1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT v i lê NIN PHÁT TRIỂN TRIẾT học mác GIAI đoạn 1907 1917, ý NGHĨA đối với CÔNG tác tư TƯỞNG lí LUẬN nước TA HIỆN NAY

17 545 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 244 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết học Mác là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản trong nhận thức và cải tạo thế giới. Theo Mác, triết học của giai cấp vô sản không phải là một cái gì ngưng đọng, bất biến mà phải được bổ sung và hoàn thiện không ngừng. V.I. Lênin nhấn mạnh rằng, chúng ta không hề coi lý luận của Mác là cái gì đã xong xuội hẳn mà trái lại nó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa phải phát triển về mọi mặt nếu không muốn lạc hậu với cuộc sống.

Trang 1

V.I LÊNIN PHÁT TRIỂN TRIẾT HỌC MÁC GIAI

ĐOẠN 1907-1917 Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN HIỆN NAY

MỞ ĐẦU

Triết học Mác là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản trong nhận thức

và cải tạo thế giới Theo Mác, triết học của giai cấp vô sản không phải là một cái gì ngưng đọng, bất biến mà phải được bổ sung và hoàn thiện không

ngừng V.I Lênin nhấn mạnh rằng, chúng ta không hề coi lý luận của Mác là cái gì đã xong xuội hẳn mà trái lại nó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa phải phát triển về mọi mặt nếu không muốn lạc hậu với cuộc sống Theo quan điểm đó, xuyên suốt quá trình hoạt động lý luận và lãnh đạo cách mạng của mình, Lênin đã trung thành, bảo vệ, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng, đem lại nhiều thành tựu quan trọng về cả lý luận và thực tiễn

Quy luật hình thành tư tưởng triết học nhân loại cho thấy rằng, thực tiễn những điều kiện kinh tế xã hội luôn là mãnh đất màu mỡ nẩy sinh hoặc

bổ sung, hoàn thiện và phát triển tư tưởng mới Trong cơ sở hiện thực nước Nga, giai đoạn từ 1907 đến 1917, có đầy đủ những nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan để bảo vệ và phát triển triết học Mác lên một tầm cao mới phù hợp với điều kiện cách mạng Nga Vì vậy, đặc điểm triết học Lênin trong giai đoạn này vừa phản ảnh đầy đủ quy luật hình thành tư tưởng triết học Mác-Lênin vừa thể hiện sâu sắc những đặc điểm cơ bản của triết học Mác trong giai đoạn Lênin

Nghiên cứu nội Lênin phát triển triết học Mác giai đoạn 1907-1917 để khẳng định tính đúng đắn, hợp quy luật của quá trình phát triển triết học từ giai đoạn Mác-Ăngghen đến Lênin Đồng thời chúng ta cũng nhận thức sâu

Trang 2

sắc hơn những đúng gúp của Lờnin về mặt triết học, từ đú rỳt ra ý nghĩa thực tiễn trong cụng tỏc tư tưởng, lý luận hiện nay

I V.I.Lờnin bảo vệ và phỏt triển triết học Mỏc giai đoạn

1907-1917

1 Điều kiện lịch sử giai đoạn 1907-1917

Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đó phỏt triển đến giai đoạn chủ nghĩa đế quốc Giai cấp tư sản cực kỳ phản động về chớnh trị, búp nghẹt dõn chủ, tăng cường búc lột giai cấp cụng nhõn và người lao đụng khụng những trong nước

mà cũn thực hiện việc tăng cường xuất khẩu tư bản để búc lột giai cấp cụng nhõn và nhõn dõn lao động ở thuộc địa

Do chính sách áp bức bóc lột ngày càng nặng nề, giai cấp công nhân đã

đứng dậy đấu tranh chống lại giai cấp T sản Chính vì vậy, để giữ vững vị trí thống trị, giai cấp t sản đã không ngừng phát xít hoá bộ máy Nhà nớc t sản

Đồng thời chúng tăng cờng đàn áp phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động (chủ yếu là phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân), bóp nghẹt dân chủ

Bên cạnh việc tăng cờng đàn áp, áp bức, bóc lột đối với ngời lao động, giai cấp t sản cũng tìm cách mua chuộc giai cấp công nhân cả về chính trị, mà đặc biệt là mua bằng kinh tế, đây chính là nguồn gốc nảy sinh chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân Đồng thời giai cấp t sản cũng tìm cách kết hợp với chế độ phong kiến để bóc lột và củng cố vị trí thống trị của chúng

Trong giai đoạn này phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản cũng đã

có bớc phát triển mạnh mẽ Về t tởng, thời kỳ này chủ nghĩa Mác đã đi sâu vào phong trào công nhân Do vậy, giai cấp công nhân đã hiểu đợc sứ mệnh lịch sử của mình và điều kiện để thực hiện sứ mệnh lịch sử đó Từ việc ý thức

đợc sứ mệnh lịch sử của mình và bằng hành động của các cuộc đấu tranh, giai cấp công nhân đã ngày càng khẳng định đợc mình và tranh thủ đợc sự ủng hộ của giai cấp nông dân Giai cấp nụng dõn bị phỏ sản nhanh và nhận ra kẽ thự của giai cấp cụng nhõn cũng chớnh là kẽ thự của mỡnh

Trang 3

Từ sự thay đổi về quan hệ giai cấp giai cấp dẫn đến sự thay đổi về quan

hệ dân tộc Nếu nh trớc kia quan hệ dân tộc mang tính độc lập từng nớc thì

đến giai đoạn này là dân tộc thuộc địa Nh vậy, đến lúc này những tiền đề cho cách mạng vô sản đã chín muồi, nhng những tiền đề đó nổ ra không đều

Ở nước Nga sau thất bại của cuộc Cỏch mạng Dõn chủ tư sản Nga (1905-1907) Chế độ chuyờn chế Nga Hoàng đó thiết lập một chế độ khủng bố

vụ cựng tàn bạo đối với những người cỏch mạng, đồng thời, cỏc thế lực phản động đó ngự trị trong tất cả cỏc lĩnh vực của đời sống xó hội Nga Ở nước Nga lỳc cày tồn tại nhiều mõu thuẫn Những mâu thuẫn đú là: mõu thuẫn giữa nụng dõn với địa chủ, phong kiến, giữa giai cấp vụ sản với giai cấp tư sản, giữa Đế quốc Nga với cỏc nước thuộc địa, giữa Đế quốc Nga với cỏc nước đế quốc khỏc

Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra ( 1914-1918), làm cho những mõu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản núi chung và những mõu thuẫn

cơ bản của nước Nga vẫn khụng được giải quyết mà ngày càng sõu sắc thờm Tất cả điều đú núi lờn rằng thời cơ cỏch mạng vụ sản đó chớn mựi Thời cơ giai cấp vụ sản dành chớnh quyền từ tay giai cấp tư sản đó đến Vấn đề quan

hệ giữa cỏch mạng vụ sản với nhà nước đó được đặt thành chương trỡnh nghị

sự, việc giai cấp vụ sản tiến hành cỏch mạng bạo lực để giành lấy chớnh quyền

đó trở thành hành động thực tế trước mắt Tuy nhiờn, vào thời điểm này, giai cấp vụ sản cần phải gạt bỏ những quan niệm sai trỏi, lệch lạc về vấn đề nhà nước, xỏc định phương phỏp giành chớnh quyền và kế hoạch thực hiện nhiệm

vụ trong nền chuyờn chớnh vụ sản

Trong bối cảnh ấy, những tư tưởng thần bớ, tụn giỏo, bi quan đủ loại khụng những được phục hồi mà cũn nảy nở thờm và lan tràn nhanh chúng như một bệnh dịch Nguy hại hơn, sự thất bại của cuộc cỏch mạng 1905 khụng những đó đem lại sức nặng cho cuộc tiến cụng trực diện của bọn phản động vào triết học Mỏc, mà cũn làm cho bộ tham mưu của giai cấp cụng nhõn Nga

bị phõn hoỏ sõu sắc Khụng chỉ những kẻ thuộc phỏi mensờvớch mà cả những người thuộc phỏi bụnsờvớch trước đõy như A.Bụgđanốp, V.Badarốp,

Trang 4

A.V.Lunatrsatxki…cũng dựa vào chủ nghĩa Makhơ để chống lại chủ nghĩa Mác, đòi xét lại cả các nguyên tắc, sách lược của đảng trong đấu tranh chính trị và mưu toan dùng chủ nghĩa duy tâm chủ quan của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán do E.Makhơ sáng lập để thay thế triết học Mác Những thủ lĩnh của Quốc tế 2 như E.Bétstanh, Cauxky, lại tìm mọi cách chống lại các nguyên lý của chủ nghĩa Mác về nhà nước và cách mạng Cùng lúc bọn theo chủ nghĩa

vô chính phủ cũng đưa ra nhiều luận điểm chống chủ nghĩa Mác về vấn đề này Đây đúng là thời kỳ mà như V.I.Lênin nhận xét "Chủ nghĩa duy vật đâu đâu cũng bị ruồng bỏ" và các thế lực thù địch đủ loại "liên kết với nhau vì cùng thù ghét chủ nghĩa duy vật biện chứng"1

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thời kỳ khoa học tự nhiên, đặc biệt

là trong lĩnh vực vật lý học xuất hiện những “phát minh vạch thời đại” V.I.Lênin gọi sự kiện này là "cuộc cách mạng vật lý học" vì nó đã phá huỷ tận gốc rễ những quan niệm cổ truyền mang tính chất siêu hình về thế giới vật chất Theo đó, nó dồn các nhà khoa học "giỏi về khoa học nhưng kém cỏi về triết học" vào một cuộc khủng hoảng thật sự về thế giới quan – cái mà V.I.Lênin gọi là "cuộc khủng hoảng vật lý học"; và những nhà khoa học trên đây đã từng bước trượt dần xuống vũng bùn của chủ nghĩa duy tâm, tán đồng

sự luận giải mang tính chất duy tâm chủ quan của phái Makhơ về những thành tựu vĩ đại do khoa học tự nhiên đem lại - V.I.Lênin gọi đó là "chủ nghĩa duy tâm vật lý học"

Việc tiến hành nhiệm vụ bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác nói chung

và triết học Mác nói riêng được thực tiễn đặt ra cấp bách, cuộc luận chiến này, như V.I.Lênin khẳng định, không chỉ "là một nghĩa vụ văn học mà còn là một nghĩa vụ chính trị thật sự nữa"

2 V.I.Lênin bảo vệ và phát triển triết học Mác giai đoạn 1907-1917

2.1 V.I.Lênin giải quyết vấn đề cơ bản của triết học

Trong giai đoạn này Makhơ tìm cách tích hợp chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa duy tâm, những người theo trường phái này đã lãng tránh vấn đề cơ bản

1 1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1980, tr 9

Trang 5

của triết học, lãng tránh sự phân chia của các nhà triết học thành thành hai phái đối lập nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Makhơ che dấu chủ nghĩa duy tâm khách quan bằng cách đưa ra cụm từ mới trong nhận thức thế giới khách quan, coi đó là “ tổ hợp của các yếu tố” Nhưng cái yếu tố này thực ra cũng chỉ là kinh nghiệm và cảm giác Từ đó, Makhơ cho rằng nhận thức của con người xuất phát từ cảm giác hay là của chính “kinh nghiệm của chúng ta” và đó là những “tài liệu trực tiếp” Và như vậy, Makhơ đã trung dung giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, đưa ra “yếu tố” không phải vật chất mà cũng không phải ý thức mà là "cái trung gian" Những người theo chủ nghĩa Makhơ ở Nga đã nắm lấy học thuyết "yếu tố" để hết lời ca ngợi nó Họ coi đó là "phát minh vĩ đại", là cơ sở để thống nhất chủ nghĩa Makhơ với chủ nghĩa Mác, và do đó, gạt bỏ vấn đề lâu nay vẫn gắn liền với lịch sử tư tưởng triết học – vấn đề tính đảng

Về vấn đề này ,V.I.Lênin khẳng định không ai có thể tránh được và phủ nhận các trào lưu triết học và thẳng thắn bóc trần tính bịa đặc, dùng lời lẽ

mị dân để che đậy sự trần trụi của chủ nghĩa duy tâm khách quan: "Thật là trẻ con nếu nghĩ rằng bịa ra một từ mới là có thể tránh được những trào lưu triết

học cơ bản…triết học của các ngài chỉ là chủ nghĩa duy tâm đã uổng công che

đậy sự trần trụi của chủ nghĩa duy ngã của mình bằng một thuật ngữ "khách quan" hơn Hoặc giả "yếu tố" không phải là cảm giác, và như vậy từ "mới"

của các ngài tuyệt đối không có một chút ý nghĩa gì cả, và các ngài chỉ làm ồn

lên vô ích mà thôi"2

Lênin tiếp tục khẳng định tính đảng của triết học, Người cho rằng triết học hiện đại cũng như triết học hai nghìn năm trước Và biểu hiện rõ ràng và quan trọng nhất của nó là phục vụ cho lợi ích của giai cấp tầng lớp nào, nó thuộc về trường phái triết học nào Bất cứ tham vọng nào của các trường phái triết học muốn vượt lên trên tất cả những điều đó đều sa vào phản động và duy tâm

Với V.I.Lênin, việc vạch trần sự xuyên tạc của các trào lưu chống đối chủ nghĩa Mác nói chung và với triết học Mác nói riêng, cũng có nghĩa là

2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1980, tr 56

Trang 6

đồng thời phải luận giải một cách đúng đắn, bảo vệ và phát triển một cách toàn diện các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật triết học Để tạo ra bước đột phá trong cuộc đấu tranh chống lại việc chủ nghĩa duy tâm lợi dụng

những thành tựu khoa học tự nhiên để bác bỏ phạm trù vật chất, trong Chủ

nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, V.I.Lênin đã đưa ra một phương pháp định nghĩa hoàn toàn mới về phạm trù nền tảng này của chủ

nghĩa duy vật Việc V.I.Lênin quan niệm vật chất là một phạm trù triết học, định nghĩa nó thông qua phạm trù đối lập nó là ý thức, bằng cách chỉ ra cái

"đặc tính” duy nhất của vật chất - mà chủ nghĩa duy vật triết học là gắn liền với việc thừa nhận đặc tính này - là cái đặc tính tồn tại với tư cách là thực tại

khách quan, tồn tại ở ngoài ý thức chúng ta"3 không những có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật, mà còn có ý nghĩa to lớn đối với việc cổ vũ các nhà khoa học tự nhiên trong quá trình khám phá thế giới vật chất

Lênin định nghĩa : "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"4

Định nghĩa này không những khẳng định tính hiện thực khách quan của vật chất, tính có thể nhận thức của con người về thế giới mà còn khẳng định nội dung khách quan của ý thức con người; do đó, nó cũng là câu trả lời theo quan điểm nhất nguyên duy vật của chủ nghĩa Mác đối với vấn dề cơ bản của triết học, nó đã đưa chủ nghĩa duy vật lên một tầm cao mới

Khi xem xét mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, dường như là V.I.Lênin đã cảm thấy sẽ có nguy cơ tầm thường hoá quan điểm của ông -đem đối lập một cách siêu hình hai hiện tượng này với nhau - cho nên ông nhấn mạnh rằng, sự đối lập giữa vật chất và ý thức "chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong phạm vi hết sức hạn chế", "chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản" còn "ngoài giới hạn đó, thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó

3 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1980, tr 321

4 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1980, tr 151

Trang 7

là tương đối"5 Sự nhấn mạnh này không những đưa chủ nghĩa duy vật mácxít vượt qua chủ nghĩa duy vật trực quan trước đó, mà còn ngăn ngừa được những sai lầm sau này trong việc giải thích những quan điểm cơ bản của triết học Mác

Đứng trước những phát minh “vạch thời đại” của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, không ít nhà khoa học đứng trên lập trường duy vật tự phát, siêu hình đã hoang mang dao động, hoài nghi tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật Họ đã phụ hoạ với các nhà triết học duy tâm rằng "vật chất đã tiêu tan", rằng chủ nghĩa duy vật là "vô căn cứ", và rằng các lý luận không còn ý nghĩa khách quan Mặc dù coi đây thực sự là một cuộc khủng hoảng, nhưng với nhãn quan khoa học cách mạng, V.I.Lênin khẳng định

"Thực chất của cuộc khủng hoảng vật lý học hiện đại là ở sự đảo lộn của

những quy luật cũ và những nguyên lý cơ bản… ở sự thay thế chủ nghĩa duy vật bằng chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa bất khả tri"6, còn bản thân "vật lý học mới" sở dĩ đi chệch sang chủ nghĩa duy tâm, chủ yếu là vì các nhà vật lý học không hiểu được phép biện chứng Tuy vậy, V.I.Lênin lại cho rằng, hiện tượng trên "chỉ là bước ngoặt nhất thời, một thời kỳ ốm đau ngắn ngủi trong lịch sử khoa học, một chứng bệnh của bước trưởng thành"7.Theo đó, V.I.Lênin dự báo "Vật lý học đang nằm trên gường đẻ Nó đang đẻ ra chủ nghĩa duy vật biện chứng"8 Để khắc phục cuộc khủng hoảng về mặt thế giới quan trong khoa học tự nhiên, V.I.Lênin cho rằng "điều kiện tất yếu là chủ nghĩa duy vật biện chứng phải thay thế chủ nghĩa duy vật siêu hình"9

Cũng với tinh thần ấy, trong cuộc đấu tranh phê phán các quan điểm duy tâm, máy móc, siêu hình, V.I.Lênin đã dựa chắc vào các thành tựu của khoa học tự nhiên để đưa ra những dự báo, những kết luận hết sức sâu sắc về tính thống nhất vật chất của thế giới, về tính khách quan của không gian và thời gian, về tính vô cùng, vô tận của tự nhiên Điều đó đã thực sự góp phần

5 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1980, tr 56 173

6 Sđd, tr 318

7 Sđd, tr 377-378

8 Sđd, tr 388

9 Sđd, tr 379

Trang 8

tạo nên bước tiến mới của chủ nghĩa duy vật trong thời đại của "cuộc cách mạng vật lý học hiện đại.”

2.2 V.I.Lênin phát triển những vấn đề về phép biện chứng

Từ trước năm 1917, Lênin đã có quá trình tích lũy tư liệu và nghiên cứu tinh hoa triết học nhân loại mà nhất là phép biện chứng để lấy đó làm phương pháp luận để xem xét đánh giá các hiện tượng kinh tê-xã hội và chuẩn

bị lý luận cho cách mạng Phép biện chứng được đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua nhiều tác phẩm của người, nhưng tập trung nhất là trong tác phẩm Bút ký triết học, được người viết trong thời gian dài nhưng tập trung nhất là vào khoảng từ năm 1914-1916

Về phép biện chứng trong giai đoạn lịch sử này được đề cập và làm rõ

là khoa học về sự phát triển Nhưng quan trọng hơn là quan niệm của những người Mác xít về sự phát triển Nội dung đó được Lênin quan tâm làm rõ

V.I.Lênin chỉ ra thực chất sự khác biệt giữa quan niệm biện chứng và quan niệm siêu hình về sự phát triển, là cách giải thích khác nhau về nguồn gốc động lực sự phát triển V.I.Lênin viết: “Hai quan niệm cơ bản về sự phát triển (sự tiến hoá): sự phát triển coi như là giảm đi và tăng lên, như là lặp lại,

và sự phát triển coi như là sự thống nhất của các mặt đối lập (sự phân đôi của

cái thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau và mối quan hệ lẫn nhau giữa các mặt đối lập ấy)

Với quan niệm thứ nhất về sự vận động, sự tự vận động, động lực của

nó, nguồn gốc của nó, động cơ của nó nằm trong bóng tối (hay là người ta

đem nguồn gốc ấy đặt ra bên ngoài - Thượng đế, chủ thể etc… ) Với quan niệm thứ hai, sự lưu ý chủ yếu lại hướng chính vào sự nhận thức nguồn gốc

của “tự” vận động”10

V.I.Lênin đánh giá “Quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan Quan niệm thứ hai là sinh động chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khoá của “sự tự vận động” của tất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của “những “bước nhảy vọt”, của sự “gián đoạn của tính

10 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva 1981 tr 379

Trang 9

tiệm tiến”, của sự “chuyển hoá thành những mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái

cũ và sự nảy sinh ra cái mới”.11

V.I.Lênin nghiên cứu và gạn lọc ở triết học HêGhen, khai thác 16 yếu

tố của phép biện chứng Người rút ra kết luận: “Người ta có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là lý luận về sự thống nhất của các mặt đối lập” Và khẳng định “Theo nghĩa đen, phép biện chứng là sự nghiên cứu mâu thuẫn

trong ngay bản chất các đối tượng” 12 Đồng thời Lênin tập trung làm sâu sắc

thêm đặc trưng của các quy luật và tập trung phân tích quy luật mâu thuẫn Bởi vì đó là nội dung quan trọng để áp dụng phân tích tình thế cách mạng Nga trong giai đoạn này

Khi nghiên cứu những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, V.I.Lênin gắn liền với giải quyết những vấn đề thực tiễn trong lĩnh vực kinh

tế, chính trị V.I.Lênin cho rằng bộ “Tư bản” là mẫu mực của việc áp dụng

phép biện chứng vào nghiên cứu một xã hội cụ thể - xã hội tư bản chủ nghĩa Vận dụng phép biện chứng, C.Mác phân tích sự vận động của hàng hoá trong

xã hội tư bản, qua đó tìm ra quy luật hình thành, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản

2.3 V.I.Lênin phát triển lý luận nhận thức

Trong giai đoạn này, V.I.Lênin đặc biệt quan tâm đến những vấn đề của lý luận nhận thức Bởi vì lý luận đã tỏ ra lạc hậu và chưa giải thích ngọn nguồn những thành tựu khoa học mà nhất là vật lý học đã đạt được Đồng thời, chủ nghĩa Makhơ trong giai đoạn này có bước phát triển, chúng "đã đặc biệt chú trọng làm giả mạo nhận thức luận một cách tinh vi, bằng cách bắt chước chủ nghĩa duy vật, bằng cách dùng thuật ngữ tựa hồ như là duy vật để che đậy chủ nghĩa duy tâm".

Vì vậy, đồng thời với quá trình phê phán, vạch trần tính chất phản động, thần bí của những người theo phái Makhơ ở Nga, V.I.Lênin đã bảo vệ

và phát triển quan điểm mácxít về tính có thể nhận thức được của thế giới; về tính biện chứng của quá trình nhận thức chân lý khách quan; về các loại và

11 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 29 , Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981.tr.37

12 Sđd, tr 268

Trang 10

các tính chất của chân lý; về vai trò của thực tiễn và tiêu chuẩn của thực tiễn trong nhận thức Trong tác phẩm “ Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” viết năm 1908, V.I.Lênin đã khái quát cô đọng và rõ ràng những quan điểm cơ bản của nhận thức luận mácxít, làm nổi bật sự đối lập giữa chúng với các quan điểm nhận thức luận duy tâm, siêu hình và bất khả tri Cụ thể, Lênin đã rút ra ba kết luận quan trọng làm nền tảng cho nhận thực luận mácxít, đó là:

1 "Có những sự vật tồn tại độc lập với ý thức của chúng ta, độc đối với cảm giác của chúng ta, ở ngoài chúng ta…"

2 "Dứt khoát là không có và không thể có bất kỳ sự khác nhau nào về nguyên tắc giữa hiện tượng và vật tự nó Chỉ có sự khác nhau giữa cái đã được nhận thức và cái chưa được nhận thức"

3 "Trong lý luận nhận thức, cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác của khoa học, cần suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằng

nhận thức của chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn, mà phải phân tích xem sự

hiểu biết nảy sinh ra từ sự không hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy

đủ và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn như thế nào”

Từ đó, Người khẳng định vai trò của thực tiễn đối với nhận thức của con người và coi thực tiễn là một vòng khâu trong quá trình nhận thức đó Con đường biện chứng của nhận thức là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Qua các vòng khâu nhận thức đó, con người mới có thể nhận thức được sự vật từ bản chất cấp 1 đến bản chất cấp 2, cấp 3… Người khẳng định: "Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức”13 Và Người còn nhấn mạnh vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận), vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà

cả tính hiện thực trực tiếp”14

Rõ ràng, đóng góp quan trọng của V.I.Lênin trong vấn đề này không chỉ là ở sự khẳng định quan điểm duy vật về nhận thức, ở sự khẳng định về

13 Sđd, tr 167-168

14 Sđd, tr 230

Ngày đăng: 12/10/2016, 09:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w