GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÀI LIỆU Được sự hỗ trợ của tổ chức Unicef và Dự án giáo dục trẻ em của Bộ Giáo dục & Đào tạo, tài liệu “Chiến lược dạy học và hỗ trợ học sinh khuyết tật ngôn ngữ họ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
DỰ ÁN GIÁO DỤC CHO TRẺ EM
UNICEF VIỆT NAM TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI
CHIẾN LƯỢC DẠY HỌC VÀ HỖ TRỢ HỌC SINH KHUYẾT TẬT NGÔN NGỮ HỌC HÒA NHẬP CẤP TIỂU HỌC
(Tài liệu hướng dẫn giáo viên các trường tiểu học
có học sinh khuyết tật học hòa nhập)
Nhóm tác giả biên soạn:
1 TS Bùi Thị Lâm
2 Ths Nguyễn Minh Phương
Hà Nội, 2015
Trang 2GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÀI LIỆU
Được sự hỗ trợ của tổ chức Unicef và Dự án giáo dục trẻ em của Bộ Giáo
dục & Đào tạo, tài liệu “Chiến lược dạy học và hỗ trợ học sinh khuyết tật ngôn
ngữ học hòa nhập cấp tiểu học” được biên soạn nhằm góp phần giúp các thầy,
cô giáo, các nhà quản lí và những người quan tâm có thể tìm hiểu và thực hành
áp dụng một số biện pháp dạy học và hỗ trợ học sinh khuyết tật ngôn ngữ (HS KTNN) học hòa nhập
1 Mục tiêu của tài liệu
1.1 Kiến thức: Cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về HS KTNN (khái
niệm, dấu hiệu nhận biết, đặc điểm của học sinh khuyết tật ngôn ngữ); nội dung, cách thức điểu chỉnh trong dạy học hòa nhập HS KTNN, một số kĩ thuật hỗ trợ
HS KTNN trong dạy học hòa nhập, tạo môi trường học tập phù hợp cho HS KTNN, cách thức xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân và hỗ trợ cá nhân học sinh khuyết tật ngôn ngữ ở nhà và ở trường
1.2 Kỹ năng: Cung cấp các kĩ năng nhận biết, đánh giá học sinh khuyết tật ngôn
ngữ, kỹ năng dạy học và hỗ trợ HS KTNN: kĩ năng điều chỉnh, sửa lỗi phát âm,
hỗ trợ học sinh nói lắp, kỹ năng xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân cho học sinh KTNN
1.3 Thái độ: Tin tưởng vào khả năng học hoà nhập của HS KTNN khi có sự hỗ
trợ từ phía giáo viên, gia đình, bạn bè và cộng đồng
2 Cấu trúc của tài liệu
Tài liệu bao gồm ba mô đun:
- Mô đun 1: Hiểu về học sinh khuyết tật ngôn ngữ
- Mô đun 2: Dạy học hòa nhập học sinh KTNN cấp tiểu học
- Mô đun 3: Hỗ trợ cá nhân học sinh KTNN cấp tiểu học
Do những hạn chế chủ quan và khách quan, cuốn tài liệu chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Các tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng
Trang 3góp của các giáo viên, các đồng nghiệp để tài liệu hoàn thiện và phục vụ tốt hơn cho công tác giáo dục trẻ khuyết tật
Các tác giả
Trang 4MỤC LỤC
MÔ ĐUN 1 HIỂU VỀ HỌC SINH KHUYẾT TẬT NGÔN NGỮ 11.1 Nhiệm vụ 1: Khái niệm học sinh khuyết tật ngôn ngữ 11.2 Nhiệm vụ 2: Nhận biết học sinh khuyết tật ngôn ngữ 111.3 Nhiệm vụ 3: Đặc điểm của học sinh khuyết tật ngôn ngữ bậc tiểu học 16
MÔ ĐUN 2 DẠY HỌC HÒA NHẬP HỌC SINH KHUYẾT TẬT NGÔN NGỮ 192.1 Nhiệm vụ 1: Điều chỉnh trong dạy học hòa nhập học sinh KTNN 192.2 Nhiệm vụ 2: Một số kĩ thuật hỗ trợ trong dạy học hòa nhập HS KTNN 232.3 Nhiệm vụ 3: Đánh giá kết quả học tập của HS KTNN 32
MÔ ĐUN 3 HỖ TRỢ CÁ NHÂN HỌC SINH KHUYẾT TẬT NGÔN NGỮ CẤP TIỂU HỌC 383.1 Nhiệm vụ 1: Kế hoạch giáo dục cá nhân với học sinh KTNN 383.2 Nhiệm vụ 2: Hỗ trợ giáo dục cá nhân học sinh khuyết tật ngôn ngữ ở trường và ở nhà 43TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 5+ Mô tả được một số dấu hiệu nhận biết học sinh khuyết tật ngôn ngữ + Phân tích được các đặc điểm cơ bản của học sinh khuyết tật ngôn ngữ
- Kĩ năng: Nhận biết học sinh có dấu hiệu khuyết tật ngôn ngữ trong lớp học
- Thái độ: Có thái độ phù hợp, tích cực đối với học sinh khuyết tật ngôn ngữ
trong lớp học
Nội dung:
1.1 Nhiệm vụ 1: Khái niệm học sinh khuyết tật ngôn ngữ
1.1.1 Hoạt động 1: Hiểu và phân biệt các khái niệm: giao tiếp, ngôn ngữ, lời nói
1.1.1.1 Thảo luận
- Học viên thảo luận trong nhóm nhỏ và trả lời câu hỏi:
+ Hãy nêu quan điểm, ý hiểu của mình về các khái niệm: giao tiếp, ngôn ngữ, lời nói?
- Giảng viên phân tích và kết luận
1.1.1.2 Thông tin phản hồi
Trang 62
suy nghĩ, cảm xúc, nhu cầu của chúng ta (sự biểu đạt ngôn ngữ thành công) Cần
có rất nhiều kĩ năng khác đi kèm thì mới thực hiện được điều này ngay cả khi chúng ta vẫn nghe, nói được bình thường
- Mô hình giao tiếp thành công được thể hiện rõ trong mô hình đầu vào (tiếp
nhận) và đầu ra (biểu đạt) thông tin của Kate Ripley and Jenny Barrett [8;19]
Theo đó, một người tiếp nhận thành công một thông điệp khi người đó có kĩ năng nghe tốt, có phản ứng phù hợp, có khả năng xử lí và phân tích âm vị và cấu trúc câu, tìm thấy sự tương ứng giữa âm và nghĩa từ, hiểu cấu trúc bề mặt của thông điệp, cuối cùng là hiểu mục đích giao tiếp của người nói Một người biểu đạt thành công khi có một ý tưởng phù hợp ngữ cảnh giao tiếp, tìm được các từ ngữ thích hợp, tìm được âm phù hợp với các từ và đặt các từ ngữ này vào trong câu, cuối cùng là ra quyết định truyền thông điệp một cách phù hợp
Mô hình này như sau:
Vấn đề ngữ dụng
- Xử lí âm vị học, phân tích
pháp
- Tìm thấy sự tương hợp giữa
âm và nghĩa của từ Vấn đề ngữ
Trang 73
Các kĩ năng biểu đạt
b Ngôn ngữ
- Ngôn ngữ là một hệ thống có tổ chức của các kí hiệu võ đoán & các cấu trúc
tầng bậc có quy tắc, được sử dụng như một phương tiện giao tiếp (Brandone &
cộng sự, trong Paul, R 2001) Trong đó, cấu trúc tầng bậc được thể hiện ở các đơn vị từ nhỏ đến lớn, gồm: âm, từ, ngữ, câu, văn bản
- Ngôn ngữ là sự kết hợp phức tạp của ba bình diện chính: hình thức, nội dung
và cách sử dụng (Bloom và Lahey, 1978) Các bình diện này tuy có sự khác biệt nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
về thế giới, về khái niệm
và liên quan với ngữ cảnh
- Đặt các từ, ngữ vào một câu: trật tự từ, các cách kết hợp từ
Vấn đề cú pháp
- Đảm bảo thông điệp thích hợp với những gì sẽ nói và tìm cách gửi đến người nhận cụ thể
- Khi nào truyền thông điệp
Vấn đề sử dụng
Trang 84
Sự kết hợp của ngôn ngữ
Về mặt hình thức gồm có ngữ âm – âm vị, hình thái và cú pháp
Ngữ âm-âm vị bao gồm hệ thống âm thanh của một ngôn ngữ và những quy
tắc kết hợp những âm thanh này với nhau Mỗi ngôn ngữ có hệ thống âm vị hoặc
âm thanh tiếng nói riêng và sự kết hợp âm thanh này tạo thành nét đặc trưng của một ngôn ngữ Các quy tắc âm vị học chi phối việc phân bố và trình tự, vị trí của các âm vị trong một ngôn ngữ Ví dụ, trong tiếng Việt, âm vị [ngh] có thể tồn tại trong các tiếng như: nghĩ, nghe,… ở vị trí làm phụ âm đầu của âm tiết nhưng lại không xuất hiện ở vị trí cuối âm tiết
Quy tắc về sự phối hợp sẽ quy định những âm tiết nào có thể xuất hiện trong
1 âm tiết và những âm vị nào có thể kết hợp được với nhau Ví dụ: âm tiết “vườn”
có thể được chấp nhận trong tiếng Việt nhưng âm tiết “vưàn” thì không tồn tại
Cú pháp bao gồm những quy tắc sắp xếp, kết hợp các từ theo trật tự, cấu
trúc nhất định trong một câu (hoặc phát ngôn) Các nguyên tắc cú pháp chi phối dạng thức và cấu trúc của câu Chúng bao gồm trật tự từ, tổ chức câu, mối quan
hệ giữa các từ, ngữ, mệnh đề Cú pháp chỉ ra sự kết hợp từ nào, dạng thức ngữ pháp nào có thể được chấp nhận hoặc không Những hiểu biết về các quy tắc ngôn ngữ cho phép người sử dụng ngôn ngữ có thể hiểu và sử dụng ngôn ngữ
Ví dụ: cấu trúc câu phổ biến của tiếng Việt là C-V-B (Chủ ngữ - vị ngữ - bổ ngữ), như “Mẹ nấu cơm.” mà không thể đổi thành trật tự C-B-V “Mẹ cơm nấu”
Mặt nội dung ngôn ngữ chính là bình diện từ vựng, ngữ nghĩa bao gồm từ
và ý nghĩa của từ, câu Những quy tắc kết hợp nghĩa của các từ để tạo thành
NỘI DUNG
HÌNH THỨC
SỬ DỤNG
Trang 95
những cụm từ và câu có nghĩa Ví dụ: trong tiếng Việt, nghĩa sẽ khác nhau khi các kết hợp có sự khác biệt, như “đời người” và “người đời”
Mặt ngữ dụng hay việc sử dụng ngôn ngữ chính là bình diện chức năng bao
gồm việc sử dụng ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp với những bối cảnh khác nhau để đạt được mục đích giao tiếp nhất định
c Lời nói
- Lời nói là phương thức giao tiếp, liên quan đến quá trình tạo âm được sử dụng qua sự phối hợp chính xác của môi, lưỡi, vòm miệng, hệ thống cơ, hệ thống hô hấp và não bộ (Maria Angela Martinez, 2004)
Cùng một lời nói nhưng ở mỗi cá nhân có sự khác nhau về mặt âm thanh
Âm thanh của lời nói cũng như âm thanh trong thế giới tự nhiên xung quanh chúng ta, về bản chất đều là những sóng âm được truyền trong một môi trường nhất định và thường là không khí Khi chúng ta nói, dây thanh trong hầu chấn động, tạo nên những sóng âm Chúng được truyền trong không khí đến tai người nghe Âm thanh có những đặc trưng để phân biệt nhau là:
+ Cao độ do tần số dao động của vật thể quyết định Dây thanh chấn động
nhanh cho ta những âm cao, chấn động chậm cho ta những âm thấp Đơn vị đo cao độ là Hertz (Hz) Tần số là số chu kì được thực hiện trong 1 giây Tần số càng lớn thì âm phát ra càng cao và ngược lại
+ Cường độ hay độ mạnh của âm thanh, do biên độ dao động của vật thể
quyết định Dây thanh chấn động mạnh so với tư thế nghỉ ngơi thì âm phát ra lớn và ngược lại thì âm phát ra nhỏ
+ Âm sắc là sắc thái của âm thanh Sự khác nhau của âm sắc là do sự khác
nhau của các hộp cộng hưởng Miệng của con người với tư cách là một hộp cộng hưởng khác nhau do vị trí của lưỡi, môi, hàm thay đổi mà trở thành rất nhiều hộp cộng hưởng khác nhau và ta có những âm với âm sắc khác nhau
+ Trường độ hay là độ dài của âm thanh Độ dài của âm thanh tạo nên sự
tương phản giữa các bộ phận của lời nói
Trang 10- Học viên thảo luận trong nhóm nhỏ, mỗi nhóm trả lời 1 câu hỏi:
+ Khó khăn về giao tiếp là gì?
+ Khó khăn về ngôn ngữ là gì?
+ Khó khăn về lời nói là gì?
- Đại diện từng nhóm trình bày ý kiến, các nhóm khác nhận xét, bổ sung
- Giảng viên phân tích và kết luận
1.1.2.2 Thông tin phản hồi
a Khó khăn về giao tiếp
Khó khăn về giao tiếp là sự suy giảm khả năng tiếp nhận, truyền tải, xử lí các khái niệm bằng lời, không lời và bằng hệ thống các biểu tượng chữ viết
(ASHA, 1993)
Có thể nhận thấy sự suy giảm hay khó khăn về việc trao và nhận thông tin bằng lời, không lời và bằng chữ viết là biểu hiện rõ nét nhất của sự khó khăn về giao tiếp Như thế, nội hàm của khó khăn về giao tiếp là khó khăn trong việc tiếp nhận và/hoặc truyền đạt thông tin ở các kênh giao tiếp khác nhau như: kênh lời nói và/ hoặc kênh chữ viết
b Khó khăn về ngôn ngữ
Khó khăn về ngôn ngữ là một sự chậm trễ đáng kể trong việc sử dụng và/ hoặc hiểu về ngôn ngữ nói và/ hoặc ngôn ngữ viết Ngôn ngữ được xem xét ở các bình diện như hình thức (âm vị, cú pháp, và hình thái), nội dung hoặc ý nghĩa (ngữ nghĩa), cách sử dụng (ngữ dụng) (ASHA, 1993)
Các dạng tật ngôn ngữ xét theo tiêu chí bình diện ngôn ngữ gồm:
- Khó khăn về hình thức ngôn ngữ: gồm các khó khăn trong việc sử dụng hình thái, cấu trúc cú pháp và khả năng về ngữ âm – âm vị
Trang 11+ Khó khăn về cú pháp: ở dạng này, HS có thể gặp khó khăn trong việc hiểu, sử dụng các kiểu câu có cấu trúc đơn giản lẫn phức tạp Chẳng hạn như HS gặp khó khăn trong việc dùng câu phân chia theo mục đích nói,… hay khó khăn trong việc sắp xếp trật tự các từ trong câu, đặc biệt là câu ít dùng, ít gặp và hay
tỏ ra khó hiểu khi xuất hiện các câu kiểu này v.v
- Khó khăn về nội dung ngôn ngữ: sự phát triển mặt nội dung ngôn ngữ bao hàm
cả sự tăng lên về lượng (vốn từ) và sự biến đổi về chất (tính phức tạp và trừu
tượng trong vốn từ ngữ) của HS Điều này phản ánh các khái niệm và ý tưởng
chứa đựng trong từ ngữ mà HS lĩnh hội được Ở giai đoạn trước 6 tuổi, HS mới chỉ có vốn từ ngữ sử dụng trong giao tiếp thông thường, sang giai đoạn học đường
HS học được vốn từ ngữ nhà trường, diễn đạt các khái niệm môn học, các thuật ngữ khoa học ngày càng phức tạp và trừu tượng hơn Khiếm khuyết ở khía cạnh này có thể làm HS hạn chế vốn từ, hạn chế các loại ngữ nghĩa, thiểu hụt khả năng điều chỉnh từ, thiếu kĩ năng kết hợp từ và khó sử dụng những cụm từ cố định như thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ… HS này cũng gặp hạn chế trong việc hiểu và sử dụng những câu nói đùa, cách nói bóng bẩy hay mang nghĩa ẩn dụ
- Khó khăn về sử dụng ngôn ngữ: là HS gặp khó khăn trong việc vận dụng các quy tắc ngôn ngữ trong các tình huống, ngữ cảnh giao tiếp khác nhau Ngôn ngữ được sử dụng như là một dạng công cụ hữu hiệu của giao tiếp và tư duy Sự phát triển mặt sử dụng ngôn ngữ ở trẻ em và vị thành niên biểu hiện qua khả năng hoạt hóa ngày càng đầy đủ, sâu sắc và hiệu quả các chức năng của ngôn ngữ phù hợp với mục đích và bối cảnh Chẳng hạn, từ chỗ HS sử dụng được ngôn ngữ trong chức năng giao tiếp ở mục đích thỏa mãn nhu cầu ăn uống, đến chỗ sử dụng được ngôn ngữ cho mục đích tranh luận và thuyết phục người khác một cách trực tiếp
Trang 128
(qua nói, diễn thuyết) hoặc gián tiếp (viết bài nghị luận) ở cuối bậc trung học là một chặng dài trong diễn trình phát triển khả năng sử dụng ngôn ngữ
Các khó khăn này có thể tồn tại ở các mức độ từ nhẹ đến nặng
c Khó khăn về lời nói
Khó khăn về lời nói là sự suy giảm về khả năng phát âm với đặc trưng là sự thừa, thiếu hoặc biến dạng của âm thanh tiếng nói; sự mất lưu loát với đặc trưng là sự bất thường về độ trôi chảy, nhịp điệu, sự lặp đi lặp lại các âm thanh; hoặc sự rối loạn về giọng nói với đặc trưng là sự bất thường về cao độ, âm sắc, cường độ, trường độ, chất lượng phát âm (ASHA, 1993)
Các dạng khó khăn về lời nói thường gặp:
- Nói ngọng: hay còn gọi là phát âm sai Đây là dạng phổ biến nhất trong các khó khăn về lời nói Hiện tượng nói ngọng được thấy ở học sinh có sự bất thường về cấu tạo cơ quan phát âm (ví dụ, sứt môi, khe hở vòm) và cả ở những
em bình thường về cấu tạo cơ quan phát âm
- Nói lắp: hay còn gọi là nói cà lăm, là sự rối loạn về âm điệu, nhịp điệu, tính lưu loát của lời nói, kèm theo sự phát sinh những cơn co giật, căng thẳng ở các cơ tham gia hoạt động nói
- Nói khó: không chỉ khó khăn về mặt phát âm mà còn rối loạn ở các thành phần ngữ âm khác như thanh điệu, nhịp điệu, ngữ điệu, hô hấp…
- Chậm nói: là sự chậm trễ trong việc vận dụng các cơ chế tạo âm thanh lời nói trong giao tiếp
- Rối loạn về giọng: những rối loạn về giọng thường gặp gồm: mất giọng, giọng nói quá cao (thé), quá trầm (khàn đục), giọng nói quá to (oang oang), giọng quá nhỏ (thều thào) Ngoài ra, sự sai giọng còn biểu hiện ở việc nói sai cữ giọng so với đặc điểm chung về độ tuổi và giới tính
- Không có ngôn ngữ (thất ngôn) và mất ngôn ngữ (mất ngôn)
+ Không có ngôn ngữ: nếu một học sinh vì nguyên nhân nào đó dẫn đến
bệnh tật hay chấn thương xảy ra trong thời kỳ tiền ngôn ngữ, dẫn tới sự phá hủy
cơ chế trung ương điều khiển hoạt động ngôn ngữ thì hậu quả sẽ là học sinh đó
Trang 139
không nói được hoặc nghe được nhưng không hiểu được Tức là học sinh đó bị rối loạn ở khả năng biểu đạt lời nói hoặc ở khả năng cảm thụ, tiếp nhận lời nói hoặc cả hai
+ Mất ngôn ngữ: do hậu quả của bệnh tật hoặc chấn thương nào đó khiến
học sinh mất hoàn toàn hay một phần khả năng nói, mặc dù trước đó từng nói được Trong trường hợp này, các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, của ngôn ngữ đều bị phá hủy Nếu học sinh vẫn nghe được và còn có khả năng sử dụng được lời nói nhưng hiểu ít hoặc không hiểu thì gọi là mất khả năng tiếp nhận lời nói Ngược lại, học sinh nghe hiểu nhưng không nói được hoặc nói được rất ít thì gọi
là mất khả năng biểu đạt lời nói
1.1.3 Khái niệm học sinh khuyết tật ngôn ngữ
1.1.3.1 Thảo luận
- Học viên thảo luận trong nhóm nhỏ và trả lời câu hỏi:
+ Thế nào là học sinh khuyết tật ngôn ngữ?
- Giảng viên phân tích và kết luận
1.1.3.2 Thông tin phản hồi
Học sinh khuyết tật ngôn ngữ là học sinh có biểu hiện thiếu hụt hoặc mất ít nhiều những yếu tố ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp (so với ngôn ngữ chuẩn) dẫn đến trong học tập và giao tiếp hàng ngày các em gặp khó khăn cần trợ giúp
Ngôn ngữ chuẩn ở đây được xem xét mở rộng hơn Đó là ngôn ngữ được mọi người trong môi trường ngôn ngữ ấy thừa nhận, kể cả phương ngữ (ngôn ngữ địa phương, tiếng miền nam, miền bắc, miền trung…)
Mọi ngôn ngữ, đều được tạo bởi ba yếu tố: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp nhưng ở học sinh khuyết tật ngôn ngữ lại có thể thiếu vắng hoặc mất một phần hay toàn phần nào đó của những yếu tố này Ví dụ: các em nói “con chào cô ạ” thành “on ào ô ạ”, hoặc các em chỉ nói được từ đơn, câu ngắn hay câu thiếu từ, hoặc có em khi nói cứ nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ mà không sao chuyển
Trang 14mà không do khuyết tật khác sinh ra (thứ phát hay thứ sinh) không kèm theo khuyết tật khác Khuyết tật này phải kéo dài, lâu ngày, ổn định và thành cố tật Trong thực tế, có nhiều học sinh ngoài khuyết tật ngôn ngữ ra còn có them những khuyết tật khác như: tật thị giác, tật thính giác, tật trí tuệ hay tật vận động… Những học sinh này không gọi là học sinh khuyết tật ngôn ngữ mà là học sinh đa tật Hay gọi tên theo tật chính (tật khởi sinh), không gọi tên của tật kèm theo (tật thứ sinh) Trong giáo dục hòa nhập, chúng ta có thể gọi học sinh khuyết tật ngôn ngữ là học sinh có khó khăn về ngôn ngữ
Học sinh khuyết tật ngôn ngữ khi sinh ra vẫn có trí tuệ bình thường, chỉ sau thời gian vận động, phát triển ngôn ngữ, thì chức năng hoạt động của các giác quan mới có thể bị ảnh hưởng xấu đi Khuyết tật ngôn ngữ thường ảnh hưởng đển quá trình phát triển trí tuệ nên thực hiện chiến lược can thiệp sớm, tốt nhất trong giai đoạn trẻ bắt đầu hình thành ngôn ngữ hay tập nói, không những hạn chế khuyết tật ngôn ngữ mà còn hạn chế được sự ảnh hưởng tới chức năng hoạt động của các giác quan Đặc điểm cơ bản của trẻ khuyết tật ngôn ngữ là các giác quan vẫn bình thường, trí lực có phần suy giảm nhưng mọi sinh hoạt tự phục vụ
và phục vụ vẫn bình thường
Trang 1511
1.2 Nhiệm vụ 2: Nhận biết học sinh khuyết tật ngôn ngữ
1.2.1 Hoạt động 1: Cách nhận diện HS khuyết tật ngôn ngữ
1.2.1.1 Thảo luận
- Học viên thảo luận trong nhóm nhỏ và trả lời câu hỏi:
+ Hãy trình bày về cách nhận diện nhận diện HS khuyết tật ngôn ngữ ở trường, lớp của anh/chị
- Giảng viên phân tích và kết luận
1.2.1.2 Thông tin phản hồi
Cách nhận diện HS khuyết tật ngôn ngữ:
Nhà tâm lí giáo dục, bác sĩ, chuyên gia sửa tật/ trị liệu ngôn ngữ, giáo viên đều là các lực lượng có thể nhận biết được các HS có khuyết tật ngôn ngữ Mỗi lực lượng có phương pháp nhận diện khác nhau phục vụ cho các mục đích sửa/ điều trị khác nhau của tật này Mục đích của việc nhận biết HS khuyết tật ngôn ngữ trong trường học nhằm phát hiện những khó khăn cụ thể của học sinh, xác định nhu cầu cần hỗ trợ làm cơ sở cho việc lập hồ sơ kế hoạch giáo dục cá nhân
và xác định những biện pháp hỗ trợ cá biệt, trong và ngoài giờ lên lớp
Có nhiều phương pháp đánh giá khác nhau để nhận biết HS khuyết tật ngôn ngữ, song trong điều kiện Việt Nam hiện nay, có một số cách khá hiệu quả như sau:
1) Quan sát, phân tích hành vi giao tiếp, nói năng của HS trong và ngoài giờ học; 2) Nghiên cứu sản phẩm của HS (vở ghi, bài kiểm tra, bài thi, );
3) Nghiên cứu hồ sơ HS;
4) Đánh giá dựa trên chương trình giáo dục trong nhà trường (đặc biệt dựa trên
- Học viên thảo luận trong nhóm nhỏ và trả lời câu hỏi:
+ Những biểu hiện nào nghi ngờ một HS có khuyết tật ngôn ngữ?
- Giảng viên phân tích và kết luận
Trang 1612
1.2.2.2 Thông tin phản hồi
a Những biểu hiện chung thường gặp ở HS khuyết tật ngôn ngữ bậc tiểu học
Vấn đề về tiếp nhận và biểu đạt NN-GT:
- Thiếu sự tập trung chú ý liên tục, đặc biệt là khi nghe giảng giải, thuyết trình;
- Kĩ năng nghe hạn chế;
- Khó khăn trong thực hiện các lời chỉ dẫn;
- Hạn chế ghi nhớ thông tin bằng lời nói;
- Khó khăn trong việc ghi nhớ các khái niệm;
- Hạn chế trong tiếp nhận vốn từ;
- Khó khăn trong hiểu từ đa nghĩa;
- Khó khăn trong hiểu nghĩa bóng của từ;
- Khó bắt kịp các kiểu nói đùa, nói ẩn dụ, mỉa mai, chơi chữ…
- Khó khăn trong việc duy trì hoặc kết thúc cuộc nói chuyện
- Hạn chế trong việc nhận ra các tín hiệu phi ngôn ngữ
- Khó khăn trong phân loại từ hoặc các khái niệm có liên quan;
- Khó khăn trong hiểu các khái niệm về không gian, thời gian, lượng;
- Nói từ, cụm từ, câu không đầy đủ, chính xác;
- Sử dụng nhiều cử chỉ, điệu bộ để diễn đạt thay cho ngôn ngữ nói;
- Khó khăn trong việc trao đổi, thảo luận về một vấn đề, chủ đề nào đó;
- Khó khăn trong việc kể lại câu chuyện, thuật lại sự kiện theo trình tự hợp lí;
- Vốn từ vựng sử dụng nghèo nàn;
- Hạn chế trong việc tìm từ đồng nghĩa, gần nghĩa để diễn đạt câu;
- Hay chêm xen các âm vô nghĩa như “ừm”, “à”…;
- Ngại nói trước lớp, khó khăn trong giao tiếp với bạn bè cùng trang lứa hoặc với người lớn
Vấn đề học tập:
- Sự tập trung chú ý vào bài học kém;
- Hiếm khi hoàn thành hết bài tập;
- Ngại tham gia thảo luận trong nhóm, trong lớp;
Trang 1713
- Khó khăn trong việc thu thập thông tin bài giảng hoặc thông tin từ sách vở;
- Khó theo các quy tắc chung của lớp học;
- Các bài kiểm tra (đặc biệt là bài kiểm tra môn ngữ văn) thường nhận điểm kém;
- Khó khăn trong việc giải thích vấn đề; nêu lí do hoặc thanh minh;
- Khó khăn trong việc làm việc độc lập;
b Những biểu hiện cụ thể của HS khuyết tật ngôn ngữ bậc tiểu học
Những khó khăn về lời nói thường gặp ở HSTH:
- HS nói ngọng: có thể nhận biết học sinh nói ngọng qua quan sát hành vi giao
tiếp, nói năng; qua quan sát đặc điểm cơ quan phát âm của HS Việc quan sát, phân tích cuối cùng phải xác định được HS phát âm sai bao nhiêu âm vị, là những âm nào trong mỗi thành phần cấu tạo của âm tiết tiếng Việt gồm: 1) phụ
âm đầu; 2) âm đệm; 3) âm chính; 4) âm cuối; 5) và thanh điệu
Lưu ý: HS phát âm theo tiếng địa phương nơi đang sống, dù có khác biệt
với chuẩn chính tả cũng không nên coi là nói ngọng; chỉ khi HS phát âm sai một
số lượng đáng kể các âm vị tiếng Việt mới nên coi là nói ngọng
- HS nói lắp: có thể nhận biết một học sinh nói lắp qua quan sát, trò chuyện và
ghi âm để kiểm tra lại các phát ngôn của em đó, xem xét tật nói lắp ở cấp độ nào (lắp âm, lắp tiếng, lắp từ ngữ hay lắp cả câu…) hay có những quãng cách, chỗ ngắt, nghỉ, giật không bình thường trong chuỗi lời nói, gây nên sự chậm trễ trong diễn đạt của người nói không?
- HS nói khó: hiện tượng nói khó biểu hiện rõ trong hành vi giao tiếp bằng lời
nói, có thể dễ dàng quan sát được HS nói khó có các biểu hiện như phát âm rất
khó khăn, thường nói câu rất ngắn (1-2 từ) và sau một khoảng nghỉ mới nói tiếp
Trang 1814
được; hay có hiện tượng co cứng ở cơ quan phát âm (môi, hàm, lưỡi,…) Nói khó thường gặp ở HS bị bại não, có khó khăn vận động vùng cơ hàm mặt
- HS rối loạn về giọng: có thể nhận biết được qua quan sát, lắng nghe lời nói của
em đó trong so sánh với đặc điểm chung về giọng nói của các HS cùng giới và cùng độ tuổi Đến tuổi trung học, rất nhiều học sinh có hiện tượng vỡ giọng sinh
lý Những rối loạn về giọng thường gặp gồm: giọng nói quá cao (thé), quá trầm (khàn đục), giọng nói quá to (oang oang), giọng quá nhỏ (thều thào)
- HS không nói được: qua quan sát, trò chuyện có thể dễ dàng nhận thấy HS này
có những biểu hiện: 1) Không hiểu hay hiểu rất ít khi nghe người khác nói; và 2) Không biết nói hay nói được rất ít so với HS cùng độ tuổi 3) Khả năng nói chuyện một cách tự nhiên kém; 4) Phát âm sai, vốn từ nghèo nàn, nói sai ngữ pháp; 5) Mất khả năng đọc và/ hoặc khả năng viết
Hs mất khả năng nói: những biểu hiện thường thấy: 1) Không hiểu hoặc hiểu rất
kém lời nói của những người xung quanh, cho dù trước đây vẫn hiểu bình thường; và 2) Không nói được hoặc nói rất kém, cho dù trước đây từng nói
được
Những khó khăn về ngôn ngữ thường gặp ở HSTH
Các khó khăn về ngôn ngữ có thể dựa vào sản phẩm của HS
- Khó khăn về hình thức ngôn ngữ
+ HS khó khăn về ngữ âm – âm vị có thể được nhận diện thông qua việc quan sát các hành vi nói năng và các hoạt động đọc, viết hàng ngày trên lớp Những đặc điểm về sự khó khăn mà trẻ gặp phải sau đây sẽ góp phần cho chúng
ta thấy trẻ gặp khó khăn trong việc nhận thức ngữ âm – âm vị:
+) Khó khăn trong việc đếm âm tiết hoặc nhịp từ;
+) Khó khăn trong việc xác định vần điệu;
+) Khó khăn trong việc xác định các thành phần cơ bản của âm tiết; +) Khó khăn trong việc phân chia từ thành các thành phần nhỏ hơn; +) Khó khăn trong việc phân biệt các âm dễ lẫn;
+) Khó khăn trong việc học tương ứng chữ - âm;
Trang 1915
+) Khó khăn trong kĩ năng giải mã (kĩ năng đọc);
+ Khó khăn về cú pháp/ ngữ pháp: thông qua trò chuyện hoặc quan sát cuộc nói chuyện của HS khó khăn về cú pháp, có thể thấy HS này thường có biểu hiện là tỏ ra khó hiểu khi nghe người khác nói câu dài với cấu trúc phức tạp, câu có nhiều mệnh đề, nhiều thành phần câu mở rộng; hoặc lảng tránh, không muốn duy trì cuộc nói chuyện Khi biểu đạt, các thông tin mà một HS khó khăn về cú pháp đưa ra sẽ có phần rời rạc, thiếu tính liên kết về mặt hình thức của phát ngôn Nghiên cứu sản phẩm của HS có thể nhận thấy cách viết không trau chuốt, thiếu thành phần câu thậm chí là thiếu thành phần chính của câu hoặc không biết mở rộng thành phần câu Có trường hợp HS gặp khó khăn trong việc sắp xếp trật tự các từ trong câu, … Các bài kiểm tra về ngữ pháp theo chương trình học thường nhận điểm kém
- Khó khăn về nội dung ngôn ngữ (khó khăn về khía cạnh từ vựng, ngữ nghĩa):
giáo viên có thể dùng kết hợp các phương pháp nêu trên để nhận diện HS có khó khăn về nội dung ngôn ngữ Biểu hiện của khó khăn này là HS có vốn từ vựng nghèo nàn, hay gặp các lỗi về từ vựng, ngữ nghĩa như: lặp từ, lẫn lộn các từ gần
âm, sử dụng sai nghĩa của từ; khi dùng sai từ khó điều chỉnh từ cho chính xác; thiếu kĩ năng kết hợp từ và không biết sử dụng những cụm từ cố định như thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ… HS này cũng gặp hạn chế trong việc hiểu và sử dụng những câu nói đùa, cách nói bóng bẩy hay mang nghĩa ẩn dụ Các bài kiểm tra
về từ vựng, ngữ nghĩa theo chương trình học thường nhận điểm kém
- Khó khăn về sử dụng ngôn ngữ (trong những ngữ cảnh giao tiếp nhất định):
giáo viên có thể trò chuyện với HS và tạo ra các tình huống giao tiếp giả định để kiểm tra khả năng sử dụng ngôn ngữ hoặc quan sát HS giao tiếp với những người xung quanh Khiếm khuyết về sử dụng ngôn ngữ có thể bao gồm việc hạn chế những ý định giao tiếp, khó khăn với khả năng luân phiên trong hội thoại, không có hoặc khó có khả năng điều chỉnh hay sửa lại thông tin khi người nghe tỏ
ra không hiểu, chưa hiểu và khó khăn trong việc kể lại sự việc ví dụ như trần thuật lại một câu chuyện nào đó
Trang 2016
Những khó khăn về học ngôn ngữ thường gặp ở HSTH
- HS khó khăn về đọc: khả năng đọc của học sinh được đánh giá qua nhiều tiêu
chí như: 1) đọc đúng và đọc trơn tiếng, từ; 2) đọc trôi chảy văn bản; 3) đọc hiểu văn bản; và 4) đọc diễn cảm Về cơ bản, khả năng đọc đúng và đọc trơn tiếng, từ đạt được ở học sinh cuối lớp 1 Khả năng đọc trôi chảy văn bản, thường được đánh giá bằng chỉ số tốc độ đọc (tiếng /phút) đạt ổn định vào cuối bậc tiểu học Yêu cầu đọc hiểu văn bản không ngừng tăng lên cùng với quá trình học tập Học sinh có khó khăn về đọc thường biểu hiện ở việc đọc chậm hoặc không đọc được thành tiếng, mắc nhiều lỗi sai khi đọc, và hạn chế về hiểu văn bản Có thể nhận biết học sinh khó khăn về đọc bằng phương pháp đo tốc độ đọc thành tiếng Một HSTH có các biểu hiện: tốc độ đọc thành tiếng văn bản thấp hơn yêu cầu cần đạt của học sinh lớp 4, tức là thấp hơn khoảng 90 tiếng/ phút, đồng thời mắc nhiều lỗi sai khi đọc và hạn chế về hiểu văn bản, thì cần được quan tâm như
là HS khó khăn về đọc
- HS khó khăn về viết: Học sinh khó khăn về viết về cơ bản không có sự chậm
trễ về trí tuệ nhưng trong việc lĩnh hội và vận dụng năng lực viết (kỹ năng viết tay) có những khó khăn đặc thù biểu hiện ở những dạng khác nhau bao gồm: viết những chữ rất khó đọc, không theo kịp tốc độ viết chung, độ trôi chảy, độ chuẩn xác của chữ kém hơn so với các bạn cùng độ tuổi, đặc biệt là qua kỹ năng chính tả (bao gồm viết từ trí nhớ - nhớ viết, viết từ kênh thị giác – nhìn viết, viết
từ kênh thính giác – nghe viết) Học sinh khó khăn về viết có hiểu biết về thao tác, hành động về kỹ năng viết nhưng chưa đảm bảo được mục đích về chất và lượng của chữ viết
1.3 Nhiệm vụ 3: Đặc điểm của học sinh khuyết tật ngôn ngữ bậc tiểu học
1.3.1 Hoạt động: Tìm hiểu đặc điểm của học sinh khuyết tật ngôn ngữ bậc tiểu học
- Học viên thảo luận trong nhóm nhỏ và trả lời câu hỏi:
+ Học sinh khuyết tật ngôn ngữ có những đặc điểm đặc thù gì khác so với học sinh bình thường?
- Giảng viên phân tích và kết luận
Trang 2117
1.3.2 Thông tin phản hồi
Ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ với các quá trình tâm lý Khuyết tật ngôn ngữ sẽ làm cho các quá trình tâm lý ảnh hưởng, thậm chí bị thay đổi Trước hết
là sự thay đổi trong tri giác ngôn ngữ Khi có khuyết tật ngôn ngữ, học sinh thường gặp khó khăn trong tri giác giá trị ngữ nghĩa Sự sai lệch trong tri giác ngữ âm sẽ dẫn đến những sai lệch trong cách hiểu ngữ nghĩa Hiểu sai ngữ nghĩa
sẽ hình thành những biểu tượng sai lệch trong mối liên hệ giữa âm thanh và ý nghĩa khái niệm Sự sai lệch về ý nghĩa khái niệm trong sự tương ứng với ngôn ngữ sẽ làm sai lệch quá trình tư duy của học sinh Nói cách khác, sự sai lệch trong tri giác âm thanh cũng có nghĩa là sai lệch trong tiếp nhận thông tin, đây là nguyên nhân tạo ra những phản ứng không phù hợp trước những kích thích ngôn
ngữ và gây ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp
Ở tuổi tiểu học, khuyết tật ngôn ngữ càng ngày càng ảnh hưởng nhiều đến tình cảm của học sinh Học sinh cảm thấy buồn, tủi thân và xấu hổ với khiếm khuyết của mình Vì vậy, học sinh trở nên nhút nhát, tự ti, mặc cảm, ngại giao tiếp, không thích tham gia các hoạt động tập thể Khuyết tật ngôn ngữ cũng làm cho sự phát triển tư duy của học sinh bị chậm lại và quá trình nhận thức cũng bị ảnh hưởng làm hạn chế đáng kể đến sự phát triển toàn diện của trẻ
Học sinh khuyết tật ngôn ngữ vẫn có trí lực và thể lực bình thường, mọi hoạt động tự phục vụ và phục vụ vẫn tốt Tuy nhiên, nếu không quan tâm,
hướng dẫn các em trong quá trình học tập thì các em sẽ gặp rất nhiều khó khăn Bởi lẽ, kết quả học tập của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ được hình thành trong quá trình dạy và học Ở trường tiểu học, mối quan hệ thầy – trò ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả học tập của học sinh Người giáo viên dung ngôn ngữ nói và viết để hướng dẫn học sinh tiếp nhận kiến thức, kinh nghiệm học tập Những thông tin cung cấp nếu học sinh tiếp nhận được dễ dàng, sẽ giúp các em phát triển khả năng học tập và tích lũy được nhiều kiến thức Nếu học sinh có khó khăn về ngôn ngữ, sẽ có thể tiếp nhận từ ngữ sai lệch hoặc có thể
Trang 2218 diễn đạt vấn đề bằng ngôn ngữ không trọn vẹn hay ngôn ngữ khiếm khuyết
Điều đó, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của các em
Trang 23- Kĩ năng
+ Lựa chọn nội dung và phương pháp điều chỉnh phù hợp cho HS KTNN + Thực hiện được một số kĩ thuật hỗ trợ HS KTNN trong lớp học hòa nhập + Áp dụng được một số cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
HS KTNN
- Thái độ: Có ý thức tìm kiếm các cách thức hỗ trợ và dạy học phù hợp để
phát triển tối đa các khả năng của cả lớp và HS KTNN trong lớp mình
Nội dung:
2.1 Nhiệm vụ 1: Điều chỉnh trong dạy học hòa nhập học sinh KTNN
2.1.1 Hoạt động 1: Tìm hiểu về mục đích và nội dung điều chỉnh trong dạy học hoà nhập HS KTNN
2.1.1.1 Thảo luận
- Học viên thảo luận trong nhóm nhỏ và trả lời câu hỏi:
+ Vì sao cần điều chỉnh trong dạy học hòa nhập cho HS KTNN?
+ Điều chỉnh trong dạy học hòa nhập cho HS KTNN bao gồm những nội dung gì?
- Giảng viên phân tích và kết luận
2.1.1.2 Thông tin phản hồi
Hòa nhập không chỉ đơn thuần là việc đưa HS KTNN vào trong các môi trường học tập có trẻ bình thường Sự tham gia tích cực của HS KTNN vào các
Trang 24tập tại lớp nếu không được điều chỉnh sẽ trở thành rào cản lớn đối với việc học
tập của HS KTNN và các em sẽ không thể hoà nhập một cách hiệu quả và có ý
nghĩa vào lớp học
Điều chỉnh trong dạy học hòa nhập HS KTNN là sự thay đổi mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức và đánh giá kết quả dạy học phù hợp với nhu cầu, khả năng và hứng thú nhằm phát triển tối đa tiềm năng và năng lực của HS KTNN
Dạy học hòa nhập HS KTNN cần thực hiện các điều chỉnh sau:
- Nội dung các môn học
+ Điều chỉnh nội dung học tập trong các môn học
+ Điều chỉnh về thời lượng cho từng nội dung
+ Điều chỉnh về mức độ yêu cầu của kiến thức (có thể đơn giản hóa hoặc chia nhỏ yêu cầu)
+ Điều chỉnh về mức độ vận dụng kiến thức
+ Giao số lượng và độ khó các bài tập phù hợp
- Phương pháp giảng dạy
Việc ghi nhớ kiến thức của HS KTNN không chỉ thông qua việc giảng giải, hướng dẫn của giáo viên mà còn được thông qua các hoạt động khác như: trò chơi, đóng kịch, các giờ học thực hành, các giờ học ngoài trời… Các hoạt động này giúp HS học mà không đòi hỏi nhiều khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ và diễn đạt bằng lời nói, đây là các hoạt động dạy học phù hợp với nhiều HS KTNN Trong dạy học cho HS KTNN, giáo viên cần thay đổi cách truyền đạt bằng lời nói bằng cách nói ngắn gọn, nhấn mạnh vào ý trọng tâm của câu nói, có kết hợp với cử chỉ, điệu bộ, chữ viết hoặc hành động để giúp HS KTNN dễ hiểu hơn
Trang 2521
Giáo viên cũng cần khuyến khích, động viên HS KTNN học tập bằng nhiều hình thức khác nhau như lời nói, cử chỉ, điệu bộ, hoặc cho phép HS lựa chọn hình thức động viên…
+ Nghỉ giải lao sau mỗi hoạt động
+ Giao các bài tập để HS về nhà chuẩn bị trước
- Môi trường trong lớp học
+ Có chỗ ngồi ưu tiên cho HS KTNN để HS dễ theo dõi bài giảng và giáo viên dễ hỗ trợ các em
+ Làm giảm thiểu các tác động bên ngoài gây mất tập trung như: ánh sáng, tiếng ồn
+ Những vấn đề khác
- Kiểm tra, đánh giá
+ Kiểm tra bằng nhiều hình thức: Kiểm tra nói, viết, xem tranh ảnh
+ Đọc bài kiểm tra cho HS KTNN nếu cần
+ Thay đổi cách đặt câu hỏi kiểm tra, cách diễn đạt yêu cầu trong bài kiểm tra để đảm bảo chắc chắn HS KTNN có thể hiểu được
+ Kiểm tra từng bài ngắn
+ Tăng thêm thời gian làm bài cho HS KTNN nếu có thể
- Tài liệu và học liệu
+ Sử dụng thêm tài liệu bổ trợ hoặc tài liệu cần điều chỉnh để phù hợp với khả năng của HS KTNN
+ Sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho việc ghi chép
Trang 26+ Sử dụng những bài tập ngắn và không quá khó đối với HS KTNN
+ Có thể giao bài tập theo nhóm để HS hỗ trợ lẫn nhau
- Cách trợ giúp
Trong lớp học hòa nhập, giáo viên có thể sử dụng các hình thức trợ giúp khác nhau cho HS KTNN như trợ giúp bằng phương tiện, giáo viên trợ giúp, bạn
bè trợ giúp hoặc cha mẹ trợ giúp
2.1.2 Hoạt động 2: Phương pháp điều chỉnh trong dạy học hoà nhập HS KTNN
2.1.2.1 Thảo luận
- Học viên thảo luận nhóm và trả lời câu hỏi:
+ Có những phương pháp điều chỉnh nào trong dạy học hòa nhập cho HS KTNN?
+ Lấy ví dụ minh họa cho từng phương pháp điều chỉnh
- Giảng viên phân tích và kết luận
2.1.2.2 Thông tin phản hồi