1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản lý chất thải nguy hại ở quận hà đông - hà nội

21 419 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 48,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo luật Việt Nam Ngày 16/7/1999, Chính phủ đã ban hành Quy chế, 155/1999/QĐ_TTG của Thủ tướng chính phủ về quản lý CTNH, theo đó khái niệm chất thải nguy hại đó được nêu tại Khoản 2, Đ

Trang 1

MỞ ĐẦU

Chất thải hiện nay là vấn đề mà các nhà môi trường học và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Do chất thải nguy hại liên quan rất lớn đến sức khoẻ cộng đồng và mức sống của mỗi người dân nên luôn được chính phủ chú ý Hiện nay vấn đề chất thải nguy hại đó được các nước phát triển đưa vào vấn đề trọng tâm trong bảo vệ môi trường Việc quản lý chất thải nguy hại ở mỗi quốc gia là khác nhau do đặc thù kinh tế, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và ý thức về môi trường của mỗi quốc gia là khác nhau Nhìn chung những nước phát triển quan tâm hơn đến môi trường hơn những nước đang phát triển hoặc chưa phát triển Vấn đề môi trường đang được nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan tâm và đang trên từng bước thay đổi mang tính tích cực Việc bảo vệ môi trường gắn liền với lợi ích của từng cá nhân trong xã hội với nhu cầu sức khoẻ và quyền lợi về kinh tế

Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp – hiện đại hóa đất nước với nhịp

độ ngày càng cao, đặc biệt là sản xuất công nghiệp nhằm chủ động hội nhập vào nền kinh

tế khu vực và thế giới trong thời gian tới Sự phát triển công nghiệp luôn đi kèm với áp lực chất thải Do nhiều yếu khách quan và chủ quan mà chất thải công nghiệp đã và đang

là một nguồn gây ô nhiễm cao, ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe con người và hệ sinh thái

Hà Đông là một thành phố trực thuộc Hà Nội với lợi thế về vị trí địa lý, đặc điểm hành chính, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi đang được các nhà đâu tư chú ý lựa chọn Hà Đông nói riêng và cả nước nói chung đang từng bước tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đồng thời với quá trình đô thị hóa Sự hình thành các khu công nghiệp, sự phát triển về số lượng các cơ sở sản xuất cùng với sự gia tăng các dịch

vụ hỗ trợ là cần thiết góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Nơi đây tập trung nhiều hoạt động kinh tế- xã hội, việc tập trung đa số các nghành kinh tế đã dẫn tới các chất thải nguy hiểm ở mức độ cao làm tăng áp lực về môi trường cho Hà Đông Vì vậy, công tác quản lý, bảo vệ môi trường, xử lý các chất thải nguy hại là rất cần thiết, cần phải đối phó kịp thời trước khi vấn đề trở nên nghiêm trọng

Trang 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI NGUY HẠI

1.1. Định nghĩa chất thải nguy hại

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về chất thải nguy hại Dưới đây là một số định nghĩa mang tính chung nhất về chất thải nguy hại

1.1.1. Theo luật Việt Nam

Ngày 16/7/1999, Chính phủ đã ban hành Quy chế, 155/1999/QĐ_TTG của Thủ tướng chính phủ về quản lý CTNH, theo đó khái niệm chất thải nguy hại đó được nêu tại Khoản 2, Điều 3 như sau: “Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ

nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người”

Theo định nghĩa, chất thải nguy hại có các đặc tính lý hoá hoặc sinh học đòi hỏi phải có một quy trình đặc biệt để xử lý hoặc chôn lấp nhằm tránh những rủi ro đối với sức khoẻ con người và những ảnh hưởng bất lợi đối với môi trường Các chất nguy hại điển hình:

-Axít, kiềm

-Dung dịch Xyanua và hợp chất

-Chất gây ôxy hoá

-Dung dịch Kim loại nặng

-Dung môi

-Căn dầu thải-Amiăng

1.1.2 Định nghĩa theo tổ chức bảo vệ môi trường của nước Mỹ ( EPA)

Định nghĩa: chất thải được coi là chất thải nguy hại nếu có một hay nhiều hơn những đặc tính sau:

- Có khả năng hoạt động hóa học, dễ cháy, dễ ăn mòn, tính độc

- Là một chất thải phi đặc thù ( không xác định trong hoạt động công nghiệp)

- Là một chất thải mang tính đặc thù ( cho một hoạt động công nghiệp)

- Là chất thải đặc trưng cho hoạt động nghành hóa học hay tham gia vào quá trình trung gian

- Là chất thuộc danh sách chất thải nguy hại

- Là những chất không được tổ chức RCRA chấp nhận ( phụ lục C)

Trang 3

1.1.2. Theo công ước Basel về chất thải nguy hại

Định nghĩa: chất thải nguy hại nếu nó có một trong những đặc tính sau đây

- Phản ứng với các quá trình phân tích chất thải nguy hại

- Có trong danh sách chất thải nguy hại

- Nếu chất thải không có trong danh sách chất thải nguy hại thì xem nó có trong danh sách những chất không phải chất thải nguy hại hay không hay nó có tiềm năng gây hại hay không

1.2. Các đặc tính của chất thải nguy hại

1.2.1. Theo Cục bảo vệ môi trường của Việt Nam

Chất thải nguy hại là chất thải có những đặc tính sau:

1.2.2. Theo tổ chức bảo vệ môi trường của mỹ (EPA)

Các đặc tính của chat thải nguy hại:

Tính dễ cháy là đặc tính có thể bốc lửa trong các quá trình vận chuyển lưu giữu

và sử dụng Được xác định bởi các đặc tính sau đây:

+ Có thể là chất lỏng chứa hơn 25% cồn, rượu và có thể bốc lửa ở nhiệt độ nhỏ hơn 60oC

+ Có thể không phải là chất lỏng nhưng có thể bốc cháy ở nhiệt độ và áp suất dưới tiêu chuẩn cho phép hay có khả năng gây cháy trong quá trình vận chuyển và ma sát

+ Nó là khí đốt+ Là chất oxi hóa

Tính dễ ăn mòn là đặc tính phụ thuộc vào độ PH của chất thải bởi chất thải có

độ PH cao hay thấp sẽ thể hiện mức độ nguy hiểm của chất thải Tính ăn mòn được thể hiện trong các đặc tính sau đây:

Trang 4

+ Chất thải ở dạng lỏng và có độ PH < 2 hay >12,5 ( được đo theo đúng tiêu chuẩn của EPA)

+ Chất thải ở dạng lỏng và ăn mòn thộp >6,35 mm trong 1 năm ở nhiệt độ

55 0C

Tính hoạt động hóa học là đặc tính nhận biết của chất thải nguy hại bởi tính không bền vững của chất thải có thể gây phản ứng cháy nổ Tính hoạt động của chất thải nguy hại được trình bày trong các tính chất sau đây:

+ Có tính không bền vững và có thể thay đổi trạng thái một cách mãnh liệt

mà không có sự kích thích nổ nào cả

+ Có thể là chất hoạt động khi tiếp xúc với nước

+ Có tiềm năng xảy ra phản ứng hóa học khi tiếp xúc với nước

+ Khi hòa trộn với nước chất thải tạo ra khí độc hại, bốc hơi, hoặc lan truyền vào không khí với khối lượng lớn có thể gây nguy hiểm cho con người hay môi trường

+ Nó là các chất thải mang gốc Cynua và Sunfit, có thể gây nguy hiểm khi

ở pH từ 2 đến 12,5 sinh ra chất khí độc hại, phát tán hoặc gây bụi không khí gay ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường

+ Là chất có khả năng phát nổ, phân hủy kèm theo nhiệt độ lớn hay hoạt động hóa học trong nhiệt độ và áp suất dưới mức cho phép

+ Chất thải có thể bốc cháy bất thình lình: phế thải có thể tự nóng lớn trong điều kiện vận chuyển bình thường hoặc tự nóng lên do tiếp xúc với không khí

và có thể tự bốc cháy

+ Vật liệu hoặc phế thải khi tiếp xúc với nước thì sẽ khó cháy Vật liệu hoặc phế thải, do phản ửng với nước có khả năng cháy bất thình lình hoặc tạo ra khí cháy với số lượng nguy hiểm

Trang 5

+ Chất thải là nguyên liệu đốt cháy: Vật liệu hoặc phế thải, không phải lúc nào cũng là nguyên liệu đốt cháy nhưng khi tiếp xúc với oxi có thể gây ra hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho việc đốt cháy các vật liệu khác

+ Chất hữu cơ hoặc phế thải có kết cấu hai -O- O- là những chất không ổn định

về nhiệt độ, có thể bị phân hủy tạo nhiệt nhanh

+ Độc cấp tính vật liệu hoặc phế thải có thể gây tử vong, thiệt hại trầm trọng hoặc hủy hoại sức khỏe con người

- Vật liệu gây bệnh:

+ Vật liệu hoặc phế thải chứa các vi sinh vật sống hoặc độc tố của nó mà người

ta biết hoặc có lý do để tin rằng nó gây bệnh cho gia súc hoặc cho con người.1.3. Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại

Khi nền kinh tế phát triển thì nhu cầu về các hoạt động của con người càng tăng theo Chất thải nguy hại phát sinh cùng với những hoạt động của con người

1.4. Phân loại chất thải nguy hại

1.4.1. Phân loại theo nguồn thải

- Chất thải từ khâu sản xuất, pha chế, phân phối và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

- Chất thải từ các nhà máy sản xuất, pha chế dược chất… Việc xác định ra bản chất của các đơn vị sản sinh ra chất thải không cho chúng ta biết gì về về bản chất thực tế của chất thải Tuy vậy cách phân loại này có tác dụng cảnh báo chúng ta về thành phần tiềm tang của chất thải

1.4.2. Phân loại đặc tính của chất thải nguy hại

Là hệ thống phân loại chất thải nguy hại sử dụng mức độ nguy hại làm một phần của hệ thống phân loại:

Trang 6

rộng rãi đối với từng chất thải một, hơn nữa lại là những chất có nguồn rất hạn hẹp.

1.4.3. Phân loại theo chất thải công nghiệp

Một số hệ thống phân loại chất thải dùng tiêu chuẩn phân loại công nghiệp (SIC) làm một thành tố của hệ thống phân loại chất thải Về mặt hiệu quả, thì việc này sẽ

là phương cách chính thức đối với việc phân loại nguồn "phi đặc thù" nêu trên Loại hệ thống phân loại này còn chịu chung điểm bất lợi, nhưng có một lợi thế là

nó có thể giúp cho việc dự đoán trước tổng lượng phát thải đối với một khu vực hay một đất nước thông qua phần số liệu sử dụng phương pháp suy luận từ số liệu mẫu về chất thải lấy từ nguồn thông tin trên sách báo về tình hình lao động, sản xuất theo khu vực công nghiệp Hạn chế chính của cách này là việc trên thực tế một đơn vị công nghiệp có thể có nhiều hoạt động công nghiệp trên cùng một địa điểm và như vậy gây ra việc dự đoán " hai lần"

Trang 7

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA

BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG – HÀ NỘI 2.1 Tổng quan các nghành công nghiệp trên địa bàn quận Hà Đông

Hà Đông là vùng có nền kinh tế công nghiệp đang trong giai đoạn phát triển Nhìn chung các cơ sở hoạt động công công nghiệp đều ở trạng thái lạc hậu và xuống cấp Trong những năm gần đây có một số công ty được xây dựng từ vốn đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh tuy nhiên phần lớn hầu như các cơ sở không có sự thay đổi trong công nghệ sản xuất công nghiệp hay có sự thay đổi nhưng các công nghệ nhìn chung vẫn không phải là các công nghệ hiện đại Các cơ sở sản xuất hầu hết chưa có công nghệ xử

lý nước thải hay rác thải công nghiệp Cùng với việc không quan tâm trong công tác quản

lý chất thải nguy hại và sự gia tăng về hoạt động sản xuất công nghiệp thì vấn đề chất thải nguy hại ngyaf càng đáng báo động

2.2 Các loại hình công nghiệp chính

Quận Hà Đông là nơi tập trung nhiều cơ sở sản xuất của nhiều ngành công nghiệp khác nhau với quy mô sản xuất vừa và nhỏ, chỉ một số công ty nhà nước, công ty liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài có quy mô sản xuất lớn dây chuyền công nghệ hiên đại, khép kín Các cơ sở sản xuất này được các cấp lãnh đạo của tỉnh Thành phố Hà Nội tạo điều kiện hoạt động và phát triển Nó giúp cho địa phương giải quyết một lượng lớn lao động tại chỗ, cải thiện nhiều mặt trong đời sống kinh tế xã hội, đóng góp vào ngân sách nhà nước một nguồn thu quan trọng

Sau đây là một số loại hình sản xuất đang hoạt động trên địa bàn quận Hà Đông và các vùng phụ lân cận:

- Nghành XNCN cơ khí, chế tạo máy

- Nghành XNCN phân bón, hóa chất, dược phẩm

- Nghành XNCN da, giầy, dệt nhuộm

- Nghành XNCN sản xuất vật liệu xây dựng

- Nghành XNCN giấy và các sản phẩm về giấy

- Nghành XNCN chế biến lương thực thực phẩm

- Nghành chế biến gỗ

- Nghành XNCN điện và điện tử

2.3 Nguồn gốc sản sinh ra chất thải nguy hại

Sau khi khảo sát sơ bộ tình hình sản xuất công nghiệp của một số nghành công nghiệp ở quận Hà Đông cho thấy, trong các nghành sản xuất kể trên có một số nghành phát sinh ra chất thải nguy hại lớn Các cơ sở của các nghành còn lại ít có khả năng phát

Trang 8

sinh CTNH Tuy nhiên đối với nghành chế biến lương thực thực phẩm nói chung là ít phát sinh chất thải nguy hại trừ những công ty lớn như Cocacola,Liên hợp thực phẩm thành phố Hà Nội… Sau đâylà những nghành phát sinh chất thải nguy hại:

- Nhóm nghành XNCN cơ khí, chế tạo máy

- Nhóm nghành XNCN dệt nhuộm và giầy da

- Nhóm nghành XNCN hóa chất, dược phẩm, polime

- Nhóm nghành XNCN giấy và các sản phẩm của giấy

Các công đoạn mạ trong khu vực mạ chủ yếu tác động đến người công nhân qua

da Riêng trường hợp mạ Crôm hơi dung dịnh Crom có nồng độ cao sẽ thông qua đường

hô hấp tác động xấu đến người lao động (Crom là chất độc gây hại đến thần kinh và mang đặc tính gây ung thư Hơi Kẽm hay muối Kẽm gây triệu chứng đau dầu, sốt Công đoạn xử lý bề mặt khác như sơn, nhuộm tại các cơ sở cơ khí cũng là nguồn gây ô nhiễm Công nghệ nhuộm trong công nghiệp cơ khí về bản chất cũng giống như công nghệ mạ điện, tuy nhiên có điểm khác là có sử dụng hóa chất màu công nghiệp Vật liệu sơn về bản chất hoá học là các hợp chất cao phân tử và figment (màu) Vật liệu sơn màu sẽ được pha thành dung dịch sơn có độ nhớt nhất định bằng dung môi Dung môi phổ biến

là xăng công nghiệp , white spirit, Toluen, Xylen, TCE (trichloroethylene), MEK ( methyl ethyl ketone), DOP (dyoctyl phthalate), Ethyl acetate Như vậy vật liệu sơn hay dung môi đều độc hại cho môi trường

Ngành cơ khí, chế tạo máy là nơi sử dụng nhiều công đoạn hàn kim loại Hàn điện

là quá trình làm nóng chảy kim loại và các chất trợ dung hàn Chất trợ dung bao gồm những chất ôxit kim loại như ZnO, MnO, PbO các ôxyt kim loại này trong quá trình hàn

sẽ bay hơi vào không khí gây tác hại đến sức khoẻ người lao động Ngành luyện kim đáng chú ý là khâu công nghệ luyện bằng hoá chất (chủyếu là cyanua).Cyanua sử dụng

Trang 9

chủ yếu là NaCN hay KCN đây là chất độc cho môi trường , sức khoẻ của người lao động đặc biệt là hệ thuỷ sinh Do trình độ quản lý là kém hiệu quả nên các chất gây hại này có nồng độ vượt tiêu chuẩn ở những nơi sản xuất Trong công nghệ khai thác và chế biến kim loại màu cần lưu ý đến bụi kim loại trong quá trình nghiền Đặc biệt là quặng Asen

sẽ rất độc hại

2.3.2 Nhóm nghành giày da và dệt nhuộm

Ngành dệt nhuộm sử dụng hoá chất chủ yếu ở công đoạn nhuộm sợi vải Thuốc nhuộm thường có những loại sau: lưu hoá, trực tiếp, bazơ, axit, hoạt tính hoàn nguyên Thuốc nhuộm là những hợp chất hữu cơ mạch vòng khá phức tạp (cơ bản là những hợp chất thuộc dãy polyaromatic) Một số loại thuốc nhuộm không tan trong nước nên cần phải có thêm những loại dung môi để hoà tan làm tăng nguy cơ nhiễm hoá chất cho công nhân

Về bản chất quá trình nhuộm là thực hiện những phản ứng hoá học giữa vật liệu nhuộm và vật liệu in trên hoặc trong lỗ xốp của sợi vải Các hoá chất nhuộm có tính phân tán cao trong nước Do mức độ gắn kết giữa vải in và mực in không cao nên thất thoát chất nhuộm in vào môi trường lao động là rất lớn Điều này có thể thấy qua chỉ số COD rất cao từ nước thải của công ty nhuộm ( 600 –1200 mg/l).Trong dây chuyền nhuộm , tẩy còn có khả năng phát sinh từ các quá trình chuẩn bị thuốc nhuộm hay mực in

2.3.3 Nhóm nghành hóa chất và các sản phẩm hóa chất

Các loại hình công nghiệp phổ biến:

- Hóa chất vô cơ cơ bản

2.3.4 Nhóm nghành giấy và bột giấy

Trang 10

Công nghệ sản xuất giấy và bột giấy Thành phố Hà Nội ở trình độ thấp và chậm phát triển Trong công nghiệp giấy thì nước thải là nguồn ô nhiễm chủ yếu Hầu hết sự ô nhiễm của các chất đều xuất phát từ chất thải

Công nghệ Kraft là công nghệ được áp dụng hầu hết các cơ sở sản xuất bột giấy ở Việt Nam Trong công nghệ này sản sinh ra dung dịch đen là dung dịch chứa hoá chất nấu, các hợp chất hữu cơ hoà tan trong môi trường nấu, xút, muối sunfit hay sunfat vòng dẫn xuất của lignin

2.3.5 Ngành chế biến lương thực:

Ngành chế biến lương thực thực phẩm,nước giải khát hầu như không phát sinh ra chất thải nguy hại Tuy nhiên nhiều quá trình phụ trợ để phục vụ dây chuyền sản xuất có phát từ chất thải

Chất thải nguy hại được sinh ra từ nồi hơi, trạm biến thế, máy lạnh…thải ra các dầu bôi trơn, dầu biến thế, dầu khoáng thải Do đó cần phải quản lý CTNH nghành này

2.3.6 Nghành sản xuất vật liệu xây dựng và các nghành khác

Nghành vật liệu xây dựng ở thành phố Hà Nội chủ yếu có các nhóm sản phảm đáng quan tâm như: Sứ vệ sinh và trang trí, chủ yếu sử dụng SiO2 và felsfat được nghiền rất nhỏ là nguồn phát tán bụi vào phổi, vật liệu màu rất đa dạng, chủ yếu là màu vô cơ như: oxyt của Zn, Zr, Se, Pb… là nguồn phát tán chất gây ô nhiễm vào không khí

Vật liệu tấm lợp hiện nay một số còn sử dụng amiăng dưới dạng sợi crisotin là loại

bị cấm sử dụng Công nghệ amiăng rất đơn giản (trôn hở) nên rất dễ phân tán vào môi trường

Ngày đăng: 12/10/2016, 14:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: lượng chất thải và chất thải nguy hại phát sinh tại các cơ sở sản xuất   trên địa bàn quận Hà Đông - quản lý chất thải nguy hại ở quận hà đông - hà nội
Bảng 3.1 lượng chất thải và chất thải nguy hại phát sinh tại các cơ sở sản xuất trên địa bàn quận Hà Đông (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w