1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT mối QUAN hệ GIỮA cơ sở hạ TẦNG KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG và sự vận DỤNG của ĐẢNG TA TRONG đổi mới KINH tế với đổi mới CHÍNH TRỊ GIAI đoạn HIỆN NAY

20 486 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 133 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học thuyết hình thái kinh tế xã hội là lý luận nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nhờ có lý luận này mà các hiện tượng xã hội được nhận thức một cách khoa học. Thông qua việc phân tích các mối quan hệ cơ bản trong mỗi hình thái kinh tế xã hội mà C.Mác đã tìm ra quy luật vận động của lịch sử loài người và trên cơ sở đó khẳng định sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên. Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội luôn bao gồm hai quy luật cơ bản của sự tồn tại và phát triển của xã hội đó là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của của lực lượng sản xuất và quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng.

Trang 1

duy vật lịch sử Nhờ có lý luận này mà các hiện tượng xã hội được nhận thức một cách khoa học Thông qua việc phân tích các mối quan hệ cơ bản trong mỗi hình thái kinh tế xã hội mà C.Mác đã tìm ra quy luật vận động của lịch sử loài người và trên cơ sở đó khẳng định sự phát triển của các hình thái kinh tế

xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội luôn bao gồm hai quy luật cơ bản của sự tồn tại và phát triển của xã hội đó là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của của lực lượng sản xuất và quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng

Trong xã hội có giai cấp mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng được thể hiện tập trung ở mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Việc nhận thức đúng mối quan hệ giữa cơ sở hạn tầng và kiến trúc thượng tầng sẽ giúp ta có thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong nhận thức

và xem xét, vận dụng vào mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay

Tại Đại hội XI, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề này và đã có những chủ trương đúng đắn, nhằm đề ra những giải pháp hiệu quả phát triển đất nước, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, việc vận dụng quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc tượng tầng của chủ nghĩa Mác -Lênin vào làm rõ mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị

là vấn đề cấp bách đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay

Trang 2

NỘI DUNG

I. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

1 Quan điểm triết học mácxít về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Cơ sở hạ tầng và đặc trưng của nó

Theo quan điểm triết học mácxít, cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan

hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định

Cơ sở hạ tầng của mỗi xã hội cụ thể, trừ xã hội nguyên thủy, đều bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai Các quan hệ sản xuất này tạo nên bộ mặt, diện mạo nền kinh tế trong một giai đoạn nhất định Trong đó quan hệ sản xuất thống trị giữ vai trò quyết định bản chất cơ sở hạ tầng và xu hướng cơ sở hạ tầng chi phối các quan hệ sản xuất khác vì quan hệ sản xuất này thường được xác định trong luật pháp và bảo hộ của Nhà nước pháp quyền, tư tưởng thống trị của mỗi xã hội bao giờ cũng là tư tưởng của giai cấp thống trị

Tổng hợp những quan hệ sản xuất không có nghĩa là phép cộng giản đơn các quan hệ sản xuất với nhau mà là các quan hệ sản xuất này nó là một chỉnh thể thống nhất, tác động, đấu tranh, ràng buộc và loại trừ nhau ở trong một chỉnh thể thống nhất đó C.Mác viết: “toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội tức là cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó”1 Trong thời kỳ quá độ thì cơ sở hạ tầng phức tạp vì còn tồn tại quan hệ sản xuất của xã hội cũ Quá trình phát triển, vận động

cơ sở hạ tầng chính là nói đến quá trình vận động của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần hiện nay Quan hệ sản xuất xét trong nội bộ phương thức sản xuất là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, xét trong tổng thể các quan hệ xã hội thì

1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb, CTQG, H.1995, tr.15

Trang 3

các quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở kinh tế của xã hội, tức là cơ sở hiện thực trên đó người ta dựng nên kiến trúc thượng tầng tương ứng với cơ sở hạ tầng đó

Cơ sở hạ tầng mang tính lịch sử cụ thể, không có cơ sở hạ tầng chung chung cho mọi chế độ xã hội trong lịch sử Biểu hiện ngay trong từng bước đi, trong quá trình phát triển của lịch sử Trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, cơ sở hạ tầng có kết cấu phức tạp, có nhiều thành phần kinh tế, nhiều kiểu quan hệ sản xuất cùng tồn tại, tác động qua lại nhau, cơ

sở hạ tầng vừa có tính chất đối kháng vừa không có tính chất đối kháng, song tính chất không đối kháng chủ đạo, cơ bản, nổi trội Cơ sở hạ tầng nó còn bao gồm cả quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất ra đời sống xã hội Thực chất là những quan hệ vật chất khách quan Tổng hợp các quan hệ vật chất này hợp thành một

cơ cấu kinh tế hiện thực của một chế độ xã hội nhất định

Kiến trúc thượng tầng và đặc trưng của nó

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng và các quan hệ tư tưởng cùng các tổ chức, thiết chế xã hội tương ứng với nó được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định

Kết cấu kiến trúc thượng tầng gồm có hai yếu tố: yếu tố tư tưởng xã hội bao gồm chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học… và yếu tố tổ chức thiết chế xã hội bao gồm Nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể, quân đội, cảnh sát… là vật chất hóa quan điểm tư tưởng Giữa hai yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong xã hội có giai cấp Nhà nước là cơ quan đặc biệt quan trọng trong kiến trúc thượng tầng tiêu biểu cho chế độ chính trị hiện tồn Chính nhờ có Nhà nước mà giai cấp thống trị gán được cho xã hội hệ tư tưởng của mình

Kiến trúc thượng tầng phản ánh bộ mặt tinh thần của đời sống xã hội, trong xã hội đối kháng có giai cấp, kiến trúc thượng tầng luôn mang tính giai cấp sâu sắc, tính chất đối kháng của kiến trúc thượng tầng phản ánh tính chất đối kháng của cơ sở hạ tầng, tính giai cấp của kiến trúc thượng tầng thể hiện ở

Trang 4

sự đối lập, ở các quan điểm tư tưởng về cuộc đấu tranh về mặt chính trị tư tưởng của giai cấp đối kháng, mâu thuấn đối kháng trong kiến trúc thượng tầng cũng bắt nguồn từ mâu thuẫn trong cơ sở hạ tầng

2 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Đây là một trong hai quy luật cơ bản của sự tồn tại và phát triển của xã hội, là quy luật cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, cũng là quy luật cơ bản của của học thuyết hình thái kinh tế xã hội

Nội dung quy luật chỉ ra cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, kiến trúc thượng tầng phản ánh cơ sở hạ tầng và tác động trở lại

cơ sở hạ tầng sinh ra nó Sự tác động này mang tính khách quan phổ biến

Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng

Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng vì cơ sở hạ tầng là những quan hệ kinh tế khách quan, còn những quan hệ kiến trúc thượng tầng

là những quan hệ nảy sinh từ những quan hệ kinh tế Do đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng Mặt khác, xuất phát từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, trong đó vật chất quyết định ý thức; vận dụng vào lĩnh vực xã hội thì quan hệ sản xuất, quan hệ vật chất quyết định quan hệ tinh thần, tư tưởng của xã hội, vì vậy cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng

Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng biểu hiện ở các nội dung sau:

Cơ sở hạ tầng quyết định tính chất của kiến trúc thượng tầng, tính chất của cơ sở hạ tầng như thế nào thì tính chất của kiến trúc thượng tầng như thế

ấy Cơ sở hạ tầng không có tính chất đối kháng được phản ánh nên kiến trúc thượng tầng cũng không có tính chất đối kháng, cơ sở hạ tầng có tính chất đối kháng thì kiến trúc thượng tầng cũng có tính chất đối kháng

Cơ sở hạ tầng quyết định cơ cấu, tổ chức và những nội dung cơ bản của các quan điểm trong kiến trúc thượng tầng Trong kiến trúc thượng tầng bao gồm những bộ phận, những cơ quan và nội dung cơ bản của các quan điểm

Trang 5

chính trị, pháp luật, đạo đức… như thế nào, không phải do ý muốn chủ quan của các giai cấp quy định mà là do cơ sở hạ tầng quyết định Cơ sở hạ tầng dựa trên quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì kiến trúc thượng tầng được sinh và bảo vệ giai cấp thống trị trong xã hội

Cơ sở hạ tầng quyết định sự vận động biến đổi phát triển thay thế lẫn nhau của kiến trúc thượng tầng Khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo Sự thay đổi đó không chỉ diễn ra từ xã hội này sang xã hội khác mang tính cách mạng mà nó còn diễn ra ngay trong một xã hội: trong một hình thái kinh tế xã hội, mỗi sự biến đổi về cơ cấu, cơ chế hoặc hình thức sở hữu trong lĩnh vực kinh tế… đều dẫn đến sự điều chỉnh nhất định ở lĩnh vực kiến trúc thượng tầng như sự bổ sung luật pháp, cải cách tổ chức bộ máy Nhà nước… Khi cơ sở hạ tầng cũ mất đi thì kiến trúc thượng tầng do nó sinh ra cũng mất theo Khi cơ sở hạ tầng mới ra đời thì kiến trúc thượng tầng mới phù hợp với

nó cũng xuất hiện

Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng

Sự tác động ngược trở lại này là do kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối không phụ thuộc máy móc vào cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng phản ánh cơ sở hạ tầng một cách tích cực, sáng tạo nhằm cải tạo cơ sở hạ tầng vì những lợi ích nhất định Mặt khác, kiến trúc thượng tầng còn có sức mạnh của các lực lượng vật chất do tổ chức thiết chế của nó đem lại, qua đó tác động ngược trở lại cơ sở hạ tầng

Sự tác động ngược trở lại này được biểu hiện:

Sự tác động của kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng được thể hiện

ở chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là luôn tìm mọi cách bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó Kiến trúc thượng tầng thường tìm mọi quyền lực kinh tế, chính trị, xã hội trong Nhà nước để ngăn chặn sự ra đời của cơ sở hạ tầng mới và xóa bỏ sự phục hồi của cơ sở hạ tầng cũ để tạo môi trường thuận lợi cho nó

Kiến trúc thượng tầng tác động ngược trở lại cơ sở hạ tầng theo hai chiều hướng Khi kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng và phản

Trang 6

ỏnh đỳng đắn cỏc quy luật kinh tế thỡ sẽ thỳc đẩy cơ sở hạ tầng phỏt triển, làm cho đời sống kinh tế, xó hội phỏt triển Ngược lại, khi kiến trỳc thượng tầng khụng phự hợp với cơ sở hạ tầng thỡ nú sẽ kỡm hóm sự phỏt triển của cơ sở hạ tầng gõy cỏc trở lực cho quỏ trỡnh sản xuất xó hội, tất nhiờn, sự kỡm hóm này chỉ trong một giới hạn nhất định và sớm hay muộn thỡ kiến trỳc thượng tầng cũng phải thay đổi

II Nhận thức và vận dụng của Đảng ta trong đổi mới kinh tế và đổi mới chớnh trị

1 Mối quan hệ giữa kinh tế và chớnh trị

Khỏi niệm kinh tế được hiểu theo hai nghĩa cơ bản đó là: Thứ nhất, kinh

tế là tổng thể cỏc quan hệ sản xuất nhất định trong lịch sử phự hợp với mỗi trỡnh

độ phỏt triển nhất định của lực lượng sản xuất Thứ hai, kinh tế là toàn bộ cỏc ngành kinh tế quốc dõn hay một bộ phận của nền kinh tế quốc dõn Nú bao gồm cỏc hỡnh thức sản xuất theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế và vựng kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế

Trong kinh tế, nhõn tố cú vai trũ lớn nhất là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất ngoài ra, phải kể đến quan hệ giữa người với người trong quỏ trỡnh tổ chức, quản lý sản xuất, trong phõn phối và tiờu dựng sản xuất được làm ra trờn cơ sở tớnh chất của chế độ sở hữu đú

Còn chính trị được hiểu là mối quan hệ giữa cỏc giai cấp, cỏc dõn tộc, cỏc quốc gia trong vấn đề dành, giữ, sử dụng quyền lực nhà nước; là phương hướng, mục tiờu được quy định bởi lợi ớch cơ bản của giai cấp, của đảng phỏi;

là hoạt động thực tiễn của cỏc giai cấp, cỏc đảng phỏi, cỏc nhà nước để thực hiện đường lối đó lựa chọn nhằm đi tới mục tiờu đó đề ra

Giữa kinh tế và chớnh trị cú mối quan hệ qua lại với nhau; cỏc quan hệ kinh tế và cơ cấu kinh tế là nền múng trờn đú dựng lờn được một kiến trỳc thượng tầng phỏp lý, chớnh trị tương ứng; ngược lại, thượng tầng chớnh trị

Trang 7

pháp lý cũng có tác động mạnh tới sự vận động và phát triển của kinh tế Trong mối quan hệ này kinh tế giữ vai trò quyết định tính thứ nhất, chính trị

là tính thứ hai, là cái phản ánh của kinh tế, thể hiện qua tư duy chính trị, đường lối chính trị , thể chế chính trị…

Kinh tế quyết định chính trị

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử thì kinh tế giữ vai trò quyết định đối với chính trị Kinh tế là nguồn gốc, là thước đo tính hợp lý của chính trị Tương ứng với một trình độ phát triển nhất định về kinh tế có một trình dộ phát triển nhất định về chính trị Cơ sơ kinh tế như thế nào thì cơ cấu thể chế chính trị thích ứng như thế ấy Sự biến đổi, phát triển của kinh tế là nguồn gốc sâu sa của mọi biến đổi xã hội và đảo lộn về chính trị Các quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp chỉ là sự phản ánh các quan hệ lợi ích kinh tế, các mâu thuẫn trong lợi ích kinh tế Kinh tế phát triển thì chính trị tiến bộ, ngược lại kinh tế khủng hoảng là dấu hiệu cho thấy sự bất cập của chính trị và

nó đòi hỏi phải có sự đổi mới về chính trị Ở mức độ, khía cạnh nào đó, sự phát triển của kinh tế thể hiện sự phát triển, tính ưu việt và sự phù hợp của chính trị đối với kinh tế

Theo V.I.Lênin, chính trị là việc xây dựng Nhà nước về kinh tế, “…là

sự biểu hiện tập trung của kinh tế”2, “…là kinh tế cô đọng lại”3 Như vậy, so với kinh tế, chính trị là sự phản ánh, là “tính thứ hai” Không có những quan

hệ chính trị và quy luật chính trị độc lập tuyệt đối với các quan hệ và quy luật kinh tế Chính trị không phải là cái gương soi của đời sống kinh tế, mà là sự biểu hiện tập trung của kinh tế Nó phản ánh mang tầm khái quát, bộc lộ cái bản chất nhất của đời sống kinh tế, mang tính chi phối trong đời sống kinh tế Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay cùng đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau Chính trị của chúng ta hiện nay là sự

2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, M.1977, tr.39

3 V.I.Lênin, Sđd, tập 45, tr.418

Trang 8

biểu hiện tập trung của nền kinh tế đó, trong đó việc làm cho kinh tế Nhà nước từng bước vươn lên nắm được vai trò chủ đạo được xem là một nội dung vô cùng quan trọng của nó

Chính trị tác động trở lại kinh tế

Trong khi khẳng định vai trò quyết định, tính thứ nhất của kinh tế đối với chính trị, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng nhấn mạnh tính độc lập tương đối và sự tác động ngược trở lại của chính trị đối với kinh tế V.I.Lênin nhấn mạnh:

“Chính trị không thể không giữ địa vị hàng đầu so với kinh tế”4, đây là luận điểm nói lên vai trò năng động, tính độc lập tương đối, sự tác động ngược trở lại của chính trị đối với kinh tế Sự tác động của chính trị đối với kinh tế có thể theo những hướng khác nhau: thúc đẩy, kìm hãm hoặc vừa thúc đẩy mặt này vừa kìm hãm mặt kia, có thể còn làm thay đổi cơ sở kinh tế ở chừng mực nhất định Điều

đó cho thấy, để phát triển kinh tế cần phải quan tâm đến chính trị, đặc biệt là định hướng chính trị của đảng cầm quyền và bộ máy Nhà nước V.I.Lênin viết:

“Không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể nào giữ vững được sự thống trị của mình, và do đó cũng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất”5

Chính trị đóng vai trò lãnh đạo, định hướng và tạo môi trường chính trị

-xã hội ổn định, đáp ứng những điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế Thực chất của sự tác động của chính trị đối với kinh tế là tạo môi trường xã hội ổn định, giải phóng sức sản xuất, tạo động lực để phát triển kinh tế, định hướng phát triển kinh tế quốc gia Để phát triển xã hội, đòi hỏi phải ưu tiên chính trị, đổi mới, hoàn thiện, dân chủ hóa chính trị, tạo tiền đề cho kinh tế phát triển

Quan hệ chính trị với kinh tế là quan hệ cơ bản, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, chi phối các mối quan hệ xã hội Vì vậy, đòi hỏi trong việc giải

4 V.I.Lênin, Sđd, tập 42, tr.349

5 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, M.1977, tr.350

Trang 9

quyết cỏc vấn đề cụ thể phải chủ động, sỏng tạo, trỏnh tuyệt đối húa hoặc đồng nhất chớnh trị với kinh tế Nếu tuyệt đối húa kinh tế sẽ dẫn đến phỏt triển kinh tế một cỏch tự phỏt, vụ chớnh phủ, tập trung tăng trưởng kinh tế bằng mọi giỏ, hy sinh cỏc mặt khỏc Nếu tuyệt đối húa chớnh trị trong phỏt triển kinh tế sẽ làm cho nền kinh tế bị can thiệp, ỏp đặt một cỏch duy ý chớ, khụng theo quy luật khỏch quan Sẽ dẫn đến kỡm hóm sự phỏt triển kinh tế núi riờng và kỡm hóm sự phỏt triển xó hội núi chung Thực tế sự sụp đổ của chế độ xó hội chủ nghĩa ở Liờn Xụ và Đụng Âu cú nguyờn nhõn trực tiếp

và sõu xa là việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chớnh trị chưa được tốt trong quỏ trỡnh xõy dựng xó hội chủ nghĩa Vỡ vậy, việc nghiờn cứu, giải quyết và vận dụng vấn đề này ở nước ta cú ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn to lớn đối với sự phỏt triển của một đất nước đi lờn chủ nghĩa xó hội Một trong những nguyờn nhõn và bài học kinh nghiệm đó gúp phần tạo nờn những thành tựu to lớn, toàn diện của đất nước qua hơn 25 năm đổi mới chớnh là do Đảng ta đó nhận thức và giải quyết, vận dụng đỳng đắn mối quan hệ giữa chớnh trị với kinh tế, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chớnh trị phự hợp với điều kiện cụ thể của đất nước Đú cũng chớnh là sự vận dụng linh hoạt, sỏng tạo của chủ nghĩa Mỏc-Lờnin về giải quyết biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trỳc thượng tầng

2 Đảng ta nhận thức và vận dụng giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chớnh trị

Nhận thức của Đảng ta về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chớnh trị

Quan điểm, t tởng chỉ đạo nhất quán của Đảng ta là kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, đổi mới kinh tế là trọng tâm,

đồng thời từng bớc đổi mới chính trị Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị là khâu then chốt của quá trình đổi mới Hai lĩnh vực này có quan hệ biện chứng với nhau Chỉ có tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế thành công mới tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần cần thiết cho

Trang 10

giữ vững và ổn định chính trị Ngợc lại, đổi mới chính trị sẽ tạo điều kiện, môi trờng và động lực để đổi mới kinh tế thắng lợi

Chính trị luôn là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, đụng chạm đến nhiều mối quan hệ xã hội Nó đòi hỏi quá trình đổi mới phải tiến hành từng bớc, phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị nghiêm túc, không xới tung nhiều vấn

đề cùng một lúc khi cha có đủ điều kiện chín muồi, không cho phép để xảy ra mất ổn định chính trị dẫn đến rối loạn xã hội

Quá trình đổi mới chính trị đợc Đảng ta bắt đầu bằng đổi mới về t duy chính trị, đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta Khi bắt đầu đổi mới, mặc dù chịu sự tác động và ảnh hởng của nhiều t tởng khác nhau nhng Đảng ta vẫn khẳng định: “Đổi mới t duy không có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt đợc, phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ nhận

đờng lối đúng đắn đã đợc xác định, trái lại chính là bổ sung và phát triển những thành tựu ấy”

Trớc những yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới trong nớc và những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, Đảng ta chủ trơng đổi mới, kiện toàn tổ chức và phơng thức hoạt động của hệ thống chính trị Song khác với cải cách, cải tổ của các nớc xã hội chủ nghĩa khác, đổi mới hệ thống chính trị ở nớc ta không có nghĩa là thay đổi chế độ chính trị này bằng chế độ chính trị khác mà cốt lõi là nhằm tăng cờng sức mạnh và hiệu lực, hiệu quả hoạt

động của các tổ chức trong hệ thống chính trị Mấu chốt trong đổi mới hệ thống chính trị nớc ta là phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, từng bộ phận trong cả hệ thống Vì vậy, một mặt phải nâng cao năng lực lãnh

đạo của Đảng, bảo đảm cho Đảng vừa là bộ phận của hệ thống chính trị, vừa giữ vững vai trò hạt nhân lãnh đạo của hệ thống ấy Mặt khác, phải tăng cờng hiệu lực quản lý của nhà nớc, đồng thời phát huy vai trò tích cực, chủ động của các đoàn thể nhân dân tham gia vào quá trình thực hiện các nhiệm vụ chính trị

Đồng thời với đổi mới hệ thống chính trị, Đảng ta quan tâm mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, nhằm khơi dậy và phát huy tiềm năng của mỗi ngời, mỗi tổ chức tham gia vào quá trình đổi mới, phấn đấu cho mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn

Ngày đăng: 12/10/2016, 09:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w