặt, trong nhiều hệ thống chi tiêu khác nhau Ở đây chúng tôi chỉkhảo sát trên một số lĩnh vực chính, chủ yếu của một số nước trong khuvực để khẳng định vai trò của FDI

Trang 27

1.2.1.1 FDI đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các nước đang phát triển

- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Ở hầu hết các nước đang phát triển (trừ Singapore) cho đến nămđầu thập kỷ 80 tức là sau hơn một thập kỷ thành lập Hiệp hội, nền sản xuấtnhỏ và lạc hậu còn chiếm ưu thế trên quy mô rộng lớn Với sự tác động củacuộc "cách mạng xanh" phát triển trồng cây công nghiệp xuất khẩu và tưbản hóa kinh tế nông nghiệp cùng với sự gia tăng của FDI vào nền kinh tếcác nước đã gây nên những biến chuyển tích cực của nông nghiệp, như:phát triển đồn điền trồng cây công nghiệp; chuyển dịch kinh tế tự cấp tự túcsang hệ sản xuất nông sản, hàng hóa phục vụ kinh tế đô thị và xuất khẩu;

áp dụng kỹ thuật và phương thức canh tác mới; mở rộng hệ thống tín dụngngân hàng nông thôn Đặc biệt là nền kinh tế của ASEAN đã biết dựa vàonguồn viện trợ, đầu tư của nước ngoài để phát triển thủy lợi, giao thông vậntải, khai hoang mở rộng diện tích và mở rộng thị trường đầu tư cho tư bảnnước ngoài Kết quả là tỷ trọng nông nghiệp trong GDP có xu hướng giảm

Trong công nghiệp, vai trò của FDI thể hiện khá rõ trên các mặt như

góp phần xứng đáng vào việc thực hiện thành công chiến lược công nghiệphóa hướng về xuất khẩu ở các nước; thúc đẩy tư bản tư nhân trong nướcphát triển, trong đó một bộ phận quan trọng tư bản thương nghiệp và tư bảncho vay nặng lãi chuyển thành tư bản sản xuất Cơ cấu đầu tư trong côngnghiệp ngày càng hướng về những lĩnh vực công nghệ có giá trị gia tăngcao; giảm dần những ngành nghề sử dụng nhiều lao động và sự chuyểndịch này không chỉ trong nội bộ mỗi nước mà còn vượt biên giới quốc giavào phân công lao động trong khu vực; ví dụ như Singapore nhờ có FDI màbiến thành trung tâm công nghiệp lọc dầu lớn thứ ba trên thế giới; nhiềukhu công nghiệp cũng theo đó nhanh chóng ra đời

Trang 28

Ở khu vực dịch vụ, nước dẫn đầu là Singapore, không chỉ phát triển

dịch vụ phục vụ tiêu dùng mà chủ yếu lại là dịch vụ phục vụ sản xuất, nhưtài chính, ngân hàng hoặc dịch vụ thu ngoại tệ, vận tải biển, hàng không,

vụ đang chiếm phần khá lớn tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của ASEANqua ví dụ được thể hiện ở bảng 1.2 [34, tr 63]

Bảng 1.2: C c u ng nh trong GDP c a ASEAN (%)ơn vị ất trong 2 năm 1998 - 1999 (đơn vị à sự vượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc ủ yếu thị

Tên nước Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ

1970 1980 1990 1970 1980 1990 1970 1980 1990

Indonesia 46,0 24,4 19,7 20,9 41,3 40,6 33,1 34,3 39,6 Malaysia 32,0 22,9 19,4 24,7 35,8 41,7 43,3 41,3 38,9 Philipines 28,8 25,6 25,9 29,4 36,2 33,0 41,8 38,3 40,1 Singapore 2,3 1,1 0,3 29,8 38,8 35,9 67,9 60,0 63,8 Thailand 30,2 20,6 14,2 25,7 30,8 35,3 44,1 48,6 50,1

Trang 29

Việt Nam 49,6 31,6 21,6

Nguồn: Thống kê KT-TG, Tạp chí Những vấn đề KT-TG, số 3 (23), tháng 6/1993, tr 63-64.

Theo bảng 1.2 cho thấy, trừ Singapore là quốc gia đã đô thị, cònnhìn chung ở giai đoạn đầu tỷ trọng nông nghiệp trong GDP của các nướccòn khá lớn, chiếm vị trí đáng kể, song càng về sau tỷ trọng đó càng bị thuhẹp lại, nhường chỗ cho sự gia tăng nhanh chóng của khu vực công nghiệp

và dịch vụ Sự đóng góp càng lớn của công nghiệp và dịch vụ vào GDP củamỗi nước, tạo nên động lực cho sự tăng trưởng cao của nền kinh tế Bướcđầu đánh dấu giai đoạn "cất cánh" của quá trình công nghiệp hóa ở cácnước này, thúc đẩy xã hội phát triển

- Gắn liền với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế vùng ở các nước ĐPT trong khu vực

Sự chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế - xã hội như một "quy luật cótính bản năng" dòng FDI đổ vào các nước ĐPT cũng như bất cứ nơi nào kháctrước hết phải tìm nơi đầu tư thuận lợi Nếu như trong cơ cấu ngành, các nhàđầu tư thường chọn những ngành có công nghệ sở trường, công nghệ tiết kiệmvốn, nhưng có tỷ suất lợi nhuận cao thì trong việc lựa chọn vùng hoặc khuvực lãnh thổ để đầu tư cũng không nằm ngoài quy luật khách quan trên

Nói cách khác, cùng với việc lựa chọn những ngành như công nghiệpnhẹ, sử dụng nhiều lao động rẻ và tài nguyên dồi dào, các nhà đầu tư nướcngoài thường lựa chọn những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tương đốithuận lợi, như giao thông vận tải thuận tiện, dân cư đông đúc, có trình độ tiếpthu công nghệ Hình thành nên các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuấtcũng như các khu đô thị sầm uất Điều đáng nói là các khu công nghiệp tậptrung (bao gồm cả khu chế xuất, khu công nghệ cao) một mặt tạo thuận lợicho sản xuất do thu hút được công nghệ tiên tiến, giảm chi phí sản xuất, tạothuận lợi cho công tác quản lý nhà nước trong đầu tư thì mặt khác nó còn có

Trang 30

sức lan tỏa ưu điểm ra các vùng xung quanh tạo được các vệ tinh, "dò rỉ côngnghệ" ra ngoài hàng rào KCN và tạo nên các vùng kinh tế công nghiệp khárộng lớn

Mặt khác, sự tăng lên về số lượng và chất lượng các KCN-KCScũng là minh chứng tốt nhất cho tác động của FDI đến cơ cấu vùng theonghĩa hình thành nên các vùng kinh tế mới; thúc đẩy nhanh thêm quá trìnhphân công lao động trong nước và giữa các nước trong khu vực, hội nhậpvào sự phân công lao động trên phạm vi thế giới

- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã dẫn đến sự biến đổi cơ cấu lao động

Bảng 1.3: Cơ cấu lao động của các nước

(% trong t ng s ngối chủ yếu thị ư i l m vi c) [34, tr 38]à sự vượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc ệp hóa ở châu Á (NIES) Theo số liệu

Tên nước Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ

1975 1980 1990 1975 1980 1990 1975 1980 1990

Indonesia 60,0 56,3 54,7 8,9 13,3 12,9 23,6 30,4 29,6 Malaysia 58,0 37,2 30,9 23,1 24,1 22,3 10,2 38,7 46,7 Philipines 54,0 51,8 41,5 41,7 51,4 13,8 31,1 49,0 36,5 Thailand 73,0 70,8 64,4 9,0 10,3 10,9 18,3 18,9 21,5

Nguồn: Thống kê KT-TG, Tạp chí Những vấn đề KT-TG, số 3 (23), tháng 6/1993, tr 63-64.

Qua bảng 1.3 cho ta nhận xét rằng: Nhìn chung tỷ trọng lao độngnông nghiệp giảm tương đối, còn tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụtăng lên tương đối và tuyệt đối Đặc biệt là hình thành đội ngũ lao động cótay nghề cao về chuyên môn kỹ thuật và đội ngũ lao động quản lý có khảnăng thay thế chuyên gia nước ngoài trong một số lĩnh vực

Trang 31

1.2.1.2 Vai trò FDI trong việc tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu

Ở các nước ĐPT trong khu vực cùng với sự chuyển hướng chiếnlược công nghiệp hóa "thay thế hàng nhập khẩu" (Import SubstitutionIndustrialisation) sang "chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu"(Export Oriented Industrialisation) ngay từ cuối những năm 60, là quá trìnhgia tăng đầu tư nước ngoài, đổi mới công nghệ đã khiến cho các nướcnày tăng nhanh tỷ trọng xuất khẩu trong tổng sản phẩm quốc dân, đồng thờithay đổi cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu theo hướng tăng sản phẩm hànghóa có hàm lượng công nghệ và giá trị cao

Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu các nước ĐPT trước hết là sự chuyểndịch cơ cấu của các hàng hóa xuất khẩu theo hướng ngày càng tiến bộ,hàng hóa với hàm lượng công nghệ cao ngày càng nhiều; còn hàng sơ chếngày càng giảm Nếu như nhiều mặt hàng xuất khẩu vốn là ưu thế của cácnước đang phát triển trong thời kỳ xuất khẩu nguyên liệu, khoáng sản,chẳng hạn như cao su, thiếc đã từng chiếm 50% tổng thu nhập từ xuất khẩuvào năm 1970 của Malaysia thì đến 1980 tỷ lệ đó giảm xuống chỉ còn7,5%; mặt hàng gỗ xẻ, gỗ kiến trúc, dầu cọ chiếm hơn 29%, dầu hỏa11,6% Cũng trong năm 1989, lượng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ khôngphải là các yếu tố sản xuất chiếm tới 77,7% GNP của nước này [36] Hiệnnay sản phẩm công nghiệp xuất khẩu của Malaysia chiếm tới 80%,Thailand trên 80% còn với Singapore chỉ riêng sản phẩm điện tử đã chiếmtrên 70% giá trị xuất khẩu của quốc gia này

Chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế, ngoại thương các nướcĐPT không chỉ trở thành nguồn thu ngoại tệ chủ yếu mà còn là đầu tàu lôikéo toàn bộ nền kinh tế vươn lên phía trước; thể hiện ở tốc độ tăng xuấtkhẩu hàng hóa của các nước đều khá cao (xem bảng 1.4)

Trang 32

Bảng 1.4: Tốc độ tăng xuất khẩu hàng hóa của một số nước

trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương (%) [34, tr 10].

từ vị trí thứ 40 vào năm 1980 đã vươn lên vị trí thứ 19 trên thế giới vàonăm 1994 Tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân của năm nước ASEANtăng 3 lần (trong giai đoạn 1988 - 1994) từ 10,262 tỷ USD lên 300 tỷ USDvới tốc độ bình quân hàng năm là 19,6% và trên 20% vào năm 1995

Thông qua xuất, nhập khẩu cơ cấu các mặt hàng của ASEAN đãnhanh chóng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới cả về số lượng, chấtlượng, chủng loại Thông qua kênh chuyển giao công nghệ với việc tiếpnhận các công nghệ tiên tiến hơn từ nước ngoài cùng với nguồn lao động

rẻ, tài nguyên phong phú ở đây đã tạo ra những sản phẩm hàng hóa có sứccạnh tranh trên thị trường thế giới, và ngay cả trong thị trường các nướcTBCN Cũng nhờ công nghệ tiên tiến tập trung vào ngành công nghiệp chếbiến, khiến cho tỷ trọng của hàng công nghiệp chế tạo tăng cao trong tổng

số hàng hóa xuất khẩu Ở Maylaysia (tỷ lệ hàng chế tạo trong tổng số hàng

Trang 33

xuất khẩu qua các năm là 7,6% vào năm 1970; 21,2%; 1980 còn năm 1988

là 54,7%; trong khi đó hàng sơ chế giảm theo các năm là 1970: 78,7%;1980: 60,1% và năm 1989 là 32,3% [8, tr 5] Điều đáng chú ý là các sảnphẩm như máy móc, đồ điện, máy điều hòa nhiệt độ, Radio catxet, máytính điện tử, các mạch tổ hợp đang dần dần chiếm chỗ của các sản phẩmdệt, may mặc trong cơ cấu hàng xuất khẩu với tốc độ tăng lên đáng kinhngạc, kể cả thâm nhập vào thị trường khó tính như Nhật Bản góp phần làmtăng tốc độ xuất khẩu của nhiều nước: Malaysia tăng trung bình hàng năm18% cho giai đoạn 1990-1996; Philippin tăng 17% còn Thailand cũng tăng16% trung bình mỗi năm trong cùng kỳ [17, tr 13] Từ sự phân tích ở trên

có thể rút ra những nhận xét sau đây về vai trò của FDI đối với sự gia tăngkim ngạch xuất khẩu của ASEAN

Thứ nhất: FDI đã thực sự tác động đến cơ cấu xuất khẩu của các

nước ASEAN vì gắn liền với quá trình gia tăng đầu tư trực tiếp nướcngoài thì quá trình thương mại quốc tế cũng tăng lên một cách nhanhchóng cả về tỷ lệ và giá trị tuyệt đối ở mỗi nước Những nước thu hútđược nhiều FDI thì tốc độ xuất khẩu tăng càng nhanh Điều đó chứng tỏrằng FDI trở nên tất yếu đối với quá trình tăng trưởng của ngoại thươngcác nước ASEAN trong chiến lược hướng tới một nền kinh tế mở, tiếp tụckhai thác lợi thế so sánh của ASEAN trong sự trao đổi hàng hóa đối vớicác nước trong khu vực trên thế giới Xét về giá trị kim ngạch xuất khẩu,chỉ trong vòng 10 năm 80 - 90 đã tăng lên gấp đôi Tuy vậy xuất khẩutrong nội bộ các nước ASEAN tăng lên không nhiều (chỉ hơn 2 lần) so vớixuất khẩu sang các NIEs và Trung Quốc tăng khoảng 3 lần (xem bảng1.5); phải chăng đó cũng là hạn chế trong xuất khẩu của ASEAN vì cácnước có cơ cấu mặt hàng xuất khẩu giống nhau!

Bảng 1.5: Các bạn hàng của ASEAN (toàn bộ xuất khẩu) [37, tr 23]

Trang 34

Nước Nhật

Bản NIEs ASEAN

Trung Quốc

Bắc Mỹ

Châu Đại Dương EU

Tổng cộng

1980 21032

-4975 -

12934 -

693 -

12080 -

2042 -

8897 -

71.036 -

1986 15004

(-5,5)

6122 (3,5)

12165 (-1,0)

1253 (10,4)

14.451 (3,0)

1667 (-3,3)

8721 (-0,3)

66.613 (-1,1)

1990 27.000

(15,8)

14532 (24,1)

27500 (22,6)

2263 (16,0)

29.260 (19,3)

3113 (16,9)

21.039 (24,6)

137.965 (20,0)

Nguồn: Tạp chí Những vấn đề KT-TG, tháng 4/1993, tr 23.

* Ghi chú: - Giá trị xuất khẩu tính bằng triệu USD.

- Phần trong ngoặc là tốc độ tăng trung bình hàng năm % Thứ hai: các bạn hàng chủ yếu của ASEAN là NIEs, EU đặc biệt là

Bắc Mỹ và Nhật Bản, với các khu vực này tốc độ tăng khá cao (giai đoạn

1986 - 1990) và đồng đều Sở dĩ có hiện tượng trên là do mối quan hệ giữađầu tư - xuất khẩu và không loại trừ mối quan hệ xuất nhập khẩu qua giữacông ty mẹ ở Nhật, Mỹ với các công ty con ở các nước ASEAN Hiệntượng trên cũng chứng minh cho một nhận định là đầu tư nước ngoài luôngắn với việc mở rộng thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu hàng hóa rabên ngoài

Thứ ba: trong khi tốc độ tăng xuất khẩu của ASEAN khá cao và

tương đối đồng đều thì tốc độ tăng của hàng chế tạo trong tổng số hàngxuất khẩu còn cao hơn nhiều (xem bảng 1.6) [27, tr 23; 28]

Nó cũng chứng minh sinh động cho sự thay đổi, chuyển dịch cơ cấuhàng xuất khẩu từ sản phẩm truyền thống sang sản phẩm chế tạo có chấtlượng cao và đa dạng hơn, gắn liền với quá trình chuyển giao công nghệ từnhững ngành cần nhiều lao động sử dụng nhiều tài nguyên như công nghiệpkhai khoáng, khai thác rừng sang

Trang 35

Bảng 1.6: Thay đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thị i trong c u th nh xu t kh u ất trong 2 năm 1998 - 1999 (đơn vị à sự vượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc ất trong 2 năm 1998 - 1999 (đơn vị ẩu

c a m t s nủ yếu thị ộc ối chủ yếu thị ước đang phát triển vẫn chi phối chủ yếu thị ĐPT 1960 - 1990 (theo giá trị)c PT 1960 - 1990 (theo giá tr )ị

Các nước Hàng phi chế tạo (%) Hàng chế tạo (%)

là xuất khẩu nông sản nhiệt đới vừa nâng cao hiệu quả trong hoạt động xuấtkhẩu nhờ nâng cao năng lực chế biến Trong mối quan hệ qua lại, chínhxuất khẩu gia tăng lại đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và độ "mở cửa" của nềnkinh tế Thông thường, ở hầu hết các quốc gia, phần xuất khẩu trong GDPchỉ giao động trong khoảng 15% đến 35% chỉ số xuất khẩu của toàn bộkhối ASEAN là 46% GDP và nhập khẩu chiếm 48% GDP [38, tr 20].Trong tương lai, khi khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) trở thành

Trang 36

hiện thực vào 2003 thì tốc độ ngoại thương (cả thương mại và đầu tư quốctế) chắc sẽ còn tăng hơn nữa Tuy nhiên, khi nền kinh tế "quá mở" cũng cónhững hạn chế riêng của nó Trường hợp Malaysia có giá trị hàng xuấtkhẩu chính bằng USD có sắp bằng toàn bộ GDP; điều đó cũng là dẫn đếnthâm hụt tính theo GDP có thể tăng nhanh hoặc phụ thuộc quá nhiều vàotình hình thương mại thế giới; và khi khủng hoảng, suy thoái kinh tế thếgiới diễn ra nền kinh tế sẽ bị tác động trực tiếp Trong khối ASEAN, TháiLan, Malaysia thuộc dạng "quá mở" này, song để bù vào những thâm hụtthì họ tìm cách thu hút vốn từ các nguồn tài trợ, đầu tư nước ngoài tự do Song chính điều đó đã tạo ra ngòi nổ của cuộc khủng hoảng.

1.2.1.3 Vai trò FDI đối với việc làm nhẹ gánh nặng thất nghiệp

Các quốc gia ASEAN (trừ Singapore) đều có điểm xuất phát từnhững nền kinh tế mà tỷ trọng nông nghiệp khá cao Trong "cái vòng luẩnquẩn của sự kém phát triển [39, tr 587] (sơ đồ) Các nước ASEAN đã tìmcách phá vỡ ở "mắt xích" tiết kiệm và đầu tư

Nguồn: Kinh tế học, tập II, Viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 1998, tr.587.

Tiết kiệm v à sự vượt lên mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc đầu tư

thấp

Năng suất lao động thấp

Tốc độ tích lũy vốn thấp

Thu nhập

bình quân

đầu người thấp

Trang 37

Trong đó trước hết là dựa vào nguồn vốn ĐTNN Song khác với cácnước Mỹ La tinh, nguồn đầu tư nước ngoài mà các nước ASEAN tập trungchú ý khai thác là thu hút FDI từ các nước tư bản phát triển FDI đổ vào cácnước ASEAN trong 2 thập kỷ qua nhằm khai thác nguồn nhân lực dồi dào,giá cả sức lao động rẻ mạt cũng chính là đã tạo ra được nhiều việc làmgiảm nhẹ gánh nặng thất nghiệp - mối lo kinh niên của các nhà lãnh đạocác quốc gia đang phát triển trên thế giới.

Như phần trên đã phân tích, dưới tốc độ của FDI làm thay đổi cơcấu kinh tế làm giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp, thúc đẩy sự gia tăngnhanh chóng của các ngành công nghiệp, dịch vụ Đó cũng đồng thời làquá trình chuyển dịch cơ cấu lao động phức tạp hơn (lao động thặng dư)đem lại sự giàu có cho xã hội Điều dễ dàng nhận thấy là đầu tư không chỉ

là xây thêm nhà máy, tuyển thêm công nhân mà còn kéo theo hàng loạt cácnhu cầu khác tạo ra việc làm cho đội ngũ những người làm dịch vụ, phục

vụ sản xuất, phục vụ nhu cầu tiêu dùng; tạo ra việc làm cho đội ngũ nhữngngười làm trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Nhìnchung công nhân ở các đơn vị có vốn ĐTNN được tiếp cận công nghệ tiêntiến hơn cũng là điều kiện để nâng cao năng suất lao động; mặt khác còn dolàm việc với cường độ cao hơn - là cơ sở của việc công nhân ở đây có thunhập cao hơn công nhân ở các đơn vị sản xuất kinh doanh khác và hìnhnhư công nhân trong xí nghiệp có vốn ĐTNN cũng tạm bằng lòng với côngviệc hiện đại

Thông thường tỷ lệ lao động được thu hút gia tăng cùng chiều vớiFDI nói chung (nhưng lại ngược chiều với trình độ kỹ thuật du nhập từnguồn FDI) Thực tế ASEAN cho thấy ở giai đoạn đầu những năm 80 cùngvới tốc độ gia tăng FDI nói chung, với sự ra đời KCN-KCS ở các nước thìchỗ làm việc cũng được tăng lên rõ rệt: KCS Baghio (Philippin) tỷ lệ nàytăng trung bình 45,40% kể từ năm 1980 [40, tr 110] Đến năm 1982, số laođộng làm việc tại các KCS của Philippin đã là 30.574 người; ở các KCX

Trang 38

của Malaysia là 39.889 người [18] Ngoài ra, nếu tính cả lao động tại gia đình.Lao động hợp đồng ở các vùng ven KEX thì con số lớn hơn Theo tính toáncủa các nhà kinh tế, nếu FDI thu hút khoảng 1% dân số trong độ tuổi ở cácnước ĐPT, khoảng 2% ở các nước NIEs châu á, thì FDI đã thu hút được một

số lượng lao động ở ASEAN là lớn hơn nhiều Trên thực tế cho thấy rằngnhững nước có nhu cầu giải quyết việc làm căng thẳng và nạn thất nghiệpcao trong những năm 60, 70; chỉ sau vài thập kỷ gia tăng thu hút FDI, thì

đã giảm nhẹ được gánh nặng thất nghiệp, thu nhập được cải thiện, tiềnlương lại có xu hướng tăng nhanh; thậm chí ở vài nơi đang trở nên thiếu laođộng nhất là lao động phức tạp, cho nên FDI đã góp phần giải quyết cănbản nạn thất nghiệp, cho những người lao động có công ăn việc làm, cuộcsống ấm no

1.2.2 Một số hạn chế của FDI

Với những thành tựu đã nêu trên, FDI đã đóng góp vai trò to lớn trongviệc thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định, FDI góp phần đổimới cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ hơn, làm gia tăng nhanh xuất - nhậpkhẩu giải quyết việc làm cho người lao động, FDI đã trở thành một hoạtđộng mang tính quốc tế và là xu hướng chung trong thời đại ngày nay khi

mà trình độ xã hội hóa lực lượng sản xuất đã cao Như vậy vai trò của đầu

tư nước ngoài thực sự là to lớn nhất là đối với các nước đang phát triển

Song từ thực tế thu hút đầu tư nước ngoài của các nước đã chochúng ta thấy rằng bên cạnh những tác động tích cực là chủ yếu thì lĩnh vựcnày không phải không tồn tại nhiều vấn đề, nhiều thách thức Những vấn đềnhững thách thức đó có thể khái quát trên một số khía cạnh sau:

1.2.2.1 Cơ cấu kinh tế các nước nhập đầu tư nước ngoài thường không hợp lý Sự phát triển không đều giữa các ngành, các vùng giữa thành thị và nông thôn

Trang 39

Đầu tư là việc di chuyển vốn vào một hoạt động nào đó nhằm mụcđích thu lại một khoản tiền lớn hơn Do đó lĩnh vực đầu tiên được lựa chọnthường là những ngành có khả năng mang lại lợi nhuận nhanh hơn, nhờ đónhanh thu hồi được vốn đầu tư, hạn chế rủi ro khi đưa vốn đầu tư ở nhữngnơi còn xa lạ Bởi vậy, các nhà đầu tư chỉ quan tâm đầu tư vào vùng có chiphí tư bản thấp, do sử dụng được nhiều lao động có tay nghề, giá rẻ hoặcđiều kiện sản xuất kinh doanh thuận lợi; điều đó đồng nghĩa với việc khôngchịu bỏ vốn vào những nơi khó khăn hơn, mặc dù nước tiếp nhận vốn đầu

tư rất cần, kể cả đã có những chính sách khuyến khích Tư cách đầu tưthiên lệch đó, tuy đối với các nhà đầu tư vừa đảm bảo duy trì được nhữngthị trường, duy trì được nguồn cung cấp nguyên liệu, phát triển những cơ

sở sản xuất với nhân công giá hạ ở ngoài nước để sản xuất xuất khẩu, cạnhtranh trong nước và quốc tế Vì thế đã để lại những tiêu cực đối với cơ cấukinh tế nước tiếp nhận

Do các dự án đầu tư tập trung vào các khu đô thị, khu dân cư mộtcách nhanh chóng, gây nên tình trạng quá tải nặng nề do tốc độ xây dựngkết cấu hạ tầng đô thị không theo kịp Nạn ùn tắc giao thông trở nên thườngxuyên hơn gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế; thậm chí còn lan sang cáclĩnh vực đời sống xã hội khác, ở các nước đang phát triển "cái ác đã trở nênquá chặt đối với một cơ thể đang phát triển" hay nói cách khác thì kết cấu

hạ tầng ở đây trở nên bất cập, tác động xấu đến nền kinh tế Theo thống kê,nạn kẹt xe kinh niên ở Băng Cốc khiến cho năng suất kinh tế của thành phốgiảm 12% Quá trình tập trung đầu tư vào các khu đô thị, xây nên nhữngtòa nhà chọc trời, những khu nghỉ mát xa hoa phục vụ cho người nướcngoài và các tầng lớp giầu có cũng đã chiếm mất nguồn lực của đất nước,hạn chế đầu tư vào các vùng nông thôn hẻo lánh, thậm chí nông dân, nôngthôn bị hy sinh quyền lợi cho quá trình công nghiệp hóa mà Thái Lan làmột điển hình: khu Đông Bắc Thái Lan bị bỏ bê, 5% người giầu chiếm 20%

Trang 40

tổng thu nhập GDP còn 40% người nghèo chỉ chiếm 10% Những vấn đềtrên là hiện tượng mất cân đối trong xã hội.

1.2.2.2 Công nghệ chuyển giao thường là lạc hậu và thiếu đồng bộ

Đi cùng với vốn đầu tư nước ngoài là thương mại, chuyển giaocông nghệ cho các nước nhận đầu tư Trong thực tế sự chuyển giao côngnghệ từ các nước TBPT như Mỹ, Nhật, Tây Âu sang các nước ĐPTthường là di chuyển những công nghệ thiết bị đã lạc hậu hoặc công nghệđòi hỏi chi phí vốn lớn của các nước tiếp nhận, mặt khác chịu chi phối lớncủa bên chuyển giao cả về phương diện tài chính, kỹ thuật, giá cả khiến chocác nước ĐPT ngày càng lệ thuộc sâu sắc vào các nước đầu tư Hoặcchuyển giao công nghệ gây nên ô nhiễm môi trường, hủy hoại môi trườngsinh thái

Có thể nói, hạn chế trong tiếp nhận chuyển giao công nghệ kỹ thuật

ở đây là sự phụ thuộc nặng nề vào kỹ thuật công nghệ các nước TBPT, khókhăn trong việc tiếp nhận công nghệ hiện đại để nhanh chóng hiện đại hóanền kinh tế Theo thống kê ở Singapore 85% năng lực sản xuất của cácngành công nghiệp quan trọng, 70% kim ngạch xuất khẩu thuộc công tynước ngoài Ở Malaysia 60% xí nghiệp, 50% chỗ làm việc, 70% tổng sảnphẩm xã hội, 70% kim ngạch xuất khẩu là do các công ty xuyên quốc gianắm Hầu hết những ngành công nghiệp có ý nghĩa quan rọng đối với tăngtrưởng nền kinh tế, đều nằm trong các công ty xuyên quốc gia Ngay ở nướcđược coi là phát triển cao trong khu vực như Malaysia chẳng hạn, tổng sốtiền dành cho nghiên cứu và phát triển, mới chỉ ở mức 0,17% GDP so với3% của Nhật, 277% của Mỹ, 2,11% của Anh và 1,36% của Úc [41, tr 45].Những nhân tố trên làm cho công nghiệp có những dấu hiệu suy yếu khichuyển sang giai đoạn đòi hỏi công nghệ cao hơn

1.2.2.3 Vấn đề ô nhiễm môi trường

Ngày đăng: 13/10/2016, 08:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Xuân Bình (1994), "Đầu tư trực tiếp của Mỹ ở các nước Đông Nam Á đặc điểm và triển vọng", Thông tin lý luận, (9), tr. 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp của Mỹ ở các nước Đông Nam Á đặc điểm và triển vọng
Tác giả: Ngô Xuân Bình
Năm: 1994
2. GS Chu Văn Cấp - PTS Nguyễn Khắc Thân (chủ biên), Những giải pháp chính trị, kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, tr. 74-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp chính trị, kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
3. Nguyễn Mạnh Cầm (6/2/1997), "Hội nhập vào tự do hóa thương mại và đầu tư", Báo Đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập vào tự do hóa thương mại và đầu tư
4. GS Chu Văn Cấp (1995), Những giải pháp chính trị - kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả FDI vào Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tr. 237; 240-242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp chính trị - kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả FDI vào Việt Nam
Tác giả: GS Chu Văn Cấp
Năm: 1995
5. Nguyễn Chiến (20/3/1997), "Chính sách thu hút vốn của Indonesia", Báo Đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thu hút vốn của Indonesia
6. Mã Hồng (chủ biên) (1995), Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Mã Hồng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
7. Nguyễn Đức Hưng (1994), "Mấy vấn đề về khuyến khích xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài ở Thái Lan trong giai đoạn hiện nay", Những vấn đề Kinh tế thế giới, (6), tr. 30-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về khuyến khích xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài ở Thái Lan trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Đức Hưng
Năm: 1994
8. Đỗ Hoài Nan và Trương Tất Đạt (1994), "Đầu tư trực tiếp nước ngoài và công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Những vấn đề Kinh tế thế giới, (5), tr. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài và công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Đỗ Hoài Nan và Trương Tất Đạt
Năm: 1994
9. Nguyễn Như Dũng (31/3/1996), "Để bảo vệ môi trường đầu tư bao nhiêu mới đủ", Báo Doanh nghiệp chủ nhật số 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để bảo vệ môi trường đầu tư bao nhiêu mới đủ
10.TS Nguyễn Xuân Thủy (1995), Quản trị dự án đầu tư, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 11-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị dự án đầu tư
Tác giả: TS Nguyễn Xuân Thủy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
11.Nguyễn Khắc Thanh (1994), Những biểu hiện mới của xuất khẩu - TB trong thời kỳ 1960 - 1990, Luận án PTS, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr. 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biểu hiện mới của xuất khẩu - TB trong thời kỳ 1960 - 1990
Tác giả: Nguyễn Khắc Thanh
Năm: 1994
12.Nguyễn Huy Thám, Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở các nước ASEAN và vận dụng vào Việt Nam, luận án TS, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. tr. 27-28; 127-128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở các nước ASEAN và vận dụng vào Việt Nam
13.Nguyễn Khắc Thân (1993), "Xu hướng vận động của luồng tư bản và một số giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với Việt Nam", Bản tin chọn lọc phục vụ lãnh đạo, (16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng vận động của luồng tư bản và một số giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khắc Thân
Năm: 1993
14.Nguyễn Anh Tuấn - Phan Hữu Thắng - Hoàng Văn Huấn (1994), Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam cơ sở pháp lý hiện trạng triển vọng, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr. 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam cơ sở pháp lý hiện trạng triển vọng
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn - Phan Hữu Thắng - Hoàng Văn Huấn
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1994
15.Xuân Thắng (6-13/2/1997), "1997 thế giới có gì mới", Báo Đầu tư, tr. 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1997 thế giới có gì mới
16.Hoàng Hà Thanh (Trung Quốc) (1996), "Xu thế mới trong đầu tư trực tiếp quốc tế và đối sách của Trung Quốc", Thông tin phục vụ lãnh đạo, (10), tr. 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu thế mới trong đầu tư trực tiếp quốc tế và đối sách của Trung Quốc
Tác giả: Hoàng Hà Thanh (Trung Quốc)
Năm: 1996
17.Anh Tuấn (5/5/1997), "Năm 1997 thương mại thế giới sẽ sôi động hơn", Báo Đầu tư, (36 231), tr.13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm 1997 thương mại thế giới sẽ sôi động hơn
18.Nguyễn Khắc Thân, Vai trò công ty xuyên quốc gia, đối với nền kinh tế các nước ASEAN, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò công ty xuyên quốc gia, đối với nền kinh tế các nước ASEAN
Nhà XB: Nxb Pháp lý
19.Mai Đức Lộc (1994), Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh tế - Việt Nam, luận án PTS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh tế - Việt Nam
Tác giả: Mai Đức Lộc
Năm: 1994
20.Thái Văn Long (1997), "Vấn đề môi trường trong quan hệ kinh tế - quốc tế hiện nay", Kinh tế và dự báo, (6), tr. 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề môi trường trong quan hệ kinh tế - quốc tế hiện nay
Tác giả: Thái Văn Long
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tình hình gia tăng FDI trên thế giới (1986-1999) - LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế   đầu tư TRỰC TIẾP nước NGOÀI TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH tế CỘNG hòa dân CHỦ NHÂN dân lào
Bảng 1.1 Tình hình gia tăng FDI trên thế giới (1986-1999) (Trang 21)
Bảng 1.2: Cơ cấu ngành trong GDP của ASEAN (%) - LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế   đầu tư TRỰC TIẾP nước NGOÀI TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH tế CỘNG hòa dân CHỦ NHÂN dân lào
Bảng 1.2 Cơ cấu ngành trong GDP của ASEAN (%) (Trang 28)
Bảng 1.3: Cơ cấu lao động của các nước - LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế   đầu tư TRỰC TIẾP nước NGOÀI TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH tế CỘNG hòa dân CHỦ NHÂN dân lào
Bảng 1.3 Cơ cấu lao động của các nước (Trang 30)
Bảng 1.4: Tốc độ tăng xuất khẩu hàng hóa của một số nước - LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế   đầu tư TRỰC TIẾP nước NGOÀI TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH tế CỘNG hòa dân CHỦ NHÂN dân lào
Bảng 1.4 Tốc độ tăng xuất khẩu hàng hóa của một số nước (Trang 32)
Bảng 1.5: Các bạn hàng của ASEAN (toàn bộ xuất khẩu)  [37, tr. 23] - LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế   đầu tư TRỰC TIẾP nước NGOÀI TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH tế CỘNG hòa dân CHỦ NHÂN dân lào
Bảng 1.5 Các bạn hàng của ASEAN (toàn bộ xuất khẩu) [37, tr. 23] (Trang 34)
Bảng 1.6: Thay đổi trong cấu thành xuất khẩu - LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế   đầu tư TRỰC TIẾP nước NGOÀI TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH tế CỘNG hòa dân CHỦ NHÂN dân lào
Bảng 1.6 Thay đổi trong cấu thành xuất khẩu (Trang 35)
Bảng 1.8: Tổng tư bản pháp định của các dự án đầu tư - LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế   đầu tư TRỰC TIẾP nước NGOÀI TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH tế CỘNG hòa dân CHỦ NHÂN dân lào
Bảng 1.8 Tổng tư bản pháp định của các dự án đầu tư (Trang 49)
Bảng 1.9: Dự án đầu tư của nước ngoài - LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế   đầu tư TRỰC TIẾP nước NGOÀI TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH tế CỘNG hòa dân CHỦ NHÂN dân lào
Bảng 1.9 Dự án đầu tư của nước ngoài (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w