Ngày nay, do áp dụng nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh ổ bụng tiên tiến trong bệnh cảnh lâm sàng tắc ruột, đồng thời kết hợp với phương pháp điều trị bảo tồn giảm áp bằng ống thông mũ
Trang 1Tắc ruột non: Những dấu hiệu chẩn đoán hình ảnh quan trọng
Small Bowel Obstruction: What to Look For
Ana Catarina Silva, MD • Madalena Pimenta, MD • Luís S Guimarães, MD
RadioGraphics 2009; 29:423–439
bsxqtuan.wordpress.com Tắc ruột non: Những dấu hiệu chẩn đoán hình ảnh quan trọng
Giới thiệu
Tắc ruột non (small bowel obstruction, SBO) là một tình trạng lâm sàng phổ biến do tắc cơ học hoặc chức năng của ruột non, nó cản trở lưu thông các thành phần trong lòng ruột Tắc ruột non là nguyên nhân của một trong các lý do thường gặp để tư vấn phẫu thuật và nhập viện, chiếm 20% các trường hợp phẫu thuật do đau bụng cấp tính [1,2]
Chẩn đoán hình ảnh các bệnh nhân tắc ruột non, các chỉ định và thời điểm can thiệp phẫu thuật đã thay đổi trong hai thập kỷ vừa qua [3] Hệ hình cũ (paradigm) yêu cầu phẫu thuật viên tổng quát khi đối mặt với các trường hợp nghi tắc ruột là phải can thiệp sớm (“never let the sun set or rise on an obstructed bowel”) Phương pháp này phản ánh các hạn chế lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh trong chẩn đoán trước mổ tình trạng nghẹt ruột [4]
Ngày nay, do áp dụng nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh ổ bụng tiên tiến trong bệnh cảnh lâm sàng tắc ruột, đồng thời kết hợp với phương pháp điều trị bảo tồn giảm áp bằng ống thông mũi – ruột [5] rộng khắp khiến chẩn đoán hình ảnh trở thành trung tâm trong điều trị các bệnh nhân tắc ruột Do đó, chẩn đoán hình ảnh đã giải đáp cho phẫu thuật viên những vấn đề quan trọng sau trong bệnh cảnh tắc ruột: có tắc ruột không? Mức độ tắc, vị trí tắc, và nguyên nhân tắc là gì? Có nghẹt ruột không?
Chụp X quang bụng thường qui vẫn là phương tiện chẩn đoán hình ảnh được sử dụng đầu tiên cho các bệnh nhân tắc ruột do có sẵn khắp nơi và giá thành tương đối thấp Tuy nhiên, các phim X quang chỉ cho phép chẩn đoán được 50% – 60% các trường
Trang 2hợp và độ nhạy cao với tắc ruột mức độ nhiều Dù vậy, các kết quả của phương pháp này nên dùng làm cơ sở phân loại để đánh giá thêm bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác và trợ giúp quyết định điều trị [7-9]
Siêu âm không được áp dụng rộng rãi trong đánh giá tắc ruột chủ yếu do các quai ruột đầy hơi khiến siêu âm không chẩn đoán được, và do dính là nguyên nhân phổ biến nhất trong tắc ruột cũng không phát hiện được bằng kỹ thuật này [10] Tuy nhiên, khi đoạn ruột tắc giãn ra và chứa đầy dịch thì không chỉ mức tắc mà nguyên nhân gây tắc cũng có thể được bộc lộ bằng cách dùng quai ruột giãn chứa đầy dịch làm cửa sổ âm [3,10]
Các phương pháp làm tăng cản quang, đặc biệt là các phương pháp dùng thể tích thuốc cản quang đánh giá thành ruột như thụt thuốc cản quang ruột non (enteroclysis), đã có thời được ủng hộ như là phương pháp cuối cùng ở các bệnh nhân tắc ruột có biểu hiện lâm sàng không rõ ràng Phương pháp này xác định chính xác có tắc trong 100% các trường hợp, vị trí (đoạn gần hay xa) trong 89% các trường hợp và nguyên nhân tắc trong 86% các bệnh nhân được phẫu thuật [11] Hiện nay, thụt thuốc cản quang ruột non chụp X quang (enteroclysis) và thụt ruột non chụp CT (CT enteroclysis) được sử dụng chủ yếu ở các bệnh nhân nghi ngờ lâm sàng tắc ruột mức
độ ít do các kỹ thuật này đánh giá được mức căng của thành ruột và làm tăng các tác động (để kích thích cho rõ) những trường hợp tắc ruột mức độ nhẹ hoặc hạ lâm sàng [12,13] Tuy nhiên, thụt ruột chụp CT (CT enteroclysis) cũng có thể dùng trong các trường hợp tắc ruột mức độ nhiều bất cứ khi nào chụp CT thường qui không cung cấp
đủ thông tin để quản lý bệnh nhân
Từ hai thập kỷ nay, CT thường qui là phương tiện chẩn đoán hình ảnh có nhiều ưu thế trong đánh giá trước mổ tắc ruột, với độ nhạy 90%-96%, độ đặc hiệu 96%, và độ chính xác 95% Tuy nhiên, những kết quả đó chỉ đạt được với phần lớn những trường hợp tắc ruột mức độ nhiều, với tắc ruột mức độ ít thì CT vẫn còn những điểm mù (“blind spot”) Các máy CT đa dãy đầu dò có khả năng tái tạo nhiều mặt phẳng thì hiệu quả hơn hẳn trong đánh giá tắc ruột và tương quan giữa tắc và tổn hại mô bệnh học Do CT có khả năng phát hiện sớm nghẹt ruột nên hiện nay nó được xem là
Trang 3phương tiện tốt nhất để xác định bệnh nhân nào có lợi nếu điều trị bảo tồn và theo dõi sát, bệnh nhân nào có lợi nếu điều trị phẫu thuật ngay lập tức [14-19]
Bài này đề ra cách tiếp cận theo sơ đồ, các bước chẩn đoán hình ảnh theo dõi và đánh giá các bệnh nhân tắc ruột dựa trên đánh giá y văn và phương pháp tiếp cận hiện hành Các tác giả cũng miêu tả, minh họa những dấu hiệu chẩn đoán hình ảnh quan trọng của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác nhau được sử dụng để chẩn đoán tắc ruột; miêu tả mức độ nặng của tắc ruột, vị trí, nguyên nhân, và tình trạng đơn giản hay biến chứng của tắc ruột
Chẩn đoán hình ảnh: giải quyết từng bước
Khó khăn của các phẫu thuật viên và bác sỹ X quang khi đối mặt với bệnh nhân nghi ngờ tắc ruột là quyết định sử dụng kỹ thuật hình ảnh nào đầu tiên (dựa trên triệu chứng và dấu hiệu của bệnh nhân) để xác định tắc ruột và giúp quyết định phương pháp điều trị tốt nhất Cách tiếp cận từng bước theo sơ đồ được trình bày trong Hình
1
Trang 4Hình 1 Sơ đồ tiếp cận từng
bước bệnh nhân nghi ngờ tắc ruột
Chụp X quang bụng thường qui được ưu tiên chọn là phương tiện chẩn đoán hình ảnh đầu tiên [7] Các kết quả của kỹ thuật này là chẩn đoán được 50%-60% các trường hợp; không rõ ràng trong 20-30%; bình thường, không cụ thể, hoặc sai lạc trong 10%-20% [6] Nếu những dấu hiệu trên phim X quang bụng là dấu hiệu của tắc ruột
rõ ràng và lâm sàng tắc ruột mức độ nhiều hoặc tắc hoàn toàn thì nên đánh giá để phẫu thuật ngay [3,6,7] Tuy nhiên, nếu chưa lập kế hoạch phẫu thuật ngay lập tức hoặc đang cân nhắc lựa chọn các phương pháp điều trị khác thì nên ưu tiên đánh giá
độ nặng và nguyên nhân bằng các phương pháp tạo ảnh cắt lớp (CT hoặc MRI) CT
và CT đa dãy đầu dò là những phương tiện được ưu tiên lựa chọn, bởi vì chúng có độ nhạy 82%-100% đối với tắc ruột mức độ nhiều và tắc ruột hoàn toàn, do đó kết quả của chúng có thể làm thay đổi phương pháp điều trị từ phẫu thuật sang bảo tồn Trong trường hợp CT không có sẵn thì siêu âm đôi khi có thể là phương tiện thay thế hữu ích [3,10]
Trái lại, nếu các phát hiện X quang ban đầu là bình thường, không rõ ràng, hoặc gợi ý tắc ruột bán phần mức độ ít, thì một khảo sát đánh giá sức giãn căng của ruột bằng cách uống baryt chụp X quang lưu thông ruột (small bowel follow-through study),
Trang 5thụt baryt ruột chụp X quang (enteroclysis) hoặc chụp CT (CT enteroclysis) sẽ được tiến hành để kích thích các tác dụng của tắc ruột mức độ nhẹ [7,12-14,19] Tuy nhiên, chúng tôi nhấn mạnh rằng tắc ruột là một tiến triển động và thay đổi theo thời gian
Nó có thể tiến triển nhanh chóng thành tình trạng thảm kịch do thiếu máu cục bộ hoặc
tự thông và xẹp đi Do vậy, trong những trường hợp mà điều trị phẫu thuật không có ngay thì cần duy trì sự liên hệ chặt chẽ giữa phẫu thuật viên và bác sỹ X quang để đảm bảo theo dõi lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh thích hợp [20]
Các dấu hiệu trên phim X quang bụng
Mặc dù độ chính xác chẩn đoán và độ đặc hiệu của phim X quang bụng là thấp, nhưng phát hiện hình ảnh tắc ruột rõ trong bệnh cảnh lâm sàng phù hợp rất có giá trị
và góp phần rất lớn để chẩn đoán ban đầu và quyết định điều trị
Những dấu hiệu X quang quan trọng cho phép phân biệt giữa tắc ruột mức độ nhiều
và mức độ ít là quai ruột non giãn với các quai ruột giãn nhất có đường kính trung bình 36mm và vuợt quá 50% đường kính của các quai đại tràng lớn nhất, số lượng các quai giãn nhiều hơn các quai không giãn 2,5 lần Các dấu hiệu khác có ý nghĩa nhất và giá trị dự báo tắc ruột mức độ nhiều theo các nhà X quang tiêu hóa có kinh nghiệm [7] là có nhiều hơn hai mức khí-dịch, các mức khí-dịch có chân rộng hơn 2,5
cm và các mức khí – dịch trong cùng một quai có chân cách nhau hơn 2 cm theo chiều cao (Hình 2) [7,9]
Trang 6Hình 2 Tắc ruột mức độ nhiều Phim X quang bụng thường qui cho thấy nhiều mức
khí-dịch (các mũi tên), một số mức khí-dịch có chân rộng hơn 2,5 cm Hơn nữa, có quai ruột có chân các mức khí-dịch với chiều cao chênh nhau hơn 2 cm (vùng khoanh tròn) Cũng có quai ruột non bị giãn với đường kính hơn 2,5 cm và tỉ lệ đường kính quai ruột non/đại tràng lớn hơn 0,5
Các dấu hiệu trên siêu âm
Ở Mỹ, siêu âm không phải là lựa chọn đầu tiên được áp dụng rộng rãi để đánh giá ban đầu đối với tắc ruột Tuy nhiên, siêu âm được dùng thường xuyên ở nhiều nước
mà máy chụp CT không phổ biến và kinh nghiệm làm siêu âm cao Mặc dù là kỹ thuật phụ thuộc người làm và có những hạn chế khi đánh giá các cấu trúc chứa khí nhưng siêu âm bụng rất có giá trị trong một số tình huống, với độ nhạy cao trong chẩn đoán có tắc ruột, vị trí tắc, thậm chí nguyên nhân và mức độ tắc ruột
Trang 7Trên siêu âm, chẩn đoán tắc ruột khi lòng ruột non giãn chứa đầy dịch có đường kính hơn 3 cm, chiều dài đoạn ruột giãn trên 10 cm, tăng nhu động của đoạn ruột giãn biểu hiện bằng chuyến động tiến-lui hoặc cuộn xoáy các thành phần trong lòng ruột [10,21,22] Mức tắc được xác định bằng sự định khu các quai ruột và hình dạng nếp ruột
Giống với các kỹ thuật tạo ảnh cắt lớp, nguyên nhân tắt ruột có thể xác định bằng cách khảo sát kỹ lưỡng vùng chuyển tiếp từ đoạn ruột giãn sang đoạn ruột có khẩu kính bình thường Các nguyên của tắc ruột như dị vật, lồng ruột, bệnh Crohn và các khối u có thể được phát hiện bằng siêu âm (Hình 3) Tắc ruột do thoát vị ngoài là bệnh trạng được phát hiện bằng siêu âm rất tốt bằng cách lần theo quai ruột bị giãn tới phần ruột có khẩu kính bình thường nhưng nằm ở vị trí bất thường [22]
Siêu âm có thể đánh giá mức độ trầm trọng của tắc ruột Khi xuất hiện dịch giữa các quai ruột giãn, không có nhu động, thành dày (> 3mm) ở đoạn ruột non giãn chứa đầy dịch gợi ý nhồi máu ruột [10,22]
Hình 3 Tắc hồi tràng do bệnh Crohn Siêu âm thấy quai ruột giãn đường kính trên
3cm chứa đầy dịch (đường kẻ chấm) Không có hình hội tụ các van cho phép định vị đoạn tắc là hồi tràng Thành ruột dày và có hình lớp tăng âm (mũi tên) và dịch ổ bụng (A)
Trang 8
Các dấu hiệu trên CT đa dãy đầu dò
CT đa dãy đầu dò có vai trò quan trọng nhất trong đánh giá bệnh nhân tắc ruột non cấp Trước hết, nó là một phương pháp khảo sát nhanh, thường không cần cản quang đường uống do dịch trong lòng ruột có vai trò là chất cản quang âm tự nhiên, cho phép đánh giá các vùng ngoài ruột không thể nhìn thấy trong các phương pháp chụp cản quang đường ruột Cuối cùng, các kết quả của CT đa dãy đầu dò có thể trả lời cho những vấn đề cụ thể có ảnh hưởng đến điều trị bệnh nhân Những câu hỏi đó gồm có [13,14,18]: Có tắc ruột non không? Mức độ tắc ruột như thế nào? Vị trí của điểm chuyển tiếp ở đâu? Nguyên nhân của tắc ruột là gì? Có những biến chứng nào?
1 Có tắc ruột không?
Tiêu chuẩn tắc ruột của CT là có các quai ruột non bị giãn (đường kính > 2,5 cm, đo
từ thành ngoài tới thành ngoài đối diện) ở đoạn gần, các quai ruột đoạn xa (dưới chỗ tắc) có đường kính bình thường hoặc xẹp (Hình 4) (16)
Khi các dấu hiệu CT không rõ để chẩn đoán có tắc ruột hay không sau khi bệnh nhân uống thuốc cản quang, người ta thường chụp CT muộn để đánh giá sự lưu thông của thuốc cản quang [23] Mặc dù không có bằng chứng y văn rằng kỹ thuật này (chụp
CT muộn) có thể dùng để phân biệt tắc hoàn toàn với bán tắc, nhưng người ta có thể
áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán của các phương pháp bơm cản quang đường ruột như thụt baryt (enteroclysis) và uống thuốc cản quang (small bowel follow-through study) có thể áp dụng cho CT
Do đó, chẩn đoán là tắc ruột hoàn toàn khi không thấy thuốc cản quang vượt qua điểm tắc sau chụp CT lại từ 3 – 24 giờ (Hình 5)
Tắc ruột mức độ ít là khi dòng chảy chất cản quang vượt qua điểm tắc (Hình 6) Tắc ruột mức độ nhiều gây nên tình trạng ứ đọng thuốc cản quang trên điểm tắc, do đó thuốc cản quang bị dịch ruột tiết ra pha loãng nên xuất hiện ít ở các quai ruột xẹp sau đoạn tắc và tỷ trọng thuốc cản quang cũng loãng Như đã nói ở trên, những tiêu chuẩn
Trang 9đánh giá mức độ tắc hoàn toàn và bán tắc giống với các phương pháp chụp X quang bơm thuốc cản quang đường ruột [24]
Hình 4 Các tiêu chuẩn chẩn đoán CT tắc ruột Ảnh CT cắt ngang cho thấy sự chênh
lệch khẩu kính giữa các quai ruột đoạn gần bị giãn (đường kính > 3 cm) (đường kẻ chấm) và các quai ruột đoạn xa bị xẹp (mũi tên)
Hình 5 Tắc ruột hoàn toàn, đơn giản, do lồng ruột Ảnh CT cắt ngang cho thấy các
quai ruột non bị giãn có chất cản quang dương trong lòng ruột (mũi tên) gần tới đoạn
Trang 10lồng ruột có hình bia bắn (*) Các quai ruột bị xẹp hoàn toàn không có chất cản quang trong lòng (đầu mũi tên) nằm ở dưới đoạn lồng
Hình 6 Tắc ruột mức độ nhiều Ảnh CT cắt ngang cho thấy các quai hỗng tràng (mũi
tên) gần với đoạn lồng (*) chứa đầy dịch cản quang đường uống Chất cản quang chảy qua chỗ lồng để lấp đầy các quai ruột đoạn xa (mũi tên)
2 Mức độ tắc ruột như thế nào?
Tắc ruột mức độ nhiều so với tắc không hoàn toàn có thể được xác định bằng mức độ xẹp ruột đoạn xa, giãn ruột đoạn gần, và xuất hiện dấu hiệu “phân trong ruột non” khi không dùng cản quang đường uống, mặc dù dấu hiệu cuối cùng vẫn có ý kiến trái ngược
Trong tắc ruột mức độ nhiều, đường kính của quai ruột giãn đoạn gần lớn hơn đường kính quai ruột xẹp ở đoạn xa 50% [25] Ngoài ra, chênh lệch khẩu kính giữa đoạn gần
và đoạn xa càng nổi rõ [26] sau tắc một vài ngày do các thành phần trong lòng ruột ở đoạn xa được tống ra ngoài
Trang 11Dấu hiệu phân trong ruột non xuất hiện ở trong quai ruột bị giãn (Hình 7) Nó ít xuất hiện trong tắc ruột (chỉ 7%-8% các trường hợp), và nó được một số tác giả cho là có
xu hướng xuất hiện nhiều hơn ở những trường hợp tắc mức độ nhiều và trung bình [27] Tuy nhiên, có quan điểm trái ngược bởi vì một số tác giả khác đã phát hiện dấu hiệu này liên quan nhiều với tắc ruột bán cấp mức độ ít Vì lý do này, dấu hiệu phân trong ruột non không thể là một dấu hiệu tin cậy để đánh giá mức độ tắc ruột, mà chỉ
để nhận ra vị trí chuyển tiếp [28]
Tắc ruột không hoàn toàn là khi dùng thuốc cản quang dương qua đường miệng, chất cản quang vượt qua điểm chuyển tiếp vào các quai ruột xẹp
Hình 7 Dấu hiệu phân ruột non ở một bệnh nhân tắc ruột mức độ nhiều do dính sau
phẫu thuật Ảnh CT cắt ngang cho thấy các bóng khí trộn lẫn với chất bã (*) Lưu ý các quai ruột bị xẹp (mũi tên) ở đầu xa (dưới) điểm tắc
3 Điểm chuyển tiếp ở đâu?
Điểm chuyển tiếp (transition point) được xác định bằng cách nhận ra vị trí thay đổi khẩu kính giữa quai ruột đoạn gần bị giãn và quai ruột đoạn xa bị xẹp (Hình 8) Có thể sử dụng một vài phương pháp để cải thiện việc phát hiện vị trí chuyển tiếp Một trong những phương pháp đó liên quan đến thu nhận dữ liệu hình ảnh Bằng cách yêu cầu dữ liệu CT lớp mỏng với các yếu tố thể tích gần như đẳng hướng (near-isotropic
Trang 12voxels), hiện nay sẵn có ở các máy CT đa dãy đầu dò, đa mặt phẳng và có khả năng tái tạo ba chiều có thể được khai thác để tìm điểm chuyển tiếp
Một kỹ thuật khác dựa vào phương pháp đo các kết quả chụp CT Mặc dù chế độ chiếu phim (cine mode) hoặc lưu trữ ảnh (ở màn hình làm việc – workstation) và hệ thống truyền thông cho phép lần theo đường đi của ruột non dễ hơn các hình tĩnh in
ra phim, áp dụng phương pháp giản đồ để nhận ra điểm chuyển tiếp nhanh chóng và hiệu quả Phương pháp này nên bắt đầu bằng cách xem ngược từ trực tràng, tiến về đoạn gần qua manh tràng, hồi tràng và hỗng tràng Nếu điểm chuyển tiếp nằm ở đoạn gần (hỗng tràng hoặc tá tràng, vị trí nên được xác định theo chiều xuôi xuống bắt đầu
từ dạ dày [23] Cuối cùng, luôn tìm dấu hiệu phân trong ruột non bởi vì nó nằm ở vị trí chuyển tiếp
Hình 8 Xác định điểm chuyển tiếp trong tắc ruột non do dính sau mổ Ảnh CT cắt
ngang bộc lộ các quai ruột non giãn (S) Có sự thay đổi hẩu kính đột ngột (mũi tên) giữa các quai trên tắc bị giãn và các quai dưới chỗ tắc bị xẹp (C) Thay đổi khẩu kính trong trường hợp này là do dính
4 Nguyên nhân gây tắc ruột là gì?
Trang 13Trước khi tìm nguyên nhân của tắc ruột non thì điều chủ chốt là phải loại trừ dứt khoát tắc đại tràng bởi vì nguyên nhân, triệu chứng và điều trị của nó khác với tắc ruột non Sau đó, sử dụng cách tiếp cận hệ thống dựa vào tiền sử phẫu thuật và bệnh
sử, dữ liệu dịch tễ để trợ giúp xác định nguyên nhân gây tắc (Hình 9)
GIST = gastrointernal stromal tumor
Một quy tắc theo kinh nghiệm (rule of thumb) không bao giờ được quên là câu giải đáp (nguyên nhân) hầu như luôn nằm ở điểm chuyển tiếp Phần lớn các tổn thương tại thành ruột được thấy ở điểm chuyển tiếp và biểu hiện dưới dạng dày khu trú thành ruột Phần lớn các nguyên nhân bên ngoài được phát hiện ra ở gần điểm chuyển tiếp
và thường có các biểu hiện ngoài ruột Phần lớn các nguyên nhân trong lòng ruột biểu hiện dưới dạng các “dị vật” trong lòng ruột với những đặc điểm hình ảnh khác với thành phần chứa trong lòng ruột
Nguyên nhân gây tắc ruột đã thay đổi trong 5 thập kỷ qua từ thoát vị chiếm đa số đến dính ruột, bệnh Crohn, và bệnh ác tính là 3 nguyên nhân hàng đầu gây tắc ruột ở phương Tây Thoát vị hiện vẫn là nguyên nhân nổi trội ở một số nước đang phát triển Qua y văn người ta thấy bệnh Crohn là nguyên nhân dẫn đầu cần phẫu thuật [29]
Trang 14
4.1 Nguyên nhân tắc tại thành ruột
Bệnh Crohn.-Tắc ruột trong bệnh Crohn có thể biểu hiện theo ba tình huống lâm
sàng Nó có thể xảy ra do biểu hiện cấp tính của bệnh Trường hợp này đặc trưng bằng hẹp lòng ruột do tiến triển viêm cấp tính xuyên thành ruột (Hình 10) Nó có thể
là biểu hiện của bệnh kéo dài, tình trạng này thường dẫn tới hẹp do sẹo ở các đoạn viêm (Hình 11) Cuối cùng, tắc ruột có thể do dính, thoát vị sẹo mổ (incisional hernia), hoặc tình trạng viêm tăng lên, hoặc hẹp sau phẫu thuật ở những bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật ruột [18, 30-33]
Phân biệt giữa các tình trạng bệnh nêu trên là cần thiết để có phương pháp điều trị thích hợp
Hình 10 Tắc ruột non do đợt cấp tính của bệnh Crohn Ảnh CT cho thấy quai ruột
giãn có đường kính trên 2,5 cm (S) gần với đoạn cuối hồi tràng có thành dày (mũi tên) Vòng tròn = điểm chuyển tiếp
Trang 15Hình 11a Tắc ruột non do giai đoạn hẹp trong bệnh Crohn (a) Ảnh CT cho thấy các
quai ruột non giãn chứa đầy dịch cản quang trong lòng với mức độ pha loãng khác nhau (*) Ở đoạn cuối hồi tràng có điểm chuyển tiếp với thành ruột dày và các lớp trong thành (đầu mũi tên), cũng thấy tăng phân bố mạch ở quanh các quai ruột
Hình 11 (b) Ảnh chụp mảnh đại thể cho thấy lòng của đoạn ruột bị bệnh hẹp lại (đầu
mũi tên) và quai ruột trên chỗ tắc bị giãn (*); quai ruột bị hẹp này tương ứng với một trong các quai ruột trong ảnh CT (đánh dấu * ở hình a)
Trang 16
Khối U.- Các nguyên nhân u nguyên phát gây tắc ruột non thì ít gặp Các khối u
thành ruột non chiếm dưới 2% các khối u ác tính dạ dày-ruột Khi một khối ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma) ruột non gây tắc ruột thì nó thường ở giai đoạn tiến triển (muộn) và xuất hiện dưới dạng dày thành không đều, khu trú, nổi rõ ở vị trí chuyển tiếp (Hình 12) [13,30] U di căn đến ruột non phổ biến hơn u nguyên phát ở ruột non U thường ở dạng di căn phúc mạc (peritoneal carcinomatosis), gợi ý bằng bệnh ngoài thanh mạc liên quan đến thành ruột ở vị trí chuyển tiếp Tuy nhiên, tắc ruột do di căn riêng biệt tới ruột dường như là một sự kiện cực kỳ hiếm và đặt ra một thách thức chẩn đoán lớn cho bác sỹ chuyên khoa [34] Các bệnh ác tính xảy ra ở manh tràng và đại tràng có thể gây tắc ruột non khi chúng liên quan đến van hồi manh tràng (Hình 13)
Hình 12 Tắc ruột non do ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma) Ảnh CT cho
thấy các quai hồi tràng dày không đều và không cân xứng (mũi tên), giãn quai ruột đoạn gần (trên chỗ tắc) (S)
Trang 17Hình 13 Tắc ruột non do ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma) của manh tràng
lan đến van hồi – manh tràng (a) Ảnh CT cắt ngang cho thấy giãn các quai ruột non (S) và manh tràng (*) ở trên chỗ ung thư manh tràng gây hẹp (mũi tên)
Hình 13 (b) Ảnh mảnh đại thể cho chứng minh sự liên quan của van hồi – manh
tràng (mũi tên) do khối u (đường kẻ chấm) TI = đoạn cuối hồi tràng
Lồng ruột (intussusception).- Lồng ruột là tình trạng tương đối hiếm xảy ra ở người
lớn, chiếm dưới 5% tắc ruột non [35] Chỉ có các lồng ruột có điểm dẫn (lead-point)
Trang 18do u, dính, hoặc dị vật là gây tắc ruột Các trường hợp lồng ruột thoáng qua (transient intussusception) không gây nên tình trạng tắc ruột
Trên CT, sự hiện diện của ruột – trong – ruột có hoặc không có mạch máu và mỡ mạc treo là dấu hiệu đặc trưng của lồng ruột Có thể tìm thấy một khối dẫn đường là nguyên nhân của lồng ruột, nhưng phát hiện này nên được diễn giải cẩn thận và phân biệt với giả u do chính bản thân khối lồng (Hình 14) [35-39]
Trang 19Hình 14 Tắc ruột non do lồng ruột và dải dính (a, b) Ảnh CT cho thấy đoạn ruột
lồng (mũi tên trong hình a) lồng vào đoạn ruột nhận lồng (* trong hình a) do khối u dưới niêm mạc (T trong hình b) Đoạn ruột nhận lồng bị giãn do dính (đầu mũi tên trong hình b)
Hình 14 (c) Ảnh mảnh đại thể cho thấy khối u dưới niêm mạc hình khối lớn giống
polyp (mũi tên)
Viêm ruột non do xạ trị (radiation enteritis).- Viêm ruột non do xạ trị gây tắc ruột
ở giai đoạn muộn 1 năm sau xạ trị, thường là xạ trị vùng khung chậu Do đó các quai hồi tràng thường bị ảnh hưởng nhiều nhất Viêm ruột non do xạ trị gây tắc ruột non chủ yếu do tạo nên các thay đổi xơ hóa và dính ở mạc treo Cũng có những thay đổi xảy ra bên trong ruột như hẹp lòng ruột và rối loạn nhu động do viêm thanh mạc xạ trị gây nên [40] CT cho thấy hẹp lòng ruột do dày thành, thành ruột gấp góc do dính,
co kéo mạc treo (Hình 15) Cũng có thể thấy ngấm thuốc cản quang bất thường hình đường thẳng ở đoạn ruột dày thành trong trường xạ trị [37-40]
Trang 20
Hình 15a Tắc ruột non do bệnh lý ruột sau xạ trị Ảnh CT cho thấy các quai ruột non
giãn to (S trong hình a) do dày thành và chít hẹp xơ hóa (mũi tên) gây hẹp lòng ruột
Hình 15b Tắc ruột non do bệnh lý ruột sau xạ trị Ảnh CT cho thấy các quai ruột non
giãn to (S trong hình a) do dày thành và chít hẹp xơ hóa (mũi tên) gây hẹp lòng ruột