LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội về “Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Ba na từ thực tiển tỉnh Kon Tum”
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HẢI ÂU
PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC BA NA
TỪ THỰC TIỄN TỈNH KON TUM
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số : 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS VÕ KHÁNH VINH
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Công tác xã hội về “Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Ba
na từ thực tiển tỉnh Kon Tum” là hoàn toàn trung thực, là kết quả nghiên
cứu nghiêm túc của cá nhân, không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng
lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC BANA 10
1.1 Khái niệm, vài nét khái quát về người dân tộc Bana 101.2 Lý luận về phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số 141.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số 201.4 Cơ sở chính trị, pháp lý của phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số 24
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC BANA TẠI TỈNH KON TUM 29
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 292.2 Thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana từ thực tiễn tỉnh Kontum 312.3 Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana từ thực tiễn tỉnh Kontum 42
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP HỔ TRỢ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC BANA TẠI TỈNH KON TUM 58
3.1 Một số giải pháp chung 583.2 Một số giải pháp tiếp cận dưới góc độ công tác xã hội nhằm phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana tại tỉnh Kon Tum 61
KẾT LUẬN 75 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ phát triển cộng đồng 17
Sơ đồ 2.1: Thiết chế tự quản truyền thống của người Ba na 43
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Ông /bà có đi cúng khi người nhà ốm đau 35Biểu đồ 2.2: Cây trồng chính của gia đình Ông/Bà 36Biểu đồ 2 3: Thanh niên Ba na đối với việc mặc trang phục thuyền thống 38Biểu đồ 2 4: Hiểu biết của Ông/ Bà về nghề truyền thống 45
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi công tác dân tộc là nhiệm vụ chiến lược của Đảng Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định, đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của đất nước
Nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống từ ngàn đời nay Đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tồn tại và phát triển là truyền thống quí báu của đồng bào ta Với những điều kiện, trình độ, phong tục tập quán khác nhau, cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn đoàn kết một lòng phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nếu không có sự cảm thông chia sẻ, đồng thuận, giúp đỡ nhau, bình đẳng, tôn trọng nhau thì khó có thể bền vững Để đảm bảo công bằng, bình đẳng xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã
có nhiều chính sách, cơ chế để hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số vùng khó khăn phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo, giáo dục đào tạo, mở mang văn hóa…
Các hỗ trợ xã hội đã tác động, cải thiện đáng kể trong việc nâng cao chất lượng sống, môi trường sống cho các cộng đồng người dân tộc thiểu số, tại các tỉnh miền núi khó khăn trong cả nước Song điều quan trọng và mang tính quyết định đó là bản thân người dân tộc thiểu số phải chủ động vươn lên, phát huy nội lực cộng đồng, tranh thủ sự hỗ trợ của Nhà nước, sự giúp đỡ của các dân tộc anh em để phát triển
Vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc là những vấn đề lớn, phức tạp và nhạy cảm, nhiều nội dung của vấn đề này đang cần được nghiên cứu giải quyết cả về lý luận và thực tiễn Những vấn đề thời sự liên quan đến dân tộc, quan hệ dân tộc trên thế giới cũng như trong nước đang làm cho việc tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề phát triển cộng đồng đối với các dân tộc thiểu số một cách
Trang 7bền vững, phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước càng trở nên quan trọng và cấp thiết
Từ trước đến nay, dựa theo phương pháp tiếp cận truyền thống trong phát triển cộng đồng (PTCĐ) để giải quyết những vấn đề xã hội của cộng đồng như đói nghèo, bảo tồn văn hóa truyền thống, trợ giúp các nhóm yếu thế… chủ yếu vào sự giúp đỡ của các cơ quan nhà nước, các dịch vụ hỗ trợ từ nguồn lực bên ngoài cộng đồng, đã khiến bản thân các cộng đồng dân tộc thiểu số và người DTTS trở nên phụ thuộc, tạo tâm lý trông chờ vào nhà nước
mà không phát huy được nguồn nội lực của cộng đồng một cách tốt nhất Thực tiễn đã chứng minh khi và chỉ khi chính người dân trong cộng đồng có nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vấn đề của cộng đồng từ đó cùng tham gia với lãnh đạo địa phương đề ra giải pháp giải thực hiện, thì lúc ấy vấn đề mới được thực hiện một cách triệt để và duy trì hiệu quả, bền vững trong cộng đồng
Kon Tum là một trong các tỉnh miền núi nghèo của Việt Nam, hộ dân tộc thiểu số chiếm 52% so với dân số toàn tỉnh (62.680/120.608 hộ) Đời sống của cộng đồng các DTTS thuộc vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiều khó khăn, tỉ
lệ hộ nghèo người DTTS là 29.187 hộ chiếm 46,56% hộ DTTS và chiếm 92,6% hộ nghèo toàn tỉnh Đẩy mạnh các hoạt động PTCĐ sẽ là giải pháp hữu hiệu để cộng đồng người dân tộc Bana nơi đây phát triển bền vững về cả 3 yếu tố: kinh tế, môi trường xã hội và con người
Thực tế, Kon Tum đã có nhiều công trình nghiên cứu về đồng bào DTTS
ở các khía cạnh khác nhau: Nghiên cứu về văn hóa, về hỗ trợ chính sách đối với DTTS nhưng nghiên cứu về PTCĐ dưới góc độ công tác xã hội đối với người DTTS còn ít và chưa đồng bộ
Xuất phát từ thực tế, từ nhu cầu phát triển cộng đồng người dân tộc Ba
na trên địa bàn, tác giả chọn đề tài “Phát triển cộng đồng đối với người dân
Trang 8tộc Bana từ thực tiển tỉnh Kon Tum” để nghiên cứu và làm Luận văn Thạc
sỹ chuyên ngành công tác xã hội
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Tác giả Griul Guillminet đã viết tác phẩm “Bộ lạc Ba na ở Kon Tum”
gồm 2 tập được xuất bản tại pháp năm 1939 Đây có thể được nhìn nhận là tác giả đầu tiên là người nước ngoài nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống
về một dân tộc tại Kon Tum Tác phẩm đề cập đến rất nhiều lĩnh vực thuộc đời sống vật chất, tinh thần, văn hóa, xã hội… của người Ba na Đây là tư liệu quan trọng có thể kế thừa trong quá trình nghiên cứu hoạt động phát triển cộng đồng người dân tộc Ba na của đề tài
Cuốn sách “ Miền đất huyền ảo” của tác giả Dambo (Jacque Dournes), xuất bản tại Pháp năm 1950 có tựa đề “Các dân tộc miền núi Nam Đông
Dương”, được nhà văn Nguyên Ngọc dịch từ nguyên bản tiếng Pháp năm
2003 Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Jacque Dournes đã đề cập đến phần lớn các dân tộc Tây nguyên trên nhiều phương diện khác nhau Ngoài việc ông đi vào phân tích sâu các yếu tố đặc trưng của từng tộc người như: điều kiện sống, phong tục tập quán, tổ chức đời sống - xã hội…thì điều ông đặt biệt quan tâm đó chính là làng, tổ chức xã hội cơ bản, duy nhất ở vùng các dân tộc thiểu số Tây nguyên Qua cách đề cập của tác giả, đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về tổ chức xã hội truyền thống của các tộc người bản địa Kon Tum Ông nghiên cứu trong mối quan hệ tương quan, không tách rời từ gia đình - dòng họ - cộng đồng làng Đây cũng chính là tiền đề để tác giả nhìn nhận rõ nét khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cộng đồng người dân tộc Ba na trong truyền thống và những vấn đề mới nảy sinh trong cộng đồng hiện tại, để có những đánh giá một cách đầy đủ nhất, đưa ra những giải pháp phát triển cộng đồng phù hợp trong tiến trình phát triển xã hội
Trang 92.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Phát triển cộng đồng tại Việt Nam được biết đến lần đầu tiên vào giữa năm 1950 thông qua một số các hoạt động phát triển cộng đồng tại các tỉnh phía nam, chủ yếu là lĩnh vực giáo dục, thông qua các chương trình phát triển nông thôn của sinh viên thời bấy giờ Từ năm 1980 cho đến nay, phát triển cộng đồng được biết đến rộng rãi hơn qua các chương trình viện trợ phát triển của nước ngoài tại Việt Nam, các chương trình phát triển có ứng dụng phương pháp phát triển cộng đồng như: Chương trình xóa đói giảm nghèo, tiêm chủng
mở rộng, phổ cập giáo dục, bảo hiểm y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình, tín dụng cho hộ nghèo… mà ở đó cần có sự tham dự của người dân tại cộng đồng như một trong những nhân tố quyết định, để chương trình đạt được tính hiệu quả bền vững
Một trong những tài liệu nghiên cứu sớm nhất trong nước về dân tộc Ba
na đó là cuốn “ Mọi Kon Tum” của 02 tác giả Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi xuất bản năm 1937 Nội dung chủ yếu tập trung về đời sống xã hội của người Ba na, trong đó vấn đề về tổ chức làng và các thiết chế xã hội của làng được quan tâm song chỉ dừng lại ở mức độ quan sát, ghi chép thực tế mà chưa nghiên cứu sâu Đây cũng là nguồn tư liệu quí để tác giả tiếp tục nghiên cứu về sự ảnh hưởng của thiết chế xã hội của làng đến quá trình phát triển của cộng đồng So sánh những yếu tố đã có sự thay đổi, phát triển theo thời gian cùng với sự phát triển chung của xã hội Nhìn nhận được các giá trị bền vững
đã được cộng đồng lưu giữ suốt gần 8 thập kỷ qua
Đối với vấn đề nghiên cứu về hoạt động của cộng đồng người Ba na
cuốn “ Dân tộc Ba na ở Việt Nam” của tác giả Bùi Minh Đạo xuất bản năm
2006 Đây là tài liệu chuyên khảo về dân tộc Ba na ở Tây nguyên, sách được đánh giá là công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện nhất về dân tộc Ba
na từ trước đến nay Hầu như những vấn đề cơ bản về dân tộc Ba na đã được
Trang 10nghiên cứu: môi trường cư trú, dân cư, văn hóa xã hội, văn hóa đảm bảo đời sống, truyền thống yêu nước, tuy nhiên, về các hoạt động có ý nghĩa đến PTCĐ như: Phát huy nội lực của cộng đồng trong phát triển kinh tế xã hội, hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức,… chưa được đề cập
Đã có nhiều nghiên cứu về phát triển cộng đồng trong nước, theo tác giả Hoàng Anh Dũng (2013), phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực và tài sản cộng đồng, đã nhấn mạnh về phương pháp tiếp cận dựa vào nhu cầu và sự kết nối cộng đồng (Kết nối mạng lưới, tổ chức, cá nhân, dịch vụ hỗ trợ ) để phát triển Ông xem yếu tố phát huy nội lực cộng đồng là yếu tố quyết định sự thay đổi, phát triển của cộng đồng chứ không phải các yếu tố hỗ trợ từ bên ngoài
Phát triển cộng đồng và nghiên cứu về người dân tộc Ba na trong nước
đã được nghiên cứu khá nhiều so với các dân tộc bản địa khác của Kon Tum Song sự nghiên cứu chuyên sâu về phát triển cộng đồng đối với người dân tộc
Ba na tại tỉnh Kon Tum thì chưa có đề tài nào đề cập Hiện tại cộng đồng người Ba na Kon Tum vẫn đang đoàn kết một lòng, cùng các dân tộc anh em tích cực xây dựng và phát triển Kon Tum Nhiều chế độ chính sách về hỗ trợ
xã hội đối với người dân tộc thiểu số đã được áp dụng, nhiều dự án phát triển cộng đồng đã được triển khai thực hiện, song thực tế đời sống của người dân tộc Ba na vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn Ngay tại địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum nơi có đa số người Ba na sinh sống thì tỉ lệ hộ nghèo DTTS chiếm 73,72% tổng số hộ nghèo toàn thành phố, tỉ lệ hộ cận nghèo chiếm tỉ lệ 71,43%
Để nâng cao chất lượng cuộc sống cho các cộng đồng người dân tộc thiểu số Kon Tum nói chung và người dân tộc Ba na tỉnh Kon Tum nói riêng, phương pháp phát triển cộng đồng chính là công cụ hữu hiệu để xây dựng và thúc đẩy cộng đồng người Ba na thoát nghèo và phát triển bền vững
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana từ thực tiễn tỉnh Kon Tum và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này Từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana tại tỉnh Kon Tum
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu về lý luận phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana từ thực tiễn tỉnh Kon Tum
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Các hộ dân người Bana (100 hộ), đã bao gồm già làng, trưởng thôn,
các nhóm trưởng
+Lãnh đạo Đảng ủy, UBND xã (4 người Các tổ chức chính trị - xã hội
có liên quan (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội nông dân, UBMTTQVN, Đoàn thành niên.) (10 người)
4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
4.2.1 Phạm vi về đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu về thực trạng phát triển cộng đồng đối với người dân tộc
Bana từ thực tiển tỉnh Kon Tum
Trang 124.2.2 Phạm vi về không gian, thời gian:
- Về không gian: Nghiên cứu cộng đồng người Bana của phường
Thắng Lợi, xã ĐăkRơwa, Thành phố Kon Tum, xã ĐăkTơRe, huyện Kon
Rẫy, tỉnh Kon Tum
- Về thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 03/2016 đến tháng
7/2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận:
Sử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học, các học thuyết khoa
học, vận dụng quan điểm, đường lối chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, về quyền công dân, về quyền con người, về chính sách phát triển kinh tế, xã hội để phân tích chính sách nhằm phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu
số nói chung, khu vực tây nguyên nói riêng trong đó có người dân tộc Bana tỉnh Kon Tum
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu và phân tích tài liệu:
Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, nội dung từ các nguồn tài liệu
đã được công bố hoặc kết luận rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết trong quá trình nghiên cứu của bản thân
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Tiến hành phỏng vấn sâu đại diện cán bộ lãnh đạo địa phương, già làng, các hộ dân tộc Ba na tại địa bàn nghiên cứu để tìm hiểu, đánh giá về nội lực cộng đồng, các chính sách hỗ trợ để phát triển cộng đồng
- Phương pháp điều tra bảng hỏi:
Trang 13Xây dựng bảng hỏi để đo lường mức độ nhận thức của người dân về các hoạt động PTCĐ, thực tế việc áp dụng các phương pháp, cách tiếp cận của cộng đồng đối với hoạt động PTCĐ, vai trò của tác nhân cộng đồng
- Phương pháp quan sát:
Phương pháp này được thực hiện thường xuyên trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài để có cái nhìn thật sự khách quan và chân thực, cụ thể nhất về vấn đề cần nghiên cứu
- Phương pháp tham gia:
Những thông tin thu được từ quá trình trực tiếp tham gia hoạt động phát triển cộng đồng với người dân tại địa bàn, cùng với thông tin thu thập được qua xử lý tài liệu, phỏng vấn sâu, sẽ cho tác giả cái nhìn sâu sắc, đầy đủ và bao quát, khách quan, độ chính xác cao về vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Đề tài sử dụng hệ thống khái niệm, phạm trù, lý thuyết, phương pháp công tác xã hội, PTCĐ vào phân tích thực trạng và đưa ra các đề xuất nhằm phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana tại tỉnh Kon Tum
Kết quả của đề tài sẽ làm phong phú thêm, bổ sung thêm những thông tin
về phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana tại tỉnh Kon Tum nói riêng và đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây nói chung, góp phần vào việc tăng cường tình đoàn kết dân tộc, phát huy đồng thuận xã hội, dân chủ, tạo sự bình đẳng, tích cực xây dựng quê hương Kon Tum ổn định và phát triển
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà hoạch định chính sách nhìn nhận rõ hơn những mặt được và hạn chế của chính sách hỗ trợ, chế độ ưu đãi của Đảng và nhà nước ta trong việc góp phần phát triển cộng đồng các dân tộc thiểu số, trong đó có người dân tộc Bana tỉnh Kon Tum
Trang 14Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho chính người dân tộc Bana tỉnh Kon Tum nhìn nhận được một cách đầy đủ về các nguồn lực của cộng đồng, tài sản, thế mạnh của cộng đồng, từ đó nâng cao nhận thức về việc bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống, phát huy sức mạnh nội lực để PTCĐ bền vững, không trông chờ, thụ động vào sự hỗ trợ, giúp đỡ từ bên ngoài cộng đồng
Giúp cho các tác viên cộng đồng nói riêng và các ngành khoa học khác nói chung có những hiểu biết thêm về sự cần thiết phải đẩy mạnh các hoạt động của công tác xã hội trong PTCĐ đối với người dân tộc Bana
Đảm bảo thực hiện tốt quan điểm đoàn kết các dân tộc, tạo cơ hội bình đẳng, hỗ trợ nhau cùng nhau phát triển của Đảng và Nhà nước ta
Làm tài liệu nghiên cứu các đề tài tiếp theo của chính bản thân và các bạn đồng nghiệp
7 Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vẫn đề lý luận về phát triển cộng đồng đối với người
dân tộc Ba na
Chương 2: Thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân
tộc Banna tại tỉnh Kon Tum
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển
cộng đồng đối với người dân tộc Bana tại tỉnh Kon Tum
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC BANA 1.1 Khái niệm, vài nét về người dân tộc Bana
1.1.1 Khái niệm Tộc người, dân tộc, dân tộc thiểu số
- Tộc người (Ethnoc, Ethnie): là hình thái đặc thù của một tập đoàn
người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trọng quá trình phát triển tự nhiên và xã hội được phân biệt bởi ba tiêu chí cơ bản, mang tính ổn định và tương đối bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử là : ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng
- Dân tộc (Nation) được hiểu theo hai nghĩa:
+ Một hình thái phát triển cao của một tộc người
+ Một cộng đồng chính trị của nhiều tộc người có nguồn gốc lịch sử khác nhau, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, cùng sống trong một quốc gia, được quản lý bởi một Nhà nước chung ( Như dân tộc Việt Nam)
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “ Dân tộc hay quốc gia
dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người của bộ phận tộc người Tính chất dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau…”
Tuy nhiên, đã từ lâu, ở Việt Nam có sự lẫn lộn khi sử dụng các khái niệm “Tộc người” và “Dân tộc” Ngoài dùng để chỉ toàn bộ cộng đồng 54 tộc người hay quốc gia dân tộc (Dân tộc Việt Nam), khái niệm “ Dân tộc” còn được dùng trong các trường hợp sau: Chỉ một tộc người cụ thể (như dân tộc Thái, dân tộc Mường, dân tộc Khơ - me, dân tộc Ba - na…) Hoặc dùng như một tính từ để chỉ các tộc người thiểu số, như người dân tộc, học sinh dân tộc,
Trang 16vùng dân tộc…(nếu chính xác phải gọi là người dân tộc thiểu số, học sinh dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số…)
Một tộc người đạt tới trình độ “Dân tộc” phải hội tụ đủ các tiêu chí hay các yếu tố sau: Đầu tiên là lãnh thổ (đối tượng của lao động, nơi cư trú lâu dài
của tộc người) được mở rộng và ổn định, xác định rõ ràng đường biên giới quốc gia; giải quyết các tranh chấp đường biên dựa trên công ước quốc tế
Thứ hai là thị trường quốc gia thống nhất, xóa bỏ ngăn cách thị trường, khác
biệt quá lớn về giá cả, mối liên kết kinh tế giữa các nhóm, các địa phương bền
chặt nhờ hệ thống giao thông và thông tin liên lạc rất phát triển Ba là ngôn
ngữ, thổ âm (tiếng địa phương) bị thu hẹp, tiếng thủ đô là chuẩn cả về âm và
giọng và ngày càng lan rộng ảnh hưởng các nơi Bốn là văn hóa thống nhất,
các phong tục tập quán riêng rẽ từng bước bị suy giảm Cuối cùng là ý thức về
cộng đồng quốc gia – dân tộc phát triển và luôn thắng thế, xóa bỏ những tư
tưởng cục bộ địa phương, tộc người
* Tộc người (Dân tộc) đa số: tộc người chiếm số đông nhất, có ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát triển của các tộc người khác và của quốc gia dân
tộc (còn gọi là tộc người chủ thể)
* Tộc người (Dân tộc) thiểu số: các tộc người ngoài tộc đa số;
Khái quát những nội dung trên có thể nói, dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, nhưng có hai nghĩa chính: Hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một quốc gia, hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người Sự liên kết cộng đồng dân tộc được tạo lên từ yếu tố có chung ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểu hiện thành ý thức tự giác tộc người [5, 11-14]
1.1.2.Vài nét về dân tộc Ba na trong thành phần dân tộc Việt Nam
Dãi đất Việt Nam từ bao đời là nơi cộng cư của nhiều tộc người Trên
cơ sở các kết quả nghiên cứu, xác minh qua hai đợt của Viện Dân tộc học Đợt 1 vào năm 1968 và đợt 2 năm 1978; Ngày 02 tháng 3 năm 1979, thừa ủy
Trang 17nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Thống kê ra quyết định số
121/TCTK công bố “Bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam”
Theo đó, Việt Nam có 54 dân tộc (tộc người), với tính cách là cộng đồng, có chung các đặc điểm về ngôn ngữ, sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng mình, thuộc 3 ngữ hệ: Nam Á (5 nhóm ngôn ngữ, 40 tộc); Ngữ hệ Nam đảo (hay Đa Đảo, hoặc Ma lai ô – Pô li nê xi a, 5 tộc); Ngữ hệ Hán Tạng (2 nhóm ngôn ngữ, 9 tộc) [5, 42]
Xếp theo ngôn ngữ và thứ tự theo số dân cư, tại kết quả cuộc tổng điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê, dân tộc Ba na đứng vị trí số 12 với tổng dân số là 227.716 người, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khơ - me nơi
cư trú chính tại các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Bình Định, Quãng Ngãi, Phú Yên
Ba na là dân tộc lớn nhất nói tiếng Môn Khơ - me ở vùng Nam trung
bộ và Tây Nguyên Người Ba na cư trú trên vùng lãnh thổ tương đối khác biệt, địa bàn sinh sống của người Ba na là vùng cao nguyên và núi rừng rộng lớn, bao gồm phần lớn khu vực phía đông của 2 tỉnh Gia Lai, Kon Tum và một phần vùng núi phía tây các tỉnh Bình Định, Phú Yên Ranh giới tộc người của người Ba na liền kề với người Xơđăng ở phía Bắc, người Việt ở phía Đông, người Gia rai ở phía Tây và phía Nam Theo số liệu thống kê năm 2009, dân tộc Ba na có 227.716 người, riêng tại tỉnh Kon Tum có 53.997 người chiếm 12,55% dân số toàn tỉnh và chiếm 25,5%
so với 6 dân tộc bản địa tại Kon Tum
Người Ba na tự gọi mình là Bahnar Tộc danh này được một số nhà
nghiên cứu trước đây đã gọi, như sách , cuốn “Mọi Kon Tum” của Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, xuất bản năm 1937,“Bộ lạc Bahnar ở Kon
Tum” của P.Guilleminet, xuất bản năm 1952, gần đây được tái bản với tên
sách “Người Ba na ở Kon Tum” năm 2011 Ngoài tên tự gọi Ba na, người Ba
na còn tự gọi mình là Kon Kông (người ở núi) để phân biệt với Kon Doan
Trang 18(người kinh – người đồng bằng lên) Là dân tộc có dân số đông, lại cư trú trên địa bàn rộng lớn, người Ba na bao gồm nhiều nhóm địa phương khác nhau, có
ít nhất 8 nhóm địa phương chính sau:
Nhóm Tơ Lô, nhóm Krum, nhóm Thồ Lô, nhóm Vân Canh, 4 nhóm này sinh sống ở các tỉnh từ Phú Yên đến Bình Định và Gia Lai Trên đất Kon Tum gồm 3 nhóm chủ yếu:
* Nhóm Jơlơng: Phân bố quanh thành phố Kon Tum và huyện Kon Rẫy
* Nhóm Kon Tum: phân bố tập trung tại thành phố Kon Tum
* Nhóm Rơngao: Do cư trú ở những vùng khác nhau, dù là một dân tộc nhưng có sự khác biệt nhất định về ngôn ngữ và văn hóa giữa các nhóm địa phương, như 3 nhóm địa phương của dân tộc Ba na ở Kon Tum là: Rơngao, Kon Tum, Jơlơng do sống gần với người Xơđăng và Giarai nên chịu ảnh hưởng nhất định về văn hóa, ngôn ngữ của hai dân tộc trên Như nhóm Rơngao dân số không nhiều, địa bàn cư trú lại nằm giữa hai dân tộc lớn là Ba
na và Xơđăng nên người Rơngao khu vực phía bắc chịu ảnh hưởng văn hóa
và ngôn ngữ của người Xơđăng rõ nét hơn
Cho đến nay, vấn đề chuyển cư ban đầu của dân tộc Ba na từ đâu đến cũng còn là vấn đề chưa rõ ràng và chưa có một tư liệu chính xác nào đề cập Các nhà khoa học đưa ra giả định rằng, khi bốn dân tộc nói ngôn ngữ Nam Đảo là Giarai, Ê đê, Raglay, Churu cùng với người Chăm di cư vào đồng bằng ven biển Nam trung bộ Việt Nam Tại đây, họ cộng cư với số ít dân cư nói tiếng Môn Khơ - me là chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh Vào thời điểm trước công nguyên, người Chăm ở lại sau này lập nên Vương quốc Chăm Pa, còn các tộc nói ngôn ngữ Nam Đảo khác, đầu tiên là Giarai, Êđê, men theo núi đi về phía tây tiến dần lên chiếm cứ miền cao nguyên màu mỡ ở Trung Tây Nguyên đẩy dạt các tộc người Ba na, Xơđăng lên phía bắc và tộc người Mnông xuống phía nam [4, 44]
Trang 19Việc ban hành Bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, lần đầu tiên, các tộc người trên đất nước ta có một tên gọi (tộc danh) chính thức, dựa trên cơ sở khoa học, xóa bỏ những tên gọi mang tính miệt thị trước đây, như Mán, Mọi…giúp cho các tộc người hiểu biết hơn về bản thân mình và các cộng đồng khác, góp phần củng cố khối đại đoàn kết giữa các dân tộc
Do đặc điểm riêng về vị trí địa lý và địa hình, từ xưa Trường Sơn – Tây Nguyên là khu vực cư trú riêng biệt của các tộc người thiểu số Mãi đến đầu thế kỷ XIX, Nhà nước Phong kiến Đại Việt mới nắm được vùng đất này, qui
tụ vào nước Việt Nam thống nhất [5, 214-216]
1.2 Lý luận về phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số
1.2.1 Phát triển
Thuật ngữ “phát triển” được dùng tương đối phổ biến trong các lĩnh vực
của đời sống xã hội có nhiều quan điểm khác nhau:
Theo Liên Hiệp Quốc (1997): “Phát triển là tạo ra những cơ hội ngày càng nhiều cho tất cả mọi người để có đời sống tốt hơn, điều thiết yếu là tăng cường và cải thiện các điều kiện cho giáo dục, sực khỏe, dinh dưỡng, nhà ở và
an sinh xã hội cũng như bảo vệ môi trường” [29, 45]
Theo từ điển tiếng việt: “Phát triển là làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, hẹp đến rộng, đơn giản đến phức tạp”
Dưới góc độ nhìn nhận của tác giả Phạm Đình Thái: “Phát triển là một tiến trình giúp dân chúng tháo gỡ những trở ngại ngăn cản họ thể hiện toàn bộ tiềm năng của họ” [3, 23]
Qua các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu chung nhất về phát triển
như sau: phát triển là quá trình biến đổi từ tình trạng thấp kém, chưa hài lòng
lên tình trạng tốt hơn, ổn định hơn, đáp ứng nhu cầu của con người và mang lại những thay đổi tích cực cho xã hội
Trang 201.2.2 Cộng đồng
Khái niệm cộng đồng được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, sau đây là một số cách tiếp cận cơ bản:
Theo quan điểm Mac xít: “cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá
nhân, vì lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành cộng đồng đó (hoạt động sản xuất, tư tưởng gần gủi, tín ngưỡng, giá trị, chuẩn mực, tương đồng về điều kiện sống)”
Dưới góc độ những nhà nghiên cứu phát triển cộng đồng: “cộng đồng là
một nhóm các cư dân cùng sinh sống trong một địa vực nhất định, có cùng giá trị và tổ chức xã hội cơ bản ( cộng đồng đô thị, cộng đồng nông thôn, cộng đồng người theo đạo thiên chúa,…)” [7, 43]
Trung tâm Nghiên cứu và tập huấn các dự án phát triển cộng đồng đưa ra
cách hiểu: “cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con
người sống ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hay tinh thần nào đấy” [27,14]
Như vậy, chúng ta có thể hiểu:
- Cộng đồng là một tập thể người có thể cùng nhau chung sống trên một địa bàn nhất định
- Cộng đồng là một tập thể người có chung một nguồn gốc văn hóa, hoặc ngôn ngữ nhưng không nhất thiết cùng chung sống trên một địa bàn
- Cộng đồng là một tập thể người có chung sự ràng buộc về thể chế, về qui định, về quyền lợi
- Cộng đồng là một tập thể người có chung nguyện vọng, mục đích nhưng cũng có thể không cùng chung sống trên một địa bàn nhất định
1.2.3 Định nghĩa Phát triển cộng đồng
Theo quan điểm của chính phủ Anh, khái niệm phát triển cộng đồng
được sử dụng lần đầu tiên năm 1940: “PTCĐ là một chiến lược phát triển
Trang 21nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị nhằm phối hợp cùng những nỗ lực của nhà nước để cải thiện hạ tầng cơ sở và tăng khả năng tự lực của cộng đồng” [7,35]
Theo Murray G.Ross (1955): “PTCĐ là một diễn tiến qua đó cộng đồng
nhận rõ nhu cầu hoặc mục tiêu phát triển của cộng đồng; biết sắp xếp ưu tiên các nhu cầu vì mục tiêu này; phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng; biết tìm đến tài nguyên bên trong và ngoài cộng đồng để đáp ứng chúng thông qua đó sẽ phát huy những thái độ và kỹ năng hợp tác trong cộng đồng” [7, 45]
Định nghĩa chính thức của Liên hiệp quốc từ năm 1956: “PTCĐ là một
tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền
để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng và giúp cộng đồng này hội nhập và đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia” [6, 21]
Theo Nguyễn Thị Oanh : “PTCĐ là một tiến trình làm chuyển biến cộng
đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẳn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức
và tiến tới tự lực, phát triển” [12, 28]
Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu về phát triển cộng đồng
như sau: phát triển cộng đồng là một chuỗi những hoạt động tác động tích
cực lên một cộng đồng dân cư, khiến cho cộng đồng đó nhận thức về vấn đề của mình, phát huy khả năng và tiến đến tự lực, tự vận động theo chiều hướng
đi lên về chất lượng cuộc sống
Sau đây là mô hình về quá trình phát triển cộng đồng
PTCĐ là một quá trình luôn luôn tiếp diễn từ thấp đến cao
Trang 22Sơ đồ 1.1: Sơ đồ phát triển cộng đồng
Phát triển cộng đồng được nhìn nhận, xem xét dưới các góc độ sau:
Thứ nhất, về mục tiêu của phát triển cộng đồng nhằm hướng đến:
- Đáp ứng được nhu cầu cơ bản và cung cấp cho người dân những cơ hội
để phát triển toàn diện các tiềm năng và nâng cao chất lượng cuộc sống PTCĐ đặc biệt quan tâm đến các nhóm đối tượng yếu thế trong cộng đồng để cải thiện các điều kiện sống của họ và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản như việc làm, nhà ở, giáo dục, y tế, môi trường…
- Người dân được tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng một cách tích cực vào việc ra quyết định liên quan đến chính đời sống của họ, giúp họ nhận thức được giá trị và tin vào khả năng của mình Thông qua đó trình độ
họ được tăng lên và cải thiện cuộc sống
- Huy động được các tiềm năng và khuyến khích sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, người dân, tài nguyên cộng đồng để cải thiện đời sống mọi mặt của người dân trong cộng đồng
CĐ
còn yếu kém
CĐ Thức tỉnh
CĐ tăng năng lực
CĐ
Tự lực
Phát huy tiềm năng
Huấn luyện Hình thành các nhóm
liên kết
Tăng cườngcác động lực
Trang 23- Tạo cơ hội phát triển cho các nhóm yếu thế trong xã hội trên cơ sở củng
cố công bằng, bình đẳng và nhân quyền; tăng cường mối quan hệ đoàn kết trong cộng đồng với mục đích chung
- Cải thiện cơ sở vật chất của cộng đồng, góp phần điều chỉnh chính sách
xã hội phù hợp với tình hình thực tế của cộng đồng, qua đó đảm bảo trật tự an toàn xã hội
Thứ hai, nội dung của phát triển cộng đồng bao gồm:
- Giáo dục cộng đồng : giúp trang bị các kiến thức, sự hiểu biết và kỹ năng làm việc, lao động cho người dân trong cộng đồng, để cộng đồng tự nhận thức ra vấn đề và chủ động xây dựng kế hoạch, quyết định hoạt động của cộng đồng
- Quản lý tài nguyên cộng đồng: quản lý môi trường cộng đồng, xử lý các thảm họa do thiên tai, phát triển các cơ sở kinh doanh sản xuất
- Tổ chức cộng đồng: củng cố các tổ chức có sẵn như các đoàn thể, tổ chức chính trị, xã hội tại cộng đồng; thành lập các nhóm nhỏ, nhóm mới hoặc
mô hình câu lạc bộ, đội nhóm tình nguyện vì cộng đồng; tổ chức các ngành nghề như các tổ hợp tác, tổ hỗ trợ sản xuất trong cộng đồng; mở rộng liên kết với các nhóm khác, tiến đến lập hiệp hội kinh tế , hợp tác xã,…
Ba lĩnh vực trong nội dung phát triển cộng đồng được dùng như điểm xuất phát của một dự án Các dự án phát triển cộng đồng được tiến hành tùy theo lĩnh vực chuyên môn của các tổ chức phát triển và nhu cầu của chính cộng đồng
1.2.4 Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Ba na
Mang những đặc điểm chung của các cộng đồng dân tộc thiểu số khác
trong cả nước, cộng đồng người dân tộc Ba na Kon Tum còn rất nhiều khó khăn, xuất phát kinh tế thấp, việc duy trì quá lâu phương thức sản xuất truyền thống đã làm cho đời sống người Ba na chậm phát triển, tỉ lệ hộ nghèo cao
Trang 24Quản lý và tổ chức cộng đồng đối với các làng dân tộc Ba na vùng sâu, vùng
xa còn ảnh hưởng nặng của hệ thống luật tục và tín ngưỡng dân gian, trong khi một số đã không còn phù hợp Việc áp dụng khoa học kỹ thuật, những yếu
tố mới tạo điều kiện cho cộng đồng phát triển thì ngại áp dụng Do điều kiện sống ở xa khu trung tâm, hạ tầng cơ sở còn lạc hậu, địa hình nhiều chia cắt, cùng với nhận thức thấp, nên khi cái mới chưa rõ nét, thì việc cái cũ như thói quen thống trị vẫn là điều dễ hiểu
Từ kết quả của việc áp dụng các mô hình phát triển cộng đồng trong thực
tế đã cho thấy càng ngày người ta càng thừa nhận rằng phương pháp phát triển cộng đồng có khả năng giải quyết vấn đề phát triển và những thách thức
mà những cộng đồng ở nông thôn, đô thị tại các nước đang phát triển (trong
đó có Việt Nam) gặp phải, cũng như những vấn đề của các nhóm bị mất quyền lợi, bị thiệt thòi và bị gạt ra bên lề xã hội ở những nước đang phát triển Phương pháp PTCĐ là phương pháp lấy con người làm trung tâm của phát triển và quan tâm trước tiên đến nhân phẩm và tiềm năng của họ
Phương pháp phát triển cộng đồng tạo điều kiện cho các thành viên trong cộng đồng được tham gia vào mọi phương diện liên quan đến tiến trình phát triển
Tuy nhiên qua kinh nghiệm làm công tác PTCĐ ở các nước đang phát triển đã cho thấy, nếu lấy toàn bộ cộng đồng làm đối tượng thì những lợi ích phát triển ít đến tay nhóm người nghèo nhất, đa số lợi ích rơi vào nhóm khá giả, nhóm có tiềm năng kinh tế
Để giải quyết vấn đề này, việc hình thành chiến lược phát triển mà đối tượng là những nhóm người yếu thế (người nghèo, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, phụ nữ, trẻ em, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn…) được quan tâm hướng đến Mục đích là nhằm tăng cường quyền tự quyết các vấn đề cho cá nhân, cộng đồng Đó là chiến lược “phát triển có sự tham gia”,
Trang 25“ phát triển lấy người dân làm trung tâm”… để bổ sung vào các chiến lược phát triển cộng đồng trước đây
Để đảm bảo an sinh, dân chủ, công bằng xã hội và tinh thần trách nhiệm của toàn xã hội đối với nhóm yếu thế, mà cụ thể được đề cập tại đề tài là người dân tộc Ba na, một trong 53 dân tộc thiểu số của Việt Nam với đời sống còn nhiều khó khăn, môi trường xã hội, cơ hội phát triển không thuận lợi, còn nhiều cản trở…ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng
Từ việc nghiên cứu các khái niệm và nội dung, mục đích của phát triển cộng đồng Từ những hiểu biết về những đặc điểm, tính cách của các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Ba na nói riêng Có thể đưa ra định nghĩa về phát triển cộng đồng đối với người Ba na như sau:
Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Ba na, là một quá trình tác
động lên nhận thức với nhiều hoạt động phù hợp, làm cho người dân tộc Ba
na nhìn nhận được giá trị của cộng đồng, nội lực của cộng đồng để kết hợp với sự hỗ trợ của nhà nước và các nguồn lực bên ngoài, tổ chức lại cộng đồng một cách tốt nhất, huy động được mạnh mẽ nguồn lực trong dân tham gia góp phần xây dựng cộng đồng phát triển theo kịp sự phát triển chung của toàn xã hội
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng như: nguồn tài nguyên cộng đồng có được từ lợi thế của vị trí cư trú, chất lượng nguồn nhân lực tốt, việc sắp xếp tổ chức hoạt động hợp lý, tri thức bản địa về làm chủ qui luật tự nhiên, tính đoàn kết thống nhất cao, nền văn hóa tinh thần phong phú kết nối sức mạnh cộng đồng…
Song có thể nói, bài học lý luận rút ra từ thực tiển hiện nay đó là có 4 yếu
tố chính, chi phối rõ nét đến vấn đề phát triển cộng đồng nói chung và cộng đồng người dân tộc thiểu số nói riêng
Trang 26Thứ nhất, yếu tố văn hóa, phong tục, tập quán:
Với người DTTS việc duy trì các luật, tục, văn hóa truyền thống như một bản năng tự nhiên của mỗi thành viên và là sức mạnh của mỗi cộng đồng Nó được lưu giữ từ bao thế hệ trong quá trình hình thành và phát triển của tộc người Với sự thay đổi ngày càng phát triển của xã hội, nhiều vấn đề đã được nhận thức lại, nhiều luật tục đã được xóa bỏ, hoặc có điều chỉnh cho phù hợp hơn với thực tế
Song sức mạnh tâm linh vẫn là yếu tố chi phối lớn đến đời sống cộng đồng, đặc điểm này thể hiện rõ nét thông qua các Lễ hội được duy trì trong cộng đồng Từ các lễ hội trong sản xuất nông nghiệp, đến lễ hội liên quan đến vòng đời của mỗi người Nên rất nhiều lễ hội được tổ chức vừa tốn kém chi phí vật chất, vừa ảnh hưởng đến thời gian lao động, học tập, sản xuất của nhân dân
Bên cạnh những yếu tố văn hóa truyền thống tốt đẹp, thì ảnh hưởng của những hủ tục đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát triển của cộng đồng người DTTS Với những tư tưởng, thói quen, luật tục truyền thống mệnh lệnh
từ trên xuống “già làng là tối thượng”, kẻ dưới phục tụng bề trên, sáng kiến không được xuất phát từ nhóm người yếu thế, thủ tiêu vai trò cá nhân chỉ điều hành hoạt động của làng theo hệ thống luật, tục truyền thống… thì phát triển cộng đồng là cách làm đảo ngược với cách nghĩ, cách làm đã bám rễ trong cộng đồng nên gặp nhiều khó khăn trong việc thay đổi
Đặc biệt lợi dụng niềm tin Tôn giáo của người DTTS, các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để lôi kéo, xúi giục, kích động người dân chống đối lại những qui đinh, chính sách đổi mới của Nhà nước trong tiến trình xây dựng các làng đồng bào DTTS vững mạnh toàn diện
Thứ hai, yếu tố từ chính bản thân người dân trong cộng đồng:
Trong phát triển cộng đồng mỗi cá nhân đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển Nếu chất lượng nguồn nhân lực tốt, thì các hoạt động được triển khai thực hiện một cách đúng đắn và hợp lý
Trang 27Thực tiển đã chứng minh, trong cộng đồng có nhiều cá nhân có kỹ năng, tài năng, có kinh nghiệm, sự khéo léo…thì họ sẽ tổ chức tốt cuộc sống của gia đình mình và làm tốt chức năng xã hội Mỗi gia đình vững mạnh sẽ góp phần cho cộng đồng vững mạnh
Theo John C Allen: “Mỗi một con người ai cũng có những tài năng,
tiềm năng, khả năng, kinh nghiệm và sự khéo léo riêng biệt, điều quan trọng
là phải biết nhận ra những tiềm năng đó”
Hiện nay trong các vùng DTTS trình độ dân trí còn hạn chế, tri thức bản địa nhiều yếu tố lạc hậu, phản khoa học không còn phù hợp; chưa biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh tế Kỹ năng cá nhân trong việc duy trì các nghề truyền thống trong làng DTTS người Ba na không còn nhiều, đang dần bị mai một Già làng, người có uy tín trong làng không còn giữ được
ưu thế, khi chỉ duy trì quản lý cộng đồng theo cái cũ, cái không tiến bộ
Thứ ba, yếu tố kinh tế:
Điều kiện, môi tường sống trong các làng người DTTS của Việt Nam còn nhiều khó khăn, hạ tầng giao thông chưa được hoàn thiện đặc biệt là các làng vùng sâu, vùng xa Địa bàn cách trở, giao thông không thuận lợi, diện tích rừng bị lấn chiếm, nguồn lợi từ rừng bị cạn kiệt do tình trạng khai thác rừng bừa bãi, trái phép… đã làm ảnh hưởng rất lớn đến phát triển của cộng đồng người Ba na nơi đây
Sản xuất nông nghiệp là phương thức sản xuất chính của người Ba na, hơn 80% là làm nương, rẫy Với lối canh tác truyền thống, các cây trồng chủ lực vẫn là: lúa, mì…chưa áp dụng giống mới và khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nên giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích đất còn thấp
Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do phát triển các công trình thủy điện, khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong vùng Tây nguyên nói chung và tỉnh Kon Tum nói riêng đã ảnh hưởng nhiều đến đời sống người
Trang 28dân Đất đai, tư liệu sản xuất chính của người DTTS đã không đảm bảo để người dân phát triển kinh tế Cần có giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tìm mô hình phù hợp để cộng đồng người DTTS duy trì và nâng cao chất lượng sống
Đời sống kinh tế của người dân cũng là yếu tố quan trọng, góp phần phát triển cộng đồng Cộng đồng nào có nhiều hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân
có thu nhập cao, đời sống khá giả thì các hoạt động xã hội hóa, các nguồn
“Quỹ tự nguyện”, “ Quỹ phát triển cộng đồng” vì cộng đồng lớn sẽ đảm bảo
cho các hoạt động giải quyết khó khăn từ chính nội lực cộng đồng, trước khi cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài Điều đó sẽ làm cho cộng đồng chủ động trong việc giải quyết các vấn đề khó khăn từ cơ sở
Thứ tư, yếu tố ảnh hưởng từ việc tổ chức, lãnh đạo của hệ thống chính
trị cơ sở
- Năng lực tổ chức, lãnh đạo, hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở có
tác động rất lớn đến việc phát triển cộng đồng tại địa phương Vì việc phát triển cộng đồng chỉ thực sự thúc đẩy và phát triển hiệu quả khi nó được gắn với chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước
- Cán bộ của hệ thống chính trị có trình độ chuyên môn, có khả năng kết nối nguồn lực, có kỹ năng, có phương pháp tiếp cận phù hợp…sẽ góp phần tích cực vào việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người DTTS, xây dựng chính sách hỗ trợ phù hợp và thiết thực với cộng đồng Khi ý Đảng lòng dân được thống nhất, chính quyền tổ chức thực hiện đảm bảo đúng nguyên tắc trong phát triển cộng đồng thì đời sống của người DTTS và cộng đồng DTTS
sẽ phát triển Ngược lại, nơi nào trình độ của hệ thống chính trị yếu kém, cán
bộ cơ sở tha hóa, biến chất, mất niềm tin với dân làng… thì nơi đó mọi chương trình phát triển đều triển khai, tổ chức thực hiện kém hiệu quả
Trang 29Hệ lụy của việc chạy theo thành tích của các cấp chính quyền cơ sở, báo cáo quá mức thành công mà quên đi các bài học kinh nghiệm từ thất bại trong các hoạt động tổ chức, vận động nhân dân, phát triển bền vững đời sống của các cộng đồng người dân tộc thiểu số… đã làm ảnh hưởng đến thực chất của công tác Phát triển cộng đồng
1.4 Cơ sở chính trị, pháp lý của phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số
Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dân
tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng của cách mạng nước ta
Là một quốc gia đa dân tộc, Việt Nam có 54 dân tộc sinh sống, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, đất nước ta không xảy ra xung đột sắc tộc hoặc tôn giáo Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng quyền của các nhóm dân tộc thiểu số, luôn củng cố và tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân Trong thư gửi Đại hội các DTTS Miền nam tại PleiKu ngày
19/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường
hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba na và các DTTS khác, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp hau ” Hay cụ thể tại điều 5, Hiến pháp sửa đổi được Quốc hội thông
qua ngày 28/11/2013 có ghi: “ Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển đất nước ”
Trang 30Sự nhất quán trong hệ thống quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi thể hiện xuyên suốt, ngay từ những ngày đầu lãnh đạo cách mạng Đại hội lần thứ I Đảng cộng sản Việt Nam (tháng 3/1935) đã thông qua Nghị
quyết về công tác dân tộc thiểu số, trong đó xác định rõ: “ Đại hội Đảng xét
rằng lực lượng tranh đấu của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn Công cuộc giải phóng dân tộc của họ là một bộ phận quan trọng trong công cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông Dương ” và đến những năm
đầu của thế kỷ 21, tại Nghị quyết số 24-NQ/TƯ ngày 12/3/2003 của Ban chấp
hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc cũng đã xác định: “Vấn
đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo về vững chắc Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa Kiên quyết đấu tranh chống mọi âm mưu chia rẽ dân tộc Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất…”
Để thực hiện có hiệu quả các chủ trương Đảng đối với các dân tộc, thời gian qua Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương đã ban hành nhiều chương trình, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số Hiện nay có trên 40 chương trình, chính sách đã được các cấp địa phương, các ngành tổ chức thực
Trang 31hiện mang lại nhiều hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, phát triển các cộng đồng người dân tộc thiểu số (Trong đó có cộng đồng người dân tộc Ba na Kon Tum) ngày một phát triển Các chương trình như: Chương trình về hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng,
hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, các thôn bản đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 551/2013/QĐ-TTg ngày 04/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ; Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn để phát triển sản xuất, ổn định và cải thiện cuộc sống theo Quyết định 1592/2009/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ; …
Thực hiện đường lối của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước, nhiều chương trình mục tiêu quốc gia lớn dành ưu tiên cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa được triển khai và đã đem lại nhiều thành tựu
to lớn Ngày 14/01/2011, Chính Phủ đã ký ban hành Nghị định số
05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc Nghị định này qui định các hoạt động về công tác dân tộc nhằm đảm bảo và thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết và tương trợ giúp nhau cùng phát triển, tôn trọng và giữ gìn bản sắc văn hóa cùng chung sống trên lãnh thổ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Riêng đối với địa bàn tỉnh Kon Tum, là tỉnh miền núi, biên giới có hơn 53% số dân trong tỉnh là người dân tộc thiểu số, với 28 dân tộc sinh sống, trong đó có 6 dân tộc bản địa là: Xê Đăng, Ba na, Gia Rai, Giẻ - Triêng, Brâu,
Rơ Măm đời sống vật chất và tinh thần của người dân gặp rất nhiều khó khăn
Vì vậy ngoài vấn đề tập trung chỉ đạo, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Trung ương, của Chính phủ, Tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum chỉ đạo các cấp, các ngành của tỉnh tập trung ưu tiên nguồn lực và huy động tối đa sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh để đầu
tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, xã có
Trang 32đông đồng bào dân tộc thiểu số Cụ thể đã ban hành 23 chương trình, dự án đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2009 - 2014 như:
Đề án nâng cao chất lượng và đẩy nhanh công tác giảm nghèo tỉnh Kon Tum đến năm 2015, chính sách hỗ trợ phát triển cao su tiểu điền cho đồng bào DTTS nghèo trên địa bàn toàn tỉnh,
Với chủ trương tập trung nguồn lực xây dựng các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng kinh tế mới khó khăn theo Nghị quyết 01-NQ/TU của Tỉnh
ủy Kon Tum khóa XI và Nghị quyết số 04-NQ/TU của Tỉnh ủy Kon Tum khóa XIII, mỗi sở, ban, ngành cấp tỉnh đều được giao nhiệm vụ đỡ đầu, kết nghĩa xây dựng một xã để giúp cơ sở tập trung tháo gỡ giải quyết những vấn
đề cơ bản, có ý nghĩa chiến lược đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh, thu hẹp dần sự chênh lệch trên tất cả các mặt giữa vùng sâu, vùng xa với thị trấn, thị tứ Quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách dân tộc của Đảng
và Nhà nước ta đã thực sự đi vào cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum nói chung và người dân tộc Ba na Kon Tum nói riêng
Kết luận chương 1
Phát triển cộng đồng là một tiến trình mà ở đó sự nổ lực của người dân kết hợp với những hổ trợ căn bản của Nhà nước để làm thay đổi một cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành một cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguồn lực, về những yếu
tố tác động đến việc phát triển cộng đồng,…nhằm giúp cho cộng đồng tự đánh giá đúng đắn được sức mạnh nội tại của chính cộng đồng đang sở hữu, những khó khăn, thách thức cộng đồng phải vượt qua, để xây dựng và phát triển cộng đồng bền vững trước xu thế hội nhập và phát triển của xã hội Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta luôn phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đây chính là
Trang 33cơ sở nền tảng quan trọng để lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước theo con đường Chủ nghĩa xã hội Thực trạng đời sống của đa số người DTTS Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, tỉ lệ
hộ nghèo trong DTTS cao, chất lượng cuộc sống thấp, các cộng đồng người dân tộc thiểu số còn chậm phát triển, thụ động trông chờ vào sự hổ trợ của Nhà nước là chủ yếu
Từ việc làm rõ các lý luận về phát triển cộng đồng, về dân tộc thiểu số,
về những quan điểm của Đảng ta đối với vấn đề phát triển cộng đồng người DTTS nói chung và người dân tộc Ba na nói riêng… sẽ là tiền đề khoa học cho việc nhìn nhận và đánh giá thực trạng phát triển cộng đồng, những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cộng đồng của người Ba na tại Kon Tum, từ đó có những giải pháp đề xuất phù hợp với Chính quyền địa phương, các ngành chức năng, các nhà hoạch định chính sách về những chính sách hổ trợ, chế độ
hổ trợ xã hội của Đảng và nhà nước ta trong việc góp phần phát triển cộng đồng các dân tộc thiểu số, trong đó có người dân tộc Bana tỉnh Kon Tum
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI
NGƯỜI DÂN TỘC BANA TẠI TỈNH KON TUM
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên
Kon Tum là một tỉnh miền núi, biên giới nằm ở cực Bắc Tây Nguyên Toàn tỉnh có 28 dân tộc anh em cùng sinh sống Tính đến thời điểm 30/6/2014 toàn tỉnh có 115.449 hộ/486.660 khẩu; trong đó dân tộc thiểu số là 59.120 hộ/268.548 khẩu, chiếm 55,18% dân số toàn tỉnh Trong 6 dân tộc tại chỗ: Xơ Đăng, Ba Na, Gia Rai, Giẻ - Triêng, Brâu, Rơ Măm Dân tộc Gia rai có 5.546 hộ/23.413 khẩu chiếm 4,84%; dân tộc Ba na có 11.995 hộ/63.097 khẩu chiếm 12,96%; dân tộc Xơ Đăng 26.570 hộ/122.045 khẩu chiếm 25,08%; dân tộc Giẻ - triêng 8.693 hộ/35.396 khẩu chiếm 7,26%; dân tộc Rơ Măm 122 hộ/424 khẩu, chiếm 0,08% và dân tộc Brâu có 139 hộ/477 khẩu chiếm 0,09%
Vị trí địa lý: Kon Tum là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở Bắc Tây
Nguyên, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam (chiều dài ranh giới 142 km); phía Nam giáp tỉnh Gia Lai (chiều dài ranh giới 203 km), phía Đông giáp Quảng Ngãi (chiều dài ranh giới 74 km), phía Tây giáp hai nước Lào và Campuchia
(có chung đường biên giới dài 280,7 km)
Địa hình: Đồi, núi chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh, bao gồm
những đồi núi liền dải có độ dốc cao như núi Ngọc Linh (cao 2.598 m), ngọn Bon San (cao 1.939 m), ngọn Ngọc Kring (cao 2.066 m) Mặt địa hình bị
phân cắt hiểm trở, tạo thành các thung lũng hẹp, khe, suối; xen giữa vùng đồi
là dãy núi Chưmomray
Khí hậu: Kon Tum thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên
Nhiệt độ trung bình trong năm dao động trong khoảng 22 - 230C, biên độ nhiệt độ dao động trong ngày 8 - 90C Hàng năm, lượng mưa trung bình
Trang 35khoảng 2.121 mm, lượng mưa năm cao nhất 2.260 mm, năm thấp nhất 1.234
mm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8
Thủy văn: Nguồn nước mặt chủ yếu là sông, suối bắt nguồn từ phía
Bắc và Đông Bắc của tỉnh Kon Tum, thường có lòng dốc, thung lũng hẹp, nước chảy xiết, gồm có Sông Sê San do 2 nhánh chính là Pô Kô và ĐăkBla hợp thành Nhìn chung, chất lượng nước, thế năng của nguồn nước thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi
Đất đai: Kon Tum có diện tích tự nhiên 9.689,61 km², chiếm khoảng
17,7% diện tích Tây Nguyên, 3,1 % diện tích cả nước; thuận lợi cho việc bố trí sản xuất, quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt là bố trí sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với sinh lý của từng loại cây trồng nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao trên 1 đơn vị sử dụng đất như: cao su, cà phê, bời lời
2.1.2 Đặc điểm đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các DTTS đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Kon Tum
- Về đặc điểm kinh tế: Ngoài dân tộc Kinh sinh sống với các hoạt động
kinh tế phát triển, sản xuất chính của đồng bào DTTS chủ yếu là làm nương rẫy; cây lương thực chính là lúa, ngoài ra còn có ngô, khoai, sắn làm lương thực phụ và chăn nuôi, nấu rượu Qua các cuộc vận động phát triển kinh tế -
xã hội, với sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước đã tác động mạnh đến suy nghĩ và hành động của đồng bào các DTTS, tạo điều kiện ngày càng thuận lợi về cơ sở vật chất nhằm nâng cao sự hiểu biết, trình độ dân trí về tổ chức sản xuất, biết kỹ thuật canh tác lúa nước, trồng cây công nghiệp và kỹ thuật bảo vệ rừng
- Về đặc điểm đời sống: Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm của đồng bào
dân tộc vẫn theo thói quen thả rông Ngoài sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, đồng bào dân tộc còn có một số ngành thủ công truyền thống, tuy nhiên do trình độ tay nghề còn thấp nên sản phẩm làm ra chủ yếu mang tính chất trao
Trang 36đổi, chưa đủ phát triển mạnh thành thị trường kinh tế Hiện nay, những nghề này đang từng bước được phục hồi để tạo việc làm, tăng thu nhập, đồng thời bảo tồn những giá trị truyền thống
Do trình độ tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật của đồng bào DTTS còn thấp nên phương thức sản xuất còn lạc hậu, hiệu quả lao động thấp Mặt khác, việc sản xuất và tiêu dùng còn thiếu kế hoạch, không tính toán lâu dài nên làm cho cuộc sống của người DTTS còn gặp nhiều khó khăn
- Về văn hóa, xã hội: Văn hóa các DTTS tỉnh Kon Tum rất đa dạng và
đặc sắc là kho tàng văn hóa dân gian hết sức phong phú, độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc và mang phong cách chung của văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên Nổi bật là cồng chiêng xoang, nhà Rông, sử thi, lễ hội, nên có một sức hút mãnh liệt đối với các nhà nghiên cứu, các khách thăm quan, du lịch
Đời sống kinh tế, văn hóa tinh thần của nhân dân, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào DTTS đang ngày càng được nâng cao, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất ở địa phương ổn định và bền vững
2.2 Thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana từ thực tiễn tỉnh Kontum
2.2.1 Hoạt động tuyên tuyền, nâng cao nhận thức
- Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong vùng đồng bào DTTS được tỉnh chú trọng Cơ sở vật chất phục vụ công tác thông tin tuyên truyền đưa thông tin về cơ sở được quan tâm đầu tư
Hiện nay, toàn tỉnh có 18 bưu cục; 100% xã, phường, thị trấn có điểm phục vụ bưu chính, dịch vụ phát hành báo chí tại các bưu cục; 98% khu dân
cư được trang bị cụm loa tuyên truyền không dây Toàn tỉnh có 312 hội trường, nhà văn hóa cộng đồng thôn, tổ dân phố và 421 nhà rông/593 thôn
Trang 37dân tộc thiểu số, một số trang thiết bị tại các nhà văn hóa được đầu tư trang bị
- Đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền được kiện toàn, toàn tỉnh có
16 đội thông tin lưu động, 10 đội chiếu bóng lưu động cấp huyện, thành phố
và các sở ngành, với hơn 200 tuyên truyền viên và 03 đội TTLĐ thuộc tỉnh Chỉ tiêu phục vụ cơ sở từ 50 buổi – 80 buổi/năm đối với Đội TTLĐ cấp huyện
và 100 – 150 buổi/năm đối với đội TTLĐ cấp tỉnh
- Công tác tuyên truyền của các tuyên truyền viên thuộc các đoàn thể của hệ thống chính trị thôn, làng cũng tăng cường tổ chức dưới nhiều hình thức phong phú như: họp dân, hội nghị, tọa đàm, sinh hoạt ngoại khóa, Hội thi về tìm hiểu kiến thức pháp luật, qua đó đã góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố niềm tin nhân dân nhất là trong vùng đồng bào DTTS, vùng có đạo, về sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước và của chính quyền cơ sở
- Qua khảo sát thực tế 100 hộ người Ba na tại thành phố Kon Tum và huyện Kon Rẫy về mức độ tham gia hội họp của người dân Kết quả số lượng cán bộ, hội viên, nhân dân được tham gia các đợt vận động, tuyên truyền tại thôn, làng như sau: tham gia thường xuyên: 18%; có tham gia nhưng không đều: 38%, ít tham gia: 33%; không tham gia: 11%
Phỏng vấn sâu về nguyên nhân vì sao tỉ lệ người dân tộc thiểu số ít tham gia đông đủ các cuộc họp tuyên truyền phổ biến tại các thôn, làng; Bà Y Khiêm, phó Chủ tịch UBND xã Đăk Rơ Wa, thành phố Kon Tum cho biết: ”
Cán bộ thôn cũng đi vận động rất nhiều nhưng thực tế do một số hộ gia đình phải đi làm ăn xa, do đất sản xuất trên địa bàn không còn, nên phải làm rẫy ở nơi khác có khi 1 tháng mới về một lần, một số hộ gia đình thì chỉ còn người già, người lớn tuổi không rành tiếng kinh nên không thích tham dự các lớp tuyên tuyền của cán bộ người kinh”
Để tìm hiểu thêm thực trạng ít tham gia hội họp của người dân, tác giả
Trang 38đã đến thăm nhà ông A Wer một trong những hộ gia đình ít tham gia các hoạt động tuyên truyền của địa phương, ông là người theo Đạo Thiên chúa giáo
Theo ông những lần ông tham gia đều rất chính đáng “Những ngày làng tổ
chức lễ hội, hay gia đình tôi cúng lễ cầu nguyện cho con cháu trong dòng họ thì không thể vắng mặt được, như thế là không tốt Và những công việc phụng
sự Chúa, tôi đi công việc của Nhà thờ giao, tôi phải làm cho thật tốt, nếu có lỗi sẽ bị Bề trên quở trách” …
Qua các trường hợp trên, thực tế cho thấy việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân trong vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế, chất lượng công tác tuyên truyền chưa cao Cần lưu ý đến điều kiện sống, môi trường sản xuất của người dân, các phong tục tập quán trong cộng đồng, trình độ tiếp thu…mà chính quyền cấp cơ sở và cán bộ tuyên truyền áp dụng những hình thức và nội dung tuyên truyền phù hợp, cần bồi dưỡng cán bộ tuyên truyền là người dân tộc bản địa thì sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn
Tốc độ GDP tăng trưởng khá hàng năm, bình quân giai đoạn 2011 –
2015 đạt 13,8% Thu nhập bình quân đầu người trên toàn tỉnh đến cuối năm
2015 đạt trên 30 triệu đồng/ người Hệ thống đường liên xã và giao thông nông thôn cơ bản lưu thông thuận lợi thông suốt 2 mùa Cuối năm 2015, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã, 100% xã được sử dụng điện lưới
Trang 39quốc gia với 98,66% thôn, tổ dân phố và trên 98,68% số hộ được sử dụng điện; trên 86% hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh
Nông nghiệp tăng trưởng bình quân hàng năm 7%/năm Diện tích cây cao su, cây cà phê, sâm Ngọc Linh tiếp tục được mở rộng, tạo ra các vùng chuyên canh cho nguyên liệu và công nghiệp chế biến Việc đưa các giống cây trồng, vật nuôi mới vào sản xuất và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp được chú trọng đã góp phần tăng năng xuất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp Công tác quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng theo hướng bền vững đạt kết quả Xây dựng nông thôn mới đã mang lại kết quả tích cực, góp phần làm thay đổi diện mạo khu dân cư và đời sống người dân ở nông thôn, vùng DTTS Toàn tỉnh hiện nay có 119 tổ hợp tác với 1.680 thành viên Doanh thu trung bình của mỗi tổ hợp tác là 175 triệu đồng/năm; lợi nhuận trung bình đạt 34 triệu đồng/năm Hoạt động các tổ hợp tác chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và chiếm 70% tại các xã người DTTS Các thành viên của tổ hợp tác đã giúp đỡ nhau về vốn, nhân lực, phổ biến kinh nghiệm sản xuất, tạo việc làm cho hộ gia đình và bước đầu đã góp phần tích cực vào công tác giảm nghèo và thay đổi tập quán canh tác cũ, lạc hậu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng hàng hóa, nâng cao đời sống vật chất cho người DTTS
Các làng nghề thủ công, mỹ nghệ truyền thống đã được qui hoạch, sắp xếp lại và đầu tư xây dựng hạ tầng nhằm thuận tiện cho việc phát triển làng nghề, phục vụ, thu hút khách du lịch Qua khảo sát, toàn tỉnh hiện có 12 làng nghề truyền thống chủ yếu là dệt thổ cẩm, mây tre đan tập trung chủ yếu ở thành phố Kon Tum, huyện Kon Plong Tổng giá trị sản xuất đạt trên 120 tỷ cuối năm 2015
Trang 40Chất lượng giáo dục đào tạo được nâng lên, nhất là vùng DTTS; Công tác đào tạo nghề cho người DTTS được triển khai tích cực góp phần nâng tỷ
lệ lao động qua đào tạo chung từ 33% đến 42% Nhà ở, đất ở, đất sản xuất cho người DTTS cơ bản được đảm bảo Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 33,36% cuối năm 2010 xuống còn 11,5% vào cuối năm 2015 trong đó tỉ lệ hộ nghèo người dân tộc thiểu số/tổng số hộ DTTS giảm từ 56,5% năm 2010 xuống còn 19,87% vào cuối năm 2015
Giá trị văn hóa các dân tộc tiếp tục được quan tâm bảo tồn phát huy Đến nay toàn tỉnh có 20,5% số xã có nhà Văn hóa; 50,5% làng đồng bào DTTS có cồng chiêng với khoản trên 1.800 bộ, 95% làng có nhà Rông truyền thống, 100% hộ dân được nghe đài phát thanh, xem truyền hình trên ti vi
Mạng lưới y tế cấp xã được củng cố, tăng cường 100% trạm y tế cơ sở
có Bác sỹ, 100% tổ thôn có nhân viên y tế thôn, làng Đa số người dân đã đến Trạm y tế, bệnh viện để khám chữa bệnh Tình trạng cúng khi ốm đau đã giảm hẳn
Biểu đồ 2.1 Ông /bà có đi cúng khi người nhà ốm đau
(Kết quả: từ nguồn khảo sát)
Bên cạnh những kết quả đạt được từ quyết tâm của lãnh đạo địa phương và nỗ lực của cộng đồng người DTTS nơi đây, thì qua khảo sát vẫn còn nhiều hạn chế cần phải được nhìn nhận, có giải pháp khắc phục để góp phần nâng cao môi trường, điều kiện sống cho người DTTS