ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lí DO CHỌN ĐỀ TÀI: Môn Tiếng Việt ở trường Phổ thông có nhiệm vụ hỡnh thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ trong 4 dạng hoạt động tương ứng với chúng là 4 kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết. Đọc là một phân môn của chương trỡnh Tiếng việt bậc Tiểu học. Đây là một phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trỡnh vỡ nú đảm nhiệm việc hỡnh thành và phỏt triển cho học sinh kỹ năng chuyển chữ viết thành ngôn ngữ, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc học đầu tiên. Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc” đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy) đọc có ý thức (không hiểu được nội dung những điều mỡnh đọc hay cũn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này được hỡnh thành trong hai hỡnh thức đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện một trong những kỹ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kỹ năng khác. Ví dụ: Đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản. Ngược lại nếu không hiểu điều đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn cảm được. Nhiều khi, khó mà nói được rạch ròi kỹ năng nào làm cơ sở cho kỹ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng, hay chính nhờ hiểu đúng mới đọc đúng. Vì vậy trong dạy đọc không thể xem nhẹ yếu tố nào.Những kinh nghiệm đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, những tư tưởng, tỡnh cảm của thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thỡ con người không thể tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bỡnh thường,...và ngược lại. Biết đọc con người đó nhõn khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây họ biết tỡm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xó hội, tư duy . Biết đọc con người có khả năng chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bản giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu tư tưởng, tỡnh cảm của người khác. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thỡ biết đọc càng quan trọng vỡ nú giỳp người ta sử dụng các nguồn thông tin không những biết đọc Tiếng Việt mà cần phải biết đọc cả tiếng nước ngoài. Đọc chính là học, học nữa, học mói, đọc để tự học, học cả đời. Đối với học sinh kỹ năng đọc là yêu cầu cơ bản đầu tiên. Nếu không biết đọc các em sẽ không tham gia vào hoạt động học các môn khác đạt kết quả được. Vỡ vậy, dạy đọc có ý nghĩa rất quan trọng trong chương trỡnh dạy học Tiểu học. Yêu cầu về kỹ năng đọc đặt ra cho học sinh lớp 5 cần đạt tới đó là: Đọc đúng tốc độ ; Đọc lưu loát Đọc thầm nhanh xác định đại ý (nội dung) của văn bản ; Bước đầu biết đọc diễn cảm ở bài văn hay bài thơ nói chung, có cảm xúc, biết nhấn giọng ở những từ gợi cảm, gợi tả, biết đọc rừ lời tỏc giả, phân biệt đúng lời nhõn trờn thỡ 3 yờu cầu đầu các em đó được rèn luyện qua các lớp 1, 2, 3. Riêng yêu cầu thứ 4 các em bắt đầu được làm quen từ lớp 4 và đến lớp 5 yêu cầu về kỹ năng đọc diễn cảm được nâng dần lên. Trong khi đó ở trường Tiểu học, việc dạy đọc, bên cạnh những thành công, cũn nhiều hạn chế: học sinh của chúng ta chưa đọc được như mong muốn. Kết quả đọc của các em chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hỡnh thành kỹ năng đọc, đặc biệt là kỹ năng đọc diễn cảm. Vỡ chưa thể hiện diễn cảm trong bài đọc nên trong quá trỡnh giao tiếp của cỏc em cũng chưa thể hiện được sự giao tiếp lịch sự như nói lời chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị. Mỗi học sinh đó cú được kĩ năng đọc diễn cảm thỡ chắc chắn việc cảm thụ văn học dễ dàng hơn và sâu sắc hơn . Nhiều giáo viên cũng cũn lỳng tỳng khi dạy tập đọc. Cần đọc bài với giọng như thế nào, làm thế nào để sửa chữa cách đọc cho học sinh diễn cảm hơn...Đó là những trăn trở của giáo viên trong những giờ tập đọc. Xuất phát từ những thực trạng nói trên, tôi mạnh dạn đưa những ý kiến của mỡnh trong việc “ Một sô biện pháp sửa lỗi và rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 ”.
Trang 1PHẦN I:
ĐẶT VấN ĐỀ
I Lí DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Mụn Tiếng Việt ở trường Phổ thụng cú nhiệm vụ hỡnh thành năng lực hoạt động ngụn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngụn ngữ trong 4 dạng hoạt động tương ứng với chỳng là 4 kỹ năng: Nghe, núi, đọc, viết Đọc là một phõn mụn của chương trỡnh Tiếng việt bậc Tiểu học Đõy là một phõn mụn cú vị trớ đặc biệt trong chương trỡnh vỡ nú đảm nhiệm việc hỡnh thành và phỏt triển cho học sinh kỹ năng chuyển chữ viết thành ngụn ngữ, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc học đầu tiờn Tập đọc là một phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nờn từ bốn kỹ năng cũng là bốn yờu cầu về chất lượng của “đọc” đọc đỳng, đọc nhanh (đọc lưu loỏt, trụi chảy) đọc cú ý thức (khụng hiểu được nội dung những điều mỡnh đọc hay cũn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Bốn kỹ năng này được hỡnh thành trong hai hỡnh thức đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm Chỳng được rốn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau Sự hoàn thiện một trong những kỹ năng này sẽ cú tỏc động tớch cực đến những kỹ năng khỏc
Ví dụ: Đọc đúng l tià ti ền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản Ngược lại nếu không hiểu điều đang đọc thì không thể đọc nhanh v dià ti ễn cảm được Nhiều khi, khó m nói à ti được rạch ròi kỹ năng n o l m cà ti à ti ơ sở cho kỹ năng
n o, nhà ti ờ đọc đúng m hià ti ểu đúng, hay chính nhờ hiểu đúng mới đọc đúng Vì vậy trong dạy đọc không thể xem nhẹ yếu tố n o.à ti Những kinh nghiệm đời sống, những thành tựu văn húa, khoa học, những tư tưởng, tỡnh cảm của thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn được ghi lại bằng chữ viết Nếu khụng biết đọc thỡ con người khụng thể tiếp thu nền văn minh của loài người, khụng thể sống một cuộc sống bỡnh thường, và ngược lại
Biết đọc con người đó nhõn khả năng tiếp nhận lờn nhiều lần, từ đõy họ biết tỡm hiểu, đỏnh giỏ cuộc sống, nhận thức cỏc mối quan hệ tự nhiờn, xó hội, tư duy Biết đọc con người cú khả năng chế ngự một phương tiện văn húa cơ bản giỳp họ giao tiếp được với thế giới bờn trong của người khỏc, thụng hiểu tư tưởng, tỡnh cảm của người khỏc Đặc biệt trong thời đại bựng nổ thụng tin thỡ biết đọc càng quan trọng vỡ nú giỳp người ta sử dụng cỏc nguồn thụng tin khụng những biết đọc Tiếng Việt mà cần phải biết đọc cả tiếng nước ngoài Đọc chớnh là học, học nữa, học mói, đọc để tự học, học cả đời
Đối với học sinh kỹ năng đọc là yờu cầu cơ bản đầu tiờn Nếu khụng biết đọc cỏc
em sẽ khụng tham gia vào hoạt động học cỏc mụn khỏc đạt kết quả được
Vỡ vậy, dạy đọc cú ý nghĩa rất quan trọng trong chương trỡnh dạy học Tiểu học Yờu cầu về kỹ năng đọc đặt ra cho học sinh lớp 5 cần đạt tới đú là:
- Đọc đỳng tốc độ ;
- Đọc lưu loỏt
- Đọc thầm nhanh xác định đại ý (nội dung) của văn bản ;
Trang 2- Bước đầu biết đọc diễn cảm ở bài văn hay bài thơ núi chung, cú cảm xỳc, biết nhấn giọng ở những từ gợi cảm, gợi tả, biết đọc rừ lời tỏc giả, phân biệt đúng lời nhõn trờn thỡ 3 yờu cầu đầu cỏc em đó được rốn luyện qua cỏc lớp 1, 2, 3 Riờng yờu cầu thứ 4 cỏc em bắt đầu được làm quen từ lớp 4 và đến lớp 5 yờu cầu về kỹ năng đọc diễn cảm được nõng dần lờn.Trong khi đú ở trường Tiểu học, việc dạy đọc, bờn cạnh những thành cụng, cũn nhiều hạn chế: học sinh của chỳng ta chưa đọc được như mong muốn Kết quả đọc của cỏc em chưa đỏp ứng được yờu cầu của việc hỡnh thành
kỹ năng đọc, đặc biệt là kỹ năng đọc diễn cảm Vỡ chưa thể hiện diễn cảm trong bài đọc nờn trong quỏ trỡnh giao tiếp của cỏc em cũng chưa thể hiện được sự giao tiếp lịch sự như núi lời chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, mời, nhờ, yờu cầu, đề nghị Mỗi học sinh đó cú được kĩ năng đọc diễn cảm thỡ chắc chắn việc cảm thụ văn học dễ dàng hơn và sõu sắc hơn Nhiều giỏo viờn cũng cũn lỳng tỳng khi dạy tập đọc Cần đọc bài với giọng như thế nào, làm thế nào để sửa chữa cỏch đọc cho học sinh diễn cảm hơn Đú là những trăn trở của giỏo viờn trong những giờ tập đọc
Xuất phỏt từ những thực trạng núi trờn, tụi mạnh dạn đưa những ý kiến của mỡnh
trong việc “ Một sô biện pháp sửa lỗi và rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 ”.
II CƠ SỞ Lí LUẬN:
Dạy đọc cú ý nghĩa rất to lớn ở Tiểu học Đọc trở thành một đũi hỏi cơ bản đầu tiờn đối với mỗi người đi học Đầu tiờn trẻ em phải học đọc sau đú cỏc em phải đọc
để học Đọc giỳp cỏc em chiếm lĩnh được một ngụn ngữ để dựng trong giao tiếp và học tập Đọc là một cụng cụ để học tập tất cả cỏc mụn học Đọc tạo ra hứng thỳ và động cơ học tập Đọc tạo điều kiện để học sinh cú khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời Và việc rốn cho học sinh biết đọc diễn cảm cỏc văn bản là điều rất quan trọng ở mỗi giờ dạy tập đọc cho học sinh lớp 5 Học sinh biết cỏch đọc diễn cảm cỏc văn bản sẽ cú tỏc dụng giỳp cỏc em sẽ hiểu sõu sắc hơn về nội dung bài đọc tức là đó gúp phần giỳp cỏc em biết cảm thụ văn học được tốt hơn Hơn thế nữa việc dạy học sinh biết đọc diễn cảm giỳp cỏc em biết cỏch giao tiếp lịch sự hơn khi núi lời cảm ơn, lời xin lỗi, lời chào hỏi, lời nhờ, lời yờu cầu,…
Với nhiệm vụ là một phõn mụn giành khỏ nhiều thời gian để thực hành Nhiệm
vụ quan trọng nhất của nú là hỡnh thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nờn bốn kỷ năng bộ phận, cũng là bốn yờu cầu về chất lượng của “đọc”:: đọc đỳng, đọc nhanh, đọc cú ý thức (đọc hiểu) và đọc diễn cảm
Trong bốn yờu cầu trờn thỡ yờu cầu về đọc diễn cảm bước đầu đặt ra cho học sinh lớp 4 sau đú được nõng dần lờn lớp 5 Yờu cầu về đọc diễn cảm trong nội dung chương trỡnh tập đọc ở lớp 5 đú là: biết đọc diễn cảm bài văn, bài thơ, trớch đoạn kịch ngắn cú nghĩa là đũi hỏi học sinh phải biết điều chỉnh giọng đọc về cao độ, cường độ, nhấn giọng ở cỏc từ ngữ quan trọng để thể hiện đỳng cảm xỳc trong bài Thụng qua
68 bài tập đọc thuộc cỏc loại hỡnh văn bản nghệ thuật, bỏo chớ, khoa học trong đú cú
46 bài văn xuụi, 4 bài là trớch đoạn kịch, 18 bài thơ (4 bài ca dao ngắn được dạy trong một tiết).Và ở một dạng văn bản khỏc nhau cỏch thể hiện giọng đọc diễn cảm khỏc nhau Tuy nhiờn dự ở dạng văn bản nào thỡ yờu cầu về kỹ năng đọc diễn cảm phải đảm bảo được cỏc yờu cầu sau:
Trang 3- Đọc ngắt, nghỉ đúng chỗ,
- Đọc đúng kiểu câu,
- Đọc đúng tốc độ ,
- Đọc đúng cường độ,
- Đọc đúng cao độ
Như vậy nếu trong một giờ dạy tập đọc ở lớp 5 khi học sinh đọc bài mà không đảm bảo được các yêu cầu trên thì coi như giờ dạy tập đọc chưa hoàn thành Chúng ta thử nhìn nhận nếu trong một giờ dạy tập đọc trong lớp không có một em nào biết đọc diễn cảm thì giờ học sẽ rất rời rạc, buồn chán và tẻ nhạt, cả giáo viên lẫn học sinh đều không cảm thấy có hứng thú để học Nhưng ngược lại, nếu trong một giờ dạy học tập đọc trong lớp có nhiều học sinh biết cách đọc diễn cảm thì giờ dạy học tập đọc trở nên hấp dẫn và lôi cuốn học sinh vào giờ học
Đọc diễn cảm là giai đoạn đọc cuối cùng trong một tiết dạy tập đọc Sau khi học sinh đã được luyện đọc đúng, đảm bảo tốc độ, đọc lưu loát và được tìm hiểu để hiểu nội dung bài thì học sinh mới được luyện đọc diễn cảm Đó là một điều thuận lợi để giáo viên dạy học sinh luyện đọc diễn cảm Bởi lẽ sau khi học sinh đã hiểu được nội dung văn bản thì việc xác định giọng đọc sẽ dễ dàng hơn Đọc diễn cảm trước hết phải xác định nội dung, nghĩa, lý của bài đọc, sắc thái tình cảm, giọng điệu chung của bài Đây là nhiệm vụ của quá trình dạy đọc hiểu Kết thúc quá trình đọc hiểu học sinh phải xác định được cảm xúc của bài: vui, buồn, tự hào, tha thiết, trang nghiêm sâu lắng, ngợi ca, ngay trong một bài cũng có thể hòa trộn nhiều cảm xúc nhưng rà soát lại các bài tập đọc của chương trình tập đọc lớp 5 ta thấy tông giọng chủ yếu của nó
có thể tạm gọi tên là: vui tươi nhẹ nhàng, tự hào yêu mến, tha thiết, ngợi ca trầm hùng, mạnh mẽ
Cần hiểu rằng “đọc diễn cảm” không phải là đọc sao cho “điệu”, thiếu tự nhiên, dựa vào ý thích chủ quan của người đọc Đọc diễn cảm là sử dụng ngữ điệu để phô diễn cảm xúc của bài đọc Vì vậy phải hòa nhập được với câu chuyện, bài văn, bài thơ có cảm xúc mới tìm thấy ngữ điệu thích hợp Chính tác phẩm quy định ngữ điệu cho chúng ta chứ không phải chúng ta tự đặt ra ngữ điệu
PHẦN II
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.THỰC TRẠNG KỸ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM CỦA HỌC SINH LỚP 5
+ Do ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương phát âm chưa chuẩn, ông bà, bố mẹ người lớn nói thế nào các em bắt chước như thế
+ Do bố mẹ ở địa phương khác chuyển đến hay đến xây dựng gia đình nói , phát âm chưa đúng
1 Về phía giáo viên
+ Nhìn chung hiện nay giáo viên của chúng ta chưa thực hiện tốt những kỹ năng đọc, vì vậy không làm chủ được các nội dung dạy học tập đọc Nhiều giáo viên chưa đọc đúng chính âm, đọc chưa được diễn cảm, hiểu chưa đúng những điều được đọc từ cấp độ từ ®ến câu, đoạn và cả nội dung, đích thông báo của toàn văn bản
+ Nhiều giáo viên nền cảm thụ văn học còn hạn chế Nhiều giáo viên chưa chú trọng chữa các lỗi phát âm cho học sinh, không có biện pháp luyện cho học sinh đọc
Trang 4to, đọc nhanh, đọc diễn cảm Giáo viên còn nặng về phương pháp truyền thống, nặng thuyết trình không chú ý năng lực chủ động của học sinh Gọi học sinh đọc ít, kể cả khâu rèn đọc và đọc giảng Nhất là khi đọc diễn cảm giáo viên chỉ gọi một em khá đọc mang tính hình thức Chưa chú ý đến việc rèn đọc cho học sinh, nhận xét bạn đọc đúng hay sai để sửa cho bạn và điều chỉnh mình khi mình đọc sai Khi học sinh đọc sai đọc lại để sửa thì chưa rèn dứt điểm đối với những lỗi sai của học sinh Kĩ năng đọc là mục đích cuối cùng của chúng ta muốn có ở học sinh sau mỗi giờ học Đặc biệt là đối với học sinh lớp 4, 5 thì kĩ năng đọc diễn cảm là mục đích cuối cùng sau mỗi giờ tập đọc Những kĩ năng này trước hết phải có ở giáo viên, thầy giáo phải đọc được bài tập đọc với giọng cần thiết, phải giải mã được nội dung bài tập đọc từ việc hiểu từ, câu đến việc hiểu ý, tình của văn bản Thầy giáo không thể hình thành ở học sinh kỹ năng mà bản thân anh ta không có, không thể gặt hái những gì mà chúng ta không có khả năng gieo trồng Vì vậy trong dạy học chúng ta không có quyền đòi hỏi học sinh làm những gì mà bản thân chúng ta không làm được Giáo viên không thể luyện cho học sinh đọc hay, đọc diễn cảm khi mà bản thân người thầy chưa xác định được bài văn cần đọc với giọng điệu như thế nào Như vậy có nghĩa là để đạt được cái đích cuối cùng ấy của giờ dạy tập đọc là học sinh phải đọc đúng, hay, đọc diễn cảm
và hiểu nội dung văn bản, bên cạnh đó có yêu cầu về kĩ năng đọc diễn cảm cái cần thiết đầu tiên là phải có kĩ năng đọc diễn cảm ở người giáo viên
2 Thực trạng về học sinh.
Qua khảo sát đọc cuối năm học 2012 - 2013 của HS lớp 5 trường tôi, kết quả thu được như sau:
Bảng 1:
số
Ngắt giọng sai Đọc sai kiểu câu Đọc chưa diễn cảm
Đọc diễn cảm
Qua điều tra ta thấy thực trạng học sinh đọc diễn cảm một văn bản là rất ít Hầu như các em mới chỉ đạt đến yêu cầu: đọc đúng tốc độ, phát âm tương đối chính xác, hiểu được nội dung bài còn yêu cầu về kỹ năng đọc diễn cảm là rất thấp Nguyên nhân chủ yếu là do giáo viên chúng ta chưa thực sự chú tâm để tìm ra cách đọc mẫu cho mình Nhiều giáo viên còn lúng túng khi xác định giọng đọc của bài, các lần đọc mẫu của giáo viên chưa giống nhau làm cho học sinh không biết mình sẽ bắt chước theo kiểu đọc nào
Học sinh ở nhiều vùng miền khác nhau nên phương ngữ của các em cũng không giống nhau: học sinh dân tộc thiểu số chủ yếu ở miền Bắc nên nói phương ngữ Bắc, học sinh ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế lại phát âm bằng phương ngữ Trung còn học sinh Quảng Nam – Đà Nẵng lại phát âm
Trang 5bằng phương ngữ Nam Điều này rất khó cho giáo viên khi tổ chức rèn kỹ năng đọc diễn cảm trong một lớp
Học sinh đã đọc kém lại lười đọc, không chú ý đến cách hướng dẫn đọc của cô, không nghe những bạn đọc đúng để mình học tập, để mình đọc đúng
Đối với những em đã đọc đúng thì chưa chịu rèn kỹ năng đọc diễn cảm (đọc hay) để thể hiện được cảm xúc, tình cảm thái độ qua giọng đọc và tính cách của các nhân vật như : đọc đúng tốc độ, cao độ, trường độ, và âm sắc
Việc chuẩn bị bài của các em ở nhà chưa kỹ, không luyện đọc nhiều lần trước khi đến lớp
2.1.Thực trạng HS đọc không đúng chỗ ngắt giọng.
Đọc sai chỗ ngắt giọng phản ánh một cách hiểu sai nghĩa hoặc ít ra là một cách đọc không để ý đến nghĩa Vì vậy đọc ngắt giọng đúng là mục đích của dạy đọc thành tiếng vừa là phương tiện giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung bài
Lỗi học sinh mắc phải khi đọc những bài văn xuôi, thường ngắt giọng sai ở những câu văn dài có cấu trúc ngữ pháp phức tạp Ví dụ: Bài “Những người bạn tốt”,
HS ngắt giọng sai trong câu: “ Trên đường trở về kinh đô, / đến giữa biển thì đoàn
thủy thủ trên chiếc tàu chở / ông nổi lòng tham, / cướp hết tặng vật và đòi giết ông
A – ri - ôn.”.
Bài “ tranh làng Hồ ” ngắt giọng sai câu: “ Tết đến, / đứng trước những cái chiếu
bày tranh làng Hồ rải / trên các lề phố Hà nội, / lòng tôi thấm thía một nỗi biết ơn đối với những người nghệ sĩ/ tạo hình của nhân dân”.
Lỗi HS mắc phải khi đọc những bài thơ là do không tính đến nghĩa mà chỉ đọc theo áp lực của nhà thơ Với thơ 4 tiếng các em quen ngắt nhịp 2/2
Ví dụ:
-“Em yêu / màu đỏ
Như máu / con tim”
“Hạt gạo làng ta
Có vị / phù sa”
Với thơ 5 tiếng các em sẽ ngắt nhịp 2/3 hoặc 3/2, với thơ 7 tiếng các em ngắt nhịp 3/4 hoặc 4/3
Ví dụ:
“Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui / nghe giữa núi đồi”
Với thơ lục bát sẽ được ngắt nhịp 2 / 2/ 2 ( 6 tiếng), 4/4 ( 8 tiếng) Ví dụ:
“Bầy ong giữ hộ cho người Những mùa hoa đã / tàn phai tháng ngày”
Những trường hợp trên đã bị xem là ngắt giọng sai vì đã tách một từ ra làm hai, tách từ chỉ loại với danh từ, tách danh từ ra khỏi định ngữ đi kèm, ngắt giọng sau một
hư từ
2.2 Lỗi về đọc không đúng kiểu câu.
Học sinh chỉ biết đọc đều cho tất cả các loại câu: Kể, khiến, cảm, hỏi Học sinh không biết cách thể hiện khi nào thì thể hiện ngữ điệu yếu, ngữ điệu mạnh, ngữ điệu xuống, ngữ điệu lên
Trang 6- Ngữ điệu yếu xuất hiện ở dấu 3 chấm:
Ví dụ: “Trời săp tối rồi ( )
Cha không bế con về được nữa.”
- Ngữ điệu mạnh xuất hiện ở câu cảm và câu khiến như là:
“Đứa nhỏ thôi ! Nặng lắm rồi.”.
- Ngữ điệu xuống (hạ giọng)
Ví dụ:
“Có hồ nước lặn sôi tăm cá
Có bưởi cam thơm mát bóng dừa.”
- Ngữ điệu lên xuất hiện ở các câu hỏi
Ví dụ: - Có không/ má thằng An? (Lòng dân)
- Mày có dặn lão Sáu Bo tối đánh xe ra bìa rừng chưa? (Người gác rừng tí hon).
2 3 Lỗi về tốc độ đọc.
Ở những văn bản đòi hỏi phải thể hiện tốc độ đọc nhanh, khi yêu cầu đặt ra như thế học sinh thường hiểu là với văn bản này phải đọc liến thoắng đọc nhanh đến nỗi
mà người nghe không thể nào theo dõi được hoặc đối với những văn bản yêu cầu đặt
ra là đọc chậm rãi thì học sinh lại đọc quá chậm: đọc từng tiếng một, rời rạc như có cảm giác học sinh vừa đọc vừa dừng lại để đánh vần
2.4 Lỗi về cường độ.
Khi nói đến sử dụng cường độ trong đọc diễn cảm cần phải nói đến chuyện dạy đọc to cho học sinh Đọc phải đủ lớn để các bạn ngồi ở vị trí xa nhất cũng có thể nghe được Nhưng thực tế trong một lớp học vẫn còn tồn tại một số học sinh đọc quá nhỏ thậm chí giọng đọc phát ra không đủ để cho bạn ngồi cùng bàn có thể theo dõi được
2.5 Lỗi về cao độ
Thể hiện cao độ khi đọc là muốn nói đến chỗ lên giọng, xuống giọng Học sinh ở lớp khi đọc bài còn tuỳ tiện lên giọng xuống giọng sau mỗi câu mà không biết chỗ đó
có dụng ý nghệ thuật gì
Ví dụ: Khi đọc: “Bầm ơi có rét không Bầm?” (bài Bầm ơi) Học sinh cho rằng
đây là loại câu hỏi nên cần lên cao giọng ở cuối câu mà không tính đến dụng ý nghệ thuật của tác giả
IV CÁCH SỮA LỖI CHO HỌC SINH KHI ĐỌC DIỄN CẢM.
1 Chữa lỗi ngắt giọng.
Những lỗi sai trên là do người đọc không tính đến cấu trúc ngữ pháp: chủ ngữ và
vị ngữ Chỗ ngắt giọng không được rơi vào sau hư từ hoặc trong cụm 1 từ, 1 từ lại tách ra làm hai Để chữa được những lỗi này giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh:
- Thường ngắt giọng giữa ranh giới chủ ngữ và vị ngữ Ví dụ:
Em/ yêu màu đỏ (Bài Sắc màu em yêu).
Tôi/ đứng vui nghe giữa núi đồi (Bài Đất nước).
- Thường ngắt giọng giữa ranh giới các từ Ví dụ:
Trang 7Như/ máu con tim (Bài Sắc màu em yêu).
Chỗ ngắt giọng sẽ không rơi vào sau hư từ trong câu mà rơi vào trước hư
từ trong câu Ví dụ:
Những mùa hoa/ đã tàn phai tháng ngày (Bài Hành trình những bầy ong) “Đã”
là hư từ trong câu
Có thể nói thơ là sự “phân vân” giữa nhạc và ý nên chỗ cần luyện ngắt nhịp là chỗ mà nhạc thơ theo áp lực tự nhiên và ý nghĩa ngữ pháp không khớp với nhau Không phải bao giờ cũng ngắt nhịp theo ý Có trường hợp phải ưu tiên cho nhạc Ví
dụ : Trong câu lục bát chỗ ngắt nhịp nhất thiết sẽ rơi vào sau tiếng thứ 6 của câu 8 tiếng nếu nó được gieo vần Trong trường hợp này thậm chí một từ cũng phải ngắt làm hai Ví dụ:
Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau/ đớn lòng.
Để chỉ ra chỗ sai cho học sinh trong cả ngắt giọng sai ở văn xuôi cũng như thơ, giáo viên cần cho học sinh hiểu về cú pháp trong câu, cần cho học sinh thấy sự ngắt
giọng sai đã phản ánh một cách hiểu sai về nội dung ý nghĩa.Ví dụ: Trên đường trở
về kinh đô, đến giữa biển thì đoàn thuỷ thủ trên chiếc tàu chở/ ông nổi lòng tham cướp hết tặng vật và đòi giết ông A-ri-ôn Ở đây nhân vật ông nếu theo cách ngắt
giọng như thế thì “ông” chính là người nỗi lòng tham chứ không phải là các thuỷ thủ nỗi lòng tham mà “ông” đòi giết “ông” thì rất vô lý
Tuy nhiên cũng khônng nên cứng nhắc khi dạy ngắt giọng, giáo viên phải biết rằng trong cùng một câu lại có nhiều cách ngắt giọng Vấn đề là giáo viên nên chọn
cách ngắt giọng nào cho hay hơn Ví dụ: Những tháp khoan/ nhô lên trời ngẫm nghĩ
(trong bài Tiếng đàn Ba-la-lai-ca trên sông Đà) Cách ngắt nhịp trên cũng đúng
nhưng có thể ngắt nhịp thành: Những tháp khoan nhô lên trời/ ngẫm nghĩ.
2 Chữa lỗi về ngữ điệu.
* Cách chữa lỗi về ngữ điệu yếu: Hầu hết tất cả các bài văn xuôi hay thơ khi được đặt dấu ba chấm (…) đọc đến đây chúng ta phải hạ giọng thấp hơn so với giọng đọc ban đầu Dấu ba chấm ở đây chỉ sự ngập ngừng chưa nói hết thì phải đọc với ngữ điệu yếu
* Cách chữa lỗi về ngữ điệu mạnh: Hầu hết các kiểu câu cảm và câu khiến sẽ có ngữ điệu mạnh Hoặc trong một ngữ đoạn, ngữ điệu mạnh nêu bật những từ người ta muốn nhấn mạnh đặc biệt là lúc này ngữ điệu mạnh trùng với trọng âm Ví dụ: khi đọc một đoạn trong bài “Mùa Thảo quả” được đọc nhấn giọng ở các từ: lướt thướt, quyến, đưa, ngọt lựng, thơm nồng Còn những câu khiến mời mọc, đề nghị nhẹ nhàng
mà trên chữ viết thường ghi dấu chấm sẽ được đọc với giọng nhẹ hơn Ví dụ: Mời em vào nhà chơi Cũng có khi những câu có hình thức là câu hỏi mà tính thông báo thực chất là câu mệnh lệnh cũng đọc với ngữ điệu mạnh
Ví dụ: “Cả lớp có im lặng không?”.
* Cách chữa về lỗi thể hiện ngữ điệu xuống (hạ xuống): thường dùng để kết thúc câu kể (câu tường thuật) Vì đường ranh giới câu không chỉ thể hiện ở chỗ ngừng mà còn ở ngữ điệu kết thúc đi xuống Nếu ta không hạ giọng ở cuối mỗi câu sẽ không tạo
ra sự luân chuyển nhịp nhàng cao độ của các câu, vì vậy khi đọc chóng bị mệt và
Trang 8người nghe khó theo dõi Ngoài ra, ngữ điệu xuống thường dùng để đọc lời tác giả trong những văn bản xen lẫn lời tác giả và lời nhân vật, nhất là khi lời tác giả lọt vào
giữa lời nhân vật Ví dụ: An (An “dạ”) Mày qua bà Mười dắt con heo về …, đội
luôn dạ lúa Rồi…cha con ráng đùm bọc lấy nhau
* Cách chữa lỗi về lên giọng: Khi đọc câu hỏi cần phải lên giọng Ví dụ: Em đã học bài chưa? Phải cao giọng ở cuối câu Tuy nhiên những câu hỏi kết thúc bằng ngữ
khí từ thì không lên giọng (à, đấy ư, thế, hả, chứ) Ví dụ: Chồng chị à?
3 Cách chữa lỗi về tốc độ đọc.
Để chữa lỗi về thể hiện tốc độ giáo viên cần hướng dẫn:
- Khi đọc những văn bản có nội dung miêu tả một công việc dồn dập khẩn trương thì phải đọc nhịp nhanh Nhưng không có nghĩa là các em phải đọc một cách liến thoắng mà đọc với tốc độ nhanh hơn bình thường để người nghe có thể theo dõi được
- Khi đọc những văn bản có cảm xúc phấn khởi tự hào cần thể hiện tốc độ không quá chậm
- Là một bài văn xuôi trữ tình, chan chứa cảm xúc cần phải được đọc chậm Đọc với tốc độ chậm là chậm so với mức bình thường chứ không phải các em đọc chậm từng tiếng một sẽ làm cho người nghe hiểu sai về nội dung văn bản
4 Cách chữa lỗi về cường độ.
Giáo viên phải tập cho tất cả học sinh trong lớp mình có thói quen đọc đúng cường
độ, nghĩa là phải đọc đủ lớn để cho cả lớp và cô giáo có thể nghe được Giáo viên phải giáo dục cho học sinh hiểu được tác hại của việc đọc quá nhỏ, thì cô và các bạn
sẽ không theo dõi được, mà không theo dõi được thì không thể sửa sai cách đọc cho chúng ta được
5 Cách chữa lỗi về cao độ.
Như đã nêu ở phần cách chữa lỗi về ngữ điệu, ở mỗi loại kiểu câu lại có một ngữ điệu lên, xuống khác nhau Tuy nhiên vẫn tồn tại trương hợp ngoại lệ Ví dụ: Có khi
là câu hỏi nhưng khi đọc không cần lên giọng ở cuối câu Chẳng hạn khi đọc câu:
“Bầm ơi, có rét không Bầm ?” Đây là kiểu câu hỏi nhưng khi đọc ta không lên giọng
ở cuối câu mà lại hạ giọng vào cuối câu Vì đây là câu hỏi thể hiện sự trăn trở, day dứt của người con nơi chiến trận đang nghĩ về người mẹ yêu quý của mình Một câu hỏi không cần có câu trả lời Như vậy tuỳ thuộc vào từng văn bản cụ thể mà giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thể hiện đúng cao độ
V BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM CHO HỌC SINH.
Xuất phát từ những thực trạng mắc lỗi của học sinh, muốn rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh người giáo viên cần thực hiện như sau:
1 Các công việc cần chuẩn bị trước khi đến lớp.
- Giáo viên phải xác định rõ mục tiêu của nội dung bài dạy, xác định rõ thể loại văn bản, tìm ra giọng đọc phù hợp với văn bản đó
- Giáo viên phải luyện đọc mẫu trước ở nhà Giọng đọc mẫu của giáo viên rất quan trọng : Muốn học sinh của mình đọc diễn cảm thì trước hết người giáo viên cần phải đọc diễn cảm văn bản đó Để đọc đúng, hay giáo viên phải có lòng ham muốn đọc hay và có ý thức tự điều chỉnh mình đọc đúng hơn, hay hơn, có ý thức trau chuốt giọng đọc của mình Giáo viên nên sử dụng máy ghi âm ghi lại giọng đọc của mình,
Trang 9máy ghi âm sẽ giúp mình phát hiện ra các nhược điểm để tự mình điều chỉnh, sửa chữa
- Giáo viên phải dự tính được lỗi học sinh mắc phải trong bài trong quá trình đọc
để đưa ra cách chữa lỗi hay nhất
2 Các công việc cần làm trong giờ dạy tập đọc ( phần luỵên đọc diễn cảm).
- Khi đọc mẫu giáo viên phải làm chủ được âm thanh giọng đọc của mình Âm thanh phát ra đủ lớn để cả lớp cùng nghe Biết làm chủ giọng đọc cũng chính là biết làm chủ ngữ điệu, tốc độ, cường đô, cao độ Giáo viên phải đọc đúng, diễn cảm một cách chắc chắn nghĩa là nhiều lần làm mẫu khác nhau, nhiều lần như một đều tạo ra một mẫu đọc thành tiếng không đổi
- Phải biết quan sát cách đọc của học sinh
- Biết tái hiện lời đọc của học sinh trong thế đối chiếu với lời đọc mẫu ( chỉ dùng khi thật cần thiết)
- Biết phối hợp nhịp nhàng lời mô tả giọng đọc với làm mẫu Phối hợp nhịp nhàng giữa lời mô tả giọng đọc với làm mẫu nghĩa là có sự hài hòa giữa những lời yêu cầu, chỉ dẫn về cách đọc và khả năng biểu diễn những yêu cầu chỉ dẫn này bằng giọng đọc mẫu của giáo viên
- Trong giờ dạy tập đọc giáo viên không thể bắt ép học sinh phải đọc theo một phương ngữ nhất định khi mà phương ngữ các em có được khác với phương ngữ mà
cô yêu cầu
3 Cách tổ chức cho học sinh rèn kỹ năng đọc diễn cảm.
- Cho học sinh làm quen với toàn tác phẩm, xác định giọng đọc chung của cả bài
- Giáo viên tổ chức cho học sinh đàm thoại, nhận ra thể loại của văn bản, hiểu ý đồ của tác giả, thảo lụân với học sinh để xác định giọng đọc chung của cả bài
- Học sinh luyện đọc, phân tích thể hiện, lập dàn ý và xác định giọng đọc của từng đoạn
- Giáo viên cần chọn một đoạn tiêu biểu trong bài để hướng dẫn học sinh cách đọc diễn cảm: Cách ngắt, nghỉ đúng chỗ; cách nhấn giọng vào những từ ngữ quan trọng trong đoạn văn, đoạn thơ đó (cần cho học sinh thấy rõ vì sao cần phải ngắt nghỉ và nhấn giọng vào những từ ngữ quan trọng đó) Ở phần này giáo viên nên viết đoạn cần hướng dẫn đọc vào bảng phụ để hướng dẫn và học sinh tiện theo dõi
- Tổ chức cho học sinh luyện tập để thể hiện giọng đọc của từng câu, đoạn Chú ý cho học sinh luyện tập những câu khó đọc trong bài Khi học sinh luyện tập giáo viên cần chỉ ra chỗ khó đọc, những điểm nút trong bài đòi hỏi học sinh phải hiểu mới tìm cách thể hiện điều đó trong giọng đọc Trong khi luyện tập học sinh phải biết lắng nghe, thảo luận nhận xét về giọng đọc, giải thích vì sao đọc như thế này là hay, đọc như thế này là chưa hay, chỗ nào trong cách đọc của thầy, của bạn làm mình thích nhất
- Cuối cùng giáo viên phải tổ chức cho học sinh luyện đọc cá nhân và tổ chức cho học sinh thi đọc diễn cảm để các em có cảm hứng khi đọc diễn cảm
- Cho cả lớp bình chọn bạn đọc bài diễn cảm nhất để khích lệ học sinh
Vì những lời khen ngợi, động viên học sinh sẽ kích thích được sự tiến bộ của học sinh trong những giờ học sau, đặc biệt là đối với những học sinh còn yếu
VI KẾT QUẢ THỰC HIỆN.
Trang 10Rút kinh nghiệm từ những năm học trước, năm học 2013 - 2014tôi đã áp dụng những biện pháp nói trên ngay từ đầu năm học.Với sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các giáo viên trong khối tôi đã tiến hành khảo sát về kĩ năng đọc diễn cảm của học sinh lớp 5A tôi đang dạy (lớp thực nghiệm) và các lớp khác trong khối Năm (lớp đối chứng) Kết quả thu được như sau:
Bảng 2:
số
Ngắt giọng sai
Đọc sai kiểu câu
Đọc chưa diễn cảm
Đọc diễn cảm
Qua khảo sát trên cho thấy ở các lớp không vận dụng những phương pháp trên vào giảng dạy phần đọc diễn cảm của học sinh lớp 5 thì kết quả HS đọc diễn cảm đạt tỷ lệ thấp Trong khi ở lớp tôi nhờ áp dụng những biện pháp trên nên kết quả thu được cao hơn so với các lớp khác rất nhiều
VII KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
Qua quá trình thực hiện tôi nhận thấy khi học sinh đã biết đọc diễn cảm ở mỗi bài đọc các em đã bồi bổ thêm các kỹ năng trong giao tiếp, các em đã mạnh dạn và tự tin hơn khi tham gia giao tiếp với người lớn, thầy cô, bạn bè và mọi người xung quanh như : nói lời chào hỏi, nói lời cảm ơn, nói lời xin lỗi, lời mời, lời nhờ, lời đề nghị, lời yêu cầu
Đối với giáo viên phải nắm vững kiến thức chính âm, chính tả Tự bản thân mình phải học tập nâng cao và rèn luyện liên tục Nắm bắt được đối tượng học sinh mình dạy mắc lỗi do nguyên nhân nào mà có kế hoạch dạy học kịp thời, phù hợp Phải kiên trì, nhẫn nại thường xuyên uốn nắn giúp học sinh thấy và hiểu rõ lỗi mà mình mắc phải Từ đó mà có ý thức, thói quen đọc đúng diễn cảm bài tập đọc
Bản thân với năng lực có hạn và thời gian nghiên cứu chưa đủ để có thể hoàn thiện sáng kiến một cách đầy đủ, khoa học.Do đó nội dung sáng kiến không tránh khỏi những luận điểm chưa lí giải đầy sức thuyết phục và hợp lí
Kính mong quý thầy cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp và mọi người quan tâm đến rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 để bổ sung thêm những gì còn khiếm khuyết để “nó” thật sự trở thành một sản phẩm chung và thiết thực
Có được kết quả trên cũng chính là nhờ vào sự quan tâm chỉ đạo, sự đóng góp ý kiến nhiệt tình của Ban Giám hiệu nhà trường, sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp trong Hội đồng, sự tận tâm của các cô giáo, thầy giáo chủ nhiệm và sự cố gắng nổ lực của học sinh nên bước đầu đã có những kết quả đáng khích lệ
2.Ý kiến đề xuất: