Giai cấp công nhân là giai cấp những người lao động hoạt động sản xuất trong các nghành công nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế xã hội tuỳ thuộc vào chế độ xã hội đương thời. Dưới xã hội cũ họ chỉ được coi là những người nghèo khổ đáng thương, tuy nhiên Mác, Ăngghen bằng sự thiên tài của mình, các ông đã kế thừa và phát triển những giá trị tư tưởng nhân loại, đi sâu vào nghiên cứu xã hội tư bản và phát hiện ra rằng giai cấp công nhân là lực lượng xã hội có sứ mệnh lịch sử thế giới là lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới
Trang 1XÂY DỰNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA
Giai cấp công nhân là giai cấp những người lao động hoạt động sản xuất trong các nghành công nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế xã hội tuỳ thuộc vào chế độ xã hội đương thời Dưới xã hội cũ
họ chỉ được coi là những người nghèo khổ đáng thương, tuy nhiên Mác, Ăngghen bằng sự thiên tài của mình, các ông đã kế thừa và phát triển những giá trị tư tưởng nhân loại, đi sâu vào nghiên cứu xã hội tư bản và phát hiện ra rằng giai cấp công nhân là lực lượng xã hội có sứ mệnh lịch sử thế giới là lật
đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới Các ông cũng khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là khách quan, do địa vị kinh tế xã hội của họ quy định và do đó giúp cho giai cấp công nhân là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại, cho phương thức sản xuất tiên tiến, có tính tổ chức, tính kỷ luật cao, có tinh thần cách mạng triệt để và tính thần quốc tế cao
cả Việc phát hiện ra sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân là một trong những cống hiến vĩ đại của Mác và Ăng ghen, nhờ có phát kiến vĩ đại này đã giúp cho giai cấp công nhân ý thức sâu sắc về địa vị và sứ mệnh lịch
sử của mình, để từ đó từng bước lãnh đạo và cùng toàn thể nhân dân lao động đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử đó, đưa loài người tiến tới một xã hội văn minh, tiến bộ, không còn áp bức, bóc lột, bất công
“Giai cấp công nhân Việt nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hư-ởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp,
Trang 2hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp” 1 Giai cấp
công nhân Việt Nam ra đời thông qua các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Là một bộ phận của giai cấp công nhân quốc tế, nên giai cấp công nhân Việt nam có địa vị kinh tế
xã hội cũng như đặc điểm, khả năng cách mạng như giai cấp công nhân quốc
tế Tuy nhiên do sự khác biệt về điều điều kiện sinh trưởng và điều kiện kinh
tế xã hội của Việt nam, vì vậy giai cấp công nhân Việt nam có những đặc điểm và khả năng cách mạng riêng
Trước hết Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời muộn hơn giai cấp công nhân quốc tế, nên gặp những khó khăn nhất định, song lại không chịu ảnh hưởng nhiều bởi chủ nghĩa cơ hội - xét lại trong quốc tế II, đồng thời được Quốc tế III, mà trực tiếp là đồng chí Nguyễn ái Quốc, quan tâm sát sao, tuyên truyền, giáo dục, nên dễ dàng trong việc tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác -Lênin, giác ngộ giai cấp và sớm tổ chức ra chính Đảng Hơn nữa chính ra đời muộn nên giai cấp công nhân Việt Nam có điều kiện để tiếp thu kinh nghiệm của giai cấp công nhân quốc tế và tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của GCCN quốc tế; đặc bịêt được sự cổ vũ mạnh mẽ của CM Tháng 10 Nga năm 1917
Thứ hai thành phần xuất thân của công nhân Việt Nam chủ yếu từ giai cấp nông dân - một lực lượng lao động đông đảo của xã hội Việt nam Tuy chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng tư hữu, lối sản xuất nhỏ của nông dân, song lại dễ thực hiện sự liên minh với nông dân và các tầng lớp lao động khác tạo nên sức mạnh to lớn trong đấu tranh cách mạng
Đặc biệt giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong một dân tộc có truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất trong chống ngoại xâm, nhất là
1 Đảng cộng sản Việt Nam, T i li ài li ệu nghiên cứu các nghị quyết Hội nghị TƯ6 Khoá X– Khoá X , Nxb CTQG, H
tr 12.
Trang 3vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước phát triển mạnh
mẽ Chính điều đó giúp giai cấp công nhân Việt nam luôn gắn bó với dân tộc
và thừa hưởng được truyền thống yêu nước của dân tộc, góp phần nâng cao tinh thần cách mạng, khiến cho ý chí và động cơ cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam được nâng lên gấp bội Chính địa vị kinh tế xã hội của giai cấp công nhân Việt Nam đã quy định họ có sứ mệnh lịch sử là thông qua Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thực hiện giải phóng dân tộc; sau khi giành thắng lợi tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN và góp phần vào sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động trên thế giới
Thực tiễn lịch sử cho thấy ngay từ khi ra đời, giai cấp công nhân Việt Nam thực sự là lực lượng tiên phong trong đấu tranh cách mạng, đã anh dũng, kiên cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay Trong công cuộc đổi mới hiện nay, tuy đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng trưởng thành lớn mạnh, song trước sự tác động của xu thế toàn cầu hoá hiện nay giai cấp công nhân Việt Nam vẫn còn nhiều mặt hạn chế cần khắc phục
Hiện nay không chỉ riêng Việt Nam, mà đời sống xã hội các dân tộc trên thế giới đang trải qua những biến động dữ dội mang tính toàn cầu, đó là những biến động trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, quân sự đến văn hoá, khoa học; từ đời sống của mỗi con người đến đời sống của cả cộng đồng nhân loại Tất cả những biến động ấy đã, đang và sẽ dẫn các quốc gia, dân tộc tới sự liên kết khu vực và quốc tế bằng quá trình toàn cầu hoá Toàn cầu hoá đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trong thế giới hiện đại, không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà còn mở rộng sang tất cả các lĩnh vực khác
Trang 4Toàn cầu hoá là quá trình xã hội hoá lực lượng sản xuất trên phạm vi quốc tế làm cho các quan hệ kinh tế vượt ra khỏi biên giới quốc gia dân tộc, làm cho ý nghĩa biên giới quốc gia ngày càng giảm dần Toàn cầu hoá là một
xu thế khách quan, về bản chất là toàn cầu hoá tư bản, nó đang ảnh hưởng rất sâu sắc cả theo hướng tích cực và tiêu cực tới mọi mặt đời sống xã hội, thậm chí tới cả hệ thống các giá trị văn hoá, các quy phạm đạo đức, tình cảm, lối sống và nhân cách con người trong mỗi quốc gia, dân tộc
Toàn cầu hoá tạo ra mặt tích cực là: nó phá bỏ những cản trở, những hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia, mở ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển trong quan hệ kinh tế, văn hoá, xã hội quốc tế; đồng thời mở ra khả năng cho các quốc gia chậm phát triển, nhanh chóng tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế, xúc tiến nhanh quá trình chuyển giao công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài từ đó hình thành một cơ cấu kinh tế- xã hội hiệu quả để đẩy nhanh, rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các quốc gia dân tộc khi tham gia quá trình toàn cầu hoá không những tiếp cận được nguồn vốn và công nghệ kỹ thuật cũng như công nghệ quản lý để phát triển kinh tế đất nước mà còn có cơ hội giao lưu, tiếp thu những giá trị tinh hoa, văn hoá nhân loại, làm phong phú thêm đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân, tạo động lực thúc đẩy đất nước phát triển Hiện nay, trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học công nghệ và thông tin phát triển như vũ bão, nên toàn cầu hoá là xu hướng tất yếu như một quy luật để tồn tại và phát triển, làm cho tốc độ phát triển kinh tế tăng nhanh Mặt khác toàn cầu hoá cũng chống lại âm mưu của Mỹ và các thế lực phản động Phương tây muốn thâu tóm thế giới Đồng thời nó cũng là phương thức quan trọng chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi muốn cô lập dân tộc mình với thế giới bên ngoài nhằm phục vụ lợi ích của một nhóm người thống trị
Trang 5Bên cạnh những mặt tích cực, những thời cơ, vận hội do toàn cầu hoá đem lại thì toàn cầu hoá còn gây nên những thách thức, những tác động tiêu cực thậm trí là những nguy cơ đối với nhiều quốc gia, dân tộc, nhất là những nước chậm và đang phát triển Đó là sự tái diễn bành trướng xâm lược của chủ nghiã thực dân mới, không phải bằng quân sự như trước kia, mà bằng sự thâm nhập về kinh tế, bằng sự xâm lược về văn hoá và gây áp lực về chính trị làm các quốc gia này ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào những quốc gia giầu có, không những về kinh tế mà cả về văn hoá và chính trị Sự mở rộng thị trường và tự do thị trường dẫn đến việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên của các nước chậm phát triển và đang phát triển một cách bừa bãi, thiếu khoa học, gây ra ô nhiễm môi trường và làm cho nguồn tài nguyên nhanh chóng bị cạn kiệt Sự phát triển với quy mô lớn của các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia làm cho nhà nước mất đi khả năng điều tiết xã hội dẫn đến phụ thuộc vào các nước tư bản phát triển
Toàn cầu hoá còn gây nên những hậu quả mang tính chất phi kinh tế như nạn ô nhiễm môi trường, đói nghèo, chủ nghĩa khủng bố, nạn ma tuý, mãi dâm, hoặc sự lan tràn của các loại dịch bệnh, đăc biệt là HIV/AIDS đó là những vấn đề mà không chỉ riêng một nước, một quốc gia nào có thể giải quyết được Đồng thời toàn cầu hoá còn tạo nguy cơ xâm nhập của các loại hình văn hoá ngoại lai trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc, làm băng hoại đạo đức con người, xâm hại đến nền văn hoá dân tộc, làm méo mó, biến dạng nền văn hoá truyền thống hình thành một nền văn hoá hỗn tạp, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của nhân dân
Như vậy tính hai mặt của quá trình toàn cầu hoá đặt ra đối với các quốc gia cần có thái độ đúng đắn để vừa tránh được những tác động tiêu cực, mặt khác vẫn tận dụng được mặt tích cực và cơ hội của nó đem lại để phát triển
Trang 6đất nước, tham gia vào dòng chảy chung của sự phát triển nhân loại cùng giải quyết các vấn đề nhân loại hiện nay đặt ra
Cùng với xu thế chung của thế giới, Việt Nam cũng đang chịu sự tác động ảnh hưởng khá lớn của quá trình toàn cầu hoá Với những ảnh hưởng tích cực của toàn cầu hoá, đã làm cho các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá
xã hội của chúng ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng Việt Nam chính thức tham gia hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới và khu vực từ năm
1986 Trải qua hơn hai thập kỷ hội nhập chúng ta đã có kết quả bước đầu quan trọng trên các mặt như thương mại, dầu tư, ngoại giao… phá bỏ thế bao vây, cấm vận, tạo ra môi trường hợp tác và phát triển với các đối tác trên thế giới, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt cao Nhưng do ảnh hưởng tác động tiêu cực của quá trình hội nhập và sự cạnh tranh găy gắt trong lĩnh vực khinh tế, làm cho Việt Nam đang đứng trước nhiều nguy cơ lớn, trong đó
Đảng ta xác định: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta từng chỉ rõ - tụt hậu xa hơn về
kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng XHCN, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, “diễn biến hoà bình”do các thế lực thù địch gây ra - đến nay vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp”1 Từ những thách thức về kinh tế do toàn cầu hoá đặt ra chúng ta còn phải đối mặt với những thách thức
về mặt xã hội: Trước hết là nạn thất nghiệp và thiếu việc làm Khi nước ta tiến hành hội nhập, nền kinh tế trở nên năng động hơn, các thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ, nhưng cạnh tranh cũng quyết liệt hơn Chính sự cạnh tranh đó, làm cho nhiều cơ sở sản xuất, nhiều doanh nghiệp bị phá sản, nhiều
cơ sở sản xuất phải tinh giảm biên chế Tình trạng đó làm tăng thêm đội ngũ những người không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không thường xuyên Thêm vào đó trong lĩnh vực nông nghiệp mỗi năm có khoảng một tỷ ngày
1 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu to n qu àn qu ốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H2006, tr15
Trang 7công dư thừa trong những thời điểm nông nhàn, là những vấn đề không dễ gì giải quyết
Mặt khác hiện nay tình trạng tham nhũng đang trở thành quốc nạn Đại
hội toàn quốc lần thứ X của Đảng đánh giá: “Quan liêu, tham nhũng, lãng
phí còn nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức.”1 Bên cạnh đó ngoài số người làm giầu chính đáng, còn không ít những kẻ làm giầu bất chính như buôn lậu, trốn thuế, bất chấp luân thường đạo lý hay việc gia tăng các tổ chức tội phạm trong nước và quốc tế hoạt động ở Việt Nam, đó là những thách thức không nhỏ đối với nước ta trong quá trình hội nhập
Những thách thức mà Việt Nam đang gặp trong quá trình hội nhập là rất lớn nhưng không có nghĩa là chúng ta đóng cửa để từ bỏ con đường hội nhập với thế giới Vấn đề đặt ra đối với nước ta là phát triển một cách ổn định
và nhanh chóng rút ngắn khoảng cách so với những nước đi trước trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Ý thức điều đó, Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ X khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự
chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên lĩnh vực khác Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế và khu vực”2 Với quan điểm đó, Việt Nam đã mở cửa, thiết lập các mối quan hệ đa phương, song phương với tất hầu hết các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau và cùng có lợi
1 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu to n qu àn qu ốc lần thứ X, Nxb CTQG, H2006, tr175.
2 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đai hội Đại biểu to n qu àn qu ốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.113.
Trang 8Tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, giai cấp công nhân Việt Nam có những biến đổi lớn cả về số, chất lượng, cơ cấu theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực Hiện nay, theo thống kê, công nhân Việt Nam có trên 9,5 triệu người, chiếm 11% dân số, và 20% lực lượng lao động xã hội Trong đó gồm: 1,94 triệu công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước, 3,37 triệu công nhân trong các doanh nghiệp ngoài khu vực kinh tế nhà nước, 1,45 triệu công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và khoảng 2,27 triệu công nhân trong các loại hình sản xuất, kinh doanh khác Trước hết giai cấp công nhân Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển về mọi mặt, nhất
là về trình độ văn hóa, tay nghề và nâng cao mức sống Song chính quá trình hội nhập quốc tế cũng làm cho giai cấp công nhân Việt Nam còn tồn tại những hạn chế, yếu kém chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Điều này được thể hiện từ chính thực
trạng của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay:
Trước hết về mặt mạnh:
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giai cấp công nhân nước ta đã có những chuyển biến quan trọng, tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng ngày càng được nâng lên, đã hình thành ngày càng đông đảo bộ phận công nhân trí thức Giai cấp công nhân nước ta
có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế, các ngành nghề; là một lực lượng sản xuất cơ bản, đang trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, vận hành và sử dụng các công cụ sản xuất, gồm cả các phương tiện sản xuất tiên tiến, hiện đại; có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Giai cấp công nhân nước ta đang tiếp tục phát huy vai trò là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, đã
có đóng góp to lớn, trực tiếp vào sự nghiệp phát triển của đất nước, đưa nền
Trang 9kinh tế vượt qua thời kỳ suy thoái, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và phát triển tương đối toàn diện, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tạo ra nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh cao và tăng cường tiềm lực cũng như cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế
Trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của công nhân đã được nâng lên đáng kể Đã hình thành một bộ phận công nhân trí thức năng động và tiếp cận nhanh với khoa học - công nghệ hiện đại, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường Đặc biệt số lượng công nhân ở một số ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, như: điện lực, dầu khí, điện tử, tin học, viễn thông đang tăng nhanh
Cùng với quá trình phát triển chung của đất nước, đời sống vật chất và tinh thần của giai cấp công nhân có được cải thiện nhất định, nhất là công nhân có trình độ chuyên môn, nghề nghiệp cao, công nhân làm việc ở các doanh nghiệp nhà nước và trong các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuận lợi
Nhà nước đã từng bước xây dựng và hoàn thiện dần các chính sách
về hợp đồng lao động, về tiền lương, về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và
vệ sinh, an toàn lao động nhằm bảo đảm cuộc sống và an toàn trong sản xuất của công nhân
Tỷ lệ công nhân thất nghiệp, thiếu việc làm giảm dần; tiền lương, thu nhập của công nhân đã tăng lên; công nhân có nhiều điều kiện hơn trong tìm, lựa chọn việc làm phù hợp với trình độ, năng lực và thể hiện năng lực, trí tuệ của bản thân Nhà nước đã quan tâm hỗ trợ giải quyết đời sống cho số lao động dôi dư trong sắp xếp, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Một số hạn chế yếu kém:
Trang 10Số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của một bộ phận công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề
Tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; đa phần công nhân từ nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống Một
bộ phận công nhân chậm thích nghi với cơ chế thị trường
Giai cấp công nhân còn hạn chế về phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không đồng đều; sự hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế, địa vị chính trị của giai cấp công nhân chưa thể hiện đầy đủ
Tỷ lệ đảng viên và cán bộ lãnh đạo xuất thân từ công nhân còn thấp Một bộ phận công nhân chưa thiết tha phấn đấu vào Đảng và tham gia hoạt động trong các tổ chức chính trị - xã hội
Về đời sống, lợi ích của một bộ phận công nhân được hưởng, chưa tương xứng với những thành tựu của công cuộc đổi mới và những đóng góp của chính mình Việc làm, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân đang
có nhiều khó khăn, bức xúc, đặc biệt là ở bộ phận công nhân lao động giản đơn tại các doanh nghiệp của tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Mặc dù còn một số hạn chế, yếu kém như trên, nhưng do địa vị kinh tế
xã hội khách quan quy định và từ thực tiễn đang phát triển lớn mạnh hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam vẫn có vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc XHCN, vẫn là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam được thể