Cùng với xu thế phát triển nông nghiệp hàng hoá hội nhập, bên cạnh việc đầu tư cho sản xuất cây lương thực, một yêu cầu bức thiết với nền nông nghiệp nước ta cần phải đa dạng các sản phẩ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
-
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CÂY
ĂN QUẢ TẠI HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thái Nguyên - 2008
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
-
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CÂY
ĂN QUẢ TẠI HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐỖ THỊ BẮC
Thái Nguyên - 2008
Trang 2MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phát triển kinh tế sản xuất cây ăn quả cũng như bất kỳ ngành sản xuất
kinh doanh nào, muốn tồn tại và phát triển, đứng vững trên thương trường thì
vấn đề hiệu quả kinh tế (HQKT) phải được đặt lên hàng đầu Qua mỗi thời kỳ
sản xuất kinh doanh phải phân tích tìm ra những ưu điểm tồn tại, có hướng khắc
phục tổ chức sản xuất, trong chu kỳ sản xuất tiếp theo [17]
Cùng với xu thế phát triển nông nghiệp hàng hoá hội nhập, bên cạnh việc
đầu tư cho sản xuất cây lương thực, một yêu cầu bức thiết với nền nông nghiệp
nước ta cần phải đa dạng các sản phẩm cây trồng, thay đổi cơ cấu cây trồng theo
hướng tăng tỷ trọng các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao Do đó, ngành trồng
trọt không thể thiếu việc phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất cây ăn quả
theo thế mạnh của từng vùng Đó là nhu cầu thiết thực, phát triển tích cực, khai
thác được lợi thế so sánh của các huyện miền núi nói riêng và nông thôn Việt
Nam nói chung
Xuất phát từ thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách cụ
thể khuyến khích đầu tư cho phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp trên cơ sở phát
huy lợi thế vùng, đặc biệt chú trọng đến các vùng có loài cây ăn quả đặc sản
Đoan Hùng là huyện miền núi thuộc tỉnh Phú Thọ được chọn là vùng
trọng điểm để phát triển các loại cây ăn quả, tiềm năng phát triển cây ăn quả rất
lớn và từ lâu được biết đến với những trái cây đặc sản nổi tiếng như: Bưởi Đoan
Hùng, xoài Vân Du, vải Hùng Long song để những trái cây này được thị
trường chấp nhận và có thương hiệu thực sự chưa được quan tâm chú ý, dẫn đến
tình trạng hiệu quả sản xuất chưa cao, đời sống của người nông dân thấp kém
Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả tại huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ” nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá về cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả
- Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất cây
ăn quả trên địa bàn huyện Đoan Hùng năm 2005 - 2007
- Đưa ra định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả huyện Đoan Hùng đến năm 2015
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3.l Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về hiệu quả kinh tế và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cây ăn quả của huyện, các hộ, trang trại và vùng trồng cây ăn quả tại huyện Đoan Hùng
Trang 33
- Về thời gian: 2005 - 2007
- Về nội dung:
Nghiên cứu về thực trạng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất
cây ăn quả tại huyện Từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh
tế sản xuất cây ăn quả của huyện
Tuy vậy, vấn đề hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả là rất rộng, vì vậy
luận văn tập trung nghiên cứu, giải quyết chủ yếu ba cây ăn quả chính là cây
bưởi, cây xoài và cây vải
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn là tài liệu
tham khảo giúp huyện Đoan Hùng xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển
nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả Luận văn nghiên cứu tương đối
toàn diện về hệ thống, có ý nghĩa thiết thực cho quá trình sản xuất cây ăn quả tại
huyện Đoan Hùng và đối với các địa phương có điều kiện tương tự
5 BỐ CỤC CỦA LẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn bao gồm 3
chương chính:
- Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế, nâng cao hiệu
quả kinh tế sản xuất cây ăn quả; phương pháp nghiên cứu
- Chương II: Thực trạng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất
cây ăn quả tại huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ
- Chương III: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ, NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ;
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CĂQ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1.1 Ý nghĩa của việc phát triển cây ăn quả
Cây ăn quả có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống và trong nền kinh tế quốc dân Quả là những sản phẩm có giá trị sử dụng rộng rãi, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng, các chất vi lượng, khoáng chất bổ dưỡng, là nguồn dược liệu quý có tác dụng phòng chữa bệnh cho con người
Trồng CĂQ có tác dụng cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đưa các
hộ nông dân từ nghèo, đói lên hộ có thu nhập khá và hộ giàu Hiệu quả kinh tế
và sự ổn định của vườn cây ăn quả gắn liền với cuộc sống định canh, định cư, hạn chế phá rừng làm nương rẫy [40]
Hội nhập kinh tế thế giới, sản phẩm quả càng có giá trị thương phẩm cao, giải quyết công ăn việc làm góp phần tăng thu nhập cho người lao động
- Phát triển CĂQ ở Việt Nam góp phần thúc đẩy quá trình: Phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng tài nguyên rừng, bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái Vườn CĂQ có tác dụng cải tạo môi trường sinh thái, tạo không khí trong lành, phong cảnh tươi đẹp, hình thành các vườn du lịch sinh thái nông nghiệp
- Phát triển cây ăn quả góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, chuyển nền kinh tế độc canh, tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững [42]
- Phát triển CĂQ gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến và dịch vụ thương mại như bao bì, thuỷ tinh, đồ hộp, dịch vụ vận chuyển Góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh hiện đại
1.1.2 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật sản xuất cây ăn quả
Cây ăn quả thường được trồng rải rác trên địa bàn rộng, cây sống lâu năm
và có chu kỳ kinh tế dài Tuy nhiên, với mỗi loài, mỗi giống CĂQ lại có tính thích ứng với từng tiểu vùng khí hậu, tính chất đất đai khác nhau, hình thành nên
Trang 4các vùng chuyên sản xuất CĂQ đặc sản có hương vị đặc trưng riêng [33]
Các yếu tố đất đai, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm không khí, và các hiện
tượng đặc biệt của thời tiết như giông bão, sương muối, mưa đá ảnh hưởng lớn
đến năng suất, sản lượng và phẩm chất quả thu hoạch được Sự khác nhau về
yếu tố khí hậu giữa các vùng sinh thái tạo nên các kiểu thời tiết đặc trưng và
cũng hình thành nên các vùng trồng cây ăn quả đặc trưng rất thích hợp với quá
trình sinh trưởng và phát triển một số giống cây trồng đặc thù đem lại hiệu quả
kinh tế cao (đầu tư chi phí ít mà năng suất, sản lượng, chất lượng quả thu được
cao, bán được giá vì được thị trường ưa thích) [1]
Cây ăn quả thường là loại cây sinh trưởng trải qua hai thời kỳ: Kiến thiết
cơ bản (KTCB) và kinh doanh Thời kỳ KTCB dài hay ngắn còn phụ thuộc vào
giống cây có đặc tính sinh học riêng, điều kiện sinh thái, và chế độ chăm sóc của
con người, thông thường ở những năm đầu cây chỉ có sinh trưởng mà chưa có sự
ra hoa kết quả Vì vậy, cây ăn quả là loại cây trồng đòi hỏi có chi phí đầu tư ban
đầu lớn, cây trồng dài ngày
- Một đặc điểm nữa là cây ăn quả thường được trồng trên các sườn đồi và
vườn đồi khá cao trong vườn của các hộ gia đình, CĂQ được trồng xen cùng các
cây khác trong thời gian đầu
- Sản xuất trồng cây ăn quả tập trung trên quy mô lớn sẽ tạo được công ăn
việc làm và thu hút được khá nhiều là lao động trong vùng, nâng cao đời sống
của các hộ gia đình, phân bố lại cơ cấu cây trồng
- Với mỗi giống CĂQ khác nhau sẽ cho các loại quả có hương vị riêng và
năng suất nhất định vì vậy khâu lựa chọn giống ban đầu cũng có ảnh hưởng lớn
đến kết quả và HQKT sản xuất CĂQ
- Trên địa hình sườn đồi, núi có thể trồng được các loại cây nông lâm
nghiệp khác thay thế cây ăn quả Do vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh tế CĂQ
phải so sánh được nó cao hay thấp so với hiệu quả kinh tế của các cây trồng đó
với sản xuất CĂQ
- Hiện nay, CĂQ thường được trồng rải rác trong các vườn đồi của các hộ
gia đình vì vậy khi tính toán xác định hiệu quả kinh tế phải được quy về mét
vuông thành diện tích trồng CĂQ
- Phát triển trồng cây ăn quả hiện nay chủ yếu phát triển ở hộ nông dân,
quy mô diện tích trồng nhỏ lẻ từ
- CĂQ là loại cây lưu niên và khi đã cho khai thác quả thì cho khai thác
nhiều lần, mỗi lần lại có sản lượng quả khác nhau vì vậy khi chăm sóc và phòng trừ bệnh hại có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả thu được và nâng cao hiệu quả kinh
tế trong sản xuất CĂQ
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
1.2.1 Các quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh tế
Với bất cứ ngành sản xuất vật chất nào, sản phẩm hàng hoá dịch vụ được tạo ra là kết quả của sự phối hợp các yếu tố đầu vào với trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất nhất định [7] Tuy vậy khi bắt tay vào thực tế sản xuất, con người
có nhiều cách phối hợp các yếu tố đầu vào với những công nghệ sản xuất khác nhau
Khi phân tích hiệu quả kinh tế mà mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh thu được không thể tách rời phân tích rủi ro Với mỗi câu hỏi đặt ra cho nhà sản xuất
là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào? Thì câu hỏi sản xuất như thế nào hay bằng cách nào chính là trình độ sản xuất, trình độ kỹ thật công nghệ …
Việc lựa chọn để ứng dụng kỹ thuật công nghệ phụ thuộc vào điều kiện trình độ sản xuất và khả năng tài chính để tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất và đồng thời hạn chế được rủi ro ở mức thấp nhất Nền kinh tế chịu sự chi phối bởi quy luật nguồn lực khan hiếm, trong khi đó nhu cầu của xã hội về hàng hoá dịch
vụ ngày càng tăng và đa dạng Do vậy, đòi hỏi xã hội phải lựa chọn, từng cơ sở sản xuất, kinh doanh phải lựa chọn, sao cho với một lượng nguồn lực nhất định, phải tạo ra được khối lượng hàng hoá và dịch vụ cao nhất Đây là mục tiêu của xã hội và của mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh [6]
Trong mọi hình thái kinh tế xã hội, vấn đề HQKT luôn là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan Nó xuất phát từ mục đích của sản xuất và sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Hiệu quả kinh tế được bắt nguồn từ sự thoả mãn ngày càng tăng các nhu cầu vật chất và tinh thần của tất cả các thành viên trong xã hội cũng như khả năng khách quan của sự lựa chọn trên cơ sở trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự giới hạn của nguồn lực Quá trình tái sản xuất vật chất, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra là kết qủa của sự phối hợp các yếu tố đầu vào theo công nghệ, kỹ thuật sản xuất nhất định [5] Khi bắt tay vào sản xuất, nhà sản xuất có nhiều cách phối hợp các yếu tố đầu vào với các công nghệ khác nhau C.Mác nói rằng “Xã hội này khác xã hội khác không phải sản xuất ra cái gì mà sản xuất ra cái đó bằng cách nào” [5] Thực
Trang 57
tế cho thấy sự khác nhau đó chính là trình độ sản xuất, trình độ kỹ thuật công
nghệ tuy vậy, để ứng dụng kỹ thuật công nghệ hiện đại hay không lại phụ thuộc
vào nhiều điều kiện trong đó quan trọng là khả năng nguồn tài chính ra sao?
Các nhà kinh tế học đã chứng minh rằng nền kinh tế chịu sự chi phối
bởi quy luật khan hiếm nguồn lực, trong điều kiện nhu cầu của toàn xã hội về
hàng hoá và dịch vụ ngày càng tăng lên đa dạng Vì vậy, bắt buộc xã hội phải
lựa chọn, từng cơ sở sản xuất, kinh doanh phải lựa chọn, sao cho sử dụng một
nguồn lực nhất định, phải tạo ra được khối lượng hàng hoá và dịch vụ cao tối
đa nhất Đó là một trong những mục tiêu quan trọng của xã hội và từng cơ sở
sản xuất, kinh doanh [7]
Nói cách khác trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận cho mình các cơ sở sản
xuất, kinh doanh ở một mức độ sản xuất nhất định phải tính toán làm sao để có
chi phí vật chất và chi phí lao động trên một đơn vị sản phẩm là thấp nhất Có
như vậy thì lợi nhuận của nhà sản xuất cũng như lợi ích của người lao động và
toàn xã hội mới được nâng lên, nguồn lực được tiết kiệm Từ đó, cho thấy hiệu
quả kinh tế cần được coi trọng hàng đầu khi bắt tay vào sản xuất, hiệu quả kinh tế
là sử dụng hợp lí và tiết kiệm nguồn lực [8]
Để đánh giá kết quả sản xuất sau một thời gian nhất định ta có thước đo
về mặt số lượng và giá trị sản phẩm sản xuất ra có thoả mãn nhu cầu hay không,
và đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất tức là xem xét tới chất lượng quá trình sản
xuất đó Hiệu quả có nhiều loại như hiệu quả kĩ thuật, hiệu quả phân bổ, hiệu
quả kinh tế, hiệu quả sản xuất, hiệu quả xã hội tuy vậy hiệu quả kinh tế là
trọng tâm nhất
HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng các hoạt động
kinh tế Vì vậy nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế là nâng cao hiệu quả kinh
tế HQKT là thước đo, một chỉ tiêu chất lượng, phản ánh trình độ tổ chức sản
xuất, trình độ lựa chọn, sử dụng, quản lý và khả năng kết hợp các yếu tố đầu vào
của sản xuất của từng cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng như toàn bộ nền kinh tế Có thể
nói hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất lượng
hiệu quả kinh tế và phản ánh lợi ích chung của toàn xã hội, là đặc trưng của mọi
nền sản xuất xã hội [6]
Theo quy luật mối liên hệ phổ biến và sự vận động phát triển thì mọi hiệu
quả kinh tế của các thành viên trong xã hội đều có mối quan hệ với nhau và có tác
động đến hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Với nền kinh tế nước
8
ta là nền kinh tế nhiều thành phần, phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy các thành phần kinh tế này có quan hệ với nhau, tác động đến nhau, bổ sung cho nhau đồng thời phụ thuộc lẫn nhau Mỗi thành phần kinh tế tồn tại trong xã hội ở các thời kỳ khác nhau luôn có mục tiêu và yêu cầu riêng của mình, tuy nhiên vấn đề hiệu quả kinh
tế là mối quan tâm hàng đầu để các thành phần kinh tế này có thể tồn tại và phát triển đi lên Song, hiệu quả kinh tế không đơn thuần là một phạm trù kinh tế chỉ
đề cập đến kinh tế tài chính mà nó còn gắn liền với ý nghĩa xã hội [5]
Cơ sở của sự phát tiển xã hội chính là sự tăng lên không ngừng của lực lượng vật chất và phát triển kinh tế có hiệu quả tăng khả năng tích luỹ và tiêu dùng, tạo điều không ngừng nâng cao trình độ văn hoá, khoa học, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, bảo vệ môi trường sinh thái, an ninh quốc gia…[13] Khi xác định phân tích hiệu quả kinh tế phải tính tới các vấn đề xã hội phức tạp Chính vì vậy, việc giải bài toán xác định, đánh giá, so sánh hiệu quả kinh tế là vấn đề hết sức khó khăn và đôi lúc mang tính chất tương đối như giải pháp về tổ chức kinh
tế và chính sách kinh tế trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế …
Do đó, trong quá trình sản xuất của con người không chỉ đơn thuần quan tâm đến hiệu quả kinh tế mà đòi hỏi phải xem xét đánh giá một cách tích cực và hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường sinh thái tự nhiên xung quanh
Tóm lại, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế vốn có trong mọi hình thái kinh tế xã hội, nó phản ánh mặt chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh của con người Hiệu quả kinh tế là trong quá trình sản xuất kinh doanh phải biết tiết kiệm
và sử dụng tối đa tiềm năng của nguồn lực, tiết kiệm chi phí, đồng thời phải thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng số lượng và chất lượng sản phẩm, hàng hoá dịch vụ cho
xã hội Tuy vậy, kết quả sản xuất kinh doanh cuối cùng cái cần tìm là lợi nhuận Nhưng, để đạt được mục đích tối đa hoá lợi nhuận và không ngừng phát triển tồn tại lâu dài thì mọi doanh nghiệp phải quan tâm đến vấn đề hiệu quả kinh tế, phải tìm mọi biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế
1.2.2 Một số loại hiệu quả cơ bản
Hiệu quả được nhắc đến nhiều trong cuộc sống, nó được hiểu trên nhiều góc
độ và lĩnh vực khác nhau Khi nói đến hiệu quả thấy rằng hoạt động đó đạt kết quả tốt, tiết kiệm nguồn lực, được nhiều người chấp nhận [28]
- Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất, kinh doanh Nó phản ánh sản lượng sản phẩm hàng hoá và
Trang 6dịch vụ sản xuất ra nhằm thoả mãn nhu cầu của thị trường, với chi phí nguồn lực
bỏ ra thấp và đạt được mục tiêu sống còn của cơ sở sản xuất, kinh doanh là lợi
nhuận và tối đa hoá lợi nhuận
- Hiệu quả kinh tế xã hội là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện
mọi mục tiêu mà chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với
chi phí để có được những kết quả đó Hiệu quả kinh tế biểu thị mối tương quan
giữa các kết quả đạt được tổng hợp ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội, với chi phí bỏ
ra để đạt được kết quả đó Do vậy, hiệu quả kinh tế - xã hội phản ánh một cách
tổng quát dưới góc độ xã hội
- Hiệu quả xã hội biểu thị mối tương quan giữa kết quả sản xuất với các
lợi ích xã hội do sản xuất mang lại Cùng với sự công bằng trong xã hội, nó
kích thích phát triển sản xuất có hiệu quả kinh tế cao Nhờ phát triển sản xuất
mà xã hội ngày càng nâng cao được mức sống của người lao động cả về mặt
vật chất và tinh thần, đồng thời tỷ lệ thất nghiệp giảm, các mối quan hệ xã hội
được cải thiện, môi trường sống, điều kiện làm việc, trình độ xã hội cũng đều
được nâng lên
- Hiệu quả phát triển phản ánh sự phát triển của các tế bào kinh tế, các cơ
sở sản xuất, kinh doanh, các khu vực, vùng kinh tế trong tổng thể nền kinh tế
Sự phát triển này là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như: đời sống vật chất,
đời sống tinh thần, trình độ dân trí, môi trường sống v.v Do kết quả phát triển
sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế mang lại
Khi xem xét các loại hiệu quả cho thấy hiệu quả kinh tế luôn là trọng tâm
và quyết định nhất Và hiệu quả kinh tế chỉ được nhìn nhận đánh giá một cách
toàn diện đầy đủ nhất khi có sự kết hợp hài hoà với hiệu quả xã hội, hiệu quả
của việc bảo vệ, giữ gìn môi trường sinh thái trong lành bền vững và hiệu quả
phát triển
Nhìn nhận hiệu quả trên khía cạnh là đối tượng và phạm vi nghiên cứu, hiệu
quả còn có thể chia thành hai loại: hiệu quả kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế ngành,
hiệu quả kinh tế vùng, hiệu quả kinh tế theo qui mô và hệu quả kinh tế của từng biện
pháp kỹ thuật Phân loại hiệu quả và hiệu quả kinh tế một cách tương đối giúp người
nghiên cứu thuận tiện trong việc tính toán, phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế Tuy
nhiên, thực tiễn các loại hiệu quả không tồn tại một cách riêng biệt mà nó có quan hệ
chặt chẽ với nhau Mặc dù vậy, trong điều kiện môi trường luôn bị tác động và biến
đổi thì kết quả không phải lúc nào cũng là tốt đẹp theo chiều thuận, đôi khi sự tác
động từ lợi ích bộ phận ảnh hưởng xấu tới kết quả chung, lợi ích trước mắt thu được lại ảnh hưởng đến lợi ích lâu dài Vì vậy, đòi hỏi nhà nghiên cứu khi nhận xét, đánh giá và các biện pháp đưa ra phải qua cân nhắc và tính toán thật kỹ mọi sự cố, mọi tình huống có thể xảy ra để khắc phục và hạn chế một cách tốt nhất các tác động (tiêu cực) chi phối
1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế
Khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Phải đảm bảo tính thống nhất, thể hiện ở nội dung các chỉ tiêu và phương pháp xác định tính toán
- Phải đảm bảo tính toàn diện của hệ thống, bao gồm chỉ tiêu tổng quát chỉ tiêu bộ phận, chỉ tiêu phản ánh trực tiếp và chỉ tiêu bổ sung
- Phải phù hợp với đặc điểm và trình độ của sản xuất cây ăn quả nói riêng Xét về mặt nội dung HQKT có mối liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào
và đầu ra, nó so sánh giữa lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Kết quả kinh tế phản ánh hoạt động cuối cùng trong quá trình sản xuất kinh doanh, còn HQKT là tỷ
số chênh lệch giữa kết quả quá trình sản xuất và chi phí bỏ ra để có kết quả đó (là mối quan hệ so sánh giữ kết quả và chi phí của nền sản xuất)
- Tổng giá trị sản xuất (GO)
- Tổng giá trị gia tăng (VA)
Trang 711
- Chi phí biến đổi (VC)
- Chi phí trung gian (IC)
- Chi phí lao động (LĐ)
- Phần tăng lên của chi phí (K)
Bảng 1.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế
Kết quả SX
Chi phí SX
Phương pháp xác định kết quả sản xuất (Q) và chi phí sản xuất (K) nêu
trên là chung nhất, từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất và ở những điều kiện cụ
thể nhất định vận dụng cho thích hợp
Đánh giá HQKT trong sản xuất kinh doanh là việc làm hết sức phức tạp,
vì vậy để phản ánh một cách đầy đủ, chính xác, toàn diện thì ngoài những chỉ
tiêu trên, cần quan tâm đến một số chỉ tiêu khác như:
- Năng suất đất đai: ND = GO(N)/D(CT)
Trong đó: GO(N) - Giá trị sản xuất ngành trồng trọt
D(CT) - Diện tích đất canh tác sử dụng trong ngành trồng trọt
Trong quá trình đánh giá, phân tích không chỉ đơn thuần phân tích, đánh giá
HQKT mà phải chú ý đến hiệu quả xã hội, như mức sống dân cư, vấn đề việc làm,
nâng cao dân trí, góp phần xoá đói giảm nghèo v.v…Đồng thời phải chú ý đến hiệu
quả môi trường sinh thái như giảm gây ô nhiễm môi trường, phủ xanh đất trống,
bảo vệ nguồn nước v.v…Trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững [8]
Ngoài ra hiệu quả kinh tế trong kinh doanh, sử dụng một số chỉ tiêu:
- Doanh thu (TR):
Doanh thu = Số lượng sản phẩm tiêu thụ x Giá một đơn vị sản phẩm
Tổng chi phí tiêu thụ = Giá vốn hàng bán + Chi phí tiêu thụ
12
- Tổng lợi nhuận (TPr): TPr = TR – TC
- Doanh lợi Doanh lợi (%) = Vốn sử dụng trong kinh doanh Tổng lợi nhuận x 100
1.3 Ý NGHĨA CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.3.1 Kinh nghiệm nâng cao HQKT sản xuất cây ăn quả trên thế giới
Để sản xuất cây ăn quả đạt hiệu quả kinh tế cao cần áp dụng các quy trình
kỹ thuật mới, dùng giống tốt sạch bệnh, canh tác đúng kỹ thuật, nhân giống bằng công nghệ tiên tiến [40]
Nhà thực vật, nhà di truyền học Hà Lan đã đề xuất sử dụng tia X gây đột biến cho thực vật nhằm tạo ra nhiều loại giống có sức chống chịu bệnh và cho năng suất, sản lượng cao, phẩm chất tốt Đến đầu những năm 1980, nhiều nước phát triển, đặc biệt là Mỹ dùng công nghệ sinh học để giành ưu thế cạnh tranh trong sản xuất nông nghiệp: đạt chất lượng cao, giá thành hạ Kỹ thuật chuyển gen tạo giống cùng một lúc đưa vào một thực vật những gen mong muốn từ những sinh vật khác nhau đưa ra giống nhanh và vượt qua giới hạn của tạo giống truyền thống từ đó tăng sản lượng, giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, cải thiện môi trường Nâng cao sản lượng cây trồng bảo toàn sự đa dạng sinh học [13] Nghề làm vườn và kinh doanh quả tươi là nghề có nhiều rủi ro vì sản phẩm quả tươi dễ bị hư hỏng nhanh chóng Để thành công trong kinh doanh người sản xuất và kinh doanh quả cần biết những công việc, cách quản lý kỹ thuật của mọi thành viên trong hệ thống đảm bảo chất lượng Trên thế giới, đặc biệt ở các nước có nền nông nghiệp tiên tiến thì hệ thống đảm bảo chất lượng hàng nông sản không còn là một khái niệm mới mẻ đối với người nông dân, nhà thu mua xử
lý, nhà kinh doanh cũng như nhà quản lý sản xuất hàng nông nghiệp Điển hình như phương pháp và công nghệ chế biến nông sản của AUSTRALIA Công nghệ sau thu hoạch được dùng ở Australia đối với các loại quả từ thu hoạch đến chợ bán buôn được thực hiện rất liên hoàn và khép kín, nó đã góp phần làm cho chất lượng
Trang 8sản phẩm đạt tiêu chuẩn rất cao Hệ thống của xử lý sau thu hoạch được thiết kế để
giảm thiểu các chi phí về lao động, giảm thiểu các thiệt hại trong quá trình giữ gìn
chất lượng sản phẩm quả [23]
Cây ăn quả là loại cây được xếp vào loại những cây có giá trị kinh tế cao
hơn cây lương thực, có giá trị sử dụng, giá trị thương phẩm, nhu cầu tiêu dùng
của thị trường về các loại quả trong đời sống hàng ngày dần tăng lên đáng kể
Theo Fao (2005), sản lượng một số loại quả của một số nước trên thế giới
được thể hiện qua bảng 1.2
Bảng 1.2 Sản lượng và giá trị một số cây ăn quả ở trên thế giới năm 2005
(Tính theo giá cố định thế giới năm 2001)
Số lượng (triệu tấn) (triệu USD) Giá trị (triệu tấn) Số lượng (triệu USD) Giá trị
Nguồn: Faostar database (http:\\ www.fao.org\waiccnt\statistic_cn.asp )
Mỗi nước có một thế mạnh riêng về sản xuất cây ăn quả, Mỹ là nước sản
xuất bưởi nhiều nhất thế giới là 914,44 triệu tấn, giá trị đem lại là 155,94 triệu
USD, tuy BraZil là nước sản xuất bưởi thấp nhất, lại tạo ra lượng quả cam cao
nhất (đạt 17.804,6 triệu tấn tương đương 3.128,98 triệu USD) Trong 3 loại cây
có múi trên cây cam mang lại giá trị sản xuất cao nhất, cây bưởi có giá trị sản
xuất thấp hơn Tuy nhiên thị trường thế giới về các loại bưởi ở Mỹ và Châu
Mỹ trong vài năm vừa qua về sản phẩm bưởi bị hạn chế bởi cây bưởi chùm có
độc tố gây ung thư làm cho sự ưa thích về loại quả này bị giảm sút
1.3.2 Kinh nghiệm nâng cao HQKT sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam
Ở nước ta, trình độ thâm canh các vườn quả đang ở mức rất thấp Cơ sở vật
chất và khả năng tiếp thu các kỹ thuật mới còn rất yếu kém - nhất là ở các tỉnh
trung du và miền núi phía Bắc, ven biển Trung bộ, khu 4 cũ và Tây Nguyên
Nước ta chưa có những vườn nhân giống tiêu chuẩn, các vườn chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng và chất lượng cây giống để phát triển sản xuất Hiện tượng phát triển diệnt tích CĂQ một cách tràn lan theo hướng quảng canh là phổ biến Chính vì vậy, huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang gần 100% diện tích cam sành trồng từ những năm 85 - 90 đã bị tàn lụi hoàn toàn Thậm chí, có nhiều vườn chưa qua thời kỳ kiến thiết cơ bản đã phải huỷ bỏ vì sâu bệnh Nguyên nhân chủ yếu là do gần 90% cây giống trong vùng do nhân dân trợ sản xuất bằng những phương pháp hết sức thô sơ và lạc hậu Việc nhập nội giống táo tây, nho Pháp từ nước ngoài vào trong nước mà không tuân thủ các quy trình về sản xuất
và lưu hành giống cây ăn quả đã gây thất thoát hàng chục tỷ đồng về cây giống
và hàng trăm tỷ đồng về công lao động, diện tích đất đai hàng trăm ha trồng trọt trong rất nhiều năm nhưng không cho sản phẩm [13]
Qua thực trạng cho thấy nhu cầu nâng cao HQKT sản xuất CĂQ là một trong những vấn đề sống còn trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế Tình trạng không đồng đều về giống, quy trình kỹ thuật thâm canh thực hiện không đầy đủ, việc chăm bón tuỳ tiện dẫn đến sự chênh lệch khá lớn về chất lượng, sản phẩm kém khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu
Để nâng cao HQKT sản xuất cây ăn quả, nước ta đã tiếp thu những thành quả của thế giới, cho đến nay Viện Bảo vệ thực vật cùng một số cơ quan phối hợp đã tiến hành nghiên cứu và đã đưa xuống một số địa phương ứng dụng các chế phẩm sinh học và sử dụng côn trùng thiên địch Việc tạo công nghệ sản xuất các chế phẩm sinh học đã mở ra triển vọng về hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế, bước đầu khắc phục được tình trạng kháng thuốc hoá học của một số loại sâu và dần thay đổi được tập quán lạm dụng thuốc hoá học nhằm bảo vệ môi trường sinh thái và sức khoẻ cộng đồng Đây cũng là điều kiện quan trọng làm tăng giá trị kinh tế và sức cạnh trạnh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường hội nhập [29]
Bên cạnh các chế phẩm sinh học, các ứng dụng thiên địch để bảo vệ vườn cây ăn quả như thả kiến vàng trên cây ăn quả để diệt sâu rầy đem lại hiệu quả rất
Trang 915
cao, được khuyến cáo nên dùng
Những năm gần đây, Việt Nam gặp phải khá nhiều khó khăn về đầu ra cho
nông sản đó là hệ thống kiến thức về bảo quản, sơ chế nông sản của nước ta còn
hạn chế Theo thống kê chính thức của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu
hàng rau quả của Việt Nam trong cả năm 2006 đã đạt 259 triệu USD, tăng 10%
so với năm 2005 Trong đó, Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Đài Loan và Nga là
những thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất của nước ta Mặc dù có tiềm năng
xuất khẩu rau quả nhiệt đới, song Việt Nam còn những yếu điểm điển hình là
sản xuất phân tán, năng suất thấp, chưa giải quyết dứt điểm được khâu tạo
giống, thu hoạch, công nghệ bảo quản trước, sau thu hoạch kém phát triển, khâu
kiểm dịch giữa nước ta và thị trường nhập khẩu chưa thống nhất Do đó thiếu
tính bền vững, nông sản xuất khẩu bị thua thiệt khi ra thị trường thế giới [23]
Trong môi trường hội nhập, rõ ràng việc quan tầm hàng đầu là chất lượng
sản phẩm, chế biến, bảo quản và xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam
Chất lượng sản phẩm là yếu tố quyết định Muốn có sản phẩm nông nghiệp tốt
thì các khâu trước thu hoạch (giống, phân bón, cách thức chăm sóc và việc sử
dụng thuốc BVTV,…), trong và sau thu hoạch đều rất quan trọng Nhanh chóng
xây dựng các phòng kiểm tra chất lượng nông sản đủ năng lực phân tích các chỉ
tiêu về thành phần dinh dưỡng, chất phụ gia, chất kích thích, độc tố, thực phẩm
chiếu xạ và nông sản chuyển gen…Mặt khác, cần khuyến cáo người dân áp
dụng các quy trình quản lý chất lượng sản xuất hàng nông sản đáp ứng nhu cầu
nông sản trong nước và xuất khẩu
Ở thành phố Hà Nội khu vực nội thành hàng năm tiêu thụ 60 - 70 nghìn tấn
quả Dự đoán đến năm 2010 với 90 triệu dân, số dân đô thị trên 31 triệu người,
lượng quả tiêu thụ là 80 kg/người/năm, lượng quả tiêu thụ kể cả khách du lịch là
7 - 8 triệu tấn Phát triển cây ăn quả cung cấp cho thị trường nội địa là một trong
những hướng để chuyển đổi cơ cấu cây trồng của các vùng đặc biệt là ở vùng
Đồng Bằng, vùng núi trung du nơi có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển cây
ăn quả [36]
16
Tháng 3 năm 1989, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khoá VI, đã ra nghị quyết tiếp tục khẳng định công cuộc đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp, xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá, nông nghiệp sinh thái Nhờ đường lối, chủ trương đổi mới đúng đắn của Đảng, kinh tế đất nước phát triển không ngừng, nông nghiệp đạt được những thành tựu vượt bậc Việt Nam đang từ nước thiếu đói về lương thực, vươn lên thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới [9] Cùng với thành tựu đó ngành sản xuất cây ăn quả cũng có những bước tiến đáng kể, tổng diện tích trồng CĂQ tăng nhanh, đáp ứng nhu cầu về sản phẩm quả tươi ngày một tăng của xã hội
Tổng diện tích cây ăn qủa cả nước tính đến 12/2007 là 775,5 nghìn ha tăng 100,5% so với cùng kỳ năm trước, làm tốt công tác cải tạo vườn tạp, huỷ bỏ diện tích cây già cỗi, năng suất thấp nên sản lượng một số cây ăn quả đạt được khá cao So với năm 2006, năm 2007 sản lượng cam, quýt 662 nghìn tấn tăng 8,3%, xoài đạt 409,3 nghìn tấn tăng 3,9%, bưởi là 211,6 nghìn tấn tăng 10,4%, dứa đạt 535 nghìn tấn tăng 0,1% Riêng cây vải năm 2007 là năm được mùa đạt
240 nghìn tấn tăng 2,6 lần chủ yếu ở các vùng Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh [48]
1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ
1.4.1 Các yếu tố tự nhiên thuộc hệ sinh thái và môi trường
Cây ăn quả là một bộ phận trong hệ thống cây trồng của hệ sinh thái nông nghiệp, có sự trao đổi vật chất với môi trường bên ngoài và có tính mẫn cảm lớn với các yếu tố sinh thái như: khí hậu, đất đai, cây trồng, con người,…Vì vậy, muốn có một vùng chuyên môn hoá sản xuất cây ăn quả đặc sản như Đoan Hùng phải theo quan điểm sinh thái bền vững
Trong hệ sinh thái nông nghiệp, đất đóng vai trò là nơi cung cấp nước,
Trang 10chất dinh dưỡng cho cây trồng, song với các loại đất ở các địa hình khác nhau lại
có thành phần cơ giới, tính chất vật lý hoá học khác nhau Vì vậy, để khai thác
có hiệu quả nguồn lực đất đai đòi hỏi con người phải có sự bố trí cơ cấu cây
trồng phù hợp để vừa có năng suất cao lại bảo vệ được đất không bị thoái hoá là
vấn đề cần được đặc biệt quan tâm [14]
Đối tượng chịu tác động sản xuất nông nghiệp là cây trồng có quá trình
sinh trưởng, phát triển theo quy luật tự nhiên, trải rộng trên quy mô rộng lớn, vì
vậy chúng gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên Cho nên
việc tập trung sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả phải
dựa trên quan điểm hệ sinh thái bền vững, tức là phát triển phải đảm bảo ổn
định, tận dụng tối đa các mặt thuận lợi và tránh các mặt không thuận lợi của thời
tiết, củng cố độ phì của đất, cung cấp chất dinh dưỡng và không ngừng cải tạo
nâng cao chất lượng của đất
Phát triển bền vững hệ sinh thái nông nghiệp là sự phát triển nhuần
nhuyễn giữa sinh thái và kinh tế [41]
Phát triển bền vững là một quá trình thay đổi trong đó có sự thay đổi về nếp
nghĩ và cách làm của con người trong việc khai thác tài nguyên [dt 36], sự giám sát
đầu tư, sự định hướng phát triển công nghệ và nguyện vọng của con người trong
hiện tại và tương lai Xem xét đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả phải
dựa trên thực trạng về môi trường sinh thái và tên qua điểm xây dựng một hệ sinh
thái nông nghiệp bền vững, chuyển dần từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá,
từ hệ thống nông nghiệp lạc hậu lên hiện đại
1.4.2 Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội
- Thị trường tiêu thụ
Trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trường có ý nghĩa sống còn đối với
mỗi cơ sở sản xuất, kinh doanh, mỗi nhà sản xuất Bởi lẽ trong kinh tế thị trường
nhà sản xuất cung cấp hàng hoá và dịch vụ, bán cái mà thị trường cần chứ không
phải bán cái mình có, vì mục tiêu lợi nhuận Do vậy, đòi hỏi các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhà sản xuất phải trả lời đúng chính xác ba vấn đề cơ bản của một tổ chức kinh tế đó là sản xuất, kinh doanh cái gì? Sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Có như vậy, cơ sở sản xuất, kinh doanh mới có thể thu được kết quả và HQKT cao, mới tồn tại và đứng vững trên thương trường Như vậy, trước khi quyết định sản xuất, nhà sản xuất phải nghiên cứu kỹ thị trường và nắm vững dung lượng thị trường, nhu cầu thị trường và môi trường kinh doanh sẽ tham gia…[7]
Trong nông nghiệp, do yêu cầu của thị trường, giá cả sản phẩm là đòi hỏi tất yếu để lựa chọn cơ cấu cây trồng để đạt lợi nhuận và hiệu quả kinh tế cao nhất Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá Chức năng của thị trường là thực hiện sản phẩm
và thừa nhận lao động làm ra sản phẩm cân đối cung cầu và kích thích nâng cao hiệu quả của sản xuất
Trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của nền kinh tế, nhu cầu về sản phẩm quả có những đòi hỏi khác nhau [42] Khi nền kinh tế phát triển còn thấp, thu nhập của các tầng lớp dân cư còn hạn hẹp thì yêu cầu của thị trường về chất lượng quả chưa cao mà chủ yếu là đáp ứng về mặt số lượng và giá cả sản phẩm Khi thu nhập ngày càng tăng, nhu cầu về vật chất và tinh thần cũng thay đổi theo hướng vừa tăng về số lượng, chất lượng và giá cả lúc này có tính cạnh tranh cao Đặc biệt là thị trường xuất khẩu thì yêu cầu về chất lượng sản phẩm lại càng khắt khe và nghiêm ngặt, tuy vậy nếu ta đáp ứng được các quy định, yêu cầu đó thì kết quả và HQKT thu được sẽ rất cao
- Giá cả
Trong kinh tế thị trường giá luôn thay đổi đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và HQKT sản xuất cây ăn quả Tác động của thị trường đến sản xuất kinh doanh trước hết là thị trường đầu ra (tiêu thụ sản phẩm) chưa ổn định đối với các loại sản phẩm quả vì sản xuất CĂQ ở nước ta chưa đáp ứng tốt nhu cầu của thị
Trang 1119
trường đầu ra Song thị trường đầu vào cũng có ảnh hưởng tới kết quả và HQKT
sản xuất CĂQ, đó là: giá các yếu tố đầu vào như giống, phân bón, thuốc BVTV,
dịch vụ kỹ thuật công nghệ, vốn sản xuất và lao động có vai trò hết sức quan
trọng trong việc phát triển sản xuất, hình thành giá cả sản phẩm, là nhân tố trực
tiếp làm thay đổi trạng thái sản xuất, nâng cao chất lượng và khối lượng sản
phẩm quả, gây tác động lớn tới kết quả và HQKT Mặt khác tổ chức khai thác,
bảo quản, tránh hư hỏng sản phẩm quả sau thu hoạch làm giảm phẩm chất và
giảm giá bán
- Vốn
Vốn là yếu tố quan trọng không những để tăng trưởng kinh tế, phát triển
sản xuất nông nghiệp, trồng CĂQ cần lượng vốn đầu tư ban đầu lớn hơn so với
các loại cây trồng khác Hơn nữa, vốn giúp cho các hộ sản xuất CĂQ có điều
kiện thâm canh, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, trên cơ sở đó
mới có điều kiện giảm chi phí sản xuất và nâng cao HQKT Phát triển sản xuất
CĂQ ở Đoan Hùng hiện nay chủ yếu ở các hộ nông dân có kinh tế khá, hộ
nghèo, do vậy muốn phát triển nhanh về diện tích, quy mô trồng CĂQ đòi hỏi
phải có sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn như: cho vay với lãi suất ưu đãi, trợ giá
cây giống, phân bón Mặt khác cần mở ra và đẩy nhanh bảo hiểm vật nuôi, giúp
đã các hộ nông dân sản xuất CĂQ khi gặp rủi ro như thiên tai, dịch bệnh…
- Lao động
Lao động là yếu tố quyết định đối với mỗi quá trình sản xuất Việc trồng và
chăm sóc CĂQ có yêu cầu kỹ thuật riêng, đòi hỏi người lao động phải có trình độ
học vấn, trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất nhất định như: Hiểu biết về chế độ,
kỹ thuật chăm sóc, bón phân hợp lý, năm nào sai quả bón phân tăng lên, đáp ứng nhu
cầu dinh dưỡng của cây, phòng chống sâu bệnh hại, giữ cho bộ rế phát triển mạnh,
bộ khung tán phát triển hợp lý, khi thu hoạch quả không bẻ quá nhiều ảnh hưởng đến
sinh lý của cây CĂQ là loại cây trồng cạn đòi hỏi thích nghi đất có độ màu mỡ, nhẹ
xốp, tầng canh tác dầy, đất phải thoát nước kịp thời khi sâu bệnh phát sinh nhiều, cây
đến thời vụ quả dễ gây dụng quả, tuổi thọ ngắn
20
- Tổ chức sản xuất và chính sách
Qua những đặc điểm điều kiện tự nhiên, các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất CĂQ cho thấy CĂQ phù hợp với phương thức sản xuất nông lâm hoặc nông lâm kết hợp, đem lại hiệu quả kinh tế cao Vì vậy, cần phát triển mô hình dạng kinh tế vườn đồi, vườn rừng, theo hình thức trang trại là mô hình thích hợp Sách lược kinh doanh vườn quả là cần nắm chắc môi trường và xu thế, có cách nhìn trung và dài hạn đối với sản phẩm quả trong điều kiện môi trường kinh doanh biến đổi với tốc độ nhanh, để đạt hiệu quả
Kinh doanh vườn quả cần từ bỏ mô hình trước đây chỉ lấy sản xuất làm phương hướng chủ đạo mà coi nhẹ việc tiêu thụ, lấy lợi nhuận làm trọng tâm mà không xem xét khả năng của ngành để đẩy mạnh sức cạnh tranh Diện tích vườn CĂQ, lao động và sách lược kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với nhau Vườn có diện tích lớn, phải đầu tư sức lao động nhiều, có thể thực thi sách lược kinh doanh chủng loại cây ăn quả để thu hoạch và tiêu thụ rải vụ Vườn có diện tích nhỏ, có thể xem xét sách lược đặc biệt hoá sản phẩm (sản phẩm có chất lượng cao) [40]
Nâng cao phẩm chất toàn diện mới có thể tạo nên nhãn hiệu sản phẩm từ
đó tăng thêm giá trị sản phẩm Quản lý chất lượng ngay từ khâu chọn giống, trồng và chăm sóc, cần tiêu chuẩn hoá sản xuất, tiêu chuẩn hoá sản phẩm, quả sạch và phẩm chất cao là yêu cầu cấp thiết và là mục tiêu của tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất [20]
Muốn nâng cao chất lượng sản xuất CĂQ đủ sức cạnh tranh trên thị trường và phát huy thế mạnh của những sản phẩm đặc sản truyền thống, cần phải tổ chức quy hoạch vùng sản xuất, tổ chức các trung tâm sản xuất cây giống chất lượng đạt tiêu chuẩn, ứng dụng các tiến bộ về bảo quản và chế biến sản phẩm để sản phẩm quả trở thành hàng hoá phù hợp với người tiêu dùng, đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm quả ngoại nhập
CĂQ còn một số nhân tố khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đó là: Chính sách vĩ
Trang 12mô của Nhà nước về vốn, đất đai, chính sách phát triển nông nghiệp…đặc biệt là
chính sách chuyển giao quyền sử dụng đất lâu dài, chính sách khuyến khích các
trang trại sản xuất và kinh doanh CĂQ, chính sách trợ vốn cho vùng nghèo,
vùng núi để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng
chính sách khuyến nông, khuyến lâm…có tác động tích cực để phát triển sản
xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất cây ăn quả
1.4.3 Nhóm nhân tố kỹ thuật
- Giống: Chọn những giống có năng suất cao, ổn định, không sâu bệnh,
phẩm chất tốt Chọn được những giống chín sớm, chín muộn để kéo dài thời
gian cung cấp quả tươi cho thị trường [2]
- Thời vụ trồng cây: CĂQ được trồng vào hai vụ trong năm vụ xuân trồng
tháng 2, tháng 3 và đầu tháng 4, vụ thu trồng tháng 8, tháng 9, tháng 10 Nhưng
có điều kiện chuẩn bị đầy đủ về giống, vật tư, phân bón thì nên trồng cây vào vụ
xuân hơn vì thời tiết thuận lợi hơn cho việc trồng cây, cây nhanh bén rễ và ra
mầm, cây đạt tỷ lệ sống cao hơn
- Chăm sóc: Tuỳ thuộc vào các loại đất đai, tuổi cây, tình trạng sinh
trưởng mà bón lượng phân thích hợp Hiện nay trên thị trường có nhiều loại
phân có thể bón qua lá, một số chế phẩm đậu quả làm kích thích tăng tỷ lệ đậu
hoa, quả, tăng năng suất cây trồng Tỉa cành, tạo hình là biện pháp giúp cho cây
có được bộ khung cân đối, tán cây thoáng tăng khả năng quang hợp, chống chịu
được với điều kiện tự nhiên như: gió, bão, giảm bớt sâu bệnh trú ngụ phát triển
Cây nhanh ra hoa kết quả, tập trung dinh dưỡng cho cây, tạo cho cây có năng
suất cao, ổn định [2]
- Phòng trừ sâu bệnh: Cần phải phòng trừ sâu bệnh kịp thời Khi phát
hiện các loại sâu bệnh thì cần xem xét kỹ lưỡng để chọn loại thuốc sâu cho phù
hợp và phun đúng liều lượng, không ảnh hưởng đến chất lượng quả khi thu
hoạch
- Thu hoạch và bảo quản: Đối với từng loại CĂQ cần thu hoạch kịp thời
để không gây ảnh hưởng đến phẩm chất quả, không nên thu hoạch quá sớm hoặc
quá muộn, trước khi thu hoạch cần ước lượng sản lượng thu được để có kế hoạch thu hái, vận chuyển và tiêu thụ Đối với bưởi cần dùng kéo cắt cuống quả khi thu hoạch tránh sát vỏ, gẫy cành, rụng lá
Phân cấp quả trước khi vận chuyển, cất giữ, ẩm độ phải thích hợp (70% - 80%), nhiệt độ thích hợp (10 – 130C) thoáng mát, bôi vôi vào cuống quả, nếu cất trữ trong điều kiện thích hợp đối với bưởi được 3 - 4 tháng
- Đổi mới công nghệ sản xuất: Công nghệ là một hệ thống các kiến thức
về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin, hoặc công nghệ
là một tập hợp những kỹ thuật sẵn có hoặc trình độ kiến thức về mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và sản lượng đầu ra bằng vật chất nhất định Đổi mới công nghệ là cải tiến trình độ kiến thức sao cho nâng cao được năng lực sản xuất
có thể làm ra sản phẩm nhiều hơn với một số lượng đầu vào như trước hoặc có thể làm ra một lượng sản phẩm như cũ với khối lượng đầu vào ít hơn [12] Đổi mới quy trình sản xuất (đặc biệt là khâu tuyển chọn và phục tráng giống cây đặc sản có năng suất và phẩm chất cao được người tiêu dùng rất ưa chuộng như giống bưởi Sửu, bưởi Khả Lĩnh…), để phát huy tính tích cực của công nghệ và coi công nghệ là điều kiện quan trọng quyết định cho sự phát triển
và nâng cao hiệu quả sản xuất cây ăn quả đặc sản
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết
- Tại sao phải phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả
ở địa bàn nghiên cứu?
- Tình hình thực trạng ra sao, liệu có tăng hiệu quả kinh tế được không?
- Có những giải pháp chủ yếu nào và giải pháp nào là tốt nhất để thực hiện? Vì sao?
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu
1.5.2.1 Chọn điểm nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, các điểm chọn nghiên cứu phải đại diện cho các vùng sinh thái kinh tế trồng cây ăn quả trong huyện trên phương diện về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và những đặc điểm chung ở các tiểu vùng…
Trang 1323
- Xã Bằng Luân đại diện cho tiểu vùng Thượng huyện (gồm 9 xã)
- Xã Vân Du, xã Hùng Long đại diện cho tiểu vùng ven sông Lô, sông
chảy gồm 13 xã)
- Xã Tiêu Sơn đại diện cho tiểu vùng Hạ huyện (gồm 6 xã)
Các điểm nghiên cứu này đều nằm trong các vùng trọng điểm, vùng quy
hoạch dự án phát triển vườn cây ăn quả theo hướng mở rộng các vườn cây ăn
quả tập trung, cây ăn quả chủ lực có tính sản xuất hàng hoá cao
Các điểm nghiên cứu này có hệ thống vườn cây ăn quả cho hiệu quả kinh
tế cao; bưởi Bằng Luân, xoài Vân Du, vải Hùng Long, có nhiều hộ gia đình
trồng cây ăn quả điển hình sản xuất kinh doanh giỏi, sản xuất cây ăn quả có hiệu
quả kinh tế cao qua nhiều năm (từ 10 đến 50 năm)
Về điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội ở mỗi điểm nghiên cứu có những
thuận lợi và khó khăn nhất định cho sự phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả
kinh tế sản xuất cây ăn quả của huyện
Bảng 1.3 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tại các điểm nghiên cứu
1 Điều kiện tự nhiên đối
với phát triển sản xuất
CĂQ
Rất thích hợp Rất thích hợp Thích hợp vừa
3 Đất đai cho phát triển
động
7 Các CĂQ chính Bưởi, xoài, nhãn,
dứa, Bưởi, xoài, nhãn, vải, Bưởi, xoài, nhãn, vải, dứa,
10 Tập quán sản xuất Truyền thống địa
phương
Truyền thống địa phương
Truyền thống địa phương
Nguồn: Phòng Nông Nghiệp huyện Đoan Hùng và kết quả điều tra
24
1.5.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu và số liệu
- Thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Sử dụng phương pháp kế thừa và cập
nhật từ các niên giám thống kê (Tổng cục thống kê), Niên giám thống kê Phú Thọ, và các tài liệu như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục khuyến nông, Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Phú Thọ, các báo cáo khoa học của Viện nghiên cứu Rau quả trung ương, báo cáo tổng kết, sách, báo chuyên ngành, tài liệu của tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) và truy cập internet, các dự án, chương trình phát triển cây ăn quả của tỉnh Phú Thọ…ở cấp huyện, thu thập thông tin về cây ăn quả thông qua Phòng Kinh tế và Phòng Thống kê, Phòng Địa chính, các hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, nông hộ sản xuất cây ăn quả…
Trên cơ sở các số liệu thu thập tiến hành phân tích, đánh giá tìm ra những yếu tố tác động, xu hướng phát triển sản xuất cây ăn quả (chủ yếu là cây bưởi đặc sản) và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cây ăn quả tại địa phương
- Thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp: Những tài liệu mới về sản xuất và nâng
cao hiệu quả kinh tế sản xuất CĂQ, tổ chức sản xuất, bố trí cây trồng…được tổ chức điều tra, phỏng vấn để có thể nhìn nhận về tình hình sản xuất cây ăn quả ở Đoan Hùng một cách tổng quát, tổ chức nghiên cứu thực tiễn tại các vùng có diện tích trồng cây ăn quả lớn của huyện như Bằng Luân, Vân Du, Hùng Long, Tiêu Sơn thông qua Phòng Nông nghiệp, Hội Nông dân, Chi hội Làm vườn để tìm hiểu tình hình tổ chức trồng, chăm sóc CĂQ và tiêu thụ sản phẩm quả
Để thu thập thông tin có hiệu quả tôi sử dụng sẵn nội dung tìm hiểu…, hệ thống biểu mẫu và sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình, các chuyên gia, phỏng vấn bằng câu hỏi được lập sẵn Các thông tin sơ cấp thu thập tại các hộ bằng quan sát trực tiếp và hệ thống phiếu điều tra; các thông tin được tập hợp trong bảng 1.4
Trang 14Bảng 1.4 Nguồn thông tin số liệu
- Các kết quả nghiên cứu, các báo cáo khoa học, các chính sách, nghị quyết, quyết định, thông tư, báo, tạp chí liên quan đến hiệu quả kinh
tế vườn đồi, nông lâm nghiệp, đặc biệt là cây ăn quả
- Các chủ trương, chính sách, định hướng, quy hoạch sử dụng đất, đất đồi núi, phát triển kinh tế nông nghiệp
- Niên giám thống kê tỉnh
- Các nghị quyết, quyết định, thông
tư hướng dẫn, báo, tạp chí liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Đến liên hệ, thu thập thông tin, số liệu về tổng quan, liên quan đến vấn
- Các chính sách hỗ trợ phát triển cây ăn quả
- Nghị quyết, quyết định, thông tư, bản quy hoạch đất đai
- Thu thập, đọc, nghe, ghi chép và chọn lọc các thông tin cần thiết
- thông qua các tài liệu
- Hội cựu chiến binh, hội
nông dân, hội làm vườn
- Tổ trưởng, đội trưởng,
trưởng thôn và hộ nông
dân
- Các báo cáo tổng kết, chi tiết
- Sổ sách ghi chép, theo dõi các thông tin điều tra về hộ
Trực tiếp đến các hộ phỏng vấn điều tra các
hộ nông dân
- Tham gia sinh hoạt và học hỏi kinh nghiệm trồng trọt cây ăn quả cũng như các phương pháp canh tác của người dân địa phương
Nguồn:Tác giả tổng hợp
- Chọn mẫu điều tra: Căn cứ vào số lượng, quy mô, diện tích đất trồng
CĂQ, cách tổ chức sản xuất, bố trí cây trồng cây ăn quả, kết quả, xu hướng và
tiềm năng về nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả ở các xã trọng điểm trong quy hoạch ở các tiểu vùng trong huyện Tôi chọn ra 90 hộ ở 3 tiểu vùng với 4 xã đại diện để điều tra và nghiên cứu
Các hộ này có kết quả, hiệu quả về sản xuất cây ăn quả từ trung bình trở lên, bước đầu có kiến thức kỹ thuật, hiểu biết trong việc trồng cây ăn quả hoặc
có kỹ thuật canh tác và thâm canh cây ăn quả đã gắn bó trong nhiều năm, các hộ mang tính chất điển hình cao cho các tiểu vùng trong huyện Số lượng mẫu điều tra được thể hiện qua bảng 1.5
Bảng 1.5 Số lượng mẫu điều tra ở các điểm nghiên cứu của huyện
Tiểu vùng III (xã: Tiêu Sơn) Tổng cộng
Số lượng (hộ)
C.cấu (%)
Số lượng (hộ)
C.cấu (%)
Số lượng (hộ)
C.cấu (%)
Số lượng (hộ)
C.cấu (%)
- Xây dựng phiếu điều tra:
Phiếu điều tra là một tập hợp các biểu mẫu, được xây dựng phục vụ cho quá trình thu thập số liệu, thông tin cần thiết cho luận văn bao gồm một số nội dung sau:
+ Những thông tin căn bản về hộ: Họ tên, địa chỉ của chủ hộ, tuổi, số nhân khẩu, lao động, các lớp huấn luyện kỹ thuật, tập huấn đã qua…
+ Đất đai của hộ: Đất đai bao gồm đất thổ cư, đất nhận khoán, đất đấu thầu, đất thuê v.v
Trang 1527
+ Các tư liệu sản xuất khác: Bao gồm máy móc thiết bị, phương tiện vận
chuyển v.v phục vụ cho sản xuất của hộ
+ Khả năng về vốn cho sản xuất kinh doanh của hộ: Gồm vốn tự có, vốn
vay, lãi suất và khả năng hoàn vốn…
+ Kết quả sản xuất kinh doanh của hộ: Các kết quả thu nhập về trồng trọt (trong
đó có CĂQ chủ yếu: cây bưởi, xoài, vải), chăn nuôi, dịch vụ, thương mại…
Ngoài phiếu điều tra, chúng tôi còn có sổ ghi chép về các điều kiện bên
ngoài liên quan đến tập quán canh tác cũng như thói quen trồng trọt, kinh nghiệm
trồng trọt, chăm sóc CĂQ của các hộ trồng CĂQ đặc sản lâu đời
- Phương pháp điều tra: Phỏng vấn, đàm thoại nêu vấn đề, thảo luận, sử
dụng hệ thống câu hỏi đóng và mở phù hợp với tình hình thực tế.Sử dụng
ph-ương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA), phph-ương pháp đánh giá nông thôn
có người dân tham gia (PRA) trong quá trình khảo sát [19]
Tại huyện có tiếp xúc với Phòng Kinh tế, Phòng nông nghiệp, Phòng
Thống kê, Hội làm vườn, trung tâm Khuyến nông đã giới thiệu mục đích, nội
dung nghiên cứu và thảo luận về tình hình trồng CĂQ của địa phương, bàn luận
về yêu cầu của các vấn đề nghiên cứu trong việc chọn địa điểm và các hộ điều
tra Các tiểu vùng của huyện chọn tối thiểu 1 xã đại diện, riêng tiểu vùng ven
sông Lô, sông Chảy chọn 2 xã với tổng số 90 hộ
Tại điểm nghiên cứu, sau khi tiếp xúc với người địa phương (với UBND
xã, Chủ tịch: Hội làm vườn, Hội nông dân xã, tổ trưởng tổ Khuyến nông xã) đã
chọn ra các hộ gia đình đến thăm và phỏng vấn Trong quá trình thăm hỏi,
phỏng vấn hộ, ngoài cán bộ nghiên cứu thường có một cán bộ của huyện và một
đại diện cán bộ của xã cùng đi
Việc phỏng vấn được cấu thành trong 3 phần chính Sau khi giới thiệu mục
đích cuộc thăm hỏi, các câu hỏi về tình hình chung trong gia đình đã được đưa ra
Trong khi phỏng vấn về hầu hết các phần của kinh tế gia đình, tôi đã giành thời
gian tìm hiểu mức độ chính xác và kiến thức kỹ thuật trong việc nâng cao hiệu
quả kinh tế trong sản xuất cây ăn quả địa phương đã làm Sau khi thảo luận xong
tiến hành thăm vườn hộ đã lựa chọn Các thông tin bỏ sung đã được thảo luận sau
28
khi từ vườn về nhà người nông dân nếu cần thiết
* Công cụ dùng để xử lý số liệu: Sau khi thu thập đầy đủ điều tra của các
hộ, chúng tôi tiến hành kiểm tra, xử lý thông tin cơ bản trên hệ thống biểu, loại bỏ những biểu thiếu hoặc thông tin không rõ ràng, sau đó mã hoá thông tin, nhập thông tin vào máy tính và sử dụng chương trình Excel để xử lý
1.5.2.4 Phương pháp phân tích
Các phương pháp được vận dụng trong phân tích nội dung nghiên cứu đề tài được thể hiện như sau:
- Phương pháp thống kê mô tả
Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội bằng việc mô
tả số liệu thu thập được Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để phân tichs các hộ, nhóm hộ sản xuất cây ăn quả của huyện Trên cơ sở số liệu điều tra, tổng hợp phân tích theo từng thời gian và không gian, sau đó tổng hợp khái quát để thấy được xu thế phát triển của hiện tượng, sự vật
- Phương pháp phân tổ thống kê
Phương pháp này được dùng để phân tổ các mẫu điều tra, tổng hợp kết quả điều tra nhằm phản ánh các đặc điểm cơ bản về tình hình sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất của các hộ trồng cây ăn quả trong huyện Phân tổ các nhóm
hộ đầu tư cao, đầu tư trung bình và đầu tư thấp theo mức đầu tư chi phí trung gian Từ đó là cơ sở để so sánh kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất CĂQ giữa các nhóm hộ và giữa các loại cây trồng với nhau, đồng thời rút ra những nhận xét và kết luận
- Phương pháp so sánh
Được áp dụng để so sánh kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất CĂQ các vùng, giữa các nhóm hộ phân theo tiêu chuẩn đầu tư cao, thấp, trung bình, so sánh hiệu quả của cây trồng trái vụ
Từ kết quả so sánh chúng tôi rút ra nhận xét, kết luận và làm cơ sở để đưa
ra các khuyến cáo cũng như các giải pháp phù hợp
- Phương pháp hàm sản xuất Cobb – Douglas
Trang 16Phương pháp này nhằm phân tích tác động cụ thể của các yếu tố ảnh
hưởng đến thu nhập của hộ sản xuất cây ăn quả Sử dụng hàm sản xuất Cobb –
Douglas để đánh giá sự thay đổi của các nhân tố trình độ văn hoá của chủ hộ, lao
động, diện tích đất trồng cây ăn quả, vốn sản xuất CĂQ tới thu nhập của hộ sản
xuất CĂQ [25]
Trong phạm vi nghiên cứu luận văn, các nhân tố được thể hiện
trong mô hình Cobb – Douglas:
Trong đó: Yj là thu nhập của hộ sản xuất cây ăn quả thứ j
Ao: Hệ số tự do, Xl : Vốn của hộ, X2: Lao động gia đình của hộ (người)
X3: Diện tích đất nông nghiệp của hộ (ha), X4: Trình độ văn hoá của chủ hộ
(chưa học phổ thông mã hoá 0, đã đi học phổ thông mã hoá là 1 )
1 , 2 , 3 , 4
là hệ số tương quan tương ứng với biến thứ Xl, X2, X3, X4
Hàm này được xây dựng và phân tích cho tất cả các hộ điều tra
Hệ số 1 , 2 , 3 , 4cho biết khi tăng 1 % các yếu tố đầu vào (vốn, lao động,
diện tích đất nông nghiệp, trình độ văn hoá) thì thu nhập của hộ tăng (Với
1 , 2 , 3 , 4
> 0) hoặc (Với 1 , 2 , 3 , 4< 0) giảm bao nhiêu %, riêng nhân tố
trình độ văn hoá chỉ nói lên xu hướng tăng hoặc giảm thu nhập của hộ
- Phương pháp chuyên gia
Dựa vào thực tiễn, các chuyên gia như chủ hộ gia đình, người lao động,
cán bộ nông nghiệp, cán bộ viện nghiên cứu viện rau quả Phú Hộ, chủ tịch hội
làm vườn, chủ mua thu gom…để tính toán các chỉ tiêu về các loại cây trồng
thông qua hỏi phỏng vấn
- Phương pháp minh hoạ bằng biểu đồ, hình ảnh
Phương pháp biểu đồ, đồ thị được ứng dụng để thể hiện mô tả một số số
liệu hiện trạng và kết quả nghiên cứu
1.5.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả
Do tính phức tạp của vấn đề đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất CĂQ đòi hỏi phải có một hệ thống chỉ tiêu đảm bảo tính thống nhất về nội dung với hệ thống chỉ tiêu của nền kinh tế quốc dân và ngành nông nghiệp; đảm bảo tính toàn diện và hệ thống; đảm bảo tính khoa học và dễ tính toán [18] Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng một số hệ thống chỉ tiêu:
* Những chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh
- Tổng giá trị sản xuất (GO - Gross Output): Được tính bằng tiền của toàn
bộ sản phẩm trên một diện tích trong một giống nhất định hoặc nó là giá trị bằng tiền của các sản phẩm sản xuất ra trong một mô hình kinh tế gồm cả giá trị để lại tiêu dùng và giá trị bán ra thị trường trong một chu kỳ sản xuất nhất định thường
là một năm Với CĂQ thì giá trị sản xuất được tính bằng sản lượng thu hoạch nhân với giá bán thực tế ở địa phương
- Chi phí trung gian (IC - Intermediate Cost) là toàn bộ chi phí vật chất
thường xuyên bằng tiền mà chủ thể phải bỏ ra để thuê, mua các yếu tố đầu vào
và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất ra một khối lượng sản phẩm như: giống, phân bón, thuốc BVTV, thuỷ lợi, lãi suất tiền vay, …
- Giá trị gia tăng (VA - Value Added) là phần giá trị tăng thêm của người
lao động khi sản xuất trên một đơn vị diện tích, nó được tính bằng hiệu số giữa giá trị san xuất và giá trị trung gian trong một chu kỳ sản xuất Nó chính là phần giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
- Thu nhập hỗn hợp (MI - Mix Income) là thu nhập thuần tuý của người
sản xuất, đảm bảo cho đời sống và tích luỹ cho người sản xuất Bao gồm thu nhập của công lao động (lao động chân tay và lao động quản lý) và lợi nhuận thu được khi người sản xuất trên từng cây trồng trên một đơn vị diện tích trong một chu kỳ sản xuất
VA = GO - IC
MI = [VA - (A +T)]
Trang 1731
A: Giá trị khấu hao; T: Giá trị thuế nông nghiệp (nếu có)
- Lợi nhuận (Pr - Profit): Là phần lãi ròng trong thu nhập hỗn hợp trừ đi
công lao động gia đình
Trong đó: L: Số công lao động của gia đình
Pi: Giá ngày công lao động ở địa phương
* Những chỉ tiêu phản ánh HQKT: Ngoài các chỉ tiêu chung giống như
các ngành kinh tế khác, sản xuất CĂQ được đánh giá HQKT qua các chỉ tiêu
chính sau:
- Giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp, lợi nhuận lần lượt
tính cho 1 ha đất trồng trọt
- Giá trị sản xuất; giá trị gia tăng; thu nhập hỗn hợp; lợi nhuận lần lượt
tính trên 1 ngày công lao động
- Giá trị sản xuất; giá trị gia tăng; thu nhập hỗn hợp; lợi nhuận lần lượt
tính trên 1 đồng chi phí trung gian
- Giá trị sản xuất; giá trị gia tăng; thu nhập hỗn hợp; lợi nhuận lần lượt
tính trên 1 đồng tổng chi phí
- Năng suất lao động: Năng suất lao động = GO/LĐ
- Chi phí trên đơn vị diện tích = IC/1 ha
Nói đến vấn đề HQKT của một ngành sản xuất vật chất cụ thể, người ta
thường quan tâm đến lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
* Những chỉ tiêu về hiệu quả xã hội
Khi xem xét vấn đề hiệu quả chúng ta không thể tách HQKT ra khỏi hiệu
quả xã hội và hiệu quả môi trường sinh thái, hiệu quả kinh tế đề cập đến vấn đề
lợi nhuận, trên góc độ toàn xã hội thì đó là thu nhập quốc dân đạt được trên đầu
người, trên mỗi ngày công Những chỉ tiêu này có thể không cao nhưng biến được
đất từ không sinh lợi thành sinh lợi, tăng khả năng tạo công ăn việc làm có thu
nhập, tăng được cơ sở hạ tầng cho nông thôn miền núi, góp phần nâng cao trình
độ dân trí, thay đổi thói quen canh tác lạc hậu, biến môi trường đang suy thoái
- Mở rộng được quan hệ đối ngoại và thị trường tiêu thụ
* Những chỉ tiêu về cải tạo môi trường sinh thái
Sản xuất cây ăn quả trên địa bàn trung du miền núi có ý nghĩa lớn đối với môi trường sinh thái, trong thời gian qua việc khai thái tài nguyên rừng và nước cạn kiệt làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, vì vậy phát triển sản xuất CĂQ sẽ góp phần bảo vệ và cải tạo môi trường từ chỗ mất cân bằng đến cân bằng và phục hồi hệ sinh thái bền vững
- Bảo vệ đất chống xói mòn bằng các mô hình kinh tế vườn đồi, vườn nhà, vườn đồi, mô hình nông lâm kết hợp dải băng cây phân xanh, cây họ đậu giúp giữ nước cản dòng chảy, giữ đất, cải tạo đất, tạo môi trường sinh thái bền vững, trong lành
- Nâng cao độ che phủ của đất, giữ và bảo vệ nguồn nước, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên đất và nước hiện có là các chỉ tiêu bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 18Chương 2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KINH TẾ SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ TẠI HUYỆN ĐOAN HÙNG,
TỈNH PHÚ THỌ
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Đoan Hùng
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Đoan Hùng là một huyện Trung Du miền núi, nằm ở phía Bắc của
tỉnh Phú Thọ, là cửa ngõ của bốn tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên
Bái, cách trung tâm thành phố Việt Trì 56 km về phía Tây Bắc Phía Bắc giáp
với huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái, huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang, Phía Nam
giáp với huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp với huyện Sơn Dương tỉnh
Tuyên Quang, phía Tây giáp với huyện Thanh Ba, Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ Toạ độ
địa lý của huyện nằm từ 21031’ đến 21043’ vĩ độ Bắc, 105006’ đến 105015’ kinh độ
Đông [2]
Nằm ở vị trí này huyện Đoan Hùng có thế mạnh lớn về trồng cây ăn quả,
đặc biệt là các cây ăn quả đặc sản như cây bưởi, xoài, vải, bên cạnh đó việc
thông thương đường bộ và đường thuỷ với các tỉnh lân cận rất thuận lợi
2.1.1.2 Địa hình
Với đặc trưng của vùng chuyển tiếp từ miền Trung Du và miền đồi núi
cao, huyện Đoan Hùng có tổng diện tích đất tự nhiên là 30.244,47 ha trong đó
diện tích đất gò đồi chiếm phần lớn diện tích Địa bàn huyện Đoan Hùng nằm
trên trục quốc lộ 2 và quốc lộ 70, địa hình phức tạp, đồi núi xen kẽ các cánh
đồng lầy thụt Huyện có 27 xã và một thị trấn, gồm 14 dân tộc, trong đó dân tộc
kinh chiếm phần lớn dân số trong vùng [22]
Địa hình của huyện khá phức tạp thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang
Đông, độ dốc trung bình 30- 50, có nhiều cánh đồng chua, lầy thụt năm ở các khe
độc, có chiều dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam là 31 km, Chiều rộng từ Đông sang
Tây là 14 km Sự thay đổi độ cao của các vùng trong huyện thấp dần về phía sông
Lô, sông Chảy, cụ thể địa hình được chia làm 3 tiểu vùng
- Tiểu vùng I (tiểu vùng Thượng huyện) diện tích 12.347ha (bao gồm 9
xã: Bằng Luân, Minh Lương, Bằng Doãn, Quế Lâm, Phúc Lai, Đông Khê, Tây Cốc, Ca Đình, Ngọc Quan) chiếm khoảng 41% tổng DTTN Địa hình nơi đây có nhiều đồi núi cao, rừng tự nhiên suy kiệt, chủ yếu là rừng trồng, độ dốc trung bình 12o – 25o với dải gò đồi bát úp mấp mô có độ cao trung bình từ 50m đến 100m tạo nên khoảng giữa là các thung lũng nhỏ hẹp, thích hợp cho trồng rừng sản xuất, cây công nghiệp và cây ăn quả
- Tiểu vùng II (tiểu vùng ven sông Lô, sông Chảy) có diện tích 10.800 ha,
bao gồm 13 xã (Chí Đám, Vân Du, Hùng Quan, Nghinh Xuyên, Phương Trung, Phong Phú, Thị trấn Đoan Hùng, Hữu Đô, Phú Thứ, Đại Nghĩa, Hùng Long, Sóc Đăng, Vụ Quan), chiếm 35,7% diện tích tự nhiên, là vùng chuyển tiếp có dạng núi thấp xen kẽ các dải đồng bằng hẹp ven sông Lô, sông Chảy Đất vùng ven sông nên chủ yếu là đất phù sa cổ và một phần sình lầy, thích hợp cho trồng cây lương thực, rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi và cây ăn quả
- Tiểu vùng III (tiểu vùng Hạ huyện) diện tích có 7.097,47 ha, bao gồm 6 xã (Minh Phú, Chân Mộng, Vân Đồn, Tiêu Sơn, Yên Kiện, Minh Tiến), chiếm khoảng 23,5% tổng DTTN, dạng núi thấp, xen kẽ vùng đồi bát úp có nhiều cánh đồng dạng lòng chảo, có độ cao phổ biến từ 25 m đến 50 m, có ưu thế về chăn nuôi, trồng cây công nghiệp dài ngày và cây nguyên liệu giấy cho nhà máy giấy Bãi Bằng
Bảng 2.1 Đặc điểm địa hình của huyện theo dạng địa hình năm 2007
1 Dạng thấp trũng 6.450
Chiếm khoảng 21,3% tổng DTTN, độ cao từ 13,5
m đến 25 m xen kẽ các dải đồi thấp phân bố không liên tục, có độ dốc từ 0 0 đến 8 0
2 Dạng gò đồi 14.244,3 Chiếm 47 % tổng DTTN, gồm có gò đồi thấp với độ cao 30 m đến 50 m và đồi gò cao với độ cao
50 đến 100 m, độ dốc từ 12 0 – 25 0
3 Dạng núi thấp, đồi cao 4.660 Chiếm 15,2 tổng DTTN, có độ cao từ 100m đến trên 200m, độ dốc lớn hơn 25 0
Nguồn: Phòng Địa chính huyện Đoan Hùng
Trang 1935
2.1.1.3 Khí hậu – thuỷ văn
- Khí hậu
Đoan Hùng thuộc vùng Trung Du Bắc bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu
nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa lượng mưa cao,
cường độ mạnh chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm, trời nắng gắt đôi khi có
những đợt lốc xoáy cục bộ và mưa đá Mùa khô ít mưa, có gió mùa Đông Bắc
thổi vào, trời rét, nhiệt độ thấp Đặc biệt trong tháng 11,12 và tháng 1 độ ẩm
không khí thấp, nắng hanh kèm theo sương muối làm ảnh hưởng đến sự sinh
trưởng và phát triển của một số loại cây trồng, gây thiệt hại cho sản xuất cây ăn
quả
- Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm là 230C từ tháng 11 đến
tháng 3 năm sau, các tháng lạnh nhất trong năm tập trung 58% xảy ra vào tháng 1;
20% - 30% tháng lạnh nhất tập trung vào tháng 12 và 14% tập trung vào tháng 2
- Ẩm độ: Bình quân độ ẩm không khí hàng năm từ 84% - 86%, chênh lệch
giữa các tháng không lớn từ (4%– 7%), tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 11 và
tháng 12
- Tổng lượng bốc hơi trung bình năm: là 1.176 mm thấp hơn lượng mưa
hàng năm, lớn nhất vào tháng 5 (89 mm) và nhỏ nhất vào tháng 3 (52,7 mm)
- Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bbình năm là 1644 mm Lượng mưa
của huyện Đoan Hùng phụ thuộc vào điều kiện địa hình và tiếp giáp với các
vùng mưa đầu nguồn nên huyện có lượng mưa trung bình cao hơn tỉnh Phú Thọ,
song mưa có tính chất cường độ và thời gian không đều
- Thuỷ văn
Đoan Hùng là huyện có điều kiện thuận lợi trong sản xuất nông, lâm
nghiệp, thuỷ sản vì nguồn nước do sông ngòi cung cấp cho rất lớn, tuy vậy vào
mùa mưa lũ đời sống nhân dân vùng này gặp phải rất nhiều khó khăn, toàn
huyện có hai con sông lớn chảy qua và 28 ngòi bao gồm:
- Sông Chảy có chiều dài qua huyện khoảng 22 m bắt đầu từ vùng tiếp giáp
Yên Bái là Đông Khê, Quế Lâm theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, qua các xã
Phương Trung, Nghinh Xuyên, Phong Phú, Hùng Quan, Thị trấn Đoan Hùng, Vân
Du, Chí Đám và đổ vào sông Lô tại Mom Cầy (Ngọc Chúc – Chí Đám)
36
- Sông Lô từ Tuyên Quang chảy vào Đoan Hùng tại Chí Đám, Hữu Đô theo hướng Bắc Nam, chảy qua các xã: Thị trấn Đoan Hùng, Sóc Đăng, Đại
Hai con sông này có lượng phù sa thấp hơn sông Hồng, nước chảy xiết, vào mùa mưa lũ hợp lại gây nên những trận lụt lớn cho vùng, lưu lượng 1.150 m/s.Vì vậy, công tác phòng hộ đê được các cấp chính quyền và nhân dân trong vùng rất coi trọng [2]
- Ngòi, với 28 ngòi (ngòi Lạp Xuyên, ngòi Quế Lâm, ngòi Sống, ngòi Ruỗn, ngòi Rằm…., ), cứ bình quân 3,36 km2 lưu vực có 1 km ngòi dài tạo nên cho huyện một hệ thống tưới tiêu phong phú, vừa để tiêu nước khi mưa lũ và đưa nước lên các xã vùng thượng huyện vào mùa khô
Tóm lại, điều kiện khí hậu, thuỷ văn nói trên cho thấy ngoài gió và ngập úng vùng trũng là yếu tố ảnh hưởng chính đến năng suất, sản lượng và phẩm chất cây trồng, nhìn chung các yếu tố khí tượng đều thích hợp về yêu cầu sinh lý phát triển của nhiều loại cây trồng, đặc biệt là phù hợp với cây ăn quả trong đó
có cây bưởi đặc sản phát triển rất mạnh
Do vậy, cùng với sự thuận lợi về mặt khí hậu, thời tiết và giao thông đường thuỷ, đường bộ đòi hỏi phải tìm ra các giải pháp khai thác có hiệu quả các nguồn lực của huyện, hạn chế tối đa các điều kiện bất lợi, đưa Đoan Hùng thành vùng chuyên sản xuất CĂQ hàng hoá đặc sản là yêu cầu bức thiết
2.1.1.4 Thổ nhưỡng và các đặc điểm đất đai
Theo số liệu điều tra của Viện Nông hoá thổ nhưỡng tháng 12/2002 [24] đất đai trên địa bàn huyện Đoan Hùng gồm có các nhóm đất chính sau:
- Đất phù sa ven sông: Loại đất này được bồi đắp phù sa hàng năm, độ phì khá, nghèo lân, bị úng ngập thường xuyên, đất chua, phân bố tập trung chủ yếu
ở các xã nằm ngoài hoặc ven sông trong đê vùng ven sông Lô, sông Chảy như: Vân Du, Hùng Quan, Sóc Đăng, Phong chung, Chí Đám…đất thích hợp với các loại cây nông nghiệp hàng năm và cây hoa màu hàng năm
- Đất vùng trũng: Loại đất này tập trung ở đại hình các vùng trũng, ngập úng quanh năm, nghèo chất dinh dưỡng, đất chua, có hàm lượng mùn cao, dễ tiêu, giây ở mức trung bính đến mạnh, yếm khí, phân bố ở hầu hết các xã trong
Trang 20huyện nhƣ: Đông Khê, Yên Kiện, Vân Đồn, Chí Đám…đất này thích hợp với
lúa một vụ chiêm
- Đất tầng mỏng: Loại đất này không đƣợc bồi đắp hàng năm, tập
trung ở nơi có địa hình trung bình hoặc thấp, tầng đất canh tác mỏng, mức
độ giây xảy ra mạnh, hàm lƣợng mùn ở cấp độ nghèo, phân bố tập trung ở
các vùng ven sông Lô, sông Chảy nhƣ: Hùng Quan, Vụ Quang, Phú Thứ và
rải rác ở một số xã trong huyện thích hợp với các cây hoa màu ngắn ngày
nhƣ: đậu, đỗ, khoai lang
- Đất cát: Loại đất nay do bị rửa trôi, xói mòn nhiều nên độ phì kém, đất
nghèo chất dinh dƣỡng, bị khô hạn, phân bố tập trung chủ yếu ở xã Chí Đám,
thích hợp với các cây hoa màu (đậu, đỗ, khoai lang)
- Đất xám: Tầng dầy đất 50cm đến 70cm, đất ít kết vón đá ong, đất chua, nghèo
lân, phân bố ở các địa hình trung bình và cao ở các xã trong huyện, thích hợp với các
cây công nghiệp hàng năm, cây lâm nghiệp lâu năm, cây ăn quả…
- Đất đỏ: Loại đất này phân bố tập trung ở các xã thuộc tiểu vùng thƣợng
huyện nhƣ: Tây Cốc, Bằng Luân, Bằng Doãn, Minh Long và rải rác một số xã
vùng kinh tế thƣợng huyện nhƣ Tiêu Sơn, Minh Tiến trên nền độ cao trung bình
từ 50m đến 100m, thích hợp với các cây công nghiệp, cây lâu năm
- Về số lƣợng: huyện Đoan Hùng có 6 nhóm đất chính, trong đó có 3
nhóm chiếm diện tích lớn là nhóm đất xám có tỷ trọng lớn nhất chiếm 66,47%
tổng diện tích đất tự nhiên, đất phù sa chiếm 13,66%, đất đỏ chiếm 5,2% tổng
diện tích đất tự nhiên Các loại đất này đều nằm trong vùng tiềm năng để phát
triển sản xuất CĂQ (bảng 2.2)
- Về chất lƣợng: Qua các kết quả phân tích các thành phần hoá học trong đất
của viện nông hoá thổ nhƣỡng, cho thấy đất đai của Đoan Hùng có các mức chất
lƣợng trung bình chủ yếu chiếm 38,66% với 11.691,98 ha, còn lại là đất trung
bình, khá, đất có chất lƣợng kém chỉ chiếm 2,78% với 841,107 ha Về độ dốc
chủ yếu trong khoảng 80 – 150, chiếm 53,25%
Bảng 2.2 Tình hình đất đai của huyện năm 2007
(Theo số lượng và chất lượng đất đai)
- Đất xám 20.104,27 66,47 Có thể cải tạo để trồng CĂQ
- Đất đỏ 1.573,05 5,2 Loại đất này rất thích hợp để trồng CĂQ
- Sông, hồ, suối 2.765,79 9,15
2 Theo chất lƣợng đất đai Chất lƣợng đất
- Đất có chất lƣợng khá 5.707,93 18,87 Đất phù sa, đất đỏ
- Đất có chất lƣợng TB-Khá 5.157,073 17,05 Đất xám, điển hình: Sẫm màu, đỏ nâu
- Đất có chất TB 11.691,98 38,66 Đất xám, loang lổ, kết von, đất glay
Trang 2139
Qua việc xem xét số lượng và chất lượng đất của Đoan Hùng cho thấy,
tiềm năng đất đai của huyện để CĂQ sinh trưởng, phát triển tốt còn rất lớn, tuy
vậy để sản xuất CĂQ đặc sản thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung, các hộ
phải biết thường xuyên cải tạo đất, tăng độ phì của đất bằng cung cấp chất hữu
cơ giàu dinh dưỡng cho đất và sản xuất thâm canh, xen canh CĂQ với các cây
trồng họ đậu, cây cải tạo đất
2.1.1.5 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai
Năm 2007 tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Đoan Hùng là 30.244, 47
ha, trong đó đất nông nghiệp là 11.495,6 ha, chiếm 39,19%, diện tích đất lâm
nghiệp là 13.432,21 chiếm 44,41% Đây là hai nguồn đất quan trọng để phát
triển mở rộng sản xuất trồng CĂQ, vì nguồn quỹ đất chưa khai thác sử dụng của
huyện còn không lớn 664,03 ha, chiếm 2,3% (bảng 2.3)
Năm 2006 và năm 2007 sự biến động về diện tích các loại đất không lớn,
năm 2007 diện tích đất đã đưa vào sử dụng là 27.887,58 ha, chiếm 92,21% tổng
diện tích tự nhiên, tăng 0,1% so với năm 2006, còn lại 664,03 ha diện tích tự
nhiên đất chưa đưa vào khai thác (chiếm 2,33%), giảm 0,12% so với năm 2006,
trong đó đất chưa sử dụng có khả năng sản xuất nông, lâm nghiệp là 380,27 ha,
giảm 0,763% so với năm 2006
Do vậy, Đoan Hùng là huyện có diện tích đất sử dụng không lớn, muốn
phát triển diện tích trồng CĂQ thì người dân phải khai thác chủ yếu từ quỹ đất
nông, lâm nghiệp hiện có thông qua việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất chiếm 44,41%, chủ yếu là rừng trồng
sản xuất, đất nông nghiệp chiếm trên 39% Tiềm năng đất nông, lâm nghiệp rất
lớn, chiếm trên 87% tổng quỹ đất của huyện, so với năm 2006, năm 2007 diện
tích đất nông lâm nghiệp giảm 5,8 ha do chuyển sang đất chuyên dùng (đất giao
C cấu (%)
D.Tích (ha)
C.cấu (%)
D.Tích (ha)
C.cấu (%) Tổng diện tích tự nhiên 30.244,47 100 30.244,47 100 30.244.47 100
Trong đó:-Trồng cây ăn quả 1874,9 6,20 2,008,30 6,64 2,190,60 7,243
Trang 2210,33% 2,33%
87,31%
Đồ thị 2.1 Cơ cấu đất đai của huyện năm 2005 - 2007
Diện tích đất nông nghiệp tăng giảm không đều, năm 2007 diện tích đất
nông nghiệp giảm 0,94% (tương đương 108,87 ha) so với năm 2006, chủ yếu do
diện tích đất trồng cây hàng năm giảm và diện tích đất vườn tạp giảm, diện tích
trồng CĂQ lại tăng lên đáng kể, tăng 182,3 ha, cho thấy nhiều hộ gia đình trong
huyện đã thấy được việc trồng CĂQ ngày càng đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn
so với một số cây trồng khác nên họ đã từng bước thay đổi cơ cấu cây trồng cho
hộ của mình
Trong những năm gần đây, nhìn chung người nông dân đã có những nhìn
nhận mới trong việc sử dụng đất đai, các giống CĂQ cho năng suất cao, thích
hợp với điều kiện đất đai của vùng được đưa vào trồng với quy mô diện tích lớn,
tập trung, đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác (thâm canh, xen
canh) nhằm nâng cao hệ số sử dụng đất Diện tích đất nông nghiệp lớn thứ hai
sau đất lâm nghiệp (chiếm 39,19% DTTN), tuy vậy việc khai thác, sử dụng hiệu
quả chưa cao vì bằng chứng cho thấy diện tích vườn tạp còn lớn 2.535,66 ha
(tương đương 8,38%), so với năm 2007 diện tích đất này đã giảm, nhưng không
giảm mạnh Trong thời gian tới cần sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn
đất nông, lâm nghiệp bằng cách chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý có hiệu quả
kinh tế cao, cải tạo diện tích vườn tạp… tạo nên vùng sản xuất hàng hoá tập
trung theo thế mạnh của huyện Đoan Hùng là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội
Năm 2005
9,99%
87,69%
của huyện phát triển
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Đoan Hùng
2.1.2.2 Dân số và lao động
Huyện có 28 đơn vị hành chính, xã Bằng Luân là xã có diện tích lớn nhất 11,76 km2 và nơi tập trung dân cư đông nhất là Chí Đám 8.394 người với mật độ dân số 658 người/km2 Trong 8 xã đặc biệt khó khăn (xã 135), xã Bằng Doãn là
xã có diện tích tự nhiên lớn hơn cả là 14,36 km2, đứng thứ 5 trong huyện với mật
độ dân số thấp 209 người/km2, các xã còn lại có số dân từ 1.692 đến 6.694 người, diện tích đất tự nhiên bình quân đầu người là 0,28 ha và bình quân một hộ là 1,16
ha Mật độ dân số trung bình toàn huyện là 356 người/km2 phân bố không đồng đều, tập trung ở các huyện lị ven sông và ven Quốc lộ Các xã vùng sâu, vùng xa mật độ còn thưa thớt; xã thấp nhất là Ca Đình 196 người/km2 và xã cao nhất là Thị trấn Đoan Hùng 1.304 người/km2
Tổng dân số của huyện năm 2007 là 107.771 người, trong đó dân số nông nghiệp 90.828 người chiếm 84,3%, dân số phi nông nghiệp 1.6943 người, chiếm 15,7%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,1 5 Tổng số hộ 25.996 hộ, trong đó hộ nông nghiệp là 19.771 hộ, chiếm 76,05% (bảng 2.4)
Năm 2007 tổng số lao động của huyện là 54.359 người, trong đó phần lớn
là lao động nông nghiệp là 43.199 người chiếm 79,47%, lao động phi nông nghiệp là 11.160 người chiếm 20,53% tổng số lao động
Số lượng lao động của huyện tăng giảm không đều và mức độ biến động không lớn, tốc độ phát triển bình quân 3 năm đạt 1,86%, lao động nông nghiệp giảm 1% Tuy vậy, số lượng lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, cho thấy đây là nguồn nhân lực dồi dào cho phát triển kinh tế nông nghiệp, trong đó có hiệu quả kinh tế sản xuất CĂQ
Sản xuất của người nông dân trong huyện chủ yếu là ngành nông nghiệp, đời sống người nông dân còn nhiều khó khăn Chính vì vậy, điều cần thiết phải nâng cao thu nhập cho người lao động nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây tồng theo hướng cây trồng có HQKT cao, đó là các cây ăn quả đặc sản có giá trị kinh
tế cao
Trang 231 Nhân khẩu nông lâm nghiệp người 90.572 85,7 92.205 86,48 92.828 86,1 101,80 100,68 101,24
2 Nhân khẩu phi nông nghiệp người 15.065 14.3 14.409 13.52 14.943 13,9 95,65 103,71 99,68
III Tổng số lao động quy LĐ 63.143 100 63.346 100 62.606 100 100,3 98,83 99,57
1 Lao động trong tuổi LĐ 59.860 94,8 60.450 95,4 61.000 97,43 101 100,9 100,95
2 Lao động ngoài tuổi quy LĐ 3.283 5,2 2.896 4,6 2.606 2,57 88,21 89,99 89,10
IV Phân bổ lao động LĐ 52.395 53.800 54.359 102,7 101,04 101,87
1 Lao động nông lâm nghiệp, thuỷ sản LĐ 43.670 83,35 43.605 81,05 43.199 79,47 99,84 99,07 99,46
Bảng 2.5 Dân số và mật độ dân số các xã trong huyện năm 2007
STT Tên xã, thị trấn Tổng diện tích đất tự nhiên
(km2)
Dân số (người) Mật độ dân số (Người/km2)
Trang 24Đồ thị 2.2 Tình hình lao động của huyện năm 2005 - 2007
Đồ thị 2.3 Dân số và mật độ dân số của huyện năm 2007
Ngoài ra lao động nông nghiệp giảm chứng tỏ hướng chuyển đổi cơ cấu
kinh tế trên địa bàn đã có hướng chuyển biến tích cực, tạo việc làm cho lao động
sang các ngành sản xuất khác như: chế biến, khai thác, xây dựng…, làm tăng
diện tích đất nông nghiệp/lao động nông nghiệp, tạo điều kiện mở rộng quy mô
Dân số năm 2007 (người )
Mật độ dân số năm 2007 (người/km2)
Tiểu vùng III Tiểu vùng II
Tiểu vùng I
272
458 347
Lao động (người)
canh tác ở các vườn CĂQ, tăng thu nhập cho người lao động
Hiện nay, đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật còn thiếu nhiều, đòi hỏi phải bổ sung về đào tạo để đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường Đặc biệt là quá trình sản xuất cây ăn quả phải có một lực lượng lao động dồi dào, giàu kinh nghiệm, phải am hiểu kỹ thuật thì sản xuất CĂQ mới đem lại hiệu quả kinh tế cao
Năm 2007 tiểu vùng II (vùng ven sông Lô, sông Chảy) có dân số 49.893 người và mật độ dân số 458 người/km2 cao nhất trong vùng, dân số thấp nhất là tiểu vùng III (vùng thượng huyện) với số dân 24.167 người, mật độ dân số là
347 người/km2, vùng có mật độ dân số thấp nhất là vùng hạ huyện (tiểu vùng I)
- Thu nhập và mức sống: Tổng sản lượng lương thực của huyện năm 2007 đạt 43.537,3 tấn, giảm 1,3% so với năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo còn 10,48% (theo tiêu chuẩn của Sở LĐTBXH), số hộ khá, giàu chiếm 43,78%, hộ trung bình 44,74%, số hộ nghèo đang có xu hướng thu hẹp dần
2.1.2.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn huyện
Bảng 2.6 Thực trạng cơ sở hạ tầng của huyện năm 2007
Trang 2547
tính Tổng số
Tỷ lệ (%)
17 Số km bê tông hoá đường liên thôn, xóm km 92
18 Số xã có điểm bưu điện văn hoá xã xã 25 89,29
Nguồn: Phòng thống kê huyện Đoan Hùng
- Đường thuỷ
Huyện có hai con sông lớn (sông Chảy và sông Lô) chảy qua với chiều
dài 46 km, đáp ứng nhu cầu vận tải thuỷ vừa và nhỏ cho nhân dân Nhìn chung
huyện Đoan Hùng có hệ thống giao thông đường thuỷ khá phong phú, tạo điều
kiện thuận lợi để giao lưu, buôn bán và vận chuyển sản phẩm, hàng hoá đi tiêu
Các công trình thuỷ lợi nhỏ trên địa bàn tưới được 2.659 ha, thực tế chỉ tưới được 1.610 ha đạt 60,55%, phần diện tích còn lại có nước mưa và người nông dân phải chủ động tưới, dùng các biện pháp thuỷ lợi khác để đáp ứng nhu cầu sản xuất Điều này đòi hỏi các cấp chính quyền địa phương phải quan tâm, huy động nguồn vốn kịp thời để nâng cấp cơ sở hạ tầng, tu sửa hệ thống thuỷ lợi nhằm khai thác tốt công suất các công trình, tiềm năng nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất CĂQ trên vùng đồi núi của huyện
- Điện lưới
Hiện nay 100% các xã có điện lưới và số hộ dùng điện đạt 100%, bên cạnh đó để cung cấp thông tin, liên lạc hàng ngày và sách báo cung cấp cho nhân dân trong huyện đến nay đã có 25 xã có điểm bưu điện văn hoá xã được xây dựng đạt 89,29%, và 100% xã có đài truyền thanh tại các thôn, số điện thoại bình quân trên 100 dân đạt 9,6 máy
2.1.2.3 Thực trạng kinh tế của Đoan Hùng
- Cơ cấu kinh tế
Trong xu thế đổi mới chung của đất nước, kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ nói chung và huyện Đoan Hùng nói riêng đã có được một kết quả khá khả quan
Trang 26Bảng 2.7 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện năm 2005 - 2007
Giá trị (Tr.đồng)
Cơ cấu (%)
Giá trị (Tr.đồng)
Cơ cấu (%) 05/06 06/07
BQ
05 - 07 Tổng
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đoan Hùng
Đoan Hùng chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tỷ trọng của ngành nông, lâm
nghiệp vẫn còn cao, chiếm 44,52% vào năm 2007, giá trị sản xuất ngành thương
mại dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp nhất Đây là một nguyên nhân chủ yếu giải
thích vì do đâu mà các sản phẩm nông nghiệp nói chung, sản phẩm cây ăn quả
nói riêng chưa trở thành hàng hoá rộng rãi cung cấp trên thị trường, khó khăn
trong khâu tiêu thụ sản phẩm vì ngành thương mại, dịch vụ chậm phát triển Tuy
vậy, nhờ có vị trí thuận lợi cả về đường bộ và đường thuỷ, dịch vụ thương mại
trên địa bàn huyện trong những năm gần đây có nhiều chuyển biến tích cực
Tổng mức lưu chuyển hàng hoá trên địa bàn không ngừng tăng năm 2005 đạt
89.761,9 triệu đồng đến năm 2007 là 122.320 triệu đồng tăng 32.558,1 triệu
đồng, tương đương 36,27%
Đồ thị 2.4 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện 2005
(GO tính theo giá năm 1994)
Đồ thị 2.5 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện năm 2007
(GO tính theo giá 1994)
Hệ thống chợ nông thôn được quan tâm cải tạo, nâng cấp và xây mới Nếu năm 1998 chỉ có 13 xã có chợ đến năm 2007 đạt 100% các xã trong huyện có chợ cho thấy, nhu cầu trao đổi sản phẩm sản xuất ngày càng tăng, sự giao lưu buôn bán mở rộng sản xuất hàng hoá, thị trường tiêu thụ ngày càng được chú trọng
Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chỉ có mới chuyển biến bước
Giá tri sản xuất Cây hàng năm 43,12%
Chăn nuôi 32,64%
Cây CN dài ngày 4,90%
Cây ăn quả 12,61%
Các sản phẩm khác 6,73%
Giá trị sản xuất cây hàng năm 37,02%
Chăn nuôi 40,29%
Cây CN dài ngày 5,37 %
Cây ăn quả 14,33%
Các sản phẩm khác 2,99%
Trang 2751
đầu ở một số lĩnh vực như công nghệ chế biến chè xanh, vật liệu xây dựng, cơ
khí nông nghiệp phục vụ sản xuất, chế biến lâm sản (đũa gỗ xuất khẩu 200 triệu
đôi năm 2007, nguyên liệu giấy…) Quy mô sản xuất công nghiệp còn nhỏ, trình
độ công nghệ thấp, thiết bị còn lạc hậu, chưa gắn với nguồn nguyên liệu, chất
lượng và mẫu mã sản phẩm chưa thu hút được người tiêu dùng
Các thế mạnh của Đoan Hùng là sản xuất cây ăn quả, trong đó có cây ăn
quả đặc sản là cây bưởi, hoa màu lương thực Hai sản phẩm này có khối lượng
lớn nhưng chưa có công nghiệp chế biến; chè xanh có khối lượng lớn nhưng giá
trị sản phẩm chế biến chưa cao Sản xuất vật liệu xây dựng (gạch, cát, sỏi ) chưa
được đầu tư phát triển thoả đáng
Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản năm
2007 tăng 43,8% so với năm 2006, đạt 185.800 triệu đồng, tăng cao nhất so với
các ngành kinh tế khác
Trong nhiều năm qua, nguồn vốn dành cho các tỉnh miền núi trong đó
Đoan Hùng khá nhiều, nguồn vốn dành cho tập trung phát triển sản xuất CĂQ
đặc sản của vùng lớn, với lãi suất ưu đãi 4%/năm, được ngân sách tỉnh cấp hỗ
trợ 5 triệu đồng/1ha và 50% giá cây giống Đây là điểm rất thuận lợi đối với các
hộ nông dân trồng CĂQ nơi này
Giá trị sản xuất CĂQ nằm trong nguồn thu trong giá trị sản xuất cây lâu
năm thuộc giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, vì vậy để xem xét sự đóng góp
của giá trị sản xuất CĂQ trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (bảng
2.8, đồ thị 2.5, 2.6.)
- Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp huyện Đoan Hùng: Năm 2007 cơ
cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đã dần thay đổi tỷ trọng so với năm
2005, GTSX cây hàng năm đã giảm xuống còn 37,02% (tương đương 80.297,97
triệu đồng), GTSX ngành chăn nuôi tăng lên 7,65%, ngành sản xuất CĂQ,
GTSX tăng lên 1,72% (tăng 6.788,8 triệu đồng)
52
Bảng 2.8 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của huyện năm 2005 - 2007
(Tính theo giá cố định năm 1994)
Chỉ tiêu
Giá trị (triệu đồng)
C.cấu (%)
Giá trị (triệu đồng)
C.cấu (%)
Giá trị (triệu đồng)
C.cấu (%) 06/05 07/06
BQ
05 -
07 Tổng số 192.580,6 100 202.483,0 100 216.897,6 100 105,1 107,1 106,1 1.GT sản xuất cây
hàng năm 83031,22 43,12 77.345,55 38,20 80297,97 37,02 93,2 103,8 98,5
2 GT sản xuất chăn nuôi 62851,80 32,64 76.442,20 37,75 87391,0 40,29 121,6 114,3 118,0
3 GTSX cây CN dài ngày 9437,40 4,9 12.123,90 5,99 11657,2 5,375 128,5 96,2 112,3
4 GT sản xuất cây
ăn quả 24287,30 12,61 28.678,80 14,16 31076,1 14,33 118,1 108,4 113,2
5 GTSX các sản phẩm khác 12972,88 6,736 78.92,50 3,90 6475,33 2,99 60,8 82,04 71,4
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đoan Hùng
Giá vật tư tạm tính: Cây giống: Bưởi 10 nghìn đồng/cây, vải: 7 nghìn đồng/cây, giống xoài: 6 nghìn đồng/cây, phân đạm: 7 nghìn đồng/kg, phân lân,
ka ly:3,44 nghìn đồng/kg, phân hữu cơ 300đ/kg, vôi bột 2,2 nghìn đồng/kg, thuốc BVTV: 120 nghìn đồng/kg, ngày công lao động tại địa phương là 30 nghìn đồng/công
- Cơ sở dịch vụ nông nghiệp: Gồm nhiều cơ sở như Trung tâm Khuyến nông và các trạm, trại giống cây trồng, giống gia súc; trung tâm chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp; trung tâm học tập cộng đồng; các cửa hàng vật tư, bảo vệ thực vật, thuốc thú y; các trung tâm ươm giống cây ăn quả, cây lâm nghiệp… có khả năng cung cấp đủ giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng cao cho vùng
- Cơ sở chế biến: Gồm có sản xuất mành cọ, chế biến gỗ, đũa xuất khẩu, sản xuất mành luồng, xưởng xẻ – chế biến đồ gia dụng, các cơ sở sản xuất, kinh doanh kinh doanh gỗ nguyên liệu, kinh doanh tre, vật liệu xây dựng, chế biến chè xanh, chè đen, máy xay sát tư nhân…
Tóm lại, qua việc xem xét điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, sử dụng đất đai, nguồn lực lao động, vật lực của huyện cho nhận thấy huyện có một số mặt thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển sản xuất và nâng cao HQKT sản xuất CĂQ
Trang 282.1.3 Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong quá trình sản xuất và nâng cao
hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả của huyện
2.1.3.1 Thuận lợi
trí tương đối thuận lợi, phía Bắc giáp với tỉnh Yên Bái, phía Đông giáp tỉnh
Tuyên Quang, phía Nam giáp với khu công nghiệp Việt Trì, Bãi Bằng, giao
thông đường thuỷ (sông Lô, sông Chảy), đường bộ (quốc lộ 2 và quốc lộ 70), tạo
điều kiện tốt cho giao lưu văn hoá, kinh tế hàng hoá với các tỉnh lân cận và Hà
Nội
- Là huyện có điều kiện thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng và
chăn nuôi, tiềm năng đất nông, lâm nghiệp dành cho sản xuất cây ăn quả còn
lớn, song điều cần quan tâm, phải có chiến lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng
một cách hợp lý thành vùng chuyên môn hoá sản xuất CĂQ hàng hoá theo thế
mạnh của vùng
- Kinh tế huyện có xu hướng chuyển dịch tốt, tốc độ tăng trưởng khá với
nguồn lao động dồi dào, trẻ, trình độ ngày càng được nâng cao, đây sẽ là nguồn
lực để khai thác tiềm năng nguồn lực thuận lợi về điều kiện tự nhiên, đất đai để
phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới
2.1.3.2 Khó khăn
- Đoan Hùng là một huyện miền núi có địa hình phức tạp, một số cơ sở
kỹ thuật, cơ sở hạ tầng đang xuống cấp, đường liên thôn, xóm chủ yếu là đường
đất, điều kiện đi lại khó khăn (đặc biệt vào mùa mưa), mặc dù được quan tâm
nhưng chưa có chi phí hoàn thiện công trình nên ảnh hưởng lớn đến cuộc sống
cộng đồng và lưu thông hàng hoá
- Huyện Đoan Hùng có nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất cây ăn quả
(bưởi, vải) thành vùng sản xuất hàng hoá, nhưng hiện tại cơ sở hạ tầng còn đang
ở mức độ thấp Các cơ sở sản xuất giống cây trồng, bảo quản, chế biến hầu như
chưa có Trình kỹ thuật của người dân còn thấp mà sự chỉ đạo, hướng dẫn, đào
tạo còn chưa đáp ứng được
- Huyện có tiềm năng mở rộng diện tích gieo trồng các cây nông nghiệp đặc biệt là cây ăn quả Song, khả năng nguồn lực về vốn trong dân còn yếu, kém, hộ đói nghèo còn chiếm tỷ lệ lớn 20,48%, kỹ thuật và vật tư kỹ thuật Thu nhập bình quân đầu người thấp so với nhu cầu thực tế, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế chậm, tập quán canh tác còn lạc hậu, áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất còn chậm đất đai kém màu mỡ do khai thác sử dụng, khả năng tiếp cận thông tin thị trường còn hạn chế
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ TẠI HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ
2.2.1 Thực trạng sản xuất cây ăn quả tại huyện Đoan Hùng
Với ưu thế về địa lý, tiềm năng đất đai, khí hậu thời tiết tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp của Đoan Hùng, đặc biệt là các giống cây ăn quả đặc sản và cây công nghiệp dài ngày
Trước đây Đoan Hùng là một huyện nghèo miền núi của tỉnh Phú Thọ, gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế vì đất đai kém màu mỡ, rất khó khăn trong việc tưới tiêu, cây trồng phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên, nên thu nhập nông nghiệp thất thường, cuộc sống của người dân nơi đây còn gặp phải nhiều khó khăn Người dân khai thác rừng cạn kiệt để lại đất trống, đồi núi trọc, cuộc sống chủ yếu dựa vào làm vườn, trồng cây ăn quả Những năm gần đây, sản xuất cây ăn quả dần tăng diện tích lên thành vùng sản xuất hàng hoá Đây là một thế mạnh, mũi nhọn trong sản xuất nông nghiệp nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đa dạng hoá cây trồng, cải thiện đời sống nhân dân trên toàn huyện Người dân Đoan Hùng đã có tập quán trồng cây ăn quả như bưởi từ lâu đời, song các cây ăn quả đặc sản chỉ được trồng tập trung tại các xã nổi tiếng trồng CĂQ có hương vị thơm ngon, bưởi Bằng Luân, Chí Đám, vải Hùng Long Diện tích một số cây ăn quả chính như bưởi, xoài, vải có diện tích và sản lượng tăng lên đáng kể, một số cây ăn quả khác không thích hợp với điều kiện môi trường hoặc không có hiệu quả kinh tế đã được dần loại bỏ để trồng các cây ăn quả đặc sản thế mạnh của vùng
Trang 2955
Việc đầu tư KTCB hết sức quan trọng và rất quyết định đến sự phát triển
của cây ăn quả ở giai đoạn sau; nếu giai đoạn trước đầu tư còn thấp thì giai đoạn
sau phải đầu tư cao hơn nếu không cây ăn quả phát triển sẽ kém và năng suất
thấp Vì vậy để tìm hiểu xem việc đầu tư ở giai đoạn KTCB ra sao đối với 3 cây
ăn quả chủ lực của huyện (bảng 2.9, 2.10, bảng 2.11.)
Tình hình đầu tư ở thời kỳ KTCB của cây bưởi là cao nhất, cây xoài có
khối lượng vốn đầu tư hơn cây vải, điều này cho thấy không phải vì đầu tư kém
mà giá trị sản xuất thu được của cây xoài kém
Khi trao đổi với các chủ nông hộ, các cán bộ địa phương cho biết, cây
xoài là một cây gắn bó khá mật thiết với người nông dân làm vườn nơi đây, cây
cho năng suất quả lớn, song loại quả này chưa được thị trường chấp nhận, quả
chín ồ ạt và quả chỉ ăn được khi chín vàng, do vậy khâu tiêu thụ rất kém, đa
phần quả chín để rơi dụng hoặc cho gia súc ăn thay cỏ
Nhìn chung sản xuất CĂQ ở Đoan Hùng đang có những chuyển biến tốt
theo cơ chế thị trường, đặc biệt là chính sách giao đất, giao rừng cho hộ nông
dân của Đảng và Nhà nước ta đã tạo ra môi trường thuận lợi cho người nông dân
vươn lên chủ động trong sản xuất, sử dụng đất có hiệu quả hơn bằng cách thay
thế cây trồng kém hiệu quả bằng các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao Tuy
nhiên, với tiềm năng kinh tế của Đoan Hùng và kinh nghiệm sản xuất của hộ
nông dân, thì sự biến đổi trên đứng trước một thực tế là vốn đầu tư cho CĂQ
chưa thoả đáng, đời sống của người nông dân ở giai đoạn CĂQ trong thời kỳ
KTCB (không có thu hoạch sản phẩm quả) rất khó khăn, chính vì vậy, CĂQ
không phải là đối tượng được quan tâm chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật, dẫn
đến cây cho năng suất giảm (cây bưởi giảm năng suất vào năm 2007 còn 40
tạ/ha)
Đa số các hộ còn thiếu lao động, làm nhiều công việc khác, hoặc đi làm
thuê, làm mướn lấy tiền chi tiêu hàng ngày, vì vậy họ sao lãng trong việc chăm
sóc vườn CĂQ của mình và chỉ làm tranh thủ lúc nhàn rỗi Không có người theo
dõi thường xuyên vườn CĂQ sát sao, đặc biệt là cây bưởi nên nhiều khi bị sâu
56
bệnh phá hoại nặng mới phát hiện ra, không chữa được mà phải chặt để tiêu huỷ mầm bệnh Nói chung việc thực hiện chăm sóc cây trồng trên thực tế chưa đúng quy trình kỹ thuật là phổ biến
Theo số liệu tính toán được, trong chi phí sản xuất cây ăn quả ở giai đoạn KTCB gồm các hạng mục chủ yếu đó là chí phí về giống, chi phí về phân bón và quan trọng hơn cả là chi phí về nhân công trong đó chi phí nhân công chiếm tỷ
lệ cao trên 60% vì giá ngày công lao động hiện tại là rất cao
Bảng 2.9 Chi phí sản xuất cho 1 ha cây bưởi KTCB của huyện năm 2007
Chỉ tiêu
ĐVT
Hộ đầu tư cao Hộ đầu tư tr.bình Hộ đầu tư thấp
Số lượng
Giá trị Tr.đồng
Số lượng
Giá trị Tr.đồng
Số lượng
Giá trị Tr.đồng
Trang 30Bảng 2.10 Chi phí sản xuất cho 1 ha cây vải KTCB của huyện năm 2007
Chỉ tiêu ĐVT Hộ đầu tư cao Hộ đầu tư tr.bình Hộ đầu tư thấp
Số lượng Giá trị Tr.đ Số lượng Giá trị Tr.đ Số lượng Giá trị Tr.đ
Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ phiếu điều tra
Chi phí đầu tư cho 1 ha bưởi với hộ đầu tư cao là trên 34 triệu/ha, cây vải
là trên 25 triệu đồng/ha, cây xoài là trên 26 triệu đồng/ha Chứng tỏ cây xoài đòi
hỏi chi phí đầu tư ban đầu lớn hơn cây vải mà thu nhập mang lại thấp hơn, các
chỉ tiêu tính hiệu quả kinh tế của cây xoài đều thấp hơn cây bưởi và cây vải Do
đó, cho dù cây xoài là cây tốn nhiều công sức đầu tư cũng như gắn bó thân thuộc
với người dân thì họ cũng phải quyết định loại bỏ cây trồng này để thay thế bằng
cây trồng khác có HQKT cao hơn
Bảng 2.11 Chi phí sản xuất cho 1 ha cây xoài KTCB của huyện năm 2007
Hộ đầu tư cao Hộ đầu tư
tr.bình Hộ đầu tư thấp
Số lượng
Giá trị Tr.đồng
Số lượng
Giá trị Tr.đồng
Số lượng
Giá trị Tr.đồng
Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ phiếu điều tra
Hiệu quả sản xuất cây ăn quả nói chung ở các hộ gia đình cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào khâu đầu tư cả hai giai đoạn là kiến thiết cơ bản và giai đoạn kinh doanh Khâu đầu tư kiến thiết cơ bản được đầu tư đúng mức nhưng ở khâu đầu tư chăm sóc bưởi kinh doanh kém và ngược lại đều không mang hiệu quả mong muốn
Xác định mối quan hệ giữa mức đầu tư và kết quả đầu tư là vấn đề khó khăn, chỉ có thể thực hiện được trong nghiên cứu thí nghiệm và thực nghiệm Khi hạch toán, coi chi phí thời kỳ kiến thiết cơ bản là chi phí cố định và được phân bổ ở các năm thời kỳ kinh doanh
Trong vùng sản xuất đại trà về cây bưởi, vải, xoài, tổng hợp điều tra các
xã, thôn, đội có cơ cấu diện tích trồng CĂQ so với tổng diện tích tự nhiên của
Trang 3159
vùng đó là lớn để đi khảo sát phỏng vấn thực tế bằng các bảng, phiếu điều tra,
tổng hợp phân tích ở bảng 2.12
Bảng 2.12 Mức đầu tư vốn sản xuất bưởi, xoài, vải tại
một số điểm điều tra của huyện năm 2007
Nhóm hộ Đầu tư tr.bình
Nhóm hộ đầu tư thấp
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Tổng hợp số liệu của 90 hộ điều tra tại các xã điển hình trồng CĂQ cho
thấy mức đầu tư kiến thiết cơ bản (KTCB) bình quân 1ha trồng bưởi dao động từ
28 triệu đồng/ha đến trên 35 triệu đồng/ha Nhóm hộ có mức đầu tư cao chiếm
Giai đoạn đầu tư kiến thiết cơ bản hết sức quan trọng là yếu tố quyết định đến sự phát triển của cây bưởi, cây vải của Đoan Hùng ở các giai đoạn tiếp theo; nếu giai đoạn trước đầu tư còn thấp thì giai đoạn sau phải đầu tư cao hơn, nếu không cây ăn quả sẽ phát triển kém, còi cọc Sau khi cây cho thu hoạch cây rất cần các chất dinh dưỡng để bổ sung phần mất đi do con người thu hoạch sản phẩm Vì vậy, con người cần phải biết đầu tư thâm canh hợp lý cả ở thời kỳ kiến thiết cơ bản và thời kỳ kinh doanh
Chi phí thâm canh 1 ha bưởi bình quân là 18.686,3 nghìn đồng, của xoài kinh doanh là 15.729,7 nghìn đồng, của vải kinh doanh là 12.680,4 nghìn đồng Nếu đem so sánh với ngô, sắn thì chi phí sản xuất của bưởi, xoài vải lớn hơn nhiều (bảng 2.13, 2.14, 2.15)
Trong khi đó chi phí trung gian của bưởi kinh doanh là 9.269,3 nghìn đồng (chiếm 49,6%), chi phí lao động 7.950 nghìn đồng (chiếm 42,54%), chi phí
về phân hữu cơ là 4.590 nghìn đồng chiếm 49,52% tổng chi phí trung gian Đối với xoài chi phí trung gian khá cao là 8.036,3 nghìn đồng, chi phí lao động là 6.660 nghìn đồng chiếm 42,34% tổng chi phí sản xuất, chi phí phân hữu cơ là 4.200 nghìn đồng chiếm 52,26% tổng chi phí trung gian Cây vải có tổng chi phí trung gian thấp nhất là 6.163,4 nghìn đồng, chi phí lao động là 5.550 nghìn đồng
và chi phí phân hữu cơ cũng thấp hơn so với cây xoài là 1.200 nghìn đồng Như vậy, cho thấy trong 3 cây ăn quả chủ lực của vùng là cây bưởi, cây xoài, cây vải, thì cây bưởi có chi phí thâm canh cao nhất, cây vải kinh doanh có chi phí thấp nhất Cây xoài có chi phí cao song tính kết quả và hiệu quả kinh tế thu được không cao Sản xuất cây bưởi, cây vải, không những đầu tư cao về vốn mà còn đầu tư cao cả về lao động, lao động là yếu tố quan trọng có vai trò quyết định trong sản xuất kinh doanh
Trang 32Bảng 2.13 Tình hình đầu tư thâm canh cho 1 ha trồng bưởi qua các nhóm hộ điều tra của huyện năm 2007
(Chỉ tính cho cây bưởi kinh doanh 8 – 10 tuổi)
Chỉ tiêu ĐVT
Nhóm hộ đầu tư cao Nhóm hộ đầu tư
Trung bình
Nhóm hộ đầu tư thấp Bình quân
Số lượng Giá trị (1.000đ)
Số lượng Giá trị (1.000đ)
Số lượng Giá trị (1.000đ)
Số lượng Giá trị (1.000đ) Tổng chi phí 1000đ 22.040,3 18.296,8 15.720,7 18.686,3
1 Tổng chi phí trung gian 1000đ 11.740,3 8.996,8 7.070,7 9.269,3
- Phân hữu cơ Tấn 21 6.300 15 4.500 10 3.000 15,3 4.590
- Đạm urê kg 360 2.520 300 2.100 280 1.960 313,3 2.193,3
- Phân lân Supe kg 416 1.431,1 320 1.100,8 285 980,4 340,3 1.170,6
- Phân kali sulphat kg 180 619,2 150 516 128 440,3 152,67 516
Bảng 2.14 Tình hình đầu tư thâm canh cho 1 ha trồng vải qua các nhóm hộ điều tra của huyện năm 2007
(Chỉ tính cho cây vải kinh doanh từ 8 – 10 tuổi)
Chỉ tiêu ĐVT
Nhóm hộ đầu tư cao Nhóm hộ đầu tư
Trung bình
Nhóm hộ đầu tư thấp Bình quân
Số lượng Giá trị (1.000đ)
Số lượng Giá trị (1.000đ)
Số lượng Giá trị (1.000đ)
Số lượng Giá trị (1.000đ) Tổng chi phí 1000đ 14.906 12.850,6 10.283,6 12.680,4
1 Tổng chi phí trung gian 1000đ 7.956 6.150,6 4.383,6 6163,4
- Phân hữu cơ Tấn 14 4.200 10 3.000 6 1.800 10 3.000
- Đạm urê Kg 240 1.680 200 1.400 160 1.120 200 1.400
- Phân lân Supe Kg 275 946 245 842,8 200 688 240 825,6
- Phân kali sulphat Kg 125 430 120 412,8 115 395,6 120 412,8
Trang 3398
Bảng 2.15 Tình hình đầu tư thâm canh cho 1 ha trồng xoài qua các nhóm hộ điều tra của huyện năm 2007
(Chỉ tính cho xoài kinh doanh 8- 10 tuổi)
Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ phiếu điều tra
Chỉ tiêu ĐVT
Nhóm hộ đầu tư cao Nhóm hộ đầu tư
trung bình
Nhóm hộ đầu tư thấp Bình quân
Số lượng Giá trị (1.000đ)
Số lượng Giá trị (1.000đ)
Số lượng Giá trị (1.000đ)
Số lượng Giá trị (1.000đ) Tổng chi phí 1000đ 18.476 16.098 12.614,8 15.729,7
1 Tổng chi phí trung gian 1000đ 10.076 8.348 5.684,8 8.036,3
- Phân hữu cơ tấn 17,5 5.250 14,5 4.350 10 3.000 14 4.200
- Đạm urê kg 300 2.100 250 1.750 173 1.211 241 1.687
- Phân lân Supe kg 350 1.204 300 1.032 163 560,8 271 932,3
- Phân kali sulphat kg 175 602 125 430 75 258 125 430
Mặt khác, cây ăn quả là loại cây lâu năm nên giữa các tuổi cây khác nhau cho năng suất và chất lượng khác nhau Tiến hành nghiên cứu trên các hộ điều tra được nhận trên cùng một lô đất và tiến hành điều tra trên cây trồng có độ tuổi 8-10 tuổi Chi phí sản xuất của các nhóm hộ có sự chênh lệch nhau rõ rệt Nhóm
hộ đầu tư cao đối với bưởi là 22.040,3 nghìn đồng, tỷ lệ này khoảng 27% so với tổng số hộ trồng bưởi năng suất đạt 45 tạ/ha, giá bán quả bình quân tại chợ trung tâm thị trấn là 15 nghìn đồng/kg, nhóm hộ đầu tư trung bình là 18.296,8 nghìn đồng/ha, năng suất quả đạt được là 38 tạ/ha, chiếm khoảng 57%, giá bán quả bình quân là 12 nghìn đồng/kg và hộ đầu tư thấp là 15.720,4 nghìn đồng, đạt năng suất 34,5 tạ/ha, giá bán quả bình quân là 10nghìn đồng/kg Trong khi đó chi phí trung gian của nhóm hộ đầu tư thấp là 7.070,7 nghìn đồng, nhóm hộ đầu
tư cao là 11.740,3 chênh lệch nhau 4.669,6 nghìn đồng, chi phí lao động lần lượt của các nhóm hộ từ đầu tư cao đến đầu tư thấp là: 8.700;7.800;7.350 nghìn đồng Trong đó phân hữu cơ dùng để bón cho bưởi của các hộ đầu tư thấp là quá
ít so với nhóm hộ có mức đầu tư trung bình và đầu tư cao Trong khi các hộ đầu
tư cao có mức phân chuồng là 6.300 nghìn đồng thì hộ đầu tư thấp chỉ đầu tư 3.000 nghìn đồng, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến năng suất của các hộ đầu tư thấp có kết quả thu được kém hơn so với nhóm hộ có mức đầu
Trang 34tư cao và trung bình
Tương tự đối với cây vải và cây xoài, chi phí của các nhóm hộ đầu tư cao
cũng có khoảng cách biệt khá rõ ràng về chi phí sản xuất so với các hộ đầu tư thấp
Với cây vải nhóm hộ đầu tư cao chiếm tới 15%, năng suất đạt khoảng 82 tạ/ha, giá
bán ra thị trường khoảng 7 nghìn đồng/kg nhóm hộ đầu tư trung bình chiếm 61%,
năng suất đạt khoảng 70 tạ/ha, giá bán bình quân là 6 nghìn đồng/kg và nhóm hộ
đầu tư thấp có năng suất 50,8 tạ/ha và có giá bán bình quân là 5,5 nghìn đồng/kg
Với cây xoài, mặc dù có chi phí cao nhưng giá bán của quả xoài quá thấp nên kết
quả thu về không cao, nhóm hộ đầu tư cao có năng suất cây xoài là 85 tạ/ha, giá
bán bình quân tại chợ Đoan Hùng là 2,5 nghìn đồng/kg, cây xoài ở nhóm hộ đầu tư
trung bình có năng suất 80,5 tạ/ha và có giá bán quả bình quân là 2,2 nghìn
đồng/kg, ở nhóm hộ đầu tư thấp năng suất cây xoài chỉ còn 75,2 tạ/ha và giá bán
cũng chỉ là 2 nghìn đồng/kg
Tóm lại: Qua nghiên cứu về đầu tư chi phí sản xuất bưởi, vải, xoài cho
thấy cây trồng đòi hỏi một lượng vốn khá lớn so với cây lương thực, không
những thế mà chi phí về lao động cũng cần đầu tư lớn Khi xem xét mức đầu tư
của các nhóm hộ khác nhau, cho thấy sự chênh lệch về chi phí đầu tư giữa các
nhóm hộ là rất lớn và kết quả thu được là năng suất cây trồng cũng thay đổi theo
chiều tăng của chi phí đầu tư
2.2.2 Tình hình cơ bản về tiêu thụ sản phẩm quả của huyện
Huyện đã quy hoạch thành vùng tập trung sản xuất CĂQ theo quy mô sản
xuất hàng hoá với diện tích lớn, điều đòi hỏi bức thiết với nhà quy hoạch là phải
tổ chức được thị trường tiêu thụ sản phẩm (hay tổ chức tốt thị trường đầu ra),
giúp cho quá trình sản xuất được thông suốt và phát triển không ngừng Việc
đưa sản phẩm sản xuất ra đem bán trên thị trường cho các đối tượng tiêu thụ
cũng như việc tổ chức các hình thức tiêu thụ là một trong những khâu then chốt giúp cho quá trình sản xuất có thể tái chu kỳ được hay không, nó ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả kinh tế từ hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại Sản phẩm làm ra đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp (hoa quả tươi), nếu không được thị trường chấp nhận tiêu thụ kịp thời, nhanh chóng sẽ làm cho sản phẩm quả bị hỏng Vì vậy, người nông dân sản xuất ra sản phẩm bị ép bán giá thấp, doanh thu thu được thấp, làm cho hiệu quả kinh tế thấp
* Các kênh tiêu thụ sản phẩm quả
Do lượng quả (vải và bưởi đặc sản) sản xuất còn rất thấp so với nhu cầu thị trường trong tỉnh (năm 2007 mới đáp ứng 30% nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh) Qua phỏng vấn các hộ sản xuất lớn cho thấy trọng điểm tiêu thụ của địa phương
là thành phố Việt Trì, thị trấn Đoan Hùng,…Sản phẩm quả sản xuất tại địa phương cung cấp cho thị trường ngoài tỉnh chỉ chiếm 20 – 25%, còn hơn 70% lượng quả tươi được bày bán trong tỉnh đa phần là quả tươi từ các tỉnh khác đem đến và một phần nhập từ Trung Quốc Đặc biệt là bưởi chất lượng thấp nhiều, nhưng vẫn được bày bán nhờ thương hiệu bưởi Đoan Hùng, gây giảm lòng tin của khách hàng đối với loại quả đặc sản này Các cơ sở chế biến sản phẩm quả tươi chưa có, chủ yếu tiêu thụ tươi
Qua nghiên cứu trực tiếp đối với các hộ sản xuất quả ở Đoan Hùng cho thấy việc tiêu thụ quả từ người sản xuất đến người tiêu dùng được diễn ra trong hai kênh tiêu thụ chủ yếu là kênh tiêu thụ trực tiếp và kênh tiêu thụ gián tiếp
- Kênh tiêu thụ trực tiếp:
Một số hộ nông dân sản xuất ít, không tập trung, có nhà, vườn gần mặt đường và gần đường quốc lộ nên đem bầy quả bán cho những hành khách qua đường từ Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái đi các tỉnh vùng đồng
Trang 3567
bằng Theo kênh này sản phẩm được đưa trực tiếp từ người sản xuất đến người
tiêu dùng nên giá bán cao, lượng quả tiêu thụ được ít chiếm 15% lượng quả bưởi
đem bán trên thị trường
- Kênh tiêu thụ gián tiếp (kênh 1 cấp, 2 cấp, 3 cấp):
Theo kênh tiêu thụ này sản phẩm quả của huyện Đoan Hùng từ người sản
xuất tới người tiêu dùng phải thông qua khâu trung gian Với kênh 1 cấp hộ sản
xuất qua người bán lẻ đến người tiêu dùng, kênh này chiếm khoảng 41,62%
lượng sản phẩm quả bưởi đem bán Kênh 2 cấp (sản phẩm được bán qua 2 trung
gian), lượng quả bưởi nhà vườn bán cho người bán buôn qua bán lẻ rồi đến
người tiêu dùng khoảng 24,42% sản phẩm quả đem bán Kênh 3 cấp (qua 3
trung gian) hộ sản xuất gửi bán qua các đại lý tại Hà nội và một số tỉnh chiếm
18,22% lượng sản phẩm quả Với hình thức này hộ sản xuất sẽ bán được khối
lượng lớn và thời gian cho tiêu thụ ngắn, nhưng giá bán lại thấp hơn so với giá
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đoan Hùng
Mặc dù trong thời gian qua sản phẩm bưởi đã được Nhà nước chứng nhận
chỉ dẫn địa lý về nơi xuất xứ của sản phẩm Song, các hoạt động thông tin về thị
trường tiêu thụ còn rất chậm, công tác dự báo và tìm thị trường mới rất hạn chế,
sản phẩm chủ yếu vẫn bán cho tư thương theo hình thức xuất buôn là chủ yếu
Vì vậy, sản phẩm dễ bị tư thương ép giá làm giảm lợi nhuận và dẫn đến HQKT
68
sản xuất CĂQ chưa cao
* Công tác bảo quản quả sau thu hoạch
Sản phẩm quả của những cây bưởi dưới 15 năm tuổi phải tiêu thụ ngay sau khi thu hoạch, nếu để lâu bưởi khô không thể sử dụng được
Sản phẩm quả của những cây bưởi trên 15 năm tuổi thu hoạch vào tháng
11 - 12, quả không để rơi dập, rửa sạch bằng nước sạch, lau khô đưa vào hòm,
có lót lá chuối khô phủ kín Phương pháp thủ công này có thể bảo quản bưởi quả được 4 -5 tháng mà chất lượng bưởi vẫn rất tốt
Tuy vậy, nếu chỉ xem xét kết quả và hiệu quả kinh tế của các cây ăn quả chủ lực (bưởi, xoài, vải), trong một năm 2007 như trên sẽ không thấy được sự biến động và xu hướng vận động, phát triển của các hộ trồng cây ăn quả này ra
sao
2.2.3 HQKT và nâng cao HQKT sản xuất cây ăn quả của huyện Đoan Hùng
2.2.3.1 Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả của huyện
Qua kết quả điều tra cho thấy, cây bưởi và cây vải là hai loại cây trồng ngày càng có vị trí quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở Đoan Hùng, diện tích tăng lên, song sản lượng tăng giảm không đều do năm
2007 một số lớn diện tích bị chặt bỏ vì chất lượng quả không cao, quả bé, cây già cỗi Diện tích trồng mới bổ sung khá lớn, diện tích bưởi tăng 330,2 ha, nhưng sản lượng lại giảm đáng kể 4.687 tấn (bảng 2.17), do điều kiện chăm sóc chưa tốt, một số lượng lớn cây già cỗi, sâu bệnh, cho quả chất lượng không cao, kích thước nhỏ nên bị chặt bỏ
Tổng diện tích trồng CĂQ qua các năm tăng lên rõ rệt, năm 2006 diện tích tăng so với 2005 là 133 ha, năm 2007 tăng so với năm 2006 là 182,3 ha, người dân nơi đây đã tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ diện tích đất trồng các cây hoa màu năng suất thấp và đất lâm nghiệp sang trồng cây ăn quả vì diện tích chưa sử dụng của huyện còn không nhiều
MI = [VA – (A +T)]
A: Là khấu hao tài sản
T : Là thuế nông nghiệp
MI = [VA – (A +T)]
A: Là khấu hao tài sản
T : Là thuế nông nghiệp
Trang 3665
Bảng 2.17 Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả chủ yếu của huyện năm 2004 - 2007
Loại cây ăn quả
2004 2005 2006 2007
DT
(ha)
SL (tấn)
C.cấu
%
SL
DT (ha)
SL (tấn) C.cấu
% SL
DT (ha) SL (tấn)
C.cấu
% SL
DT (ha)
SL (tấn) C.cấu
vị kém vì vậy phải chặt bỏ
Vải và xoài năng suất tăng đáng kể, năng suất vải từ 46,5 tạ/ha tăng lên 70 tạ/ha, xoài tăng từ 34,34 tạ/ha lên 75,01 tạ/ha, song diện tích cho thu hoạch lại giảm xuống, đặc biệt là diện tích cây xoài có xu hướng giảm mạnh, do hiệu quả kinh tế sản xuất của cây xoài rất thấp Sản phẩm làm ra không được thị trường chấp nhận, quả xoài Vân Du chỉ ngọt đậm, không thơm mát khi chín vàng, còn lúc xanh không có mùi vị, vì vậy khi xoài chín tập trung khả năng cất giữ và vận chuyển của xoài chín kém do vậy giá bán rất thấp Hai loại CĂQ này không bị thoái hoá giống và ít bị sâu bệnh hơn cây bưởi nên năng suất tăng cao
Đoan Hùng là một huyện Trung Du miền núi, có tiềm năng phát triển cây
ăn quả trong đó tiềm năng phát triển lớn là cây bưởi đặc sản (chiếm 19,4% tổng sản lượng quả) và cây vải Hùng Long (chiếm 21,59% tổng sản lượng quả), người dân ít đầu tư thâm canh, áp dụng các biện pháp kỹ thật hợp lý thì năng suất và chất lượng sản phẩm quả thấp Hai loại CĂQ bưởi và vải chín sớm đang được thị trường ưa chuộng và mang tính chất hàng hoá cao, thương hiệu mạnh đặc biệt là bưởi Đoan Hùng, nên bước đầu đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người làm vườn
Cây ăn quả được trồng rải rác khắp các xã trong huyện, song cây bưởi đặc sản được xác định là người bạn đời gắn bó với cuộc sống người nông dân, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, cây sản phẩm đặc trưng không những của Đoan Hùng mà còn là của cả nước Như vậy, đất vườn đồi trở thành nguồn thu chủ yếu của các hộ nông dân vùng trung du miền núi của tỉnh Phú Thọ Đoan Hùng là huyện có truyền thống sản xuất cây ăn quả lâu đời và nổi tiếng như: bưởi Đoan Hùng, vải Hùng Long