Khi thương hiệu hạt dẻ Trùng Khánh được hình thành người dân có thể phát triển tốt hơn các sản phẩm từ hạt dẻ để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho gia đình.. Vì vậy thông qua đề tài “
Trang 1ĐÀM DIỆU MAI
Tên đề tài:
GIẢI PHÁP CỦNG CỐ VÀ NÂNG CAO THƯƠNG HIỆU
HẠT DẺ TRÙNG KHÁNH, CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐÀM DIỆU MAI
Tên đề tài:
GIẢI PHÁP CỦNG CỐ VÀ NÂNG CAO THƯƠNG HIỆU
HẠT DẺ TRÙNG KHÁNH, CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Trang 3Để hoàn thành được khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy,
cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình nghiên cứu và rèn luyện tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn TS Hà Quang Trung đã tận tình, chu đáo, hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ tại phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Trùng Khánh, Cao Bằng đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt kỳ thực tập tốt nghiệp trong thời gian tôi thực tập tại cơ quan
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng do lần đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế sản xuất cũng như những hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa nhận thấy được
Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 9 tháng 6 năm 2016
Sinh viên
Đàm Diệu Mai
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Phân bố số hộ điều tra tại các xã 16
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Trùng Khánh 22
Bảng 4.2: Tình hình lao động, nhân khẩu của huyện Trùng Khánh 23
Bảng 4.3: Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Trùng Khánh 25
Bảng 4.4: Kết quả thực hiện chỉ tiêu sản xuất nông lâm nghiệp 25
Bảng 4.5: Tình hình sản xuất hạt dẻ Trùng Khánh ở các xã 27
Bảng 4.6: Tình hình cơ bản của các hộ điều tra 29
Bảng 4.7: Tổng thu, tổng chi và thu nhập hỗn hợp của hộ sản xuất hạt dẻ Trùng Khánh 29
Bảng 4.8: Phân loại hạt dẻ 30
Bảng 4.9: Giá bán hạt dẻ của hộ sản xuất 30
Bảng 4.10: Tình hình thu mua hạt dẻ Trùng Khánh của hộ thu mua hạt dẻ Trùng Khánh 33
Bảng 4.11: Tổng thu, tổng chi và thu nhập hỗn hợp của hộ thu mua hạt dẻ Trùng Khánh 34
Bảng 4.12: Chi phí của hộ thu mua hạt dẻ Trùng Khánh 35
Bảng 4.13: Giá cả của hộ thu mua hạt dẻ Trùng Khánh 36
Bảng 4.14: Tình hình kinh doanh của hộ bán buôn 37
Bảng 4.15: Tổng thu, tổng chi, thu nhập hỗn hợp của hộ bán buôn hạt dẻ 38
Bảng 4.16: Giá cả của hộ bán buôn hạt dẻ Trùng Khánh 40
Bảng 4.17: Tình hình thu mua hạt dẻ Trùng Khánh của các hộ bán lẻ 41
Bảng 4.18: Tổng thu, tổng chi và thu nhập hỗn hợp của hộ bán lẻ hạt dẻ Trùng Khánh 42
Bảng 4.19: Giá cả trung bình của hộ bán lẻ hạt dẻ Trùng Khánh 44
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Bản đồ huyện Trùng Khánh 17
Hình 4.2: Sơ đồ chuỗi giá trị hạt dẻ Trùng Khánh 27
Hình 4.3 : Sơ đồ khách hàng và các mối quan hệ 28
Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện chi phí của hộ thu mua hạt dẻ Trùng Khánh 34
Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện tổng chi, tổng thu và thu nhập hỗn hợp của hộ bán buôn hạt dẻ Trùng Khánh 39
Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện tổng thu, tổng chi và thu nhập hỗn hợp của hộ bán lẻ hạt dẻ Trùng Khánh 43
Hình 4.7: Sơ đồ tiêu thụ hạt dẻ Trùng Khánh 46
Trang 611 TN & MT Tài nguyên & Môi trường
Trang 7MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
1.4 Đóng góp mới của đề tài 3
1.5 Bố cục của đề tài 3
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Lý luận về thương hiệu 4
2.1.2 Thông tin về hạt dẻ 7
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển thương hiệu nông sản 8
2.2.1 Nhân tố khách quan 8
2.2.2 Nhân tố chủ quan 9
2.3 Kinh nghiệm xây dựng thương hiệu tại các địa phương khác, sản phẩm khác 11
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Câu hỏi nghiên cứu 14
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
3.2.2 Phạm vi nghiên cứu 14
3.3 Phương pháp nghiên cứu 14
3.3.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu 14
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 15
3.4 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 16
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 17
4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Trùng Khánh 17
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 17
Trang 84.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Trùng Khánh 21
4.2 Thực trạng sản xuất & phát triển hạt dẻ Trùng Khánh 27
4.2.1 Tình hình sản xuất hạt dẻ Trùng Khánh 27
4.2.2 Người sản xuất 27
4.2.3 Người thu mua 32
4.2.4 Hộ bán buôn 37
4.2.5 Hộ bán lẻ 41
4.2.6 Người tiêu dùng 45
4.3 Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong quá trình sản xuất và phát triển thương hiệu 47
4.3.1 Thuận lợi 47
4.3.2 Khó khăn 47
PHẦN 5 GIẢI PHÁP CỦNG CỐ VÀ NÂNG CAO THƯƠNG HIỆU HẠT DẺ TRÙNG KHÁNH – CAO BẰNG 49
5.1 Quan điểm, phương hướng, mục tiêu 49
5.1.1 Quan điểm 49
5.1.2 Phương hướng 50
5.1.3 Mục tiêu 50
5.2 Giải pháp củng cố và nâng cao thương hiệu hạt dẻ Trùng khánh – Cao Bằng 50
5.2.1 Giải pháp về nâng cao chất lượng sản phẩm hạt dẻ Cao Bằng 50
5.2.2 Giải pháp về giá 52
5.2.3 Giải pháp về quảng bá thương hiệu 52
5.3 Kiến nghị 53
5.3.1 Đối với chính quyền địa phương 53
5.3.2 Đối với các hộ nông dân 54
5.4 Kết luận 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Dù bạn có đi bất cứ đâu, làm việc và sinh sống ở bất cứ nơi nào thì nông nghiệp vẫn là nguồn cung cấp quan trọng cho cuộc sống của mỗi chúng ta Nông nghiệp cung cấp những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm đảm bảo cho
sự tồn tại của con người, cũng là ngành sản xuất ra những nguyên liệu đầu vào quan trọng cho ngành công nghệp Trong quá trình phát triển, nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng về cả chất lượng và số lượng Vì thế, sự ổn định xã hội
và an ninh về lương thực, thực phẩm của xã hội phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của nông nghiệp
Việt Nam là một nước nông nghiệp với nhiều mặt hàng nông sản có thế mạnh như: cà phê, điều, hạt tiêu, gạo… Tuy nhiên, nhiều mặt hàng nông sản đã có thương hiệu nhưng lại không cạnh tranh được với những mặt hàng nông sản nước ngoài
Từ lâu, hạt dẻ Trùng Khánh đã trở thành một trong những sản vật đặc trưng của miền đất biên cương Cao Bằng Hạt dẻ Trùng Khánh bùi, ngậy, có hương thơm đặc biệt Ban đầu người dân nơi đây chỉ trồng nó một cách tự phát rồi mang đi bán khi dư thừa, chưa có ý định phát triển hạt dẻ thành cây trồng đem lại nguồn lợi chính cho gia đình Nhưng do có điều kiện tự nhiên ưu ái nên cây dẻ trồng ở đây không tốn công chăm sóc, thu nhập cao hơn trồng ngô, đỗ Từ đó cây dẻ được người dân chăm sóc phát triển cây dẻ thành cây trồng đem lại nguồn thu chính cho nhiều gia đình Khi thương hiệu hạt dẻ Trùng Khánh được hình thành người dân có thể phát triển tốt hơn các sản phẩm từ hạt dẻ để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho gia đình
Tuy nhiên, để có được sự phát triển như ý cũng rất khó Nhiều gia đình không
có ý định mở rộng vườn dẻ bởi chỗ đất tốt đã hết, tập quán thả rông trâu bò khiến cho việc bảo vệ vườn dẻ rất khó khăn Mặt khác, nếu trồng nhiều lại lo không bán được, không có nhân lực chăm sóc, thu hoạch Đây là tâm lý chung của nhiều hộ
Xã, huyện có vận động, khuyến khích phát triển nhưng bà con chỉ muốn trồng dẻ
Trang 10theo kiểu quảng canh, phân tán Đến nay việc tiêu thụ hạt dẻ hiện vẫn chủ yếu do bà con tự đem ra chợ bán, chưa có bất kỳ doanh nghiệp, đơn vị nào có thể bao tiêu Thực tế này đang đòi hỏi cần sớm có những giải pháp cụ thể để vận động bà con mở rộng diện tích cây dẻ, đưa cây dẻ trở thành "cây mũi nhọn" thực thụ Hiện nay hạt dẻ đã có thương hiệu Tuy nhiên, những biện pháp cụ thể để bảo vệ và phát
triển thương hiệu vẫn chưa được đầu tư đúng mức Vì vậy thông qua đề tài “ Giải pháp củng cố và nâng cao thương hiệu hạt dẻ Trùng Khánh, Cao Bằng” tôi
mong rằng có thể góp phần giải quyết một số khó khăn đang tồn tại và đưa ra được những giải pháp phù hợp để phát triển thương hiệu ngày càng vững mạnh
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Thông qua việc nghiên cứu thực trạng sản xuất và xây dựng thương hiệu hạt dẻ ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng từ đó đưa ra những giải pháp củng cố và nâng cao thương hiệu hạt dẻ, làm cho sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ hạt dẻ tại Trùng Khánh, Cao Bằng
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến thương hiệu hạt dẻ Trùng Khánh, Cao Bằng
- Đề xuất giải pháp nhằm củng cố và nâng cao thương hiệu hạt dẻ Trùng Khánh, Cao Bằng
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu mang lại một số ý nghĩa cho các nhà nghiên cứu cũng như chính quyền địa phương quan tâm thông qua việc khám phá một số thành phần tạo nên giá trị thương hiệu
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài nghiên cứu có thể là một tài liệu tham khảo đối với những nhà nghiên cứu có quan tâm đến vấn đề thương hiệu và giá trị thương hiệu trên thị trường Việt Nam
Trang 11- Đề tài mang lại một số ý nghĩa thực tiễn cho chính quyền địa phương, giúp
họ có những cái nhìn về sản phẩm hạt dẻ dưới lăng kính khác
1.4 Đóng góp mới của đề tài
- Đưa ra được những khó khăn, tồn tại của hộ nông dân trồng dẻ
- Những khó khăn gặp phải trong quá trình sản xuất và phát triển thương hiệu
hạt dẻ Trùng Khánh
- Đưa ra được những giải pháp phát triển cụ thể trong thời gian tới
- Định hướng phát triển thương hiệu theo lối sản xuất hàng hóa bền vững 1.5 Bố cục của đề tài
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Phần 5: Các giải pháp củng cố và phát triển thương hiệu hạt dẻ Trùng Khánh
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Lý luận về thương hiệu
2.1.1.1 Khái niện về thương hiệu
Từ thương hiệu (Brand) có nguồn gốc từ chữ Brandr, theo tiếng Aixơlen có nghĩa là đóng dấu Xuất phát từ thời xa xưa khi những chủ trại muốn phân biệt đàn cừu của mình với những đàn cừu khác, họ đã dùng một con dấu bằng sắt nung đỏ đóng lên lưng từng con một, thông qua đó khẳng định giá trị hàng hoá và quyền sở hữu của mình Như thế, thương hiệu xuất hiện từ nhu cầu tạo sự khác biệt cho sản phẩm của nhà sản xuất
Ngày nay, thương là buôn bán, hiệu là dấu để nhận biết và phân biệt Như vậy, thương hiệu là dấu hiệu đặc trương của một doanh nghiệp được sử dụng để nhận biết một doanh nghiệp hoặc một sản phẩm của doanh nghiệp trên thương trường Ngoài ra, theo hiệp hội Marketing Hoa Kì, một thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ hay tổng hợp tất cả các yếu
tố kể trên nhằm xác định các sản phẩm hay dịch vụ của một (hay một nhóm) người bán và phân biệt các sản phẩm (dịch vụ) đó với các đối thử cạnh tranh
Bên cạnh thương hiệu của công ty thì nhãn hiệu là dấu hoặc tên gọi của một sản phẩm được đăng kí với luật pháp sử dụng trên thị trường Cần ghi nhận rằng ranh giới giữa hai chữ thương hiệu (Brand) và nhãn nhiệu (trade mark) chỉ mang tính tương đối Chúng ta có thể hiểu đơn giản là một nhãn hiệu đã đăng kí (Registered trade mark - ®) sẽ được coi là một thương hiệu chính thức là được bảo
hộ từ pháp luật [12]
2.1.1.2 Chỉ dẫn địa lý
Theo khoản 22, điều 4 Luật sở hữu trí tuệ: “ Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể ”
Trang 13Danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó thông qua mức độ rộng rãi người tiêu dùng biết đến và chọn lựa sản phẩm đó
Chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng một hoặc một số chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hoá học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phương pháp kiểm tra phù hợp
Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý có ranh giới được xác định một cách chính xác bằng từ ngữ và bản đồ
Chủ sở hữu của chỉ dẫn địa lý là nhà nước, Nhà nước trao quyền ủy ban nhân dân tỉnh hoặc cho phép các hiệp hội Thời hạn của chỉ dẫn đại lý là không xác định thời hạn, được sử dụng đến khi không còn đáp ứng được các điều kiện bảo hộ [2]
2.1.1.3 Quá trình phát triển thương hiệu
Các điều kiện cơ bản để xây dựng thương hiệu
Tiến hành nghiên cứu định tính, định lượng để hiểu rõ khách hàng là ai? Nhận thức của khách hàng về thương hiệu như thế nào? Và tiến trình mua hàng của họ ra sao? Phải đảm bảo nhận diện một cách đầy đủ của thương hiệu của thương hiệu đối với khách hàng và sự nhận thức của nó trong tâm trí của người tiêu dùng
Định nghĩ thương hiệu một cách rõ ràng,bao gồm phát biểu về định vị, phối thức thương hiệu, tên thương hiệu, biểu tượng và tính cách của thương hiệu
Phát triển một chiến lược thương hiệu và kế hoạch tiếp thị để áp dụng những định nghĩa về thương hiệu đến tất cả khách hàng Tạo ra và thực thi các chương trình tiếp thị một cách hiệu quả
Thương hiệu phải được theo dõi và quản lý một cách liên tục thông qua các nghiên cứu để phát triển, duy trì và tạo động lực thúc đẩy phát triển thương hiệu
Những điều kiện cần làm để xây dựng thương hiệu mạnh
- Một thương hiệu mạnh là một thương hiệu có những ưu thế khác biệt, bền vững trên thị trường, được nhiều người biết đến, được ưa chuộng và được nhiều
Trang 14người tiêu dùng mua sử dụng thường xuyên Để có được thương hiệu mạnh cần phải chú ý những điều sau đây:
- Xây dựng sản phẩm: một thương hiệu tốt không thể thay thế một sản phẩm tốt
- Lấy khách hàng làm tâm: xác định rõ khách hàng mục tiêu để đối thoại bằng ngôn ngữ của họ Xây dựng thương hiệu thông qua mọi góc cạnh cảm nhận và trải nghiệm của khách hàng
- Xây dựng tầm nhìn thương hiệu: xây dựng tầm nhìn xa định hướng cho thương hiệu, phát triển thương hiệu trong tương lai Tầm nhìn xa là tiền đề cho một chiến lược vững chắc và nhất quán
- Hãy sống, hãy ăn và thở với thương hiệu: thông điệp và hình ảnh của thương hiệu cần được truyền đạt nhất quán từ quản lý đến nhân viên để thể hiện được sức mạnh của nó Mọi người trong công ty đề phải nhận thức được ý nghĩa, sự quan trọng và tin tưởng ở thương hiệu mình đang đại diện
- Cam kết đầu tư một thương hiệu mạnh: cần cam kết, kiên quyết và nhất quán trong việc xây dựng thương hiệu từ cấp lãnh đạo đến cấp nhận viên trong công ty Xây dựng thương hiệu mạnh cần phải đầu tư tiền bạc, thời gian và con người
- Tập trung vào định vị cốt lõi: cần tập trung vào ý tưởng định vị cốt lõi Định
vị cốt lõi cần phải được xây dựng trên một chiến lược vững chắc Thị trường có thể thay đổi nhưng triết lý cốt lõi của thương hiệu phải được giữ vững
- Tạo sự khách biệt rõ ràng, không chỉ hơn một chút: cần tạo sự khác biệt hơn hẳn so với các đối thủ cạnh tranh Sự khác biệt phải phù hợp với định vị cốt lõi và chiến lược thương hiệu [1]
2.1.1.4 Ý nghĩa của việc phát triển thương hiệu
Thương hiệu là một trong các nhân tố quan trọng góp phần duy trì, mở rộng, phát triển thị trường trong và ngoài nước cho các doanh nghiệp, nâng cao văn minh thương mại, góp phần chống cạnh tranh không lành mạnh Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, các doanh nghiệp đứng trước việc cạnh tranh gay gắt, nhất là khi có nhiều hàng hóa của nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam
Trang 15Vì vậy điều hết sức cần thiết là các doanh nghiệp phải xây dựng thương hiệu cho hàng hóa của mình
Thương hiệu là tài sản vô hình và có giá trị của doanh nghiệp: thương hiệu là tài sản của doanh nghiệp, nó là tổng hợp của rất nhiều yếu tố, những thành quả mà doanh nghiệp tạo dựng được trong suốt quá trình hoạt động của mình Chính sự nổi tiếng của thương hiệu như là một đảm bảo cho lợi nhuận tiềm năng của doanh nghiệp [1]
Các lợi ích kinh tế do thương hiệu đem lại:
- Tăng doanh số bán hàng
- Thắt chặt sự trung thành của khách hàng
- Tăng lợi nhuận và tăng thu nhập cho doanh nghiệp
- Mở rộng và duy trì thị trường
- Tăng cường thu hút lao động và việc làm
- Tăng sản lượng và doanh số hàng hóa
- Tăng giá trị sản phẩm do người tiêu dùng phải trả tiền mua uy tín của sản phẩm
- Nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm tăng, điều này dẫn đến tăng trưởng cho kinh tế nói chung
2.1.2 Thông tin về hạt dẻ
Tên khoa học của hạt dẻ là Castanea và có nguồn gốc từ Trung Quốc và Nhật Bản thời cổ đại Một số nước trên thế giới cũng trồng hạt dẻ như Trung Quốc, Nhật Bản, Châu Âu… Trong đó, hạt dẻ Trung Quốc dẫn đầu các loại hạt dẻ về “thành
tích” cung cấp năng lượng với 33,64g hyđrat-cacbon/ 100g hạt dẻ chín Con số này
ở hạt dẻ Nhật Bản là 12,64g Lượng hyđrat-cacbon này khiến hạt dẻ, ngay khi chín, khô và rụng xuống, đã hàm chứa những kho nhỏ tinh bột tuyệt hảo, với dinh dưỡng cao Cả ba loại hạt dẻ, Trung Quốc, Nhật Bản và châu Âu đều chứa các vitamin nhóm B bao gồm folacin Tất cả đều chứa những chất khoáng vi lượng đáng kể bao gồm: can-xi, sắt, ma-nhê, phốt-pho, man-gan, đồng, selen, kẽm và là một nguồn kali đặc biệt dồi dào với số lượng 119 mg-715mg trong 100g Trong tất cả các loại hạt, hạt dẻ là thứ hạt duy nhất có chứa Vitamin C 28,35g hạt dẻ đã nấu hoặc hấp chín
Trang 16chứa 9,5-26,7mg vitamin, trong khi các loại hạt khô có gấp đôi lượng vitamin: từ 15,1-61,3mg/ 28,35g [7].
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển thương hiệu nông sản
2.2.1 Nhân tố khách quan
2.2.1.1 Chính sách của nhà nước
- Việt Nam là một nước nông nghiệp và có rất nhiều sản phẩm nông sản đặc trưng Thực tế cho thấy sản phẩm nông sản có thương hiệu bán được giá cao hơn hẳn có khi cao hơn đến 40% so với những sản phẩm không có thương hiệu
- Tuy nhiên, việc xây dựng thương hiệu chỉ dừng lại ở mức khuyến khích, tại nhiều địa phương cả chính quyền và các doanh nghiệp vẫn chưa thấy rõ được ý nghĩa quan trọng của việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nông sản Điều đó gây ra nhiều bất lợi cho nông dân khi họ phải tự mình chống chịu trước những thay đổi về giá cũng như các yếu tố khác
- Ông Bùi Huy Sơn, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương cho biết: “Trong thời gian tới, trong khuôn khổ của chương trình thương hiệu quốc gia, chúng tôi có dành sự hỗ trợ rất cụ thể cho các doanh nghiệp riêng trong lĩnh vực nông thủy sản để hỗ trợ cho quá trình tiếp cận thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với việc xây dựng và quảng bá thương hiệu của chính các sản phẩm đó Chúng tôi cũng phối hợp với các cơ quan nghiên cứu để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực nông sản, đăng ký bảo hộ, chỉ dẫn địa
lý đối với các sản phẩm nông sản Riêng với nông sản, việc đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý có giá trị hết sức to lớn Đây là một đặc thù giúp cho các sản phẩm của chúng
ta khẳng định được thương hiệu của mình, được ghi nhận, được nhận biết và khẳng định được mình tại thị trường trong nước và quốc tế” [14]
2.2.1.2 Đất đai, khí hậu thời tiết
Dẻ ván ở Trung Quốc, có phạm vi phân bố rộng và hình thành rất nhiều chủng khác nhau, chịu được nơi có nhiệt độ bình quân từ 8-220C, lượng mưa bình quân năm 1000-2000mm Dẻ ván là cây ưa sáng, yêu cầu 1700-1900 giờ nắng 1 năm
Trang 17Khu vực địa lý được phân bố ở các sườn đồi có độ cao khoảng 450-600 m, xung quanh được bao bọc bởi núi đá vôi tạo nên khí hậu mát mẻ quanh năm thích hợp cho sự phát triển và sinh trưởng của cây dẻ Khu vực địa lý có nhiều sông và suối lớn chảy qua cung cấp phù sa và nước tưới cho cây
Dẻ ván có thể mọc trên nhiều loại đất: đất đồi, sườn đồi, sườn núi, đất nương rẫy cũ…, chỉ cần có tầng dày, tơi xốp, thoát nước tốt Đất có độ pH từ hơi chua đến trung tính (pH 5,5-7,0) Đất kiềm, đất chứa muối trên 0,2% thì cây sinh trưởng không tốt
Dẻ ván được đưa vào trồng ở Trùng Khánh, Cao Bằng từ lâu, tỏ ra thích nghi với khí hậu ở đó, cây mọc khỏe mạnh, cho thu hoạch quả, hạt tốt Các tỉnh miền núi phía Bắc có thể căn cứ vào khí hậu đất đai từng vùng mà phát triển gây trồng loại cây này sẽ đưa lại nhiều lợi ích [10]
2.2.2 Nhân tố chủ quan
2.2.2.1 Quy trình kỹ thuật
Cây dẻ ván sống lâu, được đưa vào trồng ở Trùng Khánh từ lâu, quen gọi là dẻ Trùng Khánh Cây có thể sống 70-80 năm, thu hoạch quả 50-60 năm, là cây có thể trồng để tăng thu nhập, thu hoạch lâu dài Gỗ cứng, bền, chịu ẩm, chống mục tốt, gỗ
có thể đóng thuyền, làm cầu, làm xe và đóng đồ gia dụng Tài liệu nước ngoài còn cho biết vỏ quả, lá, chùm hoa đực, vỏ cây và rễ có thể làm thuốc bổ thận ích khí, cầm máu, giảm đau và các vết ngoại thương
Vì dẻ ván lấy quả là chủ yếu, là cây có nhiều chủng khác nhau nên cần hết sức chú ý khâu chọn giống Trước tiên nên chọn những cây khỏe mạnh, sai quả đã được trồng và thích nghi với khí hậu Trùng Khánh, Cao Bằng để lấy giống
Hạt chín vào tháng 9-10 Khi chín vỏ quả có màu xám, màu vàng xám, vỏ có thể có khía nứt để lộ hạt ra ngoài, vỏ hạt có màu nâu Hạt lấy xong có thể gieo ngay hoặc cất trữ để đến mùa xuân đem gieo Nếu gieo ngay tỷ lệ nảy mầm không cao Hạt cát ẩm, một lớp hạt một lớp cát ẩm, hàng tuần kiểm tra, đảo hạt, loại bỏ hạt thối và phun nước giữ ẩm Đất vườn ươm cần cày kỹ, bón lót bằng phân chuồng hoai 30kg/10m2
Trang 18Hạt dẻ to nên có thể gieo theo hàng Luống làm cao 30cm, trên luống làm rạch rồi gieo hạt Rạch cách nhau 25-30cm, gieo hạt nọ cách hạt kia 15-20cm, hạt gieo đ-ược lấp đất sâu 2-3cm Chú ý làm cỏ, xới đất, bón thúc vào mùa sinh trưởng (tháng 6-7) Nếu cây con nuôi ở vườn 2 năm thì sau năm đầu cần cấy cây cho khoảng cách rộng ra 40x40cm
Ở Trung Quốc, người ta thường dùng cách ghép để cho cây sớm ra quả, sản lượng cao, phẩm chất tốt Sau khi gieo hạt để có cây con làm gốc ghép thì chọn cây
mẹ sai quả, phẩm chất hạt tốt để lấy cành ghép, mắt ghép rồi đem ghép vào cây con
ở vườn ươm Thường ghép vào mùa xuân, ghép xong làm giàn che, có thể ghép mắt hoặc ghép nêm
Đất trồng dẻ ván cần chọn nơi đất tốt, tầng đất dày, nhiều mùn, độ pH dưới 7
Hố đào 40x40x40cm, cần bón phân lót mỗi hố 40kg phân chuồng Dẻ ván nên trồng thưa, mật độ 400-500 cây/ha Khi cây còn nhỏ, giữa các hàng dẻ có thể trồng khoai,
đỗ, lạc, lúa Về sau có thể trồng gừng Những năm đầu cần xới xáo, vun gốc Khi đã thành rừng rồi thì hàng năm cũng cần bón phân để xúc tiến cây sai hoa kết quả Ngoài bón phân chuồng còn có thể dùng phân xanh, cỏ rác vùi vào gốc cây để làm cho đất tơi xốp, thoát nước nhưng giữ ẩm, có lợi cho cây sinh trưởng phát triển
Để tăng sản, ngoài khâu chọn giống còn cần nghiên cứu chế độ bón phân, tưới nước, tỉa cành, tạo tán,v.v.,chế độ quản lý, nuôi dưỡng hợp lý [10]
2.2.2.2 Người sản xuất
Hạt dẻ được đưa vào trồng ở huyện Trùng Khánh vào những năm 1920 –
1925 và được ông bà dặn con cháu chăm sóc như một loài cây quý Trên địa bàn các
xã Chí Viễn, Khâm Thành, Đình Phong, Đình Minh , các xã trồng nhiều cây dẻ
Hộ trồng hạt dẻ đều khẳng định cây dẻ hợp với khí hậu và thổ nhưỡng ở đây, nhiều
hộ thu nhập 20 - 40 triệu đồng/vụ Xã Đình Minh có trên 60% hộ trồng cây hạt dẻ thu nhập từ trên 5 - 30 triệu đồng/vụ Tuy nhiên, nhiều hộ vì lợi nhuận trong khi thu hoạch họ mua hạt dẻ Trung Quốc để trộn lẫn vào hạt dẻ của của nhà mình để bán lại cho khách hàng Điều đó gây ảnh hưởng xấu đến việc phát triển thương hiệu
Trang 19Trước đây bà con trồng dẻ, cây mới chưa cho quả đã có bệnh nên phải chặt đi; cây dẻ trồng mất nhiều diện tích lại là cây thu hoạch lâu năm nên nếu không được
hỗ trợ về việc phát triển giống tốt thì người dân sẽ đứng trước nguy cơ mất trắng bất
cứ lúc nào Do đó, bà con chỉ muốn trồng cây ngắn ngày 2 vụ/năm để sinh kế Cũng
vì vậy mà các dự án mở rộng diện tích trồng dẻ không được sự ủng hộ nhiệt tình từ người dân
Hiện nay hạt dẻ Trùng Khánh đã có thương hiệu nên cần chú trọng phát triển cây dẻ một cách bền vững, thực hiện đồng bộ từ khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ Nâng cao hiệu quả hợp tác “4 nhà” để mỗi bên đều thực hiện tốt công việc của mình góp phần vào sự phát triển thương hiệu; điều quan trọng là phải coi trọng đầu tư nâng cao chế biến sản phẩm nông sản
2.2.2.3 Các yếu tố khác
Quá trình tiêu thụ sản phẩm hạt dẻ Trùng Khánh còn phụ thuộc vào người thu mua, bán buôn, bán lẻ điều đó cũng đồng nghĩa với việc thương hiệu hạt dẻ phát triển có bền vững và ổn định không cũng phụ thuộc vào họ
Trên thực tế thì sản lượng hạt dẻ Trùng Khánh làm ra không đủ cung ứng trên thị trường và cũng vì phần đa các hộ sản xuất đều bán trực tiếp cho người tiêu dùng nên hầu hết các tư thương đều nhập hạt dẻ Trung Quốc về bán và ghi “hạt dẻ Trùng Khánh”, “hạt dẻ Cao Bằng”
Tuy nhiên, có nhiều hộ nhận thức được sự quan trọng của việc phát triển thương hiệu nên họ hình thành mối liên kết với các hộ nông dân trồng dẻ để bán đúng sản phẩm hạt dẻ Trùng Khánh
2.3 Kinh nghiệm xây dựng thương hiệu tại các địa phương khác, sản phẩm khác
Tại Cao Bằng
Thịt bò H’mông Cao Bằng là một ví dụ điển hình về phát triển thương hiệu Sau nhiều năm nỗ lực, tháng 12/2011 sản phẩm thị bò H’mông Cao Bằng chính thức được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ sở hữu nhãn hiệu tập thể
Phát hiện những phẩm chất quý giá và tiềm năng kinh tế của thịt bò Mông, Dự
án Superchian/Malica/IFAD và Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo tỉnh
Trang 20Cao Bằng (DBRP) đã hỗ trợ đồng bào H’mông kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc, xây dựng thương hiệu và tìm thị trường tiêu thụ cho bà con
Dự án DBRP đã liên kết các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ tham gia vào các Nhóm sở thích để hỗ trợ nhau phát triển chăn nuôi, các nhóm chăn nuôi phải tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật chăn nuôi Ngoài ra, dự án cũng hỗ trợ xây dựng, nâng cấp các lò mổ đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm để thu mua sản phẩm của các Nhóm sở thích
Dự án DBRP đã giúp người dân yên tâm phát triển chăn nuôi bò theo hướng xóa đói giảm nghèo bền vững, vươn lên làm giàu xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc [15]
Dự án được triển khai từ tháng 5/2008 tại 50 xã thuộc 10 huyện ghèo của tỉnh với tổng kinh phí là 22,8 triệu USD Nhằm thực hiện mục tiêu tạo quyền lợi cho các
hộ dân nghèo nông thôn được thụ hưởng từ các cơ hội thị trường có khả năng sinh lợi, công bằng về xã hội và bền vững về môi trường, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững trong giai đoạn 2008 – 2014
Dự án phối hợp với các ngành chức năng nghiên cứu, xây dựng 9 chính sách được UBND tỉnh phê duyệt; góp phần cải thiện chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh từ mức thấp nhất lến đứng thứ 61/63 tỉnh, thành phố (2013)
Dự án còn góp phần nâng cao năng lực quản lý nhà nước và dịch vụ công; hộ trợ thủ tục đăng ký kinh doanh cho 422 doanh nghiệp; nghiên cứu, xây dựng thành công 5 chỗi giá trị gồm: bò, trúc, ngô, lạc, đậu tương Tập huấn phát triển chuỗi cho hơn 1.300 cán bộ, tỷ lệ nữ chiếm hơn 49%; xây dựng cơ bản, cấp phát 25.300 tờ rơi, hơn 1.500 bản tin niêm yết thông tin giá cả, thị trường
Phối hợp tổ chức 3 hội chợ việc làm cấp tỉnh và 20 phiên chợ việc làm cấp huyện với 47 lượt doanh nghiệp tham gia, 4.619 lượt người được tư vấn việc làm, khoảng 400 lao động được tuyển dụng, bố trí việc làm; 319 người được đào tạo nghề, trong đó có 217 hộ nghèo
Qua hơn 6 năm thực hiện, tỷ lệ họ nghèo trong vùng dự án giảm từ 49% (năm 2010) xuống còn 31,6% (năm 2013); tỷ lệ thất nghiệp trên phạm vi toàn tỉnh từ
Trang 215,5% giai đoạn trước Dự án giảm xuống còn 4,8% (năm 2014); tỷ lệ hộ gia đình có sản phẩm bán cho doanh nghiệp tăng từ 8,1% (năm 2008) lên 14% (năm 2013) [16]
Tại các tỉnh khác
Chắc hẳn ai cũng biết đến Tam Đảo là một địa điểm du lịch tuyệt vời và rau su
su là một đặc sản đặc trưng của vùng
Ban đầu người ta trồng su su để lấy quả là chủ yếu nhưng năm 1996 khi khu
du lịch được phát triển người dân mới bắt đầu khai thác và ngọn su su nhanh chóng được lựa chọn là món ăn trong các nhà hàng, quán ăn Ý tưởng hình thành thương hiệu rau su su Tam Đảo được bắt đầu từ một người nông dân Ông Lương Bằng Hội nhận thấy tiềm năng và những hiệu quả nhất định nên đã chủ động tham mưu để cơ quan chức năng giúp đỡ xây dựng thương hiệu và đến năm 2007 thương hiệu su su
an toàn Tam Đảo đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp chứng nhận thương hiệu
Rau được trồng theo tiêu chuẩn VietGap nên người dân phải thực hiện theo những quy định nghiêm ngặt nên ban đầu người dân chán nản và không muốn tham gia, nhung ông Hội không bỏ cuộc mà vẫn kiên trì vận động bà con tham gia và hội Nông dân thị trấn Tam Đảo Hiện nay, Hội đã có 150 thành viên với diện tích trồng lên đến 50 ha Các mẫu rau, chất lượng nguồn nước, mẫu đất…vẫn được Chi cục Quản lý chất lượng Nông – Lâm – Thủy sản Vĩnh Phúc quản lý, giám sát thường xuyên thông qua việc lấy mẫu về phân tích, kiểm tra
Tuy nhiên để thương hiệu su su an toàn Tam Đảo phát triển đúng hướng cần
có lộ trình, thời gian và không thể vội vàng [9]
Trang 22Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Câu hỏi nghiên cứu
1 Tình hình sản xuất của các hộ nông dân như thế nào?
2 Tình hình kinh doanh của hộ thu mua, hộ bán buôn, hộ bán lẻ như thế nào?
3 Thực trạng phát triển thương hiệu hạt dẻ Trùng Khánh?
4 Giải pháp củng cố và phát triển thương hiệu hạt dẻ có hiệu quả và bền vững?
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Phân tích thực trạng sản xuất, phát triển thương hiệu hạt dẻ đồng thời đưa ra giải pháp củng cố và nâng cao thương hiệu hạt dẻ Trùng Khánh
Nội dung:
Tìm hiểu về thực trạng khó khăn, thuận lợi trong việc trồng và sản xuất hạt dẻ Tìm hiểu thực trạng và các nguyên nhân trong việc phát triển thương hiệu Chỉ ra những khó khăn, thuận lợi trong việc phát triển thương hiệu
Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm phát triển thương hiệu vững mạnh và
có chỗ đứng trên thị trường
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu
3.3.1.1 Đối với hộ sản xuất
- Chọn xã nghiên cứu: hai xã được chọn để nghiên cứu là Phong Châu và Đình Minh Trên địa bàn huyện Trùng Khánh có nhiều xã trồng hạt dẻ tuy nhiên hai xã được chọn là hai xã có diện tích trồng dẻ lớn nhất và có chất lượng, năng suất ổn định
Trang 23- Chọn thôn nghiên cứu: từ 2 xã đã chọn, mỗi xã chọn ra 3 thôn Xã Đình Minh chọn ra 3 thôn là Khưa Khảo, Bó Đa, Bản Đà; xã Phong Châu chọn ra 3 thôn
là Phia Bó, Nà Mằn, Co Bây
Tổng số mẫu điều tra là 60 mẫu, trong đó mỗi xã chọn 30 mẫu chọn ngẫu nhiên chia đều cho 3 thôn, mỗi thôn 10 mẫu
3.3.1.2 Đối với hộ thu mua, bán buôn, bán lẻ
Chọn ngẫu nhiên hộ thu mua, hộ bán buôn, bán lẻ hạt dẻ trên địa bàn huyện Trùng Khánh, tại thành phố và các huyện khác
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Sử dụng các số liệu đã thống kê, các báo cáo tổng kết của phòng nông nghiệp
& PTNT huyện Trùng Khánh để có số liệu cần thiết Tham khảo thêm các sách chuyên khảo về thương hiệu, các tạp chí, sách báo, các nghị định, chỉ thị, chính sách, dự án của Nhà Nước có liên quan đến thương hiệu và phát triển thương hiệu
3.3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
a, Xây dựng phiếu điều tra
Nội dung chủ yếu của phiếu điều tra hộ sản xuất dẻ: Thông tin chung của hộ:
có một số thông tin như tên, tuổi, giới tính, nơi ở, số lao động, nghề nghiệp Tình hình sản xuất: diện tích, năng suất, sản lượng, lượng hạt dẻ bán ra, giá bán, chi phí, doanh thu…Thông tin về thương hiệu: tìm hiểu sự hiểu biết của nông dân về thương hiệu qua một số câu hỏi
Nội dung chủ yếu của phiếu điều tra hộ thu mua, bán buôn, bán lẻ: lấy thông tin chung tương tự như phiếu điều tra hộ sản xuất Thông tin về tình hình kinh doanh: lượng hạt dẻ mua vào và bán ra qua các năm, chi phí, doanh thu, giá bán của
hộ qua các năm…
b, Tổ chức điều tra
Bước 1: Khảo sát nhanh các hộ sản xuất hạt dẻ về: số lượng hộ, năng suất, sản lượng, diện tích tại các xã điều tra
Bước 2: Lập danh sách số hộ theo diện tích từ thấp đến cao
Bước 3: Chọn hộ điều tra theo danh sách
Kết quả được thể hiện ở bảng 3.1
Trang 24Bảng 3.1: Phân bố số hộ điều tra tại các xã
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra, năm 2016)
Bước 4: Khảo sát danh sách các hộ thu mua, hộ bán buôn, hộ bán lẻ, chọn ngẫu nhiên 5 hộ trong mỗi nhóm hộ
3.4 Hệ thống chỉ tiêu phân tích
Trong quá trình điều tra và tính toán có sử dụng một số chỉ tiêu sau để phân tích tình hình sản xuất, thu mua hạt dẻ cũng như sự biến động của hạt dẻ qua các năm: Diện tích trồng dẻ của các hộ sản xuất tại 2 xã
Sản lượng hạt dẻ của các hộ sản xuất tại 2 xã
Năng suất hạt dẻ của các hộ = sản lượng/ diện tích
Tổng thu của hộ là nguồn thu từ hạt dẻ trong các năm
Chi phí của hộ là chi phí mà hộ bỏ ra trong quá trình sản xuất và kinh doanh hạt dẻ
Thu nhập = Tổng thu – Chi phí
Trang 25Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Trùng Khánh
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Trùng Khánh là huyện biên giới nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Cao Bằng; từ thị xã Cao Bằng theo tỉnh lộ 206 đến trung tâm huyện lỵ dài 62 km, có diện tích 469,15 km2
Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Hạ Lang, phía Tây giáp huyện Trà Lĩnh, phía Nam giáp huyện Quảng Uyên và huyện Phục Hòa; phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Tịnh Tây và huyện Đại Tân (Quảng Tây, Trung Quốc)
Hình 4.1: Bản đồ huyện Trùng Khánh
Trang 26Huyện Trùng Khánh có 20 đơn vị hành chính, gồm 19 xã và 1 thị trấn Trong
đó, huyện có 8 xã biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, với chiều dài đường biên 63,15 km, bao gồm: Lăng Yên, Ngọc Chung, Phong Nặm, Ngọc Khê, Ngọc Côn, Đình Phong, Chí Viễn, Đàm Thủy Huyện có cửa khẩu Pò Peo (thuộc xã Ngọc Côn)
và nhiều đường mòn dân sinh, nhân dân hai bên đường biên thường xuyên qua lại giao lưu kinh tế, văn hóa [13]
4.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Về địa hình, huyện Trùng Khánh có độ cao trung bình từ 600-800 m so với mặt nước biển; có cấu trúc địa hình đa dạng, phức tạp, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Xen giữa những dãy núi đá là những thung lũng bằng phẳng, được kiến tạo bởi thiên nhiên và bởi trí tuệ, công sức khai phá của nhân dân các dân tộc từ nhiều đời, đã tạo nên những cánh đồng, ruộng rẫy trù phú, như các vùng Ngọc Khê, Đình Phong, Chí Viễn, Trung Phúc, Đàm Thủy, Phong Nặm, Lăng Hiếu, Phong Châu, Đức Hồng, Cao Thăng,…
Nét đặc trưng của địa hình Trùng Khánh là giữa các thung lũng bằng phẳng có những ngọn núi đá, núi đất sừng sững, nhấp nhô với nhiều hình dạng, tiêu biểu là vùng Ngọc Khê (thuộc xã Ngọc Khê) dọc sông Quây Sơn, được dân gian ca ngợi là vùng “Hà lục sơn thủy hữu tình”
Huyện Trùng Khánh còn có những dãy núi đá cao, chạy dọc biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, ở phía Bắc và Đông Bắc, tựa như một phên dậu, bức tường thành che chắn Trong những dãy núi đó cao nhất là ngọn Giang Mũ, thuộc
xã Ngọc Khê, với độ cao trên 873 m Phía Nam và Tây Nam là địa hình chuyển tiếp của cao nguyên miền Đông (thuộc đới Hạ Lang trong kiến tạo địa chất thuộc vùng đất có nhiều khoáng sản quý như măng gan, bôxít, thạch anh, ngọc bích,…), cao dần từ Nam lên Bắc [13]
4.1.1.3 Đặc điểm khí hậu
Do điều kiện vị trí địa lý và địa hình, huyện Trùng Khánh chịu nhiều ảnh hưởng của khí hậu á nhiệt đới; thường chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi gió mùa, chủ yếu là gió mùa Đông Bắc Mùa Đông, độ ẩm thấp, khô hanh và rét buốt; mùa Hè
Trang 27nóng bức, chỉ mát dịu về ban đêm Khí hậu hai mùa nóng lạnh rõ rệt Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 10, kéo dài đến hết tháng 5 năm sau Nửa đầu mùa lạnh là thời kỳ khô hanh, ban ngày nhiệt độ ấm áp, nhưng ban đêm nhiệt độ thường thấp, với độ chênh lệch giữa ngày và đêm từ 5-100C; cuối mùa lạnh thường có mưa phùn, tiết trời âm
u, độ ẩm cao; chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khoảng 4-50C Tháng 12 và tháng giêng hàng năm thường có gió mùa Đông Bắc tràn về, nên đây thường là những tháng lạnh nhất, có sương muối, nhiệt độ có lúc xuống dưới 00C Sương muối thường xuyên xảy ra từng đợt từ 1-2 ngày, đôi khi lên tới 4-5 ngày Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 Nhiệt độ cao nhất trong tháng 5 và tháng 6, trung bình lên tới 360 C Sau tháng 7 nhiệt độ giảm dần, trung bình khoảng từ 20-250C Vào khoảng giữa tháng 4 và tháng 5, do sự chuyển tiếp giữa mùa nóng và mùa lạnh, nên hàng năm dễ xảy ra mưa đá
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1500mm-1900mm Có những năm mưa nhiều, thường gây lũ lụt cục bộ; ở các vùng thượng nguồn, đất ruộng và rẫy dễ bị rửa trôi bạc màu, gây hư hại cho cây cối, mùa màng, ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt của nhân dân [13]
Độ dốc trung bình của sông Bắc Vọng khoảng 0,0090, lưu lượng nước bình quân 25m3/giây; có nhiều quãng sông hiểm trở, nhiều thác ghềnh
Sông Quây Sơn có hai nhánh chính đều bắt nguồn từ Trung Quốc, chiều dài khoảng 76 km Nhánh lớn nhất chảy qua xã Ngọc Khê; nhánh thứ hai, còn gọi là sông Tà Pè, chảy theo hướng Đông Nam, qua xã Phong Nậm, Ngọc Khê, hợp lưu
Trang 28với nhánh chính tại Khả Mong, xã Ngọc Khê, chảy qua các xã Đình Phong, Chí Viễn, Đàm Thủy qua huyện Hạ Lang rồi chảy sang Trung Quốc Lòng sông tuy không rộng nhưng sâu, nước chảy xiết, độ dốc bình quân là 0,010, có nhiều thác ghềnh như thác Khoang (Thoong Khoang), xã Ngọc Khê, cao 10 m; thác Gót (Thoong Gót) xã Chí Viễn, cao trên 20 m
Đặc biệt là thác Bản Giốc, xã Đàm Thủy, có độ cao trên 50 m; thác có 2 nhánh: nhánh bên phải dòng nước đổ thẳng xuống vực, nhánh bên trái dòng nước hạ dần thành ba bậc, nối tiếp nhau thành một dòng chảy, do độ dốc lớn, dòng chảy đổ xuống vực sâu, tung bọt trắng xóa và bay lưng chừng núi, hơi nước bốc lên, tạo những màn sương mù huyền ảo, như những dải lụa trắng vắt ngang sườn núi, vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng
Do điều kiện địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, nên phần lớn các con sông, con suối bắt nguồn từ phía Tây Bắc chảy theo hướng Đông Nam qua các vùng núi đá vôi, dọc các con sông (Bắc Vọng, Quây Sơn,…) có nhiều thác ghềnh, nước chảy xiết Lợi dụng sức nước, nhân dân đã làm những “cọn” nước đưa nước từ sông, suối lên độ cao từ 5-10 m cung cấp nước tưới cho hàng trăm ha lúa và các loại cây trồng khác
Các dòng sông lớn như Quây Sơn, Bắc Vọng và nhiều suối, ao, hồ là nguồn lợi thủy sản dồi dào Diện tích mặt nước toàn huyện là 56,9 ha, chiếm 1,87% diện tích tự nhiên Nơi đây có nhiều loại cá quý, có giá trị kinh tế cao như cá chiết (có con nặng tới chục kilôgam), cá chép, cá trầm xanh, cá chuối, ba ba,… Đặc biệt là cá trầm hương (ở vực Lũng Đính; nay thuộc xã Đình Phong), thơm ngon nổi tiếng nhất vùng Cá nặng chừng 1-2 kilôgam, vẩy trắng, gần mang có một vòng vẩy điểm màu xanh cửu long Đây là loại cá đặc sản của huyện Trùng Khánh
Hàng năm, nhân dân trong vùng dọc các con sông Bắc Vọng, Quây Sơn và những suối lớn nhỏ đã đánh bắt hàng chục tấn tôm, cá các loại, phục vụ sinh hoạt của nhân dân địa phương [13]
Trang 294.1.1.5 Tài nguyên rừng, khoáng sản và đất đai
b, Tài nguyên khoáng sản
Dưới lòng đất có nhiều loại khoáng sản, trung bình cứ 14,5 km2 có 1 điểm khoáng sản, trong đó có nhiều loại kháng sản quý như măng gan, bô xít, thạch anh, Đá ngọc bích có nhiều ở Bản Piên xã Phong Châu; đá có độ bền, đẹp (từng được khai thác làm vật liệu góp phần xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh) Măng gan có nhiều ở các xã Lăng Hiếu, Phong Châu, Đình Phong, Thân Giáp Trong những năm 1940, Nhật đã khai thác những mỏ than lộ thiên ở Hiếu Lễ, Phong Châu, Ngọc Khê…, mỏ diêm tiêu ở Bản Quan (xã Phong Châu) [13]
4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Trùng Khánh
4.1.2.1 Đất đai
Tổng diện tích đất nông nghiệp của Trùng Khánh là 38.798,40 ha, với nhiều cánh đồng màu mỡ lớn nhỏ Dọc theo sông Quây Sơn là những cánh đồng trải dài, màu mỡ, như: cánh đồng xã Ngọc Khê, dài gần 10 km, rộng 2 km, đặc biệt là cánh đồng xã Đình Phong do phù sa dòng sông Quây Sơn bồi đắp, rất màu mỡ Người dân quanh vùng thường lưu truyền câu ca “Quỳnh Lâu Lũng Đính đa hào phú” chính là để chỉ sự trù phú của dân cư vùng đất này Bên cạnh đó còn có các cánh đồng Chí Viễn, Đàm Thủy Dọc theo sông Bắc Vọng là những cánh đồng xã Trung Phúc, Thông Huề, Thân Giáp,…Ngoài ra còn có các cánh đồng lúa dựa vào nguồn nước tưới chủ yếu là các con suối và nước tự nhiên, như: Lăng Hiếu, Lăng Yên,
Trang 30Phong Châu, Bồng Sơn, Cao Thăng, Đức Hồng, Đoài Côn Những cánh đồng lúa trên là nguồn cung cấp lương thực chủ yếu cho nhân dân huyện Trùng Khánh [13]
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Trùng Khánh
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Trang 31định 1956 với 90 học viên, tạo điều kiện cho 352 công nhân nữ đi lao động trong nước, 02 công nhân lao động nước ngoài [6]
Bảng 4.2: Tình hình lao động, nhân khẩu của huyện Trùng Khánh
Chỉ tiêu
Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Tốc độ phát
triển (%)
Số lượng (người)
Cơ cấu (%)
Số lượng (người)
Cơ cấu (%)
Số lượng (người)
Cơ cấu (%)
đã hoàn thành và nghiệm thu Công tác tu sửa các tuyến đường giao thông được triển khai kịp thời, trong năm tiến hành duy tu 13 tuyến đường giao thông, cơ bản đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân [6]
Trang 32b, Công trình công cộng
Trong năm 2015 trên địa bàn đã triển khai thực hiện 158 công trình, nhìn chung tình hình triển khai các dự án, công trình XDCB đều được thực hiện đúng trình tự, đúng tiến đọ đề ra Tuy nhiên vẫn còn gặp phải những hạn chế như năng lực quản lý của chủ đầu tư, năng lực của một số đơn vị tư vấn, dự án lập ra chưa sát với thực tế, công tác kiểm tra giám sát chưa được thực hiện chặt chẽ…
Thực hiện quyết định 22 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ nhà ở cho người
có công, huyện đã cho thi công xây mới và hoàn thành 30/30 nhà được phân bổ kinh phí cuối năm 2014 với tổng số tiền hỗ trợ là 1,2 tỷ đồng [6]
c, Công trình giáo dục, y tế
Giáo dục
Toàn huyện hiện có 65 trường học, 477 lớp học ( tăng 7 lớp) với tổng số học sinh là 10.158 em ( tăng 308 em so với năm học trước, chủ yếu là tăng ở bậc học mầm non) Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học được tăng cường, bổ sung hoàn thiện đáp ứng được nhu cầu dạy và học
Thực hiện chương trình xây dựng trường Chuẩn Quốc gia, UBND huyện đã tập trung đầu tư xây dựng các hạng mục công trình cổng, hàng rào, nhà hội đồng,……theo tiêu chí, với tổng số tiền trên 700 triệu đồng , vận động quyên góp trên 180 triệu đồng Tuy nhiên kết quả không đạt được theo kế hoạch đề ra [6]
Y tế
Trong những năm vừa qua, các đơn vị y tế trên địa bàn huyện đã thực hiện tốt các công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho người dân, chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh, triển khai các chương trình y tế trên địa bàn… thực hiện các chương trình, dự án thuộc chương trình dự án Quốc gia về y tế, đến nay đã trình tỉnh công nhận 2 xã là Phong Châu và Chí Viễn đạt tiêu chí Quốc gia về y tế
Bên cạnh đó, lĩnh vực y tế vẫn còn một số tồn tại nhất định như công tác thanh, kiểm tra chưa kiên quyết, công tác khám chữa bệnh còn nhiều bất cập,cơ sở
hạ tầng tuy đã được đầu tư nâng cấp nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân [6]
Trang 334.1.2.4 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Trùng Khánh
Bảng 4.3: Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Trùng Khánh
(Giá thực tế)
Ngành
Số lượng (tỷ đồng)
Cơ cấu (%)
Số lượng (tỷ đồng)
Cơ cấu (%)
Số lượng (tỷ đồng)
Cơ cấu (%)
Bảng 4.4: Kết quả thực hiện chỉ tiêu sản xuất nông lâm nghiệp
Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Sản lượng
( tấn)
Cơ cấu (%)
Sản lượng ( tấn)
Cơ cấu (%)
Sản lượng ( tấn)
Cơ cấu (%)
Trang 34Công tác tiêm phòng dịch: Trong năm đã tổ chức tiêm phòng các loại vắc xin cho đàn gia súc, gia cầm hai đợt Các loại vắc xin như: Tụ huyết trùng trâu bò, lở mồm long móng, Dịch tả lợn, vắc xin tai xanh (Lợn) và vắc xin Niu cát xơn,…[6]
b Công nghiệp
Trên địa bàn huyện có 3 doanh nghiệp khai thác quặng măng gan với 5 điểm
mỏ (đã dừng hoạt động); 3 điểm mỏ khai thác đá; 33 cơ sở sản xuất gạch xi măng (tuy nhiên một số cơ sở hoạt động cầm chừng do thiếu nguồn nguyên liệu đầu vào) Sản lượng năm 2015 có tăng so với năm 2014, cụ thể như sau: khai thác cát 10.500
m3, tăng 1.120 m3; khai thác đá 60.100 m3, tăng 41.300 m3 ; sản xuất gạch xi măng 267.500 viên, tăng 27.500 viên, giá trị sản lượng đạt 23,06 tỷ đồng, tăng 10,26 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2014 [6]
c Thương mại - dịch vụ
Hoạt động kinh doanh tại chợ trung tâm thị trấn, thị tứ và hoạt động thương mại, dịch vụ tại khu du lịch Thác bản Giốc khá phát triển, đặc biệt trong dịp nghỉ lễ, nghỉ tết, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, đã góp phần tăng giá trị thương mại trên địa bàn, tăng thu ngân sách huyện Tuy nhiên, công tác quản lý, phát triển chợ hiện nay vẫn còn một số hạn chế, tồn tại nhất định: Hoạt động của các ban quản
lý chợ chưa hiệu quả; cách bố trí, sắp xếp các gian hàng chưa hợp lý, công tác thu gom rác thải, vệ sinh môi trường chưa được đảm bảo, tại các chợ chưa có bãi trông giữ xe, hiện tượng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè làm nơi buôn bán gây mất trật tự
an toàn giao thông vẫn còn xảy ra…[6]
Trang 354.2 Thực trạng sản xuất & phát triển hạt dẻ Trùng Khánh
Qua điều tra 2 xã cho thấy tình hình sản xuất hạt dẻ như sau:
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra, năm 2016)
Có thể mô tả tổng quan chuỗi giá trị hạt dẻ Trùng Khánh như sau:
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra, năm 2016)
Hình 4.2: Sơ đồ chuỗi giá trị hạt dẻ Trùng Khánh
4.2.2 Người sản xuất
4.2.2.1 Đặc điểm chung
Hầu hết các hộ nông dân đều sản xuất theo quy mô vừa và nhỏ, với diện tích
từ 1500m2 – 8000m2 Trong đó, số hộ có diện tích từ 1500 – 2000m2 là 20 hộ chiếm 33,34%; số hộ có diện tích lớn hơn 2000m2 là 40 hộ chiếm 66,67%
Bán buôn
• Người bán buôn tại chợ địa phương,thành phố
Bán lẻ
• Người bán lẻ tại chợ địa phương, thành phố
• Các cửa hàng
Người tiêu dùng
• Cá nhân
• Hộ gia đình
Trang 36Người sản xuất
Người thu mua Người bán buôn Người bán lẻ Người tiêudùng
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra, năm 2016)
Hình 4.3 : Sơ đồ khách hàng và các mối quan hệ
Qua sơ đồ trên việc tiêu thụ hạt dẻ của nông dân 2 xã Đình Minh và Phong
Châu chủ yếu qua các kênh sau:
- Người thu mua: kênh này chiếm 25%, chủ yếu là nông dân bán cho các hộ
thu mua nhỏ tại địa phương hoặc những người thu mua quen biết tại huyện khác,tại
thành phố Người thu gom đến mua sản phẩm của nông dân ngay tại vườn để phân
phối lại cho các hộ bán buôn, bán lẻ hoặc có thể bán trực tiếp cho người tiêu dùng
- Người bán buôn: kênh tiêu thụ này chiếm 18,34%, người bán buôn có thể
mua lại từ các hộ thu mua hoặc sản phẩm do người nông dân chuyển đến cho họ
Hộ bán buôn có thể bán lại cho hộ bán lẻ trong tỉnh hoặc ngoài tỉnh
- Người bán lẻ: kênh này chiếm 23,33% Chủ yếu là hộ bán lẻ tại chợ thị trấn
Trùng Khánh,có một số là người bán lẻ tại thành phố
- Người tiêu dùng: kênh này chiếm tỉ lệ cao nhất 33,33% Người nông dân
mang sản phẩm bán tại chợ địa phương (chợ thị trấn Trùng khánh) hoặc đến mùa
thu hoạch người tiêu dùng đến mua tận vườn Bán trực tiếp như vậy đem lại thu
nhập trực tiếp cho người dân tuy nhiên dễ bị ép giá và phụ thuộc vào giá cả chung
Trang 37Bảng 4.6: Tình hình cơ bản của các hộ điều tra
Châu
Xã Đình Minh
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra, năm 2016)
Qua điều tra 60 hộ của 2 xã ta thấy tình hình thu chi của hộ sản xuất hạt dẻ Trùng khánh như sau:
- Về tổng chi: chi phí trung bình 1 năm của hộ là 228,33 (nghìn đồng/hộ), trong đó: chi phí cho phân bón chiếm 31,09% trong tổng chi hàng năm; chi phí về chăm sóc dẻ chiếm 50,36% trong tổng chi; chi phí cho thu hoạch dẻ chiếm 18,55% trong tổng chi phí
Trang 38- Về tổng thu: thu hoạch về hạt dẻ qua 3 năm có sự thay đổi cụ thể là năm
2014 tăng lên 5,12% so với năm 2013 và năm 2015 tăng 3,71% so với năm 2014
- Về thu nhập của hộ: thu nhập về hạt dẻ của hộ qua 3 năm có sự thay đổi như sau: năm 2014 có chiều hướng tăng và cao hơn năm 2013 5,17% tức là 1.366,67 (nghìn đồng/hộ); năm 2015 tăng lên 3,74% so với năm 2014 tức là tăng 1.041,67 (nghìn đồng/hộ)
4.2.2.3 Giá bán của hộ trồng dẻ
Cây dẻ được trồng ở Trùng Khánh từ những năm 1920 – 1925, được nhân giống bằng 2 phương pháp chính là nhân giống hữu tính (trồng bằng hạt) và nhân giống vô tính (ghép mắt, ghép cành…) Tuy nhiên, dẻ được trồng bằng hạt hay bằng phương pháp ghép thì cây đều có thời gian khai thác khác nhau cụ thể là:
Bảng 4.8: Phân loại hạt dẻ
Loại 2 – hạt trung bình 30 – 50 năm 15 – 30 năm
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra, năm 2016)
Thường thì cây dẻ trồng bằng phương pháp nhân giống hữu tính sống đến 80 –
100 năm tuổi mới bắt đầu suy yếu còn cây dẻ trồng bằng phương pháp nhân vô tính thì 40 – 50 năm đã bắt đầu suy yếu
Giá bán hạt dẻ của hộ nông dân được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4.9: Giá bán hạt dẻ của hộ sản xuất
Trang 39Qua bảng giá cả của hộ sản xuất hạt dẻ Trùng Khánh ta thấy: thường thì giá đầu vụ sẽ cao và cụ thể hạt dẻ trong 3 năm nghiên cứu giá dẻ đầu vụ luôn cao hơn
85 (nghìn đồng/kg/hộ), giá cuối vụ thấp hơn một chút và vào khoảng trên 77(nghìn đồng/kg/hộ), giá dẻ cao nhất trong năm đạt từ 95 – 98 (nghìn đồng/kg/hộ), thấp nhất đạt 64 – 70 (nghìn đồng/kg/hộ)
Người dân làm ra sản phẩm nhưng khi đem ra thị trường thì giá bán lại bị phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Thứ nhất là do thời tiết, thời tiết mưa nắng thất thường gây ra nhiều bệnh ở cây làm giảm chất lượng quả, nghiêm trọng hơn là cây có thể bị khô và chết Ngoài
ra, khi người dân để quả chín rụng mới thu hoạch nhưng thời tiết mưa hay ẩm làm chất lượng hạt không đồng đều
- Thứ hai là do ảnh hưởng của hạt dẻ Trung Quốc: Hạt dẻ Trung Quốc giá thấp chỉ 50.000 - 70.000 đồng/kg hoặc 100 hạt đã tách vỏ, sấy khô ăn ngay nên nhiều khi người dân cũng bị éo giá theo
Cách thu hoạch hạt dẻ
Hạt dẻ có 2 cách thu hoạch đó là:
- Nhặt hạt dẻ: theo cách này thì sau khi chờ cho quả dẻ trên cây chín đầy đủ,
tự động nứt ra, nhặt lấy hạt dẻ rụng xuống đất Thường áp dụng cho cây dẻ mọc cao, thu hái bằng sức người không thuận lợi
Thu theo cách này có ưu điểm là phát dục đầy đủ, hình dáng bên ngoài và hương
vị đều tốt, bảo quản được lâu dài, tránh gây tổn thương cho cây
Nhưng nhược điểm đó là thời gian thu hái kéo dài do quả chín tự nhiên không đồng đều cùng lúc, quả dẻ đễ bị tổn thất, nếu gặp mưa hạt dẻ đễ bị lấm bùn,ảnh hưởng tới vẻ đẹp bên ngoài và nếu nhặt không kịp thời sẽ ảnh hưởng đến chất lượng
và khó bảo quản hạt dẻ
- Đập quả dẻ: theo cách này thì sau khi chờ quả dẻ trên cây phát dục đầy đủ và 1/3 số quả dẻ trên cây từ màu xanh chuyển sang màu vàng, hơi bắt đầu nứt ra, dùng sào tre đập rụng toàn bộ quả 1 lượt, chất đống mấy ngày chờ đại bộ phận quả dẻ toác ra mới lấy hạt dẻ Tuy nhiên dùng phương pháp này đòi hỏi phải nắm vững mức độ chín của quả để quyết định thu hái
Ưu điểm: thời gian thu hái tập trung, tiết kiệm sức lao động