Đảng bộ huyện đã vận dụng sáng tạo chủ trương đường lối của Đảng vào hoàn cảnh thực tế của địa phương nên đã từng bước giải quyết được những khó khăn và ổn định đời sống nhân dân, tạo đư
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN ĐỨC CƯỜNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn tốt
nghiệp với đề tài: Sự phát triển của kinh tế tiểu thủ công nghiệp làng Đồng
Kỵ tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến năm 2015 Tôi xin cam đoan đây là kết
quả của quá trình làm việc nghiêm túc và khoa học của bản thân tôi dựa trên những nguồn tài liệu tin cậy và có tham khảo các bài viết của các tác gả đi trước
Hà Nội, ngày 20/07/2016
Học viên
Nguyễn Thị Minh Lý
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÀNG ĐỒNG KỴ: CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP 8
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tư nhiên 8
1.2 Truyền thống lịch sử văn hóa và điều kiện dân cư 10
1.3 Một số hoạt động kinh tế của làng Đồng Kỵ trước năm 1986 18
Chương 2: LÀNG ĐỒNG KỴ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015 28
2.1 Bối cảnh 28
2.2 Hoạt động sản xuất 35
2.3 Hoạt động kinh doanh 45
2.4 Một số nhận xét đánh giá 50
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT 55
3.1 Thành tựu 55
3.2 Hạn chế 64
3.3 Phương hướng phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp làng Đồng Kỵ 66
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế - xã hội theo quan điểm đổi mới ở Việt Nam là quá trình giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng, động viên và tạo mọi điều kiện cho con người Việt Nam phát huy ý chí tự lực tự cường trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ra sức làm giàu cho mình và quê hương Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh con người và vì con người Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường, trong đó coi phát triển kinh tế là cơ sở để thực hiện chính sách xã hội và thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững
Bắc Ninh là một tỉnh nằm ở phía Đông Bắc của Đồng bằng Bắc Bộ, trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Quảng Ninh - Hải Phòng của miền Bắc Việt Nam Bắc Ninh nổi tiếng là vùng đất “văn vật”, “địa linh nhân kiệt” và là một địa phương có hơn 60 làng nghề nổi tiếng với những sản phẩm như: tranh Đông Hồ, giấy Phong Khê, đồ đồng Đại Bái, rèn Đa Hội, đồ gốm Phù Lãng, đồ gỗ mỹ nghệ Phù Khê, Đồng Kỵ (Đồng Quang), Hương Mạc… Trong số đó có một số sản phẩm từ nhiều trăm năm nay được khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng
Làng Đồng Kỵ là một làng cổ nằm bên dòng sông Ngũ Huyện Khê thơ mộng thuộc vùng đất Kinh Bắc Làng Đồng Kỵ nằm ở ngã ba giữa Hà Nội, Vĩnh Phúc và Bắc Ninh xưa; nằm ở cửa ngõ phía Bắc của Kinh thành Thăng Long và là phên dậu, hàng rào sự phát triển của thủ đô cả nước
Trước năm 1986 làng Đồng Kỵ cũng như bao làng khác trong cả nước
bị lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, đời sống của nhân dân vô cùng khó khăn Từ sau khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (từ năm 1986 đến nay), dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy Bắc Ninh,
Trang 5Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Từ Sơn, trong đó có làng Đồng Kỵ đã khắc phục khó khăn, quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới Đảng bộ huyện đã vận dụng sáng tạo chủ trương đường lối của Đảng vào hoàn cảnh thực tế của địa phương nên đã từng bước giải quyết được những khó khăn và ổn định đời sống nhân dân, tạo được những chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và thu được những thành tựu rất căn bản, tạo cơ sở nền tảng
để làng Đồng Kỵ tiếp tục phát triển trong thời kỳ đổi mới
Đảng bộ nhân dân làng Đồng Kỵ đã vận dụng đường lối đổi mới của Đảng hết sức đúng đắn trong việc xây dựng và phát triển kinh tế, biểu hiện trực tiếp của việc Cụ thể là việc xây dựng phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp trong các hộ gia đình Biểu hiện trực tiếp của việc phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp ở làng Đồng Kỵ là phát triển nghề mộc và nghề nấu rượu, trong đó nghề mộc là chủ yếu
Để thấy được sự phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp trong sự phát triển chung của nền kinh tế huyện cũng như đất nước ở làng Đồng Kỵ nên tôi
chọn đề tài: “Sự phát triển của kinh tế tiểu thủ công nghiệp làng Đồng Kỵ
tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến năm 2015” làm luận văn Thạc sĩ của mình
Thông qua đề tài tôi muốn phản ánh một cách đầy đủ rõ nét nhất về quá trình phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp ở làng Đồng Kỵ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Làng là một cộng đồng dân cư nông thôn của người Việt đã có lịch sử hàng mấy thiên niên kỉ Nghiên cứu, tìm hiểu về làng xã ở Việt Nam được xem là đề tài quen thuộc gần gũi trong văn chương, nghệ thuật và cả trong các công trình nghiên cứu lịch sử của các nhà khoa học
2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về làng
- Làng Nguyễn - Tìm hiểu làng xã Việt Nam do Diệp Đình Hoa chủ biên, nhà
xuất bản Khoa học xã hội, 1990 Cuốn sách nói về sự ra đời và biến đổi của
Trang 6làng Nguyễn Trong quá trình đấu tranh, xây dựng và phát triển về mọi mặt như văn hóa, giáo dục, kinh tế…
- Một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII – XIX của Nguyễn
Quang Ngọc, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, 1993 Tác phẩm đề cập đến bối cảnh kinh tế - xã hội ở Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX và sự xuất hiện loại làng buôn ở vùng đồng bằng Bắc Bộ như làng Đa Ngưu, Báo Đáp, Phù Lưu…
- Ninh Hiệp truyền thống và phát triển của Tô Duy Hợp, Nhà xuất bản Chính
trị, 1993 Tác phẩm tập trung nghiên cứu làng buôn vải nổi tiếng Ninh Hiệp xưa và nay
- Làng Yên Sở từ truyền thống đến hiện đại qua so sánh với nông thôn Hàn
Quốc của Jeong Nam Song, 1996 Tác phẩm so sánh làng quê truyền thống ở
Việt Nam với nông thôn bên Hàn Quốc, những điểm tương đồng và khác biệt
- Biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội ở một xã châu thổ sông Hồng: xã Phụng
Thương, Hà Tây 1945 - 1995 Luận án tiến sĩ lịch sử Việt Nam của Bùi Hồng
Vạn, Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, 2002
- Định hướng phát triển làng xã Đồng Bằng sông Hồng ngày nay, của Tô Duy
Hợp (2003), nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội
- Làng nghề truyền thống Việt Nam của Bùi Văn Vượng (2002), nhà xuất bản
Văn hóa thông tin Trình bày những nét khái quát nhất về làng nghề truyền thống ở Việt Nam
- Bảo tồn và phát triển làng nghề trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại
hóa của Ts Mai Thế Hởn (2003), Nhà xuất bản quốc gia Tác phẩm chủ yếu
trình bày quá trình bảo tồn và phát triển làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa
- Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa của Ts
Dương Bá Phương (2001), Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Trang 7Có thể thấy công trình trên đã khảo sát khá toàn diện về biến đổi kinh
tế - xã hội một số làng xã ở đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên do thời điểm nghiên cứu cách đây hàng chục năm nên những biến đổi làng quê thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa ít được cập nhật nghiên cứu
2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về làng Đồng Kỵ
- Biến đổi kinh tế - văn hóa xã hội ở xã Đồng Quang (huyện Từ Sơn – tỉnh
Bắc Ninh) từ 1954 đến nay của Nguyễn Văn Dũng, 2008, Tạp chí Khoa học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 Nội dung chủ yếu tác phẩm đề cập đến là quá trình biến đổi kinh tế - xã hội của xã Đồng Quang, mà làng Đồng Kỵ là một phần của xã Đồng Quang
- Biến đổi văn hóa làng Đồng Kỵ thời kỳ đổi mới của Nguyễn Văn Dũng,
2012, Văn hóa Nghệ thuật Trình bày quá trình biến đổi văn hóa ở làng Đồng
Kỵ với những điểm nổi bật trong thời kỳ đổi mới
- Chuyển biến kinh tế ở Đồng Quang (Từ Sơn – Bắc Ninh) từ sau đổi mới của
Nguyễn Văn Dũng, 2012, Giáo dục lý luận
- Biến chuyển kinh tế của làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) từ 1986 đến 2010 của
Nguyễn Văn Dũng - Nguyễn Đình Lê, 2012, Nghiên cứu lịch sử số 425 Nghiên cứu cho thấy quá trình biến đổi kinh tế ở làng Đồng Kỵ từ năm 1986 đến năm 2015 với nhiều điểm mới
- Quá trình hình thành và phát triển của một làng nghề gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ của Nguyễn Xuân Hoản, 2007, Tạp chí Xưa và Nay, số 293
- Văn hóa truyền thống làng Đồng Kỵ của Lê Hồng Lý, 1999, Viện nghiên cứu văn hóa dân gian
Trên đây là các công trình nghiên cứu cụ thể về biến đổi kinh tế - xã hội ở Bắc Ninh nói chung và làng Đồng Kỵ nói riêng Tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu cụ thể sự phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp ở làng Đồng Kỵ Việc nghiên cứu về vấn đề này phần nào làm rõ tác
Trang 8dụng của việc phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp ở làng quê Từ đó đề xuất các mô hình phát triển hợp lý kinh tế thủ công nghiệp ở nông thôn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Cũng như mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng thì lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc có mối quan hệ biện chứng
Việc nghiên cứu sự phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp làng Đồng
Kỵ đã phần nào làm rõ sự sáng tạo của Đảng và nhân dân ta trong công cuộc đổi mới nói chung và Đảng bộ nhân dân tỉnh Bắc Ninh nói riêng trong việc chỉ đạo phát triển ngành kinh tế tiểu thủ công nghiệp ở làng Đồng Kỵ, Từ Sơn Đây là quyết định hết sức đúng đắn, chính vì vậy đã thu được kết quả hết sức to lớn, đáp ứng yêu cầu của làng Đồng Kỵ lúc bấy giờ
Luận văn cố gắng phác họa mô hình phát triển kinh tế - xã hội điển hình, năng động, sáng tạo, hội nhập biết tận dụng thời cơ xây dựng phát triển quê hương giàu mạnh Đó được xem là niềm tự hào của nhân dân Đồng Kỵ, nhân dân Bắc Ninh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát giới thiệu về làng Đồng Kỵ trước năm 1986 để thấy được những thuận lợi cũng như khó khăn trong việc xây dựng quê hương hiện tại
và tương lai
Nghiên cứu thực trạng kinh tế tiểu thủ công nghiệp ở làng Đồng Kỵ từ năm 1986 đến năm 2015 Từ đó thấy được quá trình biến đổi phát triển kinh
tế cũng như vai trò, tác động của kinh tế đến xã hội của làng Đồng Kỵ
Đồng thời làm rõ những kết quả, thành tựu và đóng góp của làng Đồng Kỵ trên lĩnh vực kinh tế
Trang 94 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển của kinh tế tiểu thủ công nghiệp làng Đồng Kỵ tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến năm 2015
Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Làng Đồng Kỵ, phường Đồng Quang, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh mà cụ thể đó là những biến đổi về kinh tế tiểu thủ công nghiệp
+ Thời gian: Từ năm 1986 đến năm 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả luôn đứng trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để tìm hiểu vấn đề
Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được xác định là chủ đạo trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thống
kê xã hội học và khảo sát điền dã
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về quá trình phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp làng Đồng Kỵ
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn vai trò của các chính sách cụ thể của Đảng, nhà nước và nhân dân làng Đồng Kỵ trong việc phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp
Đề xuất các quan điểm và phương hướng phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp làng Đồng Kỵ theo hướng bền vững, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
Kết quả nghiên cứu đề tài còn là tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy và học tập lịch sử địa phương ở trường trung học phổ thông trên địa bàn thị xã
Trang 107 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cơ cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Làng Đồng Kỵ: Các điều kiện để phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp
Chương 2: Làng Đồng Kỵ phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp từ năm 1986 đến năm 2015
Chương 3: Một số nhận xét
Trang 11Chương 1 LÀNG ĐỒNG KỴ: CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP 1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý làng Đồng Kỵ
Từ trung tâm thành phố Hà Nội theo đường quốc lộ 1A tới km 18 rẽ trái đi chừng 2km là tới làng Đồng Kỵ - xã Đồng Quang - thị xã Từ Sơn - tỉnh Bắc Ninh Xã Đồng Quang tiếp giáp với thị xã Từ Sơn, nằm cạnh xã Phù Khê Đồng Kỵ là một làng thuộc xã Đồng quang, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Xã Đồng Quang có ba làng là Đồng Kỵ, Trang Liệt và làng Bính Hạ Đồng Kỵ phía Đông Nam giáp làng Trang Liệt và làng Bính Hạ, phía Đông giáp xã Tân Hồng và thị xã Từ Sơn, phía Tây Nam giáp xã Châu Khê, phía Tây Bắc giáp xã Phù Khê, phía Đông Bắc giáp xã Đồng Nguyên, Tam Sơn Diện tích tự nhiên của làng Đồng Kỵ là 334,29ha (2008)
Đồng Kỵ nằm sát bên quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, tiếp giáp với thị xã Từ Sơn, cách thủ đô Hà Nội 17km về phía Đông, cách thành phố Bắc Ninh 12m về phía Nam, có đường 279 từ quốc lộ 1A lên vùng căn cứ cách mạng Hiệp Hòa Nhã Nam (Bắc Giang), Đại Từ (Thái Nguyên) Làng Đồng Kỵ có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị,
an ninh và quốc phòng của khu vực
Làng Đồng Kỵ có hệ thống đường liên thôn liên xã được xây dựng khá hoàn thiện và sông Ngũ Huyện Khê nối với sông Đuống rất thuận tiện cho giao thông đi lại phục vụ đời sống sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế
Với vị trí chiến lược như đã nêu, trong thời kỳ tiền khởi nghĩa Đồng Kỵ
đã trở thành căn cứ an toàn của Trung Ương và Xứ ủy Bắc Kỳ Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đây là nơi giao tranh ác liệt giữa các lực lượng xâm lược và chống xâm lược Còn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đồng
Trang 12Kỵ là nơi tập kết, tiếp viện cho chiến trường miền Nam, góp phần cùng nhân dân cả nước kháng chiến chống Mỹ xâm lược Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước đây cũng như xây dựng đất nước hiện nay, Đồng Kỵ trở thành địa phương đi đầu phát triển kinh tế - xã hội
Đồng Kỵ được mọi người trong nước biết đến với cái tên làng gỗ mỹ nghệ Có cái tên như vậy bởi vì Đồng Kỵ đã có lịch sử phát triển lâu đời, trải qua bao thăng trầm của thời gian cũng như sự biến đổi của đất nước Tới năm
1986, làng nghề Đồng Kỵ được phục hồi và phát triển Hiện nay sản phẩm của làng Đồng Kỵ đang ngày càng khẳng định được vị trí của mình trên thị trường trong và ngoài nước
Đồng Kỵ có diện tích tự nhiên 340 ha Tính tới năm 2008 toàn bộ làng Đồng Kỵ có 2832 hộ dân với số dân gần 14000 người trong đó có 6000 người đang ở độ tuổi lao động Hiện nay Đồng Kỵ là làng có số lượng doanh nhân nhiều nhất trong toàn tỉnh với khoảng 500 giám đốc, phó giám đốc Tốc độ phát triển ở đây đạt tới mức độ đáng kinh ngạc, doanh thu của làng nghề đạt khoảng 160 - 180
tỷ đồng/ năm, trong đó xuất khẩu chiếm 80 - 85% Đây là một con số không nhỏ đối với một làng có kinh tế tiểu thủ công nghiệp là chủ yếu
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Về khí hậu, làng Đồng Kỵ thuộc vùng nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung
bình ở đây hàng năm là 23,36*C Lượng mưa trung bình 1400mm nước/năm
Về địa hình, làng Đồng Kỵ tương đối bằng phẳng, được hình thành trên
trầm tích sa bồi của dòng Ngũ Huyện Khê và dòng Tiêu Tương cổ, đất đai chủ yếu là đất phù sa mầu mỡ, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp Địa hình, đất đai và khí hậu ở đây rất thuận lợi cho việc trồng lúa nước, rau màu, thâm canh tăng vụ
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi như trên cho phép Đồng Kỵ phát triển một nền kinh tế đa dạng, nhất là tiểu thủ công nghiệp và thương
Trang 13nghiệp, dịch vụ và đặc biệt là phát triển làng nghề truyền thống Nhân dân Đồng
Kỵ đã và đang phát huy những thế mạnh vốn có của mình để phát triển kinh tế -
xã hội, xây dựng mảnh đất này thành một làng quê giàu đẹp, văn minh
1.2 Truyền thống lịch sử văn hóa và điều kiện dân cư
1.2.1 Truyền thống lịch sử - văn hóa
Sự hình thành làng Đồng Kỵ
Làng Đồng Kỵ, nằm ở khu vực được khẳng định là một trong những cái nôi của nền văn minh Việt Cổ Làng Đồng Kỵ nằm giữa các di chỉ khảo cổ như: Di chỉ Bãi Tự (xã Tương Giang), có niên đại 1455 100 năm trước công nguyên, di chỉ Phù Lưu (xã Tân Hồng), Phù Chẩn có niên đại tương đương giai đoạn Đồng Đậu (1120 năm trước công nguyên), chợ Trâu (thị xã
Từ Sơn)… nên chắc chắn từ khá sớm con người đã đặt chân đến đây định cư Những di chỉ được phát hiện ở chợ Trâu (thị xã Từ Sơn), Đồng Út (Xuân Thụ, Đồng Nguyên), cho thấy vào giữa thời kỳ Đồng Thau thuộc nền văn hóa Đồng Đậu, các cụm dân cư sinh sống đã được mở rộng tới ven rừng ở Đồng
Kỵ và các làng bên
Như vậy, mảnh đất này từ hàng ngàn năm về trước đã là điểm dừng chân, quần cư của dòng người Việt cổ từ vùng rừng núi phía Bắc xuống khai phá đồng bằng, khi đó còn là đầm lầy, rừng rậm Quá quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên, xây dựng cuộc sống mới, dần dần cộng đồng dân cư hình thành và làng xã ra đời
Làng Đồng Kỵ tục gọi là làng Cời hay còn có tên khác là Kẻ Cời, là một làng Việt cổ xuất hiện khá sớm, theo thần phả và những ghi chép, trên cây hương ở chùa cho biết vào thời Hùng Vương, vùng đất này gồm có ba trang, còn gọi là Tam Trang gồm Trang Cời, Trang Cọc, Trang Cò Mỗi trang có một ngôi chùa một ngôi đình nhưng cùng thờ chung thành hoàng làng, là thần Nông, có chợ làng buôn bán tấp nập Theo thần tích thủa trước phu nhân Cao
Trang 14Thị khi trên đường trở về Lỵ Sở đến Tam Trang thì trở dạ sinh hạ Đức Thánh Thiên Cương tại quán sở của làng, được nhân dân Tam Trang tận tình giúp
đỡ, chăm sóc Từ đó, Tam Trang được đổi thành Trang Nhân Hậu có đình chùa chung Về sau, do phạm quốc húy nên trang Nhân Hậu đổi thành Đồng Chu Đến năm Chính Hòa thứ 16 (1695), đời vua Lê Hy Tông, Đồng Chu đổi thành Đồng Kỵ Theo sự giải thích của các cụ cao niên, Đồng Kỵ có nghĩa là cùng nhau phấn đấu vươn lên Theo cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi vào khoảng thời Lê Thiệu Bình - Hồng Đức, Đồng Kỵ là một xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc
Làng Đồng Kỵ từ xưa đã có nhiều dòng họ cùng sinh sống Theo thần phả Trang Nhân Hậu có 16 dòng họ là: Nguyễn, Trương, Đào, Đỗ, Phạm, Bùi, Hoàng, Phan, Triệu Dương, Đinh, Đặng, Lê, Trần, Đình, Cao cư trú làm
ăn ở ba khu: Thượng, Trung và Hạ Sau đó có nhiều dòng họ khác đến lập nghiệp như họ Vũ, họ Chử, Ngô và một số họ Nguyễn Hiện nay làng Đồng
Kỵ có hàng chục dòng họ lớn nhỏ khác nhau, trong đó có họ lớn như: họ Dương, họ Vũ, Họ Ngô, họ Nguyễn (có 7 họ Nguyễn khác nhau)
Như vậy, qua các tài liệu khảo cổ học và thư tịch cổ có thể khẳng định rằng: Đồng Kỵ là một vùng đất được khai phá từ rất sớm, từ xưa người Việt
cổ đã đến đây sinh sống lập nghiệp từ những nhóm người nhỏ gồm các dòng
họ dần hình thành các trang rồi thành làng lớn “Cộng đồng làng xã này vững mạnh lên nhờ tình đoàn kết trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm vô cùng gian khổ Biểu tượng của sự đoàn kết ấy được quy tụ vào vị thành hoàng làng - Thánh Thiên Cương đã có công giết giặc cứu nước cứu dân” Đồng Kỵ còn là làng có truyền thống văn hóa lâu đời được vua Tự Đức ban cho bức đại tự với 4 chữ “ Mỹ tục khả phong”
Trang 15Truyền thống lịch sử và cách mạng
Từ những buổi đầu dựng và giữ nước, người dân Đồng Kỵ đã có tinh thần đoàn kết dũng cảm trong chiến đấu đánh đuổi giặc ngoại xâm bảo vệ quê hương, đất nước góp phần vào những trang sử vàng chói lọi của dân tộc
Theo thần tích vào thời Hùng Vương đã có 50 trai tráng trang Nhân Hậu (Đồng Kỵ) theo Thánh Thiên Cương đi đánh giặc Xích Quỷ và giặc Ân xâm lược Nhiều người của Trang đã theo An Dương Vương đánh bại cuộc xâm lược của giặc phương Bắc
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, dưới chế độ phong kiến nhân dân Đồng Kỵ luôn sát cánh chiến đấu dưới sự lãnh đạo của các triều đình phong kiến độc lập chống lại sự xâm lược và đô hộ của giặc phương Bắc Tiểu biểu như dưới thời Trần, nhân dân Đồng Kỵ cùng các làng của xã Đồng Quang dưới sự chỉ huy của Hoài Văn Hầu - Trần Quốc Toản chiến đấu trên mặt trận Đông Ngàn giành thắng lợi trước quân Nguyên – Mông, một đội quân hùng mạnh nhất trên thế giới lúc bấy giờ
Từ giữa thế kỷ XIX nhiều người dân Đồng Kỵ đã tích cực tham gia các cuộc khởi nghĩa chống ách áp bức của triều đình phong kiến mục nát do các văn thân sĩ phu yêu nước lãnh đạo, tiêu biểu là Quận Cơ - tên thật là Dương Văn Mưu (còn gọi là Ba Mưu) tham gia cuộc khởi nghĩa Cai Vàng (1862 - 1864)
Vào đầu thế kỷ XX, ở làng Đồng Kỵ có cụ Đồ Khuông (tức Vũ Đình Nguyên hay Vũ Đình Khuông) tham gia phong trào yêu nước của nhóm Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Khắc Nhu (tức Xứ Nhu) lãnh đạo
Truyền thống yêu nước đấu tranh bất khuất của nhân dân Đồng Kỵ đã được khơi dậy và phát huy dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) Dưới sự lãnh đạo của Đảng và mặt trận Việt Minh nhân dân Đồng Kỵ đã nổi dậy giành chính quyền từ tay địch
Trang 16Ngày 18/08/1945, dưới sự chỉ huy của đồng chí Từ Vân - một cán bộ của Đảng, mặt trận Việt Minh thôn Đồng Kỵ tổ chức họp dân tại Nghè tuyên
bố thành lập Ủy Ban Cách mạng lâm thời thôn do ông Dương Văn Quốc làm chủ tịch, ông Võ Văn Cường làm phó chủ tịch, ông Dương Văn Thiết làm thư
ký, ông Dương Văn Cư phụ trách quân sự và ông Lê Đức Uy phụ trách văn hóa - xã hội Sau đó nhân dân Đồng Kỵ còn tham gia giành chính quyền ở huyện lị Từ Sơn và tỉnh Bắc Ninh Ngày 2/9/1945 có 20 phụ nữ ở làng Đồng
Kỵ do bà Dương Thị Thành dẫn đầu tham gia buổi miting mừng độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử do chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Vừa giành được độc lập, nhân dân Đồng Kỵ lại cùng nhân dân cả nước bước vào cuộc trường kì kháng chiến chống Pháp gian khổ kéo dài 9 năm (1945 - 1954) Đây là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch Thực dân Pháp đã thiết lập được làng tề ở Đồng Kỵ, nhưng cuộc đấu tranh giữa nhân dân và bọn tề nguỵ vẫn diễn ra quyết liệt và cuối cùng, hoà chung với thắng lợi của cả nước, cuộc kháng chiến chống Pháp ở Đồng Kỵ đã giành được thắng lợi vẻ vang
Sau kháng chiến chống Pháp, nhân dân Đồng Kỵ lại bắt tay vào cuộc xây dựng, khôi phục kinh tế - xã hội để tích cực chi viện cho miền Nam và bảo vệ miền Bắc, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước
Tất cả những gì nhân dân Đồng Kỵ đã trải qua đã phần nào nói lên truyền thống đấu tranh đánh giặc giữ nước và khát vọng không gì quý hơn độc lập tự do Qua các thời kỳ lịch sử, truyền thống hào hùng ấy vẫn tiếp tục phát huy và nâng lên tầm cao mới
Truyền thống văn hóa
Quá trình dựng làng lập xóm cũng là quá trình nhân dân Đồng Kỵ tạo dựng nên những truyền thống lịch sử nhân văn mang đậm sắc thái riêng, góp
Trang 17phần tạo nên bản sắc văn hoá của vùng đất Kinh Bắc Những truyền thống tốt đẹp luôn được vun đắp giữ gìn và phát huy qua các thời kỳ lịch sử,trong quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chống áp bức xã hội và xây dựng quê hương Từ trong quá trình này, người dân Đồng Kỵ đã sớm tạo nên truyền thống đoàn kết tương thân, tương ái gắn bó nhau, tạo nên một cộng đồng bền chặt vừa mang yếu tố láng giềng vừa mang yếu tố truyền thống Ngoài gia đình, dòng họ, làng xã được chia thành các phường, hội, phe, giáp, xóm, ngõ
có những quy định riêng của mình Mặc dù vậy cộng đồng làng xã vẫn duy trì một cách bền chặt quan hệ láng giềng thân thiết Nó biểu hiện bởi quan hệ huyết thống một cách sinh động qua sinh hoạt hội, họ như hội đồng niên, phường thợ, tục kết chạ giữa nhân dân làng Đồng Kỵ và làng Trang Liệt Hai thôn kết nghĩa coi nhau như anh em, cùng bảo vệ nguồn nước, và gọi là chạ nước Đây là một tập tục truyền thống đoàn kết cộng đồng tốt đẹp, cần phát huy trong thời kỳ mới
Ngoài những đặc điểm chung của dân tộc Việt Nam như: Tình yêu đất nước và yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, cần cù trong lao động, dũng cảm trong chiến đấu, không sợ gian khổ hy sinh, luôn có tinh thần học hỏi vươn lên, đoàn kết tương thân tương ái, chung tay xây dựng quê hương giàu mạnh thì người dân Đồng Kỵ đã được xây dựng những giá trị mang sắc thái riêng
đó là năng động, tháo vát trong làm ăn kinh tế
Trong tiến trình lịch sử, cha ông ta đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm trong lao động sản xuất và quản lý xã hội để truyền thụ cho các thế hệ con cháu Điều đó được biểu thị trong hương ước và nhiều loại hình văn hoá dân gian khác Từ thời Đinh Tiên Hoàng (970 - 979), làng Đồng Kỵ đã có bản ước thúc với những quy ước chung về dân làng trong quan hệ cộng đồng, đất đai, thờ thành hoàng Bản ước thúc này được sao chép bổ sung nhiều lần vào thời
Lê - Nguyễn Đến năm 1935, dân làng lập hương ước cải lương gồm 33
Trang 18khoản quy định về xã hội với những tục lệ riêng Hương ước góp phần xây dựng giữ gìn thuần phong mỹ tục bảo vệ trật tự an ninh, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống, thôn Đồng Kỵ đã và đang xây dựng thực hiện
“Quy ước làng văn hoá mới” các dòng họ vẫn giữ gìn gia phong Trong quá trình xây dựng quê hương, nhân dân làng Đồng Kỵ còn sáng tạo ra một kho tàng văn hoá dân gian hết sức đa dạng và phong phú Đó là những bài dân ca, giai thoại lịch sử, những câu chuyện tiếu lâm mang tính nhân văn sâu sắc Cùng với sự hình thành cộng đồng làng xã, dần dần các lễ thức sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo, cũng ra đời và phát triển, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá của nhân dân
Về tôn giáo, đại bộ phận người dân Đồng Kỵ theo Phật giáo Đạo Phật
đã du nhập vào đây từ khá sớm và đến thế kỷ IX - X, đây là một trong những trung tâm phật giáo của thị xãTừ Sơn Đồng Kỵ có 3 ngôi chùa gồm: Chùa
Cả, Chùa Hoang và Chùa Cời có lịch sử khá lâu đời Ngày nay chùa làng vẫn
là nơi diễn ra các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của làng, đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân Người dân Đồng Kỵ có tục thờ bách thần, trong đó nổi bật nhất là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên theo huyết thống Gia đình nào cũng có bàn thờ gia tiên đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà Các dòng họ đều có nhà thờ tổ, nhiều dòng họ có nhà thờ khá lớn như họ Vũ, họ Dương, họ Nguyễn Tín ngưỡng thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn và là chất keo củng cố mối quan hệ thân tộc
Ngoài tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của gia đình, dòng họ, làng còn thờ thành hoàng là Đức Thánh Thiên Cương Đó là người đã giúp vua Hùng diệt trừ giặc Xích Quỷ và theo Thánh Gióng đánh giặc Ân giữ yên bờ cõi Thánh được thờ ở đền, các triều đại Lê, Lý, Trần, Lê - Nguyễn đã sắc phong làm phúc thần với mỹ tự “Hộ quốc bảo dân” Ngoài ra, làng Đồng Kỵ còn thờ thần Nông, vị thần bảo hộ sản xuất nông nghiệp, phù hộ cho mùa màng bội thu
Trang 19Thành hoàng là biểu tượng của sự đoàn kết cộng đồng Ngoài thờ thành hoàng làng còn có tục thờ tổ nghề đó là biểu tượng thiêng liêng thể hiện sự tôn kính ngưỡng vọng của cộng đồng làng xã
Lễ hội truyền thống của làng Đồng Kỵ trước đây thường kéo dài 12 ngày, từ mùng 4 đến 16 tháng Giêng Âm lịch Trong đó nổi bật nhất là hội thi đốt pháo mà dân gian quen gọi là Hội pháo Đồng Kỵ diễn ra trong 3 ngày là ngày mùng 4, mùng 5 và mùng 6 Âm lịch Ngoài ra làng Đồng Kỵ còn tổ chức hội chùa vào ngày 16 tháng 2 âm lịch để cầu bình an cho dân làng Dù gọi là Hội chùa song mọi nghi lễ lại diễn ra ở đình vì phải lập đàn lễ Hội chùa Đồng Kỵ ngày nay vẫn được tổ chức, thu hút đông đảo khách thập phương đến lễ chùa vãn cảnh
Di tích lịch sử - văn hoá: Làng Đồng Kỵ đã tạo dựng và lưu giữ được nhiều di sản văn hoá vật chất quý giá Đó là những công trình nghệ thuật kiến trúc đình chùa, đền miếu, trong đó chùa Đồng Kỵ được xếp hạng là di tích cách mạng Chùa Đồng Kỵ còn gọi là chùa Cời có tên chữ là Tây Am Tự Trước cổng chùa còn có cây hương đá được dựng vào thời Hậu Lê Ngôi chùa này được biết ít nhất vào thời Tiền Lê thế kỷ thứ X Chùa Đồng Kỵ không chỉ
là một công trình kiến trúc, nghệ thuật, văn hoá mà còn là một di tích lịch sử cách mạng Trong giai đoạn 1939 - 1945 dưới sự trụ trì của nhà sư yêu nước Phạm Thông Hoà, chùa Đồng Kỵ trở thành nơi an nghỉ, đi lại của cán bộ cách mạng tỉnh, xứ uỷ, trung ương, là nơi cất dấu tài liệu cách mạng Với thành tích ấy, chùa Đồng Kỵ và nhà sư Phạm Thông Hoà đã được chính quyền cách mạng tặng bức trướng “Đạo đức siêu nhiên” và “đồng tiền vàng” Năm 1974,
Chùa Đồng Kỵ được Bộ văn hoá công nhận là Di tích cách mạng
Đền, đình Đồng Kỵ thờ Đức Thánh Thiên Cương Các thư tịch văn bia cho biết, đền Đồng Kỵ có từ trước thời Lý Trước kia làng Đồng Kỵ có 3 ngôi đình, nhưng sau khi đổi thành Trang Nhân Hậu, rồi Đồng Chu dân làng tập
Trang 20trung về đình Cời Đình xuất hiện vào thời Lý có quy mô khá lớn và vẫn lưu giữ khá nguyên vẹn kiến trúc cổ Đình, đền Đồng Kỵ tạo thành một quần thể kiến trúc đẹp mang giá trị văn hoá cao Vì vậy quần thể các công trình này đã được Bộ văn hoá xếp hạng Di tích lịch sử - văn hoá
Những thành tựu văn hoá nhân dân Đồng Kỵ sáng tạo ra, giữ gìn, lưu truyền và phát huy đã minh chứng cho sự lao động cần cù, thông minh, lòng dũng cảm, tinh thần yêu thương đất nước Một mặt đó là những sắc thái, giá trị riêng của văn hoá làng xóm ở Đồng Kỵ, nhưng mặt khác đó còn là thành tố góp phần vào bản sắc văn hoá dân tộc nói chung
1.2.2 Dân cư
Cùng với sự hình thành làng xã thì số lượng và chất lượng dân số Đồng
Kỵ ngày một tăng nhanh, trở thành một trong những làng xã có số lượng dân
cư cao nhất của thị xã Từ Sơn Theo thống kê năm 2006 thì làng Đồng Kỵ có khoảng 13000 dân với tỉ lệ sinh khá cao Theo kết quả điều tra dân số năm
1927 thì làng Đồng Kỵ có 2049 người Với bốn giáp: Thượng, Đông, Tiên, Đoài Hiện nay, Đồng Kỵ có 2357 hộ với 12288 nhân khẩu sinh sống ở 5 xóm [5, tr.1] Mật độ dân số 3676 người / km2 Cơ cấu dân số trẻ, số người dưới độ
tuổi lao động (1 - 15 tuổi) chiếm 36,8%, trong độ tuổi lao động (16 - 60 tuổi)
chiếm (53%), ngoài độ tuổi lao động (60 tuổi trở lên) chiếm 10,2% Dân số đông cơ cấu dân số trẻ, tốc độ gia tăng hàng năm lên tới 2% đã tạo nên lực lượng lao động dồi dào, được bổ sung đáng kể mỗi năm là một lợi thế của
Đồng Kỵ để phát triển kinh tế - xã hội
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945 trên 90% dân số trong làng mù chữ, nhưng hiện nay gần 100% dân số biết chữ trong đó đa số có trình độ từ phổ thông cơ sở trở lên, nhiều người có trình độ cử nhân, tiến sĩ Đây là nguồn nhân lực, nguồn lao động dồi dào để phát triển sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội ở Đồng Kỵ
Trang 211.3 Một số hoạt động kinh tế của làng Đồng Kỵ trước năm 1986
Từ xưa, hoạt động kinh tế của làng Đồng Kỵ đã đa dạng và sôi động vốn là vùng mở, vùng tiếp xúc và giao lưu thuận lợi Người dân Đồng Kỵ vừa
cấy lúa, chăn nuôi, dệt vải, đánh cá, buôn bán trâu bò
Hầu hết đất canh tác của làng Đồng Kỵ thuộc loại đất cấy một vụ, chỉ những chân ruộng trũng và gần ao, chuôm sẵn nguồn nước mới cấy được hai
vụ trong năm Ruộng đất ở làng Đồng Kỵ chia làm 3 loại là: loại 1, loại 2 và loại 3 Tổng diện tích công tư điền thổ của làng Đồng Kỵ là 476 mẫu, 4 sào, 3 thước Trong đó tư điền chiếm 85% tổng diện tích đất canh tác, công điền chỉ chiếm 5,82% Trong tổng số diện tích đất tư có 96,2% diện tích đất là chính canh, 3,75% diện tích đất phụ canh
Dân làng Đồng Kỵ thiếu đất canh tác thường xuyên là một thực tế Trước kia hệ thống tưới tiêu và đê điều chưa tốt nên vào mùa mưa lũ nước từ song Ngũ Khê Huyện chảy vào làm cho đất Đồng Kỵ ngập lụt thường xuyên, gây khó khăn lớn cho việc canh tác Với bản tính cần mẫn, chịu thương chịu khó, người dân Đồng Kỵ đã ra sức cải tạo đồng ruộng làm tăng độ phì nhiêu của đất, san lấp thùng đấu và mua ruộng ở các làng xã khác lân cận nhằm mục đích tăng diện tích đất canh tác nhằm tăng thêm nguồn lương thực đáp ứng nhu cầu cuộc sống Mặc dù vậy, nhưng nếu chỉ dựa vào nông nghiệp thì không thể đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của người dân
Làng Đồng Kỵ nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa vùng trung du và miền núi phía Bắc, có hệ thống đường giao thông thủy, bộ thuận lợi cho giao lưu, phát triển kinh tế Với lợi thế về vị trí đại lý và giao thông như vậy, cùng với sự nhạy bén về tư duy kinh tế thị trường nên trước năm 1986 dân làng Đồng Kỵ
có nghề buôn bán trâu, bò Người dân Đồng Kỵ đã từng vào Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, lên Sơn La, Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Thái Nguyên… Dân buôn Đồng Kỵ cung cấp trâu bò làm sức kéo cho khắp vùng
Trang 22Thái Bình, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, Hải Dương… mua trâu bò về bán ở chợ Giầu (Phù Lưu) cạnh Đồng Kỵ, rồi từ đây lại tỏa đi khắp các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Nhưng đến năm 1960 Nhà nước nghiêm cấm việc tư nhân buôn bán nên nghề buôn bán trâu bò ở làng Đồng Kỵ cũng chấm dứt [15, tr.25 - 28]
Trong khi một bộ phận những người đàn ông đi buôn bán ở bên ngoài thì những người phụ nữ Đồng Kỵ làm đồng áng và dệt vải Cả làng có 400 đến 500 khung cửi Vải được người dân Đồng Kỵ làm ra còn có tên gọi là vải Cời, khổ nhỏ, để trắng hoặc nhuộm nâu vừa bền, vừa mịn (15; tr 204) thường bán ở chợ Đồng Kỵ, chợ Giầu hoặc các chợ lân cận
Nghề mộc cũng có từ rất sớm ở làng Đồng Kỵ, nhưng số lượng người làm rất ít Trước cách mạng tháng Tám 1945 cả làng chỉ có 20 – 30 người làm nghề mộc, chủ yếu là đóng các đồ như bàn ghế, giường tủ, chạn bát, làm nhà thuê… Tuy nhiên, nguồn thu nhập từ nghề mộc chẳng được là bao
Vào những thập niên 60 – 70 của thế kỷ trước, do điều kiện tự nhiên khó khăn, một bộ phận người dân làng Đồng Kỵ đã chuyển sang mua bán đồ
gỗ cổ, là loại hàng hóa có giá trị kinh tế cao được các hộ dân khá giả ưa chuộng Khi hàng đồ gỗ cổ khan hiếm, một số người dân làng Đồng Kỵ đã nghĩ cách làm đồ giả cổ để bán Một số gia đình ở Đồng Kỵ cũng mời thợ khảm trai ở Chương Mĩ (Hà Tây) về làm tại nhà Ngoài ra làng Đồng Kỵ còn
có khoảng 100 người chuyên đi làm thuê về nhà cổ, bàn ghế, giường, tủ… ở địa phương khác
Ngoài một số gia đình làm đồ giả cổ, cũng vào những năm 60 – 70 của thế kỷ XX, Nhà nước có chủ trương cho phép khai thác rừng lấy gỗ phục vụ xuất khẩu và phục vụ công nghiệp, sinh hoạt, một bộ phận lao động khỏe ở làng Đồng Kỵ chuyền sang làm nghề thợ xẻ Trên 200 cặp thợ xẻ làng Đồng
Kỵ có mặt khắp lâm trường miền Bắc để xẻ gỗ thuê cho các đơn vị kinh tế nhà nước [15, tr.26]
Trang 23Từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, kinh tế - xã hội ở Đồng
Kỵ bước vào trang sử mới Ngay từ khi cuộc kháng chiến chống Pháp còn đang tiếp diễn thì ngày 12/4/1953 Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 149, sau đó chính phủ
ra nghị quyết lãnh đạo nông dân đấu tranh đòi quần chúng địa chủ, phú nông thực hiện triệt để giảm tô, giảm tức, tiến tới cải cách ruộng đất thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” Hưởng ứng thực hiện chính sách của Đảng, nhà nước nhân dân Đồng Kỵ ra sức thi đua lao động phát triển kinh tế
Năm 1960 phong trào hợp tác hoá nông nghiệp ở Đồng Kỵ đạt kết quả tốt Đông đảo nông dân đã tự nguyện làm đơn góp trâu bò, góp ruộng đất, công cụ lao động ra nhập hợp tác xã nông nghiệp Thôn Đồng Kỵ đã thành lập được 5 hợp tác xã gồm: hợp tác xã xóm Giếng có 24 hộ, hợp tác xã xóm Bằng
có 35 hộ, hợp tác xã xóm Tự, hợp tác xã xóm Nghè và hợp tác xã xóm Đột Cùng với hợp tác xã nông nghiệp thì hợp tác xã mua bán, tín dụng cũng được xây dựng Tháng 1 năm 1965, 5 hợp tác xã ở thôn Đồng Kỵ hợp nhất lấy tên
là hợp tác xã Đồng Kỵ, có 10 đội sản xuất, một đội trồng cây do ông Vũ Văn
An làm chủ nhiệm
Hợp tác xã đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, đào đắp hàng vạn m3
đất đê kè, quy hoạch đồng ruộng và hệ thống thuỷ nông Các loại phân hoá học, thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến trong sản xuất, hợp tác xã có 2 máy bơm nước được sử dụng động cơ DIÊZEN, các bình phun thuốc trừ sâu được sử dụng rộng rãi Hệ thống thuỷ nông ruộng đồng được xây dựng khá hoàn chỉnh phục
vụ sản xuất nông nghiệp Nhân dân Đồng Kỵ còn tích cực tham gia phong trào xây dựng các công trình đại thuỷ nông như : Công trình Bắc Hưng Hải, Bắc Đuống, đập Long Tửu - đạt thành tích tốt
Do làm tốt công tác thuỷ lợi nên diện tích tăng lên nhanh chóng Ngoài
ra hợp tác xã còn đẩy mạnh thâm canh tăng vụ phát động phong trào làm phân xanh, thả bèo hoa dâu, sử dụng phân bắc, phân chuồng và đưa giống lúa mới
Trang 24có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn ngày được đưa vào sản xuất thay thế giống lúa cũ
Hợp tác xã cũng chú trọng phát triển đàn trâu bò cày kéo và chăn nuôi lợn gà, đàn gia cầm các loại lợn lai kinh tế chóng lớn, trọng lượng cao như lợn F1,F2, lợn Móng Cái đã được tập thể tập thể và xã viên chăn nuôi khá nhiều Chăn nuôi gà, vịt, và cải tạo nước mặt thả cá cũng phát triển ở cả khu vực tập thể và cả gia đình
Sau ngày miền Nam giải phóng (1975), đất nước thống nhất, một trang
sử mới cho dân tộc đã mở ra Người dân Đồng Kỵ cũng bước vào một vận hội mới , không ngừng tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ Thị trường Sài Gòn sau đó là Campuchia được người dân làng Đồng Kỵ tiếp cận khá nhanh sau ngày đất nước hòa bình Những mối hàng trực tiếp được thiết lập từ Sài Gòn, Campuchia với Đồng Kỵ Sản phẩm đồ gỗ được vận chuyển
từ Đồng Kỵ đến các thị trường này và ngược lại, nguồn hàng nguyên liệu được chuyển từ Campuchia về Đồng Kỵ để cung cấp cho các hộ sản xuất Thị trường được mở rộng, hàng hóa tiêu thụ được nên số gia đình làm nghề mộc
đã tăng lên nhanh chóng Năm 1980 làng Đồng Kỵ có khoảng 100 hộ sản xuất
đồ giả cổ [17, tr.69] Đến năm 1985, làng Đồng Kỵ có khoảng hơn 600 hộ làm đồ mộc giả cổ [15, tr.204] Tuy nhiên do tình hình chung của cả nước lúc
đó nên nghề mộc ở làng Đồng Kỵ chỉ tồn tại cầm chừng
Như vậy, từ xưa Đồng Kỵ không phải một vùng thuần nông mà có nhiều hoạt động nông, công, thương kết hợp, khiến làng quê này không tĩnh lặng, khép kín mà luôn sôi động và cởi mở
Trong các năm 1979 và 1980 kinh tế làng Đồng Kỵ, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp có chiều hướng giảm sút Năng suất, sản lượng, thu nhập của các
hộ xã viên giảm đáng kể so với trước Tình trạng sa sút trên bắt nguồn từ quản
lý quan liêu, bao cấp, kéo dài tư tưởng nóng vội muốn đưa quy mô hợp tác xã
Trang 25lên bậc cao, trong khi năng lực và trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ còn hạn chế, phương thức phối hợp sản phẩm mang tính cào bằng không khuyến khích được năng lực và tinh thần lao động cần cù, sáng tạo của xã viên, tình trạng quan liêu lãng phí, dong công phóng điểm khá phổ biến, người lao động không chú ý đến sản xuất, ý thức làm chủ tập thể của xã viên chưa cao Điều
đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống nhân dân
Trước tình hình đó, năm 1981, Ban bí thư trung ương Đảng đã ra chỉ thị
số 100 BBT/TW về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong sản xuất nông nghiệp (thường gọi là khoán 100) Các hộ gia đình được hợp tác giao cho đảm nhận 3 khâu: gieo cấy, chăm bón và thu hoạch còn tập thể đảm nhận 5 khâu: làm đất thuỷ lợi, tưới tiêu, phân bón, giống vốn, phòng trừ sâu bệnh Hộ gia đình có thể tự động đầu tư thêm công sức chi phí để tăng sản lượng vượt khoán vì họ được hưởng hầu hết phần sản lượng đó
Tháng 1/1981, hợp tác xã Đồng Quang đã tách ra thành hợp tác xã Trang
Hạ và Đồng Kỵ Hợp tác xã Đồng Kỵ có 152 ha đất canh tác, 11 đội sản xuất Đảng bộ xã Đồng Quang đã chỉ đạo 2 hợp tác xã trên thực hiện chỉ thị 100 Chính sách bước đầu đã có tác dụng, vừa phát huy được vai trò điều hành sản xuất của hợp tác xã, vừa phát huy tính sáng tạo, ý thức trách nhiệm của người lao động Với cơ chế khoán 100, bà con xã viên ở Đồng Kỵ đã chủ động linh hoạt hơn trong việc thâm canh tăng vụ, mở rộng diện tích cây trồng
Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, cơ chế Khoán 100 đã dần bộc lộ những hạn chế, chế độ sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất và nhiều yếu tố của
cơ chế quản lý cũ tồn tại được duy trì, hợp tác xã vẫn là đơn vị sản xuất chủ yếu Người nhận khoán phải tuân thủ kế hoạch sản xuất, quy trình kỹ thuật và định mức chi phí của hợp tác xã Xã viên không hoàn toàn làm chủ sản xuất,
họ kém phấn khởi, không yên tâm đầu tư canh tác vì sợ hợp tác xã sẽ điều chỉnh mức khoán Đời sống nhân dân không được cải thiện nhiều Đặc biệt
Trang 26năm 1983-1984 do thời tiết diễn biến phức tạp, năng suất lúa bị giảm đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân
Tình hình các ngành nghề thủ công, dịch vụ cũng không nằm ngoài thực trạng chung của nền kinh tế Năm 1985 làng Đồng Kỵ có 658 hộ chiếm 57,71% số hộ có nghề phụ, chủ yếu là làm mộc [35, tr.204] Dịch vụ buôn bán của tư nhân cũng bước đầu phát triển nhưng vẫn còn ít ỏi Nhìn chung nền kinh tế Đồng Kỵ đang dần bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế
Như vậy, trước năm 1986, kinh tế Đồng Kỵ chủ yếu là kinh tế nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (nghề mộc), trong đó nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao hơn Tuy đất đai màu mỡ nhưng năng suất cây trồng chưa cao, kĩ thuật trình độ canh tác còn nhiều hạn chế, sức kéo trâu bò vẫn còn phổ biến, các loại phân bón chưa cung cấp đủ, nhất là phân hoá học, phân vi sinh Sản phẩm còn phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên nhưng công tác dự báo phòng chống thiên tai dịch bệnh còn thiếu chủ động Tiểu thủ công nghiệp, nghề mộc có nhiều thuận lợi nhưng lại bị hạn chế trong các hợp tác xã do thị trường còn hẹp chưa được mở rộng, bị nhiều chính sách hạn chế Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân chưa được cải thiện nhiều Những bức xúc trong đời sống kinh tế - xã hội dần nảy sinh từ cơ chế quản lý quan liêu bao cấp Nhiều tiềm năng của địa phương chưa được khơi dậy phát huy, sử dụng Sự phát triển kinh tế - xã hội chưa tương xứng với tiềm năng Tình hình trên đỏi hỏi phải có những đổi mới về chính sách nhằm đưa kinh tế - xã hội Đồng Kỵ phát triển đi lên Như vậy nhưng ngay từ đầu làng Đồng Kỵ đã tồn tại nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển một nền kinh tế tiểu thủ công nghiệp cụ thể đó là nghề mộc và nghề nấu rượu
Quá trình ra đời và phát triển của nghề mộc Đồng Kỵ có thể khái quát như sau:
Trang 27Hầu như tất cả các làng mộc đều thờ hai anh em Lộ Ban, Lộ Bốc là hai
vị tổ khai sáng của nghề Lộ Ban và Lộ Bốc là người những người thợ mộc giỏi của nước Lỗ nay là tỉnh Sơn Đông - Trung Quốc Theo truyền thuyết từ thuở xa xưa có một vị thần hoá thân thành người sống lẫn trong dân để dạy dân cách làm nhà Trong số những người dân sơ khai buổi ấy có hai anh em tên là Lộ Ban và Lộ Bốc Nhờ tư chất thông minh, hai anh em đã lĩnh hội được kiến thức của vị thần và chế ra cưa, đục để làm các kiểu nhà Từ đó nghề mộc và nghề xây dựng ra đời Nhờ vậy nghề mộc nói riêng và nghề xây dựng nói chung không ngừng phát triển, dân trong nghề kính trọng gọi ông
Lộ Ban (hay còn gọi là Lộ Bàn) là ông tổ nghề Đời này truyền sang đời khác
và do hoàn cảnh lịch sử để lại, cho đến ngày nay cả Trung Quốc và Việt Nam cũng như một số nước khác ở chấu Á, những làng mộc đều coi Lộ Ban là ông
mỹ nghệ Khi tìm hiểu về lịch sử nghề mộc tại đây có từ bao giờ thì ngay cả những nghệ nhân có thâm niên trong nghề của làng đều nói là “không biết chính xác”, chỉ biết rằng hầu hết các gia đình ở đây đều làm nghề từ 4 - 5 đời nay Theo các nhà khoa học cho biết, làng gỗ Đồng Kỵ có lịch sử tồn tại và phát triển khoảng 300 năm Ngôi đình làng Đồng Kỵ có từ năm 1745 cũng in đậm dấu ấn nghề trạm khắc với những hàng cột hoành tráng, những câu đối, hoành phi… chạm Long Phụng uốn lượn cùng mây gió Dân làng Đồng Kỵ luôn tự hào về ngôi đình làng mình bởi đó là công trình do chính họ dựng nên
Trang 28bằng tài năng và công sức tập thể dân làng Ba mươi bảy thợ khéo tay, tài giỏi làm đình khi xưa chính là những nghệ nhân tinh hoa của nghề mộc đang được
lớp lớp con cháu hôm nay tiếp bước và phát huy trong vận hội mới
Một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để cho các làng nghề ra đời, tồn tại và phát triển là nhu cầu của người tiêu dùng Dưới các triều đại phong kiến, mặc dù chưa có nhiều biện pháp khuyến khích phát triển làng nghề nhưng do nhu cầu của đời sống và do tính chất của nền kinh tế khép kín, người nông dân muốn có đủ dụng cụ, đồ dùng trong đời sống sản xuất và đời sống sinh hoạt thì phải tự mình làm ra Nghề mộc Đồng Kỵ có từ đó
Dưới các triều đại phong kiến, nghề mộc ở đây đã tồn tại và phát triển nhưng quy mô không lớn, người dân Đồng Kỵ chủ yếu đi làm xa ở các địa phương khác trong cả nước và chủ yếu là làm nhà, làm đồ gia dụng, có một số
ít sản xuất dịch vụ ở nhà nhưng không phát triển
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, ngoài việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên chúng còn khai thác tất cả những nguồn lực đem lại lợi ích cho chúng thong qua việc phát triển kinh tế thị trường Sản phẩm thủ công
mỹ nghệ đòi hỏi có tay nghề cao với kỹ thuật tinh vi được thực dân Pháp đặc biệt chú ý tới và ở một mức độ nào đó đã đầu tư khuyến khích phát triển và khai thác triệt để Tuy nhiên hoạt động của làng nghề vẫn gặp rất nhiều khó khăn về nguồn nguyên liệu, thị trường Nhiều gia đình không thể trụ lại với nghề đã phải chuyển sang làm nghề khác, có nhiều người đã chuyển đi nơi khác mang theo nghề truyền thống của quê hương
Từ cuối năm 1944 đến năm 1945 và sau năm 1945 do hoàn cảnh chiến tranh và tình hình đất nước có nhiều biến động, nghề mộc không có điều kiện phát triển, nhiều người đã bỏ nghề đi làm ăn ở các địa phương khác và để đáp ứng nhu cầu lương thực cho chiến tranh bà con nơi đây chỉ làm túc tắc vào những lúc nông nhàn và quay về sản xuất làm các sản phẩm thô sơ Năm 1966
Trang 29Đảng và nhà nước có chính sách khuyến khích tiểu thủ công nghiệp phát triển, nghề mộc tại Đồng Kỵ được phục hồi nhưng chưa có điều kiện phát triển mạnh
Năm 1986, khi nền kinh tế đất nước chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, làng Đồng Kỵ có điều kiện phát triển Kể từ khi nhà nước thực hiện chính sách mở cửa, phát triển nền kinh tế hàng hoá, gỗ Đồng Kỵ đã có “cơ hội” thâm nhập thị trường một số nước lân cận như Trung Quốc, Lào, Campuchia Từ những năm 1995 trở lại đây làng gỗ Đồng Kỵ càng có bước phát triển vượt bậc” Khi kinh tế thị trường thực sự đã thực sự
đi vào cuộc sống Ông giám đốc công ty mỹ nghệ Hưng Long - một xí nghiệp lớn ở địa phương cho biết: “đã có một thời gian dài đồ gỗ mỹ nghệ truyền thống Đồng Kỵ đứng trước nguy cơ bị mai một, hàng làm ra không tìm được thị trường, nhiều gia đình trong làng phải bỏ nghề vợ chồng con cái kéo nhau lên Hà Nội làm thuê kiếm sống qua ngày” Năm 1994 công ty Hưng Long được thành lập, tới năm 1996 cả làng có 5 - 6 công ty Sự phát triển làng nghề
đi vào cao điểm khi dự án khu công nghiệp được xây dựng tại địa phương vào năm 2000 đã tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty chuyên sản xuất và kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ào ạt ra đời Tính đến năm 2007 toàn bộ làng nghề có khoảng 200 công ty, ngoài ra còn có nhiều xí nghiệp chuyên sản xuất đỗ gỗ
mỹ nghệ
Bên cạnh sự ra đời của nghề mộc thì nghề nấu rượu cũng đã bắt đầu có Nghề nấu rượu ở nước ta có từ rất sớm vì người Việt nói chung rất phổ biến tập quán uống rượu trong các dịp đặc biệt như ngày lễ, tết, hội…nhưng nghề nấu rượu ở làng Đồng Kỵ thì mãi sau này mới có Nghề nấu rượu được một vài hộ gia đình trong làng thực hiện, và rượu này được nấu ra chủ yếu là để phục vụ trực tiếp nhu cầu của nhân dân trong làng Do đó, rượu ở đay không
có tiếng tăm như rượu ở những nơi khác
Trang 30Tiểu kết chương 1
Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất cả nước nhưng dân số lại đông nên người dân mặc dù đã có nhiều cố gắng đầu tư thâm canh, tăng vụ, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhưng hiệu quả kinh tế cũng như chất lượng cuộc sống vẫn chưa cao Dù nhiều người dân Bắc Ninh được Đảng và Nhà nước tạo điều kiện cho đi lao động hợp tác với nước ngoài, vận động hỗ trợ nhân dân vùng đất hẹp, khó khăn đi xây dựng vùng kinh tế mới, nhưng trong thực tế tỷ lệ thất nghiệp và bán thất nghiệp còn cao, chiếm từ 30 - 35% lao động nông thôn Theo sát tình hình thực tế cụ thể ở từng làng, từng địa phương theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh đã đưa
ra các biện pháp cụ thể hợp lý để phát triển hơn nữa nền kinh tế tỉnh Cụ thể trước năm 1986 kinh tế chủ yếu ở làng Đồng Kỵ là nông nghiệp và thủ công nghiệp, trong đó thủ công nghiệp bắt đầu được chú trọng hơn cả Lý do tiểu thủ công nghiệp được quan tâm sâu sắc hơn là do: không đòi hỏi nhiều vốn
và yêu cầu kỹ thuật cao, chủ yếu là tận dụng lao động tại địa phương có điều kiện làm việc phân tán trong hộ gia đình Do vậy nếu phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp sẽ thu hút được nhiều lao động nông thôn
Ngoài ra, sự phát triển của kinh tế tiểu thủ công nghiệp sẽ góp phần thực hiện phân bổ hợp lý lao động Nhiều lao động sẽ kết hợp phát triển nông nghiệp với ngành nghề ở nông thôn, thậm chí nhiều hộ sẽ chuyển hẳn sang làm nghề tiểu thủ công nghiệp Những hộ kiêm và chuyên sẽ là trung tâm thu hút lao động của địa phương và những vùng xung quanh, từ đó dần dần hình thành các làng nghề nông thôn, thực hiện phương thức “ly nông bất ly hương ”
Trang 31Chương 2 LÀNG ĐỒNG KỴ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TIỂU THỦ CÔNG
NGHIỆP TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015
2.1 Bối cảnh
Có thể nói kinh tế tiểu thủ công nghiệp trong các làng quê Việt Nam được xem như là các trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời,
có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu
hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ Có tổ nghề, các thành viên luôn ý thức tuân thủ những khế ước xã hội và gia tộc Sự liên kết hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử hình thành phát triển nghề nghiệp đã đưa tới sự
hình thành làng nghề ngay trên đơn vị cư trú, làng xóm truyền thống của họ
Trong các làng có nền kinh tế tiểu thủ công nghiệp phát triển thường có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền (sản xuất và dịch vụ phi nông nghiệp) hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề lâu đời theo kiểu cha truyền con nối Sản phẩm của họ làm ra chẳng những thiết thực mà hơn nữa còn là hàng cao cấp, tinh xảo, độc đáo và dường như không đâu sánh bằng
Do tính chất kinh tế hàng hóa thị trường của quá trình sản xuất và tạo sản phẩm các làng thực sự trở thành đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp Chính vì vậy mà vai trò, tác dụng của làng nghề đối với đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội là rất lớn Như vậy có thể nói sự khôi phục và phát triển các làng
có nền kinh tế tiểu thủ công nghiệp trong những năm gần đây đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Sản phẩm của nền kinh tế tiểu thủ công nghiệp không chỉ ngày càng chiếm lĩnh được thị trường trong nước mà còn có uy tín cao đối với thị trường nước ngoài Có thể nói hoạt động kinh tế chủ yếu của
Trang 32làng Đồng Kỵ là kinh tế tiểu thủ công nghiệp mà điển hình là nghề mộc hết sức nổi tiếng, ngoài ra còn có nghề nấu rượu Nghề mộc có ở Việt Nam khá lâu đời và tồn tại ở rất nhiều làng quê Một trong những làng quê có lịch sử lâu đời đó là làng gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Trải qua bao thăng trầm lịch sử nơi đây đã hình thành làng “bách nghệ” mà nổi bật nhất là nghề mộc, nghề chạm khảm đồ mỹ nghệ Còn nấu rượu chỉ là để phục vụ nhu cầu của dân trong làng
và một vài làng xung quanh
Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam có lịch sử phát triển từ lâu đời gắn liền với tên của các làng quê và những sản phẩm nổi tiếng, hoàn mỹ, độc đáo Ở đó còn là nơi các thợ thủ công và nghệ nhân tài năng tạo nên những sản phẩm mang bản sắc riêng của từng người thợ, từng vùng miền khó có thể bắt chước được Những sản phẩm thủ công truyền thống được làm ra thường là những công cụ cần thiết phục vụ sản xuất hay những đồ dùng trong đời sống sinh hoạt hàng
ngày từ các nghề đan lát, gốm sứ, chế tác kim loại, chạm khắc gỗ
Nếu như trước năm 1986 kinh tế làng Đồng Kỵ chủ yếu là kinh tế nông nghiệp và kinh tế công thương nghiệp (như mua bán trâu bò…) thì sau năm
1986 làng Đồng Kỵ nổi lên phát triển nền kinh tế tiểu thủ công nghiệp (trong
đó nghề mộc) là chủ yếu
2.1.1 Thuận lợi
Đất nước chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường
đã tạo điều kiện thuận lợi cho các làng nghề trong cả nước nói chung và làng mộc Đồng Kỵ tại Bắc Ninh nói riêng những cơ hội phát triển nhanh chóng Năm 1996, khi tỉnh có chủ trương khôi phục, phát triển nghề thủ công truyền thống và tiến hành đưa nghề mới vào các làng chưa có nghề, toàn tỉnh mới có
384 làng có nghề/640 làng thì tới năm 2008 đã tăng lên 532 làng có nghề/640 làng, chiếm 83% tổng số làng của Bắc Ninh Trong đó có 62 làng đạt tiêu
Trang 33chuẩn là làng nghề với 31 làng nghề được Uỷ ban nhân dân tỉnh công nhận là làng nghề truyền thống
Tại thời điểm tái lập tỉnh năm 1997, nền kinh tế của tỉnh Bắc Ninh về
cơ bản là kinh tế nông nghiệp, quy mô nhỏ và còn chậm phát triển so với các tỉnh bạn trong vùng; với cơ cấu kinh tế: nông nghiệp - lâm nghiệp - thuỷ sản
là 46,0%, công nghiệp - xây dựng cơ bản là 24,1% và dịch vụ là 29,9%; tốc
độ tăng trưởng chỉ đạt 8,3%/năm; GDP bình quân 256USD/người/năm
Qua hai kỳ đại hội, các nghị quyết của tỉnh Đảng bộ đã dần cụ thể hoá các chủ trương, chính sách thu hút vốn đầu tư Đảng và Nhà nước vào điều kiện cụ thể của địa phương để phát huy các tiềm năng, lợi thế, nội lực hiện có
Và sau hơn mười năm nền kinh tế của tỉnh đã có bước phát triển mới, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn của tỉnh đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ
Bắc Ninh xác định công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và kinh tế nông thôn có vị trí quan trọng hàng đầu Và chỉ có công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thành công thì mới có thể từng bước đưa nền kinh tế thuần nông thành nền kinh tế sản xuất hàng hoá hiện đại, theo hướng nâng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ lên so với ngành nông nghiệp, tiến dần lên nền kinh tế tri thức
Nội dung trọng tâm của công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Ninh là phát triển công nghiệp nông thôn, khôi phục và phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp Trên cơ sở khôi phục và phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp truyền thống sẽ thúc đẩy mạnh mẽ việc phân công lao động trong nội bộ từng thôn - xóm, trong khu vực nông thôn và địa phương; phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp mới, thu hút lao đông dôi dư,
Trang 34chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhà nước và nông thôn, xoá đói giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội
Đến năm 2005, tăng trưởng kinh tế trên địa bàn đạt 14,5%/năm, trong
đó công nghiệp tăng 19,54%, dịch vụ tăng 16,58%, nông lâm nghiệp tăng 4,24%; cơ cấu kinh tế đã đạt: công nghiệp 47,2%, dịch vụ 27,1%, nông nghiệp 25,7%; GDP đầu người trên 500USD/năm [10, tr.54]
Tỉnh Bắc Ninh còn không hạn định thời gian giảm thuế cho các cơ sở ngành nghề ở nông thôn… Các doanh nghiệp vào cụm, khu công nghiệp được hưởng ưu đãi cao nhất miễn và giảm thuế đất 10 năm liên tục và giảm 50% cho các năm tiếp theo hoặc được giảm và miễn thuế thu nhập doanh nghiệp
Trước tình hình đó các làng sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, gồm các làng nghề thuộc 3 xã Đồng Quang, Phù Khê, Hương Mạc huyện Từ Sơn Bàn ghế, gường tủ, tranh, tượng của Đồng Kỵ và các làng khác như Phù Khê Đông, Phù Khê Thượng, Mai Động, Kim Thiều
đã có mặt trên thị trường cả nước và nhiều nước ở châu Âu, châu Á Tiêu biểu
là làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ thuộc xã Đồng Quang Những năm gần đây, làng nghề Đồng Kỵ đã phát triển mạnh mẽ, hàng năm tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp trên 100 tỷ đồng, sản phẩm làm ra có tới 75% phục
vụ xuất khẩu Dân số làng Đồng Kỵ có 13.000 người thì có 6.000 lao động làm nghề, ngoài ra còn thu hút thêm 4.000 lao động từ bên ngoài Đến nay, làng Đồng Kỵ có khoảng 200 công ty, doanh nghiệp và hơn 1.500 hộ sản xuất
- kinh doanh gỗ mỹ nghệ Sự phát triển của làng nghề đã góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế tại địa phương, năm 2007 cơ cấu kinh tế toàn xã là công nghiệp: 89%, nông nghiệp và dịch vụ: 11%, thu nhập bình quân toàn xã là 14.4 triệu đồng/người/năm
Hơn nữa trong những năm vừa qua tỉnh Bắc Ninh đã chú trọng khôi phục và phát triển đa dạng các nghành nghề tiểu thủ công nghiệp theo nhiều
Trang 35quy mô hộ gia đình, tổ chức hợp tác xã, xí nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn nhằm mục đích vừa tăng cường giá trị sản xuất vừa thu hút được nguồn lao động ở khu vực nông nghiệp nông thôn Làng Đồng Kỵ với
sự phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp là chính đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu trong và ngoài nước Chính vì vậy mà doanh thu không ngừng tăng nhanh qua các năm
Ngoài ra với chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp làng nghề, hiện tại tỉnh Bắc Ninh đã từng bước quy hoạch, xây dựng và mở rộng 23 cụm công nghiệp làng nghề với tổng diện tích trên 500 ha tạo điều kiện cho hàng ngàn
hộ gia đình tổ chức làm các nghành nghề thủ công truyền thống Trong đó làng thủ công mỹ nghệ Đồng Kỵ ngoài các hộ gia đình kinh doanh hoạt động một cách độc lập với tư cách là các công ty tư nhân thì lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh còn quy hoạch thành cụm công nghiệp thu hút đựoc hàng trăm doanh nghiệp
tư nhân, tổ hợp sản xuất, hộ cá thể đầu tư sản xuất kinh doanh Không chỉ vậy đứng trước những biến đổi của thị trường và nhu cầu của người tiêu dùng, các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, các cá nhân và nghệ nhân làng gỗ Đồng Kỵ đã cải tiến, nghiên cứu và cho ra đời nhiều mẫu mã mới trên cơ sở sản phẩm truyền thống và khôi phục lại những ngành nghề bị mai một
Bên cạnh đó còn là vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm làng gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ rất phong phú không chỉ ở trong nước mà còn có mặt tại các thị trường trên thế giới Tại các thị trường nội địa, sản phẩm làm ra không chỉ được tiêu thụ ở thị trường trong vùng, miền mà còn tiêu thụ rộng rãi trên phạm vi cả nước Với lợi thế về thị trường vùng ven đô Hà Nội - là nơi tập trung các hội nghề nghiệp của cả nước do đó thường xuyên được tiếp cận với những thông tin về thị trưuờng, quảng cáo các mặt hàng Đối với thị trường xuất khẩu cũng ngày được mở rộng Các mặt hàng của các làng nghề sản xuất
ra không chỉ được xuất khẩu sang các nước và vùng lãnh thổ ở châu Á như:
Trang 36Trung Quốc, Đài Loan, Xingapore mà còn vươn xa hơn tới thị trường châu Âu
và nhiều châu lục khác như: Pháp, Mỹ, EU, Canada Nhất là trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá nền kinh tế, thông tin bùng nổ, các mối quan hệ quốc tế được tăng cường mở rộng là điều kiện lý tưởng để sản phẩm hàng thủ công truyền thống trên địa bàn tỉnh “vượt đại dương đến với nhiều nước trên thế giới”
Bên cạnh những yếu tố thuận lợi để phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp ở làng Đồng Kỵ thì vẫn tồn tại những khó khăn nhất định cần được khắc phục
2.1.2 Khó khăn
Thương hiệu sản phẩm làng nghề hầu như chưa có, cơ sở hạ tầng còn kém Mặt khác, trong quá trình hội nhập tổ chức thương mại kinh tế thế giới một số mẫu mã sản phẩm của làng nghề truyền thống sẽ có cơ hội phát triển mạnh nhưng cũng có không ít những mẫu mã sẽ không trụ được trước “cơn bão thị trường” Hơn nữa do tác động của nền kinh tế thị trường khi mà thị trường truyền thống ở các nước Đông Âu và Liên Xô (trước khi tan dã) có biến động lớn, thị trường xuất khẩu mới khó tiếp cận, thị trường trong nước cạnh tranh gay gắt nên nhiều mặt hàng làng nghề phát triển theo hướng hiện đại chuyên nghiệp, nhiều nét đặc sắc truyền thống dần bị mai một Mặt khác, một số yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh tế thủ công nghiệp gặp khó khăn, không ổn định
Trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, do giá nguyên liệu và giá hàng hóa biến đổi bất thường nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của làng gỗ Đồng Kỵ Nguồn điện phục vụ cho hoạt động sản xuất thiếu hụt khiến Đồng
Kỵ phải chống đỡ rất vất vả để vượt qua khó khăn Từ cuối năm 2008 do bị ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn thế giới Đồng Kỵ cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó khiến nhiều doanh nghiệp phải hoạt động cầm chừng, không ít doanh nghiệp không trụ được đang trước bờ phá sản
Trang 37Sản phẩm của làng nghề tiêu thụ hầu hết mang tính thời vụ và do các doanh nghiệp tự tìm kiếm thị trường nên tính rủi ro còn khá cao Những doanh nghiệp tư nhân nhỏ chưa chủ động được đầu ra trong việc tự tìm kiếm thị trường, nguồn vốn, công nghệ… phải thông qua các khâu trung chuyển, các đại lý của địa phương khác nên hiệu quả kinh tế bị chia sẻ, thương hiệu nghề truyền thống không được khẳng định Đồng thời chỉ chú ý đến lợi ích trước mắt, chưa chú ý đến lợi ích lâu dài trong sản xuất kinh doanh, thiếu tự giác trong việc thực hiện nghĩa vụ của cơ sở như nộp thuế, chế độ sổ sách báo cáo, bảo vệ môi trường…
Một khó khăn nữa là năng lực sản xuất của Đồng Kỵ còn phần tán nhỏ,
lẻ, manh mún; cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được so với yêu cầu của sự phát triển; tình trạng ô nhiềm môi trường tại các làng nghề ở Bắc Ninh rất trầm trọng; mặt bằng sản xuất chật hẹp; tốc độ chuyển biến chủng loại sản phẩm trong nghề còn chậm, chủ yếu sản xuất ra những sản phẩm đơn chiếc, mẫu mã đơn điệu giá trị kim nghạch xuất khẩu chưa cao trong khi đó năng lực về vốn còn hạn chế
Bên cạnh đó về các chính sách của nhà nước: Chưa có định hướng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nói chung và các làng nghề nói riêng; Chưa có những chính sách và giải pháp cụ thể để tháo gỡ khó khăn, khuyến khích phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh và các làng nghề trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa; Đặc biệt là chưa thành lập cơ quan trung gian có chức năng giúp đỡ, hướng dẫn và tư vấn cho các cơ sở về vấn
đề thị trường, vốn, công nghệ, đào tạo lao động, ô nhiễm môi trường… Công tác quản lý của chính quyền các cấp, nhất là xã còn buông lỏng, chưa quan tâm phát triển ngành nghề, quản lý làng nghề Nhận thức về phát triển ngành nghề ở nông thôn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế Riêng với nghề mộc mỹ nghệ, các cơ sở có thể vừa
Trang 38sản xuất, vừa kinh doanh, vừa làm dịch vụ Công ty trách nhiệm hữu hạn và hợp tác xã là các cơ sở giải quyết lượng đầu vào đầu ra lớn cho làng nghề Các hộ làm nghề có thể là chuyên đục, chạm hoặc chuyên hàng ngang hoặc chuyên khảm (thường mướn thợ Hà Tây), hoặc có thể thực hiện nhiều công đoạn để tạo
ra sản phẩm Ở nghề mộc mỹ nghệ, hiệp hội gỗ đã được thành lập nhằm tháo gỡ các khó khăn về nguyên liệu gỗ và tiêu thụ sản phẩm cho ngành nghề
Vì chỉ là sản xuất nhỏ lẻ, manh mún nên rượu làng Đồng Kỵ không chịu tác động của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên do nhu cầu của người dân ngày càng thay đổi, họ ít dùng rượu mà chuyển sang dùng bia và một vài hãng nước ngọt nên việc nấu rượu ở làng Đồng Kỵ cũng có xu hướng giảm
Đặc biệt là sự phát triển của kinh tế tiểu thủ công nghiệp tính theo các chỉ tiêu tương đối và tuyệt đối đều chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế -
xã hội hiện có; nguyên nhân của tình trạng trên là: do phát triển công nghiệp
tự phát, kiểu phong trào, chưa làm tốt công tác quy hoạch; sử dụng công nghệ lạc hậu, quy mô hộ gia đình, với lao động thủ công là chủ yếu; sản phẩm chưa
có thị trường ổn định; thu nhập của người làm nghề thủ công nghiệp còn thấp;
sự liên kết giữa kinh tế tiểu thủ công nghiệp với công nghiệp và kinh tế nông thôn còn hạn chế; mô hình sản xuất kinh tế tiểu thủ công nghiệp chưa có hiệu quả; công tác xử lý môi trường còn thô sơ, quy mô nhỏ… nên ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng hiện đang ở mức báo động
2.2 Hoạt động sản xuất
2.2.1 Quy mô sản xuất
Trong lĩnh vực phát triển làng nghề truyền thống, nghề mộc thủ công
mỹ nghệ Đồng Kỵ phát triển mạnh trước tiên phải nói đến Nhà nước có chính sách phù hợp khuyến khích kinh tế hộ gia đình, tạo điều kiện cho làng nghề phát triển trong thời kì mở cửa và cơ chế thị trường Đảng và chính quyền xã thôn đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt, tổ chức hướng dẫn cho các doanh
Trang 39nghiệp thực hiện đăng kí kinh doanh theo luật hợp tác xã và thực hiện nghị quyết 04 của Tỉnh ủy Bắc Ninh về phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp, tạo hành lang pháp lý cho làng nghề phát triển Thực hiện đa dạng các hình thức sản xuất thủ công: hộ gia đình, tổ hợp tác và các hình thức doanh nghiệp Bước đột phá trong phát triển làng nghề là đã một phần giải quyết vấn đề mặt bằng sản xuất quy hoạch khu công nghiệp làng nghề đáp ứng nhu cầu nhân dân mở rộng sản xuất kinh doanh vốn đã rất chật hẹp
Năm 1997 sản xuất đỗ gỗ mỹ nghệ ở Đồng Kỵ gặp nhiều khó khăn về nguồn nguyên liệu Sau chỉ thị 286 của Chính phủ ban hành về việc bảo vệ và phát triển rừng, có ghi “Cấm xẻ gỗ và các loại sản phẩm chế biến từ gỗ” trừ hàng thủ công mỹ nghệ, nhưng qua đó phần nào gây ảnh hưởng đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Cuối năm 1997, nhiều doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất không tiêu thụ được sản phẩm nên việc sản xuất của làng nghề có phần giảm hơn so với năm trước Từ quý 2 năm 1998 trở đi, nhờ chính sách khuyến khích tạo điều kiện của Nhà nước, việc sản xuất của làng Đồng Kỵ mới đi vào ổn định và phát triển mạnh mẽ
Tính đến hết năm 1999, thôn Đồng Kỵ có trên 1000 hộ sản xuất đồ gỗ dân dụng và đồ gỗ mỹ nghệ, 28 công ty trách nhiệm hữu hạn và hợp tác xã [20, tr.3] Kinh tế các hộ sản xuất và các doanh nghiệp phát triển tạo ra nhiều công ăn việc làm cho chính lực lượng lao động tại chỗ và giải quyết hàng ngàn lao động các xã bạn sang làm công và có thu nhập khá, bình quân 4.5 -5 triệu đồng/người /năm Sản xuất thủ công nghiệp đã có những chuyển biến rõ rệt, tốc độ phát triển cao, tổng doanh thu sản xuất đồ gỗ năm 1999 đạt 84.966
tỉ đồng, trong đó có 28 doanh nghiệp sản xuất gỗ mỹ nghệ đạt 41.905 tỉ đồng,
so với năm 1998 tăng 30% [9, tr.3]
Làng Đồng Kỵ có 2832 hộ gia đình thì có đến 90% các hộ gia đình tham gia sản xuất và kinh doanh các mặt hàng chế biến từ gỗ Nơi đây được
Trang 40mệnh danh là “làng doanh nhân”, “làng giám đốc” bởi cả làng có tới hơn 200 công ty với khoảng 500 giám đốc, phó giám đốc Đồng Kỵ có khả năng giải quyết việc làm cho 6.000 lao động tại chỗ và khoảng 4.000 người đến từ các vùng lân cận
Bên cạnh các hộ gia đình, hợp tác xã, còn có rất nhiều công ty chuyên kinh doanh và sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Các công ty này không chỉ có trụ sở tại làng mà còn có trụ sở tại nhiều địa phương trong cả nước Tại các “vệ tinh” ở các tỉnh, khi có khách đặt hàng sẽ tiến hành kí kết hợp đồng sau đó gửi yêu cầu của khách về công ty “mẹ” tại địa phương để tiến hành chế tác sản phẩm Công ty “mẹ” nhiều khi lại giao cho các “vệ tinh” quanh vùng chế tác, khi nhận hàng về chỉ tiến hành một số công đoạn gia công cuối cùng và tiến hành giao hàng cho khách theo hợp đồng đã kí kết
Bước vào những năm đầu thế kỷ XXI để đáp ứng nhu cầu của thị trường, những sản phẩm của làng nghề đựơc cải biến mẫu mã rất nhiều Đồ gỗ Đồng
Kỵ không chỉ được ưa chuộng trong nước mà đã xuất khẩu sang nhiều thị trường nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc Nhiều khâu trong hoạt động sản xuất tạo sản phẩm đã được chuyên môn hóa Bên cạnh là một làng nghề truyền thống, hiện nay Đồng Kỵ đang đảm nhận là một trung tâm chuyên kinh doanh các mặt hàng mỹ nghệ được chế tạo từ gỗ
Làng Đồng Kỵ thu hút 5000 lao động trên tổng số 6000 lao động trên địa bàn, ngoài ra còn giải quyết công ăn cho hàng nghìn người từ các xã xung quanh và các vùng phụ cận Hiện nay việc truyền nghề ở Đồng Kỵ mang đậm màu sắc truyền thống nghĩa là theo kiểu truyền nghề trực tiếp từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngoài ra còn có trung tâm dạy nghề, truyền nghề đặt ở giữa làng nhằm dạy và nâng cao tay nghề cho người lao động Hầu hết sản phẩm của các hộ đều khá giống nhau về mẫu mã, chủng