Phù Ninh là một trong những huyện được chọn Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn là tiềm năng trong việc phát triển các loại cây ăn quả của tỉnh
Trang 1Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––
NGÔ THỊ THANH HƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT
CÂY ĂN QUẢ TẠI HUYỆN PHÙ NINH,
TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 2Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––
NGÔ THỊ THANH HƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT
CÂY ĂN QUẢ TẠI HUYỆN PHÙ NINH,
TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60 - 31 - 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS ĐỖ THỊ BẮC
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sỹ “Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát
triển sản xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ”, chuyên
ngành kinh tế nông nghiệp, mã số 60-31-10, đây là công trình của riêng tôi
Luận văn đã sử dụng các thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các
thông tin cõ sẵn đã được trích rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng các số liệu và kết quả nghiên cứu đã được nêu
trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị
nào hoặc chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu
khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Ngô Thị Thanh Hương
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Thực trạng và những giải pháp chủ
yếu nhằm phát triển sản xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ”,
tôi nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên, của nhiều cá nhân và tập thể, tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Nhà trường, Khoa Sau đại học trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, các thầy cô giáo Đặc biệt tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn
khoa học: PGS TS Đỗ Thị Bắc đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong
quá trình học tập, nghiên cứu để tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã động viên giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này
Để hoàn thành được đề tài, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ và cộng tác của UBND Huyện Phù Ninh, các cán bộ kỹ thuật, các hộ nông dân sản xuất cây
ăn quả của Huyện Phù Ninh
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Ngô Thị Thanh Hương
Trang 4Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các biểu x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SẢN XUẤT VÀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ; PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1 Vị trí, vai trò của cây ăn quả trong sự phát triển kinh tế 4
1.1.1 Ý nghĩa của việc phát triển cây ăn quả 4
1.1.2 Vai trò của sản xuất cây ăn quả 5
1.1.3 Đặc điểm của sản xuất cây ăn quả 8
1.1.3.1 Đặc điểm kinh tế 8
1.1.3.2 Đặc điểm kỹ thuật 9
1.2 Tình hình sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 10
1.2.1 Tình hình phát triển sản xuất cây ăn quả trên thế giới 10
1.2.2 Tình hình sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam 11
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả 13
1.3.1 Nhân tố tự nhiên 13
1.3.2 Nhân tố kinh tế - xã hội 14
1.3.3 Nhân tố về tổ chức, kỹ thuật 16
1.4 Phương pháp nghiên cứu 17
1.4.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 17
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu 17
1.4.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 17
1.4.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu và số liệu 19
1.4.2.3 Phương pháp phân tích 23
1.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả 24
Chương 2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ TẠI HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ 26
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 26
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
2.1.1.1 Vị trí địa lý 26
2.1.1.2 Địa hình 27
2.1.1.3 Khí hậu - thuỷ văn 27
2.1.1.4 Thổ nhưỡng và các đặc điểm đất đai 28
2.1.1.5 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai 31
2.1.2 Nhân khẩu và lao động 34
2.1.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn huyện Phù Ninh 38
2.1.4 Điều kiện kinh tế của huyện Phù Ninh 41
2.1.5 Nhân tố kỹ thuật 46
2.1.6 Cơ chế chính sách 47
2.1.7 Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong quá trình sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả của huyện 47
2.1.7.1 Thuận lợi 47
2.1.7.2 Khó khăn 48
Trang 52.2 Tình hình sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả của huyện
Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 49
2.2.1 Thực trạng sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh 49
2.2.2 Tình hình tiêu thụ sản phẩm quả của huyện Phù Ninh 63
2.2.3 Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả huyện Phù Ninh 63
2.2.3.1 Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả của huyện 63
2.2.2.2 Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả của các nhóm hộ trong huyện 73
2.2.3.3 Hiệu quả xã hội và môi trường từ sản xuất cây ăn quả của huyện 76
2.3 Đánh giá chung về tình hình sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 77
2.3.1 Những mặt đạt được 77
2.3.2 Những mặt còn hạn chế 77
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ TẠI HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ 79
3.1 Những căn cứ, định hướng, mục tiêu nhằm phát triển sản xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 79
3.1.1 Những căn cứ chủ yếu để phát triển sản xuất cây ăn quả của huyện 79
3.1.2 Định hướng phát triển sản xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh 80
3.1.3 Mục tiêu phát triển sản xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh 81
3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất cây ăn quả của huyện Phù Ninh 81
3.2.1 Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm cây ăn quả của huyện 81
3.2.2 Giải pháp mở rộng diện tích, thâm canh tăng năng suất và sản lượng cây ăn quả của huyện Phù Ninh 85
3.2.2.1 Giải pháp về quy hoạch vùng sản xuất cây ăn quả của huyện 88
3.2.2.2 Giải pháp về quy mô sản xuất cây ăn quả của huyện 90
3.2.3 Giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn huyện Phù Ninh 91
3.2.4 Giải pháp tăng cường vốn đầu tư cho sản xuất cây ăn quả của huyện 96
3.2.5 Giải pháp kỹ thuật trong sản xuất cây ăn quả của huyện 98
3.2.6 Các giải pháp về khuyến nông nhằm phát triển sản xuất cây ăn quả của huyện 99
3.2.7 Giải pháp phát triển khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường 101
3.2.8 Vận dụng tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước trong phát triển sản xuất cây ăn quả của huyện 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
1 Kết luận 105
2 Kiến nghị 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 111
Trang 6Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Chữ viết tắt sử dụng
A
BQ
CĂQ
C.cấu
DT
Đ
GO
HQ
HQKT
IC
KD
KTCB
MI
Pr
RRA
SL
T
Tr đồng
VA
UBND
Nội dung
Khấu hao Bình quân Cây ăn quả
Cơ cấu Diện tích Đồng Giá trị sản xuất Hiệu quả Hiệu quả kinh tế Chi phí trung gian Kinh doanh Kiến thiết cơ bản Thu nhập hỗn hợp Lãi ròng Đánh giá nông thôn nhanh Sản lượng
Thuế Triệu đồng Giá trị gia tăng
Uỷ ban nhân dân
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tại các điểm
nghiên cứu 18
Bảng 1.2 Nguồn thông tin số liệu 20
Bảng 1.3 Số lượng mẫu điều tra ở các điểm nghiên cứucủa huyện năm 2010 21
Bảng 2.1 Tình hình đất đai của huyện năm 2010 29
Bảng 2.2 Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của huyện Phù Ninh năm 2008 - 2010 31
Bảng 2.3 Tình hình lao động và sử dụng lao động huyện Phù Ninh năm 2008 - 2010 35
Bảng 2.4 Dân số và mật độ dân số các xã , thị trấntrong huyện Phù Ninh năm 2010 37
Bảng 2.5 Thực trạng cơ sở hạ tầng của huyện Phù Ninh năm 2010 39
Bảng 2.6 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện năm 2008 - 2010 42
Bảng 2.7 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của huyện Phù Ninh năm 2008 - 2010 45
Bảng 2.8 Diện tích cây ăn quả của huyện Phù Ninh qua các năm 50
Bảng 2.9 Chi phí sản xuất cho 1 ha cây hồng KTCB của huyện năm 2010 52
Bảng 2.10 Chi phí sản xuất cho 1 ha cây vải KTCB của huyện năm 2010 55
Bảng 2.11 Chi phí sản xuất cho 1 ha cây xoài KTCB của huyện năm 2010 56
Bảng 2.12 Tình hình đầu tư thâm canh cho 1 ha trồng hồng qua các nhóm hộ điều tracủa huyện Phù Ninh năm 2010 58
Bảng 2.13 Tình hình đầu tư thâm canh cho 1 ha trồng vải qua các nhóm hộ điều tracủa huyện Phù Ninh năm 2010 59
Trang 7Bảng 2.14 Tình hình đầu tư thâm canh cho 1 ha trồng xoài qua các nhóm
hộ điều tra của huyện Phù Ninh năm 2010 60
Bảng 2.16 Năng suất cây ăn quả của huyện Phù Ninh năm 2008 - 2010Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.15 Diện tích cho thu hoạch cây ăn quả chủ yếu của huyện Phù
Ninh năm 2008 - 2010 64
Bảng 2.16 Năng suất cây ăn quả của huyện Phù Ninh năm 2008 - 2010 66
Bảng 2.17 Sản lượng cây ăn quả của huyện Phù Ninh năm 2008 - 2010 68
Bảng 2.18 Kết quả, hiệu quả kinh tế sản xuất hồngcủa huyện năm
2008 - 2010 70
Bảng 2.19 Kết quả, hiệu quả kinh tế sản xuất vải của huyện năm 2008 - 2010 71
Bảng 2.20 Kết quả, hiệu quả kinh tế sản xuất xoàicủa huyện năm 2008 - 2010 72
Bảng 2.21 Kết quả, hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả của huyện
Phù Ninh năm 2010 75
Bảng 3.1 Dự kiến diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị sản lượng
cây ăn quả của huyện đến năm 2015 89
Bảng 3.2 Dự kiến diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị sản lượng
cây ăn quả của huyện đến năm 2020 89
DANH MỤC CÁC BIỂU
Đồ thị 2.1 Cơ cấu đất đai của huyện năm 2008 - 2010 33
Đồ thị 2.3 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện năm 2008 43
Đồ thị 2.4 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện năm 2010 43
Trang 8Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sản xuất cây ăn quả cũng như bất kỳ ngành sản xuất nào, muốn tồn tại
và phát triển, đứng vững trên thị trường thì vấn đề phát triển sản xuất, hiệu
quả kinh tế phải được đặt lên hàng đầu Qua mỗi thời kỳ sản xuất kinh doanh
phải phân tích tìm ra những ưu, nhược điểm tồn tại, có phương hướng và giải
pháp tổ chức và phát triển sản xuất
Trước xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, cùng với xu thế phát triển nông
nghiệp hàng hoá hội nhập, bên cạnh việc đầu tư cho sản xuất nông nghiệp
việc yêu cầu cấp thiết đối với nền nông nghiệp nước ta là cần phải đa dạng
các sản phẩm, thay đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tăng tỷ trọng cây trồng có
hiệu quả kinh tế cao Ngành trồng trọt không thể thiếu việc phát triển sản xuất
cây ăn quả theo thế mạnh từng vùng Đó là nhu cầu thiết thực cần phát triển,
khai thác được lợi thế so sánh để phát triển sản xuất cây ăn quả của các huyện
miền núi nói riêng và nông thôn Việt Nam nói chung [12]
Nhìn trên tổng thể,Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện để phát triển
cây ăn quả Thực tế cho thấy những năm trước đây việc sản xuất cây ăn quả
chưa được quan tâm đúng mức, tốc độ phát triển chậm và còn mang tính tự
phát, kim ngạch xuất khẩu quả thấp
Những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách cụ
thể khuyến khích đầu tư cho phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp trên cơ sở
phát huy lợi thế vùng, đặc biệt chú trọng đến vùng có loài cây ăn quả đặc sản
Phù Ninh là huyện trung du miền núi thuộc tỉnh Phú Thọ, trong những
năm gần đây đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh chú trọng trong việc phát tiển cây
ăn quả Đặc biệt đang xây dựng thương hiệu cho hồng Gia Thanh là loại trái
cây đặc sản của tỉnh Phú Thọ Phù Ninh là một trong những huyện được chọn
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
là tiềm năng trong việc phát triển các loại cây ăn quả của tỉnh Phú Thọ, được biết đến những trái cây đặc sản nổi tiếng như: Hồng Gia Thanh, xoài Liên Hoa, vải Phú Hộ… song để những trái cây này được thị trường chấp nhận và
có thương hiệu thực sự chưa được quan tâm chú ý, dẫn đến hiệu quả sản xuất chưa cao, nhiều vùng có mức sống và trình độ dân trí thấp, trong nông thôn vẫn còn có hộ nghèo
Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng và những giải
pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ” nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội nông thôn của huyện
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu bao trùm của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu thực trạng sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh Từ đó đề xuất một
số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất cây ăn quả, góp phần cải thiện
và nâng cao hiệu quả kinh tế hộ nông dân đồng thời thúc đẩy phát triển kinh
tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện Phù Ninh
3 Đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả của huyện, các hộ, trang trại và vùng trồng cây ăn quả của
huyện Phù Ninh
Trang 93.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu bao gồm phạm vi về không gian, thời gian và nội
dung nghiên cứu
- Về không gian: Tại huyện Phù Ninh - Tỉnh Phú Thọ
- Về thời gian: Năm 2008 - 2010
- Về nội dung:
Nghiên cứu về thực trạng sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả tại
huyện Phù Ninh Từ đó đề ra một số biện pháp chủ yếu nhằm phát triển sản
xuất cây ăn quả của huyện
Tuy vậy, vấn đề phát triển sản xuất cây ăn quả là rất rộng lớn, vì vậy
luận văn tập trung nghiên cứu, giải quyết chủ yếu các cây ăn quả chính là cây
hồng, cây xoài và cây vải…
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn là tài
liệu tham khảo giúp huyện Phù Ninh xây dựng quy hoạch và kế hoạch sản
xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả Luận văn nghiên cứu tương đối toàn
diện và có hệ thống, và có ý nghĩa thiết thực cho quá trình sản xuất và phát
triển sản xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh và đối với các địa phương có
điều kiện tương tự
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn bao gồm 3 chương chính:
- Chương 1: Cơ sở khoa học về sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn
quả; phương pháp nghiên cứu
- Chương 2: Thực trạng sản xuất và triển phát sản xuất cây ăn quả tại
huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
- Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm triển sản
xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Chương 1
SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ; PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Vị trí, vai trò của cây ăn quả trong sự phát triển kinh tế
1.1.1 Ý nghĩa của việc phát triển cây ăn quả
Sản xuất CĂQ ở Việt Nam góp phần thúc đẩy quá trình: Phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng tài nguyên rừng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái Vườn CĂQ có tác dụng cải tạo môi trường sinh thái, tạo không khí trong lành, phong
cảnh tươi đẹp, hình thành các vườn du lịch sinh thái nông nghiệp
Trồng CĂQ có tác dụng cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đưa các hộ nông dân từ nghèo, đói lên hộ có thu nhập khá và hộ giàu Sản xuất cây ăn quả và sự ổn định của vườn cây ăn quả gắn liền với cuộc sống định
canh, định cư, hạn chế phá rừng làm nương rẫy [28]
Đặc biệt đất nước ta đang trong giai đoạn hội kinh tế thế giới, sản phẩm quả càng có giá trị thương phẩm cao, giải quyết công ăn việc làm góp phần tăng thu nhập cho người lao động
Cây ăn quả còn có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống và trong nền kinh tế quốc dân Quả là những sản phẩm có giá trị sử dụng rộng rãi, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng, các chất vi lượng, khoáng chất bổ dưỡng, là nguồn dược liệu quý có tác dụng phòng chữa bệnh cho con người
Phát triển cây ăn quả góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, chuyển nền kinh tế độc canh, tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững [29] Phát triển sản xuất CĂQ gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến,
đồ hộp, dịch vụ vận chuyển Góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và
xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh hiện đại
Phát triển sản xuất cây ăn quả góp phần cải thiện đời sống con người dân nông thôn
Trang 10Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.1.2 Vai trò của sản xuất cây ăn quả
Cây ăn quả là loại cây có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao
Trong những năm gần đây, cây ăn quả góp phần tích cực vào việc chuyển đổi
cơ cấu cây trồng nông nghiệp, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải tạo môi
trường sinh thái, nhất là các tỉnh trung du miền núi Trong xu thế phát triển
kinh tế - xã hội hiện nay, khi mà vấn đề lương thực cơ bản đã được giải quyết,
đời sống nông dân được cải thiện thì nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm quả ngày
càng cao cả về số lượng lẫn chất lượng Có thể nói rằng cây ăn quả có vai trò
hết sức to lớn đối với con người Cụ thể là:
- Các loại quả là nguồn dinh dưỡng quý giá của con người ở mọi lứa
tuổi và ngành nghề khác nhau Trong quả có loại đường dể tiêu, các axit hữu
cơ, prôtêin, lipit, chất khoáng, pectin, tananh, các hợp chất thơm và các chất
khác có nhiều loại vitamin khác như A, B1, B2, B6,C,PP Đặc biệt là vitamin
C rất cần thiết cho cơ thể con người, vitamin A cần thiết cho trẻ em Trong
khẩu phần ăn của con người không những cần đầy đủ calo mà cần có vitamin,
muối khoáng, các axit hữu cơ và các hoạt chất khác để các hoạt động sinh lý
được tiến hành bình thường Nhu cầu về calo dựa vào việc cung cấp đạm, mỡ,
hydrat cacbon từ động vật và thực vật, còn vitamin và các hoạt chất khác thì
chủ yếu dựa vào quả và rau [29]
- Theo các công trình nghiên cứu khoa học, để con người hoạt động
bình thường thì hàng năm phải cung cấp khoảng 100kg quả/người/năm(các
loại hoa quả như nho, táo chuối, xoài, cam, mơ, mận, chanh ) Đó là những
chỉ tiêu cơ bản để định kế hoạch cây ăn quả ở mỗi nước
- Sản xuất cây ăn quả cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế
biến - xuất khẩu, vai trò cung cấp nguyên liệu cho công nghệ chế biến và xuất
khẩu đã tác động tới sự phát triển của công nghiệp, tạo nguồn ngoại tệ mạnh cho
sự phát triển kinh tế nhất là những nước chưa phát triển, đặc biệt là Việt Nam
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Phát triển sản xuất cây ăn quả góp phần cải thiện nông thôn mới, tăng thu nhập của người dân nông thôn
Nước quả tự nhiên (nguyên chất): Là sản phẩm mà thành phẩm chủ yếu
là dịch quả, trong đó có một phần thịt quả hoặc không chứa dịch quả Nước quả tự nhiên có hàm lượng dinh dưỡng cao, cảm quan hấp dẫn do có màu sắc của sản phẩm rất gần với hương vị màu sắc của nguyên liệu
Nước quả cô đặc: Là nước quả ép, lọc trong rồi được cô đặc tới hàm lượng chất khô 60-70% Có thể coi nước quả cô đặc là một dạng bán chế phẩm để chế biến nước giải khát, rượu vang quả, rượu mùi, kem Để nước quả
cô đặc có mùi vị và giá trị dinh dưỡng cao người ta ứng dụng những công nghệ cô đặc tiên tiến Phổ biến hơn cả là công nghệ cho nước quả bốc hơi ở
độ chân không cao (trên 500mm thuỷ ngân) để nhiệt độ được hạ thấp 50 -
600C Có thể áp dụng công nghệ làm lạnh đông, dịch quả được làm đông tới nhiệt độ -50C đến-100C Khi ấy phần nước trong dung dịch đóng băng trước
và được tách khỏi dịch quả bằng cách li tâm Dịch quả được làm đặc từng bước và sản phẩm cuối cùng đạt độ khô 60 - 70%
Xirô quả: Là nước quả được pha thêm nhiều đường (thường dùng đường kính trắng) để độ đường trong Xirô đạt 60-70% Cần phân biệt Xiro quả với nước quả cô đặc, 2 sản phẩm này cùng chứa dịch quả, có cùng hàm lượng đường cao nhưng nước quả cô đặc không bổ sung đường còn Xiro quả thường bổ sung đường với số lượng lớn
Nước quả lên men: Được chế biến bằng cách cho nước quả lên men rượu sau thời gian lên men từ 24 - 36 giờ, độ rượu trong sản phẩm đạt tới 4 - 5% và sau đó sản phẩm được triệt trùng, đóng vào bao bì kín và tiêu thụ nhanh Nước quả lên men có hương vị đặc biệt do nấm men tạo ra, lại chứa nhiều CO2 nên có tác dụng tiêu hoá tốt
Trang 11Bột quả giải khát: Bao gồm dạng cao cấp là dạng bột quả hoà tan và
dạng cấp thấp hơn là dạng bột quả không hoà tan Bột quả hoà tan được chế
biến từ nước quả, qua quá trình sấy đặc vừa sấy khô thành dạng bột, có thêm
một số phụ gia thực phẩm để tăng thêm màu sắc hương vị và độ hoà tan cho
sản phẩm Bột quả giải khát không hoà tan thì được chế biến từ quả nghiền
mịn (cả thịt lẫn với phần xơ) rồi sấy khô bằng máy sấp phun hoặc máy sấy
kiểu trục cán để sản phẩm đạt độ khô rất cao, thuỷ phân chỉ còn 2 - 5% Sau
đó, sản phẩm được gia màu, gia hương tương tự như bột quả giải khát hoà tan
Nước quả giải khát: Thành phần chủ yếu là dịch quả, chiếm 10 - 50%
(tuỳ theo dạng nguyên liệu và dạng sản phẩm) cộng với đường axit thực
phẩm, chất màu thực phẩm và hương liệu Sản phẩm có thể được nạp CO2
hoặc không nạp CO2
Trong các chủng loại sản phẩm nói trên, sản phẩm nước quả giải khát
luôn được coi là một trong những sản phẩm chủ yếu của các cơ sở chế biến
rau quả
Công nghiệp chế biến rượu vang mới phát triển trong những năm gần
đây và chủ yếu là ở các tỉnh miền Bắc như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên
Sản lượng rượu vang năm 1993 khoảng 10 triệu lít, nguyên liệu quả cần dùng
khoảng 25 nghìn tấn Các loại quả được sử dụng như nho, dứa, chuối, mận và
những loại quả khác
Từ năm 2004 kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng nhanh và liên tục, đến
năm 2005 đạt 230 triệu USD tăng 31,9% so với năm 2004
- Cây ăn quả còn có tác dụng lớn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái
với các chức năng làm sạch môi trường, giảm tiếng ồn, làm rừng phòng hộ,
làm đẹp cảnh quan
Nhiều cây giống ăn quả cho nguồn mật có chất lượng cao được nhiều
người tiêu dùng ưa thích Ở vùng nhiệt đới cây ăn quả còn có tác dụng bảo vệ
đất chống xói mòn, làm hàng rào cản bão Ở các khu dân cư, đô thị người ta
trồng cây ăn quả với mục đích cây cảnh, cây bóng mát Nhiều cây ăn quả có tán lá đẹp, màu sắc hấp dẫn dùng trồng trong công viên hoặc các công trình kiến trúc, các bảo tàng, bệnh viện hay các khu điều dưỡng Các vùng vải, nhãn ở Hưng Yên, Lục Ngạn vừa là nguồn sản phẩm dinh dưỡng quý vừa có
độ che phủ chống xói mòn, bảo vệ đất với hiệu quả cao hơn nhiều so với các cây trồng trước đó
- Sản xuất cây ăn quả góp phần tăng thu nhập: Một số cây ăn quả mặc
dù có giá trị kinh tế cao như nhãn, vải, xoài, nhưng lại có thể tận dụng trồng ở đất quanh vườn nhà, đất đồi và những đất chưa được khai thác góp phần tăng thu nhập cho nông dân
1.1.3 Đặc điểm của sản xuất cây ăn quả
1.1.3.1 Đặc điểm kinh tế
Các loại cây ăn quả thường có chu kỳ kinh tế dài chỉ trồng một lần, cây sống lâu năm và thu hoạch nhiều năm với năng suất cao, giá trị gấp 10 - 15 lần trồng lúa Trong khi đó, cây ăn quả có giá trị kinh tế tương đối cao Tuy nhiên, với mội loài, mỗi giống cây ăn quả lại thích ứng với từng tiểu vùng khí hậu, tính đất đai khác nhau, hình thành lên các vùng chuyên sản xuất cây ăn quả đặc sản có hương vị đặc trưng riêng [18]
Các yếu tố đất đai, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm không khí, và các hiện tượng đặc biệt của thời tiết như giông bão, sương muối, mưa đá ảnh hưởng lớn đến năng suất, sản lượng và phẩm chất quả thu hoạch được Sự khác nhau về yếu tố khí hậu giữa các vùng sinh thái tạo nên các kiểu thời tiết đặc trưng và cũng hình thành nên các vùng trồng cây ăn quả đặc trưng rất thích hợp với quá trình sinh trưởng và phát triển một số giống cây trồng đặc thù đem lại giá trị kinh tế cao (đầu tư chi phí ít mà năng suất, sản lượng, chất lượng quả thu được cao, bán được giá vì được thị trường ưa thích) Chính vì vậy, cây ăn quả được đánh giá cao, giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng hiện nay ở nước ta
Trang 12Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.1.3.2 Đặc điểm kỹ thuật
Cây ăn quả là loại cây trồng cạn, có tính chịu hạn cao, không kén đất,
với khả năng này nó tận dụng được đất đai không thể trồng được cây lương
thực, với kỹ thuật canh tác trên đất dốc, cây ăn quả có thể trụ lại và phát triển
bình thường, sau thời kỳ kiến thiết cơ bản (thường từ 3 - 4 năm) đến thời kỳ
sản xuất kinh doanh, thời kì này kéo dài, điểm này rất thuận lợi cho việc sản
xuất Tuy nhiên, do đặc điểm về kỹ thuật trong sản xuất dẫn đến tính thời vụ
cao nếu chuyên môn hoá quá sâu Để giảm bớt tính thời vụ trong việc phát
triển sản xuất cây ăn quả cần lưu ý mấy vấn đề sau:
- Thực hiện chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp
bằng cách kết hợp cơ cấu cây ăn quả hợp lý, kết hợp cây ăn quả với các loại
cây trồng và vật nuôi khác Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý để sử dụng tối đa
lực lượng lao động sử dụng hợp lý các loại vật tư kỹ thuật
- Tạo ra các giống cây cho sản phẩm không trùng nhau trong một năm
(cây trái vụ) để hạn chế tính thời vụ
Một đặc điểm nữa là cây ăn quả thường được trồng trên các sườn đồi
và vườn đồi khá cao trong vườn của các hộ gia đình, CĂQ được trồng xen
cùng các cây khác trong thời gian đầu
Sản xuất trồng cây ăn quả tập chung trên quy mô lớn sẽ tạo được công
ăn việc làm và thu hút được khá nhiều lao động trong vùng, nâng cao đời
sống của các hộ gia đình, phần bố lại cơ cấu cây trồng
Phát triển trồng cây ăn quả hiện nay chủ yếu phát triển ở hộ nông dân,
quy mô diện tích trồng nhỏ lẻ
Cây ăn quả là loại cây lưu niên và khi đã cho khai thác quả thì cho khai
thác nhiều lần, mỗi lần lại có sản lượng quả khác nhau vì vậy khi chăm sóc và
phòng trừ bệnh hại có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả thu được trong sản xuất
cây ăn quả
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.2 Tình hình sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả một số nước trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình phát triển sản xuất cây ăn quả trên thế giới
Ngày nay nhiều nước trên thế giới quan tâm tới việc phát triển cây ăn quả và họ đã giàu lên nhờ xuất khẩu sản phẩm tươi và chế biến từ quả Những nước có diện tích trồng cây ăn quả lớn như là Mĩ, Trung Quốc,
Ấn Độ, ví dụ: Năm 1995 Trung Quốc có 6,4 triệu ha cây ăn quả với sản lượng khoảng 35 triệu tấn, Ấn Độ có 2,94 triệu ha với sản lượng 25,5 triệu tấn Theo thống kê của tổ chức FAO năm 2005 sản lượng quả toàn thế giới
là 333,6 triệu tấn Nếu xếp theo số thứ tự sản lượng châu Á đứng đầu tiếp theo
là Mĩ,Châu Âu, Châu Phi, cuối cùng là châu Đại Dương
Năm 2005 Braxin sản xuất ra 27,5 triệu tấn chiếm 8,33% tổng sản lượng quả thế giới Sau đó là các nước Mĩ 25 triệu tấn và chiếm 7,8%, Ấn Độ 24,6 triệu tấn (chiếm 7,48%) Italia 18,8 triệu tấn (chiếm 5,72%), Trung Quốc 18,4 triệu tấn (chiếm 5,59%) sản lượng quả của 5 nước này tương đương 35% tổng sản lượng quả trên thế giới Ngoài 5 nước có sản lượng quả lớn kể trên còn có các nước khác như Liên Xô (cũ) 14,5 triệu tấn, Pháp 11,1 triệu tấn, Tây Ban Nha 11,02 triệu tấn, Thổ Nhĩ Kì 8,8 triệu tấn
Theo Fao năm 2006 sản lượng một số loại quả trên thế giới, chuối 68.340.740 tấn trồng chủ yếu ở Ấn độ (chiếm 24%), Ecuador (chiếm 9%), Brasil chiếm (9%), philippines chiếm (8%) sản lượng chuối toàn cầu, nho 66.887.170 tấn trồng chủ yếu ở vùng Địa Trung Hải, pháp và các nước trung tâm Châu Âu, Hoa Kỳ, hồng 47.545.740 tấn trồng chủ yếu ở các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Myanamr thích hợp vùng ôn đới và cận nhiệt đới, xoài 29.491.430 tấn hiện được trồng chủ yếu ở 6 nước theo thứ tự sản lượng
Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, philippines và Việt Nam
Trang 13Trên thế giới năm 2008 sản xuất khoảng 65 triệu tấn khóm, xoài, bơ, đu
đủ, trong đó Châu Á trên 38 triệu tấn, Nam Mỹ 9,5 triệu tấn, Trung Mỹ và vịnh
cairbean 8,9 triệu tấn và Châu Phi 7,4 triệu tấn Những trái cây có sản lượng nhỏ
hơn như ổi, vải, nhãn, sầu riêng, chôm chôm chiếm 17,8 triệu tấn [32]
Châu Á chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong xuất khẩu, đa số tiêu thụ trong nước
Chỉ 10% trái cây đi vào thị trường thế giới, chủ yếu tiêu thụ dạng tươi Các
nước Châu Mỹ La Tinh và vùng vịnh caribean dẫn đầu thế giới trong xuất
khẩu trái cây suốt thập niên vừa qua, chủ yếu xuất khẩu sang các nước Bắc
Mỹ và Châu Âu Hai khu vực này nhập khẩu 75% lượng khóm, xoài đu đủ và
trái bơ trên thê giới trong năm 2008 Giá trị giao dịch trái cây nhiệt đới tươi
toàn cầu lên đến 4,5 tỷ USD trong năm 2008 so với giá trị chuối 7,5 tỷ USD,
táo 6,2 tỷ USD, cam 3,3 tỷ USD và lê 2.2 tỷ USD
Giá trị giao dịch trái cây nhiệt đới chế biến trên thế giới lên đến 1,9 tỷ
USD năm 2008 Châu Á xuất khẩu 918.000 tấn trái cây tươi, Nam Mỹ, Trung
Mỹ, và vùng vịnh caribean xuất khẩu 3 triệu tấn Philippines là nước xuất
khẩu trái cây lớn nhất với sản lượng 317.000 tấn
Để phát triển diện tích và tăng sản lượng cây ăn quả, trên thế giới đã
chú trọng những vấn đề như: Chọn giống mới, nghiên cứu kỹ thuật trồng và
quản lý, chăm sóc cây ăn quả ; tưới nước giữ độ ẩm, chống xói mòn đất cho
cây ăn quả ; nghiên cứu kỹ thuật thu hái xử lý sau thu hoạch
1.2.2 Tình hình sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam
Ở nước ta cây ăn quả được phát triển dưới 2 hình thức:
- Trồng phân tán trong các vườn của các nông hộ với mục đích tự túc,
bổ sung dinh dưỡng bữa ăn Tuy vậy chỉ mới có khoảng 15-20% số hộ có
trồng cây ăn quả trong vườn Theo kết quả điều tra nông hộ ở các vùng nông
nghiệp khác nhau, ước tính bình quân mỗi nông hộ trồng khoảng 40 m2
cây
ăn quả trong vườn với nhiều loại cây truyền thống như mít, nhãn, ổi, chuối
- Tập trung trành vùng có mục đích sản xuất hàng hoá, chủ yếu là do các nông hộ trồng, trong đó có 28 nông trường có trồng cây ăn quả với nhiều quy mô, diện tích khác nhau
Theo thống kê chính thức của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam trong cả năm 2006 đã đạt 259 triệu USD, tăng 10
% so với năm 2005
Quá trình hình thành vùng quả từ 3 khu vực đặc trưng là:
- Do chủ trương của nhà nước về quy hoạch phát triển vùng cây ăn quả, bắt đầu từ các nông trường quốc doanh, sau đó phổ biến rộng ra các nông hộ trong vùng, gắn với công nghệ chế biến xuất khẩu, chẳng hạn như khu vực trồng dứa vùng đất phèn Tứ Giác Long Xuyên, đồng Tháp Mười, khu vực Đồng Giao (Ninh Bình), Hà Trung (Thanh Hoá)
- Do điều kiện lợi thế về sinh thái, các loại cây ăn quả có vị trí thuận lợi
về giao thông vận tải và có thị trường tiêu thụ nên đã hình thành vùng cây ăn quả như vùng quả của đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ
- Từ những vườn cây ăn quả đặc sản của những địa phương được thị trường tiêu thụ mạnh phát triển nên hình thành các vùng quả tập trung như các vùng bưởi Năm Roi (Vĩnh Long), bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), mơ mận (Tây Bắc, Đông Bắc)
Qui mô vườn quả của các nông hộ sản xuất ở các vùng tập trung tuỳ thuộc vào đặc điểm đất đai từng vùng Vùng đồng bằng Sông Hồng dưới 200
m2; miền Nam, miền núi Trung Du Phía Bắc Phổ biến từ 1000-2000m2 Đã có những điển hình tổ chức sản xuất theo kiểu trang trại cây ăn quả cả vùng đồng bằng và vùng đất đồi núi Những vùng cây ăn quả thâm canh và có hiệu quả kinh tế cao thường gắn việc trồng cây ăn quả trong kinh tế sinh thái VAC vừa nuôi trồng thuỷ sản, phát triển chăn nuôi công nghiệp [11]
Trang 14Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Với điều kiện đất đai, khí hậu nhiệt đới có pha trộn tính ôn đới rất thuật
tiện cho nhiều loại cây ăn quả ở nước ta phát triển Hiện nay tập đoàn cây ăn
quả ở nước ta rất phong phú trong đó có nhiều loại cây ăn quả quí không chỉ
có ý nghĩa tiêu dùng trong nước, mà còn có ý nghĩa xuất khẩu có giá thị như
cam, nhãn, vải, dứa, sầu riêng, xoài
Diện tích cây ăn quả của Việt Nam tăng từ 346 nghìn ha năm 1995 đến
767 nghìn ha năm 2006, đến 775 nghìn ha năm 2007 và sản lượng đạt 7 triệu
tấn Năm 2007 xuất khẩu rau quả đạt 300 triệu USD, trong đó chuối khoảng
100 nghìn ha sản lượng đạt 1,2 triệu tấn, cam quýt có diện tích gần 80 nghìn
ha sản lượng 523 nghìn tấn, xoài có diện tích 75 nghìn ha sản lượng 337
nghìn tấn ngoài các quả nhiệt đới một số loại quả cận nhiệt đới cũng được
phát triển ở các tỉnh phía Bắc như vải, hồng, mận, táo lê
Việc bố trí sản xuất cây ăn quả Ngoài việc bố trí trồng rải rác trên tất
cả các vùng, các địa phương, chúng ta còn bố trí trồng tập trung quy mô cây
ăn quả ở những vùng và những địa phương có điều kiện như: Vùng cây ăn
quả tập trung Nam Bộ và miền núi phía Bắc trong đó 70% diện tích nằm ở các
vùng phía Nam
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả
1.3.1 Nhân tố tự nhiên
- Đất đai: Là yếu tố sản xuất không thể thiếu được của mọi ngành sản
xuất, đặc biệt là ngành trồng trọt, trong đó có ngành rau quả Số lượng, chất
lượng, vị trí của đất đai có ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành sản xuất
cây ăn quả
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu Á, đất nước có chiều dài trên
15 vĩ độ với mấy ngàn km giáp biển đông Đất đai nước ta rất phong phú, cả
nước có 13 nhóm đất chính, trong đó nhóm đất đỏ chiếm gần 54% được phân
bố ở trung du miền núi phía Bắc Đây là nhóm đất có chất lượng tốt thuận lợi
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
cho việc phát triển cây công nghiệp lâu năm và đặc biệt là cây ăn quả Còn lại
là tất cả các loại đất như: Đất đen, đất xám, đất phù sa, đều thuận lợi cho việc phát triển cây ăn quả
- Khí hậu: Khí hậu là môi trường sống của các loại cây trồng Vì vậy,
nếu khí hậu thời tiết thuận lợi cây trồng phát triển tốt và ngược lại, nếu thời tiết không thuận lợi thì cây trồng không phát triển được hoặc kém phát triển Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa với sự biến đổi khí hậu giữa các miền Bắc - Nam Điều đó cho phép nước ta trồng được nhiều loại hoa quả nhiệt đới, á nhiệt đới và một số rau quả gốc ôn đới, mùa vụ thu hoạch
kế tiếp nhau nhiều tháng trong năm Việt Nam còn là một trong những vùng phát sinh của một số cây ăn quả như cam, quýt, vải, chuối và có nguồn gen di truyền thực vật phong phú, đa dạng về cây ăn quả, gia vị và hoa [21] Bên cạnh những lợi thế sinh thái, rau quả nước ta cũng bị ảnh hưởng của một số hạn chế và bất lợi của khí hậu đối với nông nghiệp như: Bão lụt, thời tiết kém ổn định do gió mùa đông bắc, dẫn tới rủi ro về chất lượng
- Địa hình: Rải đều khắp từ Bắc tới Nam là địa hình từ núi cao đến
đồng bằng, sông suối và ven biển đã tạo nên những lợi thế về địa lý, sinh thái
so với nhiều nước khác Các hệ thống giao thông đường bộ, đường biển và hàng không thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa quốc tế và khu vực
1.3.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
- Lao động: Là yếu tố sản xuất, là nhân tố quyết định đến sự phát triển
của các ngành trong đó có ngành rau quả
Việt Nam là một nước nông nghiệp, hiện tại 80% dân số cả nước sống
ở nông thôn và trên 70% lực lượng lao động toàn xã hội làm việc trong khu vực này Do vậy, có thể nói lực lượng lao động của nước ta rất dồi dào và có thể cung cấp đủ lao động cho sản xuất cây ăn quả
Trang 15Người nông dân nước ta cần cù sáng tạo, qua nhiều thế hệ đã tích lũy
được nhiều kinh nghiệm trồng trọt, chọn giống rau đậu, cam, quýt, bưởi, hồng
xoài, chôm chôm, thanh long Nông dân ở nhiều vùng rau quả thuyền thống
đã thu được năng suất và lợi nhuận cao Tuy nhiên, chỉ với kinh nghiệm thì
nhiều vấn đề chưa giải quyết được, nhất là các khâu như: Giống, phòng trừ
sâu bệnh, xử lý sau thu hoạch Nhìn chung, trình độ dân trí của nước ta còn
thấp so với nhiều nước trên thế giới
- Vốn: Là yếu tố quan trọng không những để tăng trưởng kinh tế, phát
triển sản xuất nông nghiệp, trồng CĂQ cần lượng vốn đầu tư ban đầu lớn hơn
so với các loại cây trồng khác Hơn nữa, vốn giúp cho các hộ sản xuất CĂQ có
điều kiện thâm canh, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, trên cơ sở
đó mới có điều kiện giảm chi phí sản xuất và nâng cao HQKT Do vậy muốn
phát triển nhanh về diện tích, quy mô trồng CĂQ đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của
Nhà nước về vốn như: Cho vay với lãi suất ưu đãi, trợ giá cây giống, phân bón
Mặt khác cần mở ra và đẩy nhanh bảo hiểm vật nuôi, giúp đã các hộ nông dân
sản xuất CĂQ khi gặp rủi ro như thiên tai, dịch bệnh…
- Cơ sở vật chất kỹ thuật: Là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến việc
sản xuất cây ăn quả Hiện nay Việt Nam nhập khẩu nhiều dây chuyền sản xuất
của một số nước trên thế giới do vậy nước ta đã có nhiều dây chuyền sản xuất
hiện đại đưa vào sản xuất với công suất lớn, chất lượng cao Nhưng nhìn
chung chúng ta vẫn còn nhiều công nghệ lạc hậu so với thế giới Vì vậy, sản
lượng và chất lượng các loại sản phẩm chưa cao, khả năng cạnh tranh các loại
sản phẩm nông nghiệp nước ta (kể cả rau quả ) còn rất hạn chế [21]
- Phong tục tập quán: Sản xuất cây ăn quả nước ta vẫn còn mang tính
tự phát, sản xuất nhỏ, phân tán theo tập quán Ruộng đất phân chia nhỏ theo
từng hộ nông dân, vốn liếng ít ỏi nhất là ở phía bắc, càng ngại rủi ro, chưa
dám mạnh dạn đầu tư và thích ứng kịp thời với sản xuất hàng hòa theo cơ chế
thị trường Do vậy, có những trường hợp nông dân bị tác động bởi giá cao hơn, không đảm bảo chữ tín trong hợp đồng Đây là một nhược điểm và trở ngại trong tổ chức sản xuất rau quả chế biến
- Cơ chế chính sách: Là nhân tố ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất
cây ăn quả Nếu chính sách đúng nó sẽ tạo điều kiện và kích thích ngành rau quả phát triển sản xuất và tăng khối lượng xuất khẩu Nhưng ngược lại, nếu
cơ chế chính sách mà không đúng thì sẽ cản trở phát triển sản xuất cây ăn quả Hiện nay có chính sách phủ xanh đất trống đồi núi trọc
Do hoàn cảnh nước ta một thời gian dài phải tạp trung cho sản xuất lương thực, nên khả năng đầu tư cho các ngành sản xuất nông sản có giới hạn Trong đó, ngành rau quả chưa được đầu tư đúng mức do vậy chưa phát huy được tiềm năng vốn có Những năm gần đây, nhà nước đã có chính sách đầu
tư cho ngành rau quả thích đáng hơn, công tác nghiên cứu khoa học được nhà nước quan tâm nhiều hơn Cho nên, ngành rau quả đã có sự phát triển nhất định Song các chính sách khuyến khích sản xuất cây ăn quả còn nhiều hạn chế chưa khuyến khích được ngành rau quả phát triển mạnh
1.3.3 Nhân tố về tổ chức, kỹ thuật
Những nhân tố nông nghiệp này bao gồm: Các hình thức tổ chức sản xuất (trang trại, hợp tác xã, hộ gia đình); sự phát triển của khoa học kỹ thuật
và việc ứng dụng chúng vào sản xuất
Các hình thức tổ chức sản xuất phản ánh mức độ tập trung các nguồn lực của địa phương cho sản xuất Trong ngành nông nghiệp ở các nước tư bản phát triển thì hình thức tổ chức sản xuất chủ yều là trang trại, có rất nhiều những trang trại với quy mô hàng ngàn ha, còn ở nước ta thì chủ yếu lại là hộ gia đình, sản xuất với quy mô nhỏ bé, ruộng đất manh mún, phân tán là nguyên nhân cản trở sản xuất hàng hoá phát triển
Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất góp phần hoàn thiện các phương thức sản xuất nhằm khai thác, ứng dụng hợp lý và hiệu quả hơn các nguồn lực xã hội vào ngành trồng trọt
Trang 16Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong lĩnh vực trồng trọt, việc xác định cơ cấu cây trồng trước tiên phải
tìm hiểu nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước về số lượng, chất lượng,
mẫu mã, giá cả Trên cơ sở đó mà có sự bố trí sắp xếp sản xuất hợp lý đáp
ứng nhu cầu thị trường, thúc đẩy nhanh tái sản xuất mở rộng
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết
- Tại sao phải phát triển sản xuất cây ăn quả ở địa bàn nghiên cứu?
- Tình hình và thực trạng ra sao, liệu có phát triển được không?
- Có những giải pháp chủ yếu nào và giải pháp nào tốt nhất để thực hiện?
Vì sao?
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu
1.4.2.1 Chọn điểm nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, các điểm chọn nghiên cứu phải đại
diện cho các vùng sinh thái kinh tế trồng cây ăn quả trong huyện trên phương
diện về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và những đặc điểm chung ở các
tiểu vùng
- Xã Gia Thanh đại diện cho tiểu vùng thượng huyện
- Xã Bình Bộ đại diện cho tiểu vùng ven sông lô
- Xã Liên Hoa đại diện cho tiểu vùng hạ huyện
Các điểm nghiên cứu này đều nằm trong các vùng trọng điểm, vùng
quy hoạch dự án phát triển vườn cây ăn quả theo hướng mở rộng các vườn
cây ăn quả tập trung, cây ăn quả chủ lực có tính sản xuất hàng hoá cao Dự án
phát triển sản xuất cây ăn quả phù hợp với chủ trương và định hướng phát
triển sản xuất cây ăn quả của tỉnh Phú Thọ và của huyện Phù Ninh giai đoạn
đến năm 2015
Các điểm nghiên cứu này có hệ thống vườn cây ăn quả cho hiệu quả
kinh tế cao; hồng Gia Thanh, xoài Liên Hoa, Phú Hộ, vải Bình Bộ, có nhiều hộ
gia đình trồng cây ăn quả điển hình sản xuất kinh doanh giỏi, sản xuất cây ăn
quả có hiệu quả kinh tế cao qua nhiều năm (từ 10 đến 50 năm) [27]
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 1.1 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tại các điểm nghiên cứu
Đặc điểm
Các điểm nghiên cứu Vùng thượng
huyện (xã Gia Thanh)
Vùng ven sông Lô, (xã Bình Bộ)
Vùng hạ huyện (xã Liên Hoa)
1 Điều kiện tự nhiên đối với phát triển sản xuất CĂQ Rất thích hợp Rất thích hợp Thích hợp vừa
3 Đất đai cho phát triển sản
nhãn
Xoài, nhãn, vải,
Hồng, xoài, vải
8 Giao thông Thuận lợi vừa Thuận lợi Thuận lợi vừa
9 Thị trường tiêu thụ Thuận lợi Rất thuận lợi Thuận Lợi
10 Tập quán sản xuất Truyền thống
địa phương
Truyền thống địa phương
Truyền thống địa phương
(Nguồn: Phòng Nông Nghiệp huyện Phù Ninh và kết quả điều tra)
Về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở mỗi điểm nghiên cứu có những thuận lợi và khó khăn nhất định cho sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả của huyện Như huyện Gia Thanh với tiềm năng phát triển hồng, là cây ăn trái đặc sản của huyện Phù Ninh và tỉnh Phú Thọ Với chương trình xây dựng mô hình ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn và miền núi, đã có dự án xây dựng mô hình trồng và thâm canh giống hồng Gia Thanh trên đất đồi sau khai thác cây bạch đàn tại huyện Phù
Ninh tỉnh Phú Thọ
Trang 171.4.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu và số liệu
- Thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Sử dụng phương pháp kế thừa và
cập nhật từ các niên giám thống kê (Tổng cục Thống kê), Niên giám thống kê
Phú Thọ và các tài liệu như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục
Khuyến nông, Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
tỉnh Phú Thọ, Sở Tài Nguyên và Môi Trường các báo cáo khoa học của
Viện nghiên cứu Rau quả trung ư ơn g , báo cáo tổng kết, sách, báo chuyên
ngành, tài liệu của tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) và truy cập internet,
các dự án, chương trình phát triển cây ăn quả của tỉnh Phú Thọ…ở cấp
huyện, thu thập thông tin về cây ăn quả thông qua Phòng Kinh tế và Phòng
Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp, các hội
Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, nông hộ sản xuất cây ăn quả…
Trên cơ sở các số liệu thu thập tiến hành phân tích, đánh giá tìm ra
những yếu tố tác động, xu hướng phát triển sản xuất cây ăn quả (chủ yếu là
cây hồng đặc sản của huyện) và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển sản
xuất cây ăn quả tại địa phương
- Thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp: Những tài liệu mới về sản xuất và
nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất CĂQ, tổ chức sản xuất, bố trí cây
trồng…được tổ chức điều tra, phỏng vấn để có thể nhìn nhận về tình hình sản
xuất cây ăn quả ở Phù Ninh một cách tổng quát, tổ chức nghiên cứu thực
tiễn tại các vùng có diện tích trồng cây ăn quả lớn của huyện như Gia
Thanh, Bình Bộ, Liên Hoa, Trạm Thản, thông qua Phòng Nông nghiệp, Hội
Nông dân, Chi hội Làm vườn để tìm hiểu tình hình tổ chức trồng, kỹ thuật
chăm sóc cây ăn quả để phát triển sản xuất cây ăn quả trên địa bàn huyện
Bảng 1.2 Nguồn thông tin số liệu
- Sở NN và PTNT
- Sở TN và môi trường
- Sở KH và công nghệ
- Các báo cáo tổng kết và định hướng: Các dự án, chương trình phát triển cây
ăn quả trong tỉnh, huyện Phù Ninh
- Niên giám thống kê tỉnh
- Các nghị quyết, quyết định, thông tư hướng dẫn, báo, tạp chí liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Đến liên hệ, thu thập thông tin, số liệu về tổng quan, liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Huyện
-Trạm khí tượng thuỷ văn
- Phòng nông nghiệp, phòng kinh tế, trạm khuyến nông, phòng tài nguyên và môi trường
- Hội nông dân, hội làm vườn
- Các báo cáo chi tiết, tổng kết về tình hình phát triển kinh tế, xã hội, dân sinh, môi trường
- Các chương trình xây dựng mô hình ứng dụng khoa học công nghệ phục
vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi
- Các chính sách hỗ trợ phát triển cây ăn quả
- Nghị quyết, quyết định, thông tư ban quản lý đất đai
- Thu thập, đọc, nghe, ghi chép và chọn lọc các thông tin cần thiết
- Thông qua các tài liệu
có sẵn
- Trực tiếp thu thập
Xã, thôn,
hộ nông dân
- Ban thống kê, tài nguyên và môi trường, khuyến nông
- Hội nông dân, hội làm vườn
- Tổ trưởng, trưởng thôn và
hộ nông dân
- Các báo cáo tổng kết, chi tiết
- Sổ sách ghi chép, theo dõi các thông tin điều tra về hộ
Trực tiếp đến các hộ phỏng vấn điều tra các
hộ nông dân
- Tham gia sinh hoạt và học hỏi kinh nghiệm trồng trọt cây ăn quả
(Nguồn:Tác giả tổng hợp,2010)
Trang 18Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Để thu thập thông tin có hiệu quả tôi sử dụng sẵn nội dung tìm hiểu…,
hệ thống biểu mẫu và sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ gia
đình, các chuyên gia, phỏng vấn bằng câu hỏi được lập sẵn Các thông tin sơ
cấp thu thập tại các hộ bằng quan sát trực tiếp và hệ thống phiếu điều tra;
các thông tin được tập hợp trong bảng 1.2
- Chọn mẫu điều tra: Căn cứ vào số lượng, quy mô, diện tích, đất trồng cây
ăn quả, cách tổ chức sản xuất, bố trí cây trồng cây ăn quả, kết quả, xu hướng và
tiềm năng phát triển cây ăn quả ở các xã đại diện cho các tiểu vùng trong huyện
Tôi chọn ra 90 hộ ở 3 tiểu vùng với 3 xã đại diện để điều tra và nghiên cứu
- Các hộ này có kết quả, hiệu quả về sản xuất cây ăn quả từ trung bình
trở lên, bước đầu có kiến thức kỹ thuật, hiểu biết trong việc trồng cây ăn quả
hoặc có kỹ thuật canh tác và thâm canh cây ăn quả đã gắn bó trong nhiều
năm, các hộ mang tính chất điển hình cao cho các tiểu vùng trong huyện Số
lượng mẫu điều tra được thể hiện qua (bảng 1.3)
Bảng 1.3 Số lƣợng mẫu điều tra ở các điểm nghiên cứu
của huyện năm 2010
Chỉ tiêu
Tiểu vùng I (xã: Gia Thanh)
Tiểu vùng II
Số lƣợng (hộ)
C.cấu (%)
Số lƣợng (hộ)
C.cấu (%)
Số lƣợng (hộ)
C.cấu (%)
Số lƣợng (hộ)
C.cấu (%)
Số lượng mẫu điều tra 30 100 30 100 30 100 90 100
Hộ trồng Hồng 20 66,67 5 16,67 11 36,67 36 40,00
Hộ trồng xoài 4 13,33 12 40,00 9 30,00 25 27,77
Hộ trồng vải 6 20,00 13 43,33 10 33,33 29 32,23
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
- Xây dựng phiếu điều tra:
Phiếu điều tra là một tập hợp các biểu mẫu, được xây dựng phục vụ
cho quá trình thu thập số liệu, thông tin cần thiết cho luận văn bao gồm
một số nội dung sau:
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Những thông tin căn bản về hộ: Họ tên, địa chỉ của chủ hộ, tuổi, số nhân khẩu, lao động, các lớp huấn luyện kỹ thuật, tập huấn đã qua…
+ Đất đai của hộ: Đất đai bao gồm đất thổ c ư , đất nhận khoán, đất đấu thầu, đất thuê v.v
+ Các tư liệu sản xuất khác: Bao gồm máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển v.v phục vụ cho sản xuất của hộ
+ Khả năng về vốn cho sản xuất kinh doanh của hộ: Gồm vốn tự có, vốn vay, lãi suất và khả năng hoàn vốn…
+ Kết quả sản xuất kinh doanh của hộ: Các kết quả thu nhập về trồng trọt (trong đó có CĂQ chủ yếu: cây hồng, xoài, vải), chăn nuôi, dịch vụ, thương mại… Ngoài phiếu điều tra, chúng tôi còn có sổ ghi chép về các điều kiện bên ngoài liên quan đến tập quán canh tác cũng như thói quen trồng trọt, kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc CĂQ của các hộ trồng CĂQ đặc sản lâu đời
- Phương pháp điều tra: Phỏng vấn, đàm thoại nêu vấn đề, thảo luận,
sử dụng hệ thống câu hỏi đóng và mở phù hợp với tình hình thực tế Sử dụng phươn g pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA), phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia (PRA) trong quá trình khảo sát [13]
- Tại huyện có tiếp xúc với phòng Kinh tế, phòng Nông nghiệp, phòng Thống kê, Hội Làm vườn, Trung tâm Khuyến nông đã giới thiệu mục đích, nội dung nghiên cứu và thảo luận về tình hình trồng CĂQ của địa phương, bàn luận về yêu cầu của các vấn đề nghiên cứu trong việc chọn địa điểm,
hộ điều tra Các tiểu vùng của huyện chọn tối thiểu 1 xã đại diện với tổng
số 90 hộ
- Tại điểm nghiên cứu, sau khi tiếp xúc với người địa phương (với UBND xã, Chủ tịch: Hội Làm vườn, Hội Nông dân xã, tổ trưởng tổ Khuyến nông xã) đã chọn ra các hộ gia đình đến thăm và phỏng vấn Trong quá trình thăm hỏi, phỏng vấn hộ, ngoài cán bộ nghiên cứu thường có một cán bộ của huyện và một đại diện cán bộ của xã cùng đi
Trang 19Việc phỏng vấn được cấu thành trong 3 phần chính Sau khi giới thiệu
mục đích cuộc thăm hỏi, các câu hỏi về tình hình chung trong gia đình đã được
đưa ra Trong khi phỏng vấn về hầu hết các phần của kinh tế gia đình, tôi đã
giành thời gian tìm hiểu mức độ chính xác và kiến thức kỹ thuật trong việc
nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cây ăn quả địa phương đã làm Sau
khi thảo luận xong tiến hành thăm vườn hộ đã lựa chọn Các thông tin bỏ sung
đã được thảo luận sau khi từ vườn về nhà người nông dân nếu cần thiết
- Công cụ dùng để xử lý số liệu: Sau khi thu thập đầy đủ điều tra của
các hộ, chúng tôi tiến hành kiểm tra, xử lý thông tin cơ bản, loại bỏ những
thông tin không rõ ràng, sau đó mã hoá thông tin, nhập thông tin vào máy
tính và sử dụng chương trình Excel để xử lý
1.4.2.3 Phương pháp phân tích
Các phương pháp được vận dụng trong phân tích nội dung nghiên cứu đề tài
được thể hiện như sau:
- Phương pháp thống kê mô tả
Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội bằng việc
mô tả số liệu thu thập được Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để
phân tích các hộ, nhóm hộ sản xuất cây ăn quả của huyện Trên cơ sở số liệu
điều tra, tổng hợp phân tích theo từng thời gian và không gian, sau đó tổng
hợp khái quát để thấy được xu thế phát triển của hiện tượng, sự vật
- Phương pháp phân tổ thống kê
Phương pháp này được dùng để phân tổ các mẫu điều tra, tổng hợp
kết quả điều tra nhằm phản ánh các đặc điểm cơ bản về tình hình sản xuất
và hiệu quả kinh tế sản xuất của các hộ trồng cây ăn quả trong huyện Phân
tổ các nhóm hộ đầu tư cao, đầu tư trung bình và đầu tư thấp theo mức đầu
tư chi phí trung gian Từ đó là cơ sở để so sánh kết quả và hiệu quả kinh tế
sản xuất CĂQ giữa các nhóm hộ và giữa các loại cây trồng với nhau, đồng
- Phương pháp minh hoạ bằng biểu đồ, hình ảnh
Phương pháp biểu đồ, đồ thị được ứng dụng để thể hiện mô tả một
số số liệu hiện trạng và kết quả nghiên cứu
1.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả
- Tổng giá trị sản xuất (GO - Gross Output) Được tính bằng tiền của
toàn bộ sản phẩm trên một diện tích trong một giống nhất định hoặc nó là giá trị bằng tiền của các sản phẩm sản xuất ra trong một mô hình kinh tế gồm cả giá trị để lại tiêu dùng và giá trị bán ra thị trường trong một chu kỳ sản xuất nhất định thường là một năm Với CĂQ thì giá trị sản xuất được tính bằng sản lượng thu hoạch nhân với giá bán thực tế ở địa phương
- Chi phí trung gian (IC - Intermediate Cost) là toàn bộ chi phí vật chất
thường xuyên bằng tiền mà chủ thể phải bỏ ra để thuê, mua các yếu tố đầu vào
và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất ra một khối lượng sản phẩm như: giống, phân bón, thuốc BVTV, thuỷ lợi, lãi suất tiền vay, …
- Giá trị gia tăng (VA - Value Added) là phần giá trị tăng thêm của
người lao động khi sản xuất trên một đơn vị diện tích, nó được tính bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất và giá trị trung gian trong một chu kỳ sản xuất
Nó chính là phần giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
VA = GO - IC
Trang 20Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Thu nhập hỗn hợp (MI - Mix Income) là thu nhập thuần tuý của
người sản xuất, đảm bảo cho đời sống và tích luỹ cho n gư ờ i sản xuất
Bao gồm thu nhập của công lao động và lợi nhuận thu được khi người sản
xuất trên từng cây trồng trên một đơn vị diện tích trong một chu kỳ sản xuất
MI = [VA-(A +T)]
A: Giá trị khấu hao; T: Giá trị thuế nông nghiệp (nếu có)
- Lợi nhuận (Pr - Profit): Là phần lãi ròng trong thu nhập hỗn hợp trừ
đi công lao động gia đình
Pr = MI-L × Pi Trong đó:
L: Số công lao động của gia đình
Pi: Giá ngày công lao động ở địa phương
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương 2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ TẠI HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
và hội nhập vào nền kinh tế thế giới
Về vị trí địa kinh tế: Huyện Phù Ninh có vị trí địa kinh tế đặc thù, điều kiện khí hậu thuận lợi Nằm trong huyện Phong Châu trước khi chia tách, Phù Ninh có vai trò khá quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng
an ninh đối với tỉnh Phú Thọ và khu vực phía Bắc của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ; là cầu nối giữa Phú Thọ với Hà Giang và Yên Bái, giữ chức năng trung chuyển và giao lưu hàng hóa giữa các địa phương tạo điều kiện cho các huyện khai thác các tiềm năng, lợi thế, nhất là các lợi thế về nông nghiệp và lâm nghiệp
Trang 21Sau khi chia tách, trong điều kiện mới huyện Phù Ninh có vai trò, vị trí
khá quan trọng đối với tỉnh Phú Thọ và huyện Lâm Thao trong phát triển kinh
tế xã hội và an ninh quốc phòng Về kinh tế, sự chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau giữa
2 huyện Phù Ninh và huyện Lâm Thao trong những năm qua đã tạo những
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội của 2 huyện
Hiện tại, huyện Phù Ninh là một trong các cầu nối giữa các tỉnh Trung
du miền núi như Yên Bái, Tuyên Quang với Lâm Thao Nằm ở vị trí này
huyện Phù Ninh có thế mạnh lớn về trồng cây ăn quả
2.1.1.2 Địa hình
Tổng diện tích đất tự nhiên của Phù Ninh là 15.648,01 ha, trong đó đất
nông, lâm nghiệp, thủy sản có 11.353,31 ha, chiếm 72,58%; đất phi nông
nghiệp có 3.738,93 ha, chiếm 23,89%; đất chưa sử dụng còn 555,77 ha, chiếm
3,53% Phần lớn đất của Phù Ninh nằm trên địa hình đồi núi thấp, xen lẫn
thung lũng nhỏ độ dốc thoải từ 50
-150, thềm địa chất ổn định, đất chủ yếu là đất mùn trên đá sỏi, đất sét pha cát lẫn sỏi ở vùng dốc tụ và đất phù sa
Tiềm năng đất đai của Phù Ninh là rất lớn, với diện tích đất chủ yếu
phù hợp cho phát triển nông lâm nghiệp, đất có tầng canh tác trung bình, chất
lượng đất khá tốt
2.1.1.3 Khí hậu - thuỷ văn
Phù Ninh nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm
Nhiệt độ trung bình trong năm trong khoảng 23,30
C, nhiệt độ trung bình tối cao ở mức 28,40C, nhiệt độ trung bình tối thấp là 16,10C và có nhiều ngày
xuống dưới 150C, có năm xuống dưới 100C và có sương muối, giá rét xảy ra ở
tần suất thấp Tổng lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.600 mm - 1.700 mm
Độ ẩm không khí trung bình ở mức 85% Ít chịu ảnh hưởng của gió bão,
nhưng ảnh hưởng của chế độ mưa sau bão gây úng ở các vùng đất trũng ảnh
hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư
Như vậy, Phù Ninh là Huyện có các điều kiện thời tiết khí hậu có nhiều thuận lợi, nhưng cũng không ít khó khăn cho phát triển kinh tế xã hội, nhất là phát triển nông, lâm nghiệp, đặc biệt là phát triển sản xuất cây ăn quả Phù Ninh có Sông Lô chạy dọc theo chiều dài huyện từ Bắc xuống Nam; là ranh giới giữa Phù Ninh với 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Tuyên Quang thuận lợi cho giao thông đường thủy, nguồn cát, sỏi thuận lợi cho phát triển vật liệu xây dựng Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có hệ thống các sông ngòi nhỏ nằm giữa các khe của các đồi núi thấp tạo nguồn nước thuận lợi tưới tiêu phục
vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản
2.1.1.4 Thổ nhưỡng và các đặc điểm đất đai
Theo số liệu điều tra của Viện Nông hoá thổ nhưỡng tháng 12/2002 [29] đất đai trên địa bàn huyện Phù Ninh gồm có các nhóm đất chính sau:
- Đất phù sa ven sông: Loại đất này được bồi đắp phù sa hàng năm, độ phì khá, nghèo lân, bị úng ngập thường xuyên, đất chua, phân bố tập trung chủ yếu ở các xã nằm ngoài hoặc ven sông trong đê vùng ven sông Lô, như: Bình Bộ, Tiên Du, Hạ Giáp, Hùng Lô, Vĩnh Phú…đất thích hợp với các loại cây nông nghiệp hàng năm và cây hoa màu hàng năm
- Đất vùng trũng: Loại đất này tập trung ở đại hình các vùng trũng, ngập úng quanh năm, nghèo chất dinh dưỡng, đất chua, có hàm lượng mùn cao, dễ tiêu, giây ở mức trung bính đến mạnh, yếm khí, phân bố ở hầu hết các
xã trong huyện đất này thích hợp với lúa một vụ chiêm
- Đất tầng mỏng: Loại đất này không được bồi đắp hàng năm, tập trung ở nơi có địa hình trung bình hoặc thấp, tầng đất canh tác mỏng, mức
độ giây xảy ra mạnh, hàm lượng mùn ở cấp độ nghèo, phân bố tập trung ở các vùng ven sông Lô như Hùng Lô, Vĩnh Phú và rải rác ở một số xã trong huyện thích hợp với các cây hoa màu ngắn ngày như: đậu, đỗ, khoai lang (bảng 2.1)
Trang 22Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 2.1 Tình hình đất đai của huyện năm 2010
(Theo số lượng và chất lượng đất đai)
- Đất xám 8.885,67 56,78 Có thể cải tạo để trồng CĂQ
- Đất đỏ 1.000,05 6.40 Loại đất này rất thích hợp để trồng CĂQ
- Sông, hồ, suối 794.55 5,08
2 Theo chất lƣợng đất đai
Chất lượng đất
- Đất có chất lượng khá 3.308,88 21,14 Đất phù sa, đất đỏ
- Đất có chất lượng TB-Khá 3.157,05 20,17 Đất xám, điển hình: Sẫm màu, đỏ nâu
- Đất có chất TB 5.591,35 35,73 Đất xám, loang lổ, kết von, đất glay
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phù Ninh)
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Đất cát: Loại đất này do bị rửa trôi, xói mòn nhiều nên độ phì kém, đất nghèo chất dinh dưỡng, bị khô hạn, phân bố tập trung chủ yếu ở xã Trị Quận, thích hợp với các cây hoa màu (đậu, đỗ, khoai lang)
- Đất xám: Tầng dầy đất 50cm đến 70cm, đất ít kết vón đá ong, đất chua, nghèo lân, phân bố ở các địa hình trung bình và cao ở các xã trong huyện, thích hợp với các cây công nghiệp hàng năm, cây lâm nghiệp lâu năm, cây ăn quả…
- Đất đỏ: Loại đất này phân bố tập trung ở các xã thuộc tiểu vùng thượng huyện trên nền độ cao trung bình từ 50m đến 100m, thích hợp với các cây công nghiệp, cây lâu năm
- Về số lượng: Huyện Phù Ninh có 6 nhóm đất chính, trong đó có 3 nhóm chiếm diện tích lớn là nhóm đất xám có tỷ trọng lớn nhất chiếm 56,78% tổng diện tích đất tự nhiên, đất phù sa chiếm 27,54%, đất đỏ chiếm 6,4% tổng diện tích đất tự nhiên Các loại đất này đều nằm trong vùng tiềm năng để phát triển sản xuất CĂQ
- Về chất lượng: Qua các kết quả phân tích các thành phần hoá học trong đất của viện nông hoá thổ nhưỡng, cho thấy đất đai của Phù Ninh có các mức chất lượng trung bình chủ yếu chiếm 35,73% với 5.591,35 ha, còn lại là đất trung bình, khá, đất có chất lượng kém chỉ chiếm 1,99% với 311,87 ha Về độ dốc chủ yếu trong khoảng 80- 150, chiếm 51,79%
Từ việc xem xét số lượng và chất lượng đất của Phù Ninh cho thấy, tiềm năng đất đai của huyện để CĂQ sinh trưởng, phát triển tốt còn rất lớn, tuy vậy để sản xuất CĂQ đặc sản thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung, các hộ phải biết thường xuyên cải tạo đất, tăng độ phì của đất bằng cung cấp chất hữu cơ giàu dinh dưỡng cho đất và sản xuất thâm canh, xen canh CĂQ với các cây trồng họ đậu, cây cải tạo đất
Trang 23Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.1.1.5 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai
Năm 2010 tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Phù Ninh là 15.648,01 ha, trong đó đất nông nghiệp là
7.795,53 ha, chiếm 49,82%, diện tích đất lâm nghiệp là 3.270,84 chiếm 20,90% [1]
Bảng 2.2 Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của huyện Phù Ninh năm 2008 - 2010
Chỉ tiêu
D tích (ha)
C cấu (%)
D tích (ha)
C cấu (%) D tích (ha)
C cấu (%) 2009/
2008 2010/
11 Một số chỉ tiêu BQ
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
(Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Phù Ninh )
Trang 24Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Với địa bàn đồi núi thấp, nơi đây phù hợp với nhiều loại cây ăn quả và
chăn nuôi đại gia súc Đây là hai nguồn đất quan trọng để phát triển mở rộng
sản xuất trồng CĂQ, vì nguồn quỹ đất chưa khai thác sử dụng của huyện còn
không lớn 555,77 ha, chiếm 3,56% (bảng 2.2)
Năm 2009 và năm 2010 sự biến động về diện tích các loại đất không
lớn, năm 2010 diện tích đất đã đưa vào sử dụng là 14.301.69 ha, chiếm
91,39% tổng diện tích tự nhiên, tăng 1,24% so với năm 2009, còn lại
5 55 , 77 ha diện tích tự nhiên đất chưa đưa vào khai thác (chiếm 3,56%),
giảm 1,15% so với năm 2009
Do vậy, Phù Ninh là huyện có diện tích đất sử dụng không lớn, muốn
phát triển diện tích trồng CĂQ thì người dân phải khai thác chủ yếu từ quỹ
đất nông, lâm nghiệp hiện có thông qua việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Đất lâm nghiệp chiếm 20,90%, chủ yếu là rừng trồng sản xuất, đất
nông nghiệp chiếm 49,82% Tiềm năng đất nông, lâm nghiệp rất lớn, chiếm
trên 70% tổng quỹ đất của huyện
Đồ thị 2.1 Cơ cấu đất đai của huyện năm 2008 - 2010
Diện tích đất nông nghiệp của huyện tương đối lớn và tăng giảm
không đều, năm 2010 diện tích đất nông nghiệp giảm 2,25% (ương đương
179,12 ha) so với năm 2009, chủ yếu do diện tích đất trồng cây hàng năm
Đất nông, lâm nghiệp Đất ở, chuyên dùng Đất chưa sử
dụng
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
giảm và diện tích đất vườn tạp giảm, diện tích trồng CĂQ tăng 65,1 ha, cho thấy nhiều hộ gia đình trong huyện đã thấy được việc trồng CĂQ ngày càng đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với một số cây trồng khác nên họ đã từng bước thay đổi cơ cấu cây trồng cho hộ của mình
Trong những năm gần đây, ở huyện có nhiều chương trình, dự án ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế, xã hội nông thôn và miền núi Đặc biệt rất chú trọng phát triển cây ăn quả và khôi phục giống cây
ăn quả đặc sản của huyện Nhìn chung người nông dân đã có những nhìn nhận mới trong việc sử dụng đất đai, các giống CĂQ cho năng suất cao, thích hợp với điều kiện đất đai của vùng được đưa vào trồng với quy mô diện tích lớn, tập trung, đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác (thâm canh, xen canh) nhằm nâng cao hệ số sử dụng đất Diện tích đất nông nghiệp lớn hơn so với diện tích đất lâm nghiệp (28,92%), tuy vậy việc khai thác, sử dụng hiệu quả chưa cao vì bằng chứng cho thấy diện tích vườn tạp còn lớn 1.641,83 ha (tương đương 10,49%), so với năm 2010 diện tích đất này đã giảm, nhưng không giảm mạnh Trong thời gian tới cần
sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn đất nông, lâm nghiệp bằng cách chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý có hiệu quả kinh tế cao, cải tạo diện tích vườn tạp… tạo nên vùng sản xuất hàng hoá tập trung theo thế mạnh của huyện Phù Ninh là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội
2.1.2 Nhân khẩu và lao động
Huyện có 19 đơn vị hành chính, nơi tập trung dân cư đông nhất là Thị trấn Phong Châu 14.297 người với mật độ dân số 1.531 người/km2 Mật độ dân số phân bố không đều giữa các vùng trong huyện Mật độ dân số trung bình toàn huyện là 606 người/km2, tập trung ở các huyện lị ven sông và ven Quốc lộ Các xã vùng sâu, vùng xa mật độ còn thưa thớt; xã thấp nhất là Trung Giáp 313 người/km2 và xã cao nhất là Thị trấn Phong Châu 1.531 người/km2 (bảng 2.3) [2]
Trang 25Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
35
Bảng 2.3 Tình hình lao động và sử dụng lao động huyện Phù Ninh năm 2008 - 2010
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Phù Ninh)
Số lƣợng
Cơ cấu (%)
Số lƣợng
Cơ cấu (%)
Số lƣợng
Cơ cấu (%) 2009/
2008 2010/
2009
BQ
2008 -
2010
III Tổng số lao động quy LĐ 57.250 100 57.570 100 57.580 100 100,55 100,02 100,29
V Một số chỉ tiêu
Tổng dân số của huyện năm 2010 là 94.904 người, mật độ dân số trung bình 606 người/km2, trong đó dân số nông nghiệp là 84.061 người chiếm 88,57 %,dân số phi nông nghiệp 10.843 người chiếm 11,43%, tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên là 1,46%, dân tộc thiểu số chiếm tỷ trọng nhỏ Tổng số hộ 25.580
hộ, trong đó hộ nông nghiệp là 20.503 hộ, chiếm 80,11% So với các huyện, thành phố khác trong tỉnh Phú Thọ, Phù Ninh là huyện có mật độ dân số thuộc loại trung bình Tuy nhiên, mật độ dân số không đều giữa các xã trong huyện, tập trung cao ở thị trấn Phong Châu và các xã Vĩnh Phú, An Đạo, Bình
Bộ, Tiên Du, Tử Đà [1]
Về phân bổ lao động theo ngành, tổng số lao động năm 2010 là 57.580 người, lao động vẫn tập trung vào nhóm ngành nông, lâm, thủy sản với 75,18% Lao động nông nghiệp là chủ yếu do vậy huyện rất rối rào về nhân lực để sản xuất và phát triển cây ăn quả Mặt khác lao động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ của huyện khá cao so với các huyện miền núi do địa bàn có các doanh nghiệp công nghiệp lớn đặc biệt tại địa bàn huyện Công ty giấy Bãi Bằng, nay là tổng Công ty giấy Việt Nam, Công ty được xây dựng vào những năm 1970 nên tạo điều kiện cho huyện phát triển công nghiệp và dich vụ, thu hút nhiều lao động Tổng lao động trong ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ năm 2010 là 13.663 tăng 8,13 % so với năm 2009, năm 2009 tăng 11,67% và bình quân ba năm tăng 9,88 % như vậy lao động nằm trong ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng qua các năm là do tại địa bàn huyện trong nhưng năm gần đây xuất hiện nhiều xưởng sản xuất giấy tư nhân, và một số cơ sở chế biến chè
Sản xuất của người nông dân trong huyện chủ yếu là ngành nông nghiệp, đời sống người nông dân còn nhiều khó khăn Chính vì vậy, điều cần thiết phải nâng cao thu nhập cho người lao động nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, đó là các
Trang 26Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
cây ăn quả đặc sản có giá trị kinh tế cao cải thiện đời sống của người dân
nông thôn, tạo thêm thu nhập và giải quyết công ăn việc làm tại chỗ cho
người dân nông thôn đặc biệt là những hộ thuộc diện hộ nghèo của huyện [1]
(Nguồn: Phòng Thống kê của huyện Phù Ninh)
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nhìn chung lao động nông nghiệp có xu hướng giảm chứng tỏ hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế trên địa bàn đã có hướng chuyển biến tích cực, tạo việc làm cho lao động sang các ngành sản xuất khác như: Chế biến, khai thác, xây dựng…, làm tăng diện tích đất nông nghiệp/lao động nông nghiệp, tạo điều kiện mở rộng quy mô canh tác ở các vườn CĂQ, tăng thu nhập cho người lao động
Thực tế hiện nay ở huyện đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật còn thiếu nhiều, đòi hỏi phải bổ sung về đào tạo để đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường Đặc biệt là quá trình sản xuất cây ăn quả phải có một lực lượng lao động dồi dào, giàu kinh nghiệm, phải am hiểu kỹ thuật thì sản xuất CĂQ mới đem lại hiệu quả kinh tế cao
2.1.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn huyện Phù Ninh
- Về đường bộ
+ Về quốc lộ, huyện Phù Ninh có Quốc lộ số 2 chạy dọc huyện từ Bắc xuống Nam dài 18 km, đường cấp III miền núi mới được nâng cấp, chất lượng tốt, tạo điều kiện tốt cho giao lưu hàng hóa và phát triển các hoạt động dịch
vụ và thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển công nghiệp
+ Về tỉnh lộ, có 61,5 km chạy qua, trong đó có 51,5 km mặt đường đá dăm láng nhựa chất lượng khá tốt; còn lại 10 km đường cấp phối chất lượng trung bình, bao gồm các tuyến sau:
Đường tỉnh 323 C (tỉnh lộ 307 cũ): Từ phà Then đến Ngã ba Then, dài
10 km, có 9 km đường cấp IV miền núi, và 1 km chưa vào cấp Đường tỉnh lộ
323 C đi qua 2 xã Tử Đà, Phù Ninh
Đường tỉnh 323 D (tỉnh lộ 326 cũ) dài 10 km, đường cấp IV miền núi, mặt đường đá dăm láng nhựa, đi qua các xã Phú Mỹ, Trung Giáp, Trị Quận, Bảo Thanh, Phú Lộc
Trang 27Đường tỉnh 323 (gồm đường tỉnh 326 và 321 cũ) chạy từ tiếp giáp xã
Vĩnh Phú với Thành phố Việt Trì đến Cầu Dượm xã Phú Mỹ dài 32 km tất cả
đạt cấp IV miền núi Tỉnh lộ 323 đi chung tuyến đề Sông Lô chạy qua các xã
Vĩnh Phú, Tử Đà, Bình Bộ An Đạo, Tiên Du, Hạ Giáp, Trị Quận, Phú Mỹ [27]
Đường tỉnh 323 E, dài 8 km, có 1,5 km đường cấp IV miền núi, còn lại
6,5 km đường đất tự nhiên chưa vào cấp Đường tỉnh 323 E chạy qua các xã
14 Số km bê tông hoá đường liên thôn xóm km 52
15 Số xã có điểm bưu điện văn hóa xã xã 15 78,94
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Phù Ninh)
Hệ thống đường tỉnh chia huyện Phù Ninh thành 7 khu vực tương đối bằng nhau Mỗi tiểu vùng kinh tế có ít nhất 2 tuyến tỉnh lộ hoặc tỉnh lộ và quốc lộ chạy qua địa bàn [1]
+ Đường huyện: Toàn huyện Phù Ninh có 54,8 km đường cấp huyện chạy qua, bao gồm các tuyến:
Huyện lộ P1, Trung Giáp - Trị Quận: Tuyến đường dài 5,9 km đi qua xã Trung Giáp, nối cụm xã Phú Mỹ, Trị Quận qua tỉnh lộ 3123 D ra Quốc lộ 2 tới thị trấn Phú Hộ, thị xã Phú Thọ Hiện tại, đường đảm bảo tiêu chuẩn cấp
VI miền núi, có 1,7 km mặt đường láng nhựa, 4,2 km mặt đường cấp phối đồi Huyện lộ P2 Trị quận - Hạ Giáp - Gia Thanh - Phú Lộc: Tuyến đường
đi qua 4 xã, chiều dài 11,7 km, đạt đường cấp V miền núi, trong đó 3 km mặt đường đá dăn láng nhựa, 8,7 km nền đất đang được đầu tư xây dựng Huyện lộ P3: Phú Lộc - Trung Giáp - Tiên Phú: Tuyến đường đi qua 3
xã, chiều dài 16 km, hiện trạng là đường đất cơ bản đạt cấp VI miền núi + Đường xã: Toàn huyện Phù Ninh có 136,65 km đường đất tự nhiên, chưa vào cấp là các tuyến đường liên xã
Ngoài ra huyện Phù Ninh còn có 4,5 km đường chuyên dùng cấp VI láng nhựa của Công ty giấy bãi bằng, phân bố ở thị trấn Phong Châu và xã Tiên Du
đá vôi, vôi cục, nguyên liệu giấy Có 1 bến Phà Then và 5 bến đò ngang do sở Giao Thông vận tải Vĩnh Phúc quản lý
Trang 28Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Điện lưới
Điện lưới quốc gia: Hiện nay 100% xã, thị trấn của huyện Phù Ninh đã
có điện lưới quốc gia Trên địa bàn huyện có hệ thống đường dây trung thế
dài 276,5 km và có 135 trạm biến áp, với tổng công suất là 50.245 KVA Số
hộ sử dụng điện 97,55%; số hộ chưa có điện sinh hoạt chiếm 2,45%, phần lớn
là những hộ khó khăn về kinh tế, những hộ ở xa trung tâm
Nhìn chung, hệ thống điện của Phù Ninh đảm bảo khá tốt cho nhu cầu
phục vụ sản xuất và đời sống Tuy nhiên, việc cấp điện không đều do chế độ
cấp điện chung của hệ thống điện lưới quốc gia Ở một số xã hệ thống điện
cung cấp điện, nhất là hệ thống cột, dây dẫn chưa đảm bảo an toàn Một số
trạm biến áp ở những vùng tập trung (thị trấn Phong Châu, khu công nghiệp)
cần nâng cấp phục vụ nhu cầu tăng nhanh trong những năm tới
- Hệ thống tưới tiêu
Về thủy lợi, nước cho nông nghiệp được lấy từ 2 nguồn: Nước mưa và
nước từ hệ thống sông, suối Nguồn nước mặt của Phù Ninh khá phong phú
với sông Lô và nhiều con suối lớn, nhỏ Số công trình thuỷ lợi là 19 trạm
bơm, với tổng công suất thiết kế là 880 m3/giờ, công suất thực tế đạt 634
m3/giờ Kênh mương cấp 2 trên địa bàn Huyện có 87 km, kênh mương nội
đồng có 105 km, trong đó có 19,2 km được cứng hóa Dù vậy, số công trình
thuỷ lợi hiện có mới chỉ phục vụ tưới tiêu chủ động cho 1.500 ha Phần lớn
diện tích được tưới tiêu là đất trồng cây hàng năm Hiện vẫn còn 400 ha đất bị
hạn và 350 ha còn bị úng ngập, chưa chủ động tưới tiêu
2.1.4 Điều kiện kinh tế của huyện Phù Ninh
- Cơ cấu kinh tế
Phù Ninh chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tỷ trọng của ngành nông, lâm
nghiệp chiếm tỷ trọng thấp nhất 28,99% vào năm 2010, giá trị sản xuất ngành
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng 29,79 % Đây là một nguyên nhân chủ yếu giải thích vì do đâu mà các sản phẩm nông nghiệp nói chung, sản phẩm cây
ăn quả nói riêng bắt đầu trở thành hàng hoá rộng rãi cung cấp trên thị trường, nhưng vẫn còn khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm vì ngành thương mại, dịch vụ mặc dù đang phát triển nhưng vẫn còn chậm, huyện Phù Ninh rất có tiềm năng phát triển các nghành công nghiệp và dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho tiêu thụ quả trên địa bàn huyện Mặt khác, nhờ có vị trí thuận lợi cả về đường bộ và đường thuỷ, dịch vụ thương mại trên địa bàn huyện trong những năm gần đây có nhiều chuyển biến tích cực Tổng mức lưu chuyển hàng hoá trên địa bàn không ngừng tăng năm 2008 đạt 155.260 triệu đồng, đến năm
2010 là 208.370 triệu đồng tăng 53.110 triệu đồng [27]
Bảng 2.6 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện năm 2008 - 2010
(Theo giá cố định 1994)
Chỉ tiêu
Giá trị (Tr.đ)
Cơ cấu (%)
Giá trị (Tr.đ)
Cơ cấu (%)
Giá trị (Tr.đ)
Cơ cấu (%)
2009/
2008 2010/
2009
BQ 2008-
2010
I GTSX Nông, Lâm nghiệp, Thuỷ sản 174.860 28,84 191.960 30,80 202.710 28,99 109,78 105,60 107,66
1 Nông nghiệp 164.220 27,08 180.660 28,98 190.650 27,26 110,01 105,52 107,74
2 Lâm Nghiệp 6.080 1,01 6.380 1,02 6.730 0,96 104,93 105,48 105,20
3 Thuỷ Sản 4.560 0,75 4.920 0,79 5.330 0,76 107,89 108,33 108,11
II GTSX CN, TTCN, XDCB 276.270 45,56 252.460 40,50 288.310 41,22 91,38 114,20 102,15
III GTSX dịch vụ 155.260 25,60 178.860 28,70 208.370 29,79 115,20 116,49 115,84
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Phù Ninh)
Trang 29Đồ thị 2.3 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện năm 2008
(GO tính theo giá năm 1994)
Đồ thị 2.4 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện năm 2010
(GO tính theo giá năm 1994)
Huyện rất chú trọng hệ thống chợ nông thôn, hệ thống chợ được nâng cấp, cải tạo và xây mới Nếu năm 2005 chỉ có 14 xã có chợ đến năm 2010 đạt 100% các xã trong huyện có chợ, cho thấy nhu cầu trao đổi sản phẩm sản xuất ngày càng tăng, sự giao lưu buôn bán mở rộng sản xuất hàng hoá, thị t r ườ n g tiêu thụ ngày càng được chú trọng [26]
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp được chú trọng đặc biệt trong những năm gần đây, các lĩnh vực như công nghệ chế biến chè xanh, vật liệu xây dựng cơ khí nông nghiệp phục vụ sản xuất giấy, chế biến lâm sản (nguyên liệu giấy…) Quy mô sản xuất công nghiệp còn nhỏ, trình độ công nghệ thấp, thiết bị còn lạc hậu, chưa gắn với nguồn nguyên liệu, chất lượng
và mẫu mã sản phẩm thu hút được người tiêu dùng
Chủ chương của huyện khôi phục giống hồng Gia Thanh, giống hồng đặc sản của huyện và phát triển hoa màu lương thực Hai sản phẩm này có khối lượng lớn nhưng chưa có công nghiệp chế biến; chè xanh có khối lượng lớn nhưng giá trị sản phẩm chế biến chưa cao Sản xuất vật liệu xây dựng (gạch, cát, sỏi ) chưa được đầu tư phát triển thoả đáng
Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản năm 2010 tăng 14,2% so với năm 2009, đạt 288.310 triệu đồng Trong nhiều năm qua, nguồn vốn dành cho các tỉnh miền núi trong đó Phù Ninh khá nhiều, nguồn vốn dành cho tập trung phát triển sản xuất CĂQ đặc biệt là huyện đã được sự chỉ đạo của cấp trên khôi phục lại giống hồng Gia Thanh, cây ăn quả đặc sản của huyện Huyện đã có dự án xây dựng mô hình trồng và thâm canh giống hồng Gia Thanh trên đất đồi sau khai thác cây bạch đàn thuộc chương trình xây dựng mô hình ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn và niềm núi [25]
Giá trị sản xuất CĂQ nằm trong nguồn thu trong giá trị sản xuất cây lâu năm thuộc giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, vì vậy để xem xét sự đóng góp của giá trị sản xuất CĂQ trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (bảng 2.7, đồ thị 2.3, 2.4.)
Trang 30Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 2.7 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của huyện Phù Ninh năm 2008 - 2010
(Tính theo giá cố định năm 1994)
Giá trị (tr.đ)
C.cấu (%)
Giá trị (tr.đ)
C.cấu (%) 2009/
2008 2010/
2009 BQ2008-
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Phù Ninh)
- Cơ sở dịch vụ nông nghiệp: Gồm nhiều cơ sở như Trung tâm Khuyến
nông và các trạm, trại giống cây trồng, trung tâm giống cây trồng, trung tâm
chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp; trung tâm học tập cộng đồng; các cửa hàng
vật tư, bảo vệ thực vật, thuốc thú y; các trung tâm ươm giống cây ăn quả, cây
lâm nghiệp… có khả năng cung cấp đủ giống cây trồng, vật nuôi có chất
lượng cao cho vùng
- Cơ sở chế biến: Gồm có sản xuất mành cọ, chế biến gỗ, các xưởng
sản xuất giấy tư nhân, sản xuất mành luồng, xưởng xẻ - chế biến đồ gia dụng,
các cơ sở sản xuất, kinh doanh kinh doanh gỗ nguyên liệu, đặc biệt là gỗ làm
nguyên liệu giấy, kinh doanh tre, vật liệu xây dựng, chế biến chè xanh, chè
đen, máy xay sát tư nhân… các cơ sở chế biến còn nhỏ lẻ, xong cũng phần
nào góp phần nâng cao giá trị kinh tế của việc trồng và phát triển nông nghiệp
nói chung, cây ăn quả nói riêng
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tóm lại: Huyện Phù Ninh có những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
thuận lợi, về kết cấu hạ tầng khá phát triển so với các huyện khác trong tỉnh
Đó là những thuận lợi rất lớn cho phát triển cây ăn quả của huyện Để thúc đẩy nhanh hơn nữa phát triển sản xuất hàng hoá, đòi hỏi phải đầu tư nhiều cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng thì mới đáp ứng nhu cầu của thực tiễn
2.1.5 Nhân tố kỹ thuật
- Giống: Chọn những giống có năng suất cao, ổn định, không sâu bệnh,
phẩm chất tốt Chọn được những giống chín sớm, chín muộn để kéo dài thời gian cung cấp quả tươi cho thị trường như giống vải Phú Hộ và hồng Gia Thanh [24]
- Thời vụ trồng cây: CĂQ được trồng vào hai vụ trong năm vụ xuân
trồng tháng 2, tháng 3 và đầu tháng 4, vụ thu trồng tháng 8, tháng 9, tháng 10 Nhưng có điều kiện chuẩn bị đầy đủ về giống, vật tư, phân bón thì nên trồng cây vào vụ xuân hơn vì thời tiết thuận lợi hơn cho việc trồng cây, cây nhanh bén rễ và ra mầm, cây đạt tỷ lệ sống cao hơn
- Chăm sóc: Tuỳ thuộc vào các loại đất đai, tuổi cây, tình trạng sinh
trưởng mà bón lượng phân thích hợp Hiện nay trên thị trường có nhiều loại phân có thể bón qua lá, một số chế phẩm đậu quả làm kích thích tăng tỷ lệ đậu hoa, quả, tăng năng suất cây trồng Tỉa cành, tạo hình là biện pháp giúp cho cây có được bộ khung cân đối, tán cây thoáng tăng khả năng quang hợp, chống chịu được với điều kiện tự nhiên như: Gió, bão, giảm bớt sâu bệnh trú ngụ phát triển Cây nhanh ra hoa kết quả, tập trung dinh dưỡng cho cây, tạo cho cây có năng suất cao, ổn định [5]
- Phòng trừ sâu bệnh: Cần phải phòng trừ sâu bệnh kịp thời Khi phát
hiện các loại sâu bệnh thì cần xem xét kỹ lưỡng để chọn loại thuốc sâu cho phù hợp và phun đúng liều lượng, không ảnh hưởng đến chất lượng quả khi thu hoạch
Trang 31- Thu hoạch và bảo quản: Đối với từng loại CĂQ cần thu hoạch kịp
thời để không gây ảnh hưởng đến phẩm chất quả, không nên thu hoạch quá
sớm hoặc quá muộn, trước khi thu hoạch cần ước lượng sản lượng thu được
để có kế hoạch thu hái, vận chuyển và tiêu thụ Đối với hồng thu hoạch cần
nhẹ nhàng tránh sát vỏ, gẫy cành, rụng lá
2.1.6 Cơ chế chính sách
Chính sách vĩ mô của Nhà nước về vốn, đất đai, chính sách phát triển
nông nghiệp… đặc biệt là chính sách chuyển giao quyền sử dụng đất lâu dài,
chính sách khuyến khích các trang trại sản xuất và kinh doanh CĂQ, chính
sách trợ vốn cho vùng nghèo, vùng núi để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc,
xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng chính sách khuyến nông, khuyến lâm… có
tác động tích cực để phát triển sản xuất cây ăn quả [19]
Chính sách của tỉnh khuyến khích phát triển sản xuất cây ăn quả, tuyển
chọn phục tráng khôi phục một số cây ăn quả đặc sản của tỉnh Phú Thọ Một số
cây ăn quả đặc sản như hồng Gia Thanh ở huyện Phù Ninh, bưởi Đoan Hùng ở
huyện Đoan Hùng
Để làm được điều đó, cán bộ chính quyền các cấp phải có năng lực và
trình độ vững vàng, mạnh dạn chủ động đề xuất kiến nghị và tham mưu với
các cấp lãnh đạo đưa ra các chính sách và những quyết định quản lý hữu hiệu,
nhằm tạo ra các cơ chế khuyến khích, lôi kéo các hộ nông dân trồng và phát
triển sản xuất cây ăn quả
2.1.7 Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong quá trình sản xuất và phát triển
sản xuất cây ăn quả của huyện
2.1.7.1 Thuận lợi
- Huyện Phù Ninh là một trong những vùng sản xuất cây ăn quả, có
vị trí tương đối thuận lợi, Phía Bắc của huyện giáp huyện Đoan Hùng, tỉnh
Phú Thọ và huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang Phía Đông giáp huyện
Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc Phía Tây huyện giáp huyện Thanh Ba và thị xã Phú Thọ Phía Nam giáp huyện Lâm Thao và thành phố Việt Trì Với vị trí địa lý trên, Phù Ninh có những điều kiện địa lý khá thuận lợi cho phát triển kinh tế theo hướng khai thác các tiềm năng lợi thế so sánh và hội nhập vào nền kinh tế thế giới
- Là huyện có điều kiện thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng
và chăn nuôi, tiềm năng đất nông, lâm nghiệp dành cho sản xuất cây ăn quả còn lớn, song điều cần quan tâm, phải có chiến lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng một cách hợp lý thành vùng chuyên môn hoá sản xuất CĂQ hàng hoá theo thế mạnh của vùng
- Kinh tế huyện có xu hướng chuyển dịch tốt, tốc độ tăng trưởng khá với nguồn lao động dồi dào, trẻ, trình độ ngày càng được nâng cao, đây sẽ là nguồn lực để khai thác tiềm năng nguồn lực thuận lợi về điều kiện tự nhiên, đất đai để phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới
2.1.7.2 Khó khăn
- Phù Ninh là một huyện miền núi có địa hình phức tạp, một số cơ sở
kỹ thuật, cơ sở hạ tầng đang xuống cấp, đường liên thôn, xóm chủ yếu là đường đất, điều kiện đi lại khó khăn (đặc biệt vào mùa mưa), mặc dù được quan tâm nhưng chưa có chi phí hoàn thiện công trình nên ảnh hưởng lớn đến cuộc sống cộng đồng và lưu thông hàng hoá
- Huyện Phù Ninh có nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất cây ăn quả (hồng, vải) thành vùng sản xuất hàng hoá, nhưng hiện tại cơ sở hạ tầng còn đang ở mức độ thấp Các cơ sở sản xuất giống cây trồng, bảo quản, chế biến hầu như chưa có Trình kỹ thuật của người dân còn thấp mà sự chỉ đạo, hướng dẫn, đào tạo còn chưa đáp ứng được
Trang 32Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Huyện có tiềm năng mở rộng diện tích gieo trồng các cây nông
nghiệp đặc biệt là cây ăn quả Song, khả năng nguồn lực về vốn trong dân còn
yếu, kém, hộ đói nghèo còn chiếm tỷ lệ lớn Thu nhập bình quân đầu người
thấp so với nhu cầu thực tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, tập quán canh
tác còn lạc hậu, áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất còn chậm đất
đai kém màu mỡ do khai thác sử dụng, khả năng tiếp cận thông tin thị
trường còn hạn chế
- Phù Ninh là huyện nghèo về tài nguyên quý, kể cả về tài nguyên khoáng
sản và tài nguyên động thực vật nên khó tạo bước chuyển đột biến về nội lực
trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là nông, lâm, thủy sản và công nghiệp
2.2 Tình hình sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả của huyện Phù
Ninh, tỉnh Phú Thọ
2.2.1 Thực trạng sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả tại huyện
Phù Ninh
Trước đây Phù Ninh là một huyện trung du miền núi nghèo của tỉnh
Phú Thọ, gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế vì đất đai kém màu mỡ,
rất khó khăn trong việc tưới tiêu, cây trồng phụ thuộc nhiều vào điều kiện
thiên nhiên, nên thu nhập nông nghiệp thất thường, cuộc sống của người
dân nơi đây còn gặp phải nhiều khó khăn Người dân khai thác rừng cạn kiệt
để lại đất trống, đồi núi trọc, cuộc sống chủ yếu dựa vào làm vườn, trồng
cây ăn quả Những năm gần đây, sản xuất cây ăn quả dần tăng diện tích lên
dần hình thành vùng sản xuất hàng hoá Đây là một thế mạnh, mũi nhọn
trong sản xuất nông nghiệp nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đa dạng hoá cây
trồng, cải thiện đời sống nhân dân trên toàn huyện, diện tích cây ăn quả hàng
năm đều tăng lên
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 2.8 Diện tích cây ăn quả của huyện Phù Ninh qua các năm
Xã, Thị trấn
BQ 2008-
2010
Diện tích (ha)
C.cấu (%)
Diện tích (ha)
C cấu (%)
Diện tích (ha)
C.cấu (%) 2009/
2008 2010/
2009
Tổng 1.267,78 100 1.332,8 100 1.397,9 100 105,13 104.88 105,01
TT Phong Châu 100,62 7,85 101,7 7,63 108 7,73 101,07 106,19 103,6 Phú Mỹ 81,82 6,45 85,15 6,39 90,50 6,49 104,07 106,28 105,17
Lệ Mỹ 110,02 8,67 113,35 8,50 114,2 8,17 103,03 100,74 101,88 Liên Hoa 91,12 7,19 94,45 7,09 95,30 6,82 103,65 100.89 102,27 Trạm thản 73,92 5,83 77,25 5,79 78,10 5,59 104,5 101,10 102.78 Trị quận 74,82 5,90 78,15 5,89 79,00 5,65 104,45 101,09 102.76 Trung giáp 134,02 10,57 137,35 10,30 138,20 9,88 102,48 100,61 101,78 Tiên phú 25,37 2,00 28,7 2,15 29,55 2,11 113,13 102,96 107.92
Hạ Giáp 30,02 2,37 33,35 2,50 34,20 2,45 111,09 102,54 106,73 Bảo Thanh 46,12 3,64 49,45 3,71 50,30 3,59 107,22 101,72 107,50 Phú Lộc 42,82 3,38 46,15 3,46 47,00 3,36 107,78 101,84 104,77 Gia Thanh 148,42 11,71 151,75 11,38 158,6 11,35 102,24 104,51 103,37 Tiên Du 24,92 1,97 28,25 2,12 29,10 2,08 113.36 103,01 108,06 Phú Nham 35,82 2,83 39,15 2,94 46 3,29 109,29 117,50 113,32 Bình Bộ 102,32 8,07 105,65 7,93 112,5 8,05 103,25 106,48 104,86
An Đạo 59,02 4,66 62,35 4,68 69,2 4,95 105,64 110,98 108,28
Tử Đà 17,62 1,39 20,95 1,57 27,8 1,99 118,89 132,69 125,61 Phù Ninh 56,87 4,49 60,2 4,51 67,05 4,78 105,85 111,38 108,58 Vĩnh phú 13,12 1,03 16,45 1,23 23,53 1,67 125,38 143,03 133,91
(Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Phù Ninh)
Theo điều tra các nông hộ, họ rất chú trọng phát triển cây ăn quả, đồng thời với các chính sách hỗ trợ nông thôn niềm núi của tỉnh lên diện tích cây ăn quả của các hộ nông dân của các xã trong huyện đều ra tăng Như vậy, tổng diện tích trồng cây ăn quả của Phù Ninh năm 2008 là 1.267,78 ha
Trang 33chiếm 15,66% diện tích đất nông nghiệp, năm 2009 là 1.332,8 ha chiếm
16,71%, năm 2010 là 1.397,9 ha chiếm 17,93% Tỷ lệ đất như trên, trong cơ
cấu sản xuất nông nghiệp còn nhỏ so với khả năng và yêu cầu cần phát triển
(bảng 2.8) [1]
Hai xã có diện tích trồng cây ăn quả lớn và tập trung là Gia Thanh và
Trung Giáp với năm 2010 xã Gia Thanh là 158,6 ha, xã Trung Giáp tổng số
138,2ha Xã có diện tích thấp nhất là Vĩnh Phú với 16,45 ha (năm 2009) và
23,53 ha (năm 2010) [2]
Diện tích cây ăn quả ở các xã có xu hướng tăng lên qua các năm, nhận
biết được nhu cầu của thị trường các hộ nông dân ở các xã đã mở rộng diện
tích trồng cây ăn quả, đặc biệt là trồng cây ăn quả có tính hàng hoá cao [3]
Người dân Phù Ninh đã có tập quán trồng cây ăn quả như hồng Gia
Thanh từ lâu đời, song các cây ăn quả đặc sản chỉ được trồng tập trung tại
các xã nổi tiếng trồng CĂQ có hương vị thơm ngon, hồng Gia Thanh, Bảo
Thanh Diện tích một số cây ăn quả chính như hồng, xoài, vải có diện tích và
sản lượng tăng lên đáng kể, một số cây ăn quả khác không thích hợp với
điều kiện môi trường hoặc không có hiệu quả kinh tế đã được dần loại bỏ để
trồng các cây ăn quả đặc sản thế mạnh của vùng
Việc đầu tư KTCB hết sức quan trọng và rất quyết định đến sự phát
triển của cây ăn quả ở giai đoạn sau; nếu giai đoạn trước đầu tư còn thấp thì
giai đoạn sau phải đầu tư cao hơn nếu không cây ăn quả phát triển sẽ kém
và năng suất thấp Vì vậy để tìm hiểu xem việc đầu tư ở giai đoạn KTCB ra
sao đối với 3 cây ăn quả chủ lực của huyện (bảng 2.9, 2.10, bảng 2.11)
Tình hình đầu tư ở thời kỳ KTCB của cây hồng là cao nhất, cây vải
có khối lượng vốn đầu tư hơn cây xoài, điều này cho thấy đầu tư cho cây vải
sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, xoài thường chín không đều rải rác và
hay rụng nên năng suất sẽ thấp hơn cây vải
Bảng 2.9 Chi phí sản xuất cho 1 ha cây hồng KTCB của huyện năm 2010
Hộ đầu tƣ cao Hộ đầu tƣ tr.bình Hộ đầu tƣ thấp
Số lƣợng
Giá trị (Tr.đồng)
Số lƣợng
Giá trị (Tr.đồng)
Số lƣợng
Giá trị (Tr.đồng)
Trang 34Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nhìn chung sản xuất CĂQ ở Phù Ninh đang có những chuyển biến
tốt theo cơ chế thị trường, đặc biệt là chính sách giao đất, giao rừng cho hộ
nông dân của Đảng và Nhà nước ta đã tạo ra môi trường thuận lợi cho người
nông dân vươn lên chủ động trong sản xuất, sử dụng đất có hiệu quả hơn
bằng cách thay thế cây trồng kém hiệu quả bằng các cây trồng có hiệu quả
kinh tế cao Tuy nhiên, với tiềm năng kinh tế của Phù Ninh và kinh nghiệm
sản xuất của hộ nông dân, thì sự biến đổi trên đứng tr ướ c một thực tế là
vốn đầu tư cho CĂQ chưa thoả đáng, đời sống của người nông dân ở giai
đoạn CĂQ trong thời kỳ KTCB (không có thu hoạch sản phẩm quả) rất khó
khăn, chính vì vậy, CĂQ không phải là đối tượng được quan tâm chăm sóc
đúng quy trình kỹ thuật, dẫn đến cây cho năng suất giảm
Đa số các hộ còn thiếu lao động, làm nhiều công việc khác, hoặc đi
làm thuê, làm mướn lấy tiền chi tiêu hàng ngày, vì vậy họ sao lãng trong
việc chăm sóc vườn CĂQ của mình và chỉ làm tranh thủ lúc nhàn rỗi Không
có người theo dõi thường xuyên vườn CĂQ sát sao, đặc biệt là cây hồng
nên nhiều khi bị sâu bệnh phá hoại nặng mới phát hiện ra, không chữa được
mà phải chặt để tiêu huỷ mầm bệnh Nói chung việc thực hiện chăm sóc cây
trồng trên thực tế chưa đúng quy trình kỹ thuật là phổ biến của các hộ nông
dân trong huyện
Theo số liệu tính toán được, trong chi phí sản xuất cây ăn quả ở giai
đoạn KTCB gồm các hạng mục chủ yếu đó là chí phí về giống, chi phí về
phân bón và quan trọng hơn cả là chi phí về nhân công trong đó chi phí nhân
công chiếm tỷ lệ cao trên 60% vì giá ngày công lao động hiện tại là rất cao
So với 3 cây trồng chủ lực của huyện thì chi phí đầu tư cho cây hồng là
cao nhất, với chi phí đầu tư cho 1 ha hồng với hộ đầu tư cao là trên 45
Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
triệu/ha, hộ đầu tư thấp là trên 25 triệu đồng/ha, cây vải hộ đầu tư cao là trên
34 triệu đồng/ha, hộ đầu tư thấp là trên 16 triệu/ha, cây xoài hộ đầu tư cao là trên 30 triệu đồng/ha, hộ đầu tư thấp là trên 16 triệu /ha Chứng tỏ cây vải đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu lớn hơn cây xoài, các chỉ tiêu tính hiệu quả kinh
tế của cây xoài đều thấp hơn cây hồng và cây vải Do đó, cho dù cây xoài là cây tốn nhiều công sức đầu tư cũng như gắn bó thân thuộc với người dân thì
họ cũng phải quyết định loại bỏ cây trồng này để thay thế bằng cây trồng khác
có HQKT cao hơn
Kết quả nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu cây ăn quả Phú Hộ - Viện nghiên cứu rau quả, Trường trung học Nông lâm nghiệp Khải Xuân, Hội làm vườn tỉnh Phú Thọ xác định giống hồng Gia Thanh ra hoa đậu quả tốt, quả to không có rãnh đặc biệt là không có hạt Khi chín vỏ và thịt quả màu vàng, ăn giòn và ngon Với ưu điểm này giống hồng gia thanh dễ bán và được giá hơn so với hồng Hạc Trì và giống hồng khác Dó đó hồng Gia Thanh là loại cây ăn quả đặc sản của huyện, có giá trị kinh tế cao Chính vì vậy mà mặc dù chi phí đầu tư cho cây hồng tương đối cao hơn so với các cây khác nhưng cũng đem lại giá trị kinh tế cao hơn so với các cây khác