1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra

101 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thống kê trên cho thấy, chó ở nước ta nhiễm nhiều loại giun tròn và chủ yếu là các giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa, những loài giun tròn gây tác hại nhiều cho chó là Toxocara canis

Trang 1

BÙI CHÍ VINH

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN TRÒN

ĐƯỜNG TIÊU HÓA Ở CHÓ TẠI TỈNH PHÚ THỌ, ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ VÀ LÂM SÀNG BỆNH

DO GIUN ĐŨA TOXOCARA CANIS GÂY RA

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

BÙI CHÍ VINH

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN TRÒN

ĐƯỜNG TIÊU HÓA Ở CHÓ TẠI TỈNH PHÚ THỌ, ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ VÀ LÂM SÀNG BỆNH

DO GIUN ĐŨA TOXOCARA CANIS GÂY RA

Chuyên ngành: Thú y

Mã số ngành: 60 64 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Ngô Nhật Thắng

2 GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan

Thái Nguyên - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của chúng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015

Tác giả luận văn

Bùi Chí Vinh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt 2 năm học tập, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn của tôi đã được hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân

thành tới:

Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại học, Khoa Chăn nuôi - Thú y cùng toàn thể cán

bộ, giảng viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Lãnh đạo, cán bộ phòng Ký sinh trùng Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh vật; cán bộ Thú y, đồng nghiệp đang làm việc trong lĩnh vực Chăn nuôi - Thú y của tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Với lòng biết ơn chân thành, tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới: GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, NCS Nguyễn Thị Quyên và TS Ngô Nhật Thắng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nhân dân tại các địa điểm tiến hành thí nghiệm, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015

Học viên

Bùi Chí Vinh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun tròn ký sinh ở chó 4

1.1.2 Đặc điểm dịch tễ học của một số bệnh giun tròn chủ yếu ở chó 15

1.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng một số bệnh giun tròn chủ yếu ở đường tiêu hóa chó 20

1.1.4 Chẩn đoán bệnh giun tròn đường tiêu hóa chó 25

1.1.5 Phòng và trị bệnh giun tròn cho chó 26

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 28

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 28

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 30

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33

2.2 Vật liệu nghiên cứu 33

2.3 Nội dung nghiên cứu 34

Trang 6

2.3.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại Phú Thọ 34

2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh giun đũa do Toxocara canis gây ra ở chó 34

2.4 Phương pháp nghiên cứu 35

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại Phú Thọ 35

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh giun đũa chó do Toxocara canis gây ra 40

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 43

Chương 3: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 44

3.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại Phú Thọ 44

3.1.1 Thành phần và sự phân bố các loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa chó tại Phú Thọ 44

3.1.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó qua mổ khám 46

3.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó theo thành phần loài (qua mổ khám) 48

3.1.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa chó ở các địa phương (qua xét nghiệm phân) 50

3.1.5 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo giống chó (qua xét nghiệm phân) 53

3.1.6 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo tuổi chó (qua xét nghiệm phân) 55

3.1.7 Tỷ lệ nhiễm giun tròn ở chó theo phương thức nuôi 58

3.1.8 Tỷ lệ nhiễm giun tròn ở chó theo mùa vụ 60

3.2 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng bệnh giun đũa chó 62

3.2.1 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của chó gây nhiễm giun đũa Toxocara canis 62

3.2.2 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của chó bị bệnh giun đũa ở các địa phương 71

3.3 Thử nghiệm thuốc tẩy giun đũa Toxocara canis cho chó và đề xuất biện pháp phòng bệnh 73

3.3.1 Thử nghiệm thuốc tẩy giun đũa Toxocara canis cho chó 73

3.3.2 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho chó 75

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT STT

cs Nxb

H

TP

SGN

: :

: :

: :

:

Thể trọng

Số thứ tự

Cộng sự Nhà xuất bản

Huyện Thành phố

Sau gây nhiễm

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thành phần và sự phân bố các loài giun tròn ký sinh ở đường

tiêu hóa chó tại 3 huyện, thành của tỉnh Phú Thọ 44

Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa chung ở chó

(qua mổ khám) 46

Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó mổ khám 48

Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa chó ở các địa phương (qua xét nghiệm phân) 50

Bảng 3 5 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo giống chó 53

Bảng 3.6 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo tuổi chó(qua xét nghiệm phân) 55

Bảng 3.7 Tỷ lệ nhiễm giun tròn ở chó theo phương thức nuôi 58

Bảng 3.8 Tỷ lệ nhiễm giun tròn ở chó theo mùa vụ 60

Bảng 3.9 Thời gian chó gây nhiễm bắt đầu thải trứng 63

Bảng 3.10 Biểu hiện lâm sàng và khối lượng chó thí nghiệm 64

Bảng 3.11 Mức độ tổn thương đại thể của chó mắc bệnh giun đũa do gây nhiễm 66

Bảng 3.12 Tổn thương vi thể ở ruột non chó bị bệnh giun đũa do gây nhiễm 67

Bảng 3.13 Các chỉ tiêu hồng cầu và huyết sắc tố của chó gây nhiễm 69

Bảng 3.14 Sự thay đổi các chỉ tiêu tiểu cầu 70

Bảng 3.15 Các chỉ tiêu bạch cầu và công thức bạch cầu 70

Bảng 3.16 Bệnh tích đại thể ở đường tiêu hóa chó bị bệnh giun đũa ở các địa phương 72

Bảng 3.17 Hiệu lực của thuốc tẩy giun đũa cho chó thí nghiệm 73

Bảng 3 18 Độ an toàn của thuốc tẩy giun đũa cho chó 75

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Vòng phát triển của Toxascaris leonina 8

Hình 1.2 Vòng đời phát triển của Toxocara canis 10

Hình 1.3 Vòng đời phát triển của Ancylostomatidae 13

Hình 1.4 Vòng đời phát triển của Trichocephalus vulpis 13

Hình 1.5 Vòng đời phát triển của Spirocerca lupi 15

Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa qua mổ khám 48

Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó theo thành phần loài (qua mổ khám) 50

Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa chó tại các địa phương của tỉnh Phú Thọ 52

Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn theo giống chó 55

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó theo lứa tuổi 57

Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó theo phương thức chăn nuôi 60

Hình 3.7 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo mùa vụ 62

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ lâu chó đã là loài vật được con người nuôi dưỡng và thuần hóa Chó rất dễ nuôi và trung thành với chủ Khác hẳn với các loài vật nuôi khác, con chó có giác quan rất phát triển, đặc biệt là khả năng thị giác, thính giác cao hơn rất nhiều so với con người, vì thế chó được con người nuôi dưỡng và sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau

Chó được nuôi ở tất cả các nước trên thế giới Tại các nước phát triển, chó

được chăm sóc, nuôi dưỡng và khám chữa bệnh rất cẩn thận Ở Việt Nam, chó được con người, nuôi để giữ nhà, làm cảnh, làm bạn và làm chó nghiệp vụ Ngày

nay, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, nhu cầu nuôi chó phục vụ nhiều mục

đích khác nhau ngày càng nhiều, vì vậy việc phát triển, nuôi dưỡng và chăm sóc đàn chó càng được người dân quan tâm

Chó là con vật mang lại nhiều lợi ích cho con người, song khi chó được nuôi nhiều thì vấn đề dịch bệnh xảy ra trên đàn chó cũng càng nhiều hơn Bệnh dịch không những gây thiệt hại cho chó mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người Ngoài những bệnh truyền nhiễm, bệnh nội khoa, bệnh sản khoa , bệnh do ký sinh trùng cũng gây nhiều thiệt hại cho đàn chó, đặc biệt là điều kiện khí hậu nóng ẩm ở nước ta tạo điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh ký sinh trùng tồn tại và phát triển

Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu của Trịnh Văn Thịnh (1963, 1966)

[29], [30]; Phan Thế Việt và cs (1977) [39], Phạm Sỹ Lăng (1989) [14]; Phạm Văn

Khuê và cs (1993) [10] đã công bố các loài giun tròn ở chó là Toxocara canis (Werner, 1782) và Toxascaris leonina (Linstow, 1902) ký sinh ở ruột non

Physaloptera praeputialis (Linstow, 1899), Gnathostoma spinigerum (Owen, 1836)

ký sinh ở dạ dày, Ancylostoma caninum (Ercolani, 1859), Ancylostoma bzaziliense

(Faria, 1910) ký sinh ở ruột non Những ký sinh trùng này đã gây thiệt hại cho sức khỏe và sự phát triển đàn chó

Theo Vũ Triệu An và Jean ClaudeHomberg (1977) [1], những bệnh ký sinh trùng rất phổ biến đã và đang gây ra nhiều tử vong hơn bất kỳ dạng nhiễm trùng nào khác, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và các nước đang phát triển

Trang 12

Từ thống kê trên cho thấy, chó ở nước ta nhiễm nhiều loại giun tròn và chủ yếu là các giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa, những loài giun tròn gây tác hại

nhiều cho chó là Toxocara canis (Werner, 1782), Toxascaris leonina (Linstow, 1902), Ancylostoma caninum ký sinh ở đường tiêu hóa của chó

Để tiến hành các nghiên cứu về giun, sán ký sinh và đề ra những biện pháp

phòng trừ có hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế từng nơi, nhằm hạn chế tác hại

do các bệnh giun, sán gây ra ở chó thì việc nghiên cứu về thành phần loài, tình trạng nhiễm các loài giun, sán nói chung, các loài giun tròn đường tiêu hóa nói riêng ở chó là cần thiết

Trong những năm gần đây, chó vẫn được nuôi phổ biến ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước, trong đó có tỉnh Phú Thọ Tuy nhiên, chó thường được nuôi theo phương thức thả rông, công tác phòng chống bệnh giun, sán chưa được chú ý nhiều

Đặc biệt, việc đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y trong chăn nuôi và giết mổ chó tại tỉnh

Phú Thọ vẫn chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng chó thải phân bừa bãi còn phổ biến khiến nguy cơ lây nhiễm bệnh ký sinh trùng là khá cao

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn ở tỉnh Phú Thọ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài:

“Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh Phú Thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa Toxocara canis gây ra"

2 Mục tiêu của đề tài

Xác định thành phần loài, mô tả một số đặc điểm của các giun tròn đường tiêu hóa ở chó nuôi tại tỉnh Phú Thọ

Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa Toxocara canis gây ra

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Trang 13

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học về tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa nói chung và tác hại của giun đũa nói riêng đối với chó, từ

đó có thể ứng dụng trong công tác chẩn đoán và phòng trị bệnh giun tròn cho chó,

góp phần bảo vệ sức khỏe đàn chó, bảo vệ sức khỏe con người

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun tròn ký sinh ở chó

1.1.1.1 Vị trí của giun tròn ký sinh trong hệ thống phân loại động vật học

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [39], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], các loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của chó Việt Nam có vị trí phân loại như sau:

Ngành Nemathelminthes Huxley, 1856

Lớp giun tròn Nematoda Rudolphi, 1808

Phân lớp Secernentea Linstow, 1905

Giống Toxascaris Leiper, 1907

Họ Anisakidae Skrjabin và Karokhin, 1945

Giống Toxocara Stiles, 1905

Loài Toxocara canis Wermer, 1782

Phân lớp Secernentea Linstow, 1905

Giống Uncinaria Froelich, 1789 Loài Uncinaria stenocephala Railliet, 1884

Trang 15

Phân lớp Adenophorea Linstow, 1905

Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928

Họ Trichocephalidae Bard, 1853 Giống Trichocephalus Schrank 1788

Phân lớp Secernentea Linstow, 1905

Bộ Spirurida Chitwood, 1933

Phân bộ Spirurida Railliet, 1914

Liên họ Spiruroidae Railliet et Henry, 1915

Họ Spiruridae Oerley, 1885

Giống Spirocerca Railliet et Henry, 1911

Loài Spirocerca lupi Rudolphi, 1809

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của một số giun tròn chủ yếu

* Giống Toxocara Stiles, 1905

- Loài Toxocara canis Wermer, 1782

Trịnh Văn Thịnh (1963) [29], Trần Minh Châu và cs (1988) [2], Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [11], Bowman D.D (1996) [45], Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2001) [17], Phan Địch Lân và cs (2005) [19] đều cho biết:

Toxocara canis có kích thước lớn, màu vàng nhạt, đầu hơi cong về phía bụng,

có cánh đầu rộng Đầu có 3 môi, trên mỗi môi đều có các răng nhỏ, không có môi trung gian Thực quản hình trụ, đặc biệt giữa thực quản và ruột có đoạn phình to như dạ dày

Giun đực dài 50 - 100 mm, đầu có cánh dài, hẹp, hơi giống mũi giáo Có hai gai giao cấu bằng nhau, dài 0,75 - 0,95 mm Cánh đuôi hẹp hoặc không có, có nhiều nhú trước và sau hậu môn Cuối đuôi giun đực hình thành dạng mũi khoan

Giun cái dài 90 - 180 mm, đuôi thẳng, lỗ sinh dục ở nửa trước cơ thể, âm môn

ở vào khoảng giữa 1/4 phía thân trước, có 2 tử cung

Trứng giun đũa Toxocara canis gần tròn, đường kính 0,068 - 0,075 mm, vỏ

ngoài dày, gồm 4 lớp khác nhau, có nhiều chỗ lồi lõm như tổ ong giúp trứng chống

Trang 16

lại tác động của nhiệt độ cao, hóa chất và ánh sáng trực tiếp Chính vì vậy, trứng giun đũa có sức đề kháng cao với các điều kiện bất lợi của môi trường

* Giống Toxascaris Leiper, 1907

- Loài Toxascaris leonina Linstow, 1902

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001) [17], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18] cho biết:

Toxascaris leonina là giun tròn, nhỏ, dài, màu vàng nhạt, đầu có 3 lá môi, thực

quản đơn giản, hình trụ, không có đoạn phình to Giun đực dài 4 - 8 mm, đuôi thon

đều, không có phần phụ hình chóp, đầu có cánh hẹp như mũi giáo Giun cái dài 65 -

100 mm, lỗ sinh dục ở nửa trước cơ thể Mỏm cuối đuôi của giun đực thon nhỏ, không có cánh đuôi Gai giao hợp dài gần bằng nhau, dài 0,9 - 1,5 mm, không có màng cánh và bánh lái giao hợp Âm môn của giun cái ở vào khoảng 1/3 phía trước

thân Trứng của Toxascaris leonina, hình hơi tròn, vở dày, lớp vỏ ngoài nhẵn, phôi

xếp không kín vỏ, đường kính 0,075 - 0,085 mm

* Giống Ancylostoma Dubini, 1893

- Loài Ancylostoma caninum Ercolani, 1958

Ancylostoma caninum có màu vàng nhạt hoặc hồng nhạt, đoạn trước có một

cái móc cong về phía lưng Túi miệng rất sâu, ở rìa mép phía mặt bụng có 3 đôi răng lớn, cong hình lưỡi câu, dưới đáy túi miệng có một đôi răng hình tam giác Giun đực dài 9 - 12 mm, túi đuôi phát triển Gai giao hợp dài 0,75 - 0,87 mm, đoạn cuối rất nhọn, bánh lái gai giao hợp tròn dài Giun cái dài 10 - 21 mm, lỗ sinh dục ở vào 1/3 nửa sau cơ thể Trứng giun hình bầu dục dài 0,06 - 0,066 mm, rộng 0,037 - 0,042 mm Bowman D.D (1996) [45], Foster và Smith (2000) [69], OIE (2005) [62], Stenphen (1996) [67), Sally Gariner (2007) [68]

- Loài Ancylostoma braziliense Faria, 1910

Theo nghiên cứu của Bowman D.D (1996) [45], Forter và Smith (2000) [69],

OIE (2005) [62], Sally Gariner (2007) [68] thì: Ancylostoma braziliense nhỏ hơn

Ancylostoma caninum, cơ thể hình trụ, thon nhỏ hai đầu

Giun đực dài 6 - 7 mm, lớp biểu bì dày, có vân ngang, đầu hơi cong về phía

Trang 17

mặt bụng, nang miệng hình cầu, có một đôi răng không phân nhánh Thực quản dài 0,62

- 0,69 mm Gai sinh dục bằng nhau, dài 1,05 - 1,30 mm, phần cuối thon nhỏ dần Giun cái dài 7,3 - 7,9 mm, đầu cong về mặt bụng Đuôi hình nón, mút đuôi có gai nhọn, dài 0,005 mm Trứng hình ovan, kích thước 0,075 - 0,095 mm x 0,041 - 0,045 mm Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh (1978) [27], Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [11]

* Giống Uncinaria Froelich, 1789

- Loài Uncinaria stenocephala Railliet, 1884

Nghiên cứu của Bowman D.D (1996) [45] cho biết: Uncinaria stenocephala

có màu vàng nhạt, hai đầu hơi nhọn Túi miệng rất lớn, mặt bụng của túi miệng có 2

đôi răng hình bán nguyệt xếp đối xứng nhau Giun đực dài 6 - 11 mm, rộng 0,28 -

0,34 mm, có túi đuôi phát triển, 2 gai giao hợp dài bằng nhau 0,65 - 0,75 mm, đầu mút của gai rất nhọn Giun cái dài 9 - 16 mm, chỗ rộng nhất là 0,28 - 0,37 mm, lỗ sinh dục ở vào 1/3 phía trước cơ thể Trứng hình bầu dục, có kích thước 0,078 - 0,083 mm x 0,052 - 0,059 mm

* Giống Trichocephalus Schrank 1788

- Loài Trichuris vulpis Froelich, 1789

Trịnh Văn Thịnh (1963) [29] cho biết:

Trichuris vulpis là một loài giun tròn dài 45 - 75 mm Thực quản chiếm 3/4 chiều

dài cơ thể Đuôi con đực thường cuộn tròn về phía bụng và mang một gai giao cấu, màng trên có nhiều gai bao phủ bảo vệ Con cái có kích thước tương đương với con

đực, đuôi thẳng

Trứng giun hình ovan, vỏ mỏng, màu vàng sẫm, kích thước khoảng 72 - 90 µm x

32 - 40 µm Trứng có sức đề kháng cao đối với điều kiện môi trường và có thể tồn tại nhiều năm trong đất, có thể chống lại điều kiện lạnh giá của mùa đông cũng như điều kiện nóng của mùa hè

* Giống Spirocerca Railliet et Henry, 1911

- Loài Spirocerca lupi Rudolphi, 1809

Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [11], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18] cho biết:

Trang 18

Spirocerca lupi có màu đỏ, miệng nhỏ hình 6 cạnh Thực quản kép, phần trước

được cấu tạo bằng tổ chức cơ, phần này dài Phần sau được cấu tạo bằng tổ chức

tuyến, phần này ngắn hơn Giun đực đực dài 30 - 54 mm, có hai gai giao hợp không bằng nhau dài 2,54 mm Giun cái dài 54 - 80 mm, lỗ sinh dục cái nằm phía trước thân, gần cuối thực quản Hai đầu cơ thể giun hơi thót lại, toàn thân có màu đỏ máu Trứng rất nhỏ, vỏ mỏng, hình bầu dục, hai cạnh bên gần như song song với nhau, kích thước 0,035 - 0,039 mm x 0,014 - 0,023 mm, bên trong có chứa ấu trùng

1.1.1.3 Chu kỳ sinh học của giun tròn

* Giống Toxascaris Leiper, 1907

- Loài Toxascaris leonina Linstow, 1902

Bowman D.D (1996) [45], Phan Địch Lân và cs (2005) [19], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [12], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18] đều xác nhận giun trưởng thành

ký sinh ở ruột non hoặc dạ dày của ký chủ cuối cùng Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân

ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi, sau 3 ngày phát triển thành trứng có ấu trùng gây nhiễm Trứng lẫn trong thức ăn, nước uống rồi đi vào đường tiêu hóa, ấu trùng được giải phóng, chui qua niêm mạc ruột và dừng lại ở đó, sau một thời gian biến thái rồi trở về xoang ruột phát triển thành dạng trưởng thành

Thời gian hoàn thành vòng đời khoảng 21 - 28 ngày

Hình 1.1 Vòng phát triển của Toxascaris leonina

KÝ CHỦ CUỐI CÙNG Giun trưởng thành

Trứng

Trứng gây nhiễm

Trang 19

*Giống Toxocara Stiles, 1905

- Loài Toxocara canis Wermer, 1782

Để có khả năng gây nhiễm, trứng giun đũa phải trải qua giai đoạn phát triển

thành ấu trùng cảm nhiễm ở ngoài môi trường Theo Sally Gardiner (2007) [68], ấu

trùng của Toxocara canis ở giai đoạn II dài 0,335 - 0,444 mm, ký sinh trong các mô

cơ thể chó Ấu trùng lột xác lần thứ hai ở phổi, tim hoặc ở dạ dày Ấu trùng giai

đoạn III dài 0,66 - 1,19 mm, lột xác ở phổi và dạ dày thành ấu trùng giai đoạn IV,

có chiều dài 1,2 - 7,4 mm

Một số ấu trùng sau khi vào phổi tiếp tục theo hệ thống tuần hoàn về các tổ chức cư trú làm thành kén và có khả năng lây nhiễm tiếp cho động vật cảm nhiễm khác, nếu chúng ăn phải các kén này

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18], Toxocara canis trưởng thành ký sinh ở dạ

dày hoặc ruột non, đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng thích hợp sẽ phát triển thành trứng có ấu trùng cảm nhiễm Trường hợp lây nhiễm qua đường tiêu hoá, ấu trùng được giải phóng khỏi trứng, bắt đầu quá trình di hành trong

cơ thể ký chủ Ấu trùng xuyên qua niêm mạc ruột, vào máu, theo hệ thống tuần hoàn đến gan, về tim, lên phổi vào khí quản, lên miệng rồi trở lại ruột non, phát triển tới dạng giun trưởng thành

Một số ấu trùng sau khi vào phổi tiếp tục theo hệ thống tuần hoàn về các tổ chức cư trú làm thành kén và có khả năng lây nhiễm tiếp cho động vật cảm nhiễm khác, nếu chúng ăn phải các kén này

Các ký chủ không chuyên biệt như chuột đồng, chuột nhà nuốt phải trứng

Toxocara canis chứa ấu trùng cảm nhiễm thì ấu trùng nở ra theo máu đến các cơ

quan vào mô và đóng kén tại đó Chó ăn phải các ký chủ chứa kén này, ấu trùng sẽ giải phóng khỏi kén, tới ruột và phát triển tới dạng trưởng thành Một số ấu trùng xâm nhập qua hệ tuần hoàn của chó mẹ vào bào thai Do đó chó con sau khi sinh đã mang sẵn mầm bệnh, đến 21 ngày tuổi, giun đã có thể gây bệnh nặng cho chó

Thời gian hoàn thành vòng đời của Toxocara canis là 26 - 28 ngày

Nghiên cứu của Kutdang và cs (2010) [57] cũng thấy rằng, Toxocara canis là

loài phổ biến ở chó, trứng thường xuyên được thải ra ngoài theo phân, có thể tồn tại nhiều năm trong đất và là nguồn lây nhiễm tiềm tàng

Trang 20

Hình 1.2 Vòng đời phát triển của Toxocara canis

* Giống Ancylostoma Dubini 1893

- Loài Ancylostoma caninum Ercolani, 1859

Những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước như Trịnh Văn Thịnh (1966) [30], Đỗ Hài (1972) [6], Phạm Sỹ Lăng và cs (1989) [14], Phạm Sỹ Lăng (1990) [15], Phạm Sỹ Lăng và cs (1993) [16], Bowman D.D (1996) [45], đều xác

nhận vật chủ của Ancylostoma caninum là chó, mèo rừng, hổ, sư tử, báo

Nguyễn Phước Tương (2000) [38] cho biết, người cũng có thể nhiễm giun

móc chó Ancylostoma caninum, chu kỳ phát triển của giun móc chó ở người tương

chân, da bụng để gây nhiễm cho người Đôi khi người bị bệnh là do ăn phải ấu trùng L3 có trong thức ăn thực vật, trong nước nấu chưa chín

Nguyễn Phước Tương (2000) [38] cho rằng, chu kỳ phát triển của giun móc chó

ở người tương tự ở các loài gia súc Người bị lây bệnh khi tiếp xúc với đất bị ô nhiễm

bởi ấu trùng L3 của giun móc, khi lây nhiễm qua da hoặc qua đường tiêu hóa Sau khi xâm nhập qua da, ấu trùng L3 vào hệ thống tuần hoàn về tim, lên phổi, đến các phế bào và đi đến tận nhánh phế quản, biến đổi thành ấu trùng L4, tiếp tục đi lên khí quản

và được nuốt vào ống tiêu hóa khi người hoặc vật ho, ấu trùng về tá tràng thì ký sinh

ở đó, biến đổi lần cuối thành ấu trùng L5 Khi ấu trùng L5 phát triển thành giun trưởng thành ký sinh ở ruột non của người, gây chứng thiếu máu gọi là bần huyết

KÝ CHỦ CUỐI CÙNG Giun trưởng thành

Trứng

Trứng gây nhiễm Kén trong tổ chức

Bào thai

Trang 21

Nghiên cứu tại Mỹ, Foster và Smith (2000) [69] cho rằng, ấu trùng giun móc

được phát hiện thường xuyên trong tự nhiên, chúng có thể sống vài tuần trong đất

mát và ẩm nhưng, chết nhanh trong băng giá, hoặc trong điều kiện nóng hoặc khô Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001) [17], khi ấu trùng chui qua

da chó con thì ít gây phản ứng, nhưng có phản ứng viêm rõ rệt khi ấu trùng chui

qua da chó trưởng thành Khi chó đã nhiễm Ancylostoma caninum thì chó sức đề

kháng cao hơn so với những chó mới bị nhiễm lần đầu Trong điều kiện cho chó

ăn đầy đủ thì sức đề kháng của chó với giun móc được khôi phục và có thể tự

thải nhanh một số lượng lớn giun móc ra ngoài

Giun móc trưởng thành sống ở ruột non của chó, tập trung ở tá tràng, không tràng, kết tràng và đẻ trứng tại đó, dạng ấu trùng có thể nằm im không hoạt động trong các tổ chức cơ, đặc biệt là dưới da khi chúng xâm nhập vào người Nếu vật chủ cuối cùng nhiễm phải dạng ấu trùng này thì chúng có thể được giải phóng và phát triển tới dạng

trưởng thành Sự phát triển của Ancylostoma caninum trong ruột chó đến giai đoạn

trưởng thành kéo dài 14 - 16 ngày Các nghiên cứu của OIE (2005) [62] đã xác nhận thời gian sống của giun móc trong cơ thể chó từ 8 - 20 tháng

Nghiên cứu của OIE (2005) [62] cho biết; trứng của các loài giun móc thải theo phân ra ngoài, phát triển tới giai đoạn ấu trùng L1 và nở ngoài môi trường sau một vài ngày Thức ăn của chúng là các vi sinh vật có trong đất, ấu trùng L1 qua 2 lần lột xác để phát triển thành ấu trùng gây nhiễm L3, L3 hoạt động mạnh, hướng tới các ngon cỏ, lá rau và tìm cách xâm nhập vào ký chủ thích hợp Ấu trùng L3 có thể tồn tại một thời gian dài ở trong môi trường trong điều kiện thích hợp, những dễ bị tác động bởi điều kiện lạnh, khô và nhiệt độ > 450C Nghiên cứu cũng cho biết, dung dịch I2 (iod) từ 50 - 60%, dung dịch NaOH (hydroxit Natri) 1% và glutaraldehyde 2%, ở 15 - 300C có thể diệt ấu trùng trong vòng 15 phút hoặc ít hơn

Do đó dung dịch NaOH có thể sử dụng để tẩy uế môi trường đất bị ô nhiễm bởi trứng của giun móc chó

Trang 22

Lefkaditis và cs (2006) [61] cho biết; một giun móc trưởng thành Ancylostoma

caninum có thể đẻ 7000 - 28.000 trứng/ngày Nhiệt độ thích hợp nhất để trứng phát

triển tới dạng ấu trùng là 23 - 300C, chúng không thể phát triển tới dạng ấu trùng khi nhiệt độ > 370C Ở 150C, ấu trùng gây nhiễm có thể xuất hiện trong phân 22 ngày sau khi trứng được thải ra Ở 370C ấu trùng gây nhiễm xuất hiện trong phân sau 47 giờ Hầu hết ấu trùng không thể sống sót khi nhiệt độ > 370C

- Loài Ancylostoma braziliense Faria, 1910

Loài Ancylostoma braziliense thường ký sinh ở ruột non của chó và mèo, giun

trưởng thành sống khoảng 4 - 8 tháng trong cơ thể chó

* Giống Uncinaria Froelich 1789

- Loài Uncinaria stenocephala Railliet, 1884

Loài Uncinaria stenocephala có vật chủ là chó và mèo, chúng thường ký sinh

ở ruột non, tập trung chủ yếu ở đoạn tá tràng

Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18] cho biết: các loại giun tròn thuộc họ

Ancylostomatidae đều phát triển trực tiếp Giun trưởng thành ký sinh ở ruột non,

giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, bên trong trứng đã có từ 4 - 8 phôi bào

Ở môi trường ngoài, sau 1 - 3 tuần, gặp các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp,

phôi bào trong trứng phát triển tới dạng ấu trùng Ấu trùng thoát ra khỏi trứng, qua

2 lần lột xác thành ấu trùng cảm nhiễm Ấu trùng xâm nhập vào ký chủ qua 2

đường: qua đường tiêu hóa, hoặc qua da

+ Ấu trùng theo thức ăn, nước uống, hoặc qua các vật chủ dự trữ vào đường tiêu hóa vật chủ Ấu trùng chui vào thành ruột và thành dạ dày, ở đó vài ngày rồi trở

về ruột non phát triển tới dạng trưởng thành

+ Ấu trùng xuyên qua da vật chủ, theo hệ thống tuần hoàn về tim, lên phổi, qua phế bào đến khí quản, rồi về ruột non và phát triển tới dạng trưởng thành Thời gian hoàn thành vòng đời của giun móc chó hết 14 đến 20 ngày

Trang 23

Hình 1.3 Vòng đời phát triển của Ancylostomatidae

* Giống Trichocephalus Schrank 1788

- Loài Trichocephalus vulpis Froelich, 1789

Các nghiên cứu của Phan Thế Việt và cs (1977) [39], Phạm Sỹ Lăng và cs (1993) [16] cho thấy, giun tóc ký sinh ở manh tràng của động vật họ mèo như sư tử,

hổ, báo, mèo rừng

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [11] xác nhận: giun Trichocephalus

vulpis có vòng đời phát triển trực tiếp, không cần ký chủ trung gian Giun trưởng

thành ký sinh ở manh tràng, giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi, sau 25 - 26 ngày phôi bào trong trứng sẽ phát triển thành ấu trùng gây nhiễm Chó ăn, uống phải trứng có ấu trùng gây nhiễm, ấu trùng giải phóng ở

đường tiêu hóa về nơi ký sinh phát triển thành dạng trưởng thành Thời gian hoàn

Trang 24

* Giống Spirocerca Railliet et Henry, 1911

- Loài Spirocerca lupi Rudolphi, 1809

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001) [17] cho rằng: vật chủ cuối cùng của

loài Spirocerca lupi là chó nhà, chuột rừng, gà nhà, chó sói, cáo, mèo; vật chủ trung

gian của giun này là côn trùng cánh cứng ăn phân súc vật thuộc các giống

Scarabeus, Geotrupes và Copris Một số loài chim, chuột, bò sát đóng vai trò là ký

chủ dự trữ Giun trưởng thành ký sinh ở dạ dày, thực quản, thành động mạch chủ, tổ chức lâm ba, xoang ngực và phổi của vật chủ

Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001) [17] khi chó, cáo ăn phải ấu trùng cảm nhiễm L3 sẽ mắc bệnh u thực quản, u dạ dày, u động mạch do giun

giải phóng chui vào thành thực quản, dạ dày và tạo thành kén ở đó Khi chó, cáo ăn thịt những ký chủ dự trữ chứa ấu trùng cảm nhiễm, ấu trùng được giải phóng khỏi kén, xuyên qua thành dạ dày, di hành trong hệ tuần hoàn, đến động mạch chủ, ở đó khoảng 3 tuần Sau 10 đến 12 tuần, ấu trùng di hành đến thực quản và tạo thành kén, tạo thành lỗ dò thực quản và phát triển thành dạng trưởng thành Trứng từ kén thoát ra qua các lỗ dò vào xoang thực quản hoặc dạ dày, theo phân ra ngoài Thời gian hoàn thành vòng đời của giun khoảng 5 - 6 tháng

Nghiên cứu của Oryan và cs (2008) [65] ở Iran cho thấy, trong tự nhiên các

loài chó sói, chó fox, chó sói đồng cỏ, chó rừng thường nhiễm giun Spirocerca lupi

Bọ cánh cứng là vật chủ trung gian chính của loài này

Giun trưởng thành ký sinh trong các u, kén ở dạ dày và thực quản, đẻ trứng bên trong có chứa ấu trùng, trứng theo các lỗ dò ở kén, đi vào xoang thực quản hoặc

dạ dày, theo phân ra môi trường bên ngoài, được các vật chủ trung gian là bọ hung

ăn phân như Scarabens sacer, Capris lunaris thuộc họ Scarrabaecidae nuốt vào

bụng, ở đường tiêu hóa của các vật chủ trung gian, ấu trùng thoát ra khỏi trứng, vào xoang đại thể Ở đó chúng lột xác hai lần và trở thành ấu trùng cảm nhiễm L3

Trang 25

Trứng theo phân ra ngoài

Hình 1.5 Vòng đời phát triển của Spirocerca lupi 1.1.2 Đặc điểm dịch tễ học của một số bệnh giun tròn chủ yếu ở chó

Trịnh Văn Thịnh (1963) [29], nhận xét, nguyên nhân chó nhiễm Trichuris

vulpis là do ăn phải bọ hung ăn phân xúc vật có chứa ấu trùng gây nhiễm

Ở Việt Nam, giun tròn Spirocerca lupi đã tìm thấy ở chó nhà, chuột rừng tại

một số tỉnh thuộc Bắc bộ, Nam bộ (Houdemer, 1925) Những năm gần đây, các

cuộc điều tra ký sinh trùng ở chim và thú đã thấy Spirocerca lupi ký sinh ở chó,

chuột rừng và cả gà nhà tại Quảng Ninh, Nghĩa Lộ, Hà Tĩnh và Hà Bắc cũ (Trịnh Văn Thịnh 1963, 1966) [29], [30])

Ở Mỹ, Dixon và McCue (1967) [49] nghiên cứu trên 316 chó ở vùng nông

thôn thuộc bang Alabama và Mississippi, phát hiện 106 chó nhiễm Trichuris vulpis

tỷ lệ nhiễm là 33,7% Sự cảm nhiễm Trichuris vulpis không phụ thuộc vào tính biệt,

giống, lứa tuổi của chó Những chó nuôi thả rông, ăn uống thất thường thì tỷ lệ nhiễm tới 35%, chó nuôi nhốt và cho ăn uống thường xuyên nhiễm 12%

Nhiều tác giả cho biết, tỷ lệ nhiễm giun đũa chó rất phổ biến Đỗ Hài và cs

(1972) [6] nhận xét, tỷ lệ nhiễm Toxocara canis ở chó săn là 47,1%

Đỗ Hài (1972) [6] cho biết, chó săn nuôi ở Việt Nam có tỷ lệ nhiễm giun tóc

là 32,1% - 56,06%, ở chó lớn có tỷ lệ nhiễm cao hơn Chó mẹ nuôi con tỷ lệ nhiễm

giun tóc là (93,7%) Bệnh thường kết hợp với Ancylostoma caninum Triệu chứng

thường thấy là chó sốt, đi tả, đau bụng, gầy

Ở Việt Nam, giun tóc ở chó đã được phát hiện ở khắp các tỉnh thành trong cả

nước, đặc biệt là các tỉnh phía Bắc Phan Thế Việt và cs (1977) [39]

Ký chủ cuối cùng

Giun trưởng thành

Trứng chứa ấu trùng gây nhiễm

Vật chủ trung gian

Trang 26

Nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới, nhiều tác giả cho biết Ancylostoma

caninum và Uncinaria stenocephala là hai loài giun tròn phân bố ở nhiều nơi trên

thế giới Trong đó Ancylostoma caninum phổ biến ở vùng khí hậu nhiệt đới và cận

nhiệt đới như Anh, Mỹ, Hungary, Tây Ban Nha, Mexico, Iran, Neiria, Việt Nam Phan Thế Việt và cs (1977) [39], Nguyễn Phước Tương (2000) [38], Jurgen và cs

(2003) [55], Loài Ancylostoma braziliese cũng được phát hiện thấy ở khắp nơi trên

thế giới, như: Trung Mỹ, Nam Mỹ một số vùng Đông Nam Á như Malayxia,

Philipin, Nhật Bản, Ấn Độ, Tây Phi Loài Uncinaria stenocephala thích hợp với

vùng khí hậu lạnh hơn, như Canada, Bắc Mỹ và ở Châu Âu Vùng ôn đới chó cũng

có thể mắc bệnh nhưng tỷ lệ nhiễm thấp hơn Nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, bệnh giun móc của chó phân bố ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước

Ở Việt Nam, nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, loài Ancylostoma caninum nhiễm với tỷ lệ cao nhất (75,87%) (Đỗ Dương Thái và cs, 1978) [27]

Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [34] thông báo, tỷ lệ nhiễm Ancylostoma

caninum ở chó săn dao động từ 75% - 82% tùy theo lứa tuổi và giống chó

Ở Hungary, Fok (1988) [51] thông báo, tỷ lệ chó nuôi tại một số vùng thuộc

Hungary có tỷ lệ nhiễm Ancylostoma caninum tới 50,1%

Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả: Phạm Sỹ Lăng (1990) [15], Phạm Văn Khuê và cs (1993) [10] cho biết đã tìm thấy giun móc chó ở một số tỉnh thuộc Bắc Bộ

Theo nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng (1990) [15], Phạm Sỹ Lăng và cs (1993) [16] thì chó cảnh và chó nghiệp vụ nuôi tại các hộ gia đình và các cơ sở chăn nuôi tập trung đều nhiễm giun móc tới (74,8%) Trong 5 loài giun tròn đường tiêu hóa

được phát hiện ở chó tại vườn thú Thủ Lệ, thì Ancylostoma caninum nhiễm (72%)

Đặc biệt chó nuôi thả tự do trong điều kiện ẩm ướt và bẩn, một số chó nghiệp vụ ở

một số khu vực ở Hà Nội có tỷ lệ nhiễm cao từ 85% - 95%

Phạm Văn Khuê và cs (1993) [10] nhận xét: chó non nhiễm giun đũa và giun móc nặng, chó trưởng thành nhiễm ít hơn

Phạm văn Khuê và cs (1993) [10] thông báo, có 32 chó trong số 187 con

được kiểm tra phân bị nhiễm Trichuris vulpis chiếm tỷ lệ (17,1%) Tỷ lệ nhiễm

Trang 27

Trichuris vulpis tăng dần theo lứa tuổi của chó, cao nhất ở những chó trên 12

tháng tuổi: 67,9%

Phạm Văn Khuê và cs (1993) [10] đã mổ khám 14 chó ở một số địa điểm

thuộc thành phố Hà Nội, phát hiện 2 chó bị nhiễm Trichuris vulpis là do ăn phải bọ

hung ăn phân súc vật có chứa ấu trùng gây nhiễm

Nhận xét vè tình hình nhiễm giun, sán của chó cảnh nuôi ở Hà Nội, Phạm Văn

Khuê và cs (1993) [10] cho rằng, có 110/187 chó nhiễm Ancylostoma lupi, chiễm tỷ

lệ 59,7%

Phạm Sỹ Lăng và cs (1993) [16] đã xét nghiệm phân cảnh ở vườn thú Thủ Lệ

thành phố Hà Nội, phát hiện 5 loại giun tròn ký sinh ở chó, trong đó loài Trichuris

vulpis có tỷ lệ nhiễm là 17,1%

Kết quả khảo sát của Phạm Sỹ Lăng và cs (1993) [16] trên 364 chó cảnh nuôi

ở vườn thú Thủ Lệ, Hà Nội đã phát hiện thấy 5 loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu

hóa, trong đó tỷ lệ nhiễm Toxocara canis là 20,4%, Toxascaris leonina là 29,4% Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1993) [16], thì Toxocara canis là giun tròn gây tác

hại nhất cho chó con từ 1 - 4 tháng tuổi

Theo nghiên cứu của Ngô Huyền Thúy (1996) [37] những chó nuôi ở khu vực

thành phố Hà Nội thì tỷ lệ nhiễm Ancylostoma caninum (81,65%), Uncinaria

stenocephala 73,07%

Lê Hữu Nghị và cs (2000) [24] kiểm tra 130 chó ở thành phố Huế, cho thấy,

tỷ lệ nhiễm giun móc là 40,67%

Theo Nguyễn Phước Tương (2000) [38], De Castro và cs (2005) [48], Dubna'

S và cs (2007) [50], thì Toxocara canis, Toxascaris leonina được phát hiện ký sinh

ở chó thuộc nhiều nước trên thế giới, phổ biến ở các nước thuộc vùng nhiệt đới

nóng ẩm hoặc ôn đới như Anh, Đức, Colombia, Hungari, Mỹ, Tây Ban Nha, Mexico, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, Australia, Negeria

Các tác giả: Fok và cs (2001) [51] ở Hungari, Barutzki và Schaper (2002) [43]

ở Cộng hòa Liên bang Đức, Orhun R, Avaz E (2006) [64] ở Thổ Nhĩ Kỳ đều xác

nhận, giun tóc phân bố ở khắp nơi trên thế giới

Trang 28

Barutzki và Chaper (2002) [43] kiểm tra 843 chó vùng Leverkusen và Freiburg thuộc Cộng hòa Liên bang Đức cho thấy, tỷ lệ nhiễm giun tròn và đơn bào

là (32,2%) trong đó chó nhiễm Trichuris vulpis là 4%

Ở Việt Nam, các nghiên cứu của Phan Địch Lân và cs (2005) [19] cho biết:

Toxocara canis và Toxascaris leonina phân bố rất rộng ở hầu hết các vùng sinh thái

khác nhau trong cả nước Đặc biệt là các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng và một số

tỉnh miền núi phía Bắc Trong đó Toxocara canis là một loài giun tròn phổ biến ở

động vật ăn thịt và phân bố ở nhiều nơi trên thế giới Bệnh giun đũa có ở chó, chó

săn, chó nghiệp vụ mọi lứa tuổi, nhưng chó con dưới 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao hơn chó trưởng thành

Aguilar và cs (2005) [41] mổ khám ruột non của 120 chó ở Mexicho thấy lệ

nhiễm Ancylostoma caninum là 62,5%

Nghiên cứu ở Iran, Dalimi và cs (2006) [47] cho biết, trong số 83 chó lang

thang thì tỷ lệ nhiễm Ancylostoma caninum (3,61%), chó giống Fok là (4,54%)

Uncinaria stenocephala nhiễm 13,64%

Trong 540 mẫu phân chó được lấy từ vùng nông thôn ở Prague, Tiệp Khắc

(cũ), Dubna' S và cs (2007) [50] phát hiện thấy tỷ lệ chó nhiễm Spirocerca lupi là

1,1% Các tác giả cũng cho biết, ivermectin ở mức liều 0,2mg/kg thể trọng của chó

có hiệu lực tẩy Spirocerca lupi

Theo Oryan và cs (2008) [65], bệnh khối u ở thực quản ở chó và các thú ăn

thịt do Spirocerca lupi phân bố ở nhiều vùng khí hậu khác nhau trên thế giới:), ở

Pakistan (Anataraman and Krisshna, 1966), ở miền Nam nước Mỹ (Dixon và McCue 1967), ở Kenya (Brodley và cs 1977), ở Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ (Kumar, 1989; Ramachandran và cs 1984), ở Nam Phi (Lobetti 2000), ở Hy Lạp (Mylonakis

và cs, 2001), ở Iaraelm (Mazaki và cs 2001) và ở Brazil (Oliviera và cs 2001) Đây

là một căn bệnh địa phương ở những vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm và cận nhiệt đới

và cân nhiệt đới

Một nghiên cứu ở Iran của Oryan và cs (2008) [65] phát hiện: có 20 chó trong

tổng số 105 chó hoang bắt giữ được bị nhiễm Trichuris vulpis , chiếm tỷ lệ 19,04%

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tỷ lệ nhiễm có sự khác nhau ở vùng địa lý và dao

Trang 29

động từ 36,4% ở miền Tây và 28,6% ở miềm Bắc đến 12,5% - 13,9% vùng phía Đông và phía Nam

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18], bệnh giun đũa chủ yếu phát ra và gây thiệt hại cho chó con từ 20 ngày đến 3 tháng tuổi Chó con nhiễm bệnh sớm thì 15 -

21 ngày tuổi xét nghiệm phân đã thấy có trứng giun đũa Toxocara canis

Theo Võ Thị Hải Lê, Nguyễn Văn Thọ (2011) [21], cho biết chó ở mọi lứa tuổi

nhiễm khá cao đối với Ancylostomatidae 15,0 - 70,0% Tỷ lệ nhiễm giun đũa cao

và một số chó nuôi gia đình tại Hà Nội, cho biết: có 6 loài giun tròn ký sinh ở chó

được phát hiện là: Toxocara canis, Toxacaris leonina, Ancylostoma caninum, Spirocerca lupi, Uncinariastenocepphala, Trichuris vulpis Tỷ lệ nhiễm cao nhất

thường thấy ở chó nghiệp vụ, nuôi ở vườn, trại, điều kiện tiếp xúc với mầm bệnh nhiều như chó berger, chó nội, chó lai Tỷ lệ nhiễm thấp thường thấy ở chó cảnh, chó nuôi trong nhà như chó fox, chó Nhật,, chó Tây Ban Nha Trong các loài giun

thì giun móc Ancylostoma caninum nhiễm với tỷ lệ khá cao (57,72%), loài giun này gây chết, làm chó bệnh còi cọc, tiếp đến là Toxocara canis (17,28%),

Uncinariastenocepphala (12,65%), Trichuris vulpis (8,33%) và thấp nhất là Toxacaris leonina (3,70%) Về tuổi chó thì Toxocara canis và Ancylostoma caninum thấy cao nhất ở chó non, dưới 2 tháng tuổi sau tăng dần theo lứa tuổi

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13] chó có thể nhiễm giun đũa Toxocara

canis qua 3 con đường Qua thức ăn nước uống, ăn thịt chó còn sống có kén mang

ấu trùng, qua bào thai Toxocara canis ký sinh ở chó con, còn Toxacaris leonina ký

sinh ở chó 6 tháng tuổi trở lên Tỷ lệ nhiễm giun đũa ở chó giảm dần theo tuổi, chó

sơ sinh đến 4 tháng tuổi nhiễm 53%, 6 tháng tuổi - 1 năm tuổi nhiễm 25%, chó

Trang 30

trưởng thành nhiễm 12% Chó ngoại và chó cái nhiễm giun đũa cao (chó đực nhiễm 17%, chó cái nhiễm 28%; chó ngoại nhiễm 40,6%; chó nội nhiễm 28,1%) Trứng giun đũa có sức đề kháng mạnh, có thể phát triển được trong các dung dịch clorua thủy ngân, sunfat đồng nồng độ cao

Phạm Thị Thu Hương, Phan Địch Lân, Nguyễn Văn Thọ (2013) [8] sử dụng các phương pháp điều tra dịch tễ học, khám lâm sàng, xét nghiệm phân tìm trứng giun đã được tiến hành trong nghiên cứu này cho biết: trong các triệu trứng gây tiêu chảy trên chó có rất nhiều nguyên nhân tiên phát, do giun móc chiếm 60% Chó dưới 6 tháng tuổi nhiễm cao hơn chó trên 6 tháng tuổi, chó ngoại nhiễm nhiều hơn chó nội, chó thả trong sân vườn nhiễm cao hơn chó nuôi trong nhà, mùa nóng ấm tỷ

lệ mắc cao hơn do ấu trùng phát triển nhanh hơn Các triệu chứng của bệnh giun móc: chó gầy còm, lông sơ xác, nôn mửa, táo bón xen kẽ ỉa chảy, phân có máu, một

số con có triệu chứng thần kinh, run rẩy Bệnh tích đại thể: ruột non viêm, xung huyết, có nhiều điểm xuất huyết, tụ huyết, thành ruột non dày lên Bệnh tích vi thể:

tế bào biểu mô, niêm mạc ruột bị phá hủy, lông nhung đứt nát, đỉnh lông nhung hoại

tử, sung huyết, xuất huyết, thâm nhiễm tế bào viêm

1.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng một số bệnh giun tròn chủ yếu ở đường tiêu hóa chó

Nghiên cứu ở Liên Xô cũ, Skrjabin và Petrov (1963, 1979) [25] [26], đã chứng

minh rằng, những nơi tổn thương gây ra bởi Uncinaria stenocephala các vi khuẩn

đã có sẵn trong đường tiêu hóa sẽ xâm nhập vào các vết thương, gây viêm ruột và

dạ dày cấp tính, có thể làm chó chết Đặc biệt, chó con từ 2 - 6 tháng tuổi bị chết với tỷ lệ từ 40 - 90% Chó con thể hiện các triệu chứng lâm sàng đặc trưng như nôn mửa, ỉa chảy, đau bụng, xuất huyết đường tiêu hóa Như vậy, giun móc là một trong những nguyên nhân làm cho chó bị viêm ruột, ỉa chảy ra máu, tạo điều kiện cho chó mắc một số bệnh khác như bệnh care, bệnh do parvovirus, bệnh viêm phế quản truyền nhiễm, viêm gan Những tác động của giun móc không riêng rẽ mà liên quan chặt chẽ với nhau dưới hai hình thức là tác động cơ học, gây tổn thương các tổ chức thực thể; tiết độc tố, chiếm đoạt chất dinh dưỡng làm cho chó bị gầy yếu, suy

Trang 31

dinh dưỡng và thiếu máu Các tác giả cũng cho biết, khả năng cảm nhiễm ấu trùng

Ancylostoma caninum ở chó con nặng hơn chó trưởng thành

Trịnh Văn Thịnh (1967) [31], đã xác nhận chó nhiễm Toxocara canis do ăn

phải trứng chứa ấu trùng gây nhiễm, ăn phải ký chủ dự trữ có chứa ấu trùng, hoặc bị

nhiễm qua bào thai Chó trưởng thành nhiễm ít hơn chó non Toxocara canis gây

bệnh nặng cho chó con dưới 2 tháng tuổi

Theo nghiên cứu của Đỗ Hài (1972) [6], bệnh giun móc ở chó còn gọi là bệnh thiếu máu ác tính của chó săn hay bệnh sặc máu mũi, là một trong những bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá gây tác hại nhiều nhất cho chó Bệnh giun móc phổ biến nhất, chó nhiễm với tỷ lệ cao và chết nhiều, thường gặp ở các loài thú ăn thịt, đặc biệt

là chó Căn bệnh này được gây ra bởi nhiều loài giun tròn thuộc họ

Ancylostomatidae, trong đó có loài Ancylostoma caninum

Những nghiên cứu của Trịnh Văn Thịnh và cs (1975) [32], cho thấy, chó nhiễm giun đũa thường gầy còm, suy dinh dưỡng do giun chiếm đoạt chất dinh dưỡng, đồng thời trong quá trình ký sinh chúng còn gây tác động cơ học làm chó chướng bụng, tắc ruột, nôn mửa, ỉa lỏng, phân tanh Đặc biệt, chó 1 - 4 tháng tuổi thường rên rỉ, lăn lộn

và thải giun một cách tự nhiên khi chưa dùng thuốc

Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [33], Đỗ Dương Thái và cs (1978) [27], khi mắc bệnh giun đũa, chó thường gầy còm, lông xù, bụng to, ăn uống thất thường, đi tả hoặc đi táo, có khi có triệu chứng như động kinh, nôn mửa Khi bội nhiễm giun đũa, chó có triệu chứng thần kinh như run rẩy, thỉnh thoảng lên cơn co giật, giẫy dụa, chảy nước dãi

Theo Đỗ Dương Thái và cs (1978) [27], Trần Minh Châu và cs (1988) [2], bệnh giun đũa chủ yếu xảy ra ở súc vật non Giun lấy thức ăn của ký chủ và giải phóng những sản phẩm trao đổi chất và độc tố, gây bần huyết, gầy mòn, sản phẩm

độc tác động vào hệ thần kinh trung ương của ký chủ gây bại liệt, co giật Giun tác động cơ giới cùng những chất độc kích thích gây viêm cata ruột Ấu trùng giun đũa

chó di hành khắp cơ thể, sau lần biến thái thứ 3 chúng đi vào dạ dày, từ đó vào xoang ruột Trong khi di hành chúng vào tử cung, vào hệ tuần hoàn của bào thai và

gây tình trạng giun đũa Toxocara canis qua bào thai khá phổ biến

Trang 32

Ở Mỹ, Bouchard và cs (1994) [44], đã phát hiện thấy một người bị viêm phổi,

trong dịch phế nang có 64% bạch cầu toan tính, huyết thanh chẩn đoán ELISA với

kháng nguyên Toxocara canis dương tính

Giun đũa Toxocara canis còn là nguyên nhân gây bệnh ở người Khi nguyên cứu về bệnh do Toxocara canis truyền lây sang người, Bouchard và cs (1994) [44]

chó biết, ấu trùng được phóng thích trong ruột non, đi theo đường máu di chuyển

đến các nội tạng khác nhau, ở đó chúng có thể sống sót nhiều năm, tự do hay hóa

kén, nhưng không bao giờ phát triển thành trưởng thành Dạng ấu trùng này kích thích tạo ra phản ứng hóa hạt ở mô ký chủ, nhất là những trường hợp bội nhiễm Các triệu chứng lâm sàng dù rất điển hình cũng dễ nhầm lẫn với bệnh khác Người

nhiễm bệnh do nuốt một cách ngẫu nhiên trứng gây nhiễm của Toxocara canis

trong đất, nước hay thức ăn bẩn có chứa ấu trùng cảm nhiễm, khi chẩn đoán ELISA

với kháng nguyên có thể phát hiện được Toxacara canis

Nguyên cứu về tác hại của giun móc gây ra cho ký chủ, Stephen (1996) [67] nhận xét, giun móc non nhanh chóng bám vào thành ruột hút máu và tạo ra các vết thương ở nhung mao ruột, làm cho các vết thương luôn rỉ máu Thời gian giun móc hút máu lúc

đói đến khi no là 100 - 250 phút Giun móc cái hút một lượng máu nhiều hơn giun móc đực Một giun móc trưởng thành hút máu của ký chủ 0,84 ml máu trong khoảng 24 giờ

Nếu một chó nhiễm 100 giun móc sẽ mất 80 ml máu /ngày, nếu nhiễm nặng có thể mất 25% lượng máu của cơ thể

Nghiên cứu tại Mỹ, Foster và Smith (2000) [69] cho rằng: Ancylostoma

caninum là nguyên nhân gây bệnh thiếu máu Khi ấu trùng xâm nhập qua da vào cơ

thể ký chủ sẽ gây viêm da Trong một vài trường hợp ấu trùng sau khi qua da có thể

đi sâu hơn vào mô và có thể là nguyên nhân gây bệnh phổi và viêm cơ

Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001) [17], khi ấu trùng chui qua da chó con ít gây phản ứng, nhưng có phản ứng viêm rõ rệt khi chui qua da chó trưởng thành

Khi chó đã nhiễm Ancylostoma caninum thì sức đề kháng cao hơn so với sự nhiễm mới

giun này Trong điều kiện cho chó ăn đầy đủ thì sức đề kháng với giun móc được khôi phục và có thể tự thải nhanh một số lượng lớn giun móc ra ngoài

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001) [17] cho biết, khi mắc bệnh do

Trang 33

Spirocera lupi, chó có triệu chứng rất khác nhau, phụ thuộc vào nơi cơ trú của khối u Đôi khi chó mắc bệnh có triệu chứng giả dại do độc tố của giun Spirocera lupi thấm

vào máu súc vật, vật chảy nhiều nước dãi, nôn mửa, rối loạn nuốt thức ăn, ho mạnh Nếu khối u to có mủ có thể vỡ vào xoang ngực hoặc xoang bụng, dẫn đến viêm màng phổi hoặc viêm màng bụng cấp Khối u trong động mạch làm vỡ động mạch và con vật chết ngay tức khắc

Chó nhiễm Spirocera lupi có biểu hiện nôn mửa, không ăn, gầy, khó nuốt, ợ hơi

Nếu ký sinh ở động mạch chủ, chó có biểu hiện khó thở, hôn mê và xuất huyết nội tạng Nếu ký sinh ở phổi chó có biểu hiện ho, khó thở, nôn mửa, đôi khi có triệu chứng thần kinh

Sự phát triển của Spirocera lupi có tính chất mùa vụ, khi ấu trùng phát triển tới

dạng trưởng thành, tạo kén ở niêm mạc thực quản, kích thích gây ho, con vật thở khó, nôn mửa ngay sau khi ăn

Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001) [17], bệnh giun đũa chủ yếu phát ra và gây tác hại cho chó con từ 20 ngày đến 3 tháng tuổi Chó con nhiễm bệnh

sớm thì xét nghiệm phân lúc 15 – 21 ngày tuổi đã thấy có trứng giun đũa Toxocara

canis ở trong phân

Bugio và Capello (2005) [46] đã phát hiện được thành phần kháng nguyên ES,

có thể phát hiện được thành phần protein này ở độ pha loãng 1: 256 và ở ngày thứ 4

sau khi gây nhiễm Ancylostoma ceylanicum, đây có thể là cơ sở khoa học cho

những phương pháp chẩn đoán vật bị nhiễm giun, sán trong tương lai

Theo nghiên cứu của OIE (2005) [62], ấu trùng Ancylostoma caninum xâm

nhập vào người qua da Những ấu trùng này nằm im ở trong cơ và không biểu hiện triệu chứng Ở một vài cá thể, ấu trùng có thể đi tới ruột và phát triển tới dạng trưởng thành

Nguyễn Hữu Hưng, Lê Trung Hoàng (2012) [7], cho biết qua xét nghiệm 810 mẫu phân chó và mổ khảo sát 241 con tìm giun tròn, phân tích chỉ tiêu sinh lý máu

19 chó nhiễm giun tròn và 16 chó không nhiễm, kết quả chó thấy: chó ở tất cả các lứa tuổi đều nhiễm trứng giun tròn, tỷ lệ nhiễm có chiều tăng đồng biến theo tuổi Qua phương pháp kiểm tra phân tìm trứng giun tròn tại các quận huyện, phát hiện

Trang 34

chó nhiễm 6 loại giun tròn (Ancylostoma caninum, Ancylostoma braziliense,

Uncinaria stenocephala, Toxocara canis, Trichuris vulpis ) Về thành phần loài qua

mổ khảo sát, chó ở tất cả các điểm khảo sát tại TP Cần Thơ nhiễm 7 loại giun tròn,

trong đó có 7 loại ký sinh ở đường tiêu hóa Ancylostoma caninum, Ancylostoma

braziliense, Uncinaria stenocephala, Toxocara canis, Trichuris vulpis, Spirocerca

và một loại ký sinhh ở tim là Dirofilaria immitis Về chỉ tiêu sinh lý máu, số lượng

cầu của chó nhiễm giun tròn trung bình 3,18 ± 0,28 triệu/mm3 Bước đầu cho thấy, khi chó bị nhiễm giun tròn, lượng hồng cầu sẽ thấp hơn chó không nhiễm

Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13] ấu trùng di hành làm tổn thương một số cơ quan, tổ chức (gan, phổi, mạch máu) Nếu nhiều giun trưởng thành ký sinh thì gây tắc ruột, có thể thủng ruột Giun chui vào ống dẫn mật làm tắc ống dẫn mật, chó có thể chết Ấu trùng giun còn mang vi khuẩn đến các cơ quan, tổ chức gây nên

Theo Nguyễn Thị Duyên (2014) [4], chó nhiễm giun móc có số lượng hồng cầu giảm so với chó khỏe, kết quả này có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Số lượng hồng cầu giảm là do giun móc ký sinh, hút máu, làm cho các mao mạch bị tổn thương, rỉ máu, chó bị mất nhiều máu Giun còn tiết ra chất chống đông máu làm cho máu không đông

Độc tố của giun làm phá vỡ hồng cầu, gây hiện tượng mất máu Khi chó bị nhiễm giun

móc có thể quan sát thấy chó bị tiêu chảy, phân có lẫn máu do giun làm tổn thương mạch quản niêm mạc ruột và gây xuất huyết Bên cạnh đó, một số chỉ tiêu như hàm lượng huyết sắc tố, tỷ khối hồng cầu, thể tích trung bình hồng cầu, nồng độ Hemoglobin trung bình của hồng cầu cũng có sự thay đổi đáng kể có ý nghĩa trong thống kê (P<0,05)

Nguyễn Thị Duyên (2014) [4] xét nghiệm 45 mẫu máu lấy từ chó nhiễm các loại giun tròn và 19 mẫu máu chó không bị nhiễm cho thấy số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố, tỷ khối hồng cầu và tiểu cầu bị giảm rõ rệt ở chó bị nhiễm giun móc và giun đũa, trong khi số lượng bạch cầu, nhất là nhóm bạch cầu đơn nhân của chó nhiễm giun móc lại tăng rõ rệt Các chỉ tiêu huyết học khác ở chó nhiễm giun tóc gần như không thay đổi so với chó không nhiễm

Trang 35

Nguyễn Hữu Nam, Võ Thị Hải Lê, Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Vũ Sơn (2014) [23], đã nghiên cứu về đặc điểm sinh lý máu đã được tiến hành trên 20 chó bị nhiễm

Ancylostoma caninum và 20 con chó khỏe cùng giống chó vàng Việt Nam Kết quả cho

thấy: chó nhiễm Ancylostoma caninum, có số lượng hồng cầu, hàm lượng

Hemoglobulin và tỷ khối huyết cầu đều giảm so với chó khỏe Số lượng bạch cầu, tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính và bạch cầu ái toan tăng lên trong công thức bạch cầu

1.1.4 Chẩn đoán bệnh giun tròn đường tiêu hóa chó

Chẩn đoán bệnh giun tròn ở chó không thể chỉ căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và đặc điểm dịch tễ, vì triệu chứng và đặc điểm của bệnh không điển hình Muốn xác định bệnh giun tròn ở chó, ta cần xác định được căn bệnh (bằng cách tìm trứng, ấu trùng hoặc giun trưởng thành)

Có thể chẩn đoán bệnh giun tròn ở chó trên con vật còn sống và đã chết

* Chẩn đoán bệnh giun tròn đối với chó còn sống

Khi con vật còn sống, có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng, các đặc điểm dịch

tễ học và các phương pháp xét nghiệm phân để tìm trứng, ấu trùng hoặc dạng trưởng thành của giun, hoặc chẩn đoán bằng các phương pháp miễn dịch học hiện

đang được sử dụng trong chẩn đoán bệnh

Trứng của các loài giun, sán có đặc điểm là sẽ theo phân ra ngoài; vì vậy có thể xét nghiệm phân của chó để tìm trứng các loài giun tròn ký sinh Các phương pháp xét nghiệm phân gồm có:

- Xét nghiệm trực tiếp tìm giun, sán trưởng thành trong phân chó

- Xét nghiệm tìm trứng giun bằng các phương pháp phù nổi (Fulleborn, Darling, Cherbovick): Nguyên lý là lợi dụng tỷ trọng của dung dịch bão hoà lớn hơn tỷ trọng của trứng giun; vì vậy trứng giun sẽ nổi lên trên bề mặt dung dịch bão hoà

- Phương pháp Baerman tìm ấu trùng giun, sán

* Phương pháp chẩn đoán miễn dịch

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [12]: Phần lớn các loài giun, sán khi vào cơ thể ký chủ sẽ kích thích cơ thể sản sinh kháng thể; kháng thể này kết hợp với

Trang 36

kháng nguyên tương ứng sẽ sinh ra các phản ứng kháng nguyên - kháng thể đặc hiệu Căn cứ vào đặc tính này, người ta đã thiết lập phương pháp miễn dịch để chẩn

đoán bệnh giun tròn ở chó Kháng nguyên chẩn đoán chế từ giun trưởng thành, ấu

trùng hoặc dịch trong cơ thể ấu trùng Có thể pha kháng nguyên với các nồng độ khác nhau Hiện nay đã có nhiều phương pháp như: phương pháp miễn dịch huỳnh quang, phương pháp miễn dịch ELISA

Ngoài ra, trong chẩn đoán bệnh giun tròn chó có thể dùng phản ứng biến thái nội bì (dùng kháng nguyên tiêm vào trong da) để đánh giá kết quả thông qua sự biến đổi vùng da tại vị trí tiêm Nếu vùng da đó bị sưng, đỏ là phản ứng (+) tính, chó bị bệnh giun tròn; nếu vùng da đó bị sưng không đỏ thì nghi chó mắc bệnh; nếu vùng da đó không sưng và không đỏ thì phản ứng (-) tính chó không bị bệnh

* Chẩn đoán bệnh giun tròn đối với chó đã chết

Phương pháp chẩn đoán bệnh giun tròn chó là phương pháp mổ khám toàn diện cơ quan, tổ chức để tìm giun, sán hoặc ấu trùng ký sinh trong cơ thể chó

Theo nhiều tác giả, phương pháp chẩn đoán bệnh giun tròn ở chó sau khi chó

đã chết là chính xác nhất Phương pháp này có thể phát hiện được tất cả các loài

giun, sán ký sinh ở mọi khí quan, tổ chức của chó; có thể tìm thấy cả những loại giun, sán mà khi chẩn đoán với con vật sống không phát hiện được

1.1.5 Phòng và trị bệnh giun tròn cho chó

* Phòng bệnh

Phương pháp ủ phân sinh học (nhiệt sinh học) có khả năng tiêu độc phân gia súc Phân gia súc được chất thành đống nhỏ có dung tích 1m3, làm tơi xốp để không khí lưu thông trong đống phân Sau 3 - 7 ngày, nhiệt độ trong đống phân đạt tới 55 - 70 0C, phần lớn vi sinh vật, trứng, ấu trùng giun, sán trong đống phân bị chết (Trịnh Văn Thịnh, 1963) [29]

Khi khảo sát tình trạng nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của đàn chó tại vườn thú Thủ Lệ, Phạm Sỹ Lăng và cs (1993) [16] đã đề xuất biện pháp phòng bệnh giun tròn đường tiêu hóa cho chó như sau:

Định kỳ tẩy giun cho chó bằng các loại hóa dược, cứ 3 - 4 tháng tẩy 1 lần

Trang 37

Thực hiện đầy đủ vệ sinh thú y trong ăn uống và môi trường nuôi chó cảnh để tránh lây nhiễm Thu dọn phân chó chậm nhất là 8 giờ sau khi phân được bài tiết ra môi trường ngoài Tẩy trùng chuồng trại theo định kỳ

Dùng hóa dược thông thường để tự dự phòng theo các lứa tuổi của chó: Đối với chó con: tẩy lần 1 lúc chó 14 - 24 ngày tuổi, tẩy lần 2 lúc chó 30 ngày tuổi, tẩy lần 3 lúc chó 60 ngày tuổi Đối với chó trưởng thành, cứ 3 - 4 tháng tẩy 1 lần Cho chó ăn thức ăn, nước uống sạch Huấn luyện chó đi vệ sinh đúng chỗ, thu don phân chó càng sớm càng tốt Không thả rông, hạn chế chó tiếp súc với chó khác, nhằm tránh cho chó tiếp xúc với phân của những chó bị bệnh giun tròn

* Điều trị bệnh

- Chữa bệnh giun tròn phải đạt ba yêu cầu:

+ Trước hết phải tiêu diệt giun tròn

+ Phải ngăn chặn để chó không tái nhiễm

+ Phải tăng cường sức đề kháng của chó

Ở Việt Nam, theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [29], muốn tẩy giun, sán có hiệu

quả cần phải chú ý nhiều khâu, đặc biệt là khâu chọn thuốc tẩy trừ Những thuốc tẩy trừ giun, sán cho hiệu quả cao là những thuốc phải đặc hiệu cho từng loại giun, sán, tốt nhất là thuốc đặc hiệu với nhiều loài, có hoạt phổ rộng, nhưng giá thành phải hợp lý mới có thể sử dụng rãi được

Nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cs (1993) [16], cho thấy mebendazole, dạng viên nén dạng 100 mg với liều 90 mg/kg thể trọng, với liệu trình tẩy 3 lần vào

3 buổi sáng, mỗi lần sử dụng 30 mg/kg thể trọng, tẩy trước khi cho ăn 60 phút, tỷ lệ sạch giun là 90%, thuốc an toàn, tỷ lệ phản ứng 5% và không có chó chết khi dùng thuốc Ngoài ra, có thể dùng levamisol với liều 7 mg/kg thể trọng, cho chó uống một liều duy nhất

Theo Bùi Thị Tho (2003) [35] để tẩy trừ giun tròn đường tiêu hóa của chó nói chung, tẩy trừ giun móc chó nói riêng hiệu quả nhất, cần thiết phải sử dụng những thuốc có hoạt phổ rộng với nhiều loại giun, sán

Trang 38

Tuy nhiên, Chu Thị Thơm và cs (2006) [36] lưu ý: việc lựa chọn các loại thuốc phù hợp và có tác dụng tốt phải dựa trên các tiêu chuẩn, có hiệu quả cao, an toàn đối với vật nuôi, giá thành hợp lý

Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18] cho biết: từ những năm 80 của thế kỷ 20, các lacton đại phân tử vòng xuất hiện trên thị trường thuốc Thú y và có hiệu quả cao trong thực tiễn phòng chống ký sinh trùng, đặc biệt một số loại thuốc có hoạt phổ rộng như ivermectin, mebendazole có tác dụng trị cả nội và ngoại ký sinh trùng, thuận tiện cho người dùng và an toàn cho vật nuôi Do đó, các hóa dược này được

sử dụng rộng rãi trong phòng chống giun tròn

+ Mebendazol

Theo Bùi Thị Tho (2003) [35], mebendazol là dẫn xuất của benzimidazol, ít tan trong nước và dung môi hữu cơ Không hút ẩm, ổn định ở không khí Thuốc bột màu vàng, ít tan Hoạt phổ diệt giun tròn rộng Thuốc được chế biến dưới dạng bột hoặc viên, trộn lẫn vào thức ăn, hòa nước cho uống Liều dùng 50 – 100 mg/kg thể trọng, tùy theo từng con vật và theo từng ngày, dùng 2 lần/ngày Chó mèo, dùng liều 50 - 100 mg/kg thể trọng

Tác dụng diệt giun do ức chế hấp thu glucose của giun nên gây thiếu hụt adenozin triphotphat (ATP), làm cho giun bị chết dần, thuốc không ảnh hưởng gì

đến chuyển hoá glucid Thuốc có phổ tác dụng rộng với ký sinh trùng, trị tất cả các

giun tròn ở các thời kỳ phát triển khác nhau: trưởng thành, trứng và ấu trùng đang di hành trong máu

+ Levamisol

Thuốc chống giun tròn có phổ tác dụng rộng trên nhiều loài vật chủ

Cơ chế tác dụng: làm cơ giun co thắt đến liệt Sau khi cho uống 10 mg/kg/ngày trong 2 ngày, thuốc cho hiệu lực tẩy trên 95% với nhiều loại giun tròn

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Những nghiên cứu ở Việt Nam của nhiều tác giả cho biết, tỷ lệ nhiễm giun đũa chó là rất cao Đỗ Hài (1972) [6] đã kiểm tra 174 mẫu phân chó săn Tác giả cho

Trang 39

biết: chó dưới 1 tháng tuổi đã thấy nhiễm trứng giun đũa, cho đến khi hơn 1 tháng tuổi hầu như tất cả các chó đều nhiễm giun đũa và sau khi cai sữa toàn bộ chó đều nhiễm giun đũa và giun móc Từ 3 - 5 tháng tuổi trở lên, tỷ lệ nhiễm giun đũa có giảm, nhưng chó lớn tỷ lệ nhiễm giun móc là 100% và tồn tại cho đến khi chó già

và chết Tác giả cho biết, chó mẹ nuôi con nhiễm giun tóc 93,7%, giun đũa 73,7%, giun móc 100%

Theo Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ và Nguyễn Thị Lê (1977) [39] chó nhiễm 16 loại giun tròn

Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [34], Phạm Sỹ Lăng (1989) [14] cho biết: giun

đũa có ở chó con từ thời kỳ chưa mở mắt đến một tháng tuổi, từ 4 - 5 tháng tuổi tỷ lệ

nhiễm mới giảm Khi được 1 tháng tuổi, trong phân của chó đều có trứng giun đũa Bệnh thường nặng ở chó non 3 - 4 tuần đến 2 - 3 tháng tuổi Con vật gầy, lông xù, bụng to, ăn thất thường, đau bụng, ỉa chảy, có triệu chứng thần kinh Chó trên 3 tháng

tuổi có tính miễn dịch với Toxocara canis và tự thải giun ra ngoài Chó mẹ nuôi con,

tỷ lệ nhiễm giun đũa là 73,7% Tỷ lệ nhiễm cao nhất được phát hiện ở những chó dưới 6 tháng tuổi và thấp nhất ở chó trưởng thành

Phạm Văn Khuê và cs (1993) [10] xét nghiệm 187 mẫu phân chó và mổ khám một số chó nuôi tại 4 quận nội thành Hà Nội và huyện Gia Lâm, đã tìm thấy 5 loài

giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của chó với tỷ lệ nhiễm là: Toxocara canis 20,2%, Toxascara leonina 29,4%, Ancylostoma caninum 59,7%, Trichocepphalus

vulpis 17,1%, Spirocerra lupi 14,2 %

Phạm Sỹ Lăng (1993) [16] đã mổ khám 23 chó và xét nghiệm phân của 574 chó cảnh ở vườn thú Thủ Lệ, phát hiện được 5 loài giun tròn ký sinh ở chó với tỷ lệ

nhiễm Toxocara canis 20,4%, Toxascara leonina 29,4%, Ancylostoma caninum 72%, Trichocepphalus vulpis 17,1%, Strongyloides canis 14,2%

Lê Hữu Nghị và cs (2000) [24] đã kiểm tra 130 chó ở thành phố Huế, đã xác

định tỷ lệ nhiễm Toxocara canis là 58,46%

Hoàng Minh Đức và cs (2008) [5], xét nghiệm 457 mẫu phân chó tại Hà Nội,

đã xác định tỷ lệ nhiễm Toxocara canis là 19,91%

Trang 40

Võ Thị Hải Lê và Nguyễn văn Thọ (2011) [21] cho biết: mổ khám toàn diện

đường tiêu hóa của 177 chó nuôi tại một số địa điểm thuộc tỉnh Thanh Hóa, kết quả

cho thấy, tỷ lệ nhiễm trung bình là 62,14% Tỷ lệ nhiễm qua xét nghiệm phân là 64,41%, phát hiện 6 loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của chó

Võ Thị Hải Lê và cs (2012) [22] kiểm tra 369 mẫu phân ở một số tỉnh Bắc

Trung bộ, đã xác định tỷ lệ nhiễm Toxocara canis là 26,3% và Toxascaris leonina

trong đường tiêu hóa của chó là giun móc Ancylostoma canis, giun đũa Toxocara

canis và giun tóc Trichuris canis, trong đó cao nhất là giun móc với tỷ lệ nhiễm

59,09% đến 68,96% Chó có khả năng nhiễm giun ở tất cả các nhóm tuổi, cao nhất

ở chó dưới 6 tháng tuổi (55%), cao hơn nhiều so với chó trên 12 tháng tuổi (7,5%)

Tỷ lệ nhiễm không phụ thuộc vào tính biệt của chó

Từ những thống kê trên cho thấy, chó ở nước ta nhiễm nhiều loại giun tròn, trong đó số lượng loài ký sinh ở đường tiêu hóa là phổ biến Những loài giun tròn

gây tác hại nhiều cho chó và có thể lây sang người là Toxocara canis, Toxascaris

leonina, Trichocepphalus vulpis và đặc biệt là loài giun móc Ancylostoma caninum

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [25] cho biết: chó nhiễm Toxocara canis

Ngày đăng: 13/10/2016, 08:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Triệu An, Jean ClaudeHomberg (1977), Miễn dịch học, Nxb Y học, Hà Nội, tr. 219 - 214 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học
Tác giả: Vũ Triệu An, Jean ClaudeHomberg
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1977
2. Trần Minh Châu, Hồ Đình Chúc, Lê Thanh Hải, Phạm Sỹ Lăng (1988), Bệnh thường gặp ở chó Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thường gặp ở chó Việt Nam
Tác giả: Trần Minh Châu, Hồ Đình Chúc, Lê Thanh Hải, Phạm Sỹ Lăng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1988
3. Nguyễn Quốc Doanh (2012), "Kiểm tra tình hình nhiễm giun tròn của chó thuộc Trung tâm huấn luyện chó Trâu Quì và chó nuôi tại các hộ gia đỉnh ở Hà Nội", Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XIX, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra tình hình nhiễm giun tròn của chó thuộc Trung tâm huấn luyện chó Trâu Quì và chó nuôi tại các hộ gia đỉnh ở Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Quốc Doanh
Năm: 2012
4. Nguyễn Thị Duyên (2014), "Tình hình nhiễm giun tròn đường ruột và biến đổi huyết học ở chó nuôi tại thành phố Buôn Ma Thuột", Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XXI, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun tròn đường ruột và biến đổi huyết học ở chó nuôi tại thành phố Buôn Ma Thuột
Tác giả: Nguyễn Thị Duyên
Năm: 2014
5. Hoàng Minh Đức (2008), Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó nuôi ở Hà Nội và biện pháp phòng trị, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó nuôi ở Hà Nội và biện pháp phòng trị
Tác giả: Hoàng Minh Đức
Năm: 2008
6. Đỗ Hài (1972), "Vài nhận xét về giun tròn (Nematoda) trên chó săn nuôi ở Việt Nam", Tạp chí Khoa học &amp; kỹ thuật nông nghiệp,(6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận xét về giun tròn (Nematoda) trên chó săn nuôi ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hài
Năm: 1972
7. Nguyễn Hữu Hưng, Lê Trung Hoàng (2012), "Tình hình nhiễm giun tròn ký sinh ở chó tại thành phố Cần Thơ", Tạp chí Y - Dược học quân sự, Số chuyên đề HC, 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun tròn ký sinh ở chó tại thành phố Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Hữu Hưng, Lê Trung Hoàng
Năm: 2012
8. Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Văn Thọ (2013), "Điều tra dịch tễ học, khám lâm sàng, xét nghiệm phân tìm trứng giun", Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XX, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra dịch tễ học, khám lâm sàng, xét nghiệm phân tìm trứng giun
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Văn Thọ
Năm: 2013
9. Dương Đức Hiếu, Bùi Khánh Linh, Sử Thanh Long (2014), "Nghiên cứu sơ bộ về tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó nuôi trên địa bàn xã Sơn Nga, tỉnh Phú Thọ", Tạp trí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập XXI, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sơ bộ về tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó nuôi trên địa bàn xã Sơn Nga, tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Dương Đức Hiếu, Bùi Khánh Linh, Sử Thanh Long
Năm: 2014
10. Phạm Văn Khuê, Trần Văn Quyên, Đoàn Văn Phúc (1993), "Nhận xét về giun, sán ký sinh ở Hà Nội", Tổng hợp công trình nghiên cứu, Đại học Nông nghiệp I, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét về giun, sán ký sinh ở Hà Nội
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Trần Văn Quyên, Đoàn Văn Phúc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1993
11. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y. Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 81 – 112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
12. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học thú y (giáo trình dùng cho bậc cao học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 48 - 57, 103 - 113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng học thú y (giáo trình dùng cho bậc cao học)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
13. Nguyễn Thị Kim Lan (2012), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 155 - 160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
14. Phạm Sỹ Lăng (1989), "Bệnh giun đũa chó và kỹ thuật phòng trị", Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun đũa chó và kỹ thuật phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Năm: 1989
15. Phạm Sỹ Lăng (1990), "Bệnh giun móc ở chó Việt Nam", Kết quả nghiên cứu khoa học và kỹ thuật thú y, 1985 - 1989, Viện Thú y Quốc gia, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun móc ở chó Việt Nam
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1990
16. Phạm Sỹ Lăng, Lê Thanh Hải, Phạm Thị Rật (1993), "Một số nhận xét về những loài giun tròn ký sinh ở thú ăn thịt ở vườn thú Thủ Lệ và chó cảnh, Kỹ thuật phòng trị", Công trình nghiên cứu Khoa học &amp; Kỹ thuật 1990 - 1991, Viện Thú y Quốc gia, tr. 121 - 130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về những loài giun tròn ký sinh ở thú ăn thịt ở vườn thú Thủ Lệ và chó cảnh, Kỹ thuật phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Thanh Hải, Phạm Thị Rật
Năm: 1993
17. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2001), Bệnh ký sinh trùng ở gia súc và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ký sinh trùng ở gia súc và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
18. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị Kim Thành, Nguyễn Văn Thọ, Chu Đình Tới (2009), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi, Nxb giáo dục Việt Nam, tr. 221 - 227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị Kim Thành, Nguyễn Văn Thọ, Chu Đình Tới
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
19. Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Đoàn Văn Phúc (2005), Bệnh giun tròn của v ật nuôi ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun tròn của vật nuôi ở Việt Nam
Tác giả: Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Đoàn Văn Phúc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
20. Nguyễn Thị Lê (1996), Giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Vòng phát triển của Toxascaris leonina - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Hình 1.1. Vòng phát triển của Toxascaris leonina (Trang 18)
Hình 1.2. Vòng đời phát triển của Toxocara canis - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Hình 1.2. Vòng đời phát triển của Toxocara canis (Trang 20)
Hình 1.3. Vòng đời phát triển của Ancylostomatidae - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Hình 1.3. Vòng đời phát triển của Ancylostomatidae (Trang 23)
Hình 1.5. Vòng đời phát triển của Spirocerca lupi - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Hình 1.5. Vòng đời phát triển của Spirocerca lupi (Trang 25)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm gây nhiễm giun tròn Toxocara canis cho chó - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm gây nhiễm giun tròn Toxocara canis cho chó (Trang 51)
Hình 3.1: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa qua mổ khám - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa qua mổ khám (Trang 58)
Hình 3.2. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó theo thành phần - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Hình 3.2. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó theo thành phần (Trang 60)
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa chó tại các địa phương - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa chó tại các địa phương (Trang 62)
Bảng 3. 5. Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo giống chó - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Bảng 3. 5. Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo giống chó (Trang 63)
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó theo lứa tuổi - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó theo lứa tuổi (Trang 67)
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó theo phương thức - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó theo phương thức (Trang 70)
Hình 3.7. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo mùa vụ - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Hình 3.7. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo mùa vụ (Trang 72)
Bảng 3.11. Mức độ tổn thương đại thể của chó mắc bệnh giun đũa do gây nhiễm - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Bảng 3.11. Mức độ tổn thương đại thể của chó mắc bệnh giun đũa do gây nhiễm (Trang 76)
Bảng 3.12. Tổn thương vi thể ở ruột non chó bị bệnh giun đũa do gây nhiễm - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Bảng 3.12. Tổn thương vi thể ở ruột non chó bị bệnh giun đũa do gây nhiễm (Trang 77)
Bảng 3.16. Bệnh tích đại thể ở đường tiêu hóa chó bị bệnh giun đũa ở các địa phương - Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại tỉnh phú thọ, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun đũa toxocara canis gây ra
Bảng 3.16. Bệnh tích đại thể ở đường tiêu hóa chó bị bệnh giun đũa ở các địa phương (Trang 82)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w