1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm toàn diện và vận dụng vào quản trị rủi ro tín dụng

19 1K 33

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 113,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là điều vô cùng quan trọng giúp BIDV Lào Cai đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững cũng như thực hiện thành công các hoạt động hợp tác, liên doanh liên kết trong xu th

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Ngân hàng thương mại là một trong những ngành kinh doanh ra đời sớm nhất, trong thời kỳ đầu hình thành nghiệp vụ cơ bản của nó là nhận tiền gửi và cho vay Ngày nay các ngân hàng thương mại phát triển rất nhanh cả về số lượng và chất lượng, nghiệp vụ cũng trở nên vô cùng phong phú và đa dạng, tuy nhiên hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động truyền thống, mang lại thu nhập không nhỏ cho các ngân hàng Song hoạt động này chứa đựng rủi ro rất cao, gây ra hậu quả nặng nề không chỉ đối với bản thân ngân hàng mà còn đối với cả doanh nghiệp và nền kinh tế Vì vậy, nâng cao hiệu quả đối với công tác quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại thực sự cần thiết đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của bản thân mỗi ngân hàng

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Lào Cai ( BIDV Lào Cai) đã hoạt động với thời gian dài, liên tục tăng trưởng, phát triển trở thành Chi nhánh ngân hàng thương mại hàng đầu trên địa bàn tỉnh Lào Cai Tuy nhiên thời gian qua, trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động tiêu cực do cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ nước Mỹ đã gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói chung và BIDV Lào Cai nói riêng Đặt ra yêu cầu cấp bách là rủi ro tín dụng phải được quản lý, kiểm soát một cách bài bản và có hiệu quả, đảm bảo tín dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh từ rủi ro tín dụng Đây là điều vô cùng quan trọng giúp BIDV Lào Cai đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững cũng như thực hiện thành công các hoạt động hợp tác, liên doanh liên kết trong xu thế hội nhập nên em đã chọn đề tài “Quan điểm toàn diện và vận dụng vào

quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Lào Cai ".

Trang 2

Phần I: LÝ LUẬN CHUNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN:

1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

1.1 Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến

- Mối liên hệ: là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định sự tác động và chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt các yếu tố của mỗi sự vật hiện tượng hay giữa các mặt các yếu tố của mỗi sự vật hiện tượng trong thế giới

- Mối liên hệ phổ biến: là phạm trù triết học dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật hiện tượng của thế giới đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại và những sự vật hiện tượng của thế giới trong đó những những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồ tại ở mọi sự vật hiện tượng của thế giới nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng

1.2 Tính chất của các mối liên hệ

- Tính khách quan của các mối liên hệ: Có nghĩa là các mối liên hệ là cái vốn có của bản thân thế giới bản thân các sự vật tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý muốn của con người, con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng những mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình Mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng là khách quan vì các sự vật hiện tượng là những dạng cụ thể của vật chất mà vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người cho nên mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng khách quan

- Tính phổ biến của các mối liên hệ: Có nghĩa là tất cả các sự vật hiện tượng trong thế giới đều có liên hệ với nhau và ngay trong mỗi sự vật cũng có mối liên hệ giữa các bộ phận cấu thành Mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng là phổ biến vì thế giới là một thể thống nhất trong đó mỗi sự vật hiện tượng là một hệ thống cấu trúc chặt chẽ vì thế mà chúng luôn có mối liên hệ

Trang 3

hữu cơ với nhau hay nói cách khác mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng là phổ biến

- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ có nghĩa là nó diễn ra đa dạng

cả về hình thức trình độ, phạm vi tính chất…Mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng là đa dạng, phong phú bởi vì các sự vật hiện tượng đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau mặt khác cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau ở những giai đoạn phát triển khác nhau thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau

- Biểu hiện đa dạng phong phú của các mối liên hệ của các sự vật hiện tượng: Có mối liên hệ bên trong và bên ngoài sự vật; Mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu; Mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp

1.3 Ý nghĩa phương pháp luận:

Quan điểm toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng của phép biện chứng duy vật Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

- Quan điểm toàn diện đòi hỏi, muốn nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng chúng ta cần phải thực hiện các yêu cầu sau: Thứ nhất, phải xem xét sự tồn tại của sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, thuộc tính khác nhau trong tính chỉnh thể của sự vật, hiện tượng

ấy và trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác; tránh cách xem xét phiến diện một chiều, có như vậy mới nhận thức được bản chất và các quy luật của sự vật, hiện tượng; Thứ hai, phải xem xét, đánh giá từng mặt, từng mối liên hệ, và phải nắm được mối liên hệ cơ bản, bản chất quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, tránh chủ nghĩa chiết trung, kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ, đồng thời phải tránh sai lầm của thuật ngụy biện, coi cái bản chất thành cái không bản chất,

Trang 4

cái không cơ bản thành cơ bản hoặc ngược lại, dẫn đến nhận thức sai lệch, xuyên tạc bản chất của sự vật, hiện tượng

- Trong nhận thức và thực tiễn cần phải có những quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm lịch sử cụ thể yêu cầu khi nhận thức sự vật hiện tượng phải gắn với điều kiện lịch sử ra đời tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng

2 Quan điểm toàn diện trong triết học Mác - Lênin

Trong nhận thức quan điểm toàn diện là yêu cầu tất yếu của phương pháp tiếp cận khoa học, cho phép tính đến mọi khả năng của vận động, phát triển

có thể có của sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu, nghĩa là cần xem xét sự vật, hiện tượng trong một chỉnh thể thống nhất với tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, cùng các mối liên hệ của chúng Lênin nhấn mạnh:

“Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó”, phải tính đến

“tổng hòa những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với những sự vật khác” Tuy nhiên, cũng theo V.I.Lênin, chúng ta không thể làm được điều đó hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng không phạm sai lầm và cứng nhắc Sở dĩ chúng ta không làm được điều đó hoàn toàn đầy đủ bởi trong quá trình vận động, phát triển, sự vật, hiện tượng phải trải qua nhiều giai đoạn tồn tại, phát triển khác nhau, trong mỗi giai đoạn đó không phải lúc nào sự vật, hiện tượng cũng bộc lộ tất cả các mối liên hệ bên trong và bên ngoài của nó Hơn nữa, tất cả những mối liên hệ ấy chỉ được biểu hiện ra trong những điều kiện nhất định Và bản thân con người, những chủ thể nhận thức với những phẩm chất và năng lực của mình luôn bị chế ước bởi những điều kiện xã hội lịch sử, do đó không thể bao quát được hết những mối liên hệ bên trong và bên ngoài các sự vật, hiện tượng

Quan điểm toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện, một chiều; đối lập với chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện Chủ nghĩa chiết trung cũng chú

ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật, hiện tượng nhưng không rút ra

Trang 5

được mặt bản chất, mối liên hệ cơ bản của sự vật, hiện tượng, mà xem xét bình quân, kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau, tạo thành một

mớ hỗn tạp các sự kiện, cuối cùng sẽ lung túng, mất phương hướng và bất lực trước chúng Thuật ngụy biện đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất Cả chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện đều là những biểu hiện của phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét

sự việc, hiện tượng Sự khác nhau giữa chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện với phép biện chứng duy vật ở chỗ, nếu thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung áp dụng chủ quan tính linh hoạt toàn diện, phổ biến của các khái niệm, thì phép biện chứng duy vật phản ánh sự vận động, phát triển trong tính toàn diện của quá trình vật chất và sự thống nhất của quá trình đó Từ những phân tích trên cho thấy, logic của quá trình hình thành quan điểm toàn diện trong nhận thức, xem xét sự vật, hiện tượng sẽ phải trải qua nhiều giai đoạn,

cơ bản là đi từ quan niệm ban đầu về cái toàn thể đến nhận thức mỗi mặt, mỗi liên hệ cụ thể của sự vật, hiện tượng rồi đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật, hiện tượng đó và cuối cùng đi tới khái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của sự vật, hiện tượng

Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật, hiện tượng chúng ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng với nhu cầu của con người rất đa dạng, trong mỗi hoàn cảnh nhất định, con người chỉ phản ánh một số mối liên hệ nào đó của sự vật, hiện tượng phù hợp với nhu cầu nhất định của mình, nên nhận thức của con người về sự vật, hiện tượng mang tính tương đối, không đầy đủ trọn vẹn Nắm được điều đó sẽ tránh tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật, hiện tượng và tránh coi những tri thức đã có là những chân lý bất biến, tuyệt đối, cuối cùng về sự vật, hiện tượng mà không bổ sung, phát triển Bởi vậy, khi xem xét toàn diện tất cả các mặt của những mối quan

hệ của sự vật, hiện tượng phải chú ý đến sự phát triển cụ thể của các quan hệ

đó Chỉ có như vậy mới thấy được vai trò của các mặt trong từng giai đoạn

Trang 6

cũng như của toàn bộ quá trình vận động, phát triển của từng mối quan hệ cụ thể của sự vật, hiện tượng Theo V.I.Lênin, phép biện chứng đòi hỏi người ta phải chú ý đến tất cả các mặt của những mối quan hệ đó, chứ không phải lấy một mẩu ở chỗ này, một mẩu ở chỗ kia Như vậy xem xét toàn diện nhưng không “bình quân, dàn đều” mà có “trọng tâm, trọng điểm”, phải tìm ra vị trí từng mặt, từng yếu tố, từng mối liên hệ ấy trong tổng thể của chúng, phải từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật, hiện tượng để khái quát, rút ta mối liên hệ chủ yếu nhất, bản chất nhất, quan trọng nhất chi phối sự tồn tại và phát triển của chúng

Từ quan điểm toàn diện trong nhận thức, chúng ta rút ta cách nhìn đồng

bộ trong hoạt động thực tiễn Theo đó, muốn cải tạo sự vật, hiện tượng phải

áp dụng đồng bộ một hệ thống các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động làm thay đổi các mặt, các mối liên hệ tương ứng của sự vật, hiện tượng Song trong từng bước, từng giai đoạn phải nắm đúng khâu trọng tâm, then chốt để tập trung lực lượng giải quyết

3 Nếu không tuân thủ những đòi hỏi của quan điểm toàn diện thì chúng ta sẽ mắc phải các sai lầm sau:

Thực hiện quan điểm toàn diện góp phần khắc phục bệnh phiến diện, một chiều chỉ nhìn thấy một mặt, một khía cạnh, mà không thấy đầy đủ các mặt, các khía cạnh khác của vấn đề hoặc có khi tuy có chú ý đến nhiều mặt nhưng không nhìn thấy được mặt bản chất của sự vật Quan điểm toàn diện cũng góp phần khắc phục lối suy nghĩ giản đơn

Quan điểm toàn diện còn có ý nghĩa trong việc chống chủ nghĩa chiết Trung (hệ thống quan điểm máy móc pha trộn những yếu tố thuộc những quan điểm triết học, lí luận chính trị khác nhau, đối lập nhau) mà đặc trưng của nó nhân danh quan điểm toàn diện để kết hợp một cách vô nguyên tắc những mặt khác nhau mà thực chất là không thể kết hợp với nhau được

Trang 7

Phần II VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT

TRIỂN (BIDV) LÀO CAI

1 Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Lào Cai

1.1 Chính sách quản trị rủi ro tín dụng (RRTD) và công tác tổ chức quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Lào Cai

* Chính sách quản trị rủi ro của BIDV

Theo quan điểm của BIDV về rủi ro tín dụng, rủi ro tín dụng của khách hàng phải được quản lý theo nguyên tắc toàn diện, liên tục ở tất cả các giai đoạn có khả năng phát sinh rủi ro tín dụng, thông qua các quy định cụ thể của từng loại nghiệp vụ tín dụng

* Tổ chức quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV

Tổ chức vận hành công tác quản trị RRTD tại BIDV Lào Cai tập trung đầu mối tại phòng quản lý rủi ro Phòng quản lý rủi ro chịu sự giám sát chỉ đạo trực tiếp từ Ban giám đốc, đồng thời có liên hệ trực tuyến với Ban quản lý RRTD và Ban quản lý rủi ro thị trường và tác nghiệp tại Hội sở chính Bên cạnh đó, mối quan hệ tương hỗ với các phòng ban khác, đặc biệt Phòng quan

hệ khách hàng và phòng quản trị tín dụng tăng cường hơn nữa công tác quản trị RRTD tại BIDV Lào Cai

Nhìn chung, mô hình được xây dựng và vận hành theo dự án hiện đại hóa ngân hàng, phù hợp chuẩn mực và thông lệ quốc tế Bộ phận quản lý rủi

ro được hình thành độc lập tại Hội sở và từng Chi nhánh, có mối quan hệ trực tuyến với nhau, thuận lợi cho công tác theo dõi giám sát RRTD cũng như đề xuất ban hành các chính sách, chiến lược quản trị RRTD

1.2 Tình hình thực hiện các nội dung quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Lào Cai

Quá trình quản trị RRTD tại BIDV Lào Cai theo 4 nội dung cơ bản : Nhận diện RRTD; Đo lường RRTD; Kiểm soát RRTD; Tài trợ RRTD

a Công tác nhận diện rủi ro tín dụng:

Quá trình nhận diện RRTD tại BIDV Lào Cai được thực hiện theo trình tự:

Trang 8

- Nhận diện dấu hiệu rủi ro : Dấu hiệu rủi ro được cập nhật hàng quý theo trình tự :

(1) Từng cán bộ liên quan (gồm cán bộ quan hệ khách hàng, cán bộ quản

lý rủi ro, cán bộ quản trị tín dụng) thực hiện thống kê các dấu hiệu rủi ro trong quá trình tác nghiệp;

(2) Trưởng phòng thực hiện tổng hợp đánh giá kết quả thống kê cán bộ phòng gửi về Phòng quản lý rủi ro;

(3) Phòng quản lý rủi ro tập hợp đánh giá cho toàn Chi nhánh và trình ban giám đốc phê duyệt;

(4) Sau khi được phê duyệt báo cáo dấu hiệu rủi ro sẽ được gửi về Ban quản lý rủi ro tác nghiệp và thị trường để tổng hợp cho toàn hệ thống Dấu hiệu rủi ro được thống kê theo số lượng phát sinh và có đưa ra nguyên nhân

và biện pháp khắc phục

- Đánh giá xếp loại rủi ro : Sau khi tổng hợp được các dấu hiệu RRTD, Phòng quản lý rủi ro tiến hành đánh giá xếp loại rủi ro, qua đó có chính sách điều hành phù hợp để hạn chế rủi ro tín dụng phát sinh

Tuy nhiên có thể nhận thấy công tác nhận diện rủi ro tín dụng tại BIDV chưa đi vào các dấu hiệu trực tiếp phản ánh rủi ro của khách hàng thông qua tình hình thực tế kinh doanh của khách hàng

b Công tác đo lường rủi ro tín dụng BIDV Lào Cai thực hiện chọn lọc khách hàng vay vốn thông qua hệ thống định hạng xếp loại khách hàng nhằm định lượng mức độ rủi ro cho từng khách hàng từ đó có chính sách cho vay phù hợp với mức độ rủi ro của từng khách hàng

Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được sử dụng trong các quy trình quản lý rủi ro tín dụng sau: ban hành chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, giám sát rủi ro danh mục tín dụng, lập báo cáo quản trị rủi ro, chính sách dự phòng rủi ro tín dụng, xác định khung lãi suất chuẩn

Hệ thống chấm điểm xếp hạng khách hàng là tổ chức kinh tế được thực hiện qua 06 bước:

Bước 1 - Xác định ngành kinh tế

Bước 2 – Xác định Quy mô

Trang 9

Bước 3- Xác định loại hình sở hữu khách hàng

Bước 4 - Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính

Bước 5 - Chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính

Bước 6 -Tổng hợp điểm và xếp hạng

Tuy nhiên kết cấu của hệ thống này vẫn còn nhiều bất cập, kết quả chấm điểm phân loại nợ từ hệ thống so với cách phân loại nhóm nợ theo qui định của Ngân hàng Nhà nước vẫn còn có nhiều khác biệt, cần hoàn thiện chỉnh sửa để phù hợp hơn

c Công tác kiểm soát rủi ro tín dụng

Các kỹ thuật kiểm soát RRTD được thể hiện khá rõ nét trong hệ thống các văn bản thực thi chính sách tín dụng của BIDV như: Chính sách khách hàng; Quy trình cấp tín dụng; Chính sách định giá tài sản đảm bảo; Quy chế phân cấp ủy quyền trong phán quyết tín dụng; Hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro; Công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ

- Né tránh rủi ro : Kỹ thuật này được thể hiện khá rõ nét thông qua chính sách khách hàng của BIDV Lào Cai Mục tiêu chính sách nhằm chọn lọc khách hàng vay vốn, chủ động né tránh rủi ro tín dụng bằng chính sách cấp tín dụng riêng cho từng nhóm khách hàng

- Kỹ thuật ngăn ngừa rủi ro: Kỹ thuật này được BIDV Lào Cai triển khai

áp dụng thông qua quy trình cấp tín dụng chặt chẽ qua nhiều công đoạn xử lý đảm bảo sự tách bạch giữa các chức năng và quy chế phân cấp ủy quyền trong phán quyết tín dụng nhằm phát huy nguyên tắc bỏ phiếu trong quyết định cho vay

- Kỹ thuật giảm thiểu tổn thất: BIDV Lào Cai sử dụng kỹ thuật này cơ bản dựa vào tài sản đảm bảo với cơ chế linh hoạt trong việc cho phép mở rộng đối tượng tài sản đảm bảo và phương pháp định giá khoa học nhằm hạn chế thấp nhất sự trượt giá tài sản đảm bảo khả năng giảm thiểu tổn thất khi xảy ra RRTD, điều này cho thấy quan điểm rất tiến bộ của BIDV Lào Cai, có thể nhận thấy sự linh hoạt trong quá trình điều chỉnh chính sách này là một kênh giám sát RRTD rất hữu hiệu

- Đa dạng hoá rủi ro : Kỹ thuật này được BIDV triển khai thông qua định hướng công tác tín dụng trong từng thời kỳ nhằm xác định danh mục

Trang 10

lĩnh vực, ngành nghề và sản phẩm tín dụng phù hợp với sự thay đổi môi trường kinh doanh

- Một số biện pháp kiểm soát rủi ro khác :

+ Xây dựng hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro

+ Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ

Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế thị trường tài chính trong nước còn ở giai đoạn sơ khai, việc nghiên cứu áp dụng các công cụ tiên tiến khác còn chưa phổ biến thì đặc thù trên vẫn là tình hình chung của các NHTM hiện nay

1.3 Đánh giá chung công tác quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Lào Cai

1.3.1 Những kết quả đạt được trong công tác quản trị rủi ro tín dụng của BIDV Lào Cai

- Công tác định hướng tốt góp phần phòng ngừa RRTD;

- Xây dựng được mô hình quản trị RRTD tương đối chặt chẽ;

- Công tác nhận diện RRTD mang đến hiệu quả tích cực;

- Vận hành tốt hệ thống xếp hạng nội bộ;

- Thực hiện tốt công tác kiểm soát rủi ro tín dụng

1.3.2 Những hạn chế trong công tác quản trị rủi ro tín dụng của BIDV Lào Cai.

* Mô hình và hoạt động của bộ máy quản trị rủi ro chưa thực sự hiệu quả: Mặc dù phòng quản lý rủi ro tín dụng có ý kiến thẩm định độc lập Tuy nhiên vì vẫn thuộc sự quản lý của Ban Giám đốc, vẫn chịu sự điều hành và hưởng các lợi ích từ hoạt động của Chi nhánh, do đó không thể đảm bảo thẩm quyền và sự khách quan về các phân tích, nhận định đối với các khoản vay của khách hàng

* Công tác nhận diện rủi ro tín dụng chưa chú trọng nhận dạng đối tượng chính gây ra rủi ro là khách hàng

* Về quy trình chấm điểm và xếp hạng tín dụng khách hàng có một số mặt hạn chế sau:

Ngày đăng: 12/10/2016, 13:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w