1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

DUYỆT XÉT LẠI CÁC ỨNG DỤNG XÉT NGHIỆM CẦM MÁU - ĐÔNG MÁU, SỬ DỤNG MÁU VÀ CHẾ PHẨM TRONG PHẪU THUẬT LỒNG NGỰC TIM MẠCH

21 404 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 4,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DUYỆT XÉT LẠI CÁC ỨNG DỤNG XÉT NGHIỆM CẦM MÁU - ĐÔNG MÁU, SỬ DỤNG MÁU VÀ CHẾ PHẨM TRONG PHẪU THUẬT LỒNG NGỰC TIM MẠCH NGUYỄN NGỌC MINH* TÓM TẮT Xuất phát từ thực tế các yêu cầu phẫu

Trang 1

DUYỆT XÉT LẠI CÁC ỨNG DỤNG XÉT NGHIỆM CẦM MÁU -

ĐÔNG MÁU, SỬ DỤNG MÁU VÀ CHẾ PHẨM

TRONG PHẪU THUẬT LỒNG NGỰC TIM MẠCH

NGUYỄN NGỌC MINH*

TÓM TẮT

Xuất phát từ thực tế các yêu cầu phẫu thuật về tim mạch ngày càng tăng và việc đầu tư các cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, ngày càng được tăng cường; cùng với việc đào tạo các cán bộ chuyên sâu ngày càng phát triển, đã dẫn tới chất lượng điều trị ngày càng tốt

Đi đôi với sự phát triển lâm sàng ở các trung tâm điều trị lớn, thì việc đầu tư về cận lâm sàng cũng là 1 vấn đề quan trọng Không thể chỉ có phẫu thuật giỏi mà còn cần các labo đông – cầm máu với các hiểu biết đầy đủ để ứng dụng, cùng với các trung tâm truyền màu phải phát triển để cung cấp các sản phẩm máu phù hợp Đó là 1 bộ ba gắn kết, cùng với gây mê hồi sức phối hợp nhịp nhàng, ăn ý, trở thành một “bộ tứ” quyết định kết quả trong phẫu thuật lồng ngực tim mạch Đặc biệt trong các phẫu thuật cầu nối động mạch vành có sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT), đã cho thấy có thể gây ra: hoạt hóa tiêu sợi huyết, rối loạn chức năng tiểu cầu, giảm số lượng tiểu cầu và giảm nồng độ các yếu tố đông – máu

Các rối loạn trên, gần đây đã được giới thiệu các phương tiện xét nghiệm đông máu “tại giường” (near patient) đã làm thuận lợi hơn nhiều việc đánh giá, kể cả máy ghi đàn hồi cục máu (TEG) Hemoscope

Hậu quả các rối loạn trên đây dẫn tới chảy máu biểu hiện sau mổ bằng các mức

độ mất máu khác nhau Từ đó cần thiết phải sử dụng máu và chế phẩm máu để kiểm soát các tình trạng mất máu, trong đó có thuật toán truyền máu dựa trên TEG Từ kinh nghiệm của thế giới với những tiến bộ trong những năm gần đây, chúng tôi muốn thông tin với các bạn lâm sàng và các ban chuyên ngành HHTM tham khảo, chắc chắn sẽ học hỏi tham khảo được nhiều vấn đề bổ ích

Từ khóa: Phẫu thuật tim phổi lồng ngực, tuần hoàn ngoài cơ thể, cầm máu trong THNCT

Trang 2

REVIEW ON APPLICATION OF COAGULATION – HEMOSTASIS TESTINGS, USE OF BLOOD AND BLOOD PRODUCTS

ON VASCULAR THORACIC SURGERY

PROF NGUYEN NGOC MINH

ABSTRACT

Due to need of developing vascular thoracic surgery, increasing investment of facilities and equipment, and strengthening training for specialized staff, quality of treatment is better and better

Along with clinical development in big hospitals, laboratory investment is alsoessential In order to reach a good surgery, requirements are coagulation – hemostasis labs with adequate equipment and staff’s understanding of application and developments of blood transfusion centers with appropriate and sufficient blood and blood products as well as ICU anesthesia The three linked parts are decisive factors

to the outcome of a vascular thoracic surgery case Especially, coronary bypass artery graft under cardiopulmonary bypass can result in: fibrinolysic activation, platelet function disorder, coagulation factor decrease

The above-mentioned disorders, which have been informed under “near patient” coagulation testings, facilitates the assessment of the results of Thrombo Elastography (TEG) Hemoscope They cause post-surgery bleeding at different levels Therefore, there is a need to use blood and blood products to control bleeding of which blood transfusion therapy based on TEG is one With global experience and advances for recent years, we would like to introduce this topic to colleagues specialized in hematology and blood transfusion for reference in service of better diagnosis and treatment

Key word: Cardiothoracicsurgery, Cardiopulmonary by pass (CPB) Hemostatis

in CPB

I Đặt vấn đề:

Điều quan trọng đối với các nhà phẫu thuật là hiểu các cơ chế cầm máu không thể bị hoạt hoá quá mức Cầm máu là sự cân bằng bảo vệ tính vẹn toàn của hệ mạch máu sau tổn thương mô và duy trì thể lỏng của máu Chảy máu quá mức có thể do các nguyên nhân phẫu thuật, sự rối loạn cầm máu hoặc cả hai, thường gặp hơn là sự kết

Trang 3

hợp của cả hai nguyên nhân này trong đó phẫu thuật tim lồng ngực là một ví dụ điển hình nhất (25)

Vì tỷ lệ mới mắc bệnh tim tiếp tục gia tăng, nên nhu cầu về phẫu thuật cầu nối động mạch vành (coronary artery bypass surgery) cũng tăng theo: hàng năm có 400.000 ca phẫu thuật ở Mỹ, hơn 100.000 ca ở Châu Âu và 30.000 ca ở Anh Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của Y khoa nói chung, chuyên ngành phẫu thuật lồng ngực tim mạch nói riêng, nhiều trung tâm tim mạch lớn ở Việt Nam và ngày càng chiếm 1 vị trí quan trọng trong các cơ sở điều trị đầu ngành ở Việt Nam: BV tim mạch TP HCM,

BV Việt Đức, BV Bạch Mai, BV Chỡ Rẫy, Học viện quân ý, BV Quân đội TW108,

BV tim mạch Hà Nội, BV Nhi TW, BV Nhi đồng TP.HCM, BV TW Huế,…Tại trung tâm tim mạch đơn cử như tại trung tâm tim mạch BV TW Huế năm 2010 đã có 800 trường hợp mổ tim, trong đó 230 trường hợp (28,7%) là tứ chứ Fallot, 200 trường hợp (31,2%) thông liên thất - nhĩ trái, phải, 270 trường hợp (33,7%) và các bệnh tim mạch mắc phải: bệnh van tim, bắc cầu nối mạch vành, 50 trường hợp (6,47%) sau đó là các bệnh tim phức tạp,…(1,3,9,10,14,15)

Do tính phức tạp của các cuộc mổ, thời gian mổ kéo dài và sử dụng máy tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT) nên đã xảy ra nhiều thay đổi về tế bào bào máu, đông - cầm máu và tiêu sợi huyết có thể dẫn đến hậu quả chảy máu nặng nề sau mổ Trong

số các nguyên nhân gây chảy máu nặng, ngoài các rối loạn về huyết tương thì các rối loạn về chức năng tiểu cầu được cho là nguyên nhân quan trọng nhất trong thời kỳ đầu hậu phẫu và chiếm 1 tỉ lệ lớn trong tất cả các nguyên nhân chảy máu do hoặc không do phẫu thuật (4,6,7,11,12,25) Chảy máu nặng thường gặp ỏ 5% các trường hợp mổ tim

Tỉ lệ phải mổ lại chiếm 13 ~ 14% trong các trường hợp chảy máu, trong đó nguyên nhân có thể điều chỉnh được bằng mổ lại chiếm khoảng 50 ~ 67% Cùng với các đại phẫu tim về các bệnh tim bẩm sinh và bệnh van tim, hầu hết các thủ thuật này được thực hiện trên tim đập (beating heart) dưới sự hỗ trợ của hệ thống cầu nối tim phổi (cardiopulmonary bypass) hay còn gọi là THNCT

Trong quá trình phẫu thuật tim, người ta thường làm ngừng tim để dễ khâu các mảnh ghép cầu nối trên động mạch vành, thường có đường kính chỉ chừng 1,5 mm Trong suốt thời gian này, chức năng tim phổi được thực hiện bởi máy tim - phổi hay máy THNCT (16)

Tim có thể được làm ngừng với nhiều phương pháp khác nhau Nói chung, một hỗn hợp Kali và Magiê cùng với nhiều hoá chất khác được truyền vào trong động mạch vành Hỗn hợp này có thể được đưa vào dưới dạng máu (được ưa chuộng hơn) hoặc dạng dung dịch dạng muối trong suốt Các dung dịch này được gọi là dung dịch liệt tim (cardioplegia) và được gọi là dung dịch liệt tim dạng máu hoặc dạng tinh thể (cristalloid) Tim cũng có thể được làm ngừng đập bằng điện, và được gọi là ngừng tim

có rung thất (cardiac arrest with ventricular fibrillation)

Trong phẫu thuật ghép cầu nối động mạch vành thường quy (CABG: Coronary Artery Bypass Grafting), các phẫu thuật được tiến hành sau khi ngừng tim bằng dung dịch liệt tim

Màng quanh tim thường được mở dọc để dễ dàng đi vào tim và các mạch máu

Trang 4

lớn Màng quanh tim thường được để hở Một đường rạch thứ hai trên màng quanh tim mặt sau cho phép dẫn lưu ống ngực Ngày càng có nhiều thông tin và kinh nghiệm rút

ra trong việc sử dụng các xét nghiệm cầm máu, đông máu cũng như việc điều chỉnh vấn đề chảy máu bằng dùng thuốc cũng như sử dụng máu và chế phẩm máu đã được giới thiệu Nhằm mục đích thông tin các tiến bộ trong các vấn đề trên chúng tôi tổng hợp và biên soạn tài liệu này (17,19,25)

II Nhắc lại vấn đề khái quát về phẫu thuật tim

1 Phẫu thuật tim không sử dụng THNCT

Hiện nay, CABG có thể được tiến hành với có hoặc không sử dụng THNCT Những thủ thuật xâm nhập tối thiểu này phục hồi dòng máu bình thường đến tim mà không cần làm tim ngừng đập

Người ta nghĩ rằng CABG không sử dụng THNCT (off-pump) có thể có ít nguy

cơ biến chứng hơn về đột quỵ, tổn thương phổi cấp, rối loạn chức năng thận, hậu quả tổn thương nhận thức - thần kinh và tỉ lệ truyền máu Mặc dù nhiều dữ liệu quan sát đã ủng hộ quan điểm này, nhưng các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đã làm thất vọng Thực hiện phẫu thuật trên tim đập khó khăn hơn nhiều so với phẫu thuật trên tim ngừng đập dưới sự hỗ trợ của THNCT Hiện nay có 3 phương pháp được sử dụng:

1.1 Phẫu thuật cầu nối động mạch vành trực tiếp xâm nhập tối thiểu (MIDCAB: Minimally invasive direct coronary artery bypass)

Thủ thuật này dành cho những bệnh nhân bị nghẽn các động mạch nhánh trước tim [ĐM nhánh xuống trái trước (LAD: Left anterior descending artery) và các nhánh của nó] Người ta rạch đường mổ nhỏ trên ngực trái bệnh nhân để bộc lộ tim Phẫu thuật viên (PTV) đóng tạm thời động mạch bên dưới và để tự do đầu dưới động mạch Màng quanh tim được mở và gắn dụng cụ vào tim để làm giảm cử động cơ tim Cuối cùng, PTV nối động mạch dưới vùng nghẽn với động mạch LAD hoặc một trong các nhánh phụ của nó Thủ thuật mất 2-3 giờ

1.2 Phẫu thuật cầu nối động mạch vành off-pump (OPCAB: off-pump coronary artery bypass)

Trong quá trình thủ thuật, ngực được mở và các mẫu ghép được lấy theo thường quy Giống như thủ thuật MIDCAB, một dụng cụ được sử dụng để giới hạn cử động của một phần trái tim để cho PTV có thể phẫu thuật trong khi tim vẫn còn đập PTV

có thể phẫu thuật 4-5 mạch máu khi tim đập trong suốt cuộc mổ Phẫu thuật này cũng chiếm mất 3-4 giờ

1.3 Phẫu thuật cầu nối động mạch vành bằng rô - bốt (RACAB: Robot-assisted

Trang 5

coronary artery bypass)

RACAB là tiến bộ gần đây nhất trong phẫu thuật tim PTV sử dụng rô - bốt để thực hiện cầu nối Xương ức không cần mở Khi công nghệ trở nên tiến bộ hơn, PTV

có thể thực hiện cầu nối mạch vành từ một vị trí xa ví dụ từ phòng khác hoặc ở một vị trí địa lý khác

2 Tuần hoàn ngoài cơ thể

Theo 1 số thống kê vào năm 2002, có 80% các trường hợp phẫu thuật CABG được thực hiện với THNCT và vào năm 2008 còn chiếm > 70%

Trong quá trình chạy THNCT, máu được hút từ nhĩ phải và trả về động mạch chủ, tạo ra một phẫu trường không có máu cho PTV tim lồng ngực Điều này đạt được bằng cách sử dụng liều cao heparin để chống đông cho bệnh nhân (theo dõi bằng cách

sử dụng ACT hoặc đo mức kháng yếu tố Xa), và heparin còn lại được trung hoà bằng protamin vào cuối cuộc mổ

Quá trình THNCT sẽ gây ra:

- hoạt hoá tiêu sợi huyết,

- rối loạn chức năng tiểu cầu,

- thường giảm số lượng tiểu cầu và

- giảm nồng độ các yếu tố đông máu

Việc làm giảm thể tích của vòng THNCT và những cải thiện về các kỹ thuật mổ,

sử dụng máy thu hồi tế bào máu (cell salvage) cùng với sử dụng các thuốc chống tiêu sợi huyêt đã làm giảm đáng kể nhu cầu truyền máu Gần đây, các phương tiện xét nghiệm đông máu “tại giường” (“near patient”) đã làm thuận lợi hơn nhiều cho quy trình này

và kể cả máy ghi đàn hồi đồ cục máu Haemoscope (TEG: Thromboelastograph)

Chảy máu thường biểu hiện sau mổ, sau khi trung hoà heparin bằng protamine

và chảy vào trong dẫn lưu trung thất và màng phổi Hai nguyên nhân chính của chảy máu quanh cuộc mổ là:

- Do phẫu thuật, thất bại về khâu buộc cầm máu tại vị trí phẫu thuật,

- Không do phẫu thuật, do suy các con đường cầm máu và nguyên nhân chính

là do:

 Do chính thủ thuật, trong trường hợp này là THNCT (vòng tuần hoàn và hậu quả của nó trên sự cầm máu);

 Trung hoà heparin không hoàn toàn bằng protamin;

 Các thuốc chống tiểu cầu (Aspirin, Clopidrogel, các chất ức chế receptor IIb/IIIa);

 Rối loạn cầm máu có sẵn (bệnh hemophilia, von Willebrand) hoặc

Trang 6

 Sử dụng thuốc chống đông đường uống không được “chuyển đổi” hoàn toàn

1 Ứng dụng các kĩ thuật cầm máu - đông máu

1.1 Cầm máu trong THNCT

Cầm máu là một quá trình động và hết sức phức tạp, liên quan đến nhiều yếu tố tương tác Những yếu tố này bao gồm các protein đông máu và tiêu sợi huyết, các yếu

tố hoạt hoá, các yếu tố ức chế và các thành phần tế bào (ví dụ khung tế bào tiểu cầu, các hạt bào tương, và các bề mặt tế bào)

Để đo các mức độ mất cân bằng cầm máu, chúng ta cần có khả năng đo sản phẩm thực (net product) của các tương tác đó Một khi dòng thác đông máu được hoạt hoá, thrombin sẽ được sinh ra

- Thrombin sẽ cắt các fibrinogen hoà tan thành các fibrin đơn phân Các fibrin đơn phân này sẽ đa trùng hợp để tạo ra các sợi tiền fibrin và sau đó trãi qua sự duỗi dài, bắt nhánh và liên kết chéo dẫn đến hình thành một chất nền không gian ba chiều của fibrin

- Chất nền này được làm vững chắc bởi mạng lưới tiểu cầu bám vào, vì vậy cho phép đề kháng với lực xé của dòng máu Các thụ thể glycoprotein tiểu cầu (IIb/IIIa) gắn mạng lưới fibrin đa trùng hợp vào khung actin tế bào của tiểu cầu Actin là một protein cơ có khả năng truyền lực co rút, đây là yếu tố góp phần chủ yếu vào sức mạnh của cục máu đông

Để điều trị đầy đủ các tình trạng suy giảm của hệ thống cầm máu, chúng ta

sẽ cần phải đánh giá và nhắm đến sự tương tác của tiểu cầu và fibrin để xác định các nguyên tắc cơ bản của cầm máu chức năng: hoạt hoá, động lực học, sự đóng góp và tính ổn định của cục máu đông (5)

1.2 Các xét nghiệm đông máu thường quy

Cho đến gần đây, các liệu pháp thành phần cầm máu được hướng dẫn bởi các kết quả xét nghiệm labo thường quy Các test này bao gồm thời gian prothrombin (PT), thời gian thromboplastin từng phần hoạt hoá (APTT), đếm tiểu cầu và định lượng fibrinogen có thể không liên quan đến cả chảy máu sau mổ và nhu cầu về các liệu pháp máu và thành phần máu sau mổ tim (4,7,11,12,13,25)

1.3 Nhu cầu về xét nghiệm “tại giường” (NPT: near patient testing)

Trang 7

Rõ ràng nhất đối với thầy thuốc lâm sàng là sự chậm trễ giữa nhận kết quả xét nghiệm khi bệnh nhân đã biểu hiện chảy máu nghiêm trọng.

Avidan đã công bố một so sánh của các kiểm chứng hồi cứu ở đó các quyết định được thực hiện bằng cách sử dụng sự suy xét cẩn thận về lâm sàng (CD: clinical discretion), thuật toán được hướng dẫn bởi labo (LAG: Laboratory – guided algorithm),

và một nhóm sử dụng xét nghiệm “tại giường” (POC: point-of-care) (Bảng 1) (24).

Bảng 1: Các chế phẩm máu sử dụng cho bệnh nhân

Chế phẩm máu LAG (n = 51) POC (n = 51) CD (n = 108) p (test χ2)

Bảng này cho thấy rằng việc sử dụng xét nghiệm “tại giường” hoặc xét nghiệm labo (trong các khung thời gian thích hợp) là tốt hơn không sử dụng xét nghiệm nào cả

Để cải thiện việc điều trị và giảm việc tiếp xúc không hợp lý với các thành phần máu, dường như tính logic là các xét nghiệm “tại giường” có sẵn cho phép chỉ ra những bất thường cầm máu khi bệnh nhân đang chảy máu

Các nỗ lực sớm về xét nghiệm tại giường

Nhiều đề nghị và thử đã được thực hiện để phát triển các xét nghiệm tại giường nhằm đáp ứng các yêu cầu này Những nỗ lực sớm về các dụng cụ như thế bao gồm việc sử dụng các máy tạo ra các đường cong đáp ứng heparin / protamin chuyên biệt (dedicated heparin / protamine response curves) Việc cung cấp một giải pháp riêng biệt đối với một bệnh nhân đặc biệt đã được chứng tỏ có lợi trong việc làm giảm chảy máu và nhu cầu về hồng cầu ở những bệnh nhân trải qua phẫu thuật tim

Nhược điểm có thể có về khái niệm sử dụng máy theo dõi đông máu đơn giản

như một xét nghiệm tại giường được trình bày ở hình 2 (17).

Trang 8

Hình 1: Quá trình đàn hồi đồ cục máu so với quá trình đông máu

1.4 Các xét nghiệm labo chuẩn

- PT và APTT

Các xét nghiệm này sử dụng các yếu tố hoạt hoá để khởi phát các con đường đông máu nội sinh hoặc ngoại sinh Điểm kết thúc của các test này, hoặc được thực hiện với huyết tương chống đông bằng citrat ở phòng xét nghiệm hoặc ở máu toàn phần trong các xét nghiệm “tại giường”, là sự thành lập các sợi fibrin

- ACT

ACT là xét nghiệm trong đó máu toàn phần được cho vào ống có chứa một yếu

tố hoạt hoá, như kaolin, và được thử để đo các liều cao heparin (khi chạy THNCT) Xét nghiệm này không được sử dụng khi có sự đề kháng heparin và chắc chắn sẽ không chính xác nếu bệnh nhân có một yếu tố ức chế ví dụ chất kháng đông lưu hành lupus (lupus anticoagulant)

- Kháng – Xa:

Heparin gắn vào và gia tăng hoạt tính của antithrombin (AT) Huyết tương có

Trang 9

chứa heparin được ủ với AT và một lượng thừa yếu tố Xa Phương pháp này được sử dụng đầu tiên để theo dõi heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH: low - molecular

- weight heparin), heparin này không thể theo dõi bằng xét nghiệm APTT Đây là một test chính xác hơn đối với việc theo dõi heparin chuẩn (unfractionated heparin) và là xét nghiệm ưu tiên chọn lựa nếu có chất kháng đông lupus hoặc đề kháng heparin Những phương tiện xét nghiệm “tại giường” để đo kháng-Xa đã được đưa ra thị trường nhưng hiện nay những dụng cụ này chỉ được sử dụng ở Mỹ Khi theo dõi điều trị LMWH, xét nghiệm nên được thực hiện trong vòng 2-3 giờ sau khi tiêm

LMWH dự phòng LMWH điều trị THNCT (liều cao heparin chuẩn)

Không có xét nghiệm labo chuẩn nào thử đi xa hơn nữa để đánh giá động học, độ mạnh và sự góp phần tương đối (tiểu cầu vào fibrin) của cục đông và nghiên cứu xem thử cục đông có ổn định theo thời gian hay không

- Đếm tiểu cầu

Số lượng và chức năng tiểu cầu bình thường cần cho sự cầm máu bình thường

Số lượng tiểu cầu ở những bệnh nhân trải qua phẫu thuật (patients undergoing surgery) cung cấp ít thông tin cho thầy thuốc lâm sàng Số lượng tiểu cầu bình thường không cho biết chức năng tiểu cầu và vì vậy có giá trị hạn chế trong việc thực hiện quyết định điều trị, nhất là những bệnh nhân đã trãi qua THNCT hoặc có biểu hiện giảm tiểu cầu

1.5 Các xét nghiệm labo không thường quy (Non-standard laboratory tests)

Đo đàn hồi đồ cục máu (Thromboelastography)

Hệ thống cầm máu ghi đàn hồi đồ cục máu Haemoscope (The Haemoscope Thromboelastograph Haemostasis System) có khả năng đo những đặc tính quánh – đàn hồi (viscoelastic properties) của máu để hướng đến sự mất cân bằng cầm máu Máy sử dụng một tiền đề đơn giản (a simple premise) là kết quả cuối cùng của quá trình cầm máu tạo ra một sản phẩm đơn giản (đó là cục máu đông) và những đặc tính vật lý của cục đông (động học, cường độ và tính ổn định) sẽ xác định có phải bệnh nhân sẽ có một tình trạng cầm máu bình thường, xuất huyết hoặc sinh huyết khối hay không

Quan niệm phân tích cầm máu sử dụng máy ghi đàn hồi đồ cục máu Haemoscope được mô tả đầu tiên ở Đức bởi Giáo sư Hartert vào thập niên 1940 Vào thời điểm đó, máy này có hai thành phần: bộ phận ghi sự hình thành cục đông và một bộ phận điện

kế gương (mirror-galvanometer) ghi trên giấy nhạy cảm ánh sáng Kết quả ghi hoạt tính lâu dài (permanent) được sang trên giấy ảnh này và có thể sử dụng trong nhiều giờ hoặc nhiều ngày sau đó

Phương pháp này có phần hơi chậm, nếu cải tiến nhiều, sẽ không mất một khoảng thời gian để cung cấp các dữ liệu cho thầy thuốc lâm sàng quyết định lựa chọn điều trị Một phần mềm mới, có thể nối mạng, cho phép kết quả được xem bất kỳ nơi nào trong bệnh viện trong một khoảng thời gian thật và các dữ liệu sẽ hữu ích cho thầy thuốc tham khảo trong vòng 10-15 phút Một chương trình bảo đảm chất lượng nghiêm

Trang 10

ngặt bảo vệ giá trị của các kết quả này Tuy nhiên, mặc dù có những tiến bộ này, nhưng nguyên tắc cung cấp một dấu hiệu nhận diện nhiều biến đổi liên quan đến các rối loạn chức năng trong hệ thống cầm máu vẫn còn là một vấn đề lớn đối với việc phân tích phép ghi đàn hồi đồ cục máu

1.6 Phân tích đông máu: các định nghĩa của các tham số đông máu sử dụng phép ghi đàn hồi đồ cục máu (19):

R = Thời gian thật (Real time)

- Thời gian từ khi đặt mẫu vào ô xét nghiệm (cup) cho đến khi sự khếch đại ghi lại đạt đến 2 mm

- Thời gian này đại diện cho tỷ lệ tạo fibrin ban đầu và có liên quan về mặt chức năng đối với các yếu tố đông máu huyết tương và hoạt tính yếu tố ức chế lưu hành (đó

là PT và APTT)

- Sự kéo dài giá trị R có thể là hậu quả của thiếu các yếu tố đông máu, sử dụng chống đông (heparin), hoặc giảm nặng fibrinogen máu

- Giá trị R rút ngắn có thể đại diện cho các hội chứng tăng đông

K = thời gian tạo cục đông

- Được đo từ thời gian R đến điểm có sự khuếch đường vẽ đạt đến 20 mm

- Thời gian đông máu đại diện cho khoảng thời gian hình thành cục đông do sự tạo fibrin và liên kết chéo

- Thời gian này bị ảnh hưởng bởi hoạt tính của các yếu tố đông máu, fibrinogen

Biên độ tối đa / G (MA/G: Maximum Amplitude/ G)

- Đây là biên độ lớn nhất của đường vẽ TEG và là sự phản ánh độ mạnh tuyệt đối của cục đông Nó là chức năng trực tiếp của các đặc tính động tối đa của sự tương tác giữa fibrin và các tiểu cầu qua GP IIb/IIIa, và có tương quan với xét nghiệm ngưng tập tiểu cầu

- Những bất thường tiểu cầu, dù chất lượng hoặc nếu giảm số lượng đủ nặng, sẽ làm rối loạn thật sự biên độ tối đa (MA) Có mối liên hệ phức tạp giữa MA của biểu đồ TEG và số lượng tiểu cầu Mối liên hệ có ý nghĩa giữa MA và đáp ứng ngưng tập tiểu cầu với collagen và ADP cũng đã được báo cáo

Ngày đăng: 11/10/2016, 23:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các chế phẩm máu sử dụng cho bệnh nhân - DUYỆT XÉT LẠI CÁC ỨNG DỤNG XÉT NGHIỆM CẦM MÁU - ĐÔNG MÁU, SỬ DỤNG MÁU VÀ CHẾ PHẨM TRONG PHẪU THUẬT LỒNG NGỰC TIM MẠCH
Bảng 1 Các chế phẩm máu sử dụng cho bệnh nhân (Trang 7)
Hình 1: Quá trình đàn hồi đồ cục máu so với quá trình đông máu - DUYỆT XÉT LẠI CÁC ỨNG DỤNG XÉT NGHIỆM CẦM MÁU - ĐÔNG MÁU, SỬ DỤNG MÁU VÀ CHẾ PHẨM TRONG PHẪU THUẬT LỒNG NGỰC TIM MẠCH
Hình 1 Quá trình đàn hồi đồ cục máu so với quá trình đông máu (Trang 8)
Bảng 2: Các kết quả nghiên cứu so sánh các đặc tính tiết kiệm máu (blood –  saving) của các thuốc chống tiêu sợi huyết - DUYỆT XÉT LẠI CÁC ỨNG DỤNG XÉT NGHIỆM CẦM MÁU - ĐÔNG MÁU, SỬ DỤNG MÁU VÀ CHẾ PHẨM TRONG PHẪU THUẬT LỒNG NGỰC TIM MẠCH
Bảng 2 Các kết quả nghiên cứu so sánh các đặc tính tiết kiệm máu (blood – saving) của các thuốc chống tiêu sợi huyết (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w